Các Trang

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Bảy phép bí tích (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

5. Bảy phép bí tích (tiếp theo)

Bây giờ tôi xin chuyển sang nói về Bí tích Hòa giải. Như tôi đã nói, một người Kitô hữu, khi ý thức được mình phạm tội, thì đấy không phải chỉ là một sự sa sút về tinh thần luân lý đạo đức mà thôi, nhưng còn ý thức được rằng, chính trong hữu thể của mình cũng có một sự hư hoại nào đó, như tôi đã dùng hình ảnh chất đồng đã bị hoen rỉ. Sự hối cải về mặt tâm lý và đạo đức vẫn chưa đủ, nhưng hình như còn cần đến một sự tái tạo nào đó, ví dụ như một chất rượu đã bị hỏng và trở thành giấm, bây giờ muốn trở lại là rượu chất lượng tốt, thì cần một động thái gần như là toàn năng của Thiên Chúa để tái tạo, chứ không phải hoán cải đạo đức mà thôi. Hơn nữa theo quan niệm Kitô giáo, tội lỗi không chỉ liên hệ đến hành động mà hơn nữa liên hệ đến ngôi vị: xúc phạm và vì thế làm tổn hại hay phá vỡ tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân, vì thế bí tích mang tên là Bí tích Hòa giải, thiết lập lại các mối tương quan ngôi vị đó…

Bây giờ tôi chuyển sang một bí tích này nữa rồi thôi, đó là Bí tích Truyền chức. Đức Kitô là Thiên Chúa xuống thế làm người, để thực hiện kế đồ tái tạo, có thể nói hơn nữa, là hoàn thành ý định của Thiên Chúa Cha khi tạo dựng nên vũ trụ này. Thế nhưng Đức Kitô khi nhập thể làm người, thì bị hạn chế trong không gian và thời gian. Do đó, sau khi Ngài về trời - ở đây tôi cũng xin nói chữ "về trời" chẳng qua là một lối nói của con người mô tả một hình ảnh cho dễ hiếu, chứ kỳ thực muốn nói lên một biến cố là thân xác của Ngài đi vào một tình trạng khác mà chúng tôi gọi là vinh hiển - Nhưng đối với những con người phàm tục của chúng ta, thì trạng thái vinh hiển của Đức Kitô có khả năng hiện diện, vào bất cứ thời điếm nào cũng như tại một địa điểm nào, phải được cụ thể hóa, cho nên, giữa cộng đoàn tín hữu, Đức Kitô đã chọn một số người, và tôi xin nói, chọn đây là có tính cách "nhưng không", chứ không căn cứ vào giá trị đạo đức hoặc là tâm lý, trí tuệ của những người được chọn, bởi vì xét cho cùng nói quá đi một chút, chẳng qua chỉ là những dụng cụ như cây cọ vẽ trong tay một nghệ sĩ mà thôi, cho nên Ngài muốn chọn ai thì chọn, tùy ý Ngài để giao cho, chẳng những cái chức năng có thể nói là về pháp lý, mà còn trao cho khả năng về bản chất tiếp tục những động tác của Ngài, nhất là động tác, như tôi đã nói, thực hiện các bí tích nhằm mang lại sự sống siêu nhiên cho cộng đoàn tín hữu, và chúng tôi gọi đó là Truyền chức…

Có lẽ tôi còn muốn tranh thủ nói thêm về một bí tích khác nữa, đó là Bí tích Hôn phối. Trong trật tự thiên nhiên, động tác sáng tạo của Thiên Chúa được thể hiện qua trung gian sự phối hợp giữa nam nữ, để sinh ra những thụ tạo có lý trí, có con tim, có tự do để sống tình yêu, tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân. Nhưng, đứng về một phương diện nào đó, chúng ta cũng phải nhìn nhận sự phối hợp đó, bên cạnh những phương diện cao đẹp của nó về tâm lý cũng như về vấn đề truyền sinh, còn có những khía cạnh do tội lỗi gây nên, vì vậy mà không được hoàn mỹ cho lắm và, nếu không khéo, cũng như viên ngọc quý rơi vào tay một người có thể đánh rơi và làm cho vỡ tan. Chính vì vậy, cũng phải có một sự, chẳng những tái tạo trở về tình trạng nguyên sơ tốt đẹp, mà còn nâng cao lên một bình diện siêu nhiên, và điều này cần đến một sự can thiệp bằng động tác của Thiên Chúa toàn năng, một sự tác tạo và có thể nói là linh thánh hóa... đến nỗi một thần học gia đã nói: "Trên trần gian này có hai nơi linh thiêng nhất, một là bàn thờ, nơi mà bánh rượu trở thành Mình và Máu của Đức Kitô và hai là cái gường hợp cẩn, nơi mà hai vợ chồng trao xương gửi thịt để có thể sinh ra những thụ tạo có linh hồn bất tử sẽ thờ phượng và yêu mến Thiên Chúa muôn đời".

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Bảy phép bí tích (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

5. Bảy phép bí tích (tiếp theo)

Thánh lễ của chúng tôi không phải chỉ là một nghi thức, nhưng là một bí tích, nghĩa là một dấu chỉ dù chất liệu là vật chất, là bánh và rượu, và lời nói của thừa tác viên cũng là vật chất, không phải là ám hiệu, không phải chỉ là tượng trưng mà thôi, mà thực sự tái hiện một cách cụ thể biến cố Khổ Nạn và Phục Sinh của Con Người Giêsu Nazareth vẫn luôn được tuyên xưng là Đức Kitô, để biến thành, như chúng tôi thường nói, Của Ăn nuôi sống linh hồn, bồi dưỡng đời sống siêu nhiên của tín hữu. Việc ăn thịt và uống máu Chúa thực hiện một sự kết hợp của mỗi một tín hữu với Đức Kitô và liên kết tất cả mọi tín hữu với nhau thành một mối trong Đức Kitô, thực hiện sự hợp nhất cộng đồng tín hữu thành một cơ thể duy nhất được gọi là nhiệm thể Đức Kitô, Con yêu dấu dưới ánh mắt từ ái của Thiên Chúa Cha, mỗi khi Ngài cúi xuống nhìn toàn thể thụ tạo này như của lễ đẹp lòng Ngài và như đứa con yêu dấu của Ngài.

Có thể nói, trong Thánh lễ, mỗi một tâm hồn và toàn thể Giáo hội, qua trung gian của Giáo hội là toàn thể nhân loại, toàn thể vũ trụ ngước mắt nhìn trời, dâng lên lời yêu mến: “Lạy Cha chúng con ở trên trời", và đồng thời cũng được Đức Chúa Cha nhìn xuống không thấy tội lỗi nữa, vì đã được rửa sạch trong máu của Đức Giêsu Kitô, và Đức Chúa Cha cũng ban lời: "Đây là con Ta yêu dấu". Do đó, Bí tích Thánh Thể là trung tâm, là nền tảng, là nòng cốt và có thể nói là toàn bộ đời sống tín ngưỡng của người Kitô hữu, và nhất là của người Công giáo; và cũng do đó mà có cả một truyền thống tôn thờ Mình Thánh Chúa, ví dụ: ở trên đồi Montmartre ở Paris, nước Pháp, có một ngôi Vương Cung Thánh Đường. Sau biến cố lịch sử dân tộc Pháp bị nước Phổ thời bấy giờ đánh bại, Quốc hội Pháp quyết định xây dựng ngôi Thánh đường đó, và từ khi ngôi Thánh đường đó được khánh thành cho đến nay là đã hai trăm năm, Mình Thánh Chúa được tôn vinh không bao giờ dứt, liên tục ngày đêm do tín hữu của nước Pháp và của năm châu thay phiên nhau đến triều bái; và những người đến triều bái đó không phải chỉ là những em bé, những phụ nữ, nhưng còn có cả những con người có thể nói là đã lên tới những đỉnh cao của nhân loại về nhiều mặt, trong đó có những người được giải Nobel, về Y khoa, như Alexis Carrel [Alexis Carrel (28/6/1873 - 5/11/1944), nhà giải phẫu và sinh vật học người Pháp đã được trao giái Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1912 cho công trình tiên phong trong các kỹ thuật khâu mạch máu (Wikipedia)], có những vị vừa là thi hào, vừa là Tiến sĩ Xã hội học như Charles Péguy [Charles - Pierre Péguy (7/1/1873 - 5/9/1914) là một nhà thơ, nhà tiểu luận và biên tập viên người Pháp. Hai triết lý chính của ông là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa dân tộc; muộn nhất là vào năm 1908, sau nhiều năm khó chịu với thuyết bất khả tri, ông đã trở thành một tín đổ Công giáo La Mâ. Từ đó, đạo Công giáo ảnh hưởng mạnh mẽ đến các tác phẩm của ông (Wikipedia], có những nhà bác học lừng danh như Teilhard de Chardin cũng đến triều bái với lòng tin, dưới dấu chỉ miếng bánh đó, có sự hiện diện đích thực của chính thân xác đã đi vào vinh hiển của Đức Giêsu Kitô, và trong Giáo hội Công giáo, có cả một dòng tu, gọi là dòng Thánh Thể, chuyên việc ngày đêm triều bái Đức Giêsu Kitô sống lại vinh hiển trong phép Thánh Thể.

Gần đây, cách hai năm, có một văn sĩ người Pháp, chủ bút của tạp chí Thông tin Công giáo Quốc tế, con trai một đảng viên lừng danh Đảng xã hội Pháp, đã ghi lại trong tập Hồi ký rằng, ông ta đã tin và trở thành Kitô hữu là vì, vào một buổi chiều, khi đi ngang qua một tu viện nữ tu, ông ta nghe có tiếng hát bên trong vào giờ chầu Thánh Thể, vì tò mò mà ông ta đi vào để xem thử đang xảy ra chuyện gì, thì trong một khoảnh khắc bất chợt, ông ta thấy trong miếng bánh được đặt trên bàn thờ để các nữ tu chiêm bái, có sự hiện diện đích thực của Đức Giêsu Kitô, và đó chính là khởi điểm khiến ông ta trở thành Kitô hữu. Ở đây tôi chỉ trình bày những sự kiện, còn việc giải thích thế nào, hiểu ra sao thì cái đó tôi không dám lạm bàn...

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Bảy phép bí tích (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

5. Bảy phép bí tích (tiếp theo)

Tôi không có thì giờ để trình bày chi tiết từng bí tích một, nên chỉ tùy thời gian cho phép mà trình bày một vài chi tiểt về các bí tích tiêu biểu. Trước hết, tôi xin nói về bí tích thường được gọi là Thánh tẩy. Thật tình thì tôi cũng không đồng ý lắm với tên gọi Thánh tẩy, bởi vì gọi như vậy thì quá thiên về tính cách tiêu cực, tức là nhấn mạnh đến việc tẩy xóa vết nhơ tội lỗi nhưng lại xem nhẹ một khía cạnh mà tôi cho là quan trọng hơn. Theo truyền thống Kitô giáo, phép Thánh tẩy không chỉ rửa sạch vết nhơ do Tội Tô Tông, mà còn mang lại ân sủng nâng cao con người tự nhiên lên mức sống siêu nhiên và, có thể nói. nâng cao con người, trước kia chỉ là thụ tạo thường, lên thành con của Thiên Chúa, thông dự phần nào thần tính của Giêsu Nazareth, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Và như tôi đã nói trên kia, qua việc được đổ nước lên mình, người dự tòng nhận lấy động tác sáng tạo của Thiên Chúa, được tháp nhập vào sự sống mới đích thực mà tự mình không thể có được. Và đó là lý do khiến Giáo hội rửa tội cho các em bé khi các em chưa có điều kiện chủ quan thuận tình đón nhận.

Bất luận thế nào, trong phép bí tích, không chỉ có nghi thức, nhưng còn có một động tác thực sự có hiệu quả một phần nào như là các kỹ thuật - tôi xin nhắc lại một phần nào - tạo nên một thực thể là đời sống siêu nhiên, gần giống như trên cái gốc cây cũ ghép nhánh mới để sinh ra một loại quả khác. Đương nhiên đó là đường lối của Thiên Chúa dùng trong những điều kiện bình thường; ngoài ra, trong tín lý của chúng tôi cũng có ghi nhận những trường hợp biệt lệ và, có thể nói một cách hơi văn vẻ một chút, có thể chịu phép Thánh tẩy hoặc là bằng máu, hoặc là bằng ước nguyện thành tâm thực sự khi điều kiện không cho phép đón nhận ơn Thánh tẩy bằng nước.

Và, nhân đây, để các anh chị biết, hiệu quả của bí tích không hoàn toàn lệ thuộc vào thừa tác viên và những điều kiện tâm lý chủ quan của thừa tác viên, mà ở chính công thức cử hành (ví dụ: Bí tích Thánh tẩy thành sự nếu cử hành đúng theo nghi thức Công Giáo ngay cả khi người cử hành không hoàn toàn thuộc Giáo hội Công Giáo), bởi lẽ chủ thể hành động là chính Thiên Chúa chứ không phải ai khác. Bí tích Thánh tẩy chủ yếu tạo nên một con người mới trong Đức Kitô chứ không chỉ đơn thuần là nghi thức tẩy xóa tội lỗi. Tiếp theo, tôi xin nói thêm về Bí tích Thánh Thể. Có thể nói Bí tích Thánh Thể là trung tâm, nền tảng, nếu không muốn nói là tất cả đời sống tín ngưỡng của Kitô giáo; bởi vì trung tâm kế đồ sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa đối với nhân loại, đối với vũ trụ là cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô. Đứng về phương diện lịch sử, cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Giêsu Nazareth chỉ xảy ra có một lần duy nhất, vào một thời điểm cụ thể, tại một địa điểm cụ thể. Thế nhưng, đứng về phương diện hành động của Thiên Chúa xuyên qua lịch sử, sự kiện đó mang một chiều kích vĩnh cửu và phổ quát bao trùm toàn thể vũ trụ trong không gian và thời gian. Ta có thể ví sự kiện ấy như một ánh lửa duy nhất có khả năng tỏa sáng vô cùng vô tận, hoặc ví như một tiếng chuông duy nhất có thể rền vang đến muôn đời.

Cử hành bí tích Thánh Thể là cử hành điều mà chính Đức Kitô đã làm trong bữa Tiệc ly trước khi đi vào cuộc Khổ Nạn: Ngài cầm lấy bánh bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: "Này là Mình Thây..." rồi cầm lấy chén rượu trao cho các môn đệ và nói: "Này là Máu Thầy, Máu Giao ước mới"... Lời đó của Đức Giêsu diễn tả chính điều Ngài thực hiện trong cuộc Khổ Nạn: Dâng hiến chính mình để cứu độ nhân loại. Cử hành Thánh Thể là điều mà Giáo Hội không ngừng cử hành trong thời gian, cho đến ngày tận thế.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Bảy phép bí tích (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

5. Bảy phép bí tích (tiếp theo)

Đến đây, tôi xin đi vào một khía cạnh có tính cách hơi chuyên môn về các bí tích của Giáo hội Công giáo mà tôi đã trình bày như là sự tiếp tục những kỳ công của Thiên Chúa, qua trung gian của Giáo hội với các thừa tác viên là các Giám mục, linh mục, phó tế.

Nói chung, Giáo hội Công giáo có tất cả là bảy bí tích và trong các kinh bổn mà các em bé học vào các ngày Chúa nhật tại nhà thờ cũng như các giáo hữu thường ôn lại: thứ nhất là Bí tích Thánh tẩy làm cho con người trở thành Kitô hữu; thứ hai là Bí tích Thêm sức giúp người tín hữu đón nhận cách đặc biệt tác động của Thánh Linh để thêm sức mạnh tinh thần cũng như thể chất trong việc thực hiện thiên mệnh, hoặc nói theo cách nói của Kitô giáo, là thực hiện ơn thiên triệu của mình, hoặc nữa là, nói theo kiểu chuyên môn, thực hiện chức năng của mình trong kế đồ của Thiên Chúa, như tôi đã nói ở trước; thứ ba là Bí tích Thánh Thể hay Thánh lễ mà tôi đã có nói trước đây.

Thứ tư là Bí tích Hòa giải, tức là sau khi người tín hữu cảm thấy mình đã không đáp ứng, chu toàn những nhiệm vụ của mình theo giáo huấn của Thiên Chúa và của Giáo hội và hầu như bị mất đi, hoặc giảm bớt cái phẩm chất Kitô hữu của mình và có một sự cách ly nào đó với Thiên Chúa và cộng đoàn, thì được tái tạo để trở về kết hợp với Thiên Chúa, đoàn tụ với cộng đoàn.

Thứ năm là Bí tích Xức dầu, giúp cho người tín hữu, khi đời sống thể lý suy giảm theo quy luật tự nhiên và có thể qua đời, được lãnh nhận chính ơn tác tạo của Thiên Chúa để, hoặc là bình phục, quay lại với đời sống tự nhiên, nhược bằng không thì cũng được bồi bổ về mặt tinh thần để bước qua ngưỡng cửa của cái mà chúng ta gọi là sự chết, để đi vào cuộc sống đích thực tạm gọi là đời sau.

Thứ sáu là Bí tích Truyền chức, tức là những con người được tuyển chọn làm thừa tác viên để thực hiện chủ yếu là các bí tích, để phục vụ và mang lại sự sống siêu nhiên cho anh em, chị em trong cộng đoàn.

Thứ bảy là Bí tích Hôn phối, nâng cao việc vợ chồng sinh sản con cái lên địa vị sáng tạo có tính cách linh thánh trong động tác sáng tạo của Thiên Chúa, tạo nên những thụ tạo có linh hồn bất tử, có trí khôn để hiểu biết, có tự do, có con tim để lựa chọn, sống trong tình yêu Chúa và tình yêu thương con người.

Tất cả những bí tích ấy đều qua động tác của những thừa tác viên được lãnh nhận một ấn tín, không phải là một thủ tục hành chánh, nhưng như tôi đã nói, chẳng hạn Bí tích Truyền chức, không phải là giao cho một nhiệm vụ rồi thôi, mà là biến đổi một tín hữu bình thường thành tư tế, tương tự như biến bạc thành vàng đến nỗi, ví dụ một linh mục, dù đã không chu toàn nhiệm vụ của mình và có nhiều khi đã sa ngã vẫn giữ linh mục tính như thường, và, khi cần thiết, có thể thực hiện các bí tích như Hòa giải và Thánh Thể.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Bảy phép bí tích (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

5. Bảy phép bí tích (tiếp theo)

Nhân đây tôi cũng xin nói để các anh chị hiểu, khi người Công giáo nói "giữ đạo" thì thoạt đầu, chúng ta có thể hiểu rằng việc giữ đạo đó chỉ thiên về nghi thức thờ phượng mà thôi, đôi khi lại sao nhãng cái phần tu tâm dưỡng tính, theo nghĩa "tu thân" như bên Phật giáo chẳng hạn. Sở dĩ như vậy là do những anh em ngoại giáo đó không hiểu rõ sự cứu độ như là một động tác tái tạo một con người mới, như tôi đã nói ở trước, ngay trong bản chất hữu thể chứ không phải chỉ ở bình diện luân lý mà thôi. Đang khác, cũng có thể nói việc tu tâm dưỡng tính, theo như những nền đạo đức khác, chỉ là điều kiện thuận lợi cho việc tái tạo đó của Thiên Chúa và là hoa trái tất nhiên của động tác tái tạo đó mà thôi. Do đó, có thể nói được rằng cộng đoàn Kitô giáo chỉ thể hiện đúng bản chất của mình trong sinh hoạt phụng vụ mà chủ yếu là thụ lãnh các bí tích, tức là đón nhận, trong sự thuận tình tự do của mình, động tác tái tạo của Thiên Chúa và đồng thời cộng tác với Ngài, tiếp tục phổ quát hóa động tác tái tạo đó trong cộng đoàn của mình, rồi một cách gián tiếp trên lịch sử nhân loại và trên cả diễn trình của vũ trụ này, để đi đến ngày Cánh chung là ngày mà kế đồ của Thiên Chúa được thành toàn và lúc đó lịch sử sẽ chấm dứt, thời gian sẽ được cuốn lại đưa vào vĩnh cửu.

Nhân đây tôi cũng xin có một ý kiến đối với suy nghĩ của các anh em ngoại giáo. Tôi xin nói quá đi một chút cho dễ hiểu. Đáng lẽ khi Chúa Giêsu đã về trời thì cộng đoàn Công giáo chỉ sống trong đời sống phụng vụ mà thôi, và có thể nói rằng, trong giai đoạn đầu, cộng đoàn tín hữu tiên khởi có một ấn tượng rằng Đức Kitô sẽ mau chóng trở lại và họ hầu như coi nhẹ những sinh hoạt bình thường khác; nhưng sau một thời gian chờ đợi như vậy mà thấy Ngài vẫn chưa đến, thì có thể nói, tạm thời đành phải rời khỏi sinh hoạt siêu nhiên đó để tiếp tục những sinh hoạt trần thế tự nhiên. Và như vậy, nếu không hiểu rõ thì có thể lên án Kitô giáo tạo ra cộng đoàn tín hữu bỏ bê công việc thế trần, bởi vì, nói hơi quá một chút, xét về phương diện nào đó, họ chỉ xem sinh hoạt thế trần như việc chẳng đặng đừng, trong lúc chờ đợi Chúa đến, thì miễn cưỡng làm cho có vậy thôi, bởi lẽ sinh hoạt thế trần rồi sẽ qua đi, còn sinh hoat phụng vụ, dưới tác động của các bí tích mới là sinh hoạt hiện thực.

Thế nhưng, xin các anh chị biết cho, có thể nói được có một dòng tu chuyên hẳn về việc phụng vụ, sống đời chiêm niệm, đó là dòng của thánh Bênêđictô [Biển Đức], được xem như là những tốp người đã tạo dựng nên xã hội Âu Tây, đến nỗi có người đã gọi thánh Bênêđictô là người cha của văn minh Tây phương, bởi vì sau khi đế quốc Rôma sụp đổ dưới sự tấn công của các bộ lạc man rợ, thì hầu như các Tòa Giám mục và các viện tu của dòng Bênêđictô đã khởi sự xây dựng lại một xã hội mới, một nền văn hóa mới, từ hoạt động kinh tế như khai khẩn đất hoang, thiết lập thủ công nghệ, thậm chí cả thương mại cho đến các sinh hoạt xã hội như cứu tế xã hội và nhiều khi hòa giải những cuộc tranh chấp của dân chúng và, đương nhiên ai cũng biết, ân tình lớn lao của các tu viện dòng Biển Đức trong việc thu thập những vốn liếng về văn hóa Hy Lạp và Rôma.

Rồi những sinh hoạt văn hóa, kinh tế, xã hội của các giới tu sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh thì trên toàn quốc chúng ta ai cũng biết. Ngay chính bản thân tôi, đành rằng đứng về thời lượng có thể nói là bị mất đi trong việc phụng vụ là khá cao, mỗi ngày có khi lên đến một, hai tiếng đồng hồ, nhưng ngày nào tôi không được sống trong đời sống phụng vụ như vậy, thì sức lao động của tôi giảm sút đi nhiều; trái lại, ngày nào được sống đầy đủ đời sống phụng vụ, thì cái năng lực lao động, tinh thần phấn chấn có thể nói là được nhân lên gấp bội.

Tôi không nói đến vấn đề đúng sai về chân lý của đức tin về mặt khách quan, nhưng tôi chỉ nói đến hiệu quả chủ quan đối với các tín hữu, thì chẳng những đời sống siêu nhiên không cản trở các sinh hoạt tự nhiên mà còn mang lại một cường lực mà không gì có thể thay thế được. Nếu có thể nghiên cứu lịch sử Tây phương, các anh chị sẽ nhìn thấy được những đóng góp của Giáo hội Công giáo trong hai mươi thế kỷ qua, về mọi mặt như thế nào. Đương nhiên chúng tôi, những người Kitô hữu, không phủ nhận những khía cạnh tiêu cực.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Những dấu chỉ bí tích (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

4. Những dấu chỉ bí tích (tiếp theo)

Chính vì vậy, trong Công vụ tông đồ, khi nhắc đến cuộc sống của cộng đoàn tiên khởi, có ghi chép lại như sau: "Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, vàcầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42]. Đó chính là Bí tích Thánh Thể. Có thể nói được rằng, như vậy cuộc sống của cộng đoàn đầu tiên chủ yếu là việc bẻ bánh, mà việc bẻ bánh đây sau này chúng ta sẽ thấy rõ, là thông dự, đón nhận đi vào cuộc sống Đức Kitô và trong cuộc sổng đó là con người từ thụ tạo tự nhiên được nâng lên bình diện cao hơn, đó là đời sống siêu nhiên.

Ở đây tôi không dùng chữ tâm linh, bởi vì siêu nhiên đây gần như là một cái tự nhiên mới được tháp vào cái tự nhiên cũ, mà trong đó không phải chỉ có linh hồn, chỉ có luân lý, chỉ có tinh thần, nhưng là toàn bộ cuộc sống của con người có thân xác, tiếp diễn việc phổ quát hóa mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể.

Tôi xin tạm dùng một hình ảnh hơi thô, ta có thể thấy nhân loại và cùng với nhân loại là cả vũ trụ vật chất này trong cái khung không gian và thời gian, như bình sữa và Đức Kitô như một chút yaourt được Thiên Chúa tạo nên, cho kết hợp với Ngôi Hai dưới sự tác động của Thánh Thần, cấy vào bình sữa bình thường đó và tác dụng dần dần biến toàn bộ sữa thành yaourt. Con người, khi chưa được tháp vào Đức Kitô, là sữa bình thường, nhưng một khi đã được tháp nhập vào Đức Kitô, thì biến thành một thụ tạo mới, mới ở đây là toàn bộ hữu thể chứ không chỉ luân lý và tâm lý mà thôi, tất cả đều mang một tính chất khác, như sữa biến thành yaourt vậy. Và nói cho cùng, cái con người mới ấy cùng với nhân tính trong Đức Kitô, dưới sự tác động của Thánh Thần, thông dự vào thần tính; và như thế thì lời nói của nhà triết học Bergson [Henri-Louis Bergson (18/10/1859 - 4/1/1941)] là nhà triết học, nhà văn người Pháp, một trong những nhà triết học lớn của thế kỷ XX, đoạt giải Nobel Văn học năm 1927 (Wikipedia)] có thể áp dụng được, cả vũ trụ này giống như là một cái máy để chế biến các thụ tạo đến chỗ có thần tính.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Những dấu chỉ bí tích (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

4. Những dấu chỉ bí tích (tiếp theo)

Tác động của bí tích thực ra không đưa tới những biến đổi lạ thường bên ngoài, cũng không chỉ liên hệ đến bình diện tâm lý, đạo đức, nhưng có thể nói được, qua trung gian là những dấu chỉ hữu hình, chính quyền năng của Thiên Chúa tái tạo, trùng tu các thụ tạo của Ngài ở một chiều sâu có thể nói là hữu thể; nói theo tiếng Pháp, không phải chỉ là conversion morale (sự hoán cải luân lý), không phải chỉ là purification spirituelle (sự thanh tẩy tâm linh), nhưng có thể nói là recréation ontologique (sự tái tạo hữu thể), tái tạo ngay cả chiều sâu thẳm nhất của hữu thể con người, và đôi khi có những nhà thần học dùng chữ "physique" để phân biệt với "moral". Ở đây, "physique" không phải là thể chất, nhưng có nghĩa là hữu thế.

Qua bí tích, chính tác động của Đấng toàn năng, có thể ví như biến chì thành vàng, hoặc là cụ thể như Bí tích Giải tội, có thể nói đó như là cái mỏ hàn xì, đốt sạch những vết hoen rỉ để làm cho trở lại sáng chói như trước khi chưa bị hoen rỉ. Và như vậy, bí tích đương nhiên là có những nghi thức, có những động tác của tay chân, có những ngôn từ sử dụng những chất liệu vật chất, thế nhưng tận sâu xa chúng đang làm nên một con người mới, hiểu theo nghĩa hữu thể của con người đó, và qua con người mới để có thể nói là thực hiện trời mới đất mới.

Do đó, bí tích thực ra mang lại cuộc sống mà các tín hữu được mời gọi bước vào, đó là cuộc sống kết hợp với Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần, mà có thể nói là đi về lại trong cung lòng của Chúa Cha ngay ở trần gian này, và đó là Nước Trời, và có thể nói đó là khởi điểm, là khánh thành Thiên đàng. Nói quá đi một chút, đó mới là cuộc sống đích thực của người Kitô hữu và, nói quá hơn một chút nữa, người Kitô hữu lẽ ra chỉ sống trong cuộc sống đó mà thôi, vì đó không phải chỉ là hình ảnh, không phải chỉ là hứa hẹn nhưng là thể hiện khởi đầu việc khánh thành cuộc sống thật, cuộc sống mà chúng tôi, các Kitô hữu, gọi là vĩnh cửu muôn đời.

Trong Kinh Tin kính của chúng tôi có câu, "tin vào sự sống đời sau", tuy nhiên "trước, sau" ở đây chẳng qua là ngôn từ của con người vốn bị thời gian chi phối, nhưng sự thực cuộc sống siêu nhiên có thể nói là vĩnh cửu ngay trong từng khoảnh khắc của thời gian chứ không có trước sau, và cuộc sống đó chính là trong các bí tích.

Như vậy, tôi cũng xin nói, đời sống phụng vụ của Kitô giáo không phải chỉ là hình thức thờ Trời, mà đời sống phụng vụ với những nghi thức, đôi khi rất đơn giản, trong những hoàn cảnh thô sơ, đạm bạc của một khu vực ven rừng, của một hang toại đạo, hoặc lắm khi ở dưới một căn hầm, ở những nơi chẳng có chút thanh lịch nào cho đến những buổi đại lễ tại Vương Cung Thánh Đường hay Đền thánh Phêrô. Những đại lễ này chẳng qua chỉ là cái trang hoàng để thêm phần nghi lễ, tạo những điều kiện tâm lý xã hội thuận lợi cho cuộc sống, tôi không nói là tâm linh, mà là cuộc sống siêu nhiên trong các bí tích.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Những dấu chỉ bí tích

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

4. Những dấu chỉ bí tích

Như vậy, tới đây, tôi xin giới thiệu với các anh chị một yếu tố quan trọng của đức tin Kitô giáo, đó là các bí tích. Tôi xin mượn ý tưởng của Đức Hồng y Daniélou trong tác phẩm Mystère de l’histoire (Mầu nhiệm của lịch sử) để nói rằng, chính các bí tích tiếp tục những kỳ công của Thiên Chúa như những kỳ công Ngài đã thực hiện trong lịch sử dân Do Thái, nhưng ở một mức độ cao sâu hơn.

Bởi vì những kỳ công của Thiên Chúa trong lịch sử dân Do Thái xưa hầu như chỉ là có mặt ngoài của những biến cố lịch sử, còn những kỳ công của Thiên Chúa, sau khi Thánh Linh ngự xuống trong ngày Ngũ Tuần, thành lập Giáo hội, tức là quy tụ dân tộc Israel mới với một khả năng thâu gồm toàn thể nhân loại, qua trung gian nhân loại và cả vũ trụ vật chất, thì chính những kỳ công đó, chủ yếu không phải là những thăng trầm của thế sự mà đến một ngày nào đó sẽ bị xóa nhòa tất cả, như những chữ viết bằng phấn trắng trên bảng đen, nhưng là những động tác đích thực của Thiên Chúa trong chiều sâu thẳm thường được trải nghiệm bởi những con người có thể xác, có linh hồn, qua những thừa tác viên là những thành phần của dân Chúa được trao cho nhiệm vụ, dưới sự tác động của Thánh Linh, tiếp tục những kỳ công của Thiên Chúa, và những kỳ công đó, tiếng Việt gọi là các bí tích.

Đó chính là một đặc điểm của Giáo hội Công giáo, chẳng những phân biệt Công giáo với các tôn giáo khác, nhưng ngay cả trong các hệ phái của Kitô giáo cũng có sự phân biệt, ví dụ như phân biệt Giáo hội Công giáo với các hệ phái Tin Lành.

Thật ra, vấn đề bí tích đã gây ra rất nhiều ngộ nhận, chẳng hạn, đối với dân tộc Việt Nam chúng ta, trong buổi đầu đạo Công giáo mới được truyền bá sang, các bí tích chính là cái cớ gây nên, hoặc những ngộ nhận, hoặc những cố tình xuyên tạc.

Tôi xin đơn cử một điển hình. Hồi còn nhỏ. tôi được nghe người ta nói rằng, người Công giáo có dùng những tà thuật, trong đó có những cái gần như là "bùa mê” được làm bằng những chất liệu có thể nói là mờ ám, nếu không muốn nói là gian ác, ví dụ như nước, dầu, thậm chí còn có dư luận cho rằng người Công giáo chế tạo chất dầu đó bằng những con mắt bị móc ra từ các em bé!

Quả thật, trong những hoàn cảnh Giáo hội Công giáo vì bị bách hại mà phải lén lút, nhiều khi cử hành bí tích trong một môi trường đầy tính cách bí ẩn, tại những nơi vắng vẻ, kín đáo, vào ban đêm, v.v... Ngoài những chẩt như dầu, nước, bánh còn có những ngôn từ mà thoạt đầu thì không được biểu trưng bằng những từ ngữ thông thường, đôi khi được phiên âm từ tiếng ngoại quốc, cho nên nghe gần giống như những câu "thần chú” có thể nói có tính cách ma thuật nếu không am hiểu cặn kẽ.

Theo tôi nghĩ, chính những cái đó cũng góp một phần vào việc tạo nên những dư luận không tốt, không hay đối với sinh hoạt của cộng đoàn Công giáo vào những thời kỳ phải lén lút, giấu giếm. Trong sự giấu giếm như vậy, theo tôi nghĩ, không phải là không có lý do, đó là vì đối với người tín hữu thì trong các bí tích, ví dụ như dầu thánh, nước thánh và nhất là Thánh Thể, tất cả đều là những bảo vật cần được giữ gìn, che chở, vì vậy, đôi khi sợ bị người ngoại giáo phạm thánh, nên có xu hướng che giấu, không muốn cho người ngoại giáo biết, thành thử càng gây ngộ nhận, hiểu lầm cho rằng đó là những chất liệu có tính cách ma quái, phù phép.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

3. Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

Tất nhiên những nét tôi vẽ ra trên đây, chẳng qua chỉ là đỉnh núi cao vời, chỉ là chân trời xa tít tắp mà mỗi một Kitô hữu cố hết mình vươn lên, đạt được ít nhiều tùy mỗi cá nhân, và chỉ thể hiện được nơi một vài cá nhân trỗi vượt là những vị thánh mà tôi vừa nhắc đến hai vị: thánh Phanxicô Assisi, thánh Vinh Sơn Phaolô và gần chúng ta đây, có thể nói những nét ấy có thể được thể hiện nơi một nhân vật mà thế giới ngày nay đều biết, đó là Mẹ Têrêsa Calcutta; và gần gũi hơn nữa là những nữ tu đang phục vụ tại những nơi rất độc đáo như các viện Phung Cùi, ngoài ra còn các vị khác nữa mà chính báo chí, có các báo Nhân Dân, Công giáo và Dân tộc, v.v… đôi khi cũng nhắc đến như là gương mẫu của một cuộc đời hiến thân cho tình yêu đối với đồng bào và đồng loại.

Nguồn mạch phát sinh tình yêu ẩy chính là tình yêu Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô mà đôi khi, theo cách nói của các nhà thần hiệp, tình yêu của những con người tận hiến ấy được mô tả như tình yêu hôn phối giữa nam và nữ, như ta đã thấy ở trên kia, là tiêu biểu cụ thể nhất cho hạnh phúc ở trần gian này.

Để thay đổi chút không khí cho vui, tôi muốn kể lại câu chuyện, gần đây có một người bạn đến thăm một trại phong. Sau khi gặp gỡ, trao đổi với các nữ tu phục vụ trong viện ấy, người bạn đã nửa đùa nửa thật nói với tôi, những con người như thế mà lại cam chịu sống một cuộc sống lạnh lẽo độc thân, e có lẽ chúng ta phải giải thoát họ khỏi cái khung cảnh buồn tẻ quạnh quẽ ấy. Tôi đã trả lời, xin lỗi anh, những con người ấy là những người không sống quạnh quẽ cô đơn đâu, mà là sống gắn bó mật thiết bằng một tình yêu cao vời nhất, đẹp đẽ nhất, sâu xa nhất, bền bỉ nhất, đằm thắm nhất là tình yêu Đức Giêsu Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, đã đổ đến giọt máu cuối cùng của mình vì lòng kính mến Thiên Chúa Cha và lòng thương yêu nhân loại nói chung và mỗi một con người cụ thể độc đáo, duy nhất nói riêng, dù con người đó có là phung hủi hoặc đui què mẻ sứt, có là đắm chìm trong tội lỗi như những kẻ giang hồ hoặc những tên trộm cướp mà chính Đức Chúa Giêsu đã tuyên bố công khai “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông" (Mt 21,22).

Để kết thúc phần trình bày về đạo đức luân lý của Kitô giáo, tôi xin gửi đến quý anh chị niềm tâm sự sau đây: Hình ảnh mô tả đời sống cộng đồng tiên khởi, thật ra có thể nói là một đời sống Cộng sản chủ nghĩa, vẫn là một hoài niệm nuối tiếc, ước mơ của bất cứ tâm hồn nào trong Kitô giáo, và mặc dầu trên thực tể không dễ gì thực hiện được, nhưng không phải không có một nỗ lực, không có một ước ao, không có một phấn đấu để ít nữa là tiếp cận lý tưởng ấy được chừng nào hay chừng nấy. Vì thế, lý tưởng ấy không chỉ nằm trong tâm tưởng, trong quá trình lịch sử của Giáo hội đó đây, cũng có thực hiện được đôi nét nhất định nào đó mà có thể bắt gặp được nơi một số cá nhân hoặc nơi một vài cơ chế, tổ chức nào đó; và tôi cũng xin nói ngay, các cơ chế, các tổ chức đó hiện nay chính là những dòng tu, trong đó mọi người đều sống chung, mọi sự đều là của chung, nhưng tôi xin lỗi các anh chị để dùng một hình ảnh, đó là xã hội Cộng sản cấy mô mà bất cứ con người thành tâm thiện chí nào cũng muốn, một ngày nào đó, kiểu mẫu xã hội ấy sẽ đi đến hình thức được cấy trồng đại trà khắp trần gian.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

3. Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

Do đó, đời sống người Kitô hữu được mô tả trong Công vụ tông đồ, cuốn sách thuật lại sinh hoạt của nhóm môn đệ Đức Giêsu Kitô vào thời tiên khởi: "Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đỗ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng... Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mọi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ" (Cv 2,42-471). ’

Những câu gọn gàng trên đây đã thâu gồm toàn bộ lý tưởng của đời sống Kitô giáo, trong đó sinh hoạt tôn giáo và sinh hoạt luân lý, bao gồm cả sinh hoạt kinh tế bởi vì có nhắc đến đất đai của cải, được nhuần nhuyễn thành một chủ thể mà cốt lõi là tình thương yêu nhau trong tình yêu Thiên Chúa.

Nhân đây, tôi xin nhấn mạnh yêu thương nhau trong tình yêu Thiên Chúa chỉ là hai mặt của một mối tình duy nhất, chứ không phải dùng tha nhân như phương tiện để yêu Thiên Chúa, hoặc dùng Thiên Chúa như phương tiện để yêu tha nhân. Mến Chúa yêu người chỉ là một, giống như bất cứ tờ giấy nào cũng có hai mặt gắn liền với nhau không thể tách rời ra được. Tôi cũng xin trình bày để các anh chị biết, hiện nay đôi khi có xảy ra tranh luận giữa người Kitô hữu với nhau vì có luận điểm cho rằng tình yêu Thiên Chúa là chiều dọc, tình yêu nhân loại là chiều ngang. Có người chủ trương rằng, chiều dọc chẳng qua là phương tiện, chiều ngang mới là mục đích; ngược lại có người nói rằng chiều ngang chẳng qua là phương tiện, chiêu dọc là mục đích.

Những tranh luận như vậy kỳ thực là chưa nắm đủ, đúng cái cốt lõi của nền luân lý Kitô giáo. Tình yêu chỉ có một, ngang với dọc không thể tách rời nhau, không thể nói cái nào là phương tiện, là mục đích của cái nào, bởi lẽ, chỉ một mình thanh dọc, thì không phải là cây Thánh giá, chỉ một mình thanh ngang, thì cũng không phải là cây Thánh giá, phải cả hai thanh ngang dọc kết hợp nhuần nhuyễn mới nên cây Thánh giá, và chỉ có một cây Thánh giá duy nhất mà trên đó trái tim của Giêsu Nazareth là trái tim thương yêu Chúa Cha, thương yêu nhân loại bằng một mối tình duy nhất, một hy sinh duy nhất, và dưới chân Thánh giá cũng có một trái tim thứ hai, trái tim của Đức bà Maria, Mẹ Ngài đã vui lòng thuận tình hiến dâng con rất yêu dấu của mình, cũng trong một mối tình duy nhất, dâng lên Thiên Chúa để ban phát cho toàn thể nhân loại và nói rộng ra hơn nữa là bao trùm cả vũ trụ này.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

3. Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

Nói cách khác, con người thương yêu con người nhờ bởi chính tình yêu của Thiên Chúa thương yêu con người cũng như bất cứ loài thụ tạo nào, khi gọi nó từ hư không để cho nó thành hiện hữu. Yêu ai, yêu cái gì, rốt cuộc là muốn cho ai đó, cái gì đó CÓ, cho nên tình yêu đích thực có một câu tiếng Việt rất nôm na nhưng rất đầy ý nghĩa: Yêu nhau chẳng qua là vui mừng khi có nhau. Trong đời mình, đôi khi chúng ta cũng nếm hưởng được cái tình yêu đó, trong niềm vui của hai người thân gặp nhau; gặp nhau nào có phải đem lại lợi lộc gì cho nhau, có phải để tìm kiếm nơi nhau một đặc tính, một phẩm tính nào đó như đi mua cam, mua vải toàn chọn cái đẹp cái tốt đâu, nhưng mà vui mừng chỉ vì gặp gỡ nhau, trao đổi với nhau trong một tương quan liên ngã vị, hoặc nói như Montaigne khi nói về tình bạn là gì. Tình bạn, tình yêu, yêu nhau chỉ vì tôi là tôi và người đó là người đó. Yêu nhau thật là khi đạt đến chỗ, cũng nói như Montaigne "parce que c'est lui, parce que c’est moi" [chỉ bởi đó là chàng, chỉ bởi đây là em]. "Lui” [chàng] với "moi" [em] là để chỉ những ngã vị độc đáo. duy nhất, bất luận đó là ngã vị của một người tàn tật, một người phung hủi, hay thậm chí một kẻ cướp của, giết người. Thánh Phanxicô Assisi đã ôm hôn một người phung hủi, thánh Vinh Sơn Phaolô đã thay thế một tên tử tội bị buộc phải làm nghề chèo thuyền; các ngài đã thể hiện tình yêu đó theo mẫu mực của Đức Giêsu Kitô. Yêu một người phung hủi, yêu một kẻ tù tội có thế là một phạm nhân phạm tội rất nặng, vì họ là người, là hữu thể có ngã vị, chứ không phải vì bất cứ một phẩm tính nào đó, như kiểu đi chọn mua cam ngon hoặc một chiếc áo đẹp đã nói ở trên.

Theo niềm tin Kitô giáo, đển ngày Cánh chung, khi tấm thảm thời gian được cuốn lại, mọi sự đi vào nơi vĩnh cửu, thì làm gì còn có đau khổ để mà an ủi, làm gì còn có những tiêu cực để giúp giải quyết, trái lại, chỉ yêu nhau trong sự có nhau mà thôi. Và, suy cho cùng, nguồn gốc của mọi sự, cứu cánh của mọi sự là ở trong Thiên Chúa Ba Ngôi, mà với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, thực ra, chẳng qua chỉ là một sự "có nhau" trong tương quan liên ngã vị giữa Ba Ngôi Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần. Hình ảnh Thiên đàng được mô tả như một tiệc cưới chỉ muốn nói lên sự hưởng thụ niềm vui có nhau giữa những ngã vị mà thôi.

Vì vậy, nếu có dịp đọc bốn cuốn tiểu sử của Đức Giêsu Kitô, được gọi là bốn cuốn Tin mừng, các anh chị sẽ đọc thấy những đoạn Ngài phát biểu về luân lý; nhưng xuyên suốt toàn bộ những bài dạy luân lý ấy, với những lời khuyên như đừng trộm cướp, đừng giết người, đừng gian dâm, đừng nói dối, v.v... chẳng qua chỉ là biểu hiện, chẳng qua chỉ là hậu quả của một điều căn bản, đó là nhìn nhận nơi đồng loại những con người, hiểu theo nghĩa là những hữu thể, có ngã vị tính, có chủ thể tính, có tự do tính mà tự họ là một giá trị tuyệt đối vượt trên bất cứ giá trị nào ở trần gian này. Những con người đó được mang chính hình ảnh Thiên Chúa và phải được trân trọng như là cứu cánh chứ không được sử dụng họ như một phương tiện cho bất cứ giá trị nào ở trần gian này.

Có thể nói con người, được bao trùm bởi tình yêu thấm nhuần Kitô giáo đó, cảm thấy mình được chọn lựa như một người yêu duy nhất, nhưng được tôn lên làm chủ tể của cả vũ trụ này. Các anh chị ở đây chắc có người đã nếm hưởng cái hạnh phúc khi được một ai đó ngỏ lời yêu và chọn làm người yêu duy nhất trong toàn thể vũ trụ này và gần như được tôn thờ trong trái tim họ, đó chẳng phải là hạnh phúc cao nhất ở trần gian này sao? Điều này cũng làm cho ta hiểu có những người thất tình đi đến chỗ quyên sinh, bởi vì cảm thấy mình không được yêu, tức là bị mất đi ngôi vị gần như tuyệt đối của một con người trong vũ trụ này,

Nói một cách trừu tượng hơn, nền luân lý của Kitô giáo xây dựng trên một nền hữu thể học là ngã vị tính, chủ thể tính, tự do tính của con người được tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa vốn là một bản thể có ngã vị tính, có chủ thể tính, có tự do tính trong một tương quan liên ngã vị, được gọi là tình yêu ở trong chính nguồn gốc của mọi sự, là Đấng Tạo thành mà người Kitô giáo tin là một Thiên Chúa Tam vị Nhất Thể, gọi là Một Chúa Ba Ngôi, Cha, Con và Thánh Thần. Câu kinh ca ngợi: "Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước muôn đời và bây giờ và hằng có và đời đời", không gì khác hơn là lời ca ngợi mối tình tương quan liên ngã vị ấy mà thôi. Mối tình tương quan liên ngã vị ấy là hằng có muôn đời trong Đấng Tạo thành, cho nên kế đồ sáng tạo và cứu chuộc chẳng qua chỉ là muốn ban phát niềm vui, niềm hoan lạc, hạnh phúc của tình yêu muôn thuở ấy. "Vinh danh Thiền Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm", ngoài ra không có mục đích nào khác.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

3. Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

Ý tưởng về tình yêu trong Kitô giáo là, như đã được thể hiện nơi một vài vị thánh, khi tiếp xúc với bất cứ người nào, với một hữu thể nào, thì hầu như quên đi tất cả và trong vũ trụ này chỉ có một mình hữu thể ấy mà thôi. Thái độ đó gần như thái độ của một người yêu đối với một người yêu. Do đó, trước thái độ như vậy, ai cũng có cảm tưởng như mình được yêu một cách độc đáo, duy nhất và có thể nói là trên hết. Tình yêu dưới dạng đó phần nào phản chiếu tình yêu nơi Thiên Chúa, vì thế mà có tính cách tuyệt đối và thường cũng đưa đến thái độ thờ phượng và hy sinh như trong tiếng Pháp, đôi khi yêu nhau người ta nói với người mình yêu, "Je t'adore" (anh yêu em), anh tôn thờ em hoặc ngược lại.

Từ đó, người được yêu có cảm tưởng như mình được tôn lên địa vị tuyệt đối, kết quả là người yêu có thể đi đến chỗ hy sinh hoàn toàn bản thân cho người mình yêu. Đúng là như Đức Giêsu Kitô đã nói: "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15,13). Tình yêu ấy phát xuất từ một hữu thể có chủ thể tính, có ngã vị tính, có tự do tính gửi đến một hữu thể cũng có chủ thể tính, có ngã vị tính, có tự do tính trong một tương quan liên ngã vị. Xin lỗi các anh chị, các anh chị cho phép tôi dùng tiếng Pháp để nói tình yêu đó là một "relation interpersonnelle" (mối quan hệ với nhau), giữa một "personne" (người) với một "personne", cả hai "personne" đó đều duy nhất, độc đáo vô tiền khoáng hậu, nói tóm lại theo tiếng chuyên môn, là giữa hai nhân vị, hoặc giữa hai ngã vị, mà chỉ vì đó là một ngã vị, một "personne", chứ không phải một sự vật, không phải "une chose" (một điều).

Nhà triết học Pascal có nói rằng khi anh yêu tôi vì đức tính này, đức tính nọ, thì chẳng qua anh trân trọng những đức tính đó mà thôi chứ không phải anh yêu tôi như tôi là tôi. Thực ra, đó không phải là tình yêu mà là ưa thích một sự vật có phẩm tính này phẩm tính kia. Vì thế, không ai nói yêu một quả cam, nhưng đi ra chợ, chọn cam thì chọn bất cứ quả cam nào có đủ những đặc tính mà mình muốn, nghĩa là thơm, ngon, ngọt, v.v... và nếu có tiền thì, khi thấy một quả cam nào có nhiều đặc tính ấy hơn, người ta sẵn sàng bỏ quả cam đã lựa mua trước đó để mua quả cam vừa ý nhất ấy.

Trái lại, trong tình yêu, mà biểu hiện cụ thể nhất ở trần gian này là tình yêu trai gái, thiếu gì lúc chúng ta nghe thấy lời phẩm bình của thiên hạ về những mối tình nam nữ, chẳng hạn anh chàng kia, thiếu gì con gái, lại đi yêu cô ta, hoặc ngược lại... Xin thưa, việc đó giống như Pascal đã nói, trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể hiểu được. Thực ra, căn bản của tình yêu là trân trọng một ngã vị duy nhất nào đó, chỉ vì đó là một ngã vị. Đương nhiên thoạt đầu có thể yêu người này, yêu người nọ, đặc tính này, đặc tính kia, nhưng nếu chỉ yêu đặc tính của người ấy thì chưa phải là tình yêu thật, bởi vì chúng ta biết đối với con người, trong cuộc sống trải qua hàng chục năm, những đặc tính kia có thể phai nhạt, suy giảm và có thể mất hẳn. Còn tình yêu chân thật, cho dù những đặc tính khơi mào cho tình yêu đó có phai mờ, có mất đi, thì tình yêu vẫn còn nguyên vẹn. Một hình ảnh có thể giúp ta hiểu, đó là tình mẹ thương con, thương con vì con là con, chứ đâu phải vì con đẹp, con khôn, con giàu, con mạnh. Thật vậy, chúng ta thấy có những bà mẹ, đối với những đức con không may bị tật nguyền từ lúc lọt lòng, tình thương yêu lại càng dào dạt, và khi đứa con đó chẳng may mất đi, người mẹ sẽ đau đớn tiếc nuối như đối với bất cứ đứa con lành lặn nào khác. Tình yêu như thế nơi con người, theo cái nhìn của Kitô giáo, chính là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa nơi tâm hồn Ngài đối với bất cứ con người nào.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

 



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

3. Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý (tiếp theo)

Nhân đây, tôi cũng xin trình bày một ý tưởng duy nhất, tôi muốn nói rằng đời sống luân lý của Kitô giáo chỉ thâu gồm lại trong một lời duy nhất, đó là tình yêu thương, và nếu từ ngữ tình yêu không bị lạm dụng một cách lệch lạc, thì lẽ ra phải dùng chữ "tình yêu", chứ không phải "yêu thương". Tình yêu trên thế gian này được biểu hiện rõ ràng nhất, đó là tình yêu nam nữ và tôi xin nhắc lại, những so sánh tôi sắp trình bày đây là để nêu bật tính chất độc đáo của nền luân lý Kitô giáo, chứ không phải nói chuyện hơn thua. Vậy, tôi xin miễn bàn đến những qua niệm về tương quan nhân loại của các học thuyết như của Platon, Stoïcien, của các nhà hiền triết khác, tôi chỉ đề cập đến hai quan niệm mà người Việt chúng ta đã đón nhận là quan niệm từ bi của Phật giáo và quan niệm ái nhân của Khổng Mạnh.

Khi nói rằng nền luân lý của Kitô giáo thâu gồm lại trong hai chữ "tình yêu", tôi cố ý tránh dùng chữ "yêu thương" vì là không muốn dùng đến chữ "thương", chỉ trừ vùng Thừa Thiên - Huế dùng chữ "thương" đồng nghĩa với chữ "yêu", còn nhìn chung thì người Việt ta, khi nói đến chữ "thương" thì thường ít nhiều ý thức, hoặc là trong tiềm thức, không thể không có sự liên tưởng nào đó đến một chữ khác, đó là "thương xót" hoặc thấp hơn là "thương hại". Chúng ta cũng thấy lòng thương người được biểu hiện dưới dạng giúp đỡ kẻ hoạn nạn, thiếu thốn, đau khổ, đem lại cho họ sự an ủi, giúp họ ở nhiều khía cạnh từ cơm ăn áo mặc cho đến những buồn vui của kiếp người ở giữa thế gian này. Sở dĩ như vậy là vì, trên thực tế, cuộc sống con người giữa thế gian này đa phần thường gặp phải những tiêu cực, cần sự giúp đỡ, càn sự an ủi của đồng loại; và nhất là trong những lý thuyết có hơi nhấn mạnh đến khía cạnh tiêu cực của cuộc sống dưới dạng đau khổ, thì cái tương quan giữa con người với nhau lại càng nhấn mạnh đến phương diện giúp người hoạn nạn, cứu người đau khổ, an ủi kẻ buồn phiền, v.v... Và như trong Phật giáo, cái tình cảm "thương" đó được diễn tả bằng chữ "từ bi", vượt quá giới hạn của loài người mà bao trùm hết thảy mọi loài chúng sinh và những ý tưởng cao vời trong Phật giáo được biểu hiện dưới hình ảnh của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, được gọi là đấng cứu khổ cứu nạn, và phát nguyện của ngài là khi nào chúng sinh cuối cùng thoát khỏi trầm luân đau khổ để đi vào cõi Niết Bàn cực lạc, bấy giờ ngài mới là chúng sinh cuối cùng bước vào.

Cũng chẳng giấu gì các anh chị, trước khi thành Kitô hữu, tôi đã có một thời gian chiêm ngưỡng Đức Thích Ca và một phần nào cũng chịu ảnh hưởng những lời giáo huấn vô cùng cao siêu, tốt đẹp của ngài, do đó, trong vấn đề tình cảm, đối với các sinh vật khác, lời dạy giới sát sinh của ngài vẫn đang còn lưu lại ảnh hưởng trong tâm hồn tôi và ít nhiều chi phối cuộc sống của tôi khi tiếp xúc với các sinh vật.

Trong Giáo hội Công giáo cũng có một vị thánh, thánh Phanxicô Assisi, cũng đã có một thái độ và cảm tính đối với các sinh vật khác được ngài biểu lộ bằng cách gọi các sinh vật ấy là anh, là chị, là em; thậm chí ngài còn dùng cách xưng hô anh, chị, em đối với các thụ tạo vô tri vô giác. Phần lớn sinh hoạt bác ái của Giáo hội Kitô giáo, trong hai mươi thế kỷ quá, cũng nói rõ lên tính cách thương giúp những con người rơi vào cảnh đau thương, thiếu thốn, chẳng hạn như hiện nay, toàn thể thế giới đều để ý đến Mẹ Têrêsa Calcutta, hoặc nữa là, trong thực tế lúc này, các nữ tu chăm sóc những người mắc bệnh nan y được xem như là tiêu biểu của một nền luân lý Kitô giáo chú trọng đến việc thương giúp những người bất hạnh phải chịu đau khổ, và đau khổ đó có thể đến từ bệnh hoạn, cũng có thể đến từ bất công xã hội, v.v...; những sinh hoạt, nói chung, thường được gọi là những hoạt động từ thiện, bác ái, thì theo như lời Thánh Augustinô đã nói: "Từ thiện bác ái chỉ là điều kiện thấp của lòng yêu người mà thôi".

Bản chất tình yêu, như thánh Augustinô đã nói: "Tôi yêu ai là khi tôi thấy vui mừng vì sự hiện hữu của người ấy", chứ không để ý đến khía cạnh họ giàu sang hoặc nghèo đói, đau khổ hoặc hạnh phúc. Tình yêu là một chiều kích của con người quý trọng sự hiện hữu, từ sự hiện hữu của Thượng đế đến sự hiện hữu của tha nhân và của bất cứ thụ tạo nào; và nếu cần, hy sinh cả sự hiện hữu của mình để vun quén, tài bồi, phát triển sự hiện hữu của những hữu thể ấy. Có thể nói, đối với những hiện hữu, với những hữu thể ấy, trong độc đáo tính, duy nhất tính dù là của một đóa hoa hoặc của một con người, ta đều có thái độ tương tự như một người yêu đối với một người yêu, tức là trên thế gian này chỉ có một mình người yêu của ta thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

3. Từ tâm tình thờ phượng đến đời sống luân lý

Sinh hoạt của Kitô giáo cho thấy đó là sinh hoạt phụng vụ tôn giáo, nhưng là một sinh hoạt phụng vụ tôn giáo được hiểu theo nghĩa rộng và sâu xa, như tôi đã trình bày ở trước, chứ không phải chỉ là một mảng tách rời khỏi đời sống toàn diện. Như vậy, đời sống Kitô giáo, dưới khía cạnh luân lý, chẳng qua chỉ là những điều kiện chuẩn bị tâm hồn để sống một đời sống tôn giáo đích thực và đương nhiên là kết quả của một đời sống tôn giáo đích thực.

Trong ba năm rao giảng, Đức Giêsu Kitô có đề cập đến những vấn đề luân lý, từ trong đời sống cá nhân với những nhân đức, đến trong đời sống xã hội với những bổn phận làm người sống chung với nhau. Nhưng, xét cho cùng, những lời giảng dạy của Ngài về luân lý tuy là quan trọng, nhưng có thể nói là thứ yếu, theo nghĩa nó chỉ là những điều kiện chuẩn bị để đón nhận Nước Trời, và nó cũng là kết quả của việc tin vào Ngài, là dấu hiệu chứng tỏ rằng đời sống đức tin đó là đời sống đức tin thật và đã thấm nhuần toàn bộ cuộc sống của người tín hữu. Nội dung giáo lý của Ngài chú trọng vào tín lý, mà trong đó Ngài nói về chính Ngài, để nhân loại biết Ngài là ai, đến để làm gì, và như chúng ta đã thấy ở trên kia, Ngài đến để thực hiện chương trình cứu độ bằng cái chểt và sự sống lại của chính Ngài. Cuối cùng, chương trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa hoàn toàn bắt nguồn từ tình yêu của của Thiên Chúa, đi qua con đường tình yêu rồi kết thúc bằng cách trở lại nguồn mạch tình yêu.

Vậy, có thể tóm tắt nền luân lý Kitô giáo trong hai chữ TÌNH YÊU: Tình yêu giữa con người đối với Thiên Chúa và tình yêu giữa con người với nhau. Như chính Đức Chúa Giêsu Kitô đã nói, mọi điều luật đều thâu gồm vào hai điều mà thực ra là một, đó là mến Chúa và yêu người. Đôi khi chúng ta vẫn nghe nói đạo nào cũng như đạo nào, chẳng qua cũng chỉ là khuyến thiện trừng ác; quả thật, nếu chỉ hiểu tôn giáo như là một phương tiện để chỉ giúp con người có một đời sống luân lý mà thôi, thì nói như vậy là đúng, nhưng Kitô giáo không phải chỉ là một phương tiện nhằm giúp con người sống một đời sống luân lý, mà đời sống luân lý trong nhãn giới Kitô giáo - như tôi đã nói và thường nhắc lại - chỉ là điều kiện và kết quả của đời sống tôn giáo.

Trong lịch sử nhân loại không thiếu gì những nền đạo lý hết sức cao siêu, chẳng hạn như luân lý của Khổng giáo, luân lý của thuyết Platon, luân lý của phái Khắc kỷ [Stoïcien], luân lý của phái Pythagoricien...; tuy nhiên, người nào trong nhân loại này dám vỗ ngực tự xưng mình đã thực hiện đúng lời dạy của Khổng Tử ái nhân như ái thân...

Quả thực, nếu chỉ cần đạt đến một đời sống luân lý mà thôi thì có thể nói không cần đến những lời giảng dạy của Đức Giêsu Kitô làm gì, miễn sao theo cho được những lời giảng dạy của các bậc hiền triết Đông Tây kim cổ cũng đã là quá đủ, nhưng trên thực tế, có ai đã làm được như vậy đâu. Và muốn nói quá đi một chút, tôi có thể khẳng định rằng, đứng về phương diện luân lý thuần túy, nguyên tắc, luân lý của Phật giáo có một dạng nào đó cao hơn luân lý Kitô giáo, bởi vì Kitô giáo đương nhiên có bao hàm tình yêu thương đối với loài vật, đối với vũ trụ, nhưng chỉ nhấn mạnh, đề cao tình thương yêu giữa con người với nhau, trong khi Phật giáo còn dạy thương yêu bất cứ chúng sinh nào và phải giải thoát bất cứ chúng sinh nào, từ con sâu cái kiến, đều được biểu lộ trong giới răn cấm sát sinh. Do đó, trong phần trình bày về cái cổt lõi của luân lý Kitô giáo, tôi không đề cập đến chuyện đúng sai hoặc hơn thua giữa nền đạo đức luân lý Kitô giáo với các nền đạo đức luân lý khác, nhưng tôi chỉ muốn giúp các anh chị nắm bắt được tính chất độc đáo của nó mà thôi, chứ không có ý so sánh hơn thua. Các anh chị vui lòng nhớ cho điều quan trọng ấy.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

2. Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

Thí dụ, tôi xin nói, trên đất nước Việt Nam chúng ta, trước ngày vị truyền giáo đầu tiên đặt chân lên, thì những hình thức thờ phượng, chẳng hạn như việc tế giao của vua chúa, việc thờ phượng các anh hùng, việc thờ phượng các thành hoàng, việc thờ phượng tổ tiên đều có một khía cạnh tích cực nào đó và cũng có thể được Thiên Chúa chúc lành và đón nhận trong sự công bằng, trong lòng từ ái của Ngài. Vì thế, sau một thế kỷ Giáo hội dùng biện pháp, có thể nó là cụ thể và có tính chất thiết thực, hầu như ngăn cấm các tín hữu không được tham dự các buổi lẽ ấy, bởi vì sợ đức tin còn non yếu, vì sợ tâm thức tôn giáo chưa được sâu xa hùng mạnh và từ đó có thể đi đến một sai lầm nào đó. Còn ngày nay, sau một thời gian, khi đức tin của cộng đồng Kitô hữu Việt Nam đã vững mạnh, đã bén rễ sâu sắc, đã đủ trưởng thành, thì Giáo hội lại cho phép các Kit ô hữu được thông dự phần nào vào những hình thức thờ phượng nào đó của các anh em ngoài Công giáo, miễn là đừng để rơi vào những tục lệ có tính cách mê tín dị đoan. Còn nếu sống đúng tinh thần tri ân đối với cha mẹ, đối với những bậc thánh nhân, quân tử, những bậc có công với địa phương, với dân tộc để bày tỏ tấm lòng biết ơn, và có thể đối với cả những bậc tạm gọi là thần linh, biểu hiện cho chân, thiện, mỹ, thì Giáo hội cũng nhìn với một cái nhìn cởi mở, đón nhận và chúc lành.

Đồng thời người Kitô hữu, miễn là vẫn giữ việc thờ phượng Thiên Chúa như là đỉnh cao nhất, thì cũng có thể thông dự trong tình đồng bào, đồng loại hoặc tình máu mủ, như việc thờ cúng ông bà. Do đó, hiện nay đã có một sự phân biệt những chữ tôn kính, thờ phượng, thờ kính, tôn thờ với một từ ngữ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa, mà tiếng Việt ta dịch ra nghe hơi không được thanh tao lắm, đó là thờ lạy, tiếng Pháp là adoration. Thành thử trong từ ngữ chung có nghĩa là thờ phượng, tiếng Pháp là culte, rồi ví dụ như thờ kính, vénération, thì Giáo hội Công giáo ngày nay đồng ý rằng, đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, đối với anh hùng liệt sĩ, thậm chí đối với các bậc thần linh nào đó, miễn là người Kitô hữu đừng adorer (tôn thờ), còn chữ vénérer (tôn kính) hoặc culte, tức là có một sự tôn kính, một sự phụng thờ nào đó, thì Giáo hội cũng không ngăn cấm, miễn là đừng thể hiện dưới hình thức mê tín dị đoan, chẳng hạn như đốt vàng mã, cầu cơ, bói toán.

Đến đây tôi xin trình bày một ý nghĩ riêng cá nhân tôi. Trong phụng tự Kitô giáo, có thể nói, có một sự thâu gồm nào đó trong Đức Kitô, nghĩa là, những hình thức phụng tự khác, miễn là gạt ra được hết những tính chất mê tín dị đoan, đều được thâu nhận trong Đức Giêsu Kitô để hiến dâng lên Thiên Chúa Cha toàn năng và từ ái, trong một cuộc phụng vụ muôn đời muôn thuở mà trong đó, tất cả những cái gì cao quý, tốt đẹp, dù không đích danh mang hiệu Kitô giáo, đều được đón nhận, được siêu thăng trong chính phụng vụ của Đức Giêsu Kitô dâng lên Thiên Chúa Cha khi Ngài dâng mình trên cây Thánh giá, đổ đến giọt máu cuối cùng để chứng tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa Cha và đối với nhân loại, đối với vũ trụ này.

Mà bởi vì Ngài cũng là một Ngôi Vị Thiên Chúa, cho nên trong biểu hiện tình yêu bằng cách đổ máu mình ra như thế thì, một mặt, với tư cách là người, Ngài hiến dâng tình yêu lên cho Thiên Chúa, mặt khác, với tư cách là Con Thiên Chúa, thì chính Ngài đem tình yêu Thiên Chúa đến cho vũ trụ và mời gọi toàn thể vũ trụ, toàn thể nhân loại thông dự vào tình yêu muôn đời muôn thuở ấy.

Như vậy, phụng vụ chính là môt bản nhạc tình yêu và vì thế, tôi xin nhắc lại một câu để tóm tắt những trình bày về đời sống phụng vụ đã được đưa ra ở trên, đó là phụng vụ Kitô giáo được hình dung như là tiệc cưới của Con Chiên Thiên Chúa; tiệc cưới mà trong đó sự kết hiệp nên một giữa loài thụ tạo và Đấng Tạo thành giống như sự phối hợp nam nữ giữa trần gian này.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

2. Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

Do đó, Thánh lễ Tạ ơn, Thánh lễ Misa là mẫu mực cho mọi hành vi của Kitô giáo, là nền tảng cho mỗi hành vi của người Kitô hữu, là nguồn mạch của mỗi hành vi người Kitô giáo trong suốt cuộc đời ở trần gian này. Thánh lễ Misa chẳng những thâu gồm toàn bộ đời sống Đức Giêsu Kitô mà còn thâu gồm cả lịch sử Giáo hội, lịch sử nhân loại và diễn trình của vũ trụ từ khai thiên lập địa cho đến ngày Cánh chung, mà đỉnh cao là cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. Vì vậy, trong Thánh lễ có một câu: “Chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến". Những chu kỳ phụng vụ trong một năm xoay quanh tâm điểm là tưởng niệm cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. là cả một sự dàn trải ra để người tín hữu chiêm niệm chương trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa được thành tựu trong đời sống của Đức Giêsu Kitô; do đó mà được tổ chức thành những ngày lễ mang tính chất lịch sử như là tái hiện và dự phóng tương lai sắp đến mà trung tâm, như tôi đã nói, là lễ Phục Sinh, hoài niệm, tái diễn mầu nhiệm căn bản của Kitô giáo là mầu nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh, nhưng đồng thời cũng nhắc lại, và một phần nào tái diễn, thời điểm sáng tạo, thời điểm tuyển chọn dân Thiên Chúa, và chính thân thế và sự nghiệp Đức Kitô, giáng sinh, lớn lên, ba năm trời đi rao giảng, chịu khổ nạn và chết trên Thánh giá, sống lại, lên trời rồi vào ngày Ngũ Tuần phái Ngôi Ba Thiên Chúa xuống để soi sáng, dạy dỗ, hướng dẫn và phù trợ dân mới của Thiên Chúa, thiết lập Giáo hội, truyền bá Tin vui cho khắp năm châu bốn bể và còn mô tả, phác họa ngày Cánh chung là khi mà Thiên Chúa trở lại để thu thập, phân biệt thiện ác, gạn lọc tất cả để đưa cái vũ trụ này đến cứu cánh của nó là đi vào chính sự vinh quang của Thiên Chúa muôn đời.

Như vậy, sinh hoạt thần vụ, hoặc là phụng vụ, của Kitô giáo chính là sự sống đức tin của Kitô hữu, một phần nào đó đáp ứng được có thể nói là cái bản năng thờ phượng ở nơi bất cứ con người nào, cái mầm mống hoặc là cái tập sự, cái chuẩn bị cho phụng vụ Kitô giáo được chính Thiên Chúa giao cho dân Do Thái. Nói rộng hơn, có thể nói cái nhu cầu thờ phượng ấy là một nhu cầu thiết yếu của tâm hồn con người, cho nên phần nào đã manh nha trong bất cứ tôn giáo nào khác, dưới những hình thức phụng vụ khác nhau, đương nhiên có lẫn lộn này nọ, nhưng xét vê một phương diện nào đó, đều cũng có một giá trị nhất định.

Vì vậy, tuy trong thực tế đôi khi Giáo hội Công giáo chặt chẽ, khắt khe, sợ tín hữu pha trộn, lẫn lộn ít nhiều với hình thức thờ phượng tôn giáo ngoài Công giáo; nhưng trong thâm tâm, không phải là lên án một cách triệt để, trái lại, vẫn nhìn thấy trong tất cả các hình thức phụng vụ của các tôn giáo khác như một mầm mống phác họa, thu thập nào đó - như tôi đã nói ở trên - mà bất cứ con người nào cũng có xu hướng chung chung muốn thể hiện.

Như vậy, đối với cái nhìn của người Kitô hữu, phụng vụ Kitô giáo là sự hoàn tất chính cái nhu cầu tôn giáo, nhu cầu thờ phượng đã được Thiên Chúa in sâu vào lòng người, mà các tôn giáo khác, các hình thức phụng vụ khác, tuy chưa được ưu việt, nhưng cũng có một ít khía cạnh tích cực; cách riêng là đối với những dân tộc chưa được may mắn đón nhận Tin vui.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

2. Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

Vậy, có thể nói tất cả chỉ tóm tắt vào một bài kinh mà người Công giáo gọi là Kinh Sáng Danh: "Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước muôn đời và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen”. Do đó, đời sống thờ phượng của Kitô giáo, ngay ở trần gian này, chỉ là sống trước cuộc sống vĩnh cửu mai sau mà thôi.

Và nếu hỏi cứu cánh của mỗi một con người, của nhân loại, của vũ trụ này là gì, thì xin trả lời đó là cuộc đi đến phụng vụ muôn đời không dứt ở Thiên đàng, mà Thiên đàng ở đây không hiểu theo nghĩa một thế giới mông lung nào đó, nhưng là chính cái vũ trụ này, sau khi đã hoàn tất, lại trở về nơi nguồn phát tích của mình là cung lòng Thiên Chúa Ba Ngôi Cha, Con và Thánh Thần hằng hữu, hằng yêu mến muôn thuở muôn đời.

Vâng, quả đúng như câu kết thúc Tin mừng theo thánh Luca, người tín hữu hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa. Ở đây Đền thờ là chính cả vũ trụ này; còn hằng, nghĩa là luôn luôn. Giây phút nào cũng vậy, do đó, mọi sinh hoạt trần gian, nếu được thấm nhuần tinh thần Kitô giáo, đều trở nên những việc thờ phượng Thiên Chúa, từ việc lao động để kiếm cơm ăn áo mặc, từ việc vợ chồng trao xương gửi thịt cho đến tất cả những sinh hoạt trên trần thế này, thảy đều là những việc thờ phượng Thiên Chúa như thánh Phaolô đã dạy: "Anh em hãy làm mọi việc vì vinh danh Thiên Chúa" (Cr 10,31-11,1).

Vì vậy, người tín hữu Kitô giáo không phải là tìm sự siêu thoát để thoát khỏi cái nợ đời này, để sống chơi vơi trong một chân trời huyền ảo nào, nhưng người Kitô hữu, dù là quét nhà, thậm chí dù là chỉ huy ngoài trận mạc để chiến đấu cho công bằng, bác ái, đều là làm việc thờ phượng, làm với hết cả tâm hồn mình Đó là ý nghĩa được thánh Gioan Thánh giá, một vị thần nhiệm học có thể nói là số một của Kitô giáo, đã nói rằng: "Dù nhặt một cây kim với tất cả tình yêu Thiên Chúa, thì vẫn có giá trị hơn tất cả sự nghiệp lẫy lừng được thực hiện với một phong cách phàm tục".

Từ đó, chúng ta đi đến kết luận như sau: Việc thờ phượng Thiên Chúa chẳng những không cản trở đối với cuộc sống trần gian, nhưng chính đời sống phụng vụ, một mặt, đem lại ý nghĩa cho mọi sinh hoạt trần gian, một mặt giúp cho tín hữu Kitô giáo khi làm những việc trần gian, từ việc nhỏ nhất như nhặt một cây kim cho đến những sự nghiệp lẫy lừng, có thể nói là làm với tất cả tâm hôn mình y như là thờ phượng Thiên Chúa trong Đền thờ vậy. Được như thế thì quả thật, bản thân mỗi người là một Đền thánh, xã hội là một Đền thánh, Giáo hội là một Đền thánh, vũ trụ là một Đền thánh, mà mọi việc đều có tính cách phụng tự, thì phải làm với hết lòng, hết sức, hết cả tâm trí trong tình yêu Thiên Chúa và tình thương yêu đồng loại.

Và cũng trong cái tinh thần đó, một nhà thuyết giáo đã nói rằng, trên trần gian này, nơi linh thiêng nhất chính là bàn thờ mà hằng ngày Ngôi Hai Thiên Chúa ngự xuống trong phép Thánh Thể và thứ hai là chiếc giường hợp cẩn, nơi mà các cặp vợ chồngg trao xương gửi thịt với nhau. Thờ phượng Thiên Chúa không phải là rũ sạch bụi trần để bay lên một chân trời nào đó, nhưng là làm mọi việc với một tinh thần thờ phượng, tôi xin nhắc lại, từ việc nhỏ là nhặt một cây kim cho đến việc kinh bang tế thế. Một khi đã thấm nhuần trong tinh thần phụng vụ như thế, thì mọi việc ở trần gian đều có một giá trị thiêng liêng cao cả mà hầu như đòi hỏi con người phải tận hiến hết mình để làm cho trọn vẹn đầy đủ, đạt đến mức hoàn hảo như chính lời Đức Chúa Giêsu đã nói: “Các con hãy nên hoàn thiện, như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5,43-48). Như thế, sự hoàn thiện Kitô giáo được thể hiện ngay trong những việc tầm thường nhất của cuộc đời eo sèo này, chứ không phải chỉ riêng việc phụng thờ mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

2. Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo (tiếp theo)

Giả như con người không phạm tội và vẫn giữ được vẻ nguyên trinh ban đầu, thì việc thờ phượng Thiên Chúa vẫn xảy ra, bởi vì chúng ta còn bước lên một bước cao hơn nữa và, nếu tin rằng mọi sự đều do Thiên Chúa mà ra, đương nhiên con người vẫn có một tâm tình ca tụng, ngợi khen, cảm tạ Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự tốt lành ở trần gian này. Do đó Thánh lễ hằng ngày dâng lên chí là Lễ Tạ ơn.

Tạ ơn ở đây không phải là một sự nịnh hót, nhưng là một cách biểu lộ lòng tri ân, một tình cảm cao quý ở nơi con người, vì chính chúng ta cũng thường chê trách những kẻ vô ơn bất nghĩa. Tạ ơn là một nhu cầu của bất cứ người con nào có lòng hiếu thảo đối với cha, bất cứ một người mang ơn nào đối với người đã thi ân cho mình. Chẳng phải chúng ta vẫn thường kinh chê những kẻ ăn cháo đá bát đó ư? Tạ ơn Thiên Chúa không phải để xu nịnh Ngài, nhưng là biểu lộ một chiều kích khác thường bên trong tâm hồn con người vốn biết ơn nghĩa. Ngợi khen Thiên Chúa thật ra cũng chẳng khác gì khi chúng ta khen ngợi một bức tranh đẹp, ca tụng một vở kịch hay, một bản hòa tấu tuyệt diệu và, nếu tin rằng vũ trụ này được tạo dựng bởi một Đấng chí ái toàn năng, thì việc ca tụng Thiên Chúa chính là biểu lộ một sự thông minh sáng suốt của một người biết đánh giá đúng một kiệt tác của nhà nghệ sĩ tuyệt vời, là Đấng tạo thành muôn vật mà chính Ngài sau khi tạo thành cũng đã khen mọi sự tốt lành.

Tuy nhiên, đời sống phụng tự của Kitô giáo không chỉ dừng lại ở đấy, song còn tiến lên đến bậc cao hơn, một đỉnh cao chót vót. Như tôi đã trình bày ở trên kia, Thánh lễ, chúng tôi gọi là Thánh lễ Tạ ơn hoặc Thánh lễ Misa, mà hằng ngày Giáo hội, qua tay các linh mục, dâng trên bàn thờ và người giáo hữu phải tham dự ít nhất mỗi tuần một lần vào ngày Chúa nhật, chính là tiếp diễn thân thế và sự nghiệp Đức Giêsu Kitô, mà thân thế và sự nghiệp ấy chính là sự kết hiệp nên một giữa Thiên Chúa và con người, thường được các nhà thần học hình dung là một kết hợp hôn phối, vợ chồng trao xương gửi thịt cho nhau.

Sau này chúng ta sẽ thấy điều đó được thể hiện ở nơi Đức Giêsu Kitô rồi sẽ được phổ quát nơi bất cứ tín hữu nào trong việc rước Mình thánh Chúa, được kết hiệp nên một với Ngài, nên một với nhau trong hiệp thông tham dự với chính Máu và Thịt của Ngài đã ký thác cho Giáo hội trong Bí tích Thánh thể. Do đó, việc lên rước lễ, nôm na gọi là lên ăn bánh thánh, được gọi là tham dự tiệc cưới của Con Chiên Thiên Chúa; sau nữa, việc dự Thánh lễ được mô tả trong đoạn Tin mừng tôi đã nhắc đến ở trên kia: "Họ đã trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa" (Lc 24,52-53).

Vì vậy, các nhà thờ Kitô giáo, từ những nguyện đường nghèo hèn mái tranh, mái tôn cho đến những Vương Cung Thánh Đường nguy nga, đồ sộ trên khắp thế giới chính là bối cảnh để cho người Kitô giáo sống đời sống đức tin của mình. Như tôi đã nói trên kia, đời sống đức tin ẵm nhận lấy cuộc sống của con người ở trần gian này ngay trong hiện tại thâu gồm, thể hiện những chờ đợi, ước mong trong quá khứ và hướng về tương lai vào ngày Cánh chung. Hằng ở trong Đền Thờ, nghĩa là không phút giây nào là không ở trong Đền Thờ. Do đó. những đền thờ, nhà thờ, thánh đường của Kitô giáo ở khắp nơi, chẳng qua chỉ là hình ảnh biểu lộ một ý tưởng sâu xa: mỗi một thụ tạo, từ vật chất vô cơ cho lên đến tinh thần, tâm linh của một con người, toàn thể vũ trụ này thực ra là một Đền Thờ duy nhất, mà trong đó toàn thể loài thụ tạo cảm tạ, chúc tụng Thiên Chúa Tạo Hóa, kết hợp làm một với Ngài trong Đức Giêsu Kitô. Nơi đền thờ vũ trụ ấy, bí tích dấu chỉ của Chúa Giêsu Kitô là Giáo hội Công giáo vẫn hằng giây hằng phút, chẳng những hướng lòng về Thiên Chúa, nhưng thực sự đã kết hiệp nên một với Ngài trong Đức Kitô là một Ngôi Vị Thiên Chúa đã đến trở nên một với loài thụ tạo trong thân xác con người Giêsu Nazareth, sinh bởi Đức bà Maria. Với sự kết hợp ấy, Ngài đã thâu gồm trong chính bản thân Ngài toàn thể vũ trụ này, ẵm nhận lấy tất cả không gian và thời gian đế trở nên một của lễ dâng lên Thiên Chúa Cha. Nói là dâng lên, nhưng kỳ thực là đón nhận với lời cám tạ và trở về với chính cung lòng Thiên Chúa Ba Ngôi dìu dặt tình yêu muôn thuở muôn đời. Như vậy, sau khi thời gian này chấm dứt, nghĩa là đến ngày Cánh chung, toàn thể vũ trụ này sẽ chẳng là gì khác hơn là một cuộc phụng vụ muôn đời muôn thuở mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Giáo hội hữu hình và vô hình - Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

2. Việc thờ phượng Thiên Chúa theo Kitô giáo

Sau đây tôi mạn phép trình bày với các anh chị về đời sổng thờ phượng trong Kitô giáo. Hễ đã nói đến tôn giáo, thì tất nhiên sinh hoạt tế tự thờ phượng là chính yếu và bất cứ tôn giáo nào cũng vậy. Trong đời sống của dân Do Thái, có thể nói toàn bộ cuộc sống của dân Do Thái được tổ chức chung quanh Đền Thánh Giêrusalem. Đền Thánh Giêrusalem là nơi mà ngày đêm các tư tế thay phiên nhau lần lượt dâng lên Thiên Chúa những của lễ hy tế. Nhiều khi đọc Cựu ước, tôi có cảm tưởng mình bị ngộp do những làn hương được liên lỉ xông lên và không khỏi một phần nào hơi ớn ngấy với những vật hy tế chiên, bò, bồ câu đổ máu ra để hiến dâng Thiên Chúa.

Theo các nhà chú giải Kinh thánh và các nhà thần học, các lễ vật hy tế đổ máu ra đấy là phác họa, là hình bóng chuẩn bị cho cuộc hy sinh thực của Giêsu Nazareth cũng sẽ đổ đến giọt máu cuối cùng trên Thánh giá mà Giáo hội Kitô giáo vẫn tiếp tục trong Thánh lễ hiến dâng hằng ngày, và các giáo hữu có bổn phậm tham dự ít nhất mỗi tuần một lần vào ngày Chúa nhật.

Tôn giáo nào cũng có những nghi lễ hiến dâng lên thần linh những của lễ. Việc hiến dâng của lễ như thế mang nhiều ý nghĩa mà hẳn là các vị giáo sư chuyên về các tôn giáo cổ sơ đã nhiều lần trình bày cho các anh chị. Có thể có những của lễ kiểu như một dạng đút lót để cầu cạnh ơn này ơn no, từ ơn xin cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt đẹp, xin cho được bình an, xin cho thoát khỏi tai ương cho đến những ơn giống như trong một bài hát mà chắc anh chị đã từng nghe: "Con quỳ lạy Chúa trên trời/ Sao cho con lấy được người con yêu".

Tất cả những điều đó thì cũng dễ hiểu thôi, vì với thân phận con người sống ở trần gian này, lúc nào chúng ta cũng bị không biết bao nhiêu chuyện chẳng lành uy hiếp dưới mọi dạng và mong muốn có được một cuộc sống an bình, hạnh phúc, cầu xin cho được thoát khỏi bão lụt hoặc thoát khỏi sự đe dọa của một cuộc chiến tranh nguyên tử có nguy cơ đưa cả nhân loại vào chỗ diệt vong, theo tôi nghĩ, cũng là thường tình, không phải là không có một ý nghĩa nào đó.

Tuy nhiên, ngay trong các tôn giáo khác, việc hy tế hay cầu xin không chỉ ngừng lại ở những chuyện ấy, nhưng dần dần có một sự thăng hoa, và cái thăng hoa thứ nhất là một lễ đền tạ: con người bất luận là ai thì lúc nào cũng ý thức mình thường hay vi phạm những quy tắc đạo đức, xúc phạm đến tha nhân, gây ra sự xáo trộn trong đời sống xã hội, thậm chí cả trong trật tự thiên nhiên, từ đó việc thờ cúng mang một ý nghĩa là bày tỏ sự ăn năn hối cải của mình và đền tạ để xin ơn trên giúp mình trở lại với cuộc sống lành mạnh, thánh thiện theo đúng như phẩm giá con người, để tu chỉnh bản thân, vãn hồi trật tự cho xã hội, đem lại sự hài hòa cho cả vũ trụ.

Lý tưởng đó được thâu gồm trong hình ảnh Đức Chúa Giêsu được mô tả như là Con Chiên hy tế, gánh tội thiên hạ. Chẳng phải Thượng Đế, Đấng chí tôn hoặc là Thiên Chúa là một vị thần khát máu, nhưng đó là một nhu cầu chân chính của tâm hồn con người, phạm tội thì phải đền tội một cách tương xứng. Thiên Chúa là Đấng chí thánh, Ngài không thể bao che những hành vi vi phạm những nguyên tắc căn bản của đời sống con người, cá nhân cũng như xã hội. Sự khao khát được đền tạ biểu lộ nơi xu hướng con người là quy tắc đạo đức phải được tôn trọng và bảo vệ, nếu vi phạm thì phải có một sự đền bồi tương xứng và phải có một sự vãn hồi để trật tự được duy trì và phát triển.

Thiên Chúa là Cha từ bi, từ ái, bao dung nhưng không thể bao che. Trong đức tin Kitô giáo, việc đền tạ không chỉ mang một ý nghĩa tinh thần về luân lý mà thôi, - sau này tôi sẽ nói rõ hơn trong phần về các bí tích - còn có một chiều kích là tái tạo lại ngay trong bình diện hữu thể, tương tự như hình ảnh tôi đã dùng về việc biến một chất kim loại bị hoen rỉ (vì tội lỗi) trở về lại cái uyên nguyên, cái tinh tuyền ban đầu, như vậy mới kết hợp được với Thiên Chúa là Đấng chí thánh, chí thiện vốn không thể nào a tòng, bao che, thỏa hiệp với sự ác, sự dữ.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.