ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN
+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO (tiếp theo)
Bất luận dưới dạng nào đi nữa, thì trải qua hai mươi thế kỷ cho đến hiện nay và trong tương lai, việc tiếp cận nội dung đức tin Kitô giáo bằng tư tưởng loài người sẽ tiếp diễn và cũng sẽ có những pha gay cấn. Nhưng dù sao đi nữa, niềm tin Kitô giáo trong lịch sử đã là một kích thích đối với sinh hoạt tư tưởng của loài người, kích thích để đón nhận, để chịu sự chỉ huy, hướng dẫn cũng như kích thích để kịch liệt phản đối. Có nhiều trường hợp khó phân biệt là chính Kitô giáo ảnh hưởng lên tư tưởng nhân loại hay là ngược lại. Chính tư tưởng của các triết gia ảnh hưởng lên không phải là nội dung đức tin, nhưng là trên cách trình bày, cách lý giải đức tin của dân tộc Do Thái cũng như của tín hữu Kitô giáo.
Ngay thời Đạo Cũ, mặc dù xã hội dân Do Thái được tổ chức một cách chặt chẽ và khép kín, nhưng ở giữa những đế quốc có những văn hóa khá lẫy lừng thì không thể không có sự giao thoa văn hóa. Trong một số sách của bộ Kinh thánh mà chúng ta sẽ tìm hiểu, không thể phủ nhận những ảnh hưởng của những tư tưởng của các nền văn hóa Ba Tư, Hy Lạp, Ai Cập.
Ngược lại, có thể nói, trong học thuyết Tân Platon của Plotin [Plotinus (tiếng Hy Lạp: Πλωτῖνος (khoảng 204-270) là triết gia Hy Lạp cổ đại. Có ba nguyên lý cơ bản trong hệ thống nguyên lý của ông: Nhất thể, tâm trí và linh hồn. [1 ] Thầy của ông là Ammonius Saccas và ông là một người theo trường phái Platon. [2] Phần lớn các thông tin tiểu sử của Plotinus đều đến từ lời giới thiệu của Porphyry trong tác phẩm Enneads. Các tác phẩm triết học siêu hình của Plotinus là nguồn cảm hứng trong hàng thế kỷ đối với ngoại giáo, triết học Kitô giáo, triết học Do Thái, triết học Hồi giáo, siêu hình học ngộ đạo và huyền học. (Wikipedia)] ít nhiều chịu ảnh hưởng của đức tin Do Thái giáo, bởi vì một địa danh mà học thuyết Tân Platon khá phổ biến là thành Alexandria, kinh đô của Ai Cập, lại cũng chính là nơi dân Do Thái sang ngụ cư rất nhiều và đã khai sinh ra một nhà tư tưởng khá lớn, đó là Philon le Juif, "Philon người Do Thái" [Philon (26TCN - 50), cùng thời với Chúa Giêsu, nhưng không biết Chúa Giêsu, không thuộc vể hàng ngũ giáo phụ Kitô giáo, mà chỉ là triết gia Do Thái - Hy Lạp hóa, nhưng được các giáo phụ nhắc đến như hình ảnh tiêu biểu trong quá trình xây dựng thế giới quan nhất thần. Sau Philon các học thuyết bảo vệ nhất thấn giáo lần lượt ra đời, được biết đến dưới tên gọi Hộ giáo, hay đơn giản là Biện hộ (Apologetics)] còn gọi là Philon thành Alexandria. Tư tưởng gia này đã tạo nên một học thuyết kết hợp khá nhuần nhuyễn những phạm trù, những nguyên lý căn bản của tư tưởng Tân Platon và của nội dung đức tin của Do Thái giáo. Đương nhiên không cần phải nói đến những nhà tư tưởng như Augustinô, Tôma, Kierkegaard [Søren Kierkegaard là triết gia, nhà thần học, nhà thơ, nhà phê bình xã hội, và tác giả người Đan Mạch thế kỷ XIX. Kierkegaard thẳng tay phê phán triẽt học Hegel trong trong thời đại ông cũng như điều mà ông xem là hình thức rỗng tuếch cùa giáo hội Đan Mạch. Phẩn lớn nội dung các tác phẩm của Kierkegaard tập chú vào các vấn để tôn giáo như bản chất của đức tin, định mệnh], hoặc gần chúng ta đây như Gabriel Marcel [Honoré Gabriel Marcel (7/12/1889 - 8/10/1973) là một nhà triết học người Pháp, ông đã đưa ra khái niệm chủ nghĩa hiện sinh sau thế chiến I dù lúc đó ông còn là một người vô thần, ông là một nhà hiện sinh hàng đầu Kitô giáo, và là tác giả của khoảng 30 vở kịch, ông tập trung vào cuộc đấu tranh của cá nhân hiện đại trong một xã hội mất nhân tính công nghệ. Mặc dù thường được coi là hiện sinh Pháp đầu tiên, ông không liên hệ mình với các nhân vật như Jean-Paul Sartre, thay vì đó ông ưa thích thuật ngữ triết học hiện sinh để xác định tư tưởng riêng của mình. Le Mystère de l'être (Huyền nhiệm hữu thể) là một tác phẩm hai tập nổi tiếng của Marcel. Ngoài việc là một nhà viết kịch và triết gia, Marcel cũng là một nhà phê bình âm nhạc. (Wikipedia)], mà ngay cả những nhà tư tưởng phản đối kịch liệt đức tin Kitô giáo như Jean-Paul Sartre, Feuerbach [Ludwig Andreas Feuerbach (28/7/1804 - 13/12/1872) là nhà triết học người Đức. ông là một trong những nhà triết học lớn của triết học cổ điển Đức. Ông là học trò của Hegel và từng tham gia vào phái Hegel trẻ, mặc dù có chịu ảnh hưởng của Hegel nhưng những tư tưởng của ông khác hoàn toàn so với Hegel. Thứ nhất, về thế giới quan, ông là nhà triết học của duy vật, còn Hegel lại theo thuyết duy tâm. Theo Feuerbach, bản chất của thế giới là vật chất, giới tự nhiên không hề phụ thuộc vào con người, nằm ngoài tấm kiếm soát cùa con người, không do một ai sáng tạo ra và không ai có thể tiêu diệt được.] và thậm chí cả Karl Marx cũng một phần nào đối chiếu với đức tin Kitô giáo trong một tư thế nào đó, để đặt ra và giải quyết những vấn đề nhân sinh và vũ trụ.
Tôi xin đơn cử một điểm rất quan trọng của tư tưởng Karl Marx, đó là vấn đề tha hóa và nhất là vấn đề tha hóa tôn giáo. Tôi nghĩ rằng, trong một nền văn hóa chịu ảnh hưởng Khổng giáo và Lão giáo, hoặc ảnh hưởng Ấn Độ giáo, Phật giáo, thì không thể có một trí tuệ nào đi đến một phân tích sâu xa về tha hóa tôn giáo như Karl Marx. Đương nhiên, là một tín hữu Kitô giáo, tôi không đồng ý với kết luận của Karl Marx về phân tích tha hóa tôn giáo, nhưng tôi vẫn khẳng định đó là một phân tích sâu xa vào bậc nhất, khó có thể vượt qua được, về sự nguy hiểm của sự tha hóa trong bất cứ tôn giáo nào; nhưng tôi vẫn nghĩ, nếu không phải đối chiếu với một tôn giáo như Kitô giáo, thì khó lòng mà đào sâu được mối nguy hại tha hóa của các tôn giáo như Karl Marx đã làm.
(Còn tiếp)
- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét