Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011

Tương Tàn

Vàng đen chi cũng kiến thôi,
Cớ sao kiến nọ lại xơi kiến này?
Đau lòng xót ruột lắm thay!
*

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

Bộ tranh quý về triều Nguyễn chào bán tại Mỹ

Thứ Tư, 04/05/2011, 07:08 (GMT+7)
TTCT - Một nhà sách ở Mỹ đang rao bán bộ sưu tập những bức họa về lễ phục tế Nam Giao thời Nguyễn. Mong sao các cơ quan chức năng ở Huế tìm cách hồi hương bảo vật này, không để mất như trường hợp một bức tranh của vua Hàm Nghi được đấu giá năm ngoái tại Pháp

Ảnh chụp chiếc nhãn dán ngoài chiếc túi vải có dòng chữ Hán (phiên âm):
Hoàng phái sắc phục tự thiên tử chí tôn thất cùng dòng chữ Pháp:
Grande Tenue de la Cour d'Annam / par Nguyễn Văn Nhân /
Biên-tu du Hàn-lâm en disponibilité / Hué. Decembre 1902.
Nội dung ghi trên nhãn này khẳng định các bức vẽ này do
nguyên Biên tu Hàn lâm viện của triều Nguyễn là Nguyễn Văn Nhân
vẽ tại Huế vào năm 1902 về lễ phục tế Nam Giao của triều đình Huế
Chiếc túi vải đựng các bức họa
Bức tranh miêu tả nhà vua (có lẽ là vua Thành Thái, trị vì từ năm 1889
đến năm 1907), đang ngự trên ngai vàng trong điện Thái Hòa,
hai bên có hai viên Thái giám và hai vị Hiệp lĩnh thị vệ đứng chầu,
phía dưới có dòng chữ Hán: Đại Nam hoàng đế sắc phục tại vị
cùng các chữ Hán ghi rõ chức phận của những người trong tranh
là Hiệp lĩnh thị vệ và Thái giám
Bức tranh vẽ nhà vua mặc xiêm và long cổn, đi hia, đội mũ bình thiên,
cùng các bồi tế, thị vệ và thái giám, đang chuẩn bị bước lên đàn tế
Nam Giao
Bức tranh vẽ hai người mặc lễ phục khác nhau, với hai sắc màu
xanh dương và đỏ làm chủ đạo, đầu đội hai chiếc mũ tế khác nhau.
Các chữ Hán 皇 親 (Hoàng thân) viết trên tranh cho biết đây là
hai vị hoàng thân thuộc tôn thất nhà Nguyễn
Bức tranh vẽ hai vị quan trong lễ phục màu cam, đầu đội mũ ô sa
ngồi đối diện nhau
Chữ Hán viết trên tranh Chánh nhất phẩm, Đông Các, Võ Hiển cho biết
đây là hai vị quan đứng đầu điện Đông Các (Đông Các đại học sĩ) và
điện Võ Hiển (Võ Hiển điện đại học sĩ) trong triều đình Huế,
hàm chánh nhất phẩm, vận lễ phục tế Nam Giao. Bức thứ bảy vẽ
hình con voi có phủ bành bằng vải màu vàng, thêu hình viên long;
một người quản tượng mặc áo màu đỏ tía cưỡi trên đầu voi và
ba người lính đi bên cạnh con voi mặc binh phục, đội nón dấu,
lưng thắt khăn với các màu sắc khác nhau. Chữ Hán trên bức tranh
này cho biết họ là những người lính thuộc Kinh tượng vệ, được gọi
bằng các danh xưng: Hiệp quản), Dương, Binh và Thanh minh
Tôi vừa nhận được email của TS Piere Baptiste, quản thủ Bảo tàng quốc gia Guimet về nghệ thuật châu Á ở Paris (Pháp), báo tin nhà sách Eric Chaim Klein ở Santa Monica, California, đang rao bán bộ sưu tập gồm những bức họa thể hiện lễ phục tế Nam Giao thời Nguyễn.
Kèm theo thông tin là website về bộ tranh (*) cùng bức thư do bà Laurent Mazzotti, đại diện của Eric Chaim Klein Bookseller, gửi cho TS Piere Baptiste với nội dung: “Nhận thức rõ những đóng góp quan trọng của Bảo tàng Guimet cho các chương trình hỗ trợ việc bảo tồn và phát triển hằng năm của các bảo tàng ở VN, chúng tôi gửi đến ông bộ sưu tập gồm những bức họa duy nhất minh họa chi tiết lễ phục mà vua quan và binh lính của triều đình An Nam mặc trong lễ tế Nam Giao, với các màu sắc rất sinh động và trung thực.
