Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

'Những thành kiến hoá thạch' về phái nữ qua chữ viết (bộ nữ)


Giao Duyên xin chân thành cám ơn tác giả đã gởi tặng bài này.

Tản mạn về từ Hán Việt (phần 5)

'Những thành kiến hoá thạch' về phái nữ qua chữ viết (bộ nữ)

Nguyễn Cung Thông

Nếu chúng ta chỉ nghe đọc hay viết các chữ đẹp hay mỹ (mỹ nhân - người đẹp, mỹ cảnh - cảnh đẹp) theo mẫu tự La Tinh thì không thấy vết tích hay nhận ra phái nữ hay phái nam; tuy nhiên khi viết chữ Hán liên hệ ra thì tình hình lại khác hẳn: các chữ Hán trên ngàn năm nay đã mang trong đó một thành kiến xem thường phái nữ (thành kiến hoá thạch - fossilised prejudice). Tiếng Việt có tiếng cái, một dạng chữ Nôm dùng cái 丐 cho gái và cái, chỉ giống cái và sự lớn hơn hết (đường cái). Khuynh hướng chỉ vật thể lớn nhất (cửa cái, ngón cái) trong tiếng Việt cùng với phái nữ (con dại cái mang, cọp cái) rất khác với khuynh hướng chỉ sự đẹp trong tiếng Hán dựa vào bộ nữ 女 . Ít người biết rằng các từ như nô (lệ), tham lam, ganh ghét, đố kỵ, hiềm nghi, dâm (dật), gian (tà), dấu (diếm), lười (biếng), nịnh (hót) … đã từng được ‘liên kết’ đến phụ nữ qua các chữ Hán truyền thống. Bài viết này sẽ đưa ra một số dữ kiện ngôn ngữ cho thấy ‘thiên kiến’ về phái nữ đã hoá thạch trong tiếng Hán. Giọng Bắc Kinh/BK sẽ được ghi bằng hệ thống pinyin thông dụng hiện nay, không nên lầm số ghi thanh điệu với số ghi phụ chú - như số 1 - đặt sau một âm hay chữ như jian1/ jiān so với ngày1 . Vấn đề kỳ thị giới tính thật ra không đơn giản: một trường hợp đáng ghi nhận ở đây là bà Hillary Rodham (một luật sư tranh đấu cho nữ quyền), sau khi lấy Bill Clinton (cựu Tổng Thống Mỹ thứ 42, 1993-2001) không theo truyền thống đổi tên thành Hillary Rodham Clinton và sau đó cũng trở thành Hillary Clinton (đương kiêm Ngoại Trưởng Mỹ/2012).
1. Giới thiệu tổng quát
Tiếng nói con người phản ánh phần nào văn hoá cộng đồng, do đó trong một ngôn ngữ hầu như ta luôn tìm thấy phần nào ảnh hưởng của giới tính cũng như các vết tích của xã hội truyền thống. Tiếng Anh có các cách dùngmanpower (nhân lực), mankind (con người, nhân loại),  postman/mailman (người đưa thư, nhưng lại dùng man là đàn ông), chairman (tổng giám đốc, cũng dùng danh từ man) hay the man in the street (người ngoài đường/người dân bình thường, cũng dùng danh từ giống đực man), policeman (cảnh sát), Congressman (dân biểu quốc hội), statesman (chính khách, nhà chính trị/chính trị gia) ... đều cho thấy sự phân biệt giới tính trong ngôn ngữ hàng ngày1; nói cách khác là có khuynh hướng đặt phái nam trên hết. Tiếng Pháp cũng có các từ  (le) docteur (bác sĩ, giống đực/masculin),  (le) professeur (giáo sư, cũng là giống đực) ... như vậy có phải các ngành nghề này chỉ dành cho đàn ông hay đàn bà không làm được hay sao? Còn nếu muốn chỉ đàn bà thì có thể đổi docteur thành (la) docteuse, và (la) professeuse ... So với cách thành lập từ chỉ phụ nữ trong tiếng Anh như
Prince (hoàng tử)                    princess (công chúa)
Author (tác giả)                       authoress (nữ tác giả)
Actor (nam diễn viên)             actress (nữ diễn viên)
Poet (nam/thi sĩ)                      poetess (nữ thi sĩ)
Hero (nam/anh hùng)              heroine (nữ anh hùng)
Host (nam/chủ nhà/chủ sự)     hostess (nữ chủ sự)
Heir (người thừa kế)               heiress (người phụ nữ thừa kế)
...v.v...
Thành ra cần phải có những hình vị (morpheme) đặc biệt để chỉ phụ nữ hay từ kép (ghép, compound) như trong tiếng Việt - để ý là chủ nhà, chủ sự, thi sĩ ... thường hàm ý đàn ông thay vì đàn bà. Đây chính là ‘hiện tượng không cân xứng’ (asymmetry) trong các từ dùng chỉ đàn ông so với đàn bà vì chữ chỉ đàn ông phải thêm vào hay thay đổi để chỉ đàn bà (đi sau, hàm ý phụ thuộc hay không là thành phần chính quy). Thí dụ như các cụm danh từ nữ anh hùng 女英雄, nữ thi sĩ 女詩人 (nữ thi nhân), nữ diễn viên 女演員 ...  thì tiếng Việt và tiếng Hán phải ghép chữ nữ vào trước các danh từ chính (hàm ý phái nam có trước). Đây là một trong những lý do mà một số vị ủng hộ thuyết nam nữ bình quyền (feminist) không hài lòng cho lắm về hiện tượng dùng ngôn ngữ nói trên (không cân xứng, xem trọng phái nam so với phái nữ ...). Sự mất cân xứng còn thể hiện khi nhìn rộng ra xem các cách nói chuyện thường ngày như Bà Trọng (gọi theo tên chồng),  (vì chồng dạy học, là Thầy), Bà Đạt (Đạt là tên con trai lớn) ... Tương ứng với cách xưng hô Mrs. Brown (Bà Brown, Brown là tên chồng) trong tiếng Anh, không những thế họ của người phụ nữ khi lấy chồng cũng phải đổi theo họ chồng
Con gái là con người ta
Con dâu mới thật mẹ cha mua về (ca dao Việt Nam)
Thứ tự chữ (word order) cũng thường đặt phái nam trước như
Phụ mẫu 父 母          cha mẹ2
Nam nữ 男女           trai gái
Phu thê 夫 妻           chồng vợ
...v.v...
Còn nhiều vấn đề liên hệ như tư tưởng của Khổng học và mức độ thâm nhập của các truyền thống phong kiến như tam tòng tứ đức 三从四德 ... xác định ‘nhiệm vụ’ của phái nữ trong xã hội. Thành ngữ (Hán Việt) trong dân gian cũng nói lên phần nào vai trò truyền thống của phái nữ như nam canh nữ chức (đàn ông thì làm việc ngoài đồng ruộng, đàn bà thì thêu thùa may vá) hay nam ngoại nữ nội ... Câu nói gả con cho ai (tự điển Việt Bồ La/1651) thì thường chỉ con gái ‘theo về’ nhà chồng ... Ngay cả những nhận định khắc nghiệt về giá trị xã hội như nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô (một trai thì nói có, mười gái thì nói không) ... Tuy nhiên bài này chỉ giới hạn vào cấu trúc của một số chữ Hán đáng chú ý mà thôi.
2. Các chữ Hán dùng bộ nữ
2.1 Chữ/bộ nữ 女
Nữ là con gái, cũng là một bộ thủ (bộ 38) trong 214 bộ thủ chữ Hán. Đây là trường hợp đáng xem xét kỹ hơn vì trong các bộ thủ ngày trước chỉ có bộ nữ chứ không có3 bộ nam 男, thêm một dữ kiện về ‘hiện tượng không cân xứng’ trong ngôn ngữ. Giáp cốt văn cho thấy chữ nữ tượng hình, hình của người đàn bà ngồi quỳ (kiểu ngồi xưa) với hai tay để trước ngực:

Giáp cốt văn (chữ nữ)  - xem thêm chi tiết trang http://www.chineseetymology.org/CharacterEtymology.aspx?submitButton1=Etymology&characterInput=%E5%A5%B3 các chữ Hán cổ sau trích từ tự điển trên mạnghttp://www.zdic.net/zd/zi/ZdicE5ZdicA5ZdicB3.htm
Nếu hai chữ nữ  女 hợp với nhau (ngang nhau)  奻  thì thành một chữ mới là noạn (nuán hay nuan2 BK) nghĩa là cãi nhau (tranh tụng), đây là chữ hiếm với tần số dùng là 16 trên 171894734 - các tần số dùng/tần suất trích dẫn trong bài này là từ thống kê trang http://www.chinalanguage.com/dictionaries/?pageID=CharDict/Query:Pinyin . Nếu ba chữ nữ hợp lại thì thành chữ gian 姦 (ác tà, jiān/jian1 BK) với tần số dùng là 2173 trên 175203003; một chữ dùng tương đương là 奸 dễ nhận ra hơn với thành phần hài thanh là *gan/kan 干 - chữ này rất thông dụng với tần số dùng là 25547 trên 434717750 .
Chữ gian  姦 có lâu đời hơn chữ gian 奸(giản thể), tuy nhiên hàm ý (tà, gian ác) của chữ này khá rõ nét khi ba người nữ họp (ngồi) với nhau!
Để ý nếu hai chữ nữ hợp lại (trên dưới) thì lại có nghĩa là đẹp hay yêu 妖 (quái lạ/TV). Để diễn tả hình dáng đẹp, khuynh hướng dùng bộ nữ (phái đẹp)4 để tạo ra chữ mới rất rõ nét trong vốn từ Hán - như tự điển Khang Hy có khoảng 90 chữ khác nhau cùng nghĩa là đẹp như 嫵 (vũ, cũng như 娬) 嫣 (yên) 媚 (mị) 姣 (giảo) 姚 (diêu)  妖 (yêu) 姱 (khoa) 娥 (nga) 婉 (uyển) 媛 (viện) 嬋 (thiền) 妍 (nghiên, cũng như 姸) 嬿 (yến) 嬈(nhiêu) 娟 (quyên) ...v.v... Đây là các chữ lấy từ Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, có khoảng 15 chữ nghĩa là đẹp (xinh) so với 148 chữ trong bộ nữ, hay là khoảng trên 10% rất phù hợp với số phần trăm số chữ với nghĩa là đẹp trong tự điển Khang Hy (tổng số chữ trong bộ nữ là 866, do đó 90/866 = 10.4%). Tiếng Việt phân biệt các trường hợp đẹp trai, đẹp gái và khi có tuổi thì là đẹp lão.
2.2 Tham 㜗
Chữ hiếm tham 㜗 (Unicode 3717) đọc là 倉含切 thương hàm thiết, âm tham (theo Tập Vận/TV), giọng BK là căn - thành phần hài thanh/HT là 參 (tham, xam, sâm). Tham là ham muốn, theo Thuyết Văn Giải Tự/TVGT là cùng nghĩa với lam 婪, cũng thường dùng chung là tham lam. Chữ tham 貪 bộ bối thường dùng hơn so với tham bộ nữ.
2.3 Lam 婪
Lam nghĩa là ham muốn, lam hàm 婪酣 là tham ăn. Thành phần HT là lâm 林.
2.4 Lạm 㜮
Lạm 㜮 là chữ hiếm (Unicode 372E), hàm ý quá độ, quá mức (một cách sai trái) như lạm dụng, lạm quyền, lạm phát ... chữ lạm 濫 bộ thuỷ thường dùng hơn, thành phần HT là giam/giám 監. Theo Quảng Vận/QV, Tập Vận thì hai chữ lạm 㜮  濫 dùng tương đương.
2.5 Dâm 婬
Dùng như dâm bộ thuỷ 淫, như trong các cách dùng gian dâm, tà dâm, dâm dật, dâm dục, dâm nhạc, dâm thư ... Thành phần HT là 㸒 : dâm, chữ hiếm, ta thấy âm nhâm/dâm 壬 hài thanh ngay trong chữ này rồi. Kinh điển xưa thường dùng dâm 婬 như dâm 淫
朱骏声曰:“小尔雅广义:‘上淫曰婬,下淫曰报,旁淫曰通。
Chu Tuấn Thanh viết: “Tiểu Nhĩ Nhã Quảng Nghĩa:‘thượng dâm viết dâm,hạ dâm viết báo,bàng dâm viết thông
2.6 Lãn 嬾
Lãn là lười biếng, như trong cách dùng lãn công... Lãn bộ nữ là chữ hiếm có tần số dùng là 21 trên 171894734, bộ nữ còn có thể thay bằng bộ tâm 懶 thông dụng hơn với tần số dùng là 16583 trên 175865108. Thành phần HT là lại 賴 (lời). Tiếng Việt còn duy trì âm cổ hơn của lãn là lười. Một dạng tương đương của lãn 嬾 là 孄 (TV).
2.7 Đố 妒
Đố kị 妒忌 (ghen ghét) - đố còn viết là 妬. Thành phần HT thạch 石 : tiếng Việt còn duy trì một dạng âm cổ là đá so với âm đố (當故切 đương cố thiết/QV). Có nhiều chữ Hán dùng bộ nữ để chỉ sự ghen ghét, ganh tị ... Xem thêm các chữ liệt kê bên dưới.
【詩註】以色曰妒,以行曰忌
[Thi - Chú] dĩ sắc viết đố, dĩ hành viết kị
2.8 Tật 嫉
Tật là ghen ghét, đố kị, giận ... Thành phần hài thanh là chữ tật 疾 (ốm, bệnh).
2.9 Mạo 媢
Mạo là ghen ghét. Thành phần HT là mạo 冒, Vương Sung trong Luận Hành viết
妒夫媢婦 đố phu mạo phụ
2.10 Áo 㜩
Chữ hiếm áo (Unicode 3729) là ghen ghét, đố kị ... Thành phần HT là áo - âm áo 音奧 (TV). Chữ này hiện diện từ thời Tập Vận (năm 1037/1067), phản ánh phần nào tâm lí của đầu thiên niên kỷ II (và còn có thể cho đến ngày hôm nay) ỏ Trung Quốc, hay thành kiến về phái nữ, thêm bộ nữ vào chữ áo/úc 奧 để tạo ra chữ mới hàm nghĩa không tốt là ghen tị .
2.11 Thứ 㜘
Thứ (Unicode 3718) cùng nghĩa với đố 妒 (Bác Nhã/BN). Thứ còn có nghĩa là kiêu (ngạo) 驕 theo học giả Đoạn Ngọc Tài:  驕俗本作嬌 kiêu tục bản tác kiều.
2.12 Súc 㜅
Súc (Unicode 3705) có nghĩa là đẹp, nịnh và ghen ghét ... Thành phần HT là súc 畜. Súc 畜 là nuôi (dưỡng), thú vật trong nhà (lục súc 六 畜) hay còn có nghĩa  là tốt đẹp (好 hảo), nhưng khi thêm bộ nữ vào thì bắt đầu có những nghĩa không tốt như nịnh, ghen ghét ...
2.13 Giới 妎
Giới là đố kị (theo TVGT), phản phúc (Nhĩ Nhã/NN) - thành phần HT là giới 介. Nhĩ Nhã (Thích cổ) cũng ghi 苛,妎也 hà, giới dã - hà là ghen ghét, trách phạt, quấy nhiễu ...
2.14 Hiềm 嫌
Hiềm là ngờ vực, nghi ngờ ... thường dùng chung với nghi 嫌疑 (hiềm nghi). Hiềm cũng là khiểm 慊 (TV). Thành phần HT là kiêm 兼 (gồm, gom, gôm). Một số chữ Hán diễn tả tình cảm, trạng thái, thái độ ... có thể thay bộ nữ bằng bộ tâm như chữ lãn, hiềm chẳng hạn. Có tác giả cho rằng phái nữ thường bộc lộ tình cảm nhiều hơn phái nam nên mới có khả năng hoán chuyển bộ nữ và tâm như vậy (xem thêm các chữ lãn, mạn, tiều ...); để ý mạo bộ nữ 媢 là ghen ghét (kị, giận), còn mạo bộ tâm 𢝌 (hay 𢛡) là tham lam.
2.15 Vọng hay vong 妄
Vọng là xằng, càn, không đúng sự thật - vọng ngữ (nói bậy) ... Còn dùng như vô 無 (TV). Thuyết Văn ghi vọng là  亂也 loạn dã. Thành phần HT là vong 亡
2.16 Nô 奴
Xưa chỉ người phạm tội (tội nhân) bị bắt làm tạp dịch không phân biệt giới tính; các cách dùng thường gặp là gia nô, hung nô, nô lệ... Nữ nô 女奴 là con gái làm nô lệ (slave girl). Đầy tớ, người làm (phụ việc, nô tì) ‘thường’ chỉ phụ nữ. Theo TVGT:
奴、婢,皆古之辠人也  Nô, tì, giai cổ chi tội nhân dã
Giáp cốt văn - hình cho thấy một bàn tay nắm chặt một người phụ nữ, hàm ý bắt làm nô lệ
2.17 Tì 婢
Tì là con đòi, người hầu gái - cách xưng khiêm nhượng của phụ nữ ngày xưa: 婢子 tì tử, thường dùng trong Kinh Lễ và Tả Truyện. Thành phần HT của tì là ti 卑, nghĩa là thấp hèn, đê tiện, khinh thường ... Ti nhân 卑人,tiện nhân 賤人 (kẻ hèn này) là những cách xưng hô nhún nhường.
2.18 Mị 媚
Mị là nịnh bợ, chìu theo như mị nhân (làm người ta xiêu lòng), mị dân ... Mị còn có nghĩa là đẹp, dễ thương, hấp dẫn - đây là nghĩa nguyên thuỷ (theo Từ Nguyên5) - sau này mới thêm vào nghĩa nịnh hót (châm biếm). Thành phần HT là my 眉 (lông mi, mày).
2.19 Hạm 𡣊
Hạm là chữ hiếm (Unicode 218CA, hàn BK), hàm ý tính nết ác độc (QV) - còn viết là 𡣔 (Unicode 218D4). Chữ hiếm hạm xuất hiện từ thời Long Kham Thủ Giám (năm 997) và Quảng Vận (năm 1008) phản ánh phần nào tâm lí ở Trung (Quốc) vào đầu thiên niên kỷ II.
2.20 Tiết 媟
Tiết là ô uế, dơ bẩn, nham nhở (tính từ) hay khinh thường (động từ, TVGT). Thành phần HT là chữ hiếm 枼 (diệp, tiệp) nghĩa theo TVGT là bạc 薄 (mỏng, nhạt, coi khinh).
2.21 Phanh 姘
Phanh, pīn BK, là ăn ở (trai gái) vụn trộm ... Phanh cư 姘居 ăn ở với nhau như vợ chồng (không cưới hỏi chính thức). Thành phần HT là tinh/tịnh 并 (滂丁切 bàng đinh thiết/TV - bìng BK)
男女私合曰姘 -《苍颉篇》
Nam nữ tư hợp viết phanh -
2.22 Yển 匽
Yển (yăn BK) là dấu diếm, trốn tránh - 匿也 nặc dã (TVGT), âm (đọc như) yển 偃 (nép, nằm xuống). Thành phần HT là yến 妟, chữ này cũng dùng như yến 晏 cũng như an (yên).
2.23 Xướng 娼
Xướng là con hát (kĩ nữ) - cũng như xướng bộ nhân 倡; thành phần HT là xương 昌 (sáng sủa, thịnh vượng) - xem thêm mục 2.24, 2.25. Một điểm đáng chú ý là chữ xướng bộ nữ 娼 có mặt sau chữ xướng bộ nhân 倡, như có trong Ngọc Thiên (năm 543 SCN), Tập Vận ...
2.24 Kĩ 妓
Thành phần HT là 支 chi, kĩ là nữ nhạc sĩ (女樂), sau này cũng có nghĩa là đĩ6, gái mại dâm - cùng nghĩa với xướng 娼 hay 倡. Để ý chữ hàng 䘕 (Unicode 4615, hiện diện trong Tự Vị/1615, Khang Hy/1716 ...)  cũng vừa chỉ nhạc sĩ và kĩ nữ (gái mại dâm).
2.25 Biểu 婊
Biểu 婊 chỉ tên đàn bà, biểu tử 婊子 hay 表子 nghĩa là kĩ nữ (gái điếm). Thành phần HT là biểu 表 (mặt ngoài, bên ngoài, áo ngoài ...); biểu tử hàm ý ở ngoài (ngoại thất 外室) so với trường hợp của vợ chính thức - xem thêm chữ an 2.36
2.26 Phương 妨
Phương là gây trở ngại, làm hại - 害也 hại dã (TVGT) ... Như trong cách dùng phường hại (phương hại). Thành phần HT là phương 方, cũng có nghĩa là thương 傷 (thương đau).
2.27 Ban 媻
Ban hay bạn 媻 là chữ hiếm (Unicode 5ABB), có các nghĩa là xa (xa xỉ - 奢也 xa dã/TVGT), quá đáng, bà, vợ lẽ … Thành phần HT là ban/bát 般
2.28 Ngu 娛
Ngu là niềm vui, thú vị ... Theo TVGT là 樂也 lạc dã. Chữ này có hàm ý phụ nữ là nguồn vui sướng (trò chơi) của người khác (phái nam)? Thành phần HT là ngô 吳 (hay 吴).
2.29 Nịnh 佞
Nịnh là tâng bốc, nói khéo để người ta thích ... Chữ này theo TVGT là gồm chữ nữ và chữ tín viết tắt (从女信省) - thí dụ như nịnh nhân, nịnh thần ...
2.30 Mạn 嫚
Mạn bộ nữ (Unicode 6162) là khinh nhờn, coi thường (td. ngạo mạn) - dùng như mạn bộ tâm 慢. Thành phần HT là man/mạn 曼.
2.31 Tiều 嫶
Tiều là chữ hiếm (Unicode 5AF6) nghĩa là hốc hác, tiều tuỵ 憔悴, dùng như tiều bộ tâm 憔. Thành phần HT là tiều/tiêu 焦 (lo buồn, cháy sém ...). Chữ tiều bộ nữ có mặt thời Tập Vận (năm 1037/1067) và dùng như chữ tiều bộ tâm (hiện diện trước đó rất lâu, như thời Thuyết Văn Giải Tự đã có ghi lại) cho thấy khoảng đầu Thiên Niên Kỷ II có sự thay đổi về tư tưởng (Tống Nho) đối với nữ giới; xem thêm chữ Hạm.
2.32 Hộ 𡤬 hay 嬳
Các chữ hiếm hộ 𡤬 (Unicode 2192C) hay 嬳 (Unicode 5B33)có nghĩa là tiếc như trong các cách dùng thương tiếc, tiếc của, tiếc công ... Thành phần HT là quắc 矍 (sợ). Tiếc tiếng Việt là một dạng biến âm của tích 惜, chữ này thông dụng hơn.
2.33 Yêu 妖
Yêu là đẹp (lẳng lơ), hay còn chỉ loài ma quái có phép mê hoặc và hại người (yêu quái 妖怪). Thành phần HT là yêu 夭 (xinh đẹp, tai vạ, chết non/yểu), theo TVGT, yêu còn có dạng là 𡝩,巧也 (yêu, xảo dã). Nghĩa cổ nhất của yêu là diễm lệ 豔麗, vũ mi 嫵媚 - theo Từ Nguyên5 sau này mới thêm nghĩa quái dị (tiêu cực).
2.34 Niễu 嬲
Niễu/điểu/niểu là trên ghẹo, quấy rầy (theo tự điển Hán Việt của Thiều Chửu/1942, và của Nguyễn Văn Khôn/1960). Tuy nhiên theo Quảng Vận 嬲 đọc là 奴鳥切, 音嬈 nô điểu thiết, âm nhiêu (ngạc hoá).
2.35 Vô/mưu 毋
Vô là chớ, đừng, không, chẳng (cũng như vô 無). Tiếng Việt còn duy trì một âm cổ là mựa7 (như mựa nói dối - tự điển Việt Bồ La/1651). Theo TVGT chữ 毋 cho thấy hình người đàn bà bị xiềng (xích) vì làm điều sai trái (gian) - nên hàm ý là chớ/đừng phạm tội lần nữa! Ngoài nghĩa phủ định, vô/mưu còn là bộ thủ thứ 80 trong 214 bộ thủ.
小篆Tiểu triện -  chữ 
2.36 An 安
An là yên (ổn), bình an ... Đây là loại chữ tượng hình, từ giáp cốt văn có thể thấy hình của một người phụ nữ đang ngồi (quỳ) trong phòng. Có thể hiểu là người phụ nữ bình an trong phòng, hay một nghĩa thông thường hơn là tình trạng yên ổn là kết quả khi người phụ nữ ở trong nhà!
Qua các hình khắc/vẽ cổ đại của chữ an trên, ta không ngạc nhiên khi vợ (thê 妻) còn gọi là  Nội Tử 内子, Nội Nhân 内人 , Nội Trợ 内助, Hiền Nội Trợ 賢內助, Chuyết Nội 拙內, Chuyết Kinh8 拙荊, Kinh Thất 荊室, Kinh Phụ 荊婦, Tiện nội 賤內, Tao Khang 糟糠...v.v... Và người vợ cũng có thể lên chức tướng, nhưng cũng chỉ là nội tướng内相 mà thôi?
Phần này không ghi nhận các chữ Hán có dùng chữ nữ trong thành phần HT với nghĩa tiêu cực như nộ 怒 (giận dữ), nỗi 餒 (đói), nao呶 (ồn ào), thê 悽 (đau buồn), hảo 恏 (Unicode 604F, bộ tâm hợp với chữ hảo 好, nghĩa là ham muốn/dục 慾) ...v.v...
3. Kết luận tạm thời cho phần 5
Truyền thống lâu đời của chữ Hán đã cho ta nhiều thông tin thú vị về văn hoá tư tưởng của người xưa. Tuy đa phần liên hệ trực tiếp đến xã hội Trung Quốc cổ đại nhưng vẫn hàm chứa những giao lưu văn hoá ngôn ngữ với các dân tộc chung quanh (như tên gọi 12 con giáp). Phân tách cấu tạo và quá trình biến đổi chữ Hán qua thư tịch cổ như bộ thủ ‘nữ’ cho thấy những thành kiến tiêu cực - như cho rằng phụ nữ có khả năng kém hơn hay chỉ phụ thuộc vào phái nam, mang những tính hay tật xấu của con người - mà vẫn còn vết tích cho đến ngày nay. Hiện tượng kỳ thị giới tính qua ngôn ngữ cũng hiện diện khi xem qua các ngôn ngữ khác (không liên hệ họ hàng với tiếng Hán) trên thế giới. Quán tính của chữ viết (td. chữ Hán) là một khía cạnh đặc biệt cho ta thấy rõ hơn văn hoá tư tưởng của những thời kỳ trước. Hi vọng bài viết nhỏ này là một động lực khuyến khích các bạn quan tâm đến tiếng Việt, tra cứu và tìm tòi thêm để thấy các tính chất phong phú của ngôn ngữ chúng ta, so với các ngôn ngữ láng giềng trong quá trình giao lưu và hình thành tiếng Việt hiện đại. Hiểu rõ các thành kiến (đặc biệt là kỳ thị phái nữ) đã có từ ngàn xưa - nhiều khi chính chúng ta cũng không ý thức được10 qua quá trình xử lý ngôn ngữ (trong tiềm thức) - thì ta có thể tạo cơ hội cho mọi giới tính đóng góp vào phát triển của Việt Nam trong thế giới hiện đại, một công việc cần nhiều nỗ lực đến từ mọi phía.
4. Phụ chú và phê bình thêm
Phần này không hoàn toàn theo cách ghi tài liệu (Bibliography) tham khảo APA hay MLA vì bao gồm các phê bình thêm về đề tài, tài liệu và tác giả để người đọc có thể tra cứu thêm chi tiết và chính xác. Bạn đọc nào thấy thích thú về chủ đề này nên tham khảo một số bài viết liên hệ đến khuynh hướng phân biệt giới tính trong tiếng Trung (Quốc) sau đây - để ý mục tham khảo tài liệu (References) của các bài viết này ghi nhận nhiều bài và sách rất đáng tra cứu thêm để thêm phần chính xác và phong phú:
"Covert Sexism in Mandarin Chinese" (tạm dịch: Sự kỳ thị ngấm ngầm trong tiếng Quan Thoại) - tác giả David Moser đăng trong Sino-Platonic Papers - Number 74 - January 1997. Có thể đọc trên mạng như trang này http://www.sino-platonic.org/complete/spp074_chinese_sexism.pdf
"Gender and Sexism in Chinese language and literature" - tác giả Angela
Jung-Palandri đăng trong Sino-Platonic Papers, Number 27 August 1991. Có thể đọc trên mạng như trang này  https://scholarsbank.uoregon.edu/xmlui/handle/1794/5777
"Language and Woman's Place" - sách soạn bởi tác giả Robin Lakoff, tiên phong trong các khảo cứu về các vấn đề kỳ thị phụ nữ trong ngôn ngữ, NXB Harper & Row (New York, 1975). Sau các khảo cứu này, hàng loạt các khảo cứu khác đã xuất hiện bao gồm phân tách ngôn ngữ khác biệt giữa phái nam và phái nữ, cách dùng chữ, phương ngữ ... và so sánh với các ngôn ngữ khác trên thế giới.
"Gender-specific Asymmetries in Chinese Language" - tác giả Yan XiaoPing (1/2008) - bài viết cho thấy các mức độ kỳ thị giới tính (phụ nữ) rất ‘thâm trầm’ và rất khó phát hiện trong tiếng Trung (Quốc) hiện đại. Các cách dùng (ngôn ngữ) này có ảnh hưởng tiêu cực đến đóng góp thực sự của phái nữ trong xã hội. Có thể đọc toàn bài trên mạng http://academinist.org/wp-content/uploads/2008/07/xiaoping.pdf …v.v…
"Sexism in Language" - tác giả XiaoLan Lei (Northwest Polytechnic University, Xi’an, China), Journal of Language and Linguistics - Volume 5 Number 1 (2006)ISSN 1475 – 8989. Trong phần kết luận, tác giả ghi lại nhận xét của Rosalie Maggio (1989, tạm dịch từ tiếng Anh): '... Điều cần phải nhận biết là không thể có giải pháp về kỳ thị giới tính chỉ qua phương tiện ngôn ngữ: như nếu thay đổi chữ secretary/thư ký thì cũng chẳng thay đổi được sự kiện là 1.6 phần trăm thư ký ở Mỹ là phái nam, đổi director (ông tổng giám đốc) thành directress (bà tổng giám đốc) không có nghĩa là phái nữ có nhiều cơ hội hơn phái nam ngày nay ...'. Có thể đọc toàn bài trên mạng http://www.jllonline.co.uk/journal/5_1/5LingLei.pdf
Trong bài viết "Sexist Chinese Characters Discriminate Against Women" (tạm dịch: chữ Hán kỳ thị phụ nữ), được Zoe đăng lên mạng (một nhà báo đang ở Bắc Kinh) cho rằng nếu đổi cách viết chữ gian 姦 hay 奸(hiếp dâm/rape, hay 強姦 cưỡng gian) thành ra 犭行 (bộ khuyển thay vì bộ nữ và chữ hành - ám chỉ hiếp dâm là một hành vi đê tiện của các loài súc vật), thì có thể giảm số tội phạm hiếp dâm xuống được 20 phần trăm: xem toàn bài viết (28/2/2010) và các trao đổi trang này http://www.chinasmack.com/2010/stories/sexist-chinese-characters-discriminate-against-women.html
Bạn đọc có thể xem thêm các bài viết của GS Nguyễn Văn Khang về hiện tượng kỳ thị giới tính như trang http://gas.hoasen.edu.vn/vi/gas-pluan-tuoi-lac-viet/xa-hoi-hoc-ngon-ngu-ve-gioi-su-ki-thi-va-su-chong-ki-thi-doi-voi-nu-gioi-trong-su-dung-ngon hay cuốn "Sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ", tác giả Trần Xuân Điệp (NXB Đại Học Sư Phạm, 2005).
1) vì thế mà bây giờ tiếng Anh thường dùng postal worker thay vì mailman (người phát thơ),  chairperson thay vì chairman (tổng giám đốc) để tránh phân biệt giới tính: person là người (đàn ông hay đàn bà) so với man chỉ đàn ông.
2) tiếng Việt cũng có thể dùng thứ tự ngược lại: mẹ cha, vợ chồng, gái trai ... Tiếng Chăm cũng còn các cách dùng amak amu (mẹ cha), kamei likei (gái trai) ... phản ánh chế độ mẫu hệ truyền thống - xem thêm chi tiết bài viết của GS Lê Khắc Cường trang http://business9x.blogspot.com.au/2012/04/van-e-gioi-trong-tieng-viet.html
3) thật ra, Thuyết Văn Giải Tự liệt kê 540 bộ thủ và có bộ nam 男 và bộ nữ
4) đương nhiên cũng có các chữ Hán dùng bộ nữ nghĩa là xấu (hình dáng) như chữ xuy 媸, khi 娸 (xấu, ác tính), mô 嫫 (嫫母 Mô Mẫu, thứ phi của Hoàng Đế nổi tiếng là xấu)... Tuy nhiên số chữ (hàm ý xấu tướng) này khá ít so với số chữ Hán dùng bộ nữ nghĩa đẹp/xinh.
5) "Từ Nguyên" Thương Vụ Ấn Thư Quán - 2004 (Bắc Kinh)
6) Đĩ chữ Nôm viết bằng kĩ 妓 như trong Dương Từ Hà Mậu (Nguyễn Đình Chiểu), Vị Thành Giai Cú Tập Biên (Trần Tế Xương), Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (Paulus Của) ... Hay bằng thanh phù để 底 hợp với bộ nữ (tự điển Taberd/Pigneau de Béhaine), hay bằng thanh phù địa  地 hợp với bộ nữ (Nguyễn Khuyến) ... Đây có thể là cách đọc của đa 多 (âm Mân Việt/Triều Châu) như đa 爹 là tía, và một dạng của kĩ là *đi/ti (âm Mân Việt) 姼, so với chữ Nôm đi viết bằng đa 多, đi so với di 移 (hay chữ hiếm 迻...). Đây là một chủ đề rất thú vị, không nằm trong phạm vi bài viết nhỏ này, phản ánh giao lưu ngôn ngữ của các giọng địa phương thời cổ đại và giải thích tại sao một số âm đọc trong tiếng Việt (vẫn bảo lưu âm cổ) rất khác với âm Hán Việt (chính thống).
7) so sánh múa vũ, mùa vụ, mù vụ (sương), Mùi Vị (chi thứ 8), mùi vị, mong vọng, muôn/man vạn, muộn vãn ... mựa vô ...v.v...
8) điển tích: thời Đông Hán có vợ thư sinh Lương Hồng nhà nghèo nên lấy cành cây kinh đeo làm hoa/trâm, do đó người sau gọi vợ là Kinh (Chuyết Kinh, Kinh Thất, Kinh Phụ ...)
9) Nội Tướng 内相 từng là một chức quan trong triều đình (nhà Đường), cũng như chỉ các thái giám, so với tiếng Việt nhà tôi có thể dùng cho vợ hay chồng. Tiếng Trung (Quốc) lại có khuynh hướng dùng gia 家 (nhà) chỉ người vợ (so với chồng); cũng như các chữ thất室 (nhà, phòng), phòng 房 (buồng, nhà) đều ám chỉ người vợ.
10) thí dụ như bài viết "Doanh nhân Việt - anh là ai?" - xem trang này  http://vietbao.vn/Kinh-te/Doanh-nhan-Viet-anh-la-ai/40050916/87/ (2004). Trường hợp này có thể đổi đầu đề thành "Doanh nhân Việt - bạn là ai?" thì không phân biệt giới tính (PBGT) và thành kiến về phái nữ (gián tiếp) cũng không thể hiện. Cách đây 1 năm, trên báo Giáo Dục Việt Nam có đăng bài viết "Doanh nhân số 1 Việt Nam, anh là ai?" (17/5/2011) - xem chi tiết trang này  http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/giaoduc.net.vn/Doanh-nhan-so-1-Viet-Nam-anh-la-ai/6268189.epi . Năm nay (2012), ta vẫn thấy các bài viết tương tự như"Giám đốc kinh doanh giỏi: Anh là ai?" (9/2/2012) - xem chi tiết trang này http://vneconomy.vn/20120206094743633P5C9938/giam-doc-kinh-doanh-gioi-anh-la-ai.htm ; điều này cho thấy hiện tượng PBGT đã nằm sâu trong tiềm thức và một sự thay đổi (thành kiến) đòi hỏi nhiều nỗ lực từ nhà trường đến công sở, báo chí ...v.v... Tình huống PBGT thật ra sau 100 năm không khác gì lắm không? Học giả Phan Kế Bính đã từng nhận xét trong Việt Nam Phong Tục (1915): '...Tục ta trọng nam khinh nữ thì là một tục trái hẳn với cách văn minh... Tục ta thì phần nhiều áp chế đàn bà quá. Có người coi vợ như kẻ ăn người ở, nào là bắt sửa túi nâng khăn ...Chồng ăn chơi như phá không sao, vợ xểnh ra một chút đã sinh ra ỏm tỏi; chồng chim chuột như quỷ thì chẳng hề gì ...'

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2012

Thánh đức thần công: Tấm bia lớn nhất nước


24/06/2012 07:57:23
 - Trong 7 khu lăng tẩm của 13 đời vua triều Nguyễn ở Huế, lăng Tự Đức có vị trí gần kinh đô nhất, được coi là thơ mộng, lãng mạn như chính chủ nhân nó, mặc dù lăng được xây trong hoàn cảnh lịch sử đất nước khó khăn với nhiều biến cố phức tạp.

Vạn Niên là vạn niên nào...

Vua Tự Đức (1829 - 1883) tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, nối ngôi năm 1848. Mười năm sau đó, thực dân Pháp bắt đầu đánh chiếm Đà Nẵng, Gia Định, các tỉnh Nam Kỳ, triều đình rối loạn, dân chúng lao đao. Tự Đức vô kế khả thi, sống trong dằn vặt, lại không có con nối dõi nên ngày càng bi quan yếm thế. Ông hạ lệnh xây dựng lăng tẩm cho mình như là "ngôi nhà lâu dài của trẫm". Khi các quan trông coi về địa lý đã tìm được địa cuộc ở làng Dương Xuân Thượng, vua Tự Đức chuẩn định mô thức kiến trúc theo ý mình.

Tháng 12/1864 khởi công xây dựng Khiêm Cung (hay thành Vạn Niên, sau khi vua băng mới được gọi là Khiêm Lăng). Công trình được thực hiện với 3.000 lính, thợ, dự tính thi công trong 6 năm, nhưng quan Biện lý bộ Công Nguyễn Văn Chất tâu xin thực hiện trong 3 năm thôi. Lăng được xây trên Khiêm Sơn, rộng khoảng 20ha với 45 công trình kiến trúc lớn nhỏ đồ sộ, cầu kỳ. Thời ấy dân chúng có lời oán thán: "Vạn Niên là Vạn Niên nào/Thành xây xương lính, hào đào máu dân".

Do thời gian thi công gấp rút, công việc cực nhọc, không được thay phiên nghỉ ngơi nên 3.000 lính, thợ căm phẫn đã nghe theo lời hiệu triệu phản kháng của anh em Đoàn Trưng, Đoàn Trực kéo về tấn công kinh thành nhưng bị quân triều đình đánh tan. Sử gọi đây là loạn "Giặc chày vôi" vì vũ khí của quân khởi nghĩa là chày.

Sau cuộc binh biến ấy Nguyễn Văn Chất bị cách chức. Vua sai Thượng thư bộ Hình Phan Huy Vịnh, Phó Đô ngự sử Lê Bá Thân tập hợp binh sĩ và thợ lại đọc cáo thị của vua phủ dụ họ tiếp tục làm việc. Đến tháng 9/1867 thì lăng hoàn thành. Tổng kinh phí hết khoảng 100 vạn lạng bạc.
Lối lên mộ Tự Đức.
Lối lên mộ Tự Đức.

