ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN
+ GIÁO HỘI HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH
7. Bí tích Thánh Thể (tiếp theo)
Có thể nói rằng, khi sáng tạo nên vũ trụ và nhân loại này thì gần như là Chúa Cha đi tìm ý trung nhân cho Con mình, để vị Thiên tử kết hợp với nhân loại và vũ trụ trong một sự kết hợp mà ta có thể dùng hình ảnh ở trần gian này để diễn tả là sự kết hợp giữa vợ chồng trao xương gửi thịt với nhau, mà Kinh thánh có nói: "Hai người thành một xương một thịt" (St 2,24; Mc 10,8].
Cái nhu cầu kết hợp một mà hai, hai mà một chính là nhu cầu căn bản của bất cứ tình yêu nào. Ở đây tôi xin đi xa hơn một chút, đó là nói về một vấn đề triết học, vấn đề giữa sự nhất thể và cái đa tạp; và thường thường, có thể nói được rằng, sự hiện hữu của các hữu thể đa tạp là một scandale (tội sa ngã] đối với trí tuệ và cũng là một thao thức của tâm trí, bởi vì trí tuệ bao giờ cũng có cái nhu cầu căn bản, đó là nhu cầu về nguyên tắc đồng nhất, chỉ một mà thôi, A là A; còn đối với cảm thức, thì sự đa tạp hình như lúc nào cũng bao hàm một phân cách, chia lìa nào đó, nếu không muốn nói là đối thủ, địch thủ. Do đó, về phương diện trí tuệ hầu như có một xu hướng căn bản là phủ nhận sự đa tạp, hoặc cho nó chỉ là một ảo ảnh, hoặc cho nó là một sự phân tán, nứt rạn, và hướng đến một quan niệm cho rằng, cuối cùng chỉ có một hữu thể duy nhất là thực hữu mà thôi, chẳng hạn như trong tư tưởng của Parmenides [Parmenides thành Elea (tiếng Hy Lạp cổ đại: Παρμενίδης ὁ Ἐλεάτης; sinh và mất đầu thê kỷ VTCN) là một triết gia Hy Lạp cổ đại, ông sinh tại Elea, một thành phố của Hy Lạp ở bờ biển phía nam của Ý. ông là người đã sáng lập ra trường phái Elea. Tác phẩm duy nhất được biết đến của ông là một bài thơ, tựa để Bàn về tự nhiên, hiện chỉ còn một phần bài thơ tồn tại cho đến ngày nay. Trong bài thơ này, Parmenides nêu ra hai quan điểm vế thực tại. Trong "Con đường của chân lý" (the way of truth), ông giải thích thực tại là đơn nhất, thay đổi không thể xảy ra, sự tồn tại là vĩnh viễn, đồng nhất, cần thiết và không thay đổi. Và trong "Con đường luận lý" (the way of opinion), ông giải thích hình dạng của thế giới, trong đó các chức năng cảm giác dẫn đến những nhận thức sai lầm và lừa dối. Những ý tưởng này đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với triết học phương Tây, nổi bật nhất có lẽ là ảnh hưởng lên Platon. (Wikipedia)] và, nếu tôi không lầm. trong tư một số hệ Phật giáo nào đó cũng vậy. Thế nhưng, đứng về phương diện trí tuệ, sự hiện hữu của những cái đa tạp khó lòng mà phủ nhận, do đó, trí tuệ dường như bị đặt trước một vấn đề nan giải.
Đó là nói về phương diện tri thức, giờ chuyển sang nói về phương diện cảm thức, thì cũng vậy, hình như căn bản vạn vật cũng hướng về một sự hợp nhất, một sự đồng qui nào đó. Tuy nhiên, ngược lại, về phương diện hiện tượng tâm thức mà nói, thì lại có một khía cạnh là bất cứ hữu thể nào, không biết là xấu hay tốt, nhưng hình như đều có xu hướng muốn duy trì sự hiện hữu của chính mình, mà như thế thì cũng muốn giữ lại sự đa tạp, mặc dù sự đa tạp có khía cạnh tiêu cực là phân chia, ly cách, nếu không muốn nói là đối thủ, là địch thủ; do đó có một sự mâu thuẫn về phương diện trí tuệ cũng như về phương diện cảm thức giữa cái nhất thể và cái đa tạp.
Thế thì, theo tôi nghĩ, việc trao xương gửi thịt trong đời sống hôn phối cũng mang dấu chỉ của tình trạng mâu thuẫn đó. Hai người trao xương đổi thịt cho nhau, trao đổi tâm hồn với nhau, thì vừa muốn là một nhưng vẫn là hai, do đó, hầu như có một sự bất khả, không thể nào đáp ứng được một cách trọn vẹn hai xu hướng trái ngược, vừa muốn là một nhưng trong cái một đó vẫn là hai.
Tình yêu là vậy, chứ nếu hòa tan thì đâu còn là tình yêu. Cái hai phải được duy trì trong cái một và, vì thế, bất cứ tâm tình nào của nhân loại cũng đều có một tính cách bất khả. Do đó, một tính hữu khi rước lấy Mình và Máu Thánh Đức Kitô trong bí tích, thì quả thật đã có một sự nên một nào đó, nên một xương một thịt với Ngài mà, có thể nói được rằng, việc nên một xương thịt trong hôn phối trần gian là một hình bóng.
(Còn tiếp)
- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét