Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2011

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2011

Ánh Sáng Mới Trên Một Quá Khứ Lãng Quên

Tíến Sĩ WILHELM G SOLHEIM II. Giáo Sư Nhân Chủng Học Đại Học Hawaii. National Geographic, Vol. 139, No. 3
Người dịch: HOÀNG-HOA-NHÂN-KIỆT

Lời người dịch: Khi chúng tôi còn lớp nhì, lớp nhất bậc tiểu học, thầy chúng tôi là một người cách mạng, người đã từng lưu lạc qua Trung-Hoa, đã kể cho chúng tôi một câu chuyện rất lý thú. Từ ngày đó cho đến nay đã gần 50 năm, không lúc nào chúng tôi quên được. Câu chuyện như sau: Khi cách mạng dân quốc của Trung-Hoa chưa thành công, lãnh tụ Tôn-Dật-Tiên qua cầu viện nước Nhật, tại đây Tôn-Dật-Tiên có gặp ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị (một chính khách Nhật cũng là một nhà mạnh thường quân của cách mạng Việt-Nam), trong câu chuyện hàn huyên, khi đề cập tới Việt-Nam, Tôn-Dật-Tiên đã bĩu môi chê dân tộc Việt-Nam, họ Tôn nói với ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị như sau:

“Dân An-Nam là một dân tộc nô lệ, trước họ nô lệ chúng tôi, nay họ nô lệ người Pháp, họ là một dân tộc có đầu óc nô lệ làm sao giúp họ độc lập được”

Ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị đã cắt lời Tôn-Dật-Tiên như sau:

“Tôi xin được phép ngắt lời ngài ở đây, ngài đã có những nhận xét không đúng về dân tộc đó(dân tộc Việt-Nam: lời người dịch), bây giờ họ thua người Pháp vì họ không có khí giới tối tân chống lại người Pháp, mai sau khi họ có khí giới tối tân họ sẽ đánh bại người Pháp (lời tiên đoán này đúng với chiến thắng Điện-Biên-Phủ sau này). Ngài nên nhớ rằng dân tộc Lạc Việt này là một chi duy nhất còn lại của Bách Việt đã chống lại sự đồng hóa của người Trung-Hoa giữ nền độc lập của tổ tiên họ trong khi các chi Việt khác như Mân Việt đã bị đồng hóa cả ngàn năm”

Khi nghe tới đây, Tôn-Dật-Tiên đỏ bừng mặt xin lỗi ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị và xin cáo lui. Tôn-Dật-Tiên xấu hổ vì Tôn-Dật-Tiên là người Quảng Đông (Mân Việt).

Trong thập niên qua ( thập niên 1960 : lời người dịch), thế giới quay sự chú ý về miền Đông Nam Á nhưng sự chú ý này chỉ dồn về cuộc chiến Việt-Nam. Những ảnh hưởng nặng nề của những biến cố quân sự đã làm lu mờ những khám phá đáng ngạc nhiên về thời cổ sử của vùng này cũng như các dân tộc sống ở đó.

Nhưng trong trường kỳ, những khám phá này, chính yếu là những khám phá mới về khảo cổ, sẽ ảnh hưởng hơn cả cuộc chiến hay kết cuộc của cuộc chiến về đường lối chúng ta (người Tây phương: ghi chú của người dịch) suy nghĩ về vùng Đông-Nam-Á, về các dân tộc sống trong vùng này, cảm nghĩ của các dân tộc bản địa về chinh họ.

Ngay cả địa vị người Tây phương và vị trí của trong cuộc tiến hóa của nền văn minh thế giới sẽ bị ảnh hưởng một cách trầm trọng. Những dấu hiệu mạnh mẽ và rõ ràng đang kết tụ cho thấy những giai đoạn đầu tiên để hướng về văn minh bắt đầu từ vùng Đông Nam Á.


Người hoàn tất tiền sử mang các đầu mối như bình gốm cổ 5000 năm từ NON NOK THA trong miền đông bắc Thái-Lan và các nhà truy tầm khảo cổ đi tìm câu trả lời cho câu hỏi, “Nơi nào nền văn minh bắt đầu?”. Tiến sĩ SOLHEIM II (hình trên) được những nhà tiền sử học đặt danh hiệu là ÔNG ĐÔNG NAM Á đặt giả thuyết cách mạng trên những trang giấy này cho rằng những người ĐÔNG NAM Á có thể là những người đầu tiên làm ra đồ gốm, mài và đánh bóng những dụng cụ bằng đá, trồng lúa, và đúc đồng.


NƠI NÀO LÀ NƠI ĐẦU TIÊN LOÀI NGƯỜI TRỒNG TRỌT CÂY TRÁI VÀ
ĐÚC ĐỒNG?

Các sử gia Âu Mỹ thường lập luận rằng nền văn minh nhân loại đã bắt rễ từ vùng bán nguyệt Cận Đông hay trên những vùng đồi phụ cận của miền này. Ở đó, từ lâu chúng ta tin rằng con người nguyên thủy đã phát triển canh nông và học cách làm đồ gốm, đồ đồng. Khoa khảo cổ đã hổ trợ niềm tin này một phần vì các nhà khảo cổ đã đào xới, khai quật nhiều nhất vùng bán nguyệt Cận Đông mầu mỡ này. Tuy nhiên, những khám phá bây giờ ở trong miền Đông Nam Á đang buộc chúng ta phải khảo nghiệm lại các truyền thống này. Các vật liệu được khai quật và phân tích trong năm năm qua đã cho thấy rằng con người sống ở vùng Đông Nam Á đã trồng cây, làm đồ gốm, đúc đồng trước tiên trên thế giới, trước tất cả cá vùng khác trên trái đất này.

Những chứng cớ đến từ những địa điểm khảo cổ trong vùng đông bắc và tây bắc Thái-Lan, với những tiếp trợ từ những khai quật ở Đài-Loan, Bắc và Nam Việt-Nam, các khu vực khác ở Thái-Lan, Mã-Lai, Philippine, và ngay cả từ miền Bắc Australia cho thấy các vật liệu được khám phá và khảo nghiệm bằng carbon 14 cho thấy rằng những di tích của những dân tộc mà tổ tiên họ đã trồng cây, chế tạo đồ đá, đồ gốm hàng ngàn năm trước các dân tộc sống ở vùng Cận Đông, Ấn-Độ, và Trung-Hoa.

Trong một địa điểm khai quật ở bắc Thái-Lan, các nhà khảo cổ đã tìm thấy đồng được đúc trong những khuôn đôi vào khoảng từ 2300 năm đến hơn 3000 năm trước tây lịch. Đây là bằng chứng cụ thể cho thấy công việc đúc đồng này đã có trước cả Trung-Hoa hay Ấn-Độ, cũng như trước cả các đồ đồng đúc ở miền Cận Đông mãi tới bây các chuyên gia vẫn còn tin là nơi luyện kim đồng đầu tiên trên thế giới.

Có người nêu ra lý do hỏi rằng nếu sự việc này quá quan trọng như vậy tại sao vai trò của vùng Đông Nam Á cùng các dân tộc trong vùng trong thời tiền sử không được biết đến cho tới bây giờ. Có vài lời giải thích về việc này nhưng lý do chính rất đơn giàn là rất ít cuộc khảo cứu về khảo cổ được hoàn tất trước năm 1950. Ngay cả bây giờ công việc khảo cổ mới tiến hành một cách sơ lược. Các viên chức thuộc địa đã không đặt ưu tịên cao về các khảo cứu của thời tiền sử ở vùng này chỉ có một số ít người nghiên cứu về công việc khảo cổ được huấn luyện về nghề nghiệp cẩn thận. Không một phúc trình toàn bộ nào về các địa điểm khai quật được chấp nhận theo tiêu chuẩn hiện đại được xuất bản trước năm 1950. Thứ nữa là những điều các nhà khảo cổ tìm ra đã được diễn dịch trên một giả thuyết là sự phát triển văn hóa được đông tiến và nam tiến.

Các nhà chuyên môn này đã nêu ra lý thuyết cho rằng nền văn minh nhân loại bắt đầu trong vùng Cận Đông lan ra vùng Nhĩ Hà, Ai-Cập và sau đó là Hy-Lạp và La-Mã. Nền văn minh cũng di chuyển đông tiến tới Ấn-Độ và Trung-Hoa. Đông Nam Á thì quá xa điểm khởi thủy do đó chỉ tiếp nhận nền văn minh sau các vùng trên.

Các người Âu châu tìm ra các nền văn hóa cao ở Ấn-Độ và Trung-Hoa, do đó khi họ tìm ra các kiến trúc và lối sống của các quốc gia trên và miền Đông Nam Á giống nhau, người Âu châu cho rằng Ấn-Độ và Trung-Hoa ảnh hưởng vùng này. Ngay cả tên họ đặt cho vùng là Ấn –Trung cũng phản ảnh lại thái độ của họ.

NHỮNG DI DÂN VÀ “NHỮNG ĐỢT SÓNG VĂN HÓA”

Trong mục đích tìm về thời tiền sử ở Đông Nam Á, chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) cho rằng văn minh Đông Nam Á phải được trải rộng ra tới những khu vực có các nền văn hóa liên hệ. Từ ngữ tiền sử Đông Nam Á mà tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) sử dụng chứa đựng hai phần. Phần thứ nhất hay là phần đất chính Đông Nam Á được trải dài từ rặng núi Tần-Lĩnh phía bắc sông Hoàng-Hà của Trung-Hoa cho tới Singapore và từ miền Đông hải tây tiến tới Miến-Điện vào tận Asssam của Ấn-Độ. Phần khác được gọi là quần đảo Đông Nam Á đánh một vòng cung từ quần đảo Andaman ở miền nam Miến-Điện trải dài tới Đài-Loan bao gồm Indonesia và Philippine.

Nhà nhân chủng học người Áo ROBERT HEINE-GELDERN xuất bản đại cương truyền thống về thời tiền sử ở Đông Nam Á vào năm 1932. Ông ta đã đề xướng một loạt những đợt sóng văn hóa có nghĩa là những làn sóng người di cư đã đem tới Đông Nam Á những chủng tộc chính đã được tìm thấy ngày nay ở khu vực này.

Ông ROBERT HEINE-GELDERN cũng cho rằng đợt di dân quan trọng nhất là đợt di dân của những người đã chế ra một dụng cụ hình chữ nhật được gọi là cái rìu. Những người di dân trong đợt sóng này đã đến từ miền bắc Trung-Hoa di cư xuống Đông Nam Á và lan xuống miền Sumatra, Java, Borneo, Philppines, Đài-Loan và Nhật-Bản.

Sau đó ông ROBERT HEINE-GELDERN đã giải quyết về sự du nhập đồ đồng vào Đông Nam Á như sau: ông ta giả thuyết cho rằng đồ đồng nguyên thủy ở Đông Nam Á được du nhập từ Đông Âu khoảng 1000 năm trước tây lịch do những di dân. Ông ROBERT HEINE-GELDERN tin rằng những di dân trong đợt di dân này di chuyển vào phía đông và phía nam vào Trung-Hoa vào thời Tây Châu (khoảng từ năm 1122 – năm 771 trước tây lịch). Những di dân này đã đem đi với họ không những chỉ có các kiến thức về chế tạo đồng, họ còn đem tới nghệ thuật kỷ hà mới với các đường thẳng, đường xoắn ốc, tam giác cùng hình người và thú vật.

Nghệ thuật này đã được ứng dụng trong toàn vùng Đông Nam Á được cả hai ông ROBERT HEINE-GELDERN và BERNHARD KARLGREN (môt học giả Thuỵ-Điển) gọi là nền văn hóa ĐÔNG SƠN theo tên Đông Sơn, một địa điểm ở miền bắc Việt-Nam, phía nam Hà-Nội, nơi mà các trống đồng lớn cùng các cổ vật khác được tìm thấy. Hai ông HEINE-GELDERN và KARKGREN đều cho rằng người dân Đông Sơn đã đem đồng và nghệ thuật trạm trổ kỷ hà vào Đông Nam Á.



Hình trống đồng ĐÔNG-SƠN được chế tạo từ thế kỷ thứ ba hay sớm hơn
tại ĐÔNG-SƠN, phía nam HÀ-NỘI, bắc VIỆT-NAM.


Phần lớn thời tiền sử được tái tạo theo truyền thống đó nhưng có một đôi điều đã không phù hợp với truyền thống này. Thí dụ như một số nhà thực vật học nghiên cứu về nguồn gốc thuần hóa của cây cỏ đã đề xướng là Đông Nam Á là một trung tâm thuần hóa cây cỏ rất sớm.

Năm 1952, nhà địa chất học CARL SAWER đã đi một bước xa hơn. Ông CARL SAWER đã đưa ra giả thuyết là cây cỏ đầu tiên trên thế giới được thuần hóa ở Đông Nam Á. Ông SAWER đã phỏng đoán rằng cây cỏ được thuần hóa được mang tới do những người sống trong nền văn hóa trước thời kỳ văn hóa Đông Sơn xa. Những người dân sống trong trong một nền văn hóa nguyên thủy được biết đến như là nền văn hóa HÒA-BÌNH nhưng các nhà khảo cổ thời đó đã không chấp nhận lý thuyết này của ông CARL SAWER.

NHỮNG ĐẬP NƯỚC ĐÃ THÊM VÀO MỘT YẾU TỐ KHẨN CẤP

Khoảng những năm 1920, bà MADELEINE COLANI, một nhà thực học Pháp sau trở thành nhà nghiên cứu Cổ Sinh Vật Học và cuối cùng trở thành nhà Khảo Cổ là người đầu tiên đặt ra sự hiện hữu của nền văn hóa HÒA BÌNH. Bà COLANI căn cứ trên những khai quật của những hầm và động đá ở những địa điểm trong miền Bắc Việt-Nam, những hầm và hang đá này được tìm thấy trước tiên ở ngôi làng trong tỉnh Hòa-Bình.

Những cổ vật tiêu biểu trong những địa điểm này bao gồm những dụng cụ bằng đá hình bầu dục, hình tròn, hay hình tam giác được mài dũa một bên, một bên để nguyên. Những đá mài xinh sắn được tìm thấy ở phần lớn các địa điểm khai quật cùng với nhiều vụn đá. Những tầng trên của của các hầm và động đá thường để giữ các đồ gốm và một ít dụng cụ bằng đá khác với đầu để sử dụng thì sắc bén. Xương thú vât và một số lượng lớn vỏ sò cũng hiện diện.

Các nhà khảo cổ nghĩ rằng đồ gốm cùng với các dụng cụ của nền văn hóa HÒA-BÌNH xuất hiện ngẫu nhiên và do những người có một nền văn hóa cao hơn sống gần đó chế tạo có thể là những nông dân đã di cư từ miền bắc xuống. Các nhà khảo cổ cũng nghĩ rằng những dụng cụ đá mài được học từ người bên ngoài. Nhưng không có địa điểm nào của những nông dân phía bắc được tìm thấy.

Năm 1963, tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) đã tổ chức một đoàn liên hợp khảo cổ cấp thời phối hợp giữa BỘ NGHỆ THUẬT THÁI-LAN và ĐẠI HỌC HAWAII để làm công việc cứu vớt khảo cổ ở những khu vực sẽ bị lụt do công việc xây dựng những đập nước mới trên sông CỬU LONG và những chi nhánh của sông này. Chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) phải bắt đầu làm việc trong miền bắc THÁI-LAN, nơi những đập nước đầu tiên được xây dựng.

Không có một hệ thống khảo cứu về thời tiền sử ở vùng này được HÒAn tất. Tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) cảm thấy cần khẩn cấp bắt đầu hàng loạt khai quật trước khi vùng này chìm ngập dưới nước.

NHỮNG NGẠC NHIÊN ĐẾN TỪ MỘT GÒ ĐẤT KHÔNG ĐÁNG QUAN TÂM

Trong mùa khảo cứu dã ngoại đầu tiên chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) đã xác định vị trí của hơn hai mươi địa điểm, trong mùa thứ hai đoàn đã khai quật một vài nơi của các địa điểm này trong khi thử nghiệm các nơi khác; trong năm 1965-1966, chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) đã làm một cuộc khai quật chính ở NON NOK THA. Trong lúc thử nghiệm với đồng vị phóng xạ carbon-14 để xác định thời gian của các cổ vật hiện ra vài vấn đề, chúng đã đề xướng một cách mạnh mẽ là có dấu hiệu của sự liên tục về đời sống của con người (với vài sự ngắt quãng) đi ngược về thời gian trước năm 3500 trước tây lịch.

NON NOK THA là một gò đất rộng khoảng sáu mẫu Anh (acre) nhô lên các ruộng lúa bao quanh khoảng sáu bộ Anh (foot). Trong khi làm việc tại đó, chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) sống ở làng BAN NA DI, cách gò đất khoảng một hai trăm mét.

Chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) làm việc bốn tháng tại nơi khai quật đầu tiên. Ông HAMILTON PARKER thuộc đại học OTAGO, nước TÂN-TÂY-LAN chịu trách nhiệm trong năm đầu tiên. DONN BAYARD, một sinh viên học trò của tiến sĩ SOLHEIM II, trở lại NON NOK THA trong năm 1968 để làm cuộc khai quật thứ hai cho luận án tiến sĩ của ông ta. Từ đó hai đại học OTAGO và HAWAII đã liên tục yểm trợ cho công việc của đoàn liên hợp khảo cổ như một chương tình liên kết phối hợp với bộ NGHỆ THUẬT THÁI-LAN.

Những kết quả của các cuộc khai quật cho tới bây giờ (năm 1971: lời người dịch) đi vào năm thứ 7 đã làm kinh ngạc nhưng mới chỉ mở ra một cách chậm chạp khi những phân tích của chúng tôi tìm ra từ phòng thí nghiệm ở HONOLULU. Ngay khi chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) bắt đầu nhận kết quả đồng vị phóng xạ CARBON-14 định vị thời gian, chúng tôi bắt đầu nhận thức rằng địa điểm này là một địa điểm thực sự mở ra một cuộc cách mạng của ngành khảo cổ.

Trong một mảnh gốm vỡ vụn nhỏ hơn 1 inch vuông, chúng tôi đã tìm ra dấu vết của vỏ trấu. Từ thử nghiệm phóng xạ đồng vị CARBON ở một mức trên mảnh gốm này, chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIMM II) được biết rằng hạt gạo này có niên đại ít nhất là 3500 năm trước tây lịch. Điều này chứng tỏ rằng lúa gạo đã được trồng tại đây trước cả Trung-Hoa hay Ấn-Độ, nơi một vài nhà khảo cổ cho rằng là nơi thuần hóa lúa gạo đầu tiên, cả ngàn năm.

Từ CARBON phóng xạ đồng vị của than liên hệ, chúng tôi (Tiến sĩ SOLHEIMM II) biết rằng những rìu đồng đúc trong những khuôn đôi bằng sa thạch được làm ra ở NON NOK THA sớm hơn 2300 năm trước tây lịch có thể là 3000 năm trước tây lịch. Đây là hơn 500 năm trước kỹ thuật đúc đồng ở Ấn-Độ, và 1000 năm trước khi đồng được biết đến ở Trung-Hoa. Địa điểm này cũng chứng tỏ là lâu đời hơn những địa điểm ở Cận Đông vẫn được coi là nơi chế tác đồng đầu tiên.

Khuôn chữ nhật mà chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) tìm thấy ở NON NOK THA đều theo cặp đôi, chỉ rõ ràng chúng được đặt chung với nhau ở nơi chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) tìm ra chứ không phải bị thất lạc hay vứt bỏ. Quan tâm toàn thể khu vực và những lò nấu kim loại bị hư hỏng và những cục đồng nhỏ vương vãi chúng tôi (đoàn tiến sĩ SOLHEIM II) không còn nghi ngờ gì nữa chúng tôi đã khai quật một khu vực đúc đồng, hay chính xác hơn một nhà máy làm rìu cổ.

Những phần của gia súc được chôn chung với những mộ cổ xưa ở NON NOK THA. Những phần này đã được nhận ra như gia súc tương tự như loái bò có u. Điều này chứng tỏ những gia súc đã được thuần hóa sớm ở Đông Á Châu.

CHESTER GORMAN, một sinh viên của tôi ở trường đại học HAWAII, là người xác định vị trí của NON NOK THA bằng cách tìm ra những mảnh gốm đã bị soi mòn trên gò đất. Năm 1965, anh ta trở lại Thái-Lan cho luận án tiến sĩ của anh ta. CHESTER GORMAN muốn thử nghiệm lại giả thuyết do CARL SAWER và các nhà khảo cổ khác cho rằng người dân thuộc nền văn hóa HÒA-BÌNH đã thuần hóa cây cỏ. Anh ta đã khám phá ra HẦM TINH THẦN (SPIRIT CAVE) ở xa về phía bắc biên giới Thái-Lan và Miến-Điện, tại đây CHESTER GORMAN đã tìm ra được những gì anh ta muốn tìm.

HẦM CỦA THẦN CHẾT LÀM VỮNG CHÃI CÁC NIÊN HIỆU

HẦM TINH THẦN (SPIRIT CAVE) trồi lên cao bên cạnh lớp đá vôi nhìn xuống dòng suối chẩy vào sông SALWEEN ở Miến-Điện. Hầm này được dùng như một hầm mộ do đó được mang tên là hầm mộ.

Khi khai quật sàn của hầm mộ, CHESTER GORMAN đã tìm thấy những phần còn lại của cây cỏ hóa than bao gồm hai hạt đậu Hòa-Lan, củ năng (water chestnut), hột ớt, nhũng đoạn dây bầu bí và dưa chuột tất cả những vật này kết hợp với những dụng cụ bằng đá đặc trưng của người dân có nền văn hóa HÒA –BÌNH.

Các mảnh xương của thú vật được cắt ra từng miếng nhỏ không thấy dấu vết cháy chứng tỏ rằng thịt đã được nấu chín tại đây chứ không phải nướng trên ngọn lửa, thịt được sào trong những đồ vật bằng tre xanh vẫn thấy dùng ở Đông Nam Á ngày nay.

Một loạt khảo nghiệm bằng đồng vị phóng xạ Carbon 14 cho thấy các vật liệu tìm ra ở đây có niên hiệu từ khoảng 6000 năm cho tới 9700 năm trước tây lịch. Vẫn còn những cổ vật xưa hơn nằm trong những lớp đất đào sâu hơn chưa xác định được thời gian. Vào khoảng 6600 năm trước tây lịch, các cổ vật này đã được đưa vào địa điểm này. Những cổ vật này bao gồm đồ gốm hoàn chỉnh, sắc xảo và được đánh dấu bằng những sợi dệt trong tiến trình chế tạo, cùng những dụng cụ bằng đá hình chữ nhật được đánh bóng và những lưỡi dao nhỏ. Các dụng cụ và cây cỏ được thuần hóa thuộc nền văn hóa Hòa-Bình được tiếp tục khám phá ra gần đây.

Chúng tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) quan tâm đến những khám phá tại hầm TINH THẦN (SPIRIT CAVE) ít nhất như là bước khởi đầu để bổ sung cho giả thuyết của CARL SAWER, những cuộc thám hiểm khác đang thêm những chứng cớ của một sự trải rộng và phức tạp của nền văn hóa HÒA-BÌNH. Ông U AUNG THAW, giám đốc cơ quan khảo cổ Miến-Điện đã khai quật trong năm 1969 một địa điểm đáng lưu ý thuộc nền văn hóa HÒA-BÌNH tại những hầm mộ PADAH-LIN ở phía đông Miến-Điện. Địa điểm này chứa đựng nhiều vật khác trong đó có nhiều họa phẩm. Đây là địa điểm xa nhất về hướng tây thuộc nền văn hóa HÒA-BÌNH được báo cáo.

Những cuộc khai quật ở Đài-Loan do một đoàn thám hiểm hỗn hợp của ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐÀI LOAN và ĐẠI HỌC YALE dưới sự hướng dẫn của giáo sư KWANG-CHIH-CHANG thuộc ĐẠI HỌC YALE đã tìm ra một nền văn hóa với những hình dây và những đồ gốm sắc bén, dụng cụ bằng đá đánh bóng, và những phiến đá mỏng được đánh bóng đã xuất hiện từ lâu khoảng 2500 năm trước tây lịch.



Hình nắp bình đựng tro người chết bằng đồng
trong thế kỷ thứ hai trước tây lịch từ Vân-Nam, Trung-Hoa
diễn tả dân làng trong một buổi lễ giết người tế thần.



VẤN ĐỀ KHÓ GIẢI QUYẾT ĐƯỢC SẮP XẾP PHÙ HỢP VỚI NHAU

Tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đã tóm tắt ý kiến về những cuộc khai quật mới cùng những niên hiệu tại đây và các nơi khác, tôi đã không chú ý tới việc nghiên cứu sự tái thiết thời tiền sử ở Đông Nam Á, trong một ngày nào đó có lẽ hai việc này cũng quan trọng ngang nhau. Trong một số bài viết được xuất bản, tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đã bắt đầu về việc này. Hầu hết những ý kiến đó, tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đề xướng ra như là giả thuyết hay phỏng đoán. Những giả thuyết hoặc phỏng đoán này cần được khảo cứu nhiều thêm để chấp nhận hay bác bỏ.

Trong số những giả thuyết này:

  • Tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đồng ý với SAWER là những người dân thuộc nền văn hóa HÒA-BÌNH là những người đầu tiên trên thế giới đã thuần hóa cây cỏ ở một nơi nào đó trong vùng Đông Nam Á. Việc này cũng chẳng làm tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) ngạc nhiên nếu sự thuần hóa này bắt đầu sớm nhất khoảng 15000 năm trước tây lịch.

    Tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đề nghị những dụng cụ bằng đá được tìm thấy ở miền bắc Australia được đo bằng phóng xạ đồng vị Carbon 14 có niên hiệu khoảng 20000 năm trước tây lịch thuộc về nền văn hóa HÒA-BÌNH nguyên thủy.

  • Trong khi những niên hiệu sớm nhất của những đồ gốm này được biết tới ở Nhật vào khoảng 10000 năm trước tây lịch, tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) kỳ vọng rằng khi nhiều địa điểm với những đồ gốm chạm trổ hình dây được xác định niên hiệu, chúng ta sẽ tìm ra những người này đã làm ra những loại đồ gốm chắc chắn trước 10000 năm trước tây lịch, và có thể họ đã phát minh ra cách làm đồ gốm.

  • Truyền thống tái tạo thời tiền sử cua Đông Nam Á cho rằng các di dân từ miền Bắc đem những phát triển quan trọng về kỹ thuật đến vùng Đông Nam Á. Thay vào đó tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đề nghị nền văn hóa của kỷ nguyên thứ nhất tân thạch khí (sau thời đồ đá) ở bắc Trung-Hoa được biết đến như là nền văn hóa Yangshao thoát thai từ một nền văn hóa phụ thuộc văn hóa HÒA-BÌNH di chuyển lên phía bắc từ phía bắc của Đông Nam Á vào khoảng thiên niên kỷ thứ 6 hoặc thứ 7 trước tây lịch.

  • Tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đề nghị nền văn hóa sau đó được gọi là văn hóa Lungshan. Đã được phát triển từ nam Trung-Hoa và di chuyển về hướng bắc thay vì đã được giả thuyết là nền văn hóa này lớn mạnh từ văn hóa Yangshao và bùng nổ về hướng đông và đông nam. Cả hai nền văn hóa này đều thóat thai từ văn hóa HÒA-BÌNH.

  • Thuyền làm bằng thân cây có thể được sử dụng trên sông ngòi Đông Nam Á trước Thiên niên kỷ thứ năm. Có thể không lâu trước 4000 trước tây lịch cây cân bằng được phát minh ở Đông Nam Á thêm vào sự cân bằng cần thiết để đi biển. Tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) tin rằng phong trào đi khỏi khu vực bằng thuyền bắt đầu khoảng 4000 năm trước tây lịch dẫn đến các cuộc du hành ngẫu nhiên từ Đông Nam Á tới Đài-Loan và Nhật-Bản, đem tới Nhật kỹ thuật trồng khoai môn và các hoa mầu khác.

  • Vào một khoảng thời gian nào đó trong thiên niên kỷ thứ ba trước tây lịch, những cư dân Đông Nam Á, bấy giờ là những chuyên viên sử dụng thuyền bè, đã đi tới những đảo ở Indonesia và Philippines. Họ đã đem cả một nghệ thuật kỷ hà gồm những đường soắn ốc, hình tam giác, hình chữ nhật trong những kiểu mẫu được dùng trạm trổ trong đồ gốm, đồ gỗ, hình xâm, quần áo bằng vỏ cây, và sau đó là vải dệt. Những mỹ thuật kỷ hà này được tìm thấy ở trên các đồ đồng ĐÔNG-SƠN và đã được giả thuyết là tới từ Đông Âu.

  • Người dân Đông Nam Á cũng di chuyển về phía tây tới Madagascar khoảng 2000 năm về trước. Điều này xuất hiện như là một cống hiến quan trọng của họ trong sự thuần hóa cây cỏ cho nền kinh tế Đông Phi Châu.

  • Cũng khoảng thời gian này, sự liên lạc giữa Việt-Nam và Địa Trung Hải bắt đầu có thể bằng đường biển như là kết quả của phát triên giao thương. Một vài đồ đồng khác thường được tìm thấy ở ĐÔNG SƠN đã được giả thuyết có nguồn gốc Địa Trung Hải.

QUÁ KHỨ CÓ THỂ GIÚP THẮP SÁNG HIỆN TẠI

Cách tái kiến trúc thời tiền sử Đông Nam Á được tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) trình bày ở đây căn cứ trên dữ kiện từ một ít địa điểm khai quật và một sự giải thích lại dữ kiện cũ. Nhiều sự diễn giải khác có thể có được. Nhiều khai quật phong phú, nhiều niên hiệu phong phú ở các địa điểm khai quật đều cần thiết cho thấy nếu đây là cái sườn của công việc tổng quát căn bản này cho được gần hơn với sự tái kiến trúc của HEINE-GELDERN thời tiền sử ở Đông Nam Á. Burma và Assam tuyệt nhiên không được biết đến trong tiền sử, tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) nghi ngờ chúng là một phần quan trọng của thời tiền sử Đông Nam Á.

Hầu hết những điều cần thiết là nhiều chi tiết hơn về những khu vực nhỏ có những đặc tính riêng biệt. Tăng cường sự khảo sát trong những khu vực nhỏ bằng cách hợp tác việc phát triển văn hóa địa phương và sự chấp nhận tiến hóa môi sinh tìm xem cách sống của người dân phù hợp với sườn của thời tiền sử. Sau cùng, đây là người dân chúng ta (Tiến Sĩ SOLHEIM II và đoàn thám hiểm cua ông) muốn tìm hiểu, và điều thăm dò này có thể giúp chúng ta vài sự thông suốt trong sự phản ứng giữa những người dân Đông Nam Á với nhau và với những đổi thay của họ trong vùng Đông Nam Á.

HOÀNG-HOA-NHÂN-KIỆT

http://www.vietnamgiapha.com/faq/?mnu=2&id=4&fid=1053


New Light On A Forgotten Past

By Wilhelm G. Solheim II, Ph.D.
Professor Of Anthropology, University Of Hawaii

Picture 1: Dongson bronze

The world has turned its attention to Southeast Asia during the past decade, but the cause of the interest has been war. The overwhelming nature of military events has obscured some astonishing discoveries about the ancient history and prehistory of the people who live there. Yet in the long run these discoveries, primarily archeological, will affect--perhaps more than the war or its outcome--the way we think about the area and its people, and the way they think about themselves.

Even the position of Western man and his place in the evolution of world culture may be drastically affected. For clear and powerful indications are emerging that some of the earliest steps toward civilization may have been taken in Southeast Asia.

Where Did Man First Grow Plants and Cast Bronze ?

European and American historians generally have theorized that what we call civilization first took root in the Fertile Crescent of the Near East, or on its hilly flanks. There, we have long believed, primitive man developed agriculture and learned to make pottery and bronze. Archeology supported this belief, partly because it was in the region of that Fertile Crescent that archeologists did their most extensive digging.

Now, however, discoveries in Southeast Asia are forcing us to re-examine these traditions. Material excavated and analyzed during the past five years suggests that men were cultivating plants there, making pottery, and casting bronze implements as early as anywhere on earth.

The evidence comes from archeological sites in northeastern and northwestern Thailand, with support from excavations in Taiwan, North and South Viet Nam, other areas in Thailand, Malaysia, the Philippines, and even from northern Australia.

Materials uncovered and dated by carbon 14* are the cultural remains of people whose ancestors may have been growing plants and making polished stone tools and pottery thousands of years earlier than were the peoples of the Near East, India, or China.

Picture 2: Cast in double molds

At one site in northern Thailand, bronze was being cast in double molds (picture 2) well before 2300 B.C.---perhaps earlier than 3000 B.C.. This is substantially earlier than such work in India or China, and possibly earlier than the first bronze cast in the Near East, where, until now, most experts have thought that bronze metalworking began.

One may reasonably ask: If it is so important, why has Southeast Asia's role in prehistory remained unknown until now?

There are several explanations, but the main reason is simply that very little archeological research had been done in the area before 1950. Even now the work has barely begun. Colonial officials did not place a high priority on studies of prehistory, and few of the men who did investigate it had professional training. Not one complete site report acceptable under present standards was published before the 1950's.

Secondly, what they did uncover was interpreted on the assumption that the flow of culture was eastward and southward. Civilization, they theorized, having begun in the Near East, flowered in Mesopotamia and Egypt, and later in Greece and Rome. It also moved east to India and China. Southeast Asia, being so far from the point of origin, got it thereafter.

Europeans found advanced cultures in India and China. When they saw similarities in the architecture and aristocratic lifestyles of those countries and Southeast Asia, they assumed Indian and Chinese influence. Even the name they gave the area--Indochina--reflected this attitude.

Migrating Peoples and "Waves of Culture"

For purposes of prehistory, what we usually think of as Southeast Asia must be expanded somewhat to include related cultures. Prehistoric Southeast Asia, as I use the term, consists of two parts. The first is "Mainland Southeast Asia," which extends from the Ch'in Ling Mountains, north of the Yangtze River in China, to Singapore, and from the South China Sea westward through Burma into Assam. The other I call "Island Southeast Asia," an are from the Andaman Islands, south of Burma, around to Taiwan, including Indonesia and the Philippines. (See the double supplement, Asia and Peoples of Mainland Southeast Asia, distributed with this issue.)

Robert Heine-Geldern, an Austrian anthropologist, published in 1932 the traditional outline of Southeast Asian prehistory. He suggested a series of "waves of culture" that is, human migrations--which brought to Southeast Asia the major peoples who are found there today.

His most important wave -- people who made a rectangular stone tool called an adz-- came from northern China into Southeast Asia, he said, and spread from there through the Malay Peninsula into Sumatra and Java, and then to Borneo, the Philippines, Taiwan, and Japan.

Later, Heine-Geldern dealt with the coming of bronze to Southeast Asia. He theorized that the original source of the Southeast Asian Bronze Age was a migration from eastern Europe about 1000 B.C. The people in this migration, he believed, moved east and south, entering China during the Western Chou Dynasty (1122-771 B.C.). They carried with them not only a knowledge of bronze working but also a new art form. That is, they decorated their bronze with geometric patterns, spirals, triangles, and rectangles, as well as with scenes or pictures of people and animals.

Picture 3: Dongson bronze drum

Picture 4: Dongson bronze artifact

As applied to Southeast Asia, both Heine-Geldern and Bernhard Karlgren, a Swedish scholar, called this culture Dong Son, after Dong Son, a site in North Viet Nam south of Hanoi, where large bronze drums (picture 3) and other artifacts (picture 4) had been unearthed. Both men felt that the Dong Son people brought bronze and the geometric art style into Southeast Asia (picture 1).

Prehistorians, for the most part, have followed this traditional reconstruction, but there were some facts that did not quite jibe. A few botanists who studied the origins of domesticated plants, for example, suggested that Southeast Asia had been a center of very early plant domestication.

In 1952 Carl Sauer, a ž S. geographer, went a step further. He hypothesized that the first plant domestication in the world took place in Southeast Asia. He speculated that it was brought about by people much earlier than the Dong Son period, people whose primitive culture was known as Hoabinhian. Archeologists did not immediately take up Sauer's theory.

Dams Add an Element of Urgency

The existence of a Hoabinhian culture had first been proposed in the 1920's by Madeleine Colani, a French botanist turned paleontologist and then archeologist. She based the idea on excavations of several cave and rock-shelter sites in North Viet Nam, the first of which was found near the village of Hoa Binh.

Typical artifacts in these sites included oval, circular, or roughly triangular stone tools flaked on only one side, leaving the original surface of the rock on the other. Neat grinding stones were found in most sites, and many stone flakes. Upper levels usually held pottery and a few somewhat different stone tools, with the working end ground to a sharp edge. Animal bones and large quantities of shell were usually present.

Archeologists felt that the pottery was associated accidentally with the Hoabinhian tools and had been made by more advanced people living nearby, possibly farmers who had migrated from the north. They also felt that the edge grinding of the stone tools had been learned from these outsiders. But no sites of tile northern farmers have ever been found.

In 1963 I organized a joint expedition of the Fine Arts Department of Thailand and the University of Hawaii to do archeological salvage work in areas that would be flooded by new dams on the Mekong River and its tributaries." We were to start work in northern Thailand, where the first dams were being built.

No systematic research had ever been done on the region's prehistory. I felt that it was urgent to begin a series of excavations before much of this area went under water.

Surprises From an Unimpressive Mound

During the first field season we located more than twenty sites; during the second we excavated some of these and tested others; and in 1965-66 we made a major excavation at Non Nok Tha. While the carbon-14 dates from this site have presented some problems, they strongly suggest a sequence of human habitation (with some interruptions) going back to well before 3500 B.C.

Non Nok Tha is a mound of about six acres that rises less than six feet above the surrounding rice fields. While working there, we lived in the small Thai-Lao village of Ban Na Di, a couple of hundred yards from the mound.

We spent about four months at our first excavation. Hamilton Parker, of the University of Otago in New Zealand, was in charge the first year. Donn Bayard, a student of mine working for his Ph.D., returned to Non Nok Tha in 1968 to make a second excavation for his doctor's thesis. Since then Otago and the University of Hawaii have continued to support our work in Thailand as a joint program with the Thai Fine Arts Department.

The results of those excavations, now in their seventh year, have been astonishing, hut have 01714' unfolded slowly as the analysis of our finds proceeds in our laboratory in Honolulu. As we started to receive our carbon-14 dates, we began to realize what a truly revolutionary site this was.

In a scrap of broken pottery little more than an inch square, we found an imprint of the husk of a grain of rice, Oryza sativa. From the carbonddating of a burial in a level above this potsherd, we know that it--and the rice-ðate at the latest from 3500 B.C. This is as much as a thousand years earlier than rice has been dated for either India or China --where some archeolotrists have claimed, rice was first domesticated.

From carbonddating of associated charcoal, we know that bronze axes, cast in double molds of sandstone, were being made at Non Nok Tha substantially earlier than 2300 B.C. --probably before 3000 B.C. This is more than 500 -ears earlier than the first known Bronze casting in India, and 1,000 years before any known in China. It may also prove older than sites in the Near East, which is where bronze manufacture was long assumed to have begun.

The rectangular molds we found at Non Nok Tha all came in pairs (page 334), indicating that they had been placed together where we found them, rather than having been lost or discarded. Considering the whole and broken crucibles that turned up, and the many small nodules of bronze scattered about, we have no doubt that we have unearthed a bronze-casting area--in effect, an ancient ax factory.

Portions of cattle were interred with some of the early burials at Non Nok Tha. These have been tentatively identified as domesticated animals very similar to the zebu (Bos indicus). This would be the earliest dated find of domesticated cattle in eastern Asia.

Chester German, a student of mine at the University of Hawaii, was the one who located' Non Nok Tha by finding potsherds eroding from the mound. In 1965 he returned to Thailand for his Ph.D. work. He wanted to test the suggestion by Carl Sauer and others of possible plant domestication by Hoabinhian people. In far northern Thailand, close to the Burmese border, he found Spirit Cave --and what he was looking for.

Cave of Death Yields Startling Dates

Spirit Cave stands high on the side or a limestone outcrop, overlooking a stream which ultimately drains into the Salween River in Burma (see supplement map). The cave was apparently once used as a mausoleum - hence the name.


Picture 5
: Stone tool

Excavating. its floor, German found carbonized plant remains, including two probable beans, a possible pea, a Chinese water chestnut, a pepper, and bits of bottle gourd and cucumber, all in association with typical Hoabinhian stone tools (picture 5).

The remains of animal bones, chopped into small pieces but usually not burned, suggest that the meat cooked here was not roasted in or on the fire but stewed, probably in a container of green bamboo--as is still done in Southeast Asia todaÜ

A series of carbon-14 dates for this site range from 6000 B.C. back to 9700 B.C., and there is still older material, in deeper layers, \let to be dated. At about 6600 B.C., new elements entered the site. These include wellddeveloped pottery, burnished, incised, and marked by the woven cords used in its manufacture; rectangular, partially polished stone tools; and small slate knives. Hoabinhian tools and plant remains continue to he found with this more recent material.

We may regard the finds at Spirit Cave as at least preliminary corroboration of Carl Sauer's hypothesis, and other expeditions are adding evidence of a complex and widespread Hoabinhian culture. U Aung Thaw, Director of the Archeological Survey of Burma, excavated in 1969 a remarkable Hoabinhian site at the Padah-lin caves in eastern Burma. It contained, among other things, many cave paintings. This is the farthest west that a Hoabinhian site has been reported.

Excavations in Taiwan by a joint expedition of the National Taiwan University and Yale University, led by Professor Kwangchih Chang of Yale, have shown that a culture with cord-marked and incised pottery, polished stone tools, and polished slate points had a long existence prior to 2500 B.C.

Puzzle Begins to Fit Together

In view of the new excavations and dates I have summarized here, and others, perhaps equally important, that I have not, it is interesting to speculate on how the prehistory of Southeast Asia may someday be reconstructed. In a number of published papers I have made a start on this. Most of the ideas I have proposed must be labeled as hypothesis or conjecture. They need a great deal more research to bear them out--or refute them. Among them are these:

  • I agree with Sauer that the first domestication of plants in the world was done by people of the Hoabinhian culture, somewhere in Southeast Asia. It would not surprise me if this had begun as early as 15,000 B.C.
  • I suggest that the earliest dated edge-ground stone tools, found in northern Australia and dated by carbon 14 at about 20,000 B.C., are of Hoabinhian origin.
  • While the earliest dates for pottery now known are from Japan at about 10,000 B.C., I expect that when more of the Hoabinhian sites with cord-marked pottery are dated, we will find that pottery was being made by these people well before 10,000 B.C., and was possibly invented by them.
  • * The traditional reconstruction of Southeast Asian prehistory has had migrations from the north bringing important developments in technology to Southeast Asia. I suggest instead that the first neolithic (that is, late Stone Age) culture of North China, known as the Yangshao, developed out of a Hoabinhian subculture that moved north from northern Southeast Asia about the sixth or seventh millennium B.C.
  • I suggest that the later so-called Lungshan culture, which supposedly grew from the Yangshao in North China and then exploded to the east and southeast, instead developed in South China and moved northward. Both of these cultures developed out of a Hoabinhian base.
  • Dugout canoes had probably been used on the rivers of Southeast Asia long before the fifth millennium B.C. Probably not long before 4000 B.C. the outrigger was invented in Southeast Asia, adding the stability needed to move by sea. I believe that movement out of the area by boat, beginning about 4000 B.C., led to accidental voyages from Southeast Asia to Taiwan and Japan, bringing to Japan tare cultivation and perhaps other crops.
  • Sometime during the third millennium B.C. the now-expert boat-using peoples of Southeast Asia were entering the islands of Indonesia and the Philippines. 'They brought with them a geometric art style -- spirals and triangles and rectangles in band patterns-that was used in pottery, wood carvings, tattoos, bark cloth, and later woven textiles. These are the same geometric art motifs that were found on Dong Son bronzes and hypothesized to have come from eastern Europe. · The Southeast Asians also moved west, reaching Madagascar probably around 2,000 years ago. It would appear that they contributed a number of important domesticated plants to the economy of eastern Africa.
  • At about the same time, contact began between Viet Nam and the Mediterranean, probably by sea as a result of developing trade. Several unusual bronzes, strongly suggesting eastern Mediterranean origins, have been found at the Dong Son site.

Past May Help to Light Up the Present

The new reconstruction of Southeast Asian prehistory I have presented here is based on data from only a very few sites and a reinterpretation of old data. Other interpretations are possible. Many more well-excavated, welldated sites are needed just to see if this general framework is any closer to what happened than is Heine-Geldern's reconstruction. Burma and Assam are virtually unknown prehistorically, and I suspect that they are of great importance in Southeast Asian prehistory.

Most needed are many more details about small, definable areas. By intensive investigation in a small area, it will be possible to work out the local cultural development and ecological adaptation to see how living people fit in with the framework of prehistory. After all, it is people we want to understand, and this information may give us some insight into their interaction with each other and with their changing world in Southeast Asia.

Wilhelm G. Solheim Ii, Ph.D.

http://www.mevietnam.org/NguonGoc/fv-newlight.html

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2011

Trao Đổi Lại Về "Tản Mạn Về Từ Hán Việt"

TRAO ĐỔI LẠI VỚI NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN CUNG THÔNG VỀ "TẢN MẠN VỀ TỪ HÁN VIỆT"

Mấy năm nay, công trình “Nguồn gốc Việt Nam của 12 con giáp” của nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông đã đi vào cuộc sống. Từ chỗ hầu như không thể bàn cãi về các con giáp là của văn hóa Trung Hoa, đến nay nhiều người tin rằng đó là của Việt. Ngay những học sinh phổ thông Trung Quốc sau khi ngỡ ngàng về thông tin này, cũng ghi nhận để rồi sẽ tìm hiểu thêm… Đó là điều đáng mừng. Nay trong bài viết mới Tản mạn về từ Hán Việt, tác giả cùng ông Trần Ngọc Giang cung cấp cho người đọc những hiểu biết lý thú về sự hình thành từ Hán Việt hiện đại.

Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Cung Thông còn những hạn chế làm ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu. Vì sự nghiệp văn hóa chung, tôi xin bàn với anh đôi điều.

Trong bài “Nguồn gốc việt (nam) của tên 12 con giáp - mão/mẹo/mèo (4b)” (anviettoancau.net) tác giả viết:

“Tóm lại, ta có cơ sở đề nghị cấu trúc dạng cổ phục nguyên *tlam? hay *klam? đã nhập vào tiếng Hán cho ra dạng đảm 膽. Trường hợp âm cổ phương Nam *tlam?/klam? (lòng, một lòng) trở thành đảm (can đảm, đảm lược ...) khi nhập vào tiếng Hán không phải là hiếm (HVT tô đậm), ta còn có những trường hợp như *krong (sông) khi nhập vào tiếng Hán trở thành *kong hay jiāng BK (giang HV), ...v.v... Nhìn rộng ra hơn, tên 12 con giáp Tý, Sửu, Dần, Mão, Tuất, Hợi… khi nhập vào tiếng Hán đã mất đi phần nào ý nghĩa nguyên thuỷ của tên gọi các loài động vật rất gần gũi với nhà nông. Không những thế, chúng còn được tô son điểm phấn (Hán hoá) và rất khó nhận ra các liên hệ cụ thể nguyên thuỷ: chúng trở thành những khái niệm trừu tượng (được ‘nâng cấp’) trong bói toán và cách ghi ngày tháng (kết hợp với Thập Can); Đây cũng là một lợi thế của nhóm thống trị có chữ viết sẵn (chữ Hán) và khả năng tổ chức. Lợi thế của một hệ thống chữ viết có sẵn như chữ ô vuông (chữ Hán) có thể là chỉ thêm một dấu phẩy nhỏ mà nghĩa lại đổi hẳn đi (HVT tô đậm). Thí dụ như chữ quốc5 chẳng hạn, một dạng chữ quốc 囯 cổ đại viết bằng bộ vi 囗 hợp với chữ vương 王 hàm ý lãnh thổ có giới hạn/biên giới và có vua đứng đầu, tuy nhiên khi thêm một dấu phẩy nhỏ vào bên phải chữ vương thì vương 王 lại trở thành ngọc 玉. Chữ quốc cổ đại 囯 với chữ vương - phản ánh chế độ vua chúa phong kiến - nay đã thay bằng chữ quốc với chữ ngọc 国 hàm ý lãnh thổ (bộ vi) chứa những tài sản quý báu (như dân chúng, ngọc ngà châu báu/đất đai ...). Chữ quốc với chữ ngọc 国 cũng là loại chữ giản thể rất thông dụng hiện nay. Hiện tượng 'thay đổi chữ viết' một cách thâm thuý6 trên có thể giải thích được chữ thố/thỏ 兔 đã dùng thay cho chữ miễn/*mãn/ vãn 免 - âm *mãn đã từng có nghĩa là mèo trong tiếng Việt7. Sự lẫn lộn8 giữa mèo và thỏ còn thấy trong cách dùng dã miêu 野猫 để chỉ loài thỏ hoang (wild rabbit)9 và mèo hoang trong văn hoá TQ và đáng được đào sâu hơn.”

Còn trong bài Tản mạn về từ Hán Việt:

"Từ Hán Việt (HV) là kết quả rất tự nhiên sau bao nhiêu thế kỷ bị người Hán đô hộ cũng như sống bên cạnh nhau: đây là những từ gốc Hán thâm nhập vào và làm vốn từ Việt thêm phong phú.”


Như vậy là, xuyên suốt quá trình khảo cứu của mình, tác giả dựa theo quan niệm tộc Hán có trước, chữ Hán có trước rồi thâm nhập vào ngôn ngữ Việt trong thời kỳ Bắc thuộc và quá trình chung sống bên nhau.

Quan niệm như vậy được đưa ra vào thập niên 20 thế kỷ trước bởi các học giả thời thực dân như E. Aymonier, L. Aurousseau, G. Coedès … Từ lý thuyết Đa trung tâm về nguồn gốc loài người cộng với sự hiểu biết chưa đầy đủ các phát hiện khảo cổ và nhân chủng học Á Đông, các học giả trên cho rằng, người Hán được hình thành từ chân dải Thiên Sơn rồi di cư theo hướng đông nam, mang văn minh xuống khai hóa các sắc dân Đông Nam Á. Riêng về ngôn ngữ, người Việt vay mượn tới 70% từ Hán ngữ. Quan niệm như vậy trở thành chính thống, tồn tại trong thời gian dài và chi phối mọi hoạt động nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ Việt suốt thế kỷ XX và cả hôm nay.

Trong cuốn Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. H, 2000, trang 305–307), Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn viết: “Nếu gạt bỏ những trường hợp không đủ nhiều thì có thể nói rằng quy luật diễn biến từ hệ thống tứ thanh của tiếng Hán trung cổ đến hệ thống thanh điệu Hán-Việt như sau”… “Qua bảng tổng kết trên, điều đầu tiên mà chúng ta nhận thấy là hệ thống tứ thanh tiếng Hán đã nhân đôi số lượng, chuyển thành hệ thống tám thanh trong cách đọc Hán-Việt. Sự nhân đôi này là một sự nhân đôi căn cứ về mặt âm vực.” (Tài liệu do Đỗ Thành cung cấp)

Giáo sư Trần Quốc Vượng, một trong “tứ trụ” của giới Sử học Việt Nam cũng từng tuyên bố trên sóng Đài phát thanh BBC Việt ngữ (phỏng vấn thực hiện năm 2003, được phát lại khi ông Vượng qua đời): “Tôi đã nói rồi, nói với ông Phạm Văn Đồng là, nước ta có một nghìn năm Bắc thuộc. Tính cách nào thì cũng một nghìn năm. Quan sang này, rồi lính tới này, kết quả là chúng ta bị Hán hóa đứt đuôi!” Và, trong phỏng vấn khác cũng của BBC, ông khẳng định: “Quan điểm của Việt Nam là ủng hộ thuyết Đa trung tâm!”

Mới đây nhất, trả lời Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 2 tháng 3 năm 2011, thạc sĩ Hán Nôm Trần Trọng Dương cho biết:

“PV: Có người coi Hán Nôm là văn hóa Hán, là văn minh Trung Quốc, nếu vậy thì ngành học này có ý nghĩa gì với chúng ta hôm nay?

TTD: Quả là, chữ Hán là của người Hán, và thuộc về văn minh Trung Hoa thật. Nhưng, nó đã trở thành một công cụ ghi chép của toàn khu vực Á Đông.”

Trong tình hình chung của học thuật như vậy, quan điểm của anh Nguyễn Cung Thông cũng là dễ hiểu.

Rất mừng là, những tri thức như vậy đã bị thực tế khoa học vượt qua khi di truyền nhân học phát hiện ra cội nguồn châu Phi của loài người. Cũng nhờ đó ta biết rằng, khoảng 70000 năm trước, người tiền sử từ châu Phi theo ven biển Nam Á tới Việt Nam và khoảng 40000 năm trước, người Việt đi lên khai phá Trung Hoa để 4000 năm TCN, xây dựng trên địa bàn Đông Á nền văn minh nông nghiệp phát triển nhất thế giới. Tiến thêm một bước, ta được biết, người Hoa Hạ, nhóm hạt nhân của dân cư Trung Hoa ngày nay, chỉ ra đời khoảng 2600 năm TCN do sự lai giống giữa người Mông Cổ và người Việt, khi người Mông Cổ xâm lăng vùng hoàng thổ phía nam Hoàng Hà. Do nhân số ít và văn hóa kém phát triển, người Mông Cổ du mục và con cháu họ, học nghề nông cùng với tiếng nói và chữ viết cuả người Việt để xây dựng các vương triều Trung Hoa.

Từ đó phơi bày sự thật lịch sử là:

“Tất cả văn hóa vật thể và phi vật thể trên đất Trung Hoa trước 2600 năm TCN là của người Việt. Bản thân văn hóa Trung Hoa cũng được xây dựng trên cơ sở con người cùng văn hóa Việt”

Dựa trên khám phá lịch sử này cùng những hóa thạch ngôn ngữ Việt trong cổ thư Trung Hoa, năm 2006 tôi công bố tiểu luận “Tiếng Việt, chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán.” Đề xuất động trời đó như sự thách thức các nhà ngữ học khoa bảng. Tiếc rằng cho tới nay chưa có tiếng đáp trả nào. Không phản bác được nhưng không khỏi có người mong rằng điều gàn dở nghịch nhĩ sẽ nhanh chóng rơi vào im lặng! Rất may là từ đầu năm 2010, xuất hiện loạt bài viết của nhà nghiên cứu Đỗ Thành: “Phát hiện lại Việt nhân ca”, “Phục nguyên Duy giáp lệnh của Việt vương Câu Tiễn”, “Chữ Nôm có trước”… Bằng vốn tri thức phong phú, sâu sắc, tác giả chứng minh rằng: hầu hết chữ cổ khắc trên xương thú và đồ đồng thời nhà Thương là chữ của người Việt. Tác giả cũng chứng minh không thể phản bác rằng, thứ ngôn ngữ dùng để viết kinh Thi, kinh Thư, Đạo đức kinh, Sở từ, Sử ký … là chữ Việt. Rất nhiều chữ trong các văn bản đó đến nay chưa được hiểu chính xác nhưng nếu được đọc và giải nghĩa bằng âm Việt, sẽ thông nghĩa. Từ thực tế này, tác giả cho rằng, cần phải làm một cuốn Bách Việt đại từ điển, phục nguyên tiếng Việt cổ rồi từ đó giảng giải lại những kinh sách hơn 2000 năm nay bị hiểu lầm. Hoàn toàn không ngỡ ngàng khi một lần nữa giới ngôn ngữ học khoa bảng lại làm ngơ với phát kiến như vậy!

Với thiên niên kỷ thứ III này, lịch sử đã sang trang mà thành tựu vĩ đại nhất là người Việt tìm lại được cội nguồn cùng văn hóa của mình. Với cơ sở vững chắc từ di truyền nhân học cùng những dữ liệu khảo cổ học, nhân chủng học, văn hóa học quá đầy đủ hiện có, những phát hiện kể trên là không thể đảo ngược!

Chính phát hiện trên giúp ta khả năng nhìn sâu sắc, thông tuệ vào mọi hiện tượng văn hóa không chỉ của Đông Á mà còn của cả nhân loại.

Trong khi theo phương pháp quy nạp, tác giả Nguyễn Cung Thông phải dùng quá nhiểu câu chữ để chứng minh (mà chưa thật thuyết phục) rằng 12 con giáp có nguồn gốc Việt Nam, thì ta có thể đi tới kết quả đó nhanh chóng hơn từ phương pháp diễn dịch nếu thấu suốt quan điểm lịch sử mới:

Truyền thuyết Trung Hoa nói rằng Phục Hy làm Dịch. Phục Hy sinh khoảng 3000 năm TCN, có nghĩa là Dịch được làm ra ít nhất nửa thiên niên kỷ trước khi người Hoa Hạ ra đời. Vì vậy, cố nhiên, người Hoa Hạ, ông tổ của người Trung Hoa, không thể là tác giả của Dịch.

Việt Dịch gồm Âm, Dương, Ngũ hành, Tứ tượng, Bát quái… cũng như Thiên can, Địa chi, trong đó có Mão được người Lạc Việt tại Việt Nam sáng tạo rồi đưa lên Trung Nguyên. Người Hoa Hạ đã học tri thức này cùng văn hóa của tổ tiên Viêm Việt. Nhưng khi xây dựng nền chính thống của các vương triều Trung Hoa, vì tính tự tôn và bá quyền, họ không chấp nhận con Mèo xa lạ với người phương Bắc nên đổi Mão (卯) thành con Thỏ (兔). Thỏ trở thành con vật trong Địa chi của đa số dân sống trên địa bàn Trung Quốc. Tuy nhiên, sự học tập này vẫn để lại dấu vết: trong khi người Việt nói Tý, Sửu, Dần, Mão… thì người Trung Hoa – để ghi chú chữ khó – buộc phải viết cặp đôi: Tý-Thử, Dần-Hổ, Sửu -Ngưu, Mão –Thố… Vào thời Chiến quốc, do đại loạn, nhiều nhóm dân cư từ Trung Quốc di tản sang các vùng đất láng giềng: Lào, Thái, Nhật, Triều Tiên… Những sắc dân này mang theo Địa chi với con Thỏ về địa bàn mới. Chính những người Việt vùng Sơn Đông, thế kỷ IV TCN di cư vào Triều Tiên, Nhật Bản đã tạo nên lớp dân cư Nhật hiện đại, chủ nhân văn hóa Yayoi, với con Thỏ trong Địa chi. Với người Lào, Thái, con thỏ xa lạ và hoàn toàn không có vai trò gì trong đời sống, bỗng nhiên trở thành linh vật ngồi trong Địa chi thì… chỉ có vay mượn! Do chưa có tài liệu nghiên cứu sự hình thành dân cư Lào, Thái nhưng căn cứ vào việc gọi con Thỏ trong Địa chi, ta có thể đoán rằng người Thái, Lào cũng di cư từ Trung Quốc vào thời Chiến Quốc.

Trong khi đó, là người sáng tạo ra Thiên can, Địa chi và trụ vững trên lãnh thổ cố cựu của mình, người Việt duy trì con Mão. Hoàn toàn không phải là sự “phá cách” như ý kiến nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải nói trên Đài Truyền hình Trung ương dịp Tết Tân Mão.

Thật là tuyệt vời, nghiên cứu ngôn ngữ học công phu của tác giả Nguyễn Cung Thông đã chứng minh một cách ngoạn mục cho phương pháp luận quy nạp mang tính lý thuyết và cùng khẳng định: 12 con giáp có nguồn gốc từ văn hóa Việt!

Điều cần nói ở đây là, tuy xác tín rằng, 12 con giáp có gốc Việt nhưng do chưa tin vào quan niệm mới về cội nguồn và văn hóa Việt nên trong thao tác nghiên cứu, anh Nguyễn Cung Thông còn vướng mắc, do dự, vẫn nương theo quan niệm chữ Hán có trước. Điều này làm cho nghiên cứu của anh trở thành thiếu nhất quán.

Tác giả cũng lầm lẫn khi viết: “Nhìn rộng ra hơn, tên 12 con giáp Tý, Sửu, Dần, Mão, Tuất, Hợi… khi nhập vào tiếng Hán đã mất đi phần nào ý nghĩa nguyên thuỷ của tên gọi các loài động vật rất gần gũi với nhà nông. Không những thế, chúng còn được tô son điểm phấn (Hán hoá) và rất khó nhận ra các liên hệ cụ thể nguyên thuỷ: chúng trở thành những khái niệm trừu tượng (được ‘nâng cấp’) trong bói toán và cách ghi ngày tháng (kết hợp với Thập Can).”

Hoàn toàn không phải vậy! Thực tế là, người Việt rất có mục đích khi dùng danh xưng Tý cho chuột, Sửu cho trâu… Bởi lẽ lúc này chúng không còn là con vật bình thường trong cuộc sống mà được cách điệu trở thành linh vật trong Dịch, trong tử vi, bói toán, tính ngày giờ – những công cụ hữu dụng được sáng tạo để khám phá tự nhiên và trong khoa học dự báo. Không phải người Hoa đã (làm) mất đi phần nào ý nghĩa nguyên thuỷ của tên gọi các loài động vật rất gần gũi với nhà nông hay tô son điểm phấn, trừu tượng hóa các con vật quen thuộc! Chính người Việt đã làm chuyện đó, còn người Hoa Hạ học từ người Việt!

Anh Nguyễn Cung Thông cùng ông Trần Ngọc Giang mở ra đề tài khảo cứu mới Tản mạn về từ Hán Việt. Nhưng ngay ở bài đầu đã bộc lộ những lệch lạc đáng tiếc.

Muốn nghiên cứu – dù rằng tản mạn – về từ Hán Việt, điều tiên quyết là phải biết từ Hán Việt là gì, được sinh ra trong hoàn cảnh nào và ai là chủ nhân của nó? Nếu không giải đáp thỏa đáng ba câu hỏi trên, mọi “nghiên cứu” về từ Hán Việt là không đủ cơ sở khoa học!

Lịch sử cho thấy, chủng Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid) cũng từ Việt Nam đi lên vùng tây bắc Trung Quốc. Trong điều kiện môi trường khắc nghiệt, họ phải trải thời gian dài sống bằng săn bắt-hái lượm. Chỉ khi thời Băng hà chấm dứt, khoảng 10.000 năm trước, họ mới chăn nuôi con cừu con dê đầu tiên, bắt đầu cuộc sống du mục. Do vậy, họ giỏi giang trong chiến trận nhưng văn hóa chưa phát triển. Tôi đoán rằng, khi vào nam Hoàng Hà, họ chưa có chữ viết và số lượng từ vựng trong ngôn ngữ không nhiều. Vì vậy, cùng với học nghề nông, họ cũng học tiếng nói và chữ viết của người Việt. Đến thời Không tử, tiếng Việt phương Nam được gọi là Nhã ngữ - ngôn ngữ trang nhã. Tần Thủy hoàng thống nhất văn tự theo Nhã ngữ. Nhã ngữ - ngôn ngữ tiêu biểu của tộc Việt- trở thành quốc ngữ Trung Hoa. Tuy nhiên, bên cạnh đó, các nhóm Việt vẫn giữ bản ngữ của mình. Từ thời Hán đến thời Đường, Nhã ngữ được sử dụng trên toàn Trung Quốc và những nước phụ thuộc.

Sau thời Đường, Việt Nam xây nền tự chủ, vẫn dùng Nhã ngữ, lúc này được gọi là chữ Hán. Trong khi đó, sau đời Đường, do Trung Quốc biến loạn, nhiều tộc du mục phương Bắc chiếm chính quyền nên cải biến cách đọc, dần dần thành cách đọc quan thoại – cách nói của nhà nước. Trong khi đó, tại Việt Nam, chữ vuông với cách đọc truyền thống vẫn được duy trì và gọi không chính xác là chữ Hán. Từ sau năm 1954 có lẽ lý giải rằng, chữ vuông là chữ Hán nhưng cách đọc là của Việt nên gọi là từ Hán - Việt. Thiển nghĩ, cả cách đặt vấn đề cùng cách định danh như vậy chưa ổn!

Chính những phát hiện của nhà nghiên cứu Đỗ Thành giúp ta nhận thức ra rằng, cái gọi là từ Hán Việt chính là chữ của người Việt, được người Hoa Hạ dùng làm quốc ngữ của các vương triều Trung Hoa. Trong khi trên địa bàn Trung Hoa, chữ vuông cải biến theo cách viết giản thể và cách đọc quan thoại thì tại Việt Nam, chữ vuông được bảo tồn cả về tự dạng cả về cách đọc.

Chính là từ cách đọc còn lưu giữ tại Việt Nam mà người Trung Hoa hôm nay có thể học lại cách đọc xưa của cha ông họ để thấy cái hay cái đẹp của âm điệu thơ Đường!

Thiết nghĩ, hôm nay, những nghiên cứu cập nhật về từ Hán Việt phải là nghiên cứu theo đường hướng đó. Mọi nghiên cứu dựa trên tiền đề tiếng Hán nhập vào ngôn ngữ Việt đã trở nên lỗi thời!

Có lẽ cũng cần nói thêm điều nữa là, những bài viết của anh Nguyễn Cung Thông quá dài, lê thê, lặp lại những kiến thức vô bổ khiến người đọc theo dõi rất mệt tới mức không còn đủ kiên nhẫn để đọc. Chẳng hạn, khi dẫn một chữ nào đó thực ra chỉ cần so sánh với các ngữ Trung-Anh-Pháp là đủ thì anh đưa ra quá nhiều ngôn ngữ khác không cần thiết. Khi có người lầm chữ Tân trong Tân Mão là mới, đáng lẽ chỉ cần đưa ra chữ Tân cay đắng là đủ thì anh dẫn ra hơn chục nghĩa của chữ Tân không ăn nhập gì. Vừa và đủ là quy luật của tự nhiên. Những bài viết như vậy thể hiện tính thiếu chuyên nghiệp của tác giả, khác nào đem ngọc thảy vào rơm rạ rồi bắt người đọc bươi tìm!

Có điều rất đáng để suy nghĩ. Anh Cung Thông với tôi là chỗ thân tình, nhiều năm nay anh em vẫn trao đổi sách vở cùng bài viết. Tuy chưa một lần phản bác những đề xuất của tôi nhưng trong công việc, anh vẫn làm theo quan niệm xa xưa của mình! Phải chăng do tôi chỉ là kẻ tay ngang, không phẩm tước, học hàm học vị nên chưa đáng tin? Nếu có vậy có thì cũng là thường tình. Một người bạn thời phổ thông của tôi, nay là nhà báo, nhà văn tên tuổi. Chị bảo: “Tôi đọc sách của cậu rồi. Nói chung là cũng chẳng hiểu được bao nhiêu. Nhưng này, thế giới nó công nhận cậu chưa?” Tôi mỉm cười im lặng. Tại sao lại cứ phải chờ thế giới công nhận? Chẳng lẽ sau bao năm cắp sách học theo, chúng ta lại không có điều gì dạy lại thiên hạ?! Sao người Việt hèn thế, nhục thế?! Mả tổ sau bao năm mất dấu nay tìm được nhưng lại phải ngồi chờ thiên hạ đến chứng thực mới dám thờ cúng?!

Trên mạng đôi khi tôi gặp những comments đại loại thế này: “Thầy tôi là Trần Quốc Vượng đã dạy…” Có một thực tế là, các vị như Trần Quốc Vượng, Nguyễn Tài Cẩn… đã bỏ nhiều tâm lực cho khoa học. Nhưng, do gới hạn của tri thức thời đại, các vị đã theo một quan niệm, một phương pháp luận sai là thuyết Đa nguồn gốc của loài người, vì vậy thật đáng tiếc là không khỏi có những ý tưởng của các vị bị sai theo. Tự nhiên, sai lầm của các vị được nhân bản trong lớp lớp học trò. Uy tín thầy càng to thì di hại càng lớn!

Tháng Ba Tân Mão
Hà Văn Thùy
Nguồn:

http://www.anviettoancau.net/anviettc/index.php?option=com_content&task=view&id=2788&Itemid=40

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2011

Viết Tiếp Ca Dao - chữ Nôm



VIẾT TIẾP CA DAO

Con gà tục tác lá chanh,
Con lợn ủn ỉn: mua hành cho tôi.
Có hành, còn thiếu nồi xôi!

*

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2011

Tản mạn về từ Hán-Việt

Giao Duyên vừa nhận được bài viết dưới đây do nhà biên khảo Nguyễn Cung Thông gởi tặng.
Xin chân thành cám ơn tấm lòng ưu ái của tác giả và rất mong nhận được những bài tiếp theo.

Tản mạn về từ Hán-Việt
Các từ Hán-Nhật-Hán-Việt so với Hán-Nhật-Nhật-Việt (phần 1)
Nguyễn Cung Thông (Úc/Australia)
Trần Ngọc Giang (Úc/Australia)

Từ Hán Việt (HV) là kết quả rất tự nhiên sau bao nhiêu thế kỷ bị người Hán đô hộ cũng như sống bên cạnh nhau: đây là những từ gốc Hán thâm nhập vào và làm vốn từ Việt thêm phong phú. Tương tự như thế, ta cũng có những từ Hán Nhật, Hán Hàn ... phản ánh quá trình giao lưu văn hoá theo dòng thời gian giữa các dân tộc sống gần nhau từ lâu. Thường thì khi nói đến từ HV là ta nghĩ ngay đến các từ gốc Hán nhập thẳng vào tiếng Việt, nhưng thật ra vấn đề không đơn giản như thế vì các yếu tố thời gian (các lớp từ HV trước và sau thời Đường Tống, thời hiện đại ...) và không gian (Bắc bộ, Nam bộ), chính trị ...v.v... Có nhiều từ gốc Hán nhập thẳng vào tiếng Việt, thí dụ nhưlịch sử HV 歷史, nhập thẳng vào tiếng Nhật thành rekishi歷史, nhập thẳng vào tiếng Hàn thành yoksa hay yeogsa 역사 (phụ âm đầu l- trở thành bán nguyên âm y- hay ngạc cứng hoá) ... So với giọng Bắc Kinh/BK bây giờ là lì shǐ (theo pinyin/bính âm); văn hoá HV 文化 trong tiếng Nhật là bunka (phụ âm đầu v/w trở thành b-, h- thành k-), tiếng Hàn trở thành munhwa 문화 so với giọng BK bây giờ là wén hùa. Quốc gia HV 国家 nhập vào tiếng Nhật thành kokka, tiếng Hàn là gugga hay kukga 국가 ; Thủ đô HV 首都 (phụ âm đầu sh- trở thành th- trong tiếng Việt) là shuto trong tiếng Nhật, sudo 수도 trong tiếng Hàn so với giọng BK bây giờ là shǒu dū ... Ta cũng không ngạc nhiên khi các từ này nhập thẳng từ tiếng Hán vì các khái niệm lịch sử, văn hoá, quốc gia, thủ đô ... rất phát triển cùng với quá trình thành lập chữ Hán từ ngàn xưa. Các giao lưu văn hoá ngôn ngữ đặc biệt nhất và rất lâu đời là Việt Nam/VN và Trung Quốc/TQ. Chẳng hạn như môn Hình học (Geometry): tiếng Nhật là Kika-gaku (Kỷ Hà học) 幾何学 so với tiếng Hàn là kiha-hak (hay giha-gag 기하학). Các tài liệu HV từ đầu thập niên 1930 cho đến 1960 cho thấy cách dùng Kỷ Hà học và Hình học đều hiện diện trong tiếng Việt, nhưng hiện nay thì không ai dùng danh xưng Kỷ Hà học nữa. Cách gọi Hình học 形学 đã có trước Kỷ Hà học từ lâu; tên Kỷ Hà học do các học giả đời Minh Từ Quang Khải và Lợi Mã Đậu/Matteo Ricci1 dịch (1607), có khả năng phiên âm tiền tố geo- (âm thời Minh gi-ho, nghĩa là đất đai) từ chữ geometria (Hình học, tiếng Hy Lạp là γεωμετρία, -metria là đo đạc) và cũng phù hợp với cách nói kỷ hà (bao nhiêu) hàm ý đo đạc trong môn học này.
Các từ nhập thẳng từ gốc Hán vào tiếng Việt thời Đường Tống rất phù hợp với các cách đọc theo phiên thiết (Đường Vận, Quảng Vận, Tập Vận) sẽ được gọi là từ HV trong loạt bài này; tương phản với các từ HV khác có gốc Việt cổ như đảm (một dạng cổ phục nguyên là *tlam?/*klam? cho ra dạng lòng bây giờ), tên gọi 12 con giáp (Tý chút *chuôt chuột, Mão Mẹo mèo, Hợi Gỏi *kui cúi/heo ...), giang (một dạng cổ phục nguyên là *krong/*krung cho ra dạng sông bây giờ) ... Các từ HV có gốc Việt cổ như trên sẽ được gọi là từ VHHV (Việt-Hán-Hán-Việt). Những từ gốc Hán được người Nhật dùng đầu tiên, sau đó nhập ngược vào tiếng Hán và nhập vào tiếng Việt sẽ được gọi là từ HNHV (Hán-Nhật-Hán-Việt); nếu các từ Hán được người Nhật dùng nhập thẳng vào tiếng Việt thì là các từ HNNV (Hán-Nhật- Nhật-Việt). Các từ gốc Hán được người Nhật dùng đầu tiên với ý nghĩa mới và sau đó nhập ngược vào tiếng Hán sẽ được gọi là từ HNNH (Hán-Nhật-Nhật-Hán). Phần 1 của loạt bài này chú trọng vào các từ HNHV so với HNNV.
1. Hiện tượng đồng âm dị nghĩa
Đây là hậu quả tự nhiên của ngôn ngữ con người: khi xã hội phát triển, ngôn ngữ cũng phản ánh nhiều hoạt động phức tạp hơn do đó một từ có thể mang nhiều nghĩa. Một ngôn ngữ mà trong đó một từ chỉ có một nghĩa sẽ làm bộ nhớ dễ trở nên lộn xộn và quá tải (overloaded). Hiện tượng đồng âm dị nghĩa lại càng dễ xảy ra khi hai ngôn ngữ vay mượn lẫn nhau và tạo ra những trùng hợp về âm thanh (đọc giống nhau). Từ HV cũng có những trường hợp đồng âm dị nghĩa, thí dụ như phi cơ 飛機 (máy bay, giọng BK bây giờ là fēi jī, tiếng Nhật lại chêm chữ hành vào giữa nên trở thành phi hành cơ 飛行機 hikōki); phi cơ còn có thể viết là 丕基 nghĩa là cơ nghiệp lớn (phi là lớn lao, phi thường - không phải là bay). Nghĩa thứ nhì của phi cơ (cơ nghiệp lớn) rất ít người biết. Đại thử HV có ít nhất bốn nghĩa sau đây tuỳ theo cách viết chữ Hán (a) nóng gắt (thử là nắng mùa hè) – tiết Đại Thử là những ngày 22, 23 và 24 tháng 7 dương lịch, trời rất nóng nực ở Bắc Bán Cầu (b) con chuột lớn (c) con chuột có bao ở trước bụng (đại là cái bao, cái túi không có nghĩa là lớn như a và b) … Nghĩa (c) chỉ con kangaroo (hay kanguru) như ở bên Úc, nhưng theo người viết: đại thử (chuột lớn) cũng có thể chỉ loài động vật đặc biệt này! (d) chuột có lông màu xanh đậm (đại viết bằng bộ hắc là xanh đen). Tiếng Hàn và Nhật thì ghi âm trực tiếp từ tiếng Anh kangaroo: カンガルー (kangarū, tiếng Nhật) so với 캥거루 (kaeng-geolu, hay kaeng-go-ru-u, tiếng Hàn). Tân lang thường được hiểu là người mới cưới vợ khi viết là 新郞, nhưng cũng có thể là trái cau khi viết là tân lang 檳榔 (tiếng Mã Lai, Inđônêsia là pinang).
Do đó nếu không biết chữ (Hán) viết ra sao, các từ HV có thể gây ngộ nhận như trường hợp tên gọi năm Tân Mão (năm 2011) chẳng hạn. Tân2 trong Tân Mão viết là có nghĩa là can thứ 8 trong 10 can (Giáp Ất Bính ... Tân Nhâm Quý), và còn có nghĩa là cay đắng, vất vả, đau thương như: tân toan (chua chát, ̣̣chua xót/đắng cay), tân khổ (vất vả, cực nhọc, nhọc nhằn, chật vật) ... Tân viết bằng bộ kim với chữ Tân / có nghĩa là kẽm với ký hiệu Zn, nguyên tố hoá học số 30 , giọng BK xīn đọc gần giống như (ký âm) tiếng Anh zinc. Tân viết bằng bộ cân , nghĩa là mới như: tân binh, tân xuân, tân lang 新郎 (chú rể, chàng rể), tân niên (năm mới, tết dương lịch), tân học, tân kỳ (mới lạ) v.v… Tân thêm bộ thảo lại có nghĩa là củi, củi đun, như các thành ngữ: mễ châu tân quế 米珠薪桂 (củi quế gạo châu), ngọa tân thưởng đảm 臥薪嘗膽 (nằm gai nếm mật); chữ tân này cũng có nghĩa là tiền lương, như: gia tân 加薪 (tăng lương), phát tân 發薪 (phát lương). Tân có nghĩa là khách như: “tương kính như tân” 相敬如賓 (trọng nhau như khách – vợ chồng cư xử với nhau như khách). Tân viết bằng bộ thuỷ có nghĩa là bờ, như: hồ tân 湖濱, hải tân 海濱 hay gần/giáp/ven như: tân hải 濱海 (giáp biển), tân giang濱江 (gần sông); ngoài ra, thành phố cảng nước Nhật – Hoành Tân3橫濱 (Yokohama) cũng viết với chữ tân này. Tân viết với bộ mịch ghép với phân cũng bộ mịch thành từ ghép tân phân 繽紛 (rực rỡ, sặc sỡ; lả tả), như trong thành ngữ: ngũ thái tân phân五彩繽紛 [wǔ cǎi bīn fēn giọng BK] (màu sắc sặc sỡ, muôn màu rực rỡ). Tân viết với bộ mộc ghép với lang cũng bộ mộc thành từ ghép tân lang檳榔 (cây cau, quả cau). Tân viết với bộ nhân có nghĩa là người tiếp khách, như: nam tân tướng男儐相 (phù rễ), nữ tân tướng女儐相 (phù dâu). Tân viết với bộ trùng (bīn BK) là một tên riêng của con trai (bạng ), cũng chỉ ngọc trai, trân châu.Vì chữ tân có nhiều từ đ̀ồng âm dị dạng trong chữ Hán như vậy, nên người ta hay hiểu lầm nghĩa chữ tân trong thành ngữ “tương kính như tân”; có lẽ chính vì lầm tưởng như vậy mới có ý kiến cho rằng Tân Mão là năm mới để dẫn đến kết luận: “... ta nên tống cựu nghênh tân” – xem bài phỏng vấn của đài BBC trang này:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/02/110203_cat_or_rabbit.shtml
Ngôn ngữ Nhật không có nhiều âm vận như tiếng Việt (ngôn ngữ có thanh điệu/tonal language), cùng với giao lưu văn hoá lâu đời với TQ láng giềng, cho nên trong văn tự của ḥọ có nhiều Hán tự ̣ (kanji). Trong văn tự Nhật thường dùng có 1,945 chữ Hán gọi là "Thường dụng Hán tự" (常用漢字, jōyō kanji bắt đầu dùng chính thức vào năm 1981 và vẫn còn được cập nhật) – để tránh tình trạng lầm lẫn giữa rất nhiều từ đồng âm dị nghĩa có gốc Hán – có thể nói nhiều gấp nhiều lần so với từ Hán Việt.
2. Hiện tượng nhập ngược hay mượn lại (reborrowing)

Hình trích từ discover-indo.tierranet.com/japanart005a.htm - thế hệ người viết (NCT) rất thích xem loạt phimAstroboy như hình bên trên, so với thế hệ con cái qua các trò chơi (video games) Nintendo.
Ảnh hưởng qua lại trong ngôn ngữ không những hiện diện ở Á Châu (Hán, Nhật, Việt ...) mà còn ở Tây phương nữa: với tiến bộ vượt bực của kỹ thuật CNTT của hai nước Mỹ và Nhật bây giờ ta còn thấy chữ anime4 (phim hoạt hình, hoạt hoạ), gốc từ tiếng Anh animation nhập vào tiếng Nhật là -アニメーション (Animēshon) và nhập ngược lại tiếng Anh thành anime. Tiếng Pháp ‘le bifstek’ là mượn trực tiếp (loanword) từ tiếng Anh beefsteak (món thịt bò chiên), nhưng beef (thịt bò) thật ra là từ tiếng Pháp cổ boef. Tiếng Anh có chữ cinema (điện ảnh, phim, xinê, xinêma ....), so với tiếng Pháp là cinéma, có gốc Hi Lạp κίνημα (kinema, chuyển động) lại nhập ngược vào tiếng Hi Lạp hiện đại là σινεμά (xinêma, đọc theo tiếng Việt hiện đại). Hiện tượng nhập ngược (vào tiếng Việt) giải thích được phần nào các từ HV như Mão, Hợi ... có liên hệ ngữ âm đến cách gọi tên các loài vật tương ứng là mèo (âm cổ Việt của Mão), cúi (âm cổ Việt của Hợi) … Nhưng các từ HV này lại không dính líu gì đến tên 12 con vật trong tiếng Hán từ xưa đến nay.
3. Các từ HNHV (Hán-Nhật-Hán-Việt)
3.1 Ta hãy xem hiện tượng nhập ngược (backloan) hay mượn lại (reborrowing) trong trường hợp các từ HV sau đây mà đa số tưởng rằng chúng là đặc sản của người Hán. Đa số các từ HNHV được người Nhật sáng tạo dựa vào chữ Hán khi du nhập văn minh Tây phương - nhất là vào thời kỳ Minh Trị 明治 (1868-1912) với chính sách đưa các khái niệm khoa học kỹ thuật vào nhà trường; bảng liệt kê sau dựa vào các ví dụ trong chương 3 "Từ ghép gốc Hán và cách thức Việt hoá" của GS Lê Đình Khẩn5 và bài viết của học giả Feng Zhiwei6 /冯志伟 (Phùng/Bằng Chí Vĩ). Các từ HNHV còn được tài liệu TQ gọi là Nhật-Chế-Hán-Ngữ 7 日製漢語hay Ngoại-Lai-Ngữ8 外來語. Có một số từ HNNH (Hán-Nhật-Nhật-Hán) không thấy hiện diện trong tiếng Việt ngày nay như mẫn cảm 敏感 (nhạy cảm), thừa khách 乘客 (hành khách), xuất đình 出庭 (ra toà), công báo /(thông cáo), quốc khố國庫/国库 (ngân quỹ quốc gia), chế ước 制約 (kìm hãm), chế đường 製糖(HV: thường dùng sản xuất đường) ... không nằm trong phạm vi bài này nhưng cũng đáng nhắc đến ở đây để bạn đọc nào thấy hứng khởi thì tra cứu thêm.
Bảng liệt kê các từ HNHV
thế giới nhân loại tự nhiên thống trị Triết học dân chủ
bảo hiểm bác sĩ thành phần giao thông kinh tế* kinh nghiệm
xuất phát đăng ký phát minh lao động mục đích xí nghiệp
phân tích công dân hoá học thời gian tư tưởng vệ sinh
tập đoàn giáo dưỡng bối cảnh hiện tượng tuyên truyền nghĩa vụ
tham quan thành viên sáng tác vận động chất lượng cảnh sát
điện thoại điện báo/telegram tổ chức điện tử Địa chất học
Động lực học/Dynamics động sản/movables công nghiệp điện xa (xe điện/tram)
pháp luật phục vụ lý tưởng nội dung thủ tiêu quan hệ
giao hoán tiến triển bản chất tiêu hoá tuyển cử ý nghĩa
phản đối cán bộ mỹ thuật năng lực nhân quyền cụ thể
thường thức thừa nhận đại biểu chi bộ chủ động khoa học
quảng cáo cơ quan kỷ lục thị trường thể dục văn minh*
giao tế kinh phí tất yếu hiệp hội diễn xuất ngân hàng
Sinh thái học/Ecology Tâm lý học độc tài quốc tế tôn giáo
trường sở trừu tượng đơn vị trực tiếp tư liệu nguyên tắc
đối tượng phân phối xã hội phê bình quy tắc tích cực
điều kiện văn học* kiên trì thủ tục tân văn nghiệp vụ
dinh dưỡng chỉ đạo tác phẩm mục tiêu quyền uy không gian
phương án phương thức chính/chánh đảng chính/chánh sách
pháp nhân giảng sư động viên phủ nhận phủ định tổng hợp
chủ quan khách quan tuyệt đối biểu quyết tiến hoá/evolution
nguyên tố nguyên tử Sở hữu quyền/ownership lãnh/lĩnh thổ lãnh/lĩnh hải
Khu trục hạm/Destroyer Hàng không mẫu hạm/Aircraft carrier hí kịch (hài kịch)
sự thái (tình hình) phản ứng để kháng (chống) ám thị (bảo ngầm)
tốc kí/shorthand bi kịch tuỳ viên công trái giải phóng
Tư bản chủ nghĩa/Capitalism lao động* hiến pháp* Xã hội chủ nghĩa/Socialism
Mỹ học 美學 (Aesthetics) tự do 自由(freedom, liberty) chế tài chế ước
danh từ
v.v…
Xin lưu ý: bác sĩ 博士 là tiến sĩ (PhD) ở Nhật, TQ. Dân chủ là dịch nghĩa từ tiếng Anh democracy - một cách dịch âm là ‘đức mô khắc lạp tây’ 德謨剋拉西. Ít người biết rằng 中華人民共龢/ (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hoà Quốc) và 中国共産党 (Trung Quốc Cộng Sản Đảng) là các từ ngoại lai đã nhập vào tiếng Trung Quốc trong thời kỳ Cách Mạng.
3.2 Một số cách dùng có thể đã hiện diện trong thư tịch cổ đại TQ, nhưng phạm trù nghĩa đã thay đổi phần nào khi người Nhật dùng và duy trì nghĩa này cho đến nay - các từ HNHV có dấu hoa thị ở sau trong bảng liệt kê - nói cách khác hơn là chính người Nhật, qua những cải cách tân học (Tây học), đã tạo cơ sở vững chắc và chính xác hơn trong cách dùng các từ này:
Kinh tế 經濟: nghĩa cũ (kinh bang tế thế/sửa nước cứu đời, kinh thế tế dân/trị đời giúp dân ...) – “kinh quốc tế dân ...” [a] bao gồm chính trị, kinh tế, xã hội khác với nghĩa bây giờ (dịch tiếng Anh economy)
Cách mạng/mệnh 革命: nghĩa cũ là đổi mệnh vua (vua chịu mệnh trời), đổi triều vua (Đào Duy Anh) “thực thi biến cách ứng thiên mệnh. Cổ đại nhận vi (̣nghĩ rằng) đế vương thụ mệnh ư thiên, nhân xưng triều đại canh thế vi cách mệnh (vì thế gọi thay đổi triều đại là cách mệnh) [b] ; hiện nay cách mạng/revolution nghĩa là đổi chế độ cũ...
Bác vật : nghĩa cũ là thông thái, hiểu biết nhiều (bác cổ thông kim, uyên bác) – “bác thức đa tri...” [c]; Bác vật (học) chỉ khoa học tự nhiên (natural science). Không thấy tiếng Việt dùng các từ này nữa so với thời các cụ Đào Duy Anh, Gustave Hue ...
Theo học giả Phùng/Bằng Chí Vĩ thì các danh từ sau cũng có quá trình đổi nghĩa và cách dùng tương tự (xem phụ chú 6): đầu cơ, giai cấp, cơ quan, tinh thần, nội các, phát minh, chủ nghĩa, đồng tình (thông cảm), văn hoá, văn minh, di truyền, thẩm vấn, sinh sản (sản xuất), nguyên soái, xâm lược, câu lưu ...
Lao động労働rōdō/勞動/劳动: nghĩa cũ là điều khiển hoạt động/cử động “thao tác hoạt động...”[d] - để ý lao động viết theo kiểu Nhật 労働 và động (dòng BK) rút gọn9 thành dō. Lao là Nhật Bản Hán Tự 日本漢字 (chữ Nhật gốc Hán) cũng như chữ Nôm truyền thống ở Việt Nam; chữ laocòn hiện diện trong tự điển dị thể tự - xem trang nàyhttp://dict.variants.moe.edu.tw/yitia/fra/fra00396.htm
Phát minh 發明/发明: nghĩa cũ là gợi ý “khải phát, khai khuếch [e]
v.v…
3.3 Tiếng Anh thuộc ngữ hệ Ấn Âu hay loại hình ngôn ngữ hoà kết (flexional/flectional) với khả năng dùng hậu tố/tiếp vĩ ngữ (suffix) và tiền tố/tiếp đầu ngữ (prefix) rất khác với loại hình ngôn ngữ đơn lập (isolating hay analytic) như tiếng Việt, tiếng Trung (Quốc). Tiếng Anh boy (bé trai) chỉ có một dạng (hình vị/morpheme) là boy - dạng này có tỷ số hình-vị-và-chữ (morpheme-word ratio) là 1:1; hay trong trường hợp số nhiều là boys thì tỷ số hình-vị-và-chữ là 2:1. Trường hợp chữ international (quốc tế) thì tỷ số hình-vị-và-chữ lên đến 3:1. Tiếng Hán, Việt (ngôn ngữ đơn lập) hầu như không có các trường họp trên và tỷ số hình vị và chữ thường là 1:1. Hậu tố -ise (hay -ize) dùng để làm động từ rất thông dụng như Americanise (Mỹ hoá, Mỹ quốc hoá 美國化), Vietnamise (Việt hoá), internationalise (quốc tế hoá 国際化), normalise (bình thường hoá, TQ dùng chính thường hoá, Nhật dùng chính quy hoá)... và đương nhiên chữ hoá (tiếng Hàn dùng hwa) được dùng cho hậu tố -ise; người Nhật đã tạo ra các chữ mới dùng hoá như là một hậu tố trong các ngôn ngữ đơn lập. Hậu tố -ism cũng được dịch là chủ nghĩa như Communism trong tiếng Nhật là 共産主義 (Kyōsan shugi, tiếng Nhật rút gọn9 phụ âm sau -ng như Kinh Đô 京都 thành Kyoto, Cộng thành kyo-), nhập vào TQ và VN là Cộng Sản chủ nghĩa, tiếng Hàn là 공산주의(gongsanjuui); Capitalism là 資本主義 Shihon shugi (Nhật) nhập vào tiếng Trung (Quốc) và VN là Tư bản chủ nghĩa so với tiếng Hàn 자본주의 (jabonjuui). Nationalism thường được dịch là 民族主義 (tiếng Nhật dùng dạng Kanji/Hán tự) hay ナショナリズム (Nashonarizumu, tiếng Nhật dùng kiểu Katakana) - nhập vào tiếng Hán và VN thành Dân Tộc chủ nghĩa (hay Quốc gia chủ nghĩa) so với tiếng Hàn 민족주의 (minjogjuui hay kukgajuui).
4. Các từ HNNV (Hán-Nhật-Nhật-Việt)
Một số từ HV không thấy Trung Quốc dùng mà chỉ ở Nhật và VN, thí dụ như các từ đại tá, thiếu tá, đại uý ... Tiếng Hán hiện đại gọi đại tá10 (Colonel) là 陸軍上校 Lục Quân thượng hiệu hay thượng hiệu, 團長đoàn trưởng … chứ không như cách gọi quân hàm của VN và Nhật. Đại Tá tiếng Nhật là 大佐 taisa. Tự điển ‘Petit Dictionnaire francais-annamite’ của Trương Vĩnh Ký (1884) định nghĩa colonel là Chánh tổng-binh, quản cơ, quản vệ và Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Paulus Của (1895) thì không ghi các từ đại tá, thiếu tá ... Cho đến thập niên 1930 thì Gustave Hue đã ghi chép các từ đại tá, thiếu tá trong cuốn Dictionnaire vietnamien-chinois-francais (1937). Học giả Đào Duy Anh còn ghi là đại tá 'chức quan võ trên chức trung tá, cũng gọi là thượng tá' trong cuốn Hán Việt Tự Điển (1931). Thiếu tá tiếng Nhật là 少佐 shosa so với cách gọi thiếu hiệu少校của TQ. Hiện nay, thượng tá là cấp bậc trên trung tá nhưng dưới đại tá, phản ánh phần nào ảnh hưởng của Trung Quốc (thượng hiệu) ở miền Bắc so với thời VNCH vẫn duy trì ảnh hưởng Nhật Bản và không có cấp bậc này. Vào những năm Pháp bắt đầu xâm lăng VN cũng là thời kỳ quân đội Nhật tổ chức lại hệ thống cấp bậc (dùng đại tá, thiếu tá ... từ năm 1867); sau đó bốn thập niên phong trào Đông Du cố gắng giới thiệu các thay đổi và canh tân ở Nhật vào VN và giải thích được sau đó các từ HNNV lại nhập vào tiếng Việt.
Cách dùng phi trường (sân bay) trong tiếng Việt cũng đáng chú ý: tiếng Nhật là không cảng 空港kūkō (rút gọn phụ âm cuối9, kōng gǎng BK trở thành kūkō) hay phi hành trường 飛行場 hikōjō (phụ âm đầu b/p BK trở thành h, phụ âm h BK trở thành k và rút gọn phụ âm cuối9 ); tiếng Hàn cũng dùng không cảng 공항 (gonghang, vẫn duy trì phụ âm cuối -ng) khác với tiếng Hán là cơ trường 機場/机场 hay phi cơ trường 飛機場/飞机场. Kỹ sư 技師 tiếng Nhật11 - tiếng Việt cũng vậy so với tiếng Hán là công trình sư 工程師 - so với kỹ gia 기사 (gisa/kisa tiếng Hàn). Trương Vĩnh Ký (sđd, 1884) dịch kỹ sư (ingénieur tiếng Pháp) là bác-vật, Đào Duy Anh (sđd, 1931) ghi nhận kỹ sư như là công trình sư.
5. Ghi chú và phê bình thêm
Để cho đầy đủ hơn, các bạn đọc (nếu thấy thích thú) nên cẩn thận tra cứu thêm nhiều dữ kiện từ các bài viết có sẵn trên mạng về đề tài (rất lớn rộng) 'du nhập tiếng Anh vào tiếng Hán, Nhật, Hàn, Việt ... hay từ vay mượn/ngoại lai ngữ/loanwords…' - như những bài viết của học giả Feng Zhiwei/Phùng (Bằng) Chí Vĩ "The structure of Chinese loanwords" (cấu trúc của các từ vay mượn trong tiếng Hán) trang http://www.lingviko.net/feng/structure-zwfeng.pdf hay bài viết của Gao Ruikua (cũng là luận văn Thạc Sĩ, Anhui University, 2005) "Analysis of Language Borrowing between English, Chinese and Japanese" - xem trang nàyhttp://www.docstoc.com/docs/2390150/Analysis-of-Language-Borrowing-Between-English-Japanese-and-Chinese
- các bài viết qua chủ đề "English loanwords in Japanese" có thể tra trên mạng dễ dàng, như của tác giả Gillian Kay (1995) hay của tác giả Bobby Ruijgrok (2009) tranghttp://bobbyruijgrok.com/gulibu/lipapers_files/English%20loanwords%20in%20Japanese.pdfhay https://www.csun.edu/~bashforth/301_PDF/301_P_P/EnglishLoanWordsJapanese.pdf
v.v...
1) Lợi Mã Đậu 利瑪竇 (Ricci, vần đầu Ri ~ li hay Lợi , Mã Đậu 瑪竇là phiên âm của Matteo) là tên Hán hoá (đơn âm hoá) của giáo sĩ Ý sang Trung Quốc truyền giáo và chết vì bịnh ở Bắc Kinh - Matteo Ricci (1552-1610) - rất được giới nho gia TQ đương thời kính trọng và tôn làm Thái Tây Nho Sĩ 泰西儒士. Lợi Mã Đậu (nhờ vào Từ Quang Khải 徐光啟, 1562-1633) là người đầu tiên dịch Tứ Thư Ngũ Kinh ra tiếng Âu Châu (La Tinh) cũng như đem các khái niệm khoa học (Hình học, Số học, Thiên văn học ...) của Tây phương vào TQ - xem trang này http://zh.wikipedia.org/zh-tw/%E5%88%A9%E7%8E%9B%E7%AA%A6

File:Ricci1.jpg

Hình bìa cuốn "Kỷ Hà nguyên bổn" (Hình học căn bản, dịch từ Elements của Euclid mà Matteo Ricci học ở La Mã trước khi qua TQ) với hình của Lợi Mã Đậu (trái) và Từ Quang Khải (phải).
Một điểm đáng chú ý là trong cuốn "Danh Từ Khoa Học" của học giả Hoàng Xuân Hãn/HXH (NXB Khoa Học Tùng Thư, in lần thứ nhất, 1942), ông cũng dịch Géométrie là Hình học. ‘Hình học’ đã được dùng trong các tự điển HV của Đào Duy Anh/ ĐDA (1931), Gustave Hue (1937). Tuy nhiên, HXH dùng ‘cấp số nhân’ thay vì ‘kỷ hà cấp số’幾何級數 (progression géométrique, geometric progression/series) như ĐDA; tiếng Hàn cũng dựa vào tiếng Hán là 기하 급수 (giha geubsu) khác hẳn với tiếng Nhật dịch là đẳng tỷ số liệt 等比数列.
2) đấy là chưa kể những chữ hiếm đọc là tân như bộ nạch hợp với chữ Tân (hài thanh) có nghĩa là cảm lạnh/run lên (ague) cũng đọc là tân - theo Khang Hy: 集韻】 斯人切, 音辛 [Tập Vận] tư nhân thiết, âm Tân ...v.v... Thí dụ như xem một tự điển TQ khá phổ thông trên mạng, âm tân HV (xīn BK) có tất cả 97 cách viết khác nhau - xem trang nàyhttp://www.chinalanguage.com/dictionaries/
3) năm 1905 các nhà ái quốc Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính, Tăng Bạt Hổ đã đến Hoành Tân bằng đường thuỷ để xin ngoại viện. Qua các lời khuyên (bút đàm) của Lương Khải Siêu và một số chính khách ở Nhật, cụ Phan Bội Châu đã chuyển hướng ‘cầu viện’ sang ‘cầu học’. Đây không phải là liên hệ đầu tiên giữa Việt Nam và Nhật Bản, ít nhất là đầu thế kỷ 15 đã có người Nhật đến Hội An buôn bán; phố cổ Hội An nay còn để lại nhiều dấu ấn về giao lưu văn hoá và kinh tế thời đó. Bài này chỉ giới thiệu khung cảnh tổng quát về giao lưu văn hoá qua ngôn ngữ (từ HNHV, HNNV ...) - đây là một chủ đề đáng được tra cứu thêm như qua những bài viết của các nhà ái quốc và học trò của phong trào Đông Du nói trên.
4) anime (phim hoạt hình) đã mở rộng thị trường cổ điển của phim hoạt hình dành cho con nít (cartoon) đến mọi lứa tuổi và đến khắp nơi trên thế giới (và trở thành một loại văn hoá toàn cầu/global culture) anime xuất hiện sau thời kỳ phổ thông của manga (truyện tranh Nhật Bản) - xem thêm chi tiết trang http://vi.wikipedia.org/wiki/Anime .
5) "Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt" tác giả GS Lê Đình Khẩn - NXB Đại Học Quốc Gia Thành Phố HCM (2002)
6) bài viết "The Semantic Loanwords and Phonemic Loanwords in Chinese Language" tác giả Feng Zhiwei - trình bày trong Hội Thảo quốc tế kỳ 11 tổ chức tại Tokyo (2004) - có thể đọc toàn bài từ trang này http://ling.cuc.edu.cn/htliu/feng/loanword-zwfeng.pdf
7) xem chi tiết các thảo luận trên các trang mạng bách khoa TQ nhưhttp://zh.wikipedia.org/w/index.php?title=%E5%92%8C%E5%88%B6%E6%B1%89%E8%AF%AD&variant=zh-cn hayhttp://baike.baidu.com/view/817962.htm ...
Bạn đọc có thể xem thêm các bài viết liên hệ như 現代漢語中的日語外來語” 問題 (Hiện Đại Hán Ngữ trúng đích Nhật Ngữ “ngoại lai ngữ” vấn đề) của tác giả Vương Bân Bân 王彬彬 tranghttp://www.zhaojun.com/youci/riyu.htm hay bài viết bằng tiếng Nhậthttp://freett.com/nandon/lunwen1.htm
8) Ngoại Lai Ngữ 外來語 là các từ vay mượn (tiếng ngoại quốc) - giọng BK bây giờ là wài lái yǔ so với âm HV Ngoại Lai Ngữ, và Nhật là Gailaigo. Theo thống kê của tác giả Monique Cheung khi tra các tự điển tiếng Nhật thì số lượng Gailaigo càng ngày càng tăng - xem chi tiết tranghttp://www.slidefinder.net/j/japanese_loanwords_monique/17176589
Năm Số lượng (phần trăm) Gailaigo trong tự điển tiếng Nhật
1859 1.4 %
1956 3.5 %
1972 7.8 %
Hiện nay ước độ 10 %
Bảng liệt kê các từ vay mượn - xem trang nàyhttp://en.wikipedia.org/wiki/List_of_gairaigo_and_wasei-eigo_terms thí dụ như
アベック abekku avec (từ tiếng Pháp, nghĩa là cặp/đôi tình nhân)
アイスクリーム aisu kurīmu ice cream (từ tiếng Anh, nghĩa là kem/kà lem)
v.v…
9) tiếng Nhật không có phụ âm sau -ng so với tiếng Trung (Hoa) hay VN. Quá trình rút gọn phụ âm sau -ng cho ra dạng Tokyo: Đông Kinh 東京, giọng BK bây giờ là dōng jīng, trở thành To-Kyo. Ngôn ngữ con người luôn luôn thay đổi, theo thời gian để cho các tiếng cổ và theo không gian để cho các tiếng địa phương (phương ngữ, thổ ngữ…). Sự thay đổi này còn được ghi trên giấy tờ rõ ràng như tên thành phố Bắc Kinh, Nam Kinh : thế hệ bây giờ thường đọc là Bây-Ching (theo giọng Phổ Thông BK, bĕijīng 北京 ) hay Nan-Ching (Nánjīng BK 南京 ), Phu-Chiên (Fújiàn BK 福建 ) … nhưng các báo chí sách vở từ trăm năm qua vẫn thường ghi là Peking, Nanking … và ta vẫn cứ gọi là Bắc Kinh, Nam Kinh, Phúc Kiến … khi nói chuyện hàng ngày. Âm bắc HV còn duy trì âm cổ cuối –k (cũng như một số giọng miền Nam TH như Quảng Đông, Hẹ) và phụ âm cổ đầu k- của Kinh (thay vì ngạc hoá thành một dạng ch-). Đây là một thí dụ cho thấy các biến âm đã được duy trì qua báo chí và phương ngữ (vẫn giữ âm cổ hơn) cũng như trong âm Hán Việt, Hán Hàn, Hán Nhật (phản ánh thời kỳ giao lưu). Đây là một đề tài rất thú vị nhưng không nằm trong phạm vi của phần 1 này.
10) thời Pháp xâm chiếm VN, ta đã có các Đại tá Henri Rivière, Đại uý Francis Garnier ... trong quân đội viễn chinh Pháp - xem thêm chi tiết tranghttp://vi.wikipedia.org/wiki/Francis_Garnier …v.v… "Tự điển Hán Việt" (Đào Duy Anh, 1931): có ghi 'thượng hiệu, chức quan võ cấp thứ tư trên chức trung hiệu dưới chức thiếu tướng' so với cách định nghĩa của Hoàng Thúc Trâm trong "Hán Việt Tân Tự Điển" (1950) thì 'thượng hiệu: chức võ quan hồi Trung Hoa Dân Quốc, ngang với đại tá của Nhật Bản' ... Tuy nhiên vào SàiGòn qua cuốn "Tự Điển Hán Việt" của Nguyễn Văn Khôn (1960) thì không thấy dùng thượng hiệu nhưng có ghi đại tá. Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi quân hàm có lúc dùng từ HNHV và có lúc không dùng nữa (tuỳ theo tình hình chính trị ...): như cấp bậc đại tướng 大將 đã từng hiện diện trong quân đội TQ từ năm 1955 đến năm 1965, sau cách mạng văn hoá (thời Mao Trạch Đông) thì hệ thống quân hàm được tái lập từ năm 1988 nhưng từ năm 1994 thì không còn chức ‘nhất cấp thượng tướng 一級上將’ nữa - xem thêm chi tiết trang http://zh.wikipedia.org/zh-tw/%E5%A4%A7%E5%B0%86

Tập tin:US Army O10 shoulderboard.svg
(a)
Tập tin:DaituongQDND.gif
(b)

(a) Quân hàm Đại tướng Lục quân Mỹ (tướng bốn sao - four-star general)
(b) Quân hàm Đại tướng QĐND VN - xem trang nàyhttp://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_t%C6%B0%E1%BB%9Bng
Cước chú:
[a] Từ Nguyên ((bản cập nhật 1979, Bắc Kinh) trang 2436, cột 3
[b] Từ Nguyên trang 3364, cột 2
[c] Từ Nguyên trang 0428, cột 3
[d] Từ Nguyên trang 0380, cột 2
11) tiếng Nhật còn dùng dạng ký âm エンジニア enjinia của tiếng Anh engineer để chỉ kỹ sư. Phạm trù nghĩa của chữ engineer thật ra cũng thay đổi theo thời gian (tiếng La Tinh thế kỷ 15 nghĩa là người phát minh) và không gian: tiếng Mỹ (American English) còn dùng engineer để chỉ tài xế lái đầu máy xe lửa (engine-driver).
Nguyễn Cung Thông & Trần Ngọc Giang