Thứ Tư, 31 tháng 1, 2024

Bậc cầu nguyện thứ ba

 


CHƯƠNG 16

Mẹ thánh để cập đến bước cầu nguyện thứ ba và những vấn đề rất cao siêu. Nói đến những linh hồn đã đạt tới bậc này có thể làm gì và những hậu quả mà hồng ân cao cả này của Chúa tác tạo. Giáo thuyết này rất thuận lợi nâng tâm trí lên chúc tụng Thiên Chúa và an ủi kỳ diệu những ai đã tới bậc này.

***

Bây giờ chúng ta nói đến loại nước thứ ba dùng để tưới vườn – tức là nước được dẫn từ sông hay suối chảy vào vườn. Dầu có phải vất vả phần nào để điều hướng, thì việc dẫn thuỷ nhập vườn này cũng đỡ mệt nhọc hơn nhiều. Bây giờ Chúa muốn tận tình giúp đỡ người làm vườn đến nỗi như chính Ngài làm vườn, và làm hết mọi việc. Trạng huống này thật là giấc ngủ của các tài năng. Các tài năng không mất khả năng hoạt động hoàn toàn mà vẫn không hiểu mình hoạt động như thế nào. Niềm vui, sự ngọt ngào và hoan lạc vượt xa bậc cầu nguyện trước một cách khôn sánh, vì nước ân sủng dâng lên tràn ngập tâm hồn, khiến nó không thể tiến lên mà không biết vì sao, mà cũng không thể lùi lại được. Nó đắm đuối hưởng vinh quang vô biên này. Linh hồn giống như người tay cầm nến bước vào cái chết mình mong mỏi. Trong cơn hấp hối (diễm phúc) đó, linh hồn tận hưởng niềm vui sướng không lời diễn tả. Theo tôi tâm trạng đó chẳng là gì khác hơn cái chết hoàn toàn đối với mọi sự đời này và là một cuộc toại hưởng Thiên Chúa. Tôi không còn ngôn từ nào khác để diễn tả nữa. Linh hồn cũng không biết làm gì cả. Không biết nên nói hay nên im lặng, nên cười hay nên khóc. Đó là tình trạng ngớ ngẩn hiển vinh, một sự điên dại thiên đàng, trong đó linh hồn chiếm hữu được sự khôn ngoan chân thật, và là một thứ toại hưởng làm cho linh hồn nếm được hạnh phúc cực lạc.

2. Tôi nghĩ cho tới nay là đã năm hay sáu năm kể từ khi Chúa ban cho tôi dư tràn ơn cầu nguyện này và đã ban cho tôi nếm hưởng nhiều lần, mà tôi vẫn không bao giờ hiểu được và cũng chẳng biết diễn tả làm sao. Bởi vậy tôi định là khi viết tới đây tôi sẽ chỉ nói rất ít hay sẽ chẳng nói gì cả. Tôi nhận thức rất rõ là các tài năng không hoàn toàn kết hiệp với Thiên Chúa. Nhưng tôi vẫn nhận thức minh bạch là sự kết hiệp này có phần hoàn hảo hơn trong bậc cầu nguyện trước. Nhưng tôi thú thực không thể xác định cũng không thể hiểu sự khác biệt này ở tại chỗ nào. Tôi tin chính vì sự khiêm nhường của cha bằng lòng để cho sự đơn sơ quá cỡ của con hỗ trợ, nên hôm nay, sau khi con rước lễ, Chúa đã ban cho con ơn cầu nguyện này. Người đã cầm con lại đây, nêu lên trước mắt con những lối so sánh và đã dạy con cách thức diễn tả tất cả sự kiện này. Thực sự con rất ngạc nhiên vì chỉ trong giây lát con hiểu được mọi sự. Con thường mê man và say sưa trong tình yêu này, nhưng con vẫn chưa bao giờ có thể hiểu được bản chất của nó cả. Con nhận biết rằng tình yêu này do Thiên Chúa ban, nhưng con người không thể hiểu được cách thức Chúa hành động. Vì sự thật là các tài năng hầu như hoàn toàn kết hiệp với Người, nhưng không bị thu hút quá nhiều đến nỗi không còn hành động được nữa. Con sung sướng quá, vì sau cùng con đã hiểu được tất cả. Chúc tụng Chúa, Đấng đã ban cho con niềm an ủi này!

3. Các tài năng chỉ còn lại một sự tự do duy nhất là hoàn toàn sống với Thiên Chúa. Dường như không một tài năng nào dám chuyển động. Chúng cũng không có thể chuyển động tài năng nào. Dầu có cố gắng xao lãng, tôi nghĩ chúng ta cũng không thể thành công hoàn toàn. Suốt trong tình trạng này, người ta nói nhiều để tán dương Chúa một cách tự do, trừ khi Chúa khiến cho có trật tự. Linh hồn muốn cao rao chúc tụng Chúa. Linh hồn như xuất thần ở vào trạng thái sôi động khoái lạc. Các bông hoa đã nở và toả hương thơm ngát. Bây giờ linh hồn muốn mọi người chiêm ngắm mình, nhận ra vinh dự của mình mà chúc tụng Thiên Chúa và giúp đỡ mình hát ca chúc tụng Người. Linh hồn muốn san sẻ hạnh phúc này cho kẻ khác; một mình, linh hồn không sao hưởng hết. Linh hồn giống như người thiếu phụ được nói đến trong Phúc âm, bà ta muốn hay đã thực sự mời các bạn láng giềng đến chia vui với bà (Lc. 15,9). Tôi nghĩ những tâm tình này hẳn phải là tâm tình của thánh vương Đavít khi ngài nẩy khúc hạc cầm chúc tụng Thiên Chúa. Tôi rất sùng kính vị vua này và tôi ước ao mọi người, nhất là những ai là những tội nhân cũng hãy sùng kính ngài.

4. Ôi lạy Chúa, một linh hồn ở tình trạng nào có biết bao cảm hứng! Nó muốn được hoá thành toàn lưỡi để chúc tụng Chúa. Nó nói lên ngàn điều hoan lạc điên dại hầu làm hài lòng Đấng đang chiếm hữu nó. Tôi biết một người, dầu không phải là thi sĩ, mà trong khoảnh khắc này đã sáng tác được những vần thơ trữ tình và diễn tả nỗi bất lực của lòng mình một cách đáng thán phục (chính thánh nữ). Những vần thơ ấy không xuất phát từ kiến thức, nhưng để thưởng thức thâm trầm hơn phúc lạc mà nỗi cực lòng khoái lạc kia đã gây nên mà linh hồn thốt ra những lời than phiền với Chúa đó thôi. Bà sẽ rất sung sướng nếu cả hồn lẫn xác đều tan rã để chứng tỏ nỗi cực lòng này gây nên niềm vui dường nào. Vào những lúc ấy, được chịu cực hình vì Chúa thì êm ái biết bao! Bà biết rõ rằng khi các đấng tử đạo chịu khổ hình, thì các đấng chẳng phải tự mình chịu đau đớn, vì sức mạnh của các ngài đến từ nơi đâu bên ngoài mình. Nhưng linh hồn sẽ cảm thấy khổ cực biết bao khi thấy mình phải trở lại sống cuộc sống trong trần gian, phải trở về với những bận rộn lo lắng, với những thể thức bề ngoài! Tôi nghĩ tôi đã không phóng đại tí nào; mà đúng hơn, tôi đã không diễn tả đầy đủ niềm vui Chúa muốn cho linh hồn cảm nghiệm trong khi còn ở chốn lưu đày này. Lạy Chúa, chúc tụng Chúa đời đời. Mọi tạo vật hãy chúc tụng Chúa đời đời. Lạy Hoàng Đế của con, con  khẩn xin Chúa, bây giờ đây, khi viết những hàng này, vì lòng nhân hậu và xót thương của Chúa, xin truyền cho con đừng ra khỏi cơn điên thiên đình thánh thiện này – dầu con bất xứng, Chúa cũng đã ban cho con hồng ân này, xin cho cả những người con sẽ giao tiếp với, cũng trở nên điên dại vì mến Chúa; nếu không, xin đừng để con chia sẻ cùng ai, đừng dính líu gì giữa thế trần, hay xin Chúa cất con ra khỏi thế gian này. Lạy Thiên Chúa của con, tôi tớ Chúa đây không còn thể chịu đựng được thứ cực hình là thấy mình không có Chúa. Và nếu phải sống thì nó không còn muốn an nghỉ ở đời này nữa. Xin Chúa cũng đừng để con an nghỉ. Linh hồn này sẽ sung sướng thấy mình được dứt khỏi ràng buộc. Ăn uống là giết nó, ngủ nghỉ chỉ là phiền muộn. Nó nhận thấy sống là để hưởng thự, nhưng chẳng có gì có thể an ủi nó ngoài Chúa. Nó có cảm tưởng sống trái nghịch với bản tính của mình, vì nó không còn muốn sống cho chính mình mà chỉ sống cho Chúa.

5. Ôi lạy Chúa chân thật và là vinh quang của con, Chúa đã chuẩn bị một thánh giá kỳ lạ - vừa nhẹ mà cũng nặng nề làm sao – cho những ai đạt tới trình trạng này! Nhẹ, vì nó êm ái. Nặng vì có những lúc không còn kiên nhẫn chịu đựng được nữa, nhưng linh hồn vẫn không bao giờ muốn thoát khỏi thánh giá ấy trừ khi là thấy mình được ở với Chúa. Khi nó nhớ rằng mình vẫn chưa phục vụ Chúa được là bao, và biết: bao lâu còn sống giữa trần gian, mình còn có thể phục vụ Chúa thì nó ước mong được vác thánh giá nặng nề hơn nữa và muốn cứ sống mãi cho tới ngày thế mạt. Nó không tìm nghỉ ngơi cho riêng mình, nếu có thể phục vụ Chúa được chút ít. Nó không biết phải ước muốn gì, nhưng lại biết rõ mình chẳng muốn gì khác ngoài Chúa.

6. Ôi con của mẹ! Người được mẹ gửi gắm những trang viết này và cũng là người truyền cho mẹ viết, người khiêm nhường đến nỗi muốn được gọi như vậy (cha Phêrô Ibanez). Có lẽ chỉ một mình cha thấy một vài điều con viết vượt quá giới hạn của riêng con! Vì con không mạnh đủ để kìm hãm những tâm tư chứa chất trong mình, khi Chúa cho con siêu thoát khỏi chính mình con. Con tự hỏi phải chăng là chính con nói từ lúc rước lễ sáng nay đến giờ? Những gì con thấy thì như mơ màng và con muốn cho tất cả những ai con trông thấy cũng đều được chịu một nỗi khổ như con chịu bây giờ đây. Con xin cha, tất cả chúng ta hãy nên điên dại vì mến Đấng đã bị người ta gọi là điên dại vì yêu chúng ta. Cha nói rằng cha đã đem lòng yêu mến con, thì con muốn cha tỏ điều ấy ra bằng cách dọn mình để Chúa ban cho cha hồng ân này. Vì con thấy rất ít người khôn ngoan đủ để làm những gì là lợi ích cho mình. Dĩ nhiên có thể con còn dại dột hơn bất cứ ai khác. Cha không được để cho con dại dột như vậy. Cha là vị giải tội cho con, là cha của con và con đã uỷ thác linh hồn con cho cha. Vậy hãy giác ngộ con, hãy nói cho con sự thật, vì người ta nói rất ít đến những gì là sự thật.

7. Con ước mong chúng ta cả thảy là năm người, hiện thời chúng ta yêu mến nhau trong Đức Kitô, có thể cùng kết ước với nhau.Cũng như những người khác trong những thời trước đây đã kín đáo gặp gỡ nhau để mưu đồ những hành động gian ác và lập tà thuyết chống lại Thiên Chúa, thì đôi khi chúng ta cũng cố gặp gỡ nhau để soi sáng và khuyến khích nhau, chỉ bảo và sửa chữa cho nhau hầu có thể làm vui lòng Thiên Chúa hơn. Vì không ai biết chính mình rõ cho bằng người khác trông vào họ với tình thương mến và lo lắng giúp đỡ họ. Con nói “một cách kín đáo” bởi vì trào lưu nói lên sự thật không còn thông dụng nữa. Cả các nhà giảng thuyết ngày nay cũng phải lựa lời lẽ để khỏi gây mích lòng. Đã hẳn các ngài có ý ngay lành và công việc các ngài làm cũng tốt nữa, nhưng chẳng hướng dẫn được mấy ai sửa đổi cuộc sống. Tại sao các bài giảng không hướng được nhiều người chừa bỏ tội công khai như thế? Cha có biết con nghĩ gì không? Con nghĩ chính vì các nhà giảng thuyết đã quá khôn ngoan theo thế gian. Các ngài không giống các thánh tông đồ (là những người), liệng tất cả thứ khôn ngoan đó qua một bên mà chỉ bùng cháy lửa tình yêu Thiên Chúa. Bởi vậy ngọn lửa của (các nhà giảng thuyết ngày nay) toả ra ít sức nóng. Con không đòi các ngài phải bừng cháy lửa mến như các Thánh Tông đồ; nhưng con được phép mong muốn nó phải nóng nảy hơn là con thấy (bây giờ). Cha có biết mối bận tâm hơn hết của chúng ta phải là cái gì không? Là khiếp sợ cuộc sống và chẳng màng chi tới thanh danh. Miễn sao điều chúng ta nói là thật và để làm vinh danh Thiên Chúa, còn chúng ta mất tất cả hay được tất cả thì có hệ chi. Ai thực sự can đảm phụng sự Chúa trong mọi sự, thì đều dửng dưng với cả vấn đề mất lẫn được. Con không nói con thuộc loại người đó, nhưng con rất mong được như thế.

8. Ôi chúng ta hưởng thứ tự do cao cả biết bao! Sự tự do đó làm cho chúng ta coi việc phải sống là phải hành động theo luật lệ của trần gian như ách nô lệ! Sự tự do của chúng ta là do Chúa ban cho. Và không có một người nô lệ nào lại không liều (bỏ) mọi sự để chuộc lấy mình và trở về sinh quán của mình. Vì đây là con đường chân thật, thì không có lý do nào để cứ kéo lê trên đó. Chúng ta chỉ chiếm hữu hoàn toàn kho tàng phong phú ấy lúc chúng ta kết thúc cuộc đời. Nguyện xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng ta đạt tới chỗ tận cùng này. Những gì con đã viết mà cha thấy xé đi là tốt hơn, thì cha cứ xé đi. Trong trường hợp ấy, cha hãy coi nó như một lá thư con viết cho chính cha và hãy tha thứ cho con vì con đã táo bạo như vậy. 

(Còn tiếp)
- Trích trong tác phẩm “Tiểu Sử Tự Thuật Thánh Teresa thành Avila”

Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2024

Lời của Trời


 “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”

Ga 1, 14.

LỜI CỦA TRỜI
“Thiên hà ngôn tai – Trời có nói gì đâu!” Khổng Tử.
Trời xưa nào có nói chi,
Bỗng chốc lên tiếng khác gì phàm nhân.
Trời xa nay quá sức gần!

Thứ Năm, 25 tháng 1, 2024

Bậc cầu nguyện thứ hai (Tiếp theo)

 


CHƯƠNG 15

Người tiếp tục đề tài và khuyên linh hồn phải xử sự thế nào trong bậc cầu nguyện Yên Tĩnh này. Người phàn nàn vì có nhiều linh hồn đạt tới bậc cầu nguyện này nhưng có ít người tiến xa hơn được. Những vấn đề nói đến ở chương này rất cần thiết và hữu ích.

***

Bây giờ trở lại đề tài. Sự yên tĩnh và hồi tâm này là điều mà linh hồn cảm thấy một cách sâu đậm do sự thoả mãn và sự bình an nó vui hưởng. Đồng thời nó cũng cảm thấy rất hài lòng, thấy được sự an nghỉ của các quan năng và một niềm vui thoả ngọt ngào. Vì chưa bao giờ linh hồn được hưởng ơn siêu vời hơn, nên nghĩ rằng không còn gì để mong ước nữa và như Thánh Phêrô, linh hồn ước được dựng lều ở đây (Mt 17.4). Nó không dám nhúc nhích động cựa gì, đôi khi còn như không dám thở nữa, vì sợ làm như vậy ơn trọng này có thể bay biến mất. Linh hồn đáng thương này không hiểu rằng tự mình, nó không thể làm được gì để chiếm hữu, thì lại càng không thể cầm giữ ơn ấy lâu hơn khoảng thời gian Chúa cho nếm hưởng. Tôi đã nói trong trình độ hồi tâm và yên tĩnh thứ nhất này, các quan năng của linh hồn không mất. Nhưng linh hồn được phỉ lòng trong Chúa đến nỗi dầu hai quan năng kia (trí nhớ và trí hiểu) có thể hướng ngoại; nhưng bao lâu ý chí còn trầm mặc kết hợp với Thiên Chúa, thì chẳng những linh hồn không mất sự yên tĩnh và nghỉ ngơi mà lần lần ý chí còn làm cho trí hiểu và trí nhớ hồi tâm lại nữa. Vì mặc dầu ý chí vẫn chưa hoàn toàn bị thu hút trong Chúa, nhưng nó vẫn bị lôi cuốn, không biết làm sao, đến nỗi trí hiểu và trí nhớ có cố gắng đến thế nào cũng không thể tước đoạt sự phỉ lòng và hoan hưởng của nó. Thực sự linh hồn chẳng phải vất vả gì để giữ cho tia lửa mến nhỏ bé này khỏi bị giập tắt.

2. Nguyện xin Chúa ban cho con ơn để diễn tả sự kiện này một cách rõ ràng. Vì có nhiều linh hồn đạt tới trình độ này mà có ít người tiến xa hơn được, và tôi không biết lỗi tại ai. Chắc chắn không phải tại Thiên Chúa; vì khi Chúa đã cho chúng ta ơn để tiến tới mức này rồi, thì tôi tin rằng Người sẽ không từ khước ban cho chúng ta nhiều ơn hơn nữa, trừ phi là tại lỗi chúng ta. Vậy điều rất quan trọng đối với linh hồn đã đạt tới trình độ này là phải nhận biết giá trị cao trọng của bậc này và nhận biết sự cao cả của những hồng ân Chúa đã ban cho mình. Vậy theo đúng lý, nó không còn thuộc về trái đất nữa, nhưng dường như lòng Nhân Hậu của Người đã nhận nó từ nay làm công dân của thiên đàng, trừ phi là lỗi tại nó. Nếu một linh hồn diễm phúc như vậy lại quay gót trở lại, thì thật khốn nạn biết bao. Nếu nó quay trở lại, tôi nghĩ nó sẽ theo triền núi mà lao xuống vực thẳm như lẽ ra tôi đã lao xuống, nếu lòng Thương Xót Chúa đã không cứu tôi. Vì tôi nghĩ cứ sự thường, đó phải do những lỗi nặng. Không thể mất đi ơn trọng đại như thế nếu không tại sự mù quáng kinh khủng do sự dữ nặng nề gây nên. 

3. Bởi thế, vì mến Chúa, tôi khấn xin những linh hồn đã được Chúa ban cho đặc ân đạt tới trình độ này, hãy học biết chính mình, hãy biết tự trọng dựa vào lòng tự hào khiêm tốn và thánh thiện, để không còn trở lại với những nồi thịt của nước Ai cập nữa. Và nếu vì yếu đuối, quen thói hư hỏng và vì cái bản chất cùng khốn của mình mà họ sa ngã như tôi đã sa ngã, thì hãy luôn hối tiếc sự lành đã mất, hãy giữ mình cho khỏi phạm tội và hãy sống trong niềm âu lo và kính sợ, vì họ rất có lý để sợ. Lại nếu không cầu nguyện trở lại, họ sẽ đi từ chỗ xấu đến chỗ tồi tệ. Điều gì làm chúng ta ghét con đường đã dẫn đưa chúng ta tới chỗ được ơn trọng đại này thì tôi cho đó là sự sa ngã thực sự. Khi nói về các linh hồn này, tôi không nói là họ sẽ không còn xúc phạm đến Thiên Chúa và không còn sa phạm tội nữa. Ai đã bắt đầu nhận những hồng ân này phải giữ mình cẩn thận để khỏi sa ngã, vì chúng ta là những tội nhân khốn nạn. Điều tôi tha thiết khuyên họ làm là đừng bỏ cầu nguyện, vì cầu nguyện sẽ soi sáng cho họ biết việc mình đang làm. Chúa sẽ ban cho họ lòng thống hối và sức mạnh để lại chỗi dậy. Họ phải tin, phải cứ tin rằng nếu họ không cầu nguyện họ sẽ lao vào nguy hiểm (tôi nghĩ như vậy). Tôi không chắc tôi có hiểu điều tôi nói hay không, vì như tôi đã nói, tôi phán đoán theo kinh nghiệm riêng của tôi thôi. 

4. Vậy bậc cầu nguyện này là một tia nhỏ của tình mến Thiên Chúa mà Người bắt đầu nhóm lên trong linh hồn, vì ý Người muốn là linh hồn phải hiểu bản chất của tình yêu đầy khoái cảm này. Sự hồi tâm và yên tĩnh này – tia nhỏ này – nếu là do Thần Linh Thiên Chúa nhóm lên chứ không phải là vui thú do ma quỉ hay do chúng ta tạo ra, thì không phải là một cái gì có thể chiếm hữu được, ai đã có kinh nghiệm sẽ nhận ra ngay. Nhưng vì bản tính của chúng ta rất mong mỏi được cảm nghiệm khoái lạc, nên nó cố gắng nắm giữ tất cả những vui thú nó có thể nắm lấy được. Nhưng không bao lâu nó lại trở nên rất lạnh lẽo. Vì dầu có cố gắng vất vả đến thế nào để đốt lửa lên mà nếm hưởng niềm vui này, thì dường như chúng ta cũng chỉ đổ nước vào giập tắt lửa đi thôi. Còn khi tia lửa nhỏ này – dù nhỏ đến thế nào – là do Thiên Chúa nhóm lên trong chúng ta, thì nó sẽ gây một tiếng vang lớn; và nếu chúng ta không giập tắt nó đi vì lỗi lầm, thì chính tia lửa này bắt thành đám cháy lớn (khi nào thích hợp tôi sẽ nói), sẽ tung ra những ngọn lửa mến Chúa nồng nàn mà Chúa dùng để đốt những linh hồn hoàn thiện. 

5. Thiên Chúa ban tia lửa này cho linh hồn như một dấu hiệu hay một bảo chứng rằng Người đã chọn nó cho những công cuộc trọng đại nếu nó sẵn lòng lãnh nhận. Đó là một ân huệ cao siêu, cao siêu hơn tôi có thể nói lên nhiều. Nói đến đây tôi rất buồn, vì như tôi đã nói, tôi biết có nhiều linh hồn đã đạt tới cao độ này và tôi cũng biết có rất ít người, tiến xa hơn như họ phải tiến, tôi phải xấu hổ mà nói lên điều đó. Tôi không có ý nói là thực sự có ít người vượt qua trình độ này, chắc hẳn là cũng phải có nhiều, vì Thiên Chúa nâng đỡ chúng ta thì Người cũng nhằm mục đích nào đó. Tôi chỉ nói những gì tôi đã chứng kiến. Tôi tha thiết khuyên những người như vậy hãy cẩn thận, đừng chôn vùi nén bạc đã lãnh nhận. Vì dường như Thiên Chúa đã muốn chọn họ để làm ích cho nhiều người, nhất là những thời buổi này, Người cần các bạn hữu của Người phải mạnh mẽ để họ có thể nâng đỡ những người yếu đuối. Những ai nhận thấy mình có ơn này hãy coi mình như bạn hữu của Người, nếu họ có thể chu toàn được những nghĩa vụ mà ngay trần gian cũng đòi hỏi nơi bạn hữu chân thành. Nếu không thì như tôi vừa nói, họ hãy run sợ kẻo họ làm hại chính mình – và xin Thiên Chúa để cho sự ấy chỉ xảy ra cho chính mình họ thôi. 

6. Điều linh hồn phải làm vào thời gian ở bậc Yên Tĩnh này là bước đi cách dịu dàng, không khua động. Tiếng động ở đây có nghĩa là lý trí lo tìm ra lời lẽ và suy tư để cảm tạ về ơn huệ này, và cố tìm ra từng đống tội lỗi và khuyết điểm của mình, dường như để làm cho mình nhận ra mình bất xứng với ơn huệ ấy. Chính đây là lúc mọi náo động diễn ra: lý trí trưng ra những suy luận và trí nhớ trở nên hoạt động – đôi khi chính tôi thấy những quan năng này thực sự làm tôi mỏi mệt. Vì dầu trí nhớ của tôi rất yếu, tôi cũng không có thể chế ngự được nó. Ý chí phải trầm tĩnh và khôn ngoan. Phải nhận thức rằng chúng ta không thể dùng cố gắng riêng để thương lượng hữu hiệu với Thiên Chúa và rằng những xáo động này giống như những khúc gỗ khổng lồ người ta chất đống lên một cách bất cẩn sẽ chỉ giập tắt tia lửa này thôi. Linh hồn hãy nhận biết như thế và với tất cả lòng khiêm tốn hãy thân thưa với Chúa: Lạy Chúa, con có thể làm gì ở đây? Có tương quan gì giữa tớ và Chủ, giữa đất với Trời? Hãy thốt lên những lời yêu mến xuất hiện trong trí với sự ý thức chắc chắn điều mình nói là đúng là đừng quan tâm tới lý trí lúc này chỉ phá rối thôi. Có lẽ ý chí muốn thông đạt niềm vui cho lý trí và lôi cuốn nó hồi tâm lại (vì ý chí thường kết hiệp trong trạng thái yên tĩnh). Còn lý trí lại quá bị rối loạn, thì cứ để kệ nó lại tốt hơn là cố gắng cầm giữ nó. Ý chí hãy cứ tiếp tục nếm hưởng hồng ân, và hãy trầm tĩnh như con ong nhỏ khôn ngoan, vì nếu không có ong vào tổ, mà tất cả đều bay ra thì có rất ít hy vọng làm nên mật. 

7. Nếu không cẩn thận về điểm này linh hồn sẽ thiệt hại rất nhiều, nhất là nếu lý trí lại lanh lợi, thì kết quả sẽ là: khi tự nói với mình và tìm ra những tư tưởng, thì tức khắc nó sẽ tự tưởng tượng là mình đã làm được chút chi có giá trị nhất là khi mà những diễn từ và lý lẽ lại có vẻ hào nhoáng. Tất cả những gì mà lý trí phải làm trong tình trạng này là hãy biết rằng ngoài lòng nhân hậu của Chúa, thì không vì lý do nào khác mà Thiên Chúa ban cho chúng ta hồng ân trọng đại như vậy cả. Hãy ý thức rằng chúng ta rất gần gũi Chúa, hãy khẩn xin Người ban các ơn, hãy cầu nguyện cho Hội Thánh, cho những người xin ta cầu nguyện, và cầu xin cho các linh hồn nơi luyện ngục. Nhưng không cần nhiều lời, chỉ thành tâm ước muốn Chúa nhận lời chúng ta. Đó là lời cầu nguyện bao gồm rất nhiều ý nguyện và hữu hiệu hơn những mớ suy tư của lý trí. Để thúc đẩy tình yêu, ý chí hãy khơi động trong tâm tư một vài tư tưởng, nó sẽ hiển hiện khi linh hồn thấy minh được ở trong tình trạng tiến triển như thế. Cũng hãy làm một vài tác động yêu mến tương quan với điều nó muốn làm vì Đấng và cho Đấng mà nó mang ơn biết bao, nhưng không để cho lý trí làm gì ồn ào, như tôi đã nói, để tìm kiếm những suy tư hào nhoáng. Ở đây, với lòng khiêm nhường, chúng ta tiếp vào ít cọng rơm nhỏ là thích hợp (nhưng gì chúng ta tiếp vào thì còn kém giá trị hơn cả rơm rạ nữa), và hữu hiệu để đốt lửa hơn là một đống gỗ - nghĩa là những lý luận uyên thâm nhất – theo thiển ý chúng tôi, đống gỗ này sẽ làm tắt lửa (thần linh) trong khoảnh khắc. Nhận xét này sẽ hữu ích cho những người thông thái, là những vị truyền cho tôi viết đây. Vì nhờ lòng nhân hậu của Thiên Chúa, tất cả các ngài đều sẽ đạt tới trình độ này, và có thể là các ngài sẽ mất thời giờ đem Thánh Kinh áp dụng vào đây. Mặc dầu họ không gặp khó khăn gì trong việc sử dụng kiến thức của mình trước và sau khi cầu nguyện, nhưng theo ý tôi, trong chính quãng thời gian cầu nguyện, họ sẽ chẳng cần bao nhiêu đến những kiến thức đó, khi mà nó chỉ làm cho ý chí ra nguội lạnh. Vì vào những lúc đó, được gần ánh sáng, lý trí sẽ rất sáng suốt, nên chính tôi, dù tối tăm, thì dường như cũng hoàn toàn ra khác hẳn. 

8. Bởi vậy, mặc dầu tôi hiểu rất ít kinh nguyện bằng tiếng Latinh, nhất là các Thánh vịnh; nhưng khi ở bậc cầu nguyện Yên Tĩnh này, thì không những tôi hiểu được đoạn văn như hiểu tiếng bản địa mà còn sung sướng thấy rằng tôi có thể đi sâu vào ý nghĩa trong bản văn của bản kinh nữa. Đây tôi không có ý nói đến những hoàn cảnh các nhà thông thái phải thuyết giảng hay dạy dỗ, vì khi ấy họ cần lợi dụng kiến thức để dạy dỗ những người dốt nát đáng thương như tôi, vì đức ái là quan trọng và sự luôn lo cho các linh hồn cũng vậy, khi mà đảm nhiệm việc ấy chỉ đơn thuần là hoàn toàn vì Chúa. Vậy trong thời kỳ cầu nguyện Yên Tĩnh này, hãy để cho linh hồn nghỉ ngơi. Các ngài hãy để kiến thức qua một bên, sẽ đến lúc các ngài phải sử dụng kiến thức để phục vụ Thiên Chúa và khi ấy hãy hết sức quí chuộng nó, đến nỗi dù phải tốn hao những kho tàng lớn lao để chiếm hữu nó, chỉ vì các ngài có thể sử dụng nó để phục vụ Chúa và vì thấy nó rất hữu ích cho mục đích này. Nhưng hãy tin tôi, trước tôn nhan Đấng Khôn ngoan vô cùng thì học được một chút khiêm tốn và chỉ một tác động khiêm tốn còn có giá trị hơn tất cả mọi hiểu biết ở trần gian này. Vì thế trong bậc này không có chỗ cho biện luận, mà chỉ chân thành nhận biết thực trạng của chúng ta trước nhan Thiên Chúa. Người muốn linh hồn trở nên khờ dại, vì thực sự chúng ta là kẻ khờ dại trước mặt Người. Chỉ vì sự khiêm nhường vô biên của Người, Người chịu đựng cho chúng ta, với tất cả thực chất của chúng ta, ở gần Người. 

9. Lý trí bây giờ cũng linh hoạt và không ngừng cảm tạ bằng những tư tưởng, ngôn ngữ cao đẹp. Còn ý chí lại trầm ngâm như người thu thuế không dám ngước mắt lên, nhưng vẫn cảm tạ có lẽ còn nồng nàn hơn cả khi lý trí sử dụng hết tài lợi khẩu. Tóm lại, không được bỏ hẳn tâm nguyện và cả khẩu nguyện nữa, nếu chúng ta muốn trở lại với khẩu nguyện và khi có thể. Vì nếu tình trạng cầu nguyện Yên Tĩnh sâu đậm, thì rất khó nói ra tiếng, trừ khi là phải hết sức gắng gượng. Theo tôi nghĩ, có thể nói được là tâm trạng này do Thần Linh Thiên Chúa điều động hay là chỉ do lòng sốt sắng Chúa ban lúc đầu, rồi chúng ta gắng đạt tới bậc này do sức riêng của chúng ta. Trong trường hợp thứ hai này chúng ta cố gắng đạt tới trình độ ý chí yên tĩnh do sức riêng, như tôi đã nói, thì không đi đến hậu quả nào cả. Mọi sự mau chóng qua đi và chúng ta lại rơi vào tình trạng khô khan như trước. Còn nếu là do ma quỉ, thì tôi nghĩ một linh hồn có kinh nghiệm sẽ nhận ra được, vì nó để lại sự bối rối, rất ít khiêm nhường và linh hồn không ngoan ngoãn tương xứng với những hậu quả của bậc cầu nguyện như vậy do Chúa ban. Nó không soi sáng trí khôn, cũng không làm vững mạnh ý chí. 

10. Trong trường hợp như vậy, nếu linh hồn qui hướng niềm vui, sự ngọt ngào mình cảm nghiệm về Thiên Chúa, và hướng hết tư tưởng, ước muốn vào Thiên Chúa, vì đã được khuyên làm như vậy, thì ma quỉ có thể chỉ làm hại chút ít hay không làm hại được gì, quỉ không kiếm được chút lợi lộc nào; mà kỳ thực, bởi Chúa cho phép, thì chính khoái lạc ma quỉ gây nên trong linh hồn sẽ góp phần làm nó thất bại. Niềm vui này sẽ hỗ trợ linh hồn vì nghĩ rằng niềm vui đó là của Thiên Chúa, linh hồn sẽ, vì khao khát niềm vui mà thường xuyên cầu nguyện hơn. Nếu linh hồn khiêm tốn, không tò mò, cũng không háo hức niềm vui, dù là niềm vui thiêng liêng nhưng gắn bó vào Thánh giá, thì sẽ ít quan tâm đến thú vui ma quỉ gợi lên nhưng lại không thể khinh khi niềm vui do Thần Linh Thiên Chúa ban, mà sẽ rất quí chuộng niềm vui này. Khi ma quỉ vẫn là tên dối trá, gợi cho linh hồn bất cứ thú vui hay khoái cảm nào, mà thấy vì niềm vui này, linh hồn lại tự hạ (linh hồn cố gắng khiêm tốn trong tất cả những gì liên quan đến cầu nguyện và niềm an ủi) và thường xuyên thấy mình bị thất bại như thế, nó sẽ không còn cố gắng cám dỗ nữa. Chính vì lý do này và nhiều lý do khác nữa, mà khi viết về bậc cầu nguyện thứ nhất, và cách tưới thứ nhất, tôi đã nêu lên điều quan trọng nhất đối với các linh hồn mới bước vào đường cầu nguyện là phải bắt đầu bằng việc khước từ mọi thú vui, và bước vào đường cầu nguyện với một quyết định duy nhất và vác đỡ thánh giá Chúa Kitô. Như những hiệp sĩ can trường, họ chỉ lo phục vụ Hoàng Đế, không trông lương bổng, vì họ hoàn toàn nắm chắc phần thưởng tối hậu. Họ sẽ luôn nhắm vào Vương Quốc vĩnh cữu và đích thật mà chúng ta đang cố gắng đạt tới. 

11. Luôn tâm niệm điều này là việc rất quan trọng, nhất là ở bước đầu. Còn về sau, nhận thức quá rõ điều đó, chúng ta lại cần quên nó đi để có thể sống cuộc sống này, hơn là cố gắng nhớ lại rằng mọi sự đều chóng qua biết bao, không có chi đáng giá, và nghỉ ngơi ở thế gian này phải được coi như chẳng nghỉ ngơi chút nào. Điều này xem ra như một lý tưởng quá thấp hèn, và thực sự là thế. Vì nếu lý do khiến ta từ bỏ thế gian này chỉ vì những của này sẽ qua đi, thì những ai đã đạt tới trình độ cao hơn, đã tới bậc hoàn thiện hơn sẽ coi lý do đó là cái gì đáng trách và phải xấu hổ. Bởi vì cả khi những của ấy tồn tại đời đời, họ vẫn hoan hỉ từ bỏ chúng vì Thiên Chúa. Những linh hồn càng tới gần mức hoàn hảo, niềm vui của họ càng mãnh liệt hơn và còn mãnh liệt hơn nữa, nếu những ơn lành thuộc phạm vi trần thế này, mà họ từ bỏ, tồn tại lâu hơn. 

12. Tình yêu trong những linh hồn như thế đã tới mức độ cao và đó là tình yêu hoạt động trong họ. Còn đối với những người mới bắt đầu, thì việc nhận định sự thế mau qua là quan trọng nhất, và không được coi đó là ý nghĩ thấp kém, vì nhận định đó làm ích cho họ rất nhiều. Vì lý do này, tôi tha thiết nài xin họ hãy tâm niệm chân lý đó. Cả những người đã tiến xa trên đường cầu nguyện mà đôi khi Chúa muốn thử họ và dường như họ cảm thấy Chúa bỏ rơi, cũng sẽ thấy nhận định đó là cần thiết. Vì như tôi đã nói rồi – và tôi mong đừng bao giờ quên điều này – là trong cuộc đời trần thế của chúng ta, linh hồn không phát triển theo cùng cách thức như thể xác phát triển, dầu chúng ta nói là như thế, và thực sự nó phát triển. (Về phương diện thể lý), một đứa trẻ, sau khi phát triển tới tầm vóc một người lớn, thì không còn thể giảm thu tầm vóc lại để thân xác lại nhỏ đi như trước nữa. Còn trong những vấn đề thiêng liêng, Chúa muốn có những bước thăng trầm – ít ra theo nhận xét của tôi, vì tôi không được học, cũng không có phương thế nào để biết, ngoài sự nhận xét. Chúa muốn chúng ta khiêm tốn để được lợi ích nhiều hơn, và để chúng ta không lơ là bao lâu còn ở chốn lưu đày này. Một người càng tiến lên cao thì càng phải lo sợ và càng phải ít tin vào mình. Những người mà ý chí hoàn toàn tùng phục Thánh ý Chúa, họ sẵn sàng chịu hành khổ hơn là phạm bất cứ lỗi nhỏ nào, và thà chết ngàn lần hơn là phạm tội. Vậy mà có những lúc để tránh xúc phạm đến Chúa, khi bị cám dỗ và bách hại dày vò, họ thấy cần tìm đến thứ khí giới sơ khởi – là cầu nguyện – và cầu nguyện sẽ gợi lại cho họ nhớ rằng mọi sự đều có cùng, có thiên đàng, hoả ngục và các chân lý (vĩnh cửu) khác. 

13. Bây giờ xin trở lại đề tài đang nói là nếu chúng ta muốn được giải thoát khỏi những cạm bẫy và vui thú của ma quỉ thì nền tảng chúng ta phải thiết đặt ngay từ đầu là quyết định không mơ ước hưởng thú vui, nhưng bước ngay vào đường thánh giá. Chính Chúa đã tỏ cho chúng ta con đường hoàn thiện này khi Người phán: “Hãy vác thập giá của con và theo Ta “ (Mt 16,24). Người là gương mẫu của chúng ta và những ai nghe theo Lời Người nhắn nhủ với mục đích duy nhất là làm hài lòng Người thì không phải lo sợ gì cả. 

14. Nhận thấy mỗi ngày mình càng tiến hơn, họ sẽ biết đây không phải là công việc của ma quỉ. Vì dầu còn sa ngã, thì cũng là một dấu chứng tỏ rằng Chúa ở với họ - tức là họ lại mau mắn chỗi dậy. Còn có những dấu hiệu khác nữa tôi sẽ trình bày bây giờ. Khi Thần Linh Thiên Chúa hoạt động, thì không cần chúng ta phải kiếm tìm phương thế để tự hạ và xấu hổ. Vì chính Chúa sẽ biểu lộ cho chúng ta phương thế đó một cách khác xa bất cứ cách nào chúng ta có thể tìm được qua những suy tư vụn vặt của chúng ta. Chúng chẳng là gì so với sự tự hạ thật phát sinh từ ánh sáng Thiên Chúa ban cho chúng ta trong bậc cầu nguyện này. Sự khiêm nhường này gây nên một nỗi ngượng ngùng bao trùm hết cả con người chúng ta. Thiên Chúa ban cho sự hiểu biết này để chúng ta kinh nghiệm thấm thía rằng tự mình, chúng ta chẳng có sự gì là tốt cả và ơn trọng Người ban cho chúng ta ước muốn mãnh liệt được tiến tới trên đường cầu nguyện, và không bao giờ bỏ, dầu nó gây nên thử thách khó khăn lớn lao đến thế nào. Chúng ta tự hiến hoàn toàn cho Người thì chúng ta sẽ cảm nghiệm thấy, cùng với lòng khiêm tốn, kính sợ, sự bảo đảm về phần rỗi của chúng ta. Tâm tình này loại trừ khỏi tâm hồn mọi sợ hãi nô lệ và gây dựng cho linh hồn niềm kính sợ trưởng thành hơn rất nhiều, bắt nguồn từ đức tin (đó là niềm kính sợ của con thảo). Chúng ta nhận ra một tình mến Chúa hoàn toàn vô vị lợi đang bắt đầu triển nở trong chúng ta và chúng ta ước muốn có những giờ phút tĩnh mạc để hưởng thụ đầy đủ ơn trọng đó. 

15. Để khỏi mệt mỏi, tôi xin kết luận rằng bậc cầu nguyện này là khởi đầu của mọi ơn lành. Bây giờ các nụ hoa đã tới lúc sẵn sàng nở. Linh hồn ý thức rõ như thế và đến lúc này linh hồn không thể nghi ngờ rằng Chúa không ở với mình. Chỉ khi nào nó lại ý thức về những sa ngã của nó, và những bất toàn làm cho linh hồn lại sợ hãi hết mọi sự, và cũng nên sợ hãi như thế. Tuy nhiên nơi nhiều linh hồn, sự tin tưởng Thiên Chúa ở với mình sẽ làm ích cho họ hơn tất cả mọi sợ hãi có thể ám ảnh. Nếu một linh hồn tự bản tính hướng về yêu thương và biết ơn, thì hễ nhớ đến hồng ân Chúa đã ban, là tức khắc nó hướng về Thiên Chúa hơn là tất cả hình phạt hoả ngục nó có thể tưởng tượng ra được. Dẫu sao, đó là điều xảy ra cho tôi, vì tôi là người hư xấu. 

16. Vì tôi sẽ tiếp tục nói sau về những dấu hiệu của đường hướng thiêng liêng chân thật – và tôi đã phải vất vả lắm mới hiểu rõ được những dấu hiệu ấy – nên tôi không nói đến ở đây nữa. Tôi tin tưởng nhờ ơn Chúa giúp, tôi sẽ có thể nói khá đúng – vì ngoài kinh nghiệm bản thân đã làm ích cho tôi rất nhiều, tôi còn được một số người thông thái và những người rất thánh thiện chỉ bảo, và họ là những người rất đáng tin cậy, nên tôi hy vọng các linh hồn nhờ lòng nhân hậu của Chúa đạt tới trình độ này, đỡ phải vất vả như tôi.

(Còn tiếp)
- Trích trong tác phẩm “Tiểu Sử Tự Thuật Thánh Teresa thành Avila”

Thứ Tư, 24 tháng 1, 2024

Bậc cầu nguyện thứ hai

 


CHƯƠNG 14

Người bắt đầu trình bày bậc cầu nguyện thứ hai. Trong bậc này Người ban cho linh hồn cảm nghiệm ơn an ủi đặc biệt hơn. Người dùng bức hoạ, để giải thích đặc tính siêu nhiên của những ơn an ủi này. Nên ghi nhận rất cẩn thận đặc tính siêu nhiên này.

***

Chúng ta đã nói về công việc vất vả và sức mạnh cánh tay phải kéo nước từ giếng lên để tưới khu vườn này. Bây giờ nói đến cách kéo nước thứ hai do chủ vườn ấn định. Nhờ có thùng, và tay quay, người làm vườn ít vất vả mà lại múc được nhiều nước hơn đôi lúc còn được nghỉ ngơi thay vì cứ phải liên tục làm việc. Phương pháp này đem áp dụng vào cầu nguyện, người ta gọi là cầu nguyện YÊN TĨNH mà tôi muốn trình bày bây giờ.

2. Trong bậc (cầu nguyện) này, linh hồn bắt đầu hồi tâm được và đã đụng chạm vào thế giới siêu nhiên mà do sức cố gắng riêng thì thật vô phương đạt tới. Thực ra, đôi khi linh hồn vẫn mỏi mệt vì quay máy múc nước – (tức là) lý trí suy luận và múc được đầy thùng. Nhưng ở bậc này, mực nước cao hơn nên múc được nhiều nước hơn mà cũng ít vất vả hơn khi phải kéo nước từ giếng lên. Tôi có ý nói rằng nước ở gần linh hồn hơn, vì ân sủng tự tỏ lộ rõ hơn cho linh hồn. Bậc này là sự tập trung các tài năng trong linh hồn để việc hưởng thụ sự vui thoả được sướng khoái hơn, nhưng các tài năng không biến mất cũng không thiếp ngủ. Chỉ có ý chí là bị chi phối như thể bị cầm tù mà không biết như thế nào – Ý chí để cho Thiên Chúa chiếm đoạt mình, như một người biết rõ mình là tù nhân của Đấng mình yêu mến. Ôi lạy Chúa Giêsu, tình yêu của Chúa đối với chúng con tha thiết dường nào! Tình yêu ấy trói buộc tình yêu của chúng con chặt chẽ đến nỗi lúc này nó không còn được tự do yêu mến bất cứ sự gì ngoài Chúa.

3. Hai quan năng khác (trí nhớ và trí tưởng tượng) giúp ý chí để ý chí càng có khả năng hoan hưởng hồng ân trọng đại này. Nhưng đôi khi ý chí dù chìm ngập trong kết hợp, nó cũng bị hai quan năng kia cản trở rất nhiều. Khi gặp chướng ngại như thế, ý chí đừng quan tâm đến làm chi, hãy cứ bình an mà hoan hưởng. Vì nếu cố gắng chế ngự hai quan năng này, thì luôn cả ba đều phải khổ. Vào những lúc như vậy, các quan năng này giống như những con bồ câu không thích những đồ ăn chủ cung cấp mà chúng không mất công tìm kiếm, và đi tìm đồ ăn ở nơi khác. Nhưng không tìm được đàn phải trở về. Các tài năng này cũng đi đi về về như vậy, hy vọng rằng ý chí chia cho đôi phần niềm hạnh phúc nó được hoan hưởng. Nếu Chúa thấy là hữu ích, ý chí sẽ chia xẻ niềm vui cho và chúng sẽ không còn hướng ra ngoài nữa. Nếu không, chúng lại tiếp tục đi tìm kiếm. Chắc chúng nghĩ rằng chúng mưu ích cho ý chí, nhưng đôi khi trí nhớ hoặc trí tưởng tượng có thể làm hại ý chí bằng cách cố gắng phô bày trước mắt ý chí hình ảnh mà chúng đang vui hưởng. Vậy ý chí phải xử trí khôn khéo với các tài năng này như tôi sẽ giải thích.

4. Mọi diễn tiến (trong bậc cầu nguyện này) đều đem theo niềm an ủi tràn trề và chúng ta chẳng phải vất vả bao nhiêu, cũng không bao giờ cảm thấy chán, cả khi kéo dài thời giờ cầu nguyện – vì lúc này lý trí suy luận rất đều hoà và múc được rất nhiều nước giếng hơn trước. Suối nước mắt mà Chúa ban cho chảy ra ở đây là nước mắt sung sướng. Dầu biết là mình khóc, nhưng linh hồn không tìm ra cớ gì để khóc cả.

5. Nước phúc lộc và hồng ân Chúa ban cho trong bậc (cầu nguyện) này làm cho các nhân đức phát triển hơn bậc (cầu nguyện) trước rất nhiều, không thể so sánh được. Vì linh hồn thoát ra khỏi tình trạng khốn nạn của mình và được nếm trước đôi chút niềm vui trong vinh quang (mai sau). Tôi tin rằng hương vị niềm vui này làm cho các nhân đức tăng triển là cũng hướng các nhân đức tới gần Đấng là NHÂN ĐỨC thật, nguồn phát xuất mọi nhân đức – tức là Thiên Chúa. Vì Chúa bắt đầu thông ban chính mình cho linh hồn này là Người muốn linh hồn ý thức cách thế Người thông ban nữa. vừa khi đạt tới tình trạng này, linh hồn giũ bỏ hết sự thèm khát các sự vật trần thế. Và điều đó chẳng khó khăn là bao, vì linh hồn thấy rõ trên mặt đất này nó chẳng có được niềm vui (nó đã nếm) này. Linh hồn thấy rõ không có giàu sang, quyền thế vinh dự hay sảng khoái nào đủ để làm cho nó được thoả chí như thế, dù chỉ trong một nháy mắt. Vì đây là niềm vui chân thật và linh hồn nhận thức chính niềm vui này cống hiến cho sự thoả chí chân thật. Theo tôi thì dường như khi còn sống ở trần gian này, hoạ lắm mới có người hiểu được sự thoả chí chân thật này ở tại đâu. Nó đến rồi nó đi. Trước nó ở với chúng ta, sau nó lại bỏ chúng ta, chúng ta thấy nó biến mất và chúng ta chẳng thể tìm lại được, vì không biết làm cách nào để tìm lại được. Nếu Chúa không đoái ban cho, thì dầu chúng ta có hành xác đến rách nát thân mình, có cầu nguyện và làm đủ cách cũng chẳng thâu đạt được bao nhiêu. Vì sự cao cả của Người, Thiên Chúa muốn cho linh hồn nhận ra rằng Chúa rất gần gũi mình, nên không cần phải phái sứ giả đến gặp Người, khi mà chính mình có thể trực tiếp nói với Người. Cũng không cần phải la to, vì Người ở kề bên mình, nên chỉ máy môi là Người đã hiểu rồi.

6. Nói như vậy xem ra hơi lạ, vì chúng ta biết Thiên Chúa luôn thấu hiểu chúng ta và luôn ở với chúng ta. Sự thực là thế, không thể hồ nghi được. Nhưng vị Hoàng Đế và là Chúa Tể của chúng ta muốn trong bậc cầu nguyện này, chúng ta biết Người hiểu chúng ta, muốn chúng ta nhận ra những công hiệu do sự hiện diện của Người, và nhận ra Người muốn khởi sự làm việc trong linh hồn một cách đặc biệt. Chúa muốn được biểu lộ mỹ mãn bên trong và bên ngoài tất cả những điều Người ban cho linh hồn. Như tôi đã nói, có sự khác biệt xa vời giữa khoái lạc thoả chí đặc biệt này với những thoả mãn và vui thú mà chúng ta cảm được ở thế gian, vì dường như Người lấp đầy cái khoảng trống mà tội lỗi đã gây nên trong linh hồn chúng ta. Sự thoả chí này xảy ra trong phần sâu thẳm của linh hồn và linh hồn cũng không thể nói nó đến với mình khi nào hay cách nào. Linh hồn thường chẳng biết làm gì, muốn gì hay xin gì. Dường như đồng thời linh hồn gặp được mọi sự, dẫu nó không biết đã gặp được cái gì. Chính tôi cũng không biết giải thích điều này làm sao, vì có nhiều vấn đề cần phải được học hỏi. Lúc này, nếu có đôi chút học thức để giải thích thế nào là ơn trợ giúp thường xuyên và thế nào là ơn trợ giúp đặc biệt là rất hữu ích. Có nhiều người không biết hưởng điều này, và để giải thích tại sao lúc này Chúa muốn cho linh hồn thấy tận mắt ơn trợ giúp đặc biệt này, thì kiến thức cũng giúp để giải thích nhiều điểm khác mà người ta có thể có nhiều lầm lẫn. Tuy nhiên, vì những gì tôi viết sẽ được những người có khả năng coi xem lại có chi sai lầm hay không, nên tôi cứ viết mà không phải bận tâm gì. Tôi biết tôi không phải bận tâm xem (những gì tôi viết) có hợp với sự hiểu biết hay nền linh đạo hay không. Những người có khả năng phê phán sẽ lãnh trách nhiệm đó, và các ngài sẽ bỏ đi những gì có thể là sai lầm.

7. Vậy tôi muốn giải thích hồng ân này, vì đây là vấn đề nền tảng, và khi Chúa bắt đầu ban những hồng ân này, chính linh hồn cũng không hiểu (đó là hồng ân), và không biết xử sự thế nào. Nếu Thiên Chúa dẫn dắt linh hồn qua con đường sợ hãi như Người đã dẫn dắt tôi, và nếu không có ai hiểu (linh hồn) thì những thử thách sẽ rất nặng nề. Linh hồn đó sẽ rất sung sướng (nếu) đọc được bản phác hoạ về chính mình, (bản phác hoạ đó) chứng tỏ rất rõ rằng họ đang tiến bước trên con đường ngay chính. Biết được mình phải làm gì để tiếp tục tiến bước trong bất cứ tình trạng nào đã là một hồng ân vĩ đại cho linh hồn rồi. chính tôi vì không biết làm gì tôi đã phải đau khổ rất nhiều và cũng phí mất nhiều thời giờ nữa. Tôi rất cảm thương những linh hồn tiến tới tình trạng này, họ thấy mình cô đơn. Vì dầu tôi đã đọc nhiều sách thiêng liêng liên quan đến vấn đề (nhưng) các tác giả giải thích rất ít; và nếu linh hồn không có nhiều kinh nghiệm về cầu nguyện thì khó có thể hiểu được trường hợp của chính mình, dẫu sách vở có giải thích nhiều thế nào đi nữa.

8. Tôi rất ước mong Chúa giúp đỡ tôi để tôi có thể kê khai những hậu quả mà những hồng ân này làm phát sinh trong tâm hồn và là những hồng ân đã gần sát thế giới siêu nhiên, để bởi hậu quả chúng phát sinh, ta biết những sự kiện này có phải do Thần Linh Thiên Chúa hay không. Tôi nói là BIẾT là có ý nói sự biết theo khả năng có thể biết các sự vật ở trần gian này. Khôn ngoan là nên luôn hành động với niềm kính sợ và cẩn phòng, vì ngay cả khi những hồng ân này do Thiên Chúa mà đến, thì đôi khi ma quỉ vẫn có thể tự biến dạng thành thiên thần sáng láng (2 Cr 11,14). Nếu linh hồn không có nhiều kinh nghiệm sẽ không nhận ra được. Để hiểu được điều đó cần phải có rất nhiều kinh nghiệm của một người đã đạt tới tột đỉnh nguyện ngắm. Tôi có quá ít thời giờ để có thể dễ dàng giải thích sự kiện này, vì thế cần Chúa phải làm cho vấn đề sáng tỏ hơn. Vì tôi phải làm việc bổn phận trong cộng đoàn và còn phải lo nhiều công việc khác nữa, mà lúc này tôi ở trong một nhà vừa mới thành lập, như sẽ nói sau. Bởi vậy không bao giờ tôi có thể ngồi yên mà viết nhưng phải viết lần hồi mỗi lúc một chút. Tôi ước có được nhiều thời giờ hơn, vì khi Chúa gợi hứng cho, thì tôi có thể viết rõ ràng và dễ dàng hơn. Tôi giống như một người dùng một cái kim mà hoạ lại một bức hoạ mẫu để trước mắt. Tôi có thể làm công việc của tôi, nhưng nếu thiếu ơn soi sáng, thì tôi không còn thể viết xuôi xắn hơn là viết tiếng ả rập, như người ta nói, dầu tôi đã dành nhiều năm để cầu nguyện. Vì thế tôi nghĩ nếu đang khi viết mà được chìm ngập trong cầu nguyện, thì thật lợi khôn tả. Tôi nhận thức rõ ràng thật không phải tôi đang nói điều này, vì tôi không dùng lý trí riêng của tôi để xếp đặt (điều tôi nói), và sau đó tôi không thể nói là tôi đã xoay sở thế nào để viết. Tình trạng này thường xảy đến với tôi.

9. Bây giờ trở lại thửa vườn hay là vườn cây của chúng ta và coi xem cây cối bắt đầu đâm chồi như thế nào trước khi nở hoa và kết trái, và các thứ hoa – hoa cẩm chướng và các thứ hoa bắt đầu toả hương như thế nào. Tôi thích lối so sánh này, vì khi mới bắt đầu, tôi thường cảm thấy một niềm vui mãnh liệt khi nghĩ linh hồn tôi như một thửa vườn và Chúa đi dạo ở trong đó. (Ước gì Thiên Chúa cho con, bây giờ đã thực sự bắt đầu phụng sự Người) – tôi có ý so sánh người mới bắt đầu với cái gì tôi sắp nói về đời tôi sau đây. Tôi khấn xin Người gia tăng hương thơm cho các nụ nhân đức nhỏ bé vừa mới xuất hiện này, và giữ cho chúng tươi tốt để nở thành hoa cho vinh quang Người – tôi không muốn gì cho mình cả - tôi xin Người tỉa đi bất cứ cây nào Người muốn, vì tôi biết vườn cây sẽ hoàn hảo hơn nếu Người muốn. Tôi nói đến cắt tỉa, vì sẽ đến thời linh hồn cảm thấy mình thực sự giống như thửa vườn. Mọi sự như khô héo, không còn nước tưới cho cây cối xanh tươi nữa, và người ta tưởng linh hồn này chẳng còn thứ nhân đức nào. Linh hồn chịu nhiều thử thách, vì Chúa muốn người làm vườn đáng thương nghĩ rằng tất cả những khó nhọc vất vả mình đã chịu để tưới tắm và chăm sóc cho vườn xanh tươi đều vô ích. Đây là lúc thuận tiện để làm cỏ và nhổ hết cây nhỏ hơn, và là cây vô dụng, thì dầu nhỏ đến đâu cũng phải nhổ đi. Vì chúng ta biết nếu Chúa rút nước ân sủng của Người đi thì không một cố gắng nào của chúng ta là hữu hiệu cả, nên chúng ta phải khinh mình như không và còn kém hơn cái hư không nữa. Làm thế chúng ta sẽ tiến được một bước dài về đức khiêm nhường và bấy giờ, hoa sẽ bắt đầu triển nở.

10. Ôi lạy Chúa, Đấng Thiện Hảo của con? Con không thể nói điều này mà không khóc lên và không cảm thấy linh hồn tràn ngập hỉ hoan, vì Chúa muốn ở với chúng con và thực sự ở với chúng con trong Bí Tích Thánh Thể. Chúng con có thể tin đó là sự thật và rất thật vì đúng là như thế, và chúng con có thể dùng sự rất chân thật này để so sánh. Nếu lầm lỗi của chúng con ngăn cản không cho chúng con hỉ hoan trong Chúa thì Chúa vẫn vui thoả vì được ở với chúng con, vì Chúa đã bộc lộ rằng niềm vui thoả của Chúa là ở với con cái loài người (Cn. 8,31). Ôi lạy Chúa của con! Thế nghĩa là gì? Hễ khi nào nghe những lời này, thì ngay cả lúc con thật bất trung, con vẫn cảm thấy niềm an ủi mãnh liệt. Lạy Chúa, có thể nào có một linh hồn đã tới tình trạng được Chúa ban cho chan chứa ân sủng và đặc ân như thế và đã hiểu rằng Chúa lấy làm vui thoả được ở trong nó mà vẫn còn xúc phạm đến Chúa, sau khi Chúa đã tỏ cho biết bao hồng ân và biết bao dấu chứng tình yêu đến nỗi không còn thể nghi ngờ được, vì đã thấy công trình của Chúa rất rõ như thế? Vâng, thực sự có linh hồn như vậy – là chính con – và con đã phản bội Chúa không chỉ một lần, nhưng thường xuyên. Lạy Chúa, chớ chi chỉ duy có con là vô ơn, chỉ có con là người duy nhất sa vào biết bao lỗi lầm và cực kỳ bạc bẽo như thế. Vậy mà lòng nhân hậu vô biên của Chúa tìm ra trong con đôi điều lành, và tội lỗi của con càng nặng nề thì hồng ân trọng đại của lòng thương xót Chúa càng chói sáng hơn trong con. Con có biết bao lý do để đời đời ca tụng lòng Thương Xót Chúa!

11. Lạy Thiên Chúa của con, con khẩn xin Chúa ban cho con được như vậy. Ước gì con có thể ca ngợi lòng nhân lành Chúa và ca ngợi không cùng. Vì Chúa đã muốn thi thố ơn Thương Xót cao vời như thế cho con để những ơn ấy làm cho những ai nhận ra phải ngạc nhiên. Còn con, lòng nhân lành Chúa liên tục kéo con ra khỏi chính mình con để con nên tốt hơn hầu xứng đáng ca tụng Chúa. Vì lạy Chúa, bao lâu con còn cứ quanh quẩn với chính mình, và không có Chúa, thì con chẳng thể làm được gì mà chỉ bị cắt bỏ đi như những bông hoa ở trong vườn, và cái thửa đất khô cằn này lại trở nên đống phân hèn hạ như trước. Lạy Chúa, xin đừng để xảy ra điều đó. Xin đừng để hư đi một linh hồn mà Chúa đã mua chuộc bằng giá bao đau thương, đã bao lần chuộc lại và đổi mới, và đã giựt ra khỏi răng con Khủng long.

12. Cha sẽ phải tha thứ cho con vì cứ luyên thuyên lạc xa đề. Xin cha đừng ngạc nhiên vì con nói với một chú ý trong tâm hồn. Con viết những gì xảy ra trong tâm hồn con, và khi đang viết, có nhiều lúc, những hồng ân cao cả Chúa ban cho con hiển hiện rõ ràng trước mắt, con phải cố gắng lắm mới có thể cầm mình không tiếp tục chúc tụng Thiên Chúa. Con nghĩ cha sẽ không phiền trách gì điều đó, vì con tin, cả hai cha con cùng véo von một bài ca, dầu theo cách thức khác nhau. Như cha đã biết con mang nợ với Chúa nhiều hơn, vì Người đã tha thứ cho con nhiều hơn.

(Còn tiếp)
- Trích trong tác phẩm “Tiểu Sử Tự Thuật Thánh Teresa thành Avila”