Lấy "Khiêm" làm chủ

Lăng Tự Đức ẩn sau những cụm rừng thông xanh bát ngát, vòng la thành bao bọc rộng đến 12ha, cao hơn 4m được xây bằng đá phiến lớn và gạch vồ rất kiên cố. Lăng có 4 cửa nhưng thường vào qua lối cửa Vụ Khiêm. Qua khỏi cửa Vụ Khiêm cao 10m với 3 tầng là vào khu vực tẩm. Phía bên phải là hồ Lưu Khiêm mênh mông, hồ thả sen, nước trong vắt, nằm quanh co theo thế đất, xung quanh xây bờ gạch và lan can cao, giữa hồ là đảo Tịnh Khiêm, mé trái có hai thủy tạ Dũ Khiêm và Xung Khiêm bằng gỗ rất thanh thoát, là nơi để vua hóng mát, câu cá, làm thơ. Qua cầu Tiễn Khiêm là vào thế giới cung điện với vài chục toà ngang dãy dọc. Vào cửa Khiêm Cung là đến điện Hòa Khiêm, giữa điện có cái khám sơn son thếp vàng bên trong đặt linh vị vua và hoàng hậu, ngoài phủ màn bằng tơ vàng.

Sau điện Hoà Khiêm là điện Lưỡng Khiêm, nơi vua nghỉ ngơi, có chỗ thờ bà Từ Dũ. Bên phải có Minh Khiêm Đường là nơi vua nghe tấu nhạc. Xa bên mé trái là Chí Khiêm Đường với 3 ngôi nhà xây nối nhau như hình chữ U, mỗi nhà xây 5 gian, nhà ở giữa lợp ngói âm dương, bên trong thờ những hương án, bài vị bằng gỗ bạch đàn phủ khăn điều, đây là nơi thờ những cung phi có chức phận từ đời Tự Đức về trước. Hai dãy nhà bên lợp ngói liệt, chỉ có bệ thờ dành cho những cung phi vô danh phận. Tất cả nhà cửa ở khu vực tẩm đều làm bằng gỗ, chạm trỗ tinh xảo.
Nhà bia Thánh đức thần công.
Nhà bia Thánh đức thần công.

Tòa bia đá khổng lồ

Khu mộ vua nằm ở giữa cuộc đất có bố cục như các lăng khác theo chuôi sao Bắc Đẩu. Từ sân dưới của điện Hoà Khiêm đi lên đến sân chầu có tạc hình 2 voi, 2 ngựa, 8 quan lại đứng chầu. Tiếp đó là Bi đình với tấm bia lớn nhất Việt Nam. Đó là một toà nhà đồ sộ, rất cao, xây 4 mặt giống nhau, tường dày, cột lớn hai người ôm, được chạm trổ rất công phu. Bệ bia là hai khối đá thanh rất lớn đỡ tấm bia Thánh đức thần công cao chừng 5m, rộng 2,6m, dày 0,50m, nặng 20 tấn. Bia khắc hai mặt với khoảng 5.000 chữ rất sắc sảo, đó là bài "Khiêm cung ký" nổi tiếng của vua Tự Đức viết năm 1871, khắc vào bia năm 1875.

Thường thì bia là do vua sau viết tưởng nhớ công ơn vua trước, nhưng vua Tự Đức vừa viết bia cho vua cha Thiệu Trị vừa viết cho mình lúc còn sống để tự đánh giá công tội. "Khiêm cung ký" là một áng văn hay, một lời tự sự thực lòng của một hoàng đế thời loạn "lực bất tòng tâm". Lời văn day dứt như oán thán, như tự trách: "Riêng ta chỉ ngậm ngùi vì việc học chưa thành, chí chưa đạt, hư danh không xứng với thực tội, chất yếu không cán đáng được việc nhiều, đất đai bị chiếm chưa lấy lại được, biên cương giặc cướp chưa yên, việc nối dõi chậm chạp, gay go, khó kiếm được người, biết lấy ai đảm đương việc nước...".

Những kiến trúc trong lăng Tự Đức đều lấy chữ "Khiêm" là do ý vua: "Khiêm là kính, là nhường, có địa vị mà không ở, tự uốn nắn để hạ mình. Ta mang lấy sỉ nhục, gánh lấy tội lỗi... tài năng công đức chi mà bảo không khiêm. Nếu leo lên mà nhìn quanh (lăng) thì trước mặt là đàn Nam Giao, sau lưng là chùa Thiên Mụ, đủ rõ chí hướng bình sinh của ta vậy".

Mộ vua đơn giản, là một sân gạch nhỏ, tường bao quanh, giữa đắp nấm cao hơn 1m, trên lợp ngói tráng men, trước nấm mộ là bức bình phong có đắp hình chữ "thọ". Sau lưng mộ là la thành với ngàn thông rủ bóng... Lăng Tự Đức không tuân theo lối đối xứng truyền thống như những lăng khác mà kiến trúc thuận theo thế đất rất sinh động, hài hoà, tạo cảm xúc thẩm mỹ mới lạ. Cảnh quan sơn thủy hữu tình phản ánh tâm hồn lãng mạn của một ông vua nổi tiếng hay chữ: Hoàng đế - thi sĩ Tự Đức.
Bia Thánh đức.
Bia Thánh đức.
Ngoài tấm bia Thánh đức thần công tại lăng Tự Đức, các hiện vật quý hiện được xếp vào danh mục báu vật quốc gia của triều Nguyễn là chiếc ngai vàng đặt tại điện Thái Hòa; Quả cầu Cửu long tranh châu, bộ biên chung (4 chiếc chuông đồng và 1 chiếc khánh), áo tế giao của các vua triều Nguyễn, bảo vật Kim chi ngọc diệp, Cửu đỉnh, Cửu vị thần công.
Hàn Phong

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

Ca Huế trên đất cố đô


*
Published on Apr 21, 2012 by 
Ca Huế là một thể loại âm nhạc cổ truyền của xứ Huế, Việt Nam, bao gồm ca và đàn, ở nhiều phương diện khá gần gũi với hát ả đào.
Nếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền phát tán thành một dòng dân gian chuyên nghiệp là hát Ả đào và vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh, thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là ca Huế (gồm cả ca và đàn). Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là một lối hát Ả đào của người Huế, một lối chơi của các ông hoàng bà chúa xét trên quan điểm tiếp biến trong tiến trình của một lối hát truyền thống và tiến trình lịch sử từ Thăng Long đến Phú Xuân-Huế. Ở đây chúng tôi chỉ xét trên phương diện cái tương đồng; ít nhất là trong lối chơi: văn chương, tri âm tri kỷ, sự trau chuốt của giọng hát, ngón đàn, đàn Nam cầm và đàn Đáy; không gian sinh hoạt: nhạc phòng - tư thất, dinh phủ; v.v... Về Nam cầm -- đàn Nam, tương truyền là một nhạc khí dùng trong Ca Huế tồn tại chưa đầy một trăm năm đã mất tích. Theo nhà nghiên cứu Bửu Cầm, Người chế tác ra nhạc khí này là là Nguyễn Phúc Dục, một vị hoàng thân đời Nguyễn chúa Diệu Tông (1765 - 1777). "Dục rất tinh nhạc lý, xét nghiệm âm điệu tiết tấu chẳng bao giờ sai lầm. Thường hiềm vì điệu nam rất cao, đàn xưa nhấn nhịp không đúng, Dục mới chế ra cây nam cầm. Đàn có tám dây, thùng dày và vuông, cần đàn dài ba thước mộc, hợp đàn cầm, đàn sắt và đàn tỳ bà làm một; tiếng rất thanh, lấn cả đàn tranh, đàn nguyệt". Đẩu nương, một nữ danh cầm ở An Cựu là người nổi tiếng đánh Nam cầm nhưng sau khi chồng mất đã bỏ hẳn không theo nghiệp cầm ca. Chính vì mấy điệu đàn nam cầm ai oán và số phận truân chuyên của một tài sắc Đẩu nương mà Tuy Lý Vương Miên Trinh (1820 -- 1897), con thứ 11 của vua Minh Mạng - một "Ông hoàng thơ" trong Tùng Vân thi xã thời Tự Đức -- đã cảm khái viết nên bài thơ "Nam cầm khúc" trong bộ "Vỹ Dạ hợp tập" của ông. Đàn nam cầm đã thất truyền và đã vắng bóng trong nhạc thính phòng Huế, cùng với nữ danh cầm của nó là Đẩu nương... Ca Huế, cũng như Ca trù và Đờn ca Tài tử là loại nhạc thính phòng thuộc dòng cổ truyền chuyên nghiệp của Việt Nam. Trong âm nhạc cổ truyền xứ Huế, Ca Huế thuộc thành phần cổ truyền chuyên nghiệp, mang sắc thái địa phương rõ nét bởi nó gắn chặt với đặc điểm ngữ âm ngữ điệu của giọng nói Xứ Huế, hoặc nói một cách khác mang tính hệ quả là do mối quan hệ gắn bó với nền âm nhạc dân gian - dân ca xứ Huế. Đây là một đặc điểm trong tiến trình phát triển của Ca Huế và cũng là một đặc điểm của nền âm nhạc cổ truyền xứ Huế; nơi mà hai thành phần âm nhạc cổ truyền chuyên nghiệp (nhạc Cung đình, Ca Huế) và cổ truyền dân gian (dân ca: Hò, lý...) thường xuyên tác động qua lại, gắn bó, thâm nhập, thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình phát triển. Dù Ca Huế mang rõ nét tính chất đặc thù địa phương nhưng nó đã không chỉ bó hẹp trong một xứ Huế. Ngoài yếu tố đặc thù và một số đặc điểm vốn có của mọi thể loại nhạc cổ truyền thì nghệ thuật Ca Huế vẫn là khởi nguyên từ văn hóa nghệ thuật cội nguồn Thăng Long, hội tụ từ truyền thống văn hóa âm nhạc dân tộc. Vì vậy trong giai đoạn thịnh đạt đã lan tỏa trở lại với cội nguồn, thâm nhập và trở thành một thành phần tương hợp trong hầu hết dân ca vùng Trung du và đồng bằng Bắc bộ. Chẳng hạn: hơi Huế, giọng Lý, giọng Kinh ở khối giọng Vặt, giọng Ngoại trong hát Quan họ, hát Xoan, hát Ghẹo, hát Chèo v.v... Hướng phát triển về phía Nam của Ca Huế thì rõ ràng đã sản sinh ra lối nhạc tài tử như nhà nghiên cứu Gs. Trần Văn Khê nhận xét: "lối "nhạc tài tử" trong Nam là con đẻ của lối "ca Huế" miền Trung"... "Những người học nhạc trong Nam, cũng "đàn Huế" -- Ông nội chúng tôi, ông Trần Quang Diệm chuyên đàn tì bà theo lối Huế và cô ruột chúng tôi bà Trần Ngọc Viện cũng thường đàn Cổ bản Huế, kim tiền Huế..."

Thứ Năm, 21 tháng 6, 2012

Phát hiện toilet hàng nghìn năm tuổi ở Việt Nam

Thứ tư, 20/6/2012, 08:05 GMT+7

Các nhà khảo cổ vừa có một bước tiến trong việc tìm hiểu thời kỳ sơ khai của Đông Nam Á với việc phát hiện toilet 4.000 năm tuổi ở Việt Nam.

Địa điểm phát hiện toilet hàng nghìn năm tuổi ở Việt Nam. Ảnh: Radio Australia News

Nhóm nhà khoa học Australia và Việt Nam thực hiện khai quật tại địa điểm cách TP HCM khoảng 30 km về phía Nam, thuộc di tích khảo cổ Rạch Núi, tỉnh Long An. Giới chuyên gia Australia nhận định, di tích nói trên có thể là "toilet nhân tạo" đầu tiên ở Việt Nam và là phát hiện có tính đột phá trong việc nghiên cứu lịch sử ở khu vực Đông Nam Á.

Radio Australia News dẫn lời tiến sĩ Marc Oxenham, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết, chất thải hàng nghìn năm của con người và chó được bảo quản ở Rạch Núi. Điều này giúp các nhà khoa học có thể tìm hiểu về chế độ ăn uống của người xưa. "Trong chất thải có lẫn xương thú, xương cá và rau", ông Marc Oxenham cho hay.

"Chúng tôi còn thấy cấu trúc nguyên vẹn của tòa nhà xây dựng cách đây 3.500 đến 4.000 năm", ông Oxenham nói và tin rằng toilet có tuổi đời hơn 3.500 năm tuổi, tức là vào thời kỳ đồ đá mới.
Trong thời gian tới, nhóm khảo cổ sẽ tìm hiểu chính xác những ngưởi thời cổ đại Đông Nam Á làm gì và sống như thế nào.

Hương Thu

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

Sự kiện


  • Cách đây vài tháng, Thái Hà xuất hiện trong một sự kiện với một chiếc váy có kiểu dáng và họa tiết ấn tượng nhưng trang phục này bị cho là hàng nhái ...

Lần đầu, mới đọc câu viết, không hiểu "sự kiện" nghĩa là gì. Tìm hiểu thêm thì hay "sự kiện 事件" ở đây dịch từ tiếng Anh "event", chỉ những "cuộc hội", "lễ khánh thành", "buổi ra mắt", "ngày trình diễn", v.v.

Trên mạng Internet http://aiim.edu.vn/blog_mod/event-coordinator-la-gi, người ta còn giảng giải "Event coordinator" là "Điều phối viên tổ chức sự kiện".

Khuynh hướng vay mượn Hoa ngữ ngày càng lộ rõ ở Việt Nam.

Vấn đề là những "từ mới" này ("mới" vì trước đó không có, hoặc đã có nhưng bây giờ mang nghĩa khác) thiếu trong sáng vì chúng thường có nhiều ý nghĩa rất bao quát.

Thay vì nói: "Thái Hà xuất hiện trong một sự kiện với một chiếc váy ...",
ta nói: " Thái Hà xuất hiện trong một buổi trình diễn thời trang (chẳng hạn) với một chiếc váy ...", thì có phải rõ ràng dễ hiểu hơn không.

tdk
Nguồn: http://tieng-viet-dtk.blogspot.com/