Các Trang

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Bóng tối và ánh sáng (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

4. Bóng tối và ánh sáng (tiếp theo)

Hơn nữa, cái hình ảnh được mô tả trong sách Khải Huyền là hình ảnh Trời mới Đất mới mà vũ trụ này được mô tả như là một Đền Thánh trang hoàng lộng lẫy, như một tân nương từ trời xuống để chào đón tân lang, trong đó, Con Chiên Thiên Chúa, tức là Đức Chúa Giêsu Kitô trở vào vinh hiển như ánh sáng chiếu tỏa từ một Ngôi Đền được xây bằng muôn vàn thứ ngọc ngà châu báu quý giá, vẽ lên hình ảnh một cái gì huy hoàng xán lạn mà con người được mời đi vào và cùng cộng tác xây dựng.

Hai hình ảnh hầu như trái ngược nhau vừa nêu ở trên, cho phép tôi được kết luận rằng, nhân sinh quan, vũ trụ quan của Kitô giáo về hiện tượng, có thể nói là bi quan, nhưng về bản chất thì có thể nói là vô cùng lạc quan. Thật ra, cái hình ảnh đen tối như thế nào đó về trần gian này, riêng tôi nghĩ, tuy không hoàn toàn đồng ý với quan niệm của Phật giáo cho rằng đời là bể khổ, hoặc đời là phi lý, như các học thuyết Hiện sinh Vô thần, chúng ta cũng phải nhìn nhận, ví dụ như trong thế kỷ của chúng ta đây, hai cuộc Thế chiến vừa qua đã đẫm máu của biết bao con người, và những lời kêu van thống thiết của toàn thể nhân loại muốn chặn đứng cái hiểm họa về cuộc Thế chiến thứ III có thể đưa nhân loại đến chỗ diệt vong. Rồi hiện nay, nếu trong chúng ta đang còn ngồi ở đây, ai có được cặp mắt bao quát, thì sẽ thấy thế giới mặc dù là tiến bộ khá xa trên con đường khoa học kỹ thuật, mặc dầu có những thực hiện khá vĩ đại, nhưng còn có biết bao con người vẫn đang đau khổ trên mọi phương diện ở khắp bốn chân trời.

Theo thiển ý, tôi cho rằng có thể có một giai đoạn nào đó, Kitô giáo quá nhấn mạnh về cái hiện thực mà chúng ta vừa phác qua một vài nét đó, và sao nhãng chính cái nội dung Tin vui là cái hiện thực, có phần nào như đã nói, chẳng qua như là một "accident", một tai nạn bất ngờ xảy ra, có tính cách quá độ, có tính cách tạm thời, và cũng có thể nói chỉ mang tính cách hiện tượng bên ngoài. Trong khi đó, những trang đầu của sách Sáng thế ký mô tả rằng, khi Thiên Chúa tạo dựng nên trời đất, cứ sau một ngày thì Ngài lại khen mọi sự tốt lành. Hơn nữa, cứu cánh của nhân loại là cũng đi vào một Trời mới Đất mới mà không phải chỉ đến ngày Cánh chung mới thể hiện được, nhưng đã bắt đầu thực hiện ở trần gian này với sự sống lại của Giêsu Nazareth và tín điều Đức Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời. Ta chỉ cần mở rộng lòng tin đón nhận lấy và dấn thân đi vào, một mặt để thụ hưởng và một mặt để cùng cộng tác xây dựng, từ đó sẽ nên như hai đoạn văn trích dẫn từ Kinh thánh ở trên kia mô tả cuộc sống của cộng đoàn tín hữu Kitô giáo tiên khởi tràn đầy một niềm hoan lạc, hưng phấn trong cầu nguyện, ca hát chúc tụng Thiên Chúa, với một đời sống cộng đoàn tràn đầy tình thương yêu.

Còn cái quan niệm cho rằng sự tha hóa tôn giáo hệ tại tình trạng con người quá đau khổ trước sự đè bẹp của sức mạnh thiên nhiên, của những quyền lực bạo tàn trần thế, phóng những ước vọng của mình lên một thế giới huyền ảo không tưởng nào dó, thì hẳn là không nói đúng bản chất của Kitô giáo, tuy nhiên cũng vạch rõ một cái đe dọa nguy hiểm của một ý thức tôn giáo lệch lạc, tức là điều Marx đã nhìn thấy, không khéo tôn giáo có sứ mệnh đem lại việc thực hiện một Trời mới Đất mới, dễ biến thành một cái gì ru ngủ, làm con người nhụt chí phấn đấu, hầu như buông tay bỏ mặc, nói rằng trong sự xếp đặt của một Thiên Chúa toàn năng, nhưng rồi trên thực tế thì lại phó mặc cho sự thao túng của những quyền lực xã hội và của những lực lượng thiên nhiên hoàn toàn chi phối và đè bẹp con người.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Bóng tối và ánh sáng (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

4. Bóng tối và ánh sáng (tiếp theo)

Quả thật, sự tha hóa có thể nói là đến vô cùng vô tận và, theo cái nhìn của Kitô giáo, một mầm mống của Tội Tổ Tông, có lẽ là sự phản loạn, không muốn nhìn nhận, không muốn đón nhận cái ân huệ quá lớn lao đó, cho nên có xu hướng phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, hòng khẳng định rằng ta là của ta, ta làm chủ lấy ta, rồi sau khi đã làm chủ được ta thì làm chủ thiên nhiên và làm chủ xã hội luôn. Cái mầm mống phản loạn đó được gọi là kiêu ngạo, nhưng thực ra, xét dưới một khía cạnh nào, nó cũng có giá trị tích cực, tức là nó biểu hiện sự ý thức của con người về phẩm giá của mình, về giá trị của mình và có thể nói là về giá trị vương đế của mình ở trong cái vũ trụ này, không thể chấp nhận thân phận một con nợ, con nợ gần như là phải bán thân làm nô lệ mới trả hết nợ kiểu "làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai" [Truyện Kiều - Nguyễn Du, từ câu 705 – 708] hoặc như, "nợ áo cơm phải trả đến hình hài" [Văn tế nghĩa sĩ trận vong - Nguyễn Văn Thành. Đây là một bài văn tế nổi tiếng không chỉ trong văn học Hán Nôm ở Gia Định mà còn trong cả văn học cổ Việt Nam, ở đó sự kết hợp giữa tình cảm và nghệ thuật đã đạt tới mức tuyệt diệu, có thể nói là hay nhất trong những bài văn tế quan phương thời phong kiến, cùng với bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu làm thành hai đỉnh cao về văn tế trong văn học Hán Nôm Việt Nam. (Nguồn thivien. net)]. Chỉ mới là "nợ áo cơm" thôi mà đã phải "trả đến hình hài" phương chi nợ cả bản thân hữu thể của mình.

Nói gì thì nói, rốt cuộc cũng phải trả bằng chính bản thân mình như là biến thành nô lệ của một tên "bạo chúa" có toàn quyền sử dụng con người; và những phạm trù như phụng tự, thờ lạy, hiến tế, hy tế không khỏi ít nhiều mang tính cách nô lệ hóa, tha hóa của một con người vốn từ hư không, được tạo dựng bởi một vị Thiên Chúa toàn năng có toàn quyền trên con người.

Một con người có ý thức về thân phận của mình trong một nhân sinh quan như thế, thì hầu như lúc nào cũng bị giằng co giữa hai xu hướng, một xu hướng là phủ phục sát đất, biến thành con sâu cái kiến, thành nô lệ trước một Thiên Chúa toàn năng tác oai tác quái; và một xu hướng khác là phản loạn, giành lấy quyền độc lập, tự do, tự chủ chính mình, tiếm ngôi Thiên Chúa, đứng lên như một cuộc đảo chính hòng nắm lấy quyền bính làm chủ đời mình, làm chủ vũ trụ, làm chủ xã hội. Sự phản loạn như thế biểu thị cái hào khí, cái phẩm giá mà thật ra có thể nói cũng là sứ mạng của con người, do đó, cái khát vọng muốn trở nên ngang hàng với Thiên Chúa, tiếm vị của Thiên Chúa không phải không có cơ sở trong tâm hồn con người, còn Thiên Chúa thì như là một Đấng ngăn chặn điều đó, dẹp trừ cái đó, nhất định nhấn con người xuống thân phận của một thụ tạo hư hèn, tội lỗi, xấu xa cần phải từ bỏ chính mình, phóng thể đi, tha hóa đi để trở thành gần như là một sự vật trong bàn tay uốn nắn của một Thiên Chúa - tôi xin dùng lại hình ảnh – tác oai tác quái. Con người như vậy luôn luôn sống trong một tình trạng ấu trĩ, run rẩy sợ hãi như một đứa con lúc nào cũng ở dưới ngọn roi của người cha nghiêm khắc, và có thể nói là bạo tàn; như một thần dân dưới quyền thống trị của một ông vua chuyên chế, như một nô lệ mà quyền sống chết hoàn toàn nằm trong tay tên chủ nô tàn ác, bóc lột đến tận cùng…

Thế nhưng, nếu đọc kỹ những lời Giêsu Nazareth nói về Thiên Chúa Cha, thì Thiên Chúa được hình dung như là một vị Cha già tôn trọng đứa con hoang đàng, đòi chia của thì chia cho, đòi bỏ nhà ra đi để sống theo ước vọng riêng của bản thân, thì cũng để cho đi, không hề ngăn cản, không hề cấm đoán; và lúc người con phung phí hết của cải, người Cha ấy vẫn đứng ở ngưỡng cửa, ngóng chờ ngày trờ về của người con yêu dấu, và khi người con trở về, thì mở rộng cửa mừng đón... Thiên Chúa, đối với nhân loại hoang đàng, chính là người Cha chờ đợi, nhưng Ngài đã không chờ đợi một cách thụ động, mà đã sai chính đối tượng quý báu nhất của lòng mình, là Con Một yêu dấu của Ngài, xuống đổ đến giọt máu cuối cùng để chứng tỏ tình thương yêu của mình, đánh động lòng hiếu thảo của đứa con, mời gọi nó trở về để cùng chung hưởng gia nghiệp, và có thể nói, để cùng lên ngôi hoàng tử thông dự vào chức vị Đông cung Thái tử, bấy giờ mới thật là được làm chủ lấy bản thân, làm chủ vũ trụ, và được ngang hàng với Đấng chí tôn, chí thánh. Sở dĩ Kitô giáo được gọi là Tin vui là vậy.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Bóng tối và ánh sáng (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

4. Bóng tối và ánh sáng (tiếp theo)

Trái lại, bên Giáo hội Đông phương thì hình như mầu nhiệm Phục Sinh được nhấn mạnh hơn. Một triết gia đã lên án gay gắt cái tính cách bi quan tiêu cực, yếm thế, có thể nói bạc nhược, bệnh hoạn của Kitô giáo thời bấy giờ, đó là Nietzsche. ông chủ trương con người muốn sống thì phải hùng mạnh gần như là đi đến chỗ bạo tàn, được thúc đẩy bởi một thứ, tiếng Pháp gọi là "volonté de puissance", tạo nên những siêu nhân, chứ không phải những con người bị đè nặng dưới ách tội lỗi và đau khổ được biểu tượng bởi cây Thánh giá.

Xét về một phương diện nào đó, Karl Marx cũng có một cái nhìn tiêu cực về Kitô giáo, nhất là với cái phạm trù "tha hóa tôn giáo". Tha hóa tôn giáo là một sự phóng thể của con người trước những đau khổ do thiên nhiên, do xã hội gây ra, cuộc đời đầy bất mãn, con người đau khổ, thiếu thốn đã phóng những ước mơ của mình lên một đối tượng không tưởng là Thiên Chúa, là nước Thiên đàng, để đi tìm một nguồn an ủi mà Marx gọi là "thuốc phiện của quần chúng”. "Thuốc phiện" ở đây có hai nghĩa, một nghĩa là làm cho mê muội, nhưng cũng có một nghĩa khác là làm dịu bớt những nỗi đau trần thế. Thứ thuốc phiện đó đã làm cho con người, thay vì kiên cường phấn đấu, chế ngự thiên nhiên, cải thiện xã hội để thực hiện một thiên đường thực sự ở trần gian này mà trong đó con người được hạnh phúc thực sự, thì lại vong thân, bỏ mặc cuộc đời này cho sự dữ, sự khổ tung hoành, để như lẩn tránh vào một thế giới huyền ảo, tìm một sự an ủi không tưởng nào đó.

Marx không phủ nhặn tôn giáo dù sao đi nữa cũng có tác dụng xoa dịu nỗi đau cho những lớp người cùng khổ, nhưng ông cũng lên án gay gắt là tư tưởng của Kitô giáo chính là cơ hội để bọn giàu có, quyền lực ru ngủ quần chúng, giết chết ý chí phấn đấu của con người, để tha hồ thao túng mà bóc lột trên máu xương của họ. Thay vì cứ phải rên rỉ khóc lóc, lẽ ra những con người ấy cần phải vùng lên, tranh đấu giành lấy quyền sống của một kiếp người, để có thể đi đến chỗ làm chủ được vận mệnh của mình, làm chủ được thiên nhiên và làm chủ được xã hội, thực hiện Thiên đàng ngay ở trần gian này.

Riêng tôi, tôi còn hiểu ý nghĩa của sự "tha hóa tôn giáo" theo một hướng nữa, đó là nếu quả thật, loài thụ tạo mà nhất là con người được tạo dựng từ hư không, thì con người hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa, ngay tận trong gốc rễ sự hiện hữu của mình, bời vì nếu không có động tác sáng tạo của Ngài, con người đã mãi mãi chìm khuất trong hư vô; như vậy, con người quả là bị đè bẹp dưới một món nợ vô cùng nặng. Hễ đã mắc nợ ai một món tiền nào đó thì chúng ta không khỏi khó chịu chừng nào chưa trả được, và nhất là biết rõ là không thể trả được, thì món nợ đó đúng là làm cho con người gần như mất hết tự chủ của mình. Nếu quả thật Thượng đế tạo dựng con người từ hư không, thì món nợ đó là vô cùng vô tận, không thể nào trả nổi, bởi vì con người vốn là hư không thì làm sao mà trả được. Vì vậy, con người như bị ám ảnh bởi một món nợ không thể nào trả được và từ đó không tránh khỏi có một thái độ như muốn khước từ món nợ ấy rồi nhiều khi đi đến chỗ phản loạn. Chúng ta ai có mắc nợ thì hiểu rõ cái tâm tư đó. Do đó, chúng ta nhận thấy lòng biết ơn thường là không có, bởi vì rốt cuộc, cái ơn quả là gánh nặng, mà ơn đây là ơn về chính "sự hữu" của bản thân mình.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Bóng tối và ánh sáng

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

4. Bóng tối và ánh sáng

Một nhân sinh quan và vũ trụ quan như vậy là lạc quan hay bi quan? Kể từ lúc phong trào Phục Hưng khởi dậy từ thế kỷ XVI cho đến nay, có cả một cao trào phê bình chỉ trích nặng nề ảnh hưởng của Kitô giáo đối với văn hóa Tây phương, đến nỗi người ta gọi những thế kỷ của thời Trung cổ là thời của bóng tối, thời của ngu dân, nhân loại như đắm chìm trong một nhân sinh quan tiêu cực, mà hình ảnh rùng rợn của cây Thánh giá được nêu cao; trần gian này bị xem như là "thung lũng khóc lóc", "nơi đày ải", và con người được coi như là những kẻ xấu xa tội lỗi, luôn luôn nhải ăn năn phạt tạ, không dám sống cuộc sống nhân bản tràn đầy lành mạnh. Nét tiêu cực ấy rành rành nơi những hình ảnh xưng tội, đền tội, đánh tội, con đường khổ giá và nhất là hình ảnh rùng rợn của Hỏa ngục, nơi con người bị thiêu đốt muôn đời. Có một quan niệm tu thân Kitô giáo nhấn mạnh việc đè bẹp, chà xát, bóp nghẹt, thậm chí giết chết tất cả mọi nguồn sinh lực và đòi hỏi mọi người cũng phải như chết đi, vì cuộc sống tự nhiên này bản chất là đau khổ xấu xa.

Quả vậy, chúng ta bước vào một thánh đường, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chính là một cây thập giá, trên đó thân thể một con người quằn quại đau đớn, máu chảy đầm đìa và dọc hai bên tường là mười bốn chặng đàng Thánh giá với hình ảnh một con người vác cây thập tự, ngã lên ngã xuống, bị đánh bị đập, theo sau là một nhóm người khóc lóc rên rỉ, không khỏi gây ra một ấn tượng rùng rợn khủng khiếp. Vì thế mà có rất nhiều phong trào, mà trong đó có phong trào Phục Hưng nổi lên để nhân loại gỡ bỏ cái ách nặng nề đó và quay lại với một đời sống nhân bản lành mạnh, vui tươi đầy sinh khí, xây dựng một cuộc sống tươi đẹp ở trần gian này.

Như vậy cũng hơi lạ, bởi vì chúng ta đã thấy nhiều lần, nội dung của Kitô giáo là một Tin mừng, một Tin vui, và hai cuộc lễ lớn nhất của phụng tự Kitô giáo là lễ Giáng Sinh, trong đó hình ảnh một em bé mũm mĩm chào đời, và lễ Phục Sinh, trong đó hình ảnh một con người bước ra khỏi mồ, chiến thắng sự dữ và sự khổ, đi vào vinh hiển. Trở lại với hai đoạn văn được trích trên kia, một là từ sách Công vụ tông đồ và một là câu kết thúc Tin mừng thánh Luca, ta thấy cuộc sống của cộng đoàn tín hữu đầu tiên đầy vẻ hân hoan vui mừng, ca tụng Thiên Chúa, sống trong tình huynh đệ.

Như vậy là có một tính cách mâu thuẫn nào đó. Quả thật, suốt một thời gian lịch sử khá dài, và có thể đặc biệt là ở Giáo hội Tây phương, tức là Giáo hội Kitô giáo hệ thống Rôma, phần nào chịu ảnh hưởng của một vị thánh lớn, là thánh Augustinô. Chính bản thân ngài, trước khi tìm gặp được tin vui, cũng đã qua một thời niên thiếu đầy tội lỗi, đầy sóng gió, đầy dằn vặt về tư tưởng và, như ngài đã nói, chịu ảnh hưởng khá sâu xa của Mani giáo [Ma giáo hay còn gọi Minh giáo, Mạt Ni giáo, tiếng Ba TƯ: ین مانی Ãyin-e Mãni, tiếng Trung Quốc: 摩尼教 (âm Hán Việt là Ma Ni giáo), là một tôn giáo cổ của Iran, do Mani (216-277), người Ba Tư (tiếng BaTư: مانی,) sáng lập vào khoảng thế kỷ III, được truyền bá theo hai hướng Đông - Tây, cực thịnh một thời, ảnh hưởng sâu rộng, về sau, giáo phái này tàn lụi dần và ít nghe tiếng tăm (Wikipedia)], một tôn giáo nặng tính cách bi quan. Mani giáo cho rằng trần gian này là nơi tranh chấp của hai vị thần Thiện và Ác, và hình như ở trần gian này, thần Ác dường như chiến thắng. Từ thánh Augustinô cho đến suốt thời Trung cổ, hình ảnh thế gian đầy tội lỗi cần phải phạt tạ đền bồi và dường như lúc nào cũng mấp mé bên bờ vực thẳm của Hỏa ngục rùng rợn có phần được nhấn mạnh.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Thiên Chúa của Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

3. Thiên Chúa của Kinh Thánh (tiếp theo)

Vì thế cho nên, cho dù chỉ là một cái vả vào mặt người khác, thì cũng có tính cách phạm thánh vì gương mặt của con người đó chính là hình ảnh Thánh Nhan Thiên Chúa. Theo nghĩa ấy, Đức Giêsu Kitô đã nói, "Ai bảo anh em là ngốc, thì bị phạt trước công nghị. Ai rủa anh em là "khùng", thì sẽ bị vạ lửa địa ngục" (Mt 5,22]. Lời ấy cho thấy nền tảng của mọi trung gian giữa người với người, giữa người với vũ trụ đều dựa trên nền tảng tương giao giữa con người và Thiên Chúa. Như vậy mà bao hàm rằng: nền luân lý đạo đức nhân bản chỉ có ý nghĩa, chỉ có nền tảng, chỉ có thể thực hiện được, duy trì được dựa trên nền tảng tôn giáo...

Trong lòng Thiên Chúa, có một dạng là có tôn ti trật tự giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhưng có một dạng khác nữa đó là Ba Ngôi Vị đều là Thiên Chúa nên hoàn toàn đồng đẳng; và trong cách ăn nói, cư xử của Giêsu Nazareth có những dạng thì Ngài là một thụ tạo hoàn toàn phục tùng, tôn kính Chúa Cha, nhưng có một dạng Ngài xử sự chẳng khác gì chính Ngài là Thiên Chúa vậy. Sự bình đẳng nào đó trong tương quan liên ngã vị của Thiên Chúa, Ngài không giữ riêng cho chính mình Ngài, nhưng chính Ngài đã hy sinh mạng sống trên cây thập tự, đổ đến giọt máu cuối cùng, là để trao ban, mời mọc tất cả mọi người đón nhận Ngài, thông dự với Ngài để trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa chí tôn, chí thánh.

Đó là nhân sinh quan làm nền tảng cho các học thuyết Kitô giáo, thường được gọi là thuyết "Nhân vị", "Personnalisme". Tôi xin nói rõ, đâv là thuyết Nhân vị trong suy tư triết học của những nhà tư tưởng Kitô giáo, khác với những cách thể hiện dưới những ngọn cờ lý tưởng giữa trần gian do những phong trào này, tổ chức nọ, và đương nhiên ôm theo nhiều giới hạn của nó.

Triết lý Nhân vị là một nhân sinh quan quan niệm rằng, hễ một hữu thể tiến tới bậc ý thức được mình là một hữu thể có duy nhất tính, độc đáo tính, chủ thể tính, ngã vị tính, tự do tính, thì cùng một trật hữu thể ấy được mời bước lên vị thế của một Ngôi Vị trong Thiên Chúa, là Thiên Chúa Ngôi Con đã xuống thế làm người trong Đức Giêsu Nazareth, và do đó, có một giá trị nói được là tuyệt đối trên hết bất cứ giá trị nào ở trần gian này. Đó là nền tảng, là nguồn mạch của mọi cái ta gọi là nhân phẩm, nhân quyền mà không một quyền lực nào, không được nhân danh bất cứ lý tưởng nào có thể phạm đến. Chính Thiên Chúa đã cho Con Một xuống thế làm người, đổ máu đến giọt cuối cùng để mà cứu độ, nghĩa là giúp nâng lên thực hiện cho được cái gọi là thiên mệnh, hay là cái ơn Thiên triệu trở nên nghĩa tử, đồng kế thừa gia nghiệp với Đức Giêsu Kitô trong cung lòng của Thiên Chúa Ba Ngôi, là Đấng tạo hóa hằng hữu, vĩnh cửu, phúc lạc muôn đời.

Do đó, có nhiều nhà thần học, triết học Kitô giáo đã nói, nếu giả sử ở trần gian này chỉ có một con người duy nhất, thì Ngôi Hai Thiên Chúa cùng vẫn đổ máu đến giọt cuối cùng để cứu vớt... Điều này đã được nhà triết học, khoa học gia, văn hào Pascal mô tả bằng cách gán cho Đức Chúa Giêsu lời như thế này: "Con ơi, Ta đổ giọt máu này là cho chính con đó". "Con" đây là mỗi một con người cụ thể, dù con người đó là bất cứ ai.

Vì vậy, trong nhân sinh quan Kitô giáo như có một cái gì tương phản, một mặt, con người ý thức hữu thể của mình là hư hèn, bởi vì từ hư không mà ra, nhưng một mặt khác lại là vô cùng quý giá, bởi vì được mời gọi bước lên vị thế ngôi vị làm con Thiên Chúa... Đó là ý nghĩa cuối cùng của mầu nhiệm mà Kitô giáo gọi là mầu nhiệm Ngôi Hai xuống thế, mang lấy xác phàm và cắm lều ở trong lòng nhân thế này.

Với khuôn khổ thời gian hạn hẹp này, những điều tôi trình bày trên đây có ý tóm tắt lại, thâu gồm lại vũ trụ quan và nhân sinh quan, trước là của Do Thái giáo, sau nữa là được kiện toàn trong Kitô giáo.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Thiên Chúa của Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

3. Thiên Chúa của Kinh Thánh (tiếp theo)

Như tôi đã nói khi trình bày lịch sử dân Do Thái, quan niệm nhân sinh của Do Thái giáo và Kitô giáo đặt con người lên địa vị vương đế của vũ trụ này, nghĩa là mỗi một con người, tự họ chỉ vì là người, là trên hết bất cứ giá trị nào ở trần gian này. Đức Giêsu đã nói rõ: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40). "Ta" đây chính là một Ngôi VỊ Thiên Chúa đã xuống thế làm người.

Trong dụ ngôn nói về ngày Cánh chung, Đức Giêsu cũng nói rằng, tiêu chuẩn để phân biệt kẻ lành người dữ là căn cứ vào những việc họ làm cho bất cứ con người nào vì Ngài đều coi như là làm cho chính bản thân Ngài. Cụ thể như trong kinh nghiệm của ông Saolô, sau này trở thành vị thánh Tông đồ vĩ đại nhất của Kitô giáo, là thánh Phaolô, bách hại tín hữu Kitô piáo. Ông này đang trên đường đi Đa-mát để truy lùng các Kitô hữu, thì bị xô ngã và nghe Đức Kitô lên tiếng hỏi: "Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 22,3-16). Như vậy Đức Kitô đồng hóa các tín hữu của Ngài với chính bản thân Ngài. Với chiều kích phổ quát của Kitô giáo, mỗi một con người đều được kêu gọi trở thành tín hữu của Ngài, nghĩa là được đồng hóa với Ngài, và trong Ngài được nâng lên đến vị thế làm con Thiên Chúa, cho nên có một giá trị có thể nói là độc nhất vô nhị và tuyệt đối vượt trên bất cứ giá trị nào ở trần gian này.

Tiếp ngay sau một quan niệm nhân sinh như vậy thì hệ luận phải như triết học Kant [Immanuel Kant (22/4/1724 - 12/2/1804) là một triết gia người Đức có ảnh hưởng lớn đến Kỷ nguyên Khai sáng, ông được cho là một trong những nhà triết học có ảnh hưởng nhất từ trước đến nay. Trong học thuyết của mình vể chủ nghĩa duy tâm siêu việt, ông cho rằng không gian, thời gian và nhân quả đơn thuần là những thứ cảm nhận được; "Những vật tự thể" có tồn tại, nhưng bản chất của chúng lại không thể biết được. Theo quan điểm của ông, tâm trí tạo hình và cấu tạo nên kinh nghiệm, trong đó toàn bộ kinh nghiệm của con người đều chia sẻ các đặc điểm cấu trúc nhất định. Một trong những tác phẩm nổi bật nhất của ông, Phê phán lý tính thuần túy (năm 1781; tái bản lần 2 năm 1787), ông đề ra một giả thuyết tương đồng với Cách mạng Copernic trong đó nói rằng các sự vật trên thế giới có thể bị kích thích thông qua một tiên nghiệm ('trước đó'), và rằng do đó trực giác độc lập với thực tế khách quan] đã nói: Không được quyền dùng con người như phương tiện cho bất cứ cái gì. Vì vậy, chữ hy sinh chỉ có nghĩa khi chính con người ý thức, thuận tình, tự do hy sinh bản thân mình để không phải tự hủy diệt, nhưng kỳ thực là để từ khước một cách sổng không xứng đáng với con người, để tiến lên một sự thể hiện chính bản thân mình ở cấp cao hơn, ví dụ như thà chết chứ không chịu nô lệ, thà chết chứ không chịu để mất trinh tiết, thà chết chứ không lừa thầy phản bạn, thà chết chứ không chối Chúa, v.v... Cái thà chết đó là chính đương sự tự nguyện, trong ý thức sáng suốt, lựa chọn trong tự do chứ không phải bị một áp lực nào, hoặc bị một mưu mô xảo quyệt nào đưa đẩy vào con đường mà bản thân đương sự hoàn toàn không biết, hoặc là thi hành một cách máy móc, đôi khi miễn cưỡng.

Như vậy, đức tin Kitô giáo đã đem lại một chiều kích cao sâu rộng dài cho một phạm trù hết sức quan trọng trong nền đạo đức của bất cứ học thuyết nào, đó là giá trị cao đẹp của hy sinh. Hy sinh chỉ có nghĩa khi là một hữu thể có ngã vị, có chủ thể tính, có tự do tính tự nguyện, cảm thấy chính mình muốn là mình, muốn trở nên xứng đáng với chính mình, thà chết chứ không chấp nhận thế này thế nọ. Do đó, con người hy sinh chính là con người thể hiện một cấp độ càng ngày càng cao và điều này trở thành nền tảng của sự sùng kính đối với bất cứ con người nào đã hy sinh vì một đại nghĩa nào đó, còn nếu dùng bạo lực hoặc mưu mô xảo quyệt để đẩy con người đến như một dụng cụ không có ý thức, không có sự lựa chọn lý do, thì phạm đến chính phẩm giá con người, mà phạm đến phẩm giá con người, đối với Kitô giáo và Do Thái giáo, là phạm đến chính Đức Chúa, Đấng tạo thành muôn vật.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Thiên Chúa của Kinh thánh (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

3. Thiên Chúa của Kinh Thánh (tiếp theo)

Cái nhân sinh quan chung của Do Thái giáo và Kitô giáo nằm ở điểm này là, - chúng ta hãy tạm gác vấn đề về thiên thần và chỉ giới hạn nơi con người mà thôi - con người, một mặt, có thân xác thật, nhưng mặt khác, có một dạng tâm linh được mô tả như là có linh hồn bất tử, có ngã vị tính, có chủ thể tính, có tự do tính, và cái ngã vị tính, chủ thể tính, tự do tính ấy có tính cách cá vị và cái cá vị tính này sẽ tồn tại mãi, chứ không phải chỉ là một sự hợp tan, tan hợp theo kiểu một đống cát gồm những hạt cát nhỏ, tụ lại thì thành một đống, phân tán ra thì không còn đống cát nữa.

Sự hiện hữu của các hữu thể có ngã vị tính, có chủ thể tính, có tự do tính đó là "bất tử"; và cứu cánh của các hữu thể ấy là sống trong tương quan phụ tử với chính Đấng Tạo thành.

Tuy rằng trong Do Thái giáo có những hình thức thờ phượng đề cao siêu việt tính, chí thánh tính, chí tôn tính của Thượng đế mà hầu như đẩy xa loài người xuống vực thẳm của hư vô, của tội lỗi, mà sự kính sợ được nhấn mạnh; nhưng vẫn có một dạng rất gần gũi, thiết tha đến nỗi chính trong Cựu ước cũng đã dùng đến hình ảnh tương quan phối ngẫu vợ chồng. Sự phản loạn của con người được hình dung, có khi dưới dạng một kẻ bề tôi bất trung, khi khác dưới dạng một đứa con bất hiếu, nhưng cũng có khi dùng hình ảnh vô cùng đằm thắm thiết tha, là sự phụ tình bạc nghĩa của người phụ nữ ngoại tình.

Tóm lại , trong Đạo Cũ, tín hữu Do Thái giáo có dạng thờ phượng Thiên Chúa như Thượng Đế, nghĩa là vị Vua Cả trên trời, có dạng thảo kính đối với Thượng đế như tình cha con, nhưng cũng có dạng ân ái, đằm thắm thiết tha như vợ chồng.

Tương quan liên ngã vị giữa mỗi một linh hồn nói riêng, cũng như toàn thể nhân loại nói chung, với Thượng đế như thế, về sau được đẩy lên một đỉnh cao trong sự tuyệt vời của chính con người Giêsu Kitô, là một hữu thể mà nhân tính, (nghĩa là có thân xác, có tâm lý, có linh hồn) được kết hợp với bản tính Thiên Chúa trong một ngã vị được gọi là Ngôi Lời hoặc Ngôi Con, mà thực ra không phải chỉ là Con Thiên Chúa, nhưng chính là Thiên Chúa Ngôi Con; nói theo tiếng Pháp, không phải chỉ là "Fils de Dieu", nhưng là "Dieu le Fils". Và cứu cánh của con người là được mời gọi tiến lên cấp bậc gần như, không phải chỉ là "les fils de Dieu", tức là "những đứa con của Thiên Chúa," nhưng là thông dự vào ngã vị của Giêsu Nazareth, nên một với "Dieu le Fils", nghĩa là "Thiên Chúa Con". Cái cứu cánh nhân sinh là thực hiện được điều thánh Phaolô đã nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (GI 2,20)... Điều này, theo thuật ngữ chuyên môn, là "thông dự vào ơn được trở thành nghĩa tử của Chúa Cha, trong Đức Giêsu Kitô chính là Thiên Chúa Con xuống thế làm người".

Một nhân sinh quan như vậy bao hàm một quan niệm về phẩm giá có thể nói là tuyệt đối của con người, của mỗi một con người nói riêng cũng như của toàn thể nhân loại nói chung. Mỗi một con người dù là ai đi nữa, như thôi nói trên kia, tội lỗi, thánh thiện, thông minh, ngu đần, khỏe mạnh, yếu đau, đẹp đẽ, xấu xí đều được mời gọi trở thành nghĩa tử, nghĩa là trở thành những người con đích thực của Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2025

MỪNG CHÚA GIÁNG SINH



Kính chúc Quý thân hữu và Quý quyến 
một mùa Giáng Sinh 2025 tràn đầy ơn Chúa Hài Đồng 
và một năm 2026 an vui hạnh phúc.


Thứ Ba, 23 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Thiên Chúa của Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

3. Thiên Chúa của Kinh Thánh (tiếp theo)

Do đó, vũ trụ quan của Do Thái giáo và của Kitô giáo là không phải duy tâm, không phải duy vật, nhưng thứ nhất là quan niệm "duy thực", nghĩa là vũ trụ này có thật, chứ không phải "duy tưởng"; thứ hai, vũ trụ này gồm có những, có thể nói ba hữu thể, một loại hữu thể hoàn toàn là vật chất là đất đá, kim loại, một loại hữu thể hoàn toàn thuần linh là các thiên thần, và một loại hữu thể có những dạng được gọi là "hồn" chia làm ba cấp: sinh hồn, giác hồn và linh hồn, nghĩa là các hữu thể hữu cơ cho lên đến con người. Như vậy, vũ trụ quan của Kitô giáo kéo theo một nhân sinh quan là vị trí con người ở trong vũ trụ này, có thể nói con người như là "cái trục", nơi giao tiếp của những hữu thể vật chất đi lên cho đến biên giới những hữu thể thuần linh.

Vì đây không phải là một giáo trình chuyên môn về triết học, cho nên tôi không thể trình bày một vấn đề hóc búa mà các thần học gia cũng như các triết gia Công giáo đã hao tổn biết bao nhiêu tâm huyết, giấy mực để giải quyết, đó là vấn đề về sự kết hợp giữa cơ thể là vật chất và linh hồn là thuần linh. Tôi chỉ gợi lên một ý là quan niệm về tương quan giữa linh hồn và vật chất của Do Thái giáo và của Kitô giáo không phải như quan niệm của Platon vốn cho rằng, linh hồn nằm trong thân xác như là nằm trong một lao tù, hoặc linh hồn bị sa đọa vào vòng vây hãm của thân xác và của vật chất; nhưng linh hồn được sử dụng một phạm trù lấy từ tư tưởng của Aristote, là "mô thể" của thân xác. Linh hồn không phải như là một người ngồi cưỡi trên mình một con trâu, nhưng linh hồn gần như - tôi chỉ nói "gần như" - là cái nghĩa của chữ viểt, không có chữ viết thì không có từ [ngữ], nhưng giá trị của chữ viết chỉ có ở trong từ; chỉ lấy chữ viết ra đem phân tích, thì chẳng thấy cái nghĩa ở đâu cả.

Đấy chẳng qua là tôi dùng hình ảnh cụ thể để gợi lên cái hướng suy nghĩ mà thôi, chứ thực ra, muốn nắm rõ quan niệm này, thì khuôn khổ những buổi nói chuyện của chúng ta không cho phép tôi có thể đi xa hơn nữa.

Nhân đây tôi cũng xin nói, theo quan niệm của Do Thái giáo, Kitô giáo, đứng về mặt hiện tượng, thì những sinh hoạt tinh thần tâm lý không phải cho ta nắm được bản chất của linh hồn, nhưng đó là dấu chỉ sự hiện hữu của một cái gì khác với vật chất, không phải chồng lên vật chất, nhưng lý tưởng là thoát khỏi vật chất, và có thể nói là luồn vào vật chất, ẵm nhận lấy vật chất, nâng vật chất lên cao để rồi đi vào chính cung lòng một Thiên Chúa không phải là thuần linh, nhưng là một "Hiện hữu thuần hữu".

Mạc khải Kinh thánh trong thời Đạo Cũ nhấn mạnh Đấng hiện hữu thuần hữu ấy chỉ có MỘT, cho nên Thiên Chúa của Do Thái giáo là ĐỘC THẦN. Trong Do Thái giáo chỉ nói lên cái tính cách hữu ngã vị, hữu chủ thể tính, hữu tự do tính, một bên là của Thiên Chúa, một bên là của các thiên thần và của con người. Do Thái giáo cũng chỉ nói lên tương quan phụ tử, cha con giữa Thiên Chúa độc thần, hữu ngã, hữu chủ thể tính, hữu tự do tính với những hữu thể hữu ngã, hữu chủ thể tính, hữu tự do tính là con người và các thiên thần, mà tương quan đó, nói một cách đơn giản, là tình cha con gần gũi, do sự tự do của đôi bên thiết lập một lời giao ước. Lời giao ước ấy được thể hiện trong toàn bộ cuộc sống của dân tộc Do Thái và tự do con người có thể đón nhận hay từ khước. Mà như đã nói trên kia, sự từ khước chính là nguồn gốc của mọi tội lỗi, và sự ăn năn hối cải chính là trở về với Thiên Chúa, rồi tuân phục trong sự thuận tình, yêu mến, chấp nhận, thi hành những giáo huấn của Ngài, gồm thờ phượng Thiên Chúa trong đời sổng phụng tự và sống công bằng bác ái với tha nhân.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Thiên Chúa của Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

3. Thiên Chúa của Kinh Thánh (tiếp theo)

Vì vậy, theo quan niệm Kitô giáo và Do Thái giáo, Thiên Chúa là Đấng siêu việt, khác hẳn bất cứ thụ tạo nào, và cái siêu việt tính đó đôi khi được nhắc đến bằng một từ ngữ lắm lúc gây ra một sự ngộ nhận, đó là "sự linh thánh" của Thiên Chúa. Chữ "linh" đó đã tạo nên sự chuồi nghĩa đưa đến chỗ hiểu Thượng đế là thần linh. Riêng tôi nghĩ, Thượng đế còn cao hơn cả thần linh, và có thể nói Thượng đế chỉ là THUẦN HỮU, mà tất cả sự hiện hữu của mọi thụ tạo, dù tâm hay vật, chỉ là mang dấu vết lờ mờ, mang hình bóng lời mờ, đến độ con người với trí tuệ và kinh nghiệm không thể nào hình dung được bản tính của Thượng đế, vì thế mà có cả một nền thần học được tiếng Pháp gọi là "Théologie négative", nghĩa là sau khi dựa vào những phẩm tính của mọi thụ tạo được đẩy lên đến tận cùng, và nói rằng Thượng đế cũng có phẩm tính như vậy nhưng, vượt qua qua đỉnh cao nhất của bất cứ thụ tạo nào mà con người kinh nghiệm được, hoặc là con người do suy luận mà có thể hình dung được phần nào qua những phạm trù của mình, từ "siêu việt", từ "chí thánh", "transcendant"," sacrosaint", hoặc là "hoàn-toàn-khác", "tout-autre" là những cách nói để nhấn mạnh đến cái hố sâu vực thẳm phân biệt sự hiện hữu của các thụ tạo, dù là những thụ tạo thuần linh như các thiên thần, với Thiên Chúa là Đấng TỰ HỮU, HẰNG HỮU, VĨNH CỬU, TRƯỜNG TỒN, VĨNH TẠI, bao gồm tất cả mọi dạng hiện hữu mà con người có thể kinh nghiệm được, có thể suy luận để hình dung ra được, nhưng còn vượt xa những gì mà kinh nghiệm và trí tuệ loài người không thể nào quan niệm được.

Nói một cách bóng bẩy, ví von, có nhiều nhà thần học, nhiều nhà triết học Kitô giáo và Do Thái giáo đã nói rằng, người hiểu biết Thiên Chúa nhất là người biết rằng trí tuệ và kinh nghiệm con người chỉ biết Thượng đế có thật, chứ không thể nào biết được Thượng đế là gì, nếu không do chính Ngài mạc khải cho biết, và chỉ có thể biết được về Ngài như những gì Ngài mạc khải cho biết mà thôi. Mà hơn nữa, cái biết ấy còn là chỉ biết dưới dạng như là một hình bóng, như là ảnh tượng, chứ bao lâu còn ở trần gian này thì vẫn chưa trực tiếp với bản chất Thiên Chúa được. Việc trực tiếp với bản chất Thiên Chúa được dành cho mai sau mà các nhà thần học gọi là "Vision béatifique" [hưởng kiến hay thị kiến vinh phúc], là việc trực diện nhìn thấy Thiên Chúa đem lại hạnh phúc cho con người.

Nói khác đi, chừng nào còn ở trần gian này, thì đối với Thiên Chúa, con người không thể biết được, không thể múc cạn được, nhưng phải có một thái độ, đó là niềm tin: tin vào lời Ngài nói, tin vào những điều Ngài mạc khải. Vì thế, có một dạng niềm tin được mô tả như là bóng tối, tuy nhiên đó chính là bóng tối của một sự chói lòa của con mắt như khi con mắt nhìn thẳng lên mặt trời, nhưng nhờ ánh sáng mặt trời mà con mắt lại nhìn thấy được các sự vật khác dưới ánh mặt trời này. Không phải là biện hộ, nhưng để các anh chị thấy đức tin, đối với Do Thái giáo và Kitô giáo, không phải là một sự nhắm mắt mù quáng, nhưng là một sự chói lòa của con mắt phàm tục không nhìn thẳng được vào chính ánh sáng mặt trời, nhưng lại nhờ chính ánh sáng của mặt trời chiếu lên sự vật, chiếu lên con mắt mình mà nhìn ra được sự vật. Nói như vậy để các anh chị hiểu được tại sao những khối óc như Pascal, Alexis Carrel, Teilhard de Chardin mà lại có thể tin được.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Thiên Chúa của Kinh thánh

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

3. Thiên Chúa của Kinh thánh

Vậy, trong các hệ tư tưởng hữu thần, có thể nói Do Thái giáo với Kitô giáo là hệ rõ ràng nhất tuyên bố vũ trụ này có thật và được tạo dựng từ hư không và là những hữu thể tách biệt với bản thể của Thiên Chúa. Chẳng những chúng được tạo dựng bởi Thiên Chúa một lần mà còn luôn luôn dược nâng đỡ bởi quyền năng sáng tạo của chính Thượng đế để gìn giữ nó trong sự hiện hữu, hay nói cách khác, nếu Thượng đế rút khỏi cái động tác sáng tạo, thì tất cả những hữu thể bất tất, biển dịch, vô thường đó sẽ trở về lại với hư không.

Theo tín ngưỡng của người Kitô giáo và Do Thái giáo, cái vũ trụ thụ tạo này là có thật dưới hai dạng: vật chất và tâm linh; có những hữu thể thuần túy vật chất như đất, đá, kim loại, v.v…, có những hữu thể, thuần túy tâm linh như các thiên thần và có những hữu thể từ sinh vật cho lên đến con người, thì có những nguyên tắc khác được gọi là: sinh hồn, giác hồn và cuối cùng là linh hồn.

Do đó, nhân đây tôi cũng xin các anh chị biết cho rằng, quan niệm của Kitô giáo là một quan niệm "hữu linh", chứ không phải là "duy tâm". Hữu linh nghĩa là trong các hữu thể có những hữu thể có tính chất tâm linh, nhưng cũng có những hữu thể chỉ thuần túy vật chất như đất và đá, và có những hữu thể có thể nói là trung gian từng cấp một giữa những hữu thể thuần vật chất như đất đá và những hữu thể thuần linh như các thiên thần.

Và như vậy, quan niệm của Do Thái giáo và Kitô giáo về vũ trụ là "duy thực", chứ không phải là "duy tưởng", tiếng Pháp là "idéalisme". Duy thực nghĩa là các hữu thể, dù là hoàn toàn vật chất như đất đá, dù là thần linh như các thiên thần, dù là các cấp hữu thể trung gian như cỏ cây, động vật, loài người đều là có thật, chứ không phải do một tâm trí nào hình dung ra như chúng ta hình dung những hữu thể trong giấc mơ.

Đó là nói về bản chất của các thụ tạo trong quan niệm Kitô giáo và Do Thái giáo, cón bản chất của chính bản thể tự hữu, hằng hữu là Thiên Chúa thì sao? Có một số nhà thần học, một số nhà triết học Do Thái giáo và Kitô giáo nói rằng, bản chất của Thượng đế là thuần linh. Riêng tôi, tôi cho rằng quan niệm đó có lẽ chẳng được xác đáng cho lắm, bởi vì đã nói đến bản chất, tức là có một phần nào hạn hẹp cái tính chất của hữu thể, ví dụ: bản chất là vật chất thì không có tâm linh, như đất và đá chẳng hạn; nếu nói bản chất thuần linh như các thiên thần thì không có vật chất, còn các hữu thể từ tế bào đơn giản, hữu cơ cho lên đến con người, thì có phần nào hỗn độn, nếu không muốn nói là lợn cợn, vừa có dạng vật chất vừa có dạng tâm linh. Nói rằng Thiên Chúa là thuần linh, thì theo thiển ý, tôi cho rằng như vậy là hạ cấp Thiên Chúa xuống ngang hàng các thiên thần vốn cũng chỉ là những thụ tạo, tức là chỉ thế hiện được một dạng của sự hiện hữu mà thôi.

Do đó, trong "Kinh thánh", khi Môsê hỏi tên Đấng Tạo hóa, Ngài chỉ định nghĩa Ngài không phải là "vật", là "tâm" hay là gì gì cả, mà Ngài chỉ nói rằng, "Ta là Đấng CÓ". Câu trả lời như vậy được ghi trong Kinh thánh và các nhà chú giải Kinh thánh, các thần học gia và các nhà triết học Do Thái giáo cũng như Kitô giáo hiểu rằng, nếu đá, bản tính là vật chất, nếu thiên thần, bản tính là tâm linh, hoặc nói theo thuật ngữ chuyên môn là "yếu tính" của đá là vật chất, yếu tính của thiên thần là tâm linh, yếu tính của con người là vừa vật chất vừa tâm linh, còn Thượng đế thì yếu tính không thể bị hạn hẹp, đóng khung trong bất cứ phạm trù nào. Nói cách khác, trong các thụ tạo, theo lối nói chuyên môn của triết học, thụ tạo nào cũng có hai phần: yếu tính, tiếng Pháp là "essence" và hiện hữu, tiếng Pháp là "existence", còn ở trong Thượng đế, Đấng Tạo hóa, thì "essence" của Ngài chính là "existence", chỉ có MỘT mà thôi.

Do đó, bản thân tôi nghĩ rằng, bản chất của Thượng đế chính là SỰ CÓ và bất cứ CÁI CÓ nào cũng thông dự vào SỰ CÓ ấy, dưới một dạng hạn hẹp nào đó phản ảnh một khía cạnh nào đó được gọi là "yếu tính", và yếu tính bao giờ cũng đóng trong khung của một giới hạn nhất định. Cho nên, "vật, tâm, linh" đều là những yếu tính, mà yếu tính của Thiên Chúa chính là "hiện hữu", cho nên nói Thượng đế là thuần linh thì e có lẽ hạn chế sự hiện hữu của Ngài và hạ thấp Ngài xuống ngang hàng với một cấp thụ tạo, dù là cấp cao nhất thuần linh là các thiên thần như trong tín ngưỡng của Do Thái giáo và Kitô giáo.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Vô thần và phiếm thần

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

2. Vô thần và phiếm thần

Bây giờ tôi xin chuyển sang một vấn đề, "Cái có đó, bản chất là gì?" Đại khái có những quan niệm sau đây: Thứ nhất là quan niệm vô thần duy tâm mà có thể nói tiêu biểu là Phật giáo, nghĩa là chỉ có một hữu thể duy nhất vĩnh tại bất biến là thực, nhưng bản chất của vật ấy là tâm, còn các sự vật đa thể bất tất, vô thường dù xuất hiện dưới dạng vật chất thì cũng chỉ là ảo tưởng. Có thể gọi quan niệm như vậy là Vô Thần Duy Tâm.

Quan niệm thứ hai cho rằng cái hữu thể vĩnh tại duy nhất trong bản chất là bất biến ấy là vật, có thể gọi quan niệm như vậy là Vô Thần Duy Vật, với quan niệm này, thì những dạng hiện tượng tâm linh chẳng qua chỉ là phản ảnh những thực thể vốn là vật chất.

Đó là chúng ta phân chia ra từng cặp một cách đơn giản cho dễ hiểu, chứ thực ra, giữa hai quan niệm gần như là hai phía cực đoan ấy, thường có những quan niệm trung gian, chẳng hạn như quan niệm Phật giáo, với những câu kiểu như, Vạn vật bản hồ thiên [Trích câu "Vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hổ tổ", 萬勿本胡天,人本虎祖,trong sách Lễ Ký, nói về việc tế tự, nghĩa là Muôn vật gốc ở trời, con người gốc ở Tổ tiên], thì có thể hiểu như là vô thần cũng được, mà hữu thần cũng được, bởi vì chữ bản thực ra không được rõ ràng lắm, nó không cho biết là được sinh ra từ hư không hay là từ một sự sa đọa, một sự biến dạng, một sự phân tán hoặc nữa là từ một sự tuôn chảy phát xuất như nước từ nguồn chảy ra thành sông, thành biển.

Ví dụ như trong cuốn Nho giáo của Trần Trọng Kim, qua đó có vẻ như tác giả đã hiểu quan niệm Nho giáo là một quan niệm "vạn vật nhất thể", mà đã gọi là vạn vật nhất thể, thì thực sự bản chất là vô thần, nhưng riêng tôi nghĩ rằng, chính trong đầu óc của những vị Nho gia nguyên thủy, vấn đề cũng có thể nói là còn đang mập mờ, và hậu thế căn cứ vào những câu được viết ra với những phạm trù, với những lý luận của cách đây đã mấy chục thế kỷ, thì khó lòng mà có thể nắm được chính tư tưởng của các vị ấy một cách chắc chắn; và hơi vô lễ bất kính đối với các vị ấy, chúng ta có thể nói được rằng, chính trong suy nghĩ của các vị ấy chưa hẳn đã rõ ràng minh bạch như ngày nay vấn đề được đặt ra, sau hàng chục thế kỷ trí tuệ con người đã nghiền ngẫm, chà xát, phân tích, mổ xẻ, lý giải, v.v...

Tôi cũng xin nhắc đến một quan niệm thường được gọi là "phiếm thần". Riêng tôi nghĩ, "phiếm thần" tức là nói mọi sự đều có thần tính, do đó trong căn bản, theo thiển ý, tôi xếp quan niệm phiếm thần vào với quan niệm vô thần duy tâm, nghĩa là cuối cùng chỉ có một hữu thể trường tồn vĩnh tại bất biến, mà bản chất của hữu thể ấy được gọi là có thần tính, nói tóm lại là thuộc về tâm linh.

Vậy thì, theo quan niệm vô thần, dù là duy tâm, dù là duy vật, dù là phiếm thần, thì vũ trụ này, hoặc là một ảo ảnh, hoặc là một sa đọa, hoặc nữa là một biến chuyển vô cùng, xoay đi xoay lại trong những chu kỳ mãi mãi tiếp tục "vô thủy vô chung". Sở dĩ tôi nói các quan niệm vô thần, dù là duy vật hay duy tâm, đối với tôi đều hợp lý hơn, bởi vì cuối cùng đều giản lược tất cả vào một cái có và phù hợp với nguyên lý căn bản của trí tuệ, đó là nguyên lý đồng nhất, "principe d’identité". Và như vậy. thì hiện tượng đa tạp, "le multiple", hiện tượng biến dịch, "le devenir" được giải quyết một cách dứt khoát, gọn ghẽ, sáng tỏ, phân minh rõ ràng, nằm gọn trong khuôn khổ nguyên lý đồng nhất của trí tuệ, từ đó đem lại cho trí tuệ một sự an thái, một sự thỏa mãn nhất định.

Có thể nói những quan niệm vô thần như vậy đã tiêu hóa cái biến dịch bất tất, vô thường trong cái nguyên lý đồng nhất vốn là đòi hỏi, yêu sách căn bản của trí tuệ con người. Nói một cách khác, vấn đề triết học về bình diện vũ trụ quan này là giải quyết cái nghịch lý, cái mâu thuẫn nào đó giữa một bên là hiện tượng đa tạp, bất tất, vô thường, biến dịch với một bên là yêu sách căn bản của trí tuệ là nguyên lý đồng nhất, và đã giải quyết theo yêu sách của lý trí, hòa tan các sự vật vào trong cái yêu sách sáng suốt, chắc chắn, gọn ghẽ, phân minh của trí tuệ. Vì thế, tuy là một tín hữu Kitô giáo, tôi kính cẩn cúi đầu trước những triết thuyết được lập nên bởi những trí tuệ lỗi lạc của nhân loại.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Nguồn gốc vũ trụ (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

1. Nguồn gốc vũ trụ (tiếp theo)

Có thể nói thuyết duy vật, dưới dạng của Democritus [Democritus (tiếng Hy Lạp: Δημόκριτος) là một triết gia người Hy Lạp sống trước thời kỳ Socrates. ông sinh ra vào khoảng 460 TCN ở thành phố Abdera, một địa điểm trên bờ biển thuộc xứThrace (phấn đất thuộc Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Democritus là học trò của Leucippus và cùng với Leucippus tạo ra thuyết nguyên tử thô sơ. Theo thuyết nguyên tử của ông, mọi vật chất được tạo thành từ các dạng khác nhau của các phần tử không chia nhỏ được, không nhìn thấy được, cái mà ông gọi là atoma (nguyên tử). Đó là ý tưởng độc nhất vô nhị của Democritus, chính vì thế mà từ khi Democritus đưa ra khái niệm đó cho đến tận sau này khi khoa học đã phát triển người ta mới có những bằng chứng cụ thể về sự tồn tại của nguyên tử và tiếp tục phát triển lý thuyết về nguyên tử. (Wikipedia)] hoặc dưới dạng của Karl Marx cũng gần như có một quan niệm như vậy. Mọi sự đều là do hữu thể vĩnh cửu là vật chất biến chuyển, trong một chu kỳ gần như theo sơ đồ được phát biểu rõ ràng minh bạch của Phật giáo, "Sinh, Trụ, Dị, Diệt" rồi lại "Sinh, Trụ, Dị, Diệt". Engels có viết một văn mô tả cái chu kỳ tiếp diễn mãi mãi như vậy; và nhà triết học Nietzsche [Friedrich Wilhelm Nietzsche (15/10/1844-25/8/1900) là một nhà triết học người Đức. ông bắt đầu sự nghiệp như là một nhà ngữ văn học và viết nhiều bài phê bình về tôn giáo, đạo đức, các vấn đề văn hóa đương thời, và triết học. Các tác phẩm của Nietzsche nổi bật với phong cách viết của ông, thường mang tính ẩn dụ (aphorism) và nhiều nghịch lý hơn là mức độ thông thường của các bài luận triết học. (Wikipedia)] cũng có một mô tả tương tự như vậy và cuối cùng, "A tăng kỳ kiếp" của Phật giáo, hoặc là "Retour éternel" của tư tưởng Hy Lạp cũng cách nào đó nói lên cái quan niệm có thể nói là "chung" của các nền triết học, và, theo tôi, chỉ khác nhau trong phần hiện tượng chi tiết, nhưng về mặt căn bản thì có một điểm đồng quy; và mặc dầu là một tín hữu Kitô giáo, tôi vẫn khẳng định với các anh chị rằng, đứng về phương diện thuần lý mà nói, quan niệm ấy dễ chấp nhận hơn và thỏa mãn lý trí hơn.

Vì vậy, tôi kính cẩn cúi đầu trước những bậc thiên tài của trí tuệ loài người đã có những vũ trụ quan như vậy; và, do đó, tôi vẫn nghĩ rằng, quả như Pascal nói, nội dung của Kitô giáo không phải là Thượng đế của các triết thuyết, nhưng là Thiên Chúa của những con người cụ thể, mà những con người cụ thể đó chỉ đón nhận được đức tin đúng như thánh Phaolô nói, "nhờ ơn mạc khải", thứ nhất là bên ngoài, đối với những cộng đoàn được Chúa chọn như dân Do Thái, như các cộng đoàn tín hữu mà bên trong được thúc đẩy bởi Ngôi Ba Thiên Chúa được gọi là Thánh Linh. Vì vậy, tôi cũng xin nói ngay, trong lịch sử Do Thái giáo cũng như lịch sử các Giáo hội của Kitô giáo, rất nhiều nhà thần học, triết học Kitô giáo viết rất nhiều pho sách, có thể gọi như là chứng minh đức tin của mình, chẳng hạn như 5 luận cứ của thánh Tôma-nhằm chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế, v.v... và không biết bao nhiêu là sách vở chứng minh chân lý của đức tin Do Thái giáo, Kitô giáo... [Tới đây bản ghi âm bị thiếu mất một đoạn ngắn].

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo - Nguồn gốc vũ trụ (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO

1. Nguồn gốc vũ trụ (tiếp theo)

Vì vậy, như tôi đã nói trên kia, tư tưởng loài người, trước hết, chia ra làm hai phái, một phái chủ trương VÔ, và như tôi đã nói, nếu chủ trương VÔ, thì chúng ta có thể ngừng ngay đây, bởi vì đã VÔ, thì không có gì nữa cả, nhưng tôi nghĩ, có lẽ không có một trí tuệ con người nào thuộc về phái chủ trương VÔ kiểu ấy. Tôi xin mạn phép những anh chị em Ấn Độ giáo và Phật giáo, tôi cho rằng chữ hư vô, mà thường chỉ xuất hiện trong các tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo, chẳng qua để chỉ nói lên cái bất tất tính, cái vô thường tính của vũ trụ này mà thôi, chứ không phải chủ trương VÔ theo nghĩa tuyệt đối của nó. Và phái thứ hai, phái chủ trương HỮU.

Tất thảy chúng ta đều thuộc về phái HỮU, bất luận là vô thần hay hữu thần, duy tâm hay duy vật, duy lý, duy trí, duy nghiệm... đều thuộc về phái Hữu. Tức là cái câu hỏi đặt ra, "Tại sao lại có một cái gì đó, thay vì không có cái gì?" dẫn đến kết luận: có cái gì đó, mà hễ đã có thì cái có đó có tính cách vĩnh cửu và bất biến. Bất biến ở đây là bất biến trong bản chất chứ không phải bất biến dưới dạng hiện thực. Thật ra sự phân biệt giữa bản chất và hiện thực cũng là để giải quyết hai dạng như mâu thuẫn nhau, đó là hiện tượng thì đa tạp, biến đổi nhưng bản chất thì bất biến.

Những người thuộc về phái HỮU cuối cùng cũng nghĩ rằng cái HỮU đó là trường tồn vĩnh tại, và gọi đó là "tâm" là "vật", là Thượng đế, là Thiên Chúa, cho dù là khác nhau nhưng đều cùng thuộc vê phái HỮU. Khác nhau là ở chỗ quan niệm về tương quan giữa cái HỮU đó với các hữu thể riêng biệt và khác nhau ở chỗ bản chất cái HỮU đó là gì.

Đứng về phương diện thuần lý mà nói, riêng tôi nghĩ rằng, đi đến kết luận "vạn vật nhất thể" thì hợp lý hơn, tức là sự đa tạp, sự biến dịch chẳng qua chỉ là hiện tượng, còn bản chất sự vật thì chỉ có một, mà cái một đó không bao giờ thay đổi, chẳng hạn như trong tư tưởng Parménides; và như vậy, theo dòng lý trí suy luận mà nói, thì kết luận cho rằng vạn vật nhất thể, những hữu thể đa tạp biến đổi chỉ là hiện tượng.

Có một điểm khác nhau nữa, đó là quan niệm về các hiện tượng ấy đối với cái nhất thể vĩnh cửu bất biến đó như thế nào, có thể quan niệm nó như là một ảo ảnh, chứ thực ra là không có. Tôi có cảm tưởng đó là xu hướng mà Ấn Độ giáo và Phật giáo tiến tới; cũng có thể quan niệm các hữu thể đa tạp và biến dịch đó là một sự sa đọa như Platon nói đến. Theo hai xu hướng trên đây thì lý tưởng của vũ trụ này, hoặc là thoát khỏi cái ảo tưởng đa tạp của các hữu thể riêng biệt, trở về cái nhất thể uyên nguyên, tỉnh giấc ra khỏi một giấc mơ huyền ảo, như trong Ấn Độ giáo hay Phật giáo; hoặc là hướng thượng, thoát khởi sự sa đọa, phân tán, để trở về sự đồng nhất nguyên tuyền, như trong tư tưởng Platon và Tân Platon.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo (tiếp theo) - Nguồn gốc vũ trụ

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO (tiếp theo)

1. Nguồn gốc vũ trụ

Trước tiên tôi xin đề cập đến vấn đề nguồn gốc của vũ trụ. Trong những Chương đầu của bộ Kinh thánh có mô tả, dưới hình dạng thô sơ của một nền văn hóa sơ khai, việc Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Chúng ta không phủ nhận rằng có những giai đoạn có những nhà chú giải Kinh thánh, có những nhà thần học, thậm chí có những nhà triết học Kitô giáo hiểu những chương ấy một cách quá đơn giản; ví dụ, tin thật rằng Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ này qua bảy ngày, tin thật là có một vùng gọi là Địa đàng, v.v…, tin rằng người nữ được dựng nên bởi một khúc xương sườn của người nam. Hiện nay, với trình độ trí tuệ của loài người, không còn ai hiểu như vậy. Tuy nhiên, những chương ấy chỉ cốt nói lên một điều là mọi sự đều được tạo dựng từ hư vô bởi Đấng Tạo thành, mà tiếng Latinh chuyên môn gọi là "créatio ex nihilo" [tiếng Pháp là "création à partir de rien"].

Tín điều ấy bao hàm một vũ trụ quan như thế nào, và vũ trụ quan ấy đã đem lại một giải đáp nào cho một vấn đề căn bản của triết học mà triết gia Heidegger [Martin Heidegger (26/9/1889 - 26/5/1976), là một triết gia Đức. ông chịu ảnh hưởng của nhà triết học Franz Brentano. Sau khi nghiên cứu, ông quyết định tìm hiểu ý nghĩa của khái niệm tồn tại và cấu trúc bản thể của tồn tại người. (Wikipedia)] đã tóm lại trong câu hỏi, "Tại sao lại có một cái gì đó, thay vì không có cái gì cả?" Và chính từ câu hỏi khá quan trọng này mà các nhà triết học đã đặt ra câu hỏi khác, "Tại sao lại có vật này vật kia đa tạp, thay vì chỉ có một vật duy nhất mà thôi?" Tức là câu hỏi muôn đời của triết học là vấn đề mà tiếng Pháp gọi là, "L'un et le multiple", cái nhất thể và cái đa thể tương quan như thế nào. Nói theo lối chuyên môn, đó là hai vấn đề: vấn đề hư vô và hữu thể, và vẩn đề độc thể và đa thể. Hai vấn đề, tuy là hai nhưng kỳ thực sẽ được giải quyết bằng một cách duy nhất. Chúng ta biết, sở dĩ câu hỏi đầu tiên được đặt ra, "Tại sao lại có một cái gì đó, thay vì không có cái gì cả", không phải là do những triết gia rỗi hơi đặt ra vớ vẩn, nhưng bởi vì kinh nghiệm của con người ở trần gian này là lúc nào cũng tiếp cận với những hữu thể nay còn mai mất, nay thế này mai thế kia, nghĩa là có đó nhưng có thể không có, đã không có và sẽ không có, và hiện nay đang có như vậy nhưng trong quá khứ đã có theo cách khác và trong tương lai sẽ biến đổi; nói khác đi là các hữu thể mà con người có kinh nghiệm đều là bất tất, nghĩa là có đó nhưng có thể không có, và vô thường nghĩa là hiện nay thì có như thế nhưng trong quá khứ và tương lai thì lại có theo một cách khác.

Một câu hỏi được đặt ra như thế này: "Những hữu thể bất tất và vô thường đó đã từ không mà ra rồi lại trở về không, vậy cuối cùng, cái đang có đó có thực hay không, mà nếu có thì dựa vào cái có nào, chứ đứng về phương diện trí tuệ mà nói, thì không thể nào từ không mà ra có, rồi từ có mà lại trở về hoàn toàn không được?" Vì thế, đứng về phương diện lý trí thuần túy mà nói, hầu hết các nhà triết học đều đi đến kết luận như sau: "Nếu khởi thủy đã không có gì cả, thì sẽ muôn đời không có gì cả; nhưng hễ đã có một cái gì, thì cái đã có đó phải có mãi mãi và, có thể nói, chẳng những không từ hư vô mà ra, chẳng những không đi vào hu vô, song có tính cách vừa vĩnh cửu, vừa bất biến, nghĩa là không thể từ không mà ra, không thể đi vào không được và, ngoài ra, cũng không thể thay đổi được".

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO (tiếp theo)

Muốn kê khai lên, trình bày ra những cho hết ảnh hưởng theo nghĩa rộng của Kitô giáo trên tư tưởng loài người thì không thế được, tôi chỉ xin trình bày với các anh chị một vài điểm mà tôi cho là quan trọng và như là tiêu biểu mở đường cho những ai muốn đi vào con đường nghiên cứu này.

Nhân đây tôi cũng xin nói lên các loại có thể nói là trí tuệ hóa cái nội dung mà ta gọi là tín điều biến từ tín sự sang tín lý, nghĩa là những sự kiện cụ thể được phát biểu qua những ngôn từ, qua những phạm trù trí tuệ, do các vị có thẩm quyền của Giáo hội tuyên bố và khẳng định những ai muốn trở thành thành viên của Giáo hội thì phải chấp nhận như là chân lý.

Những tín điều ấy không có nhiều, các anh chị có thể nghe được qua những buổi phụng vụ được đúc kết trong bản kinh gọi là Kinh Tin kính và được nới rộng hơn nữa trong những cuốn kinh bổn mà các trẻ em đến tuổi có lý trí đều phải học. Bất cứ người nào ngoài Kitô giáo mà muổn trở thành Kitô hữu đều cũng phải tuyên xưng mình tin những điều đó là chân lý, được Thiên Chúa mạc khải qua trung gian đời Đạo Cũ là Do Thái và đời Đạo Mới là Giáo hội Công giáo.

Toàn bộ những tín lý ấy có thể ví như là trung tâm và chúng ta bước ra một vòng tròn ngoại vi thứ hai là thần học, nghĩa là căn cứ vào những tín lý ấy, những người có trình độ kiến thức suy nghĩ, đào sâu, quảng diễn thành một hệ thống chặt chẽ liên quan đến những vấn đề Hữu thể học, Đạo đức học, tức là những vấn đề vũ trụ, nhân sinh. Các nền thần học xây dựng trên những tín lý, rồi lấy chính những tín lý mà kiểm chứng những suy luận của mình nhằm giúp trí tuệ đi sâu vào những tín điều, giúp cho ngôn từ trình bày được những tín điều, trước hết là đối với chính bản thân mình, sau nữa là đối với những người muốn biết nội dung tín điều là gì.

Chúng ta có thể bước sang một vòng thứ ba nữa là những nền tư tưởng thuần túy triết học, nhưng khởi hứng từ những tín điều Kitô giáo, đó là những triết thuyết Kitô giáo do những triết gia Kitô hữu xây dựng nên; chẳng hạn như triết thuyết của Jacques Maritain [Jacques Maritain (18/11/1882 - 28/4/1973) là một triết gia Công giáo người Pháp. Lớn lên theo đạo Tin lành, ông theo thuyết bất khả tri trước khi chuyển sang Công giáo vào năm 1906. Là tác giả của hơn 60 cuốn sách, ông đã giúp hồi sinh Thomas d'Aquin cho thời hiện đại và có ảnh hưởng trong việc phát triển và soạn thảo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Đức Thánh Cha Phaolô VI đâ trình bày "Thông điệp gửi những người có tư tưởng và khoa học" vào lúc kết thúc công đồng Vatican II cho Maritain, người bạn và người cố vấn lâu năm của ngài. Chính vị giáo hoàng này đã nghiêm túc cân nhắc việc phong ngài làm Hồng y giáo dân, nhưng Maritain đã từ chối. Mối quan tâm và tác phẩm của Maritain trải rộng trên nhiều khía cạnh của triết học, bao gồm thẩm mỹ, lý thuyết chính trị, triết học khoa học, siêu hình học, bản chất của giáo dục, phụng vụ và giáo hội học. (Dịch từ Wikipedia)], triết thuyết của Gabriel Marcel, triết thuyết cúa Maurice Blondel [Maurice Blondel (2/11/1861 - 4/6/1949) là một triết gia người Pháp, người có những tác phẩm có ảnh hưởng nhất, đặc biệt là L’Action, nhằm thiết lập môi quan hệ đúng đắn giữa lý luận triết học tự trị và niếm tin Kitô giáo.] v.v...

Cuối cùng chúng ta đi đến vòng ngoại vi sau hết là những triết gia tuy không phải là Kitô hữu, nhưng chịu ảnh hưởng sâu đậm của tín điều Kitô giáo, ví dụ như Bergson và, đương nhiên chúng ta cũng phải kể đến cả những học thuyết mà một số luận cứ chỉ nhằm đả kích những tín điều Kitô giáo. Sở dĩ Kitô giáo đã ảnh hưởng đến những triết thuyết vừa kể là bởi vì, nếu không có đức tin Kitô giáo, thì không có những luận cứ được đưa ra để đả kích nội dung đức tin Kitô giáo và cũng không có vấn đề nêu lên Kitô giáo mà các thuyết đả kích ấy lại không tìm cho ra một giải pháp ngược lại để phi bác, để phủ nhận.

Do đó, tôi nghĩ rằng, chẳng những muốn hiểu các tín lý, hiểu nền thần học Kitô giáo, những triết thuyết chịu ảnh hưởng Kitô giáo, những triết học xây dựng trên nền tảng Kitô giáo, mà ngay cả muốn hiểu những triết thuyết ở tây phương có tính cách đả kích Kitô giáo, thì cũng phải biết rõ nội dung Kitô giáo là gì.

Cũng xin nhắc lại, những cuộc trao đổi giữa tôi và các anh chị cũng không ngoài mục đích đó, vì vậy, sau này tôi sẽ dùng câu dùng câu, "Ánh sáng Kitô giáo chiếu rọi lên quan niệm nhân sinh vũ trụ này" và chữ "ánh sáng" ở đây không có nghĩa là những chân lý, do như tôi nói, có những triết thuyết nhằm đả kích Kitô giáo; chữ "ánh sáng" ở đây được hiếu theo nghĩa chỉ là rọi lên để cho thấy rõ hơn, thế thôi, bởi vì mục đích trao đổi giữa tôi và các anh chị không phải là thuyết giáo, biện giáo hoặc truyền giáo, nhưng chỉ trình bày một cách có thể nói là cố gắng khách quan hết mức có thể, hòng giúp các anh chị nắm được cốt lõi của đức tin Kitô giáo và ảnh hưởng của Kitô giáo trên lịch sử tư tưởng nhân loại, nhất là lịch sử tư tưởng Tây phương mà, dù muốn dù không, toàn thể nhân loại cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO (tiếp theo)

Không phải trước mặt các anh chị đây, mà có lẽ đa số là người Mác-xít, tôi đề cao sự phân tích tha hóa tôn giáo ấy đâu, nhưng thực ra, chính bản thân tôi cũng đã được phân tích của Karl Marx giúp cho thanh lọc đức tin lên cao hơn rất nhiều; lắm lúc tôi tự hỏi, nếu không biết Kitô giáo, thì mình có nắm được những gì chứa đựng trong phân tích của Karl Marx về tha hóa Kitô giáo hay không?

Ngược lại, nếu không phải là một tín hữu Kitô giáo và xa hơn nữa, có thể nói nếu không phải là một tín hữu Kitô giáo đã chìm sâu vào niềm tin của mình, liệu tôi có hiểu hết được những cái gì chứa đựng trong phân tích của Karl Marx về tha hóa tôn giáo hay không? Bởi lẽ hiểu cho hết được một sự tha hóa như vậy, không phải chỉ trên bình diện trí tuệ thuần túy mà được, nhưng cần phải có cả một triệu cảm thức, một triệu sống động của tất cả con người về mọi mặt mới được.

Đây là một suy nghĩ riêng tư của cá nhân tôi: có thể chính trong bản thân Karl Marx, dù rằng không phải là một tín hữu Do Thái giáo về mặt ý thức, nhưng trong tiềm thức là cả một truyền thống Do Thái giáo lưu thông trong huyết quản của đại triết gia ấy.

Sự tiếp cận giao thoa giữa Kitô giáo với các ngành tư tưởng nhân loại đang tiếp diễn, và tôi nghĩ sẽ còn tiếp diễn mãi và có thể sinh ra chưa biết những luồng tư tưởng nào trong lịch sử nhân loại trong tương lai. Ví dụ, trong nửa thế kỷ vừa qua có những nhà tư tưởng Kitô giáo tìm cách tiếp cận, hòa hợp nào đó với những nét khá căn bản của thuyết Mác-xít.

Ngược lại, cũng có những nhà tư tưởng Mác-xít tìm cách tiếp cận, thu thập những yếu tố khả dĩ chấp nhận nào đó của Kitô giáo, tạo thành những tổng hợp có thể nói là khá tân kỳ. Và chúng ta cũng biết, trong mấy chục năm vừa qua, những con người nỗ lực làm những cuộc tổng hợp tân kỳ ấy thường là những nạn nhân của việc tạm dứt phép thông công bởi giáo quyền chính thống.

Tôi chỉ xin kể tên những sự kiện ấy, chứ ở địa vị và trình độ hiểu biết của mình, tôi xin mạn phép các anh chị không nói lên những suy nghĩ riêng tư của tôi mà tôi nghĩ rằng không đủ trình độ cũng như chưa đủ chín chắn để trình bày với bất cứ ai; nhưng chúng ta có quyền có hướng về tương lai với một cái nhìn lạc quan, tin tưởng, cậy trông nào đó, vì tôi vẫn tin tưởng rằng, theo như châm ngôn của nhà đại bác học Pierre Teiihard de Chardin, "Những cái gì hướng thượng thì rồi cũng có lúc gặp nhau" - "Ce qui monte, converge".

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO (tiếp theo)

Bất luận dưới dạng nào đi nữa, thì trải qua hai mươi thế kỷ cho đến hiện nay và trong tương lai, việc tiếp cận nội dung đức tin Kitô giáo bằng tư tưởng loài người sẽ tiếp diễn và cũng sẽ có những pha gay cấn. Nhưng dù sao đi nữa, niềm tin Kitô giáo trong lịch sử đã là một kích thích đối với sinh hoạt tư tưởng của loài người, kích thích để đón nhận, để chịu sự chỉ huy, hướng dẫn cũng như kích thích để kịch liệt phản đối. Có nhiều trường hợp khó phân biệt là chính Kitô giáo ảnh hưởng lên tư tưởng nhân loại hay là ngược lại. Chính tư tưởng của các triết gia ảnh hưởng lên không phải là nội dung đức tin, nhưng là trên cách trình bày, cách lý giải đức tin của dân tộc Do Thái cũng như của tín hữu Kitô giáo.

Ngay thời Đạo Cũ, mặc dù xã hội dân Do Thái được tổ chức một cách chặt chẽ và khép kín, nhưng ở giữa những đế quốc có những văn hóa khá lẫy lừng thì không thể không có sự giao thoa văn hóa. Trong một số sách của bộ Kinh thánh mà chúng ta sẽ tìm hiểu, không thể phủ nhận những ảnh hưởng của những tư tưởng của các nền văn hóa Ba Tư, Hy Lạp, Ai Cập.

Ngược lại, có thể nói, trong học thuyết Tân Platon của Plotin [Plotinus (tiếng Hy Lạp: Πλωτῖνος (khoảng 204-270) là triết gia Hy Lạp cổ đại. Có ba nguyên lý cơ bản trong hệ thống nguyên lý của ông: Nhất thể, tâm trí và linh hồn. [1 ] Thầy của ông là Ammonius Saccas và ông là một người theo trường phái Platon. [2] Phần lớn các thông tin tiểu sử của Plotinus đều đến từ lời giới thiệu của Porphyry trong tác phẩm Enneads. Các tác phẩm triết học siêu hình của Plotinus là nguồn cảm hứng trong hàng thế kỷ đối với ngoại giáo, triết học Kitô giáo, triết học Do Thái, triết học Hồi giáo, siêu hình học ngộ đạo và huyền học. (Wikipedia)] ít nhiều chịu ảnh hưởng của đức tin Do Thái giáo, bởi vì một địa danh mà học thuyết Tân Platon khá phổ biến là thành Alexandria, kinh đô của Ai Cập, lại cũng chính là nơi dân Do Thái sang ngụ cư rất nhiều và đã khai sinh ra một nhà tư tưởng khá lớn, đó là Philon le Juif, "Philon người Do Thái" [Philon (26TCN - 50), cùng thời với Chúa Giêsu, nhưng không biết Chúa Giêsu, không thuộc vể hàng ngũ giáo phụ Kitô giáo, mà chỉ là triết gia Do Thái - Hy Lạp hóa, nhưng được các giáo phụ nhắc đến như hình ảnh tiêu biểu trong quá trình xây dựng thế giới quan nhất thần. Sau Philon các học thuyết bảo vệ nhất thấn giáo lần lượt ra đời, được biết đến dưới tên gọi Hộ giáo, hay đơn giản là Biện hộ (Apologetics)] còn gọi là Philon thành Alexandria. Tư tưởng gia này đã tạo nên một học thuyết kết hợp khá nhuần nhuyễn những phạm trù, những nguyên lý căn bản của tư tưởng Tân Platon và của nội dung đức tin của Do Thái giáo. Đương nhiên không cần phải nói đến những nhà tư tưởng như Augustinô, Tôma, Kierkegaard [Søren Kierkegaard là triết gia, nhà thần học, nhà thơ, nhà phê bình xã hội, và tác giả người Đan Mạch thế kỷ XIX. Kierkegaard thẳng tay phê phán triẽt học Hegel trong trong thời đại ông cũng như điều mà ông xem là hình thức rỗng tuếch cùa giáo hội Đan Mạch. Phẩn lớn nội dung các tác phẩm của Kierkegaard tập chú vào các vấn để tôn giáo như bản chất của đức tin, định mệnh], hoặc gần chúng ta đây như Gabriel Marcel [Honoré Gabriel Marcel (7/12/1889 - 8/10/1973) là một nhà triết học người Pháp, ông đã đưa ra khái niệm chủ nghĩa hiện sinh sau thế chiến I dù lúc đó ông còn là một người vô thần, ông là một nhà hiện sinh hàng đầu Kitô giáo, và là tác giả của khoảng 30 vở kịch, ông tập trung vào cuộc đấu tranh của cá nhân hiện đại trong một xã hội mất nhân tính công nghệ. Mặc dù thường được coi là hiện sinh Pháp đầu tiên, ông không liên hệ mình với các nhân vật như Jean-Paul Sartre, thay vì đó ông ưa thích thuật ngữ triết học hiện sinh để xác định tư tưởng riêng của mình. Le Mystère de l'être (Huyền nhiệm hữu thể) là một tác phẩm hai tập nổi tiếng của Marcel. Ngoài việc là một nhà viết kịch và triết gia, Marcel cũng là một nhà phê bình âm nhạc. (Wikipedia)], mà ngay cả những nhà tư tưởng phản đối kịch liệt đức tin Kitô giáo như Jean-Paul Sartre, Feuerbach [Ludwig Andreas Feuerbach (28/7/1804 - 13/12/1872) là nhà triết học người Đức. ông là một trong những nhà triết học lớn của triết học cổ điển Đức. Ông là học trò của Hegel và từng tham gia vào phái Hegel trẻ, mặc dù có chịu ảnh hưởng của Hegel nhưng những tư tưởng của ông khác hoàn toàn so với Hegel. Thứ nhất, về thế giới quan, ông là nhà triết học của duy vật, còn Hegel lại theo thuyết duy tâm. Theo Feuerbach, bản chất của thế giới là vật chất, giới tự nhiên không hề phụ thuộc vào con người, nằm ngoài tấm kiếm soát cùa con người, không do một ai sáng tạo ra và không ai có thể tiêu diệt được.] và thậm chí cả Karl Marx cũng một phần nào đối chiếu với đức tin Kitô giáo trong một tư thế nào đó, để đặt ra và giải quyết những vấn đề nhân sinh và vũ trụ.

Tôi xin đơn cử một điểm rất quan trọng của tư tưởng Karl Marx, đó là vấn đề tha hóa và nhất là vấn đề tha hóa tôn giáo. Tôi nghĩ rằng, trong một nền văn hóa chịu ảnh hưởng Khổng giáo và Lão giáo, hoặc ảnh hưởng Ấn Độ giáo, Phật giáo, thì không thể có một trí tuệ nào đi đến một phân tích sâu xa về tha hóa tôn giáo như Karl Marx. Đương nhiên, là một tín hữu Kitô giáo, tôi không đồng ý với kết luận của Karl Marx về phân tích tha hóa tôn giáo, nhưng tôi vẫn khẳng định đó là một phân tích sâu xa vào bậc nhất, khó có thể vượt qua được, về sự nguy hiểm của sự tha hóa trong bất cứ tôn giáo nào; nhưng tôi vẫn nghĩ, nếu không phải đối chiếu với một tôn giáo như Kitô giáo, thì khó lòng mà đào sâu được mối nguy hại tha hóa của các tôn giáo như Karl Marx đã làm.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Những tư tưởng chịu ảnh hưởng Kitô giáo (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỊU ẢNH HƯỞNG KITÔ GIÁO (tiếp theo)

Xin nhắc lại, đức tin Kitô giáo không phải là một lý tưởng, một chủ nghĩa, một học thuyết nhân bản, nhưng là một động tác cứu độ của Thiên Chúa, Cha chung của hết thảy mọi người, bất luận là ai.

Vì vậy, xin mạn phép các anh chị để nói lên rằng, niềm tin Kitô giáo đứng ngoài, đứng trên bất cứ ngọn cờ lý tưởng nhân bản nào, vì mang lại một Tin vui "từ trời xuống", giới thiệu một Con Người "từ trời xuống" để mang lại một tác động cứu độ "từ trời xuống", mà như chính Đức Giêsu đã nói lòng từ ái của Chúa Cha đổ xuống cho nhân loại, không phân biệt người lành kẻ dữ, kẻ sang người hèn, không phân biệt nòi giống, dân tộc, giai cấp, tư tưởng, thậm chí không phân biệt tôn giáo, khác nào nắng mưa trên trời đổ xuống không phân biệt bất cứ chủng loại cây cỏ hoa màu nào, không từ khước ai, mời gọi hết thảy mọi người đón nhận, duy chỉ có một điều, đó là không cưỡng bức, áp đặt người ta phải miễn cưỡng đón nhận.

Nội dung đức tin ấy có những sự kiện vượt quá kinh nghiệm và suy luận của con người, vì thế được gọi là những mầu nhiệm. Mầu nhiệm ở đây không có nghĩa là bí ẩn hiểm hóc, nhưng có nghĩa là "siêu việt", và có thể còn có nghĩa là sâu xa tận thâm căn của thân phận làm người cùng với những nỗi niềm của bất cứ con người nào về tất cả mọi bình diện, từ những dằn vặt, khắc khoải, âu lo miếng cơm manh áo, tình duyên dang dở cho đến những trăn trở đau xót của người dân mất nước, của một giai cấp bị bóc lột cũng như niềm phấn khởi của những người hăng hái đi theo những ngọn cờ lý tưởng đã hướng dẫn nhân loại trong những trang sử đầy vinh quang, đầy nhục nhã, đầy phấn khởi nhưng cũng đầy máu lệ.

Những điều được tin ta cứ gọi là tín điều, trong bản chất là những "tín sự", tức là những sự kiện, dưới dạng cá nhân cũng như dưới dạng tập thể, dưới dạng tiểu sử cũng như dưới dạng lịch sử của từng cộng đoàn cũng như của toàn thể nhân loại; và thường thì đi đến đâu, những người đón nhận Tin vui hầu hết là thuộc về thành phần thấp kém trong xã hội, sau đó cùng với thời gian mới lần lần chuyển ngược lên đến giai cấp tạm gọi là thượng lưu, ưu tú. Và khi mà những con người có suy nghĩ đưa những sự kiện, những tín điều ấy đối chiếu với những vấn đề do vũ trụ do nhân sinh đặt ra, những vấn đề đã được các đầu óc của nhân loại giải quyết, trình bày qua không biết bao nhiêu là học thuyết, chủ nghĩa, thì tất nhiên có một sự đối diện có thể có ảnh hưởng hai chiều, có thể có những kết hợp nhuần nhuyễn, nhưng cũng có thể có những đối kháng gay gắt.

Những hiện tượng đụng chạm, tiếp cận nhuần nhuyễn hoặc đối kháng ấy không phải chỉ diễn ra giữa những người tín hữu và những người không phải là tín hữu, song có thế diễn ra ngay chính trong tâm trí của những tín hữu có trình độ trí thức, có những băn khoăn khắc khoải đối với tất cả mọi vấn đề về nhân sinh và vũ trụ, và có nhiều khi nêu lên những vấn đề không thể nào giải quyết được một cách ổn thỏa.

Tôi xin lấy ví dụ những vấn đề như làm thế nào để giải quyết ổn thỏa giữa một bên mọi sự đều do ân sủng của Thiên Chúa và một bên mọi sự đều do tự do của con người, đến nỗi một đầu óc có thể nói được là ở một đỉnh cao trí tuệ của dân tộc Pháp như Giám mục Bossuet [Jacques-Bénigne Lignel Bossuet (27/9/1627 - 12/4/1704) Giám mục và là Thần học gia người Pháp. Nổi tiếng với những bài giảng, bài phát biểu và tác phẩm văn học, ônq được coi là một trong những nhà hùng biện xuất sắc nhất mọi thời đại và là bậc thầy điển hình về văn chương Pháp. (Dịch từ nguồn Wikipedia tiếng Anh)] đã nói, hai vấn đề đó thì chúng ta đành phải cầm như cầm hai đầu mối của một sợi dây và không biết chúng tiếp nối nhau được ở điểm nào; hoặc là, ví dụ như tín điều Thiên Chúa tạo dựng vạn vật từ hư vô và loài thụ tạo thì hoàn toàn khác với bản thể của Ngài. Chỉ một ý niệm từ không mà nên có đã là một câu hỏi hóc búa và trí tuệ con người chẳng thể nào có cách giải đáp được; hoặc nữa là tín điều có sự hiện diện đích thực của Mình và Máu Đức Giêsu trong Bí tích Thánh Thể đã được đầu óc xuất chúng của một nhà Khoa học và là triết gia, Descartes, loanh quanh, lúng túng rồi cuối cùng cũng đi đến chỗ bế tắc mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.