Những họa phẩm này chưa từng xuất hiện, độc đáo và hiếm thấy, đã được một người tên là Nguyễn Văn Nhân vẽ tại Huế vào tháng 12-1902, đúng 100 năm sau ngày triều Nguyễn được thiết lập. Chúng tôi bày tỏ mong muốn Bảo tàng Guimet quan tâm để mua lại các họa phẩm này. Nếu không, chúng tôi vô cùng biết ơn việc (ông) thông báo lời đề nghị này đến các tổ chức, cá nhân khác vì chúng tôi tin rằng việc này có một vai trò quan trọng trong các bảo tàng hay trong thư viện công cộng cũng như trong các sưu tập tư nhân”.
Bộ tranh có tên Lễ phục của triều đình An Nam (Grande tenue de la Cour d'Annam) đang được Eric Chaim Klein Bookseller rao bán với giá 35.000 USD, gồm 54 bức được vẽ bằng màu nước hết sức sống động, tất cả đều trong tình trạng hoàn hảo. Mỗi bức đều có chú thích bằng chữ Hán và chữ Pháp về chức tước, phẩm hàm của những nhân vật được vẽ.
Qua email, TS Piere Baptiste gửi cho tôi một số ảnh chụp từ bộ sưu tập này, trong đó có cả ảnh chụp chiếc túi vải lanh đựng các bức họa, bên ngoài có dòng chữ Hán Hoàng phái sắc phục tự thiên tử chí tôn thất cùng dòng chữ Pháp: Grande tenue de la Cour d'Annam/ par Nguyễn Văn Nhân/ Biên-tu du Hàn-lâm en disponibilité/ Hué. Decembre 1902 (tác giả bộ tranh là Nguyễn Văn Nhân, biên tu Hàn lâm viện của triều Nguyễn, tranh vẽ tại Huế năm 1902).
Một bức miêu tả nhà vua (có lẽ là vua Thành Thái, trị vì năm 1889-1907) đang ngự trên ngai vàng trong điện Thái Hòa, hai bên có hai viên thái giám và hai hiệp lĩnh thị vệ đứng chầu, phía dưới có dòng chữ Hán “Đại Nam hoàng đế sắc phục tại vị”, đồng thời ghi rõ chức phận của những người trong tranh. Một bức khác vẽ nhà vua mặc xiêm và long cổn, đi hia, đội mũ bình thiên, cùng các bồi tế, thị vệ và thái giám đang chuẩn bị bước lên đàn tế Nam Giao.
Trong bức vẽ hai vị quan trong lễ phục màu cam, đầu đội mũ ô sa ngồi đối diện nhau, ghi chú chữ Hán cho biết họ là hai vị quan đứng đầu điện Đông Các (Đông Các đại học sĩ) và điện Võ Hiển (Võ Hiển điện đại học sĩ), hàm chánh nhất phẩm. Lại có bức vẽ một con voi có bành màu vàng thêu hình rồng cùng người quản tượng mặc áo màu đỏ tía cưỡi trên đầu voi và ba người lính đi cạnh voi, với ghi chú biết họ thuộc Kinh tượng vệ.
Từ năm 2004 đến nay, trong các kỳ Festival Huế, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế luôn phục dựng lễ Tế Giao nhưng gặp rất nhiều khó khăn khi phục chế lễ phục và tái hiện không gian lễ hội.
Ngoại trừ 128 bộ lễ phục của 64 văn sinh và 64 vũ sinh biểu diễn điệu múa Bát dật đã được nhà nghiên cứu Trịnh Bách phục chế một cách bài bản, các lễ phục của vua quan, hoàng thân, đình thần, bồi tế, binh lính cũng như trang phục của voi, ngựa tham gia lễ tế đều mượn từ các vai diễn của Nhà hát Nghệ thuật truyền thống cung đình Huế hoặc được phục chế một cách vội vàng và nặng tính tuồng chèo.
Đó là một trong những lý do khiến nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế luôn phàn nàn lễ tế Nam Giao tái hiện ở Huế đã mất tính xác thực (authenticity) của một lễ tế quan trọng nhất dưới thời Nguyễn.
TS TRẦN ĐỨC ANH SƠN
Nguồn: http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Tuoi-tre-cuoi-tuan/435993/Bo-tranh-quy-ve-trieu-Nguyen-chao-ban-tai-My.html

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011

Tìm Về Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam Qua Di Truyền Học


Một vài phát hiện ban đầu
và đường hướng nghiên cứu
Nguyễn Văn Tuấn

Cách đây vài tháng, nhân điểm qua cuốn sách “Eden in the East” (tạm dịch: Địa đàng ở phương Đông) của Tác giả Stephen Oppenheimer, tôi có đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam [1]. Bài điểm sách đã được một số tạp chí in lại, và qua đó đã được nhiều bạn đọc quan tâm đến vấn đề ở trong và ngoài nước đón nhận một cách nồng nhiệt. Một số bạn đọc viết thư riêng đề nghị chúng tôi nên tiến hành một nghiên cứu sinh học để xác định rõ hơn mối quan hệ giữa dân tộc Việt và các dân tộc khác trong vùng Đông Nam Á châu. Một số bạn đọc khai triển thêm đề tài này và đề nghị nên cẩn thận trong khi diễn dịch các số liệu và dữ kiện khảo cổ học (xem chẳng hạn như bài viết của Tác giả Nguyễn Quang Trọng trên Hợp Lưu[2]). Tuy nhiên bên cạnh đó, cũng có người cho rằng không cần phải đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt, vì trong quá khứ đã có tác giả, chẳng hạn như Bình Nguyên Lộc, đã “chứng minh” nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt [3].
Tuy nhiên, người viết bài này tin rằng một quan điểm mang tính khẳng định cao như thế rất nguy hiểm cho tiến bộ khoa học, vì nó hàm ý cho rằng câu chuyện đã chấm dứt, câu trả lời đã dứt khoát, không còn vấn đề gì để bàn thảo nữa, cũng như không có gì để phải nghiên cứu thêm. Thực ra, vấn đề [nguồn gốc dân tộc Việt] chưa được giải quyết thỏa đáng. Chưa ai chứng minh một cách khoa học rằng dân tộc Việt có nguồn gốc Mã Lai, và thậm chí câu hỏi vẫn chưa được đặt ra một cách có hệ thống. Tôi cho rằng vấn đề cần phải được đặt lại. Tại sao? Ngoài những dữ kiện trong sách “Eden in the East” của Oppenheimer mà tôi đã trình bày, tôi thấy còn có vài lý do quan trọng khác để chúng ta đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt.
  • Thứ nhất, giả thuyết về nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt chỉ là một giả thuyết trong nhiều giả thuyết khác nhau. Giả thuyết này, phần lớn, dựa vào các dữ kiện khảo cổ và ngôn ngữ. Những dữ kiện về đặc tính cơ thể và các chỉ số nhân trắc (như màu da, xương, sọ, khuôn mặt, v.v..) từng được dùng làm các đơn vị thông tin để nghiên cứu nguồn gốc dân tộc và sự tiến hóa của loài người. Nhưng các đặc tính này thay đổi theo thời gian, và chịu ảnh hưởng vào môi trường sinh sống. Chẳng hạn như chiều cao của con người trong vòng 200 năm qua đã tăng một cách đáng kể do những cải thiện về dinh dưỡng và môi trường sinh sống. Ngay cả cấu trúc xương cũng thay đổi theo thời gian và môi trường. Do đó các đặc tính nêu trên không phải là những thông tin lư tưởng cho việc nghiên cứu lịch sử di truyền của con người.

    Những dữ kiện về ngôn ngữ cũng có nhiều khiếm khuyết, vì mức độ tương đương về từ ngữ không thể nói lên một cách đầy đủ khuynh hướng di cư của các sắc dân. Ngay cả việc xác định mức độ tương đồng từ ngữ giữa các ngôn ngữ cũng là một vấn đề mang tính kỹ thuật mà các nhà nghiên cứu vẫn chưa đồng ư về phương pháp làm. Vả lại, sự tương đồng giữa các ngôn ngữ có thể là một hằng số mang tính văn hóa, chứ không hẳn do các cơ chế sinh học và di truyền. Nói tóm lại, những bằng chứng khảo cổ và ngôn ngữ không phải là những loại thông số đáng tin cậy để xác định nguồn gốc dân tộc.
  • Thứ hai, có thể nói ngay rằng các giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam của một số tác giả người Việt trước đây thiếu tính khoa học hay “bán khoa học” [4]. Những dữ kiện dùng để đặt giả thuyết trước đây chưa bao giờ được xử lý bằng cách phương pháp khoa học, không đánh giá được mức độ biến thiên của dữ kiện, nghĩa là định lượng xem mức độ biến chuyển của những dữ kiện đó có tỷ lệ bao nhiêu là do các yếu tố ngẫu nhiên gây nên, và bao nhiêu là do các yếu tố không ngẫu nhiên tạo thành.

    Người thông minh có thể có nhiều cách giải thích rất hay cho những quan điểm sai lầm. Ai cũng có thể phát biểu một giả thuyết, nhưng một giả thuyết khoa học khác với một giả thuyết phi khoa học ở chỗ một giả thuyết khoa học có thể thử nghiệm được. Điều quan trọng là một giả thuyết khoa học cần phải được thử nghiệm một cách khách quan, và cần phải được “phản nghiệm” (falsify) một cách độc lập.

    Vì thế, cần phải nói rơ rằng việc phát triển một giả thuyết khoa học không chỉ đơn thuần gói gọn trong việc in vài ý kiến thành sách và cho đó là “khoa học”, là những giả thuyết mà ai cũng cần phải đọc, cần phải ghi nhận. Stephen Jay Gould (nhà tiến hóa học danh tiếng vừa mới qua đời), trước khi phát biểu một giả thuyết về sinh học tiến hóa đã từng làm nhiều nghiên cứu và từng công bố kết quả nghiên cứu trong hàng trăm bài báo khoa học trên các tập san chuyên môn. Stephen Oppenheimer cũng thế: trước khi cho in những giả thuyết của mình thành sách, ông ta đã phải bỏ ra hàng chục năm đi thu thập dữ kiện, thử nghiệm, phân tích, và công bố nhiều bài báo khoa học trên các tập san chuyên môn danh tiếng trên thế giới. Nhìn lại trường hợp Việt Nam, chúng ta có thể nói không một giả thuyết nào về nguồn gốc dân tộc Việt Nam được kiểm tra bởi các đồng nghiệp chuyên môn trên thế giới (peer review), hay được công bố trên các tập san hàn lâm trên thế giới, hay dựa vào những bằng chứng chặt chẽ về sinh học. Thành ra, chưa một giả thuyết nào của các tác giả Việt Nam được tŕnh bày một cách có hệ thống và được đồng nghiệp trên thế giới công nhận.
  • Thứ ba, như đã nói trên nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam mà Bình Nguyên Lộc đề xướng là một giả thuyết. Không có ai có thể chứng minh một giả thuyết. Những gì mà người ta có thể “chứng minh” là các dữ kiện có nhất quán hay phù hợp với giả thuyết hay không. Khi có dữ kiện mới giả thuyết sẽ được phát biểu lại. Do đó, cần phải nhấn mạnh rằng không có một giả thuyết nào được xem là bất biến. Ngay cả giả thuyết về nguồn gốc con người hiện đại cũng đã trải qua nhiều nghiên cứu, thảo luận hàng nửa thế kỷ nay, với hàng ngàn bài báo khoa học và hàng trăm cuốn sách đã viết về đề tài này. Điều này cũng không nên lấy làm ngạc nhiên, bởi vì quá tŕnh phát triển khoa học nằm trong một chu trình đặt vấn đề hay giả thuyết, thu thập dữ kiện, thử nghiệm giả thuyết, và đặt lại vấn đề. Sự tích lũy dữ kiện theo thời gian sẽ soi sáng và góp phần kiểm tra lại giả thuyết ban đầu. Thành ra, cần phải đặt lại vấn đề, cần phải nêu những câu hỏi tốt để đi tìm những câu trả lời thích hợp và hữu dụng.
Trong quá khứ, giới khảo cổ học và nhân chủng học dựa vào các bằng chứng về khảo cổ, xương, hóa thạch, v.v… để phát triển lý thuyết, nhưng những đối tượng này hàm chứa nhiều hạn chế thông tin về tiến hóa, vì mối quan hệ phức tạp giữa môi trường và tiến hóa. Hậu quả của sự tập trung vào các đối tượng như thế trong một thời gian dài đã làm cho chúng ta xao lãng các dữ kiện cho chúng ta nhiều thông tin hơn: đó là gien. Không giống như xương sọ, những thay đổi trong gien thường xảy ra theo những qui luật mà chúng ta hiểu khá rõ, và vì thế gien và các đặc điểm của gien, như tầng số gien, cấu trúc DNA, phân phối gien, v.v... cho chúng ta những thông tin cực kỳ quí giá về sự tiến hóa của con người. Ngày nay, những tiến bộ phi thường trong ngành di truyền học và sinh học phân tử (molecular biology) trong mấy năm gần đây đã cung cấp cho ngành nhân chủng học một phương tiện cực kỳ quan trọng trong việc xác định lịch sử tiến hóa của con người và mối liên hệ giữa các dân tộc. Nhưng trong khi khả năng và kỹ thuật càng ngày càng hiện đại thì những thay đổi trong xã hội trong các nước đang phát triển có nguy cơ làm nhòa đi tính “tinh khiết” của những người dân chính gốc ở Việt Nam. Vì thế, đặt vấn đề nguồn gốc dân tộc cũng có nghĩa là tìm một sự phối hợp có tổ chức để thu thập và duy trì những thông tin sinh học về quá khứ của chúng ta, những người Việt Nam.
Giá trị của di truyền học trong việc truy tầm nguồn gốc dân tộc đã được đánh giá cao về mức độ tin cậy. Di truyền học là một cửa sổ để chúng ta nhìn lại quá khứ của chúng ta. Tuy nhiên, những nghiên cứu về di truyền học trong người Việt còn cực kỳ khiêm tốn, nếu không muốn nói là không đáng kể. Trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây, đã có một số bằng chứng, tuy gián tiếp, nhưng cũng đủ để chúng ta có lư do để xem xét lại lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt. Những bằng chứng này là:
(a) Năm 1998, Giáo sư Chu và đồng nghiệp (thuộc Trường Đại học Texas) phân tích 15 đến 30 mẫu “vi vệ tinh” DNA (microsatellites) để thử nghiệm sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm dân từ nhiều tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, 4 nhóm dân vùng Đông Nam Á (hai thuộc thổ dân Mỹ, một thuộc thổ dân Úc châu, và một thuộc Tân Guinea), 4 nhóm dân da trắng (Caucasian), và 3 nhóm dân Phi châu. Bằng một phương pháp phân tích thống kê có tên là “phân tích phát sinh chủng loại” (Phylogenetic analysis)”, một số kết quả đáng ghi nhận như sau:
  • hai nhóm dân có sự khác biệt rõ ràng nhất là Phi châu và các dân không thuộc Phi châu;
  • tất cả các nhóm dân Đông Nam Á “tập hợp” thành một nhóm, và nhóm dân có đặc tính di truyền gần họ nhất là người thổ dân Mỹ châu, kế đến là thổ dân Úc châu, và Tân Guinea (Những kết quả này cũng phù hợp với thời gian định cư ở Úc châu (khoảng 60,000 đến 50,000 năm trước đây, và thời gian định cư ở Mỹ châu (từ 30,000 đến 15,000 năm trước đây);
  • các nhóm dân miền nam Trung Quốc phân phối thành ba nhóm, gọi là S1, S2, và S3 (ngoại trừ nhóm S2 là người Hán từ tỉnh Henan, phần còn lại (S1 và S3) gồm các sắc dân trong vùng Yunnan); và
  • các sắc dân miền bắc Trung Quốc phân phối thành hai nhóm, gọi là N1 và N2. Nhóm N1 gồm 6 sắc dân nói tiếng Altaic, một nhóm Hán tộc miền bắc từ tỉnh Yunnan. Nhóm N2 gồm 4 sắc tộc thiểu số có lịch sử sinh sống lâu đời ở miền bắc, trong đó có một sắc tộc từ tỉnh Ninxia [5].
Từ những phát hiện trên, chúng ta có thể đặt ra một số mô hình để giải thích [6], nhưng mô hình thích hợp với dữ kiện của Giáo sư Chu và đồng nghiệp là các dân tộc miền Bắc Á được tiến hóa từ các dân tộc Đông Nam Á châu. Các dữ kiện liên quan đến răng, sọ [7,8,] cũng nhất quán với mô hình này. Do đó, Giáo sư Chu và đồng nghiệp kết luận rằng: “Tổ tiên của các nhóm dân Đông Á ngày nay có nguồn gốc từ Đông Nam Á.” Nói một cách khác, các dữ kiện di truyền học của Giáo sư Chu và đồng nghiệp cho thấy tổ tiên của những người nói tiếng Altaic từ Đông Á đã di cư vào Á châu từ ngã Đông Nam chứ không phải từ ngả Trung Á.
(b) Nhưng nghiên cứu của Giáo sư Chu và đồng nghiệp có một điểm yếu, đó là họ dựa vào vi vệ tinh DNA, một chất liệu di truyền rất “nhạy” (sensitive) và dễ bị đột biến (mutation [9]). Để khắc phục nhược điểm này, một nhóm nghiên cứu khác đã tiến hành một nghiên cứu độc lập và qui mô hơn để xác định nguồn gốc Đông Nam Á của dân tộc Trung Hoa. Nhóm nghiên cứu Mỹ – Trung Quốc phân tích DNA trong nhiễm sắc thể Y [10] trong các nhóm dân Hán (thuộc 22 tỉnh của Trung Quốc), 3 nhóm dân Đông Bắc Á (Buryat, Đại Hàn, và Nhật Bản), 5 nhóm dân Đông Nam Á (Cambốt, Thái Lan, Mã Lai, Batak, và Java), và 12 nhóm dân ngoài Á châu (3 nhóm từ Phi châu, 3 từ Mỹ châu, 2 từ Âu châu, và 4 từ châu Đại dương). Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) trong các nhóm dân Đông Nam Á cao hơn trong các nhóm dân thuộc vùng Bắc Á. Điều này có nghĩa là các sắc dân ở Đông Nam Á có một quá trình định cư lâu dài hơn là các nhóm dân Bắc Á. Dùng các phương pháp phân tích di truyền quần thể (population genetics), các nhà nghiên cứu kết luận rằng con người thời đó đã di cư từ Phi châu sang đến Đông Nam Á [11] vào khoảng 60 ngàn năm về trước, và sau đó đã di chuyển lên phía Bắc Á (kể cả Trung Quốc ngày nay) và Siberia [12]. Ngoài ra, còn có bằng chứng di truyền cho thấy các nhóm dân Polynesians cũng có nguồn gốc từ Đông Nam Á [13].
(c) Trong một nghiên cứu trên 103 người ở Hà Nội [14], các nhà nghiên cứu Việt – Pháp phân tích DNA trong hai gien (HLA-DR và DQB1), và so sánh kết quả này với các sắc dân thuộc châu Đại Dương (Oceania) và Đông Á. Sau khi ước tính khoảng cách di truyền [15] giữa các sắc dân, các nhà nghiên cứu kết luận rằng cấu trúc di truyền của hai gien này trong người Việt gần với người Thái và người Hoa. Các nhà nghiên cứu này kết luận rằng dữ kiện của họ phù hợp với giả thuyết người Việt có nguồn gốc từ người Trung Hoa và Thái-Nam Dương.
Tuy nhiên, sau khi xem xét kỹ phần phương pháp nghiên cứu, tôi có lý do để cho rằng kết luận này rất có thể không đúng. Những lý do này là: Thứ nhất, nghiên cứu này chỉ dựa vào hai gien mà thôi (con người có khoảng 35 đến 39 ngàn gien), và với những yếu điểm của mtDNA, các ước đoán về khoảng cách di truyền không ổn định. Thứ hai, ngay cả trong bài báo các nhà nghiên cứu không xây dựng được một cây di truyền nào, và cũng chẳng phân tích phát sinh chủng loại thì không thể phán đoán về chiều hướng di cư hay nguồn gốc dân tộc được.
(d) Khoảng 2 năm sau, các nhà nghiên cứu này lại tiến hành một nghiên cứu khác trên 50 người cũng ở Hà Nội [16], và cũng qua dùng kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) họ phân tích 6 “restriction enzymes”, và ghi nhận khoảng cách di truyền giữa người Việt và người Hoa rất thấp (chỉ 0.0022), nhưng giữa người Việt và Ấn Độ thì tương đối cao hơn (0.0468), có nghĩa là quan hệ giữa giống người Việt và Hoa gần nhau hơn so với quan hệ Việt và Ấn.
Nghiên cứu này cũng có những yếu điểm như nghiên cứu trình bày phần (c), tức là số lượng gien quá ít (trong trường hợp này chỉ có một gien), và tác giả cũng không tính toán mức độ biến thiên của chỉ số khoảng cách di truyền, nên không thể nào phát biểu khoảng cách giữa Việt – Hoa gần hơn khoảng cách giữa Việt – Ấn. Thực ra, sau khi tính toán lại, tôi thấy hai khoảng cách di truyền (Việt – Hoa và Việt – Ấn) không có sự khác biệt đáng kể (non-significant)!
(e) Tuy nhiên, một nghiên cứu khác trên 5 gien trong nhiễm sắc thể Y trong hai nhóm dân: Bắc Á (Bắc Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, và Mông Cổ), và Nam Á (Nam Dương, Phi Luật Tân, Thái, và Việt Nam) cho thấy người Việt gần với các nhóm dân Bắc Á (nhất là Hàn Quốc) hơn là các nhóm dân Nam Á [17]! Chúng ta biết rằng, qua nghiên cứu của Giáo sư Chu, người Hoa phía Bắc Trung Quốc có cấu trúc di truyền khác với người Hoa phía Nam Trung Quốc. Do đó, phát hiện này quả rất khó giải thích. Càng khó giải thích hơn nữa khi phần lớn những người Việt trong nghiên cứu này là cư dân ở Hà Nội, tức gần miền Nam Trung Quốc.
(f) Trong một nghiên cứu dùng mtDNA, Ballinger và đồng nghiệp [18] ghi nhận rằng chỉ số biến thiên (trong di truyền học gọi là F-value) trong người Việt cao nhất trong các sắc dân vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên, các tác giả kết luận một cách mơ hồ rằng các dữ kiện này cho thấy “người Á châu có nguồn gốc từ nhóm dân Nam Mông” (nguyên văn: “The greatest mtDNA diversity and the highest frequency of mtDNA with HpaI/HincII morph 1 were observed in the Vietnamese suggesting a Southern Mongoloid origin of Asians”).
Thực ra, các dữ kiện mà tác giả tŕnh bày không cho phép họ kết luận như thế, bởi v́ họ chỉ 7 nhóm dân Á châu mà thôi, và cũng chỉ nghiên cứu trên vài mẫu gien rất nhỏ. Nhưng qua số liệu của các nhà nghiên cứu này, chúng ta có thể phát biểu rằng trong hai gien mà họ nghiên cứu, người Việt có lẽ là một sắc dân cổ nhất trong vùng Đông Nam Á.
Qua các nghiên cứu di truyền dựa vào nhiễm sắc thể Y và mtDNA mà tôi vừa tóm lược và nhận xét, chúng ta có thể rút ra một vài điểm chung như sau:
  • Thứ nhất, các nhóm dân Đông Á có cùng một nguồn gốc chung, đó là tất cả đều xuất phát từ Phi châu. Cũng dựa theo các dữ kiện mới này, các nhà nghiên cứu ước đoán rằng đợt người đầu tiên di cư đến Đông Nam Á xảy ra vào khoảng 18.000 đến 60.000 năm trước đây, và sau đó từ đây một đợt di cư về phía Bắc. Một đợt khác cũng từ Đông Nam Á di cư sang các quần đảo Thái Bình Dương qua ngả Mã Lai Á ngày nay. Tất nhiên, đây chỉ là “câu chuyện” mới được phát họa, nhiều chi tiết vẫn còn trong vòng nghiên cứu thêm.
  • Thứ hai, vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt vẫn còn là một bí mật chưa được khai thác. Tất cả các nghiên cứu qui mô của đều không có dữ kiện gien của người Việt. Ngược lại những nghiên cứu có dữ kiện của người Việt thì lại chưa được tiến hành có hệ thống và qui mô, nếu không muốn nói là còn rất hạn chế. Vì thế, các nghiên cứu gần đây hoàn toàn không cho phép chúng ta phát biểu gì về nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt như có người đặt giả thuyết.
  • Thứ ba, những kết quả của các nghiên cứu này đã cung cấp thông tin cho chúng ta để phát biểu một giả thuyết mới, rằng người Hoa ngày nay có thể xuất phát từ phía Nam, mà cụ thể hơn là Đông Nam Á; và có bằng chứng [tuy chưa đầy đủ] cho thấy người Việt có thể là một dân tộc cổ nhất trong vùng Đông Nam Á; cho nên có thể người Việt cũng có thể chính là tổ tiên của người Hoa ngày nay, nhất là các sắc dân ở miền Nam Trung Quốc. Cố nhiên, đó chỉ là một giả thuyết cần được thử nghiệm.
Do đó, vấn đề quan trọng trước mắt là cần xác định mối liên hệ di truyền (genetic relationships) giữa các nhóm dân trong vùng Đông Nam Á (và Việt Nam), các nhóm dân miền Nam và Bắc Trung Quốc, cũng như các nhóm dân thuộc Nam Đảo, Polynesians, v.v... Với những kết quả này cộng với các dữ kiện tŕnh bày trong kho tàng khảo cổ và nhân chủng học cũng như trong cuốn “Eden in the East” chúng ta sẽ có một phối cảnh rơ ràng hơn về quá khứ. Hiện nay, chúng tôi đang xúc tiến một nghiên cứu di truyền học và cộng tác với các nhà nghiên cứu khác trên thế giới để nhằm tìm một câu trả lời cho vấn đề này. Chúng tôi dự tính sẽ thu thập và phân tích dữ kiện di truyền (chủ yếu qua phân tích DNA với khoảng 50 gien và các nhiễm sắc thể Y) trong khoảng 200 đến 300 người Việt, và sẽ dùng kết quả này để so sánh với các dân tộc khác trong vùng Đông Nam Á cũng như người Hoa để xác định xu hướng di cư của các nhóm dân này. Chúng tôi sẽ dùng những dữ kiện DNA để tiến hành một phân tích phát sinh chủng loại nhằm thử giả thuyết giả thuyết “Bắc tiến” (người Hoa có nguồn gốc từ phương Nam) hay “Nam tiến” (người phương Nam xuất phát từ người Hoa). Hy vọng trong tương lai, chúng tôi sẽ có các dữ kiện di truyền học để đi đến một so sánh có ý nghĩa và có thể phát biểu một cách có cơ sở khoa học hơn.
Nguồn gốc con người hiện đại, mà đặc biệt là nguồn gốc dân tộc Việt, là một câu hỏi đơn giản, nhưng câu trả lời thì không đơn giản chút nào. Tổ tiên chúng ta xuất phát từ đâu, họ đến Việt Nam bằng cách nào, vẫn còn là những vấn đề khoa học “nóng”, đ̣i hỏi nhiều nghiên cứu về di truyền học, khảo cổ học, và ngôn ngữ học. Tuy nhiên, với sự tiến bộ phi thường về khoa học di truyền và công nghệ sinh học trong khoảng mười năm qua, chúng tôi tin rằng việc nghiên cứu quá trình lịch sử di truyền của người Việt chúng ta sẽ đem lại nhiều kết quả thích thú và làm sáng tỏ hơn về nguồn gốc tổ tiên của chúng ta.

Nguyễn Văn Tuấn

Tài liệu tham khảo và chú thích:
[1] Xem “Nhân dọc Eden in the East, đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam," Tập san Tư Tưởng, số 15, Tháng 8, năm 2001; và Thế Kỷ 21, số 152, tháng 12, 2001.
[2]Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và ‘Địa đàng ở phương Đông’”, Nguyễn Quang Trọng, Hợp Lưu, số tháng Tư năm 2002.
[3] Xem bài “Giải đáp thắc mắc của ông Nguyễn Văn Tuấn …,” Lê Quấc Tuấn, Thế Kỷ 21, số 157, tháng 5, 2002. (Thực ra, ngay cả cái tựa đề cũng không hợp lý, vì tôi chẳng “thắc mắc” gì cả.) Trong bài viết này, tác giả dùng một văn phong rất trịch thượng và thiếu nghiêm túc và trong thảo luận. Nhưng quan trọng hơn, tác giả đã hiểu lầm bài viết của tôi và hình như chưa nắm vững nội dung cuốn sách của Stephen Oppenheimer. Trong Eden in the East, Stephen Oppenheimer không đưa ra một giả thuyết Nam tiến hay Bắc tiến nào cả, ông cũng chẳng đưa ra một giả thuyết nào về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Những luận án chính của Oppenheimer là: (a) Đông Nam Á là cái nôi của văn minh nhân loại ngày nay; (b) Những dân tộc thuộc quần đảo Polynesian không phải xuất phát từ Trung Quốc, mà có nguồn gốc từ Đông Nam Á; và (c) Người Đông Nam Á, chứ không phải Trung Hoa, là những người đã phát triển kỹ thuật trồng lúa đầu tiên trên thế giới, và là những nhà canh nông chuyên nghiệp đầu tiên của nhân loại. Dựa vào một số kết quả nghiên cứu gần đây và luận điểm của Stephen Oppenheimer, tôi muốn đặt lại vấn đề nguồn gốc Trung Hoa của dân tộc Việt Nam. Cần phải nói thêm rằng đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc không phải vì những chuyện nhảm nhí như “lo xa”, hay trẻ con như “bực bội”, hay để, một cách cải lương, khôi phục “tự hào dân tộc”, mà để đi t́m sự thật, và để đi tìm phương pháp cho một câu trả lời. Câu trả lời chỉ có ư nghĩa nếu câu hỏi được suy nghĩ cẩn thận.
[4] Thế nào là “khoa học”? Nói một cách ngắn gọn và theo quan điểm của người viết bài này, khoa học là tập hợp những phương pháp trí tuệ và phương pháp thực tiễn dùng để diễn tả và giải thích những hiện tượng quan sát được hay suy đoán được, trong quá khứ hay hiện tại, nhằm xây dựng một hệ thống tri thức mà chúng ta có thể bác bỏ hay xác nhận được. Những phương pháp trí tuệ bao gồm linh cảm, ước đoán, tư tưởng, giả thuyết, lý thuyết, và mô hình. Những phương pháp thực tiễn bao gồm bối cảnh của nghiên cứu, quá trình thu thập dữ kiện, hệ thống hóa dữ kiện, cộng tác cùng đồng nghiệp, thí nghiệm, tìm tòi và khám phá, phân tích thống kê, viết báo cáo khoa học, trình bày trong các hội nghị khoa học, và công bố kết quả nghiên cứu.
Khoa học dựa vào sự thật (facts). Những sự thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan. Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là sự thật có liên quan đến vấn đề đang được điều tra. Những sự thật này phải được thu thập (i) có tổ chức, trực tiếp, và khách quan; (ii) độc lập với lí thuyết; và (iii) một cách tin cậy để làm nền tảng cho suy luận. Một đặc tính quan trọng trong phát biểu trên về khoa học là những lý thuyết của khoa học có thể bác bỏ được. Cụm từ “có thể bác bỏ” ở đây cần phải hiểu một cách rộng rãi hơn, rằng tất cả các lý thuyết, nếu mang danh nghĩa khoa học, là những thuyết có thể thử nghiệm được, có thể tái xác nhận được bằng dữ kiện mới và độc lập. Và chính đặc tính này phân biệt rành mạch sự khác biệt giữa khoa học và ngụy khoa học (pseudoscience). Trong ngụy khoa học, các lý thuyết, chẳng hạn như thuyết tạo hóa (creationism) trong tôn giáo, đều không thể kiểm chứng hay thử nghiệm được. Nói một cách khác, một trong những tiêu chuẩn cho một lý thuyết khoa học là “khả năng phản nghiệm” (falsibility) của nó. (Có thể xem thêm vấn đề “phản nghiệm” này trong sách “The logic of scientific discovery,” Karl Popper, London: Hitchinson, 1972).
[5] Xem bài “Genetic relationship of populations in China,” tác giả J. Y. Chu và đồng nghiệp, Tập san Proceedings of the National Academy of Science (USA) 1998; số 95, trang 11763-11768.
[6] Chẳng hạn như mô hình thứ nhất: các nhóm dân miền Đông Bắc di cư xuống miền Nam, và hòa hợp với các nhóm dân Nam Á (Australoids, tức là người thổ dân Úc và Tân Guinea), những người đã từng định cư tại vùng Đông Nam Á châu trước đây. Theo mô hình này, có một nhóm người “gây giống” hiện diện ở Đông Nam Á khoảng 30 ngàn đến 50 ngàn năm trước đây. Mô hình này cũng phù hợp với bản đồ phân phối các ngôn ngữ ở Trung Quốc. Từ bản đồ này, chúng ta có thể phỏng đoán rằng miền bắc Trung Quốc từng được các dân tộc nói tiếng Trung Hoa và các ngôn ngữ Trung Hoa – Tây Tạng (Sino-Tibetan languages) định cư, còn miền nam Trung Quốc thì được các dân tộc nói tiếng Nam Á (Austro-Asiatic languages), Austronesian, Miao-Yao, và Daic định cư. Sau đó (khoảng 3000 năm trước đây, tức dưới triều đại Zhao) ngôn ngữ Trung Hoa – Tây Tạng dần dần thay thế các ngôn ngữ khác ở phía nam Trung Quốc, cũng giống như một quá trình truyền bá của các ngôn ngữ Ấn-Âu ở Âu châu.
Hay mô hình thứ hai: các nhóm dân miền bắc và nam Trung Quốc tiến hóa cùng một lượt kể từ thời đại Pleistocene (tức khoảng 10,000 năm trước đây). Mô hình này phù hợp với các dữ kiện khảo cổ học, và theo đó, có ít nhất là ba trung tâm nông nghiệp và các nền văn hóa Đồ đá mới cùng hình thành ở Trung Quốc. Đây là các văn hóa: (i) Yangshao (miền bắc, và miền trung sông Hoàng) khoảng 8000 năm trước đây, nơi mà cây kê là một cây trồng phổ biến nhất, lợn, chó được thuần hóa; (ii) Văn hóa Ta-Pen-Keng, cũng hình thành vào khoảng 8000 năm trước đây dọc theo bờ biển phía nam, kể cả Đài Loan, nơi mà sản phẩm chính là lúa gạo; (iii) Văn hóa Qing-Lien-Kang, hình thành vào khoảng 1000 năm trước đây, trong vùng hạ lưu sông Dương Tử, nơi mà cây lúa được trồng và thú vật như chó, lợn được thuần hóa.
[7] Xem bài “Major features of Sundadonty and Sinodonty, including suggestions about East Asian microevolution, population history, and late Pleistocene relationships with Australian aboriginals”, C. G. Turner, Tập san American Journal of Physical Anthropology, năm1990; bộ 82, trang 295-317.
[8] Xem bài “Population prehistory of east Asia and the Pacific as viewed from craniofacial morphology: the basic populations in east Asia, VII” T. Hanihara, American Journal of Physical Anthropology, năm1990, năm 1993, bộ 91, trang 173-87.
[9] Đột biến (mutation) là một sự kiện sinh học xảy ra ở trong tế bào. Gien được cấu trúc bằng một chuỗi DNA gồm 4 mẫu tự A, G, C, T. Khi một chuỗi DNA bị thay đổi, tức đột biến (chẳng hạn như từ GCAATGGCCC thành GCAACGGCCC) thì các đặc tính sinh học liên quan đến gien, chẳng hạn như mật độ xương, có thể bị thay đổi.
[10] Con người được cấu tạo bằng nhiều tỷ tế bào. Tất cả các tế bào đều có cấu trúc giống nhau: trong mỗi tế bào đều có một cái nhân (nucleus) nằm chính giữa. Cái nhân này có chứa những chất liệu di truyền mà ta thường gọi là DNA (viết tắc từ chữ deoxyribonucleic acid). Mỗi nhân thường có hàng triệu DNA. DNA gồm có bốn mẫu tự (yếu tố hóa học): A (adeline), C (cytosine), G (guanine), và T (thymine). Một mảng DNA tạo thành một gien. Và nhiều gien tạo thành một bộ di truyền hay nhiễm sắc thể, còn gọi là chromosome. Con người có 23 nhiễm sắc thể.
Không như DNA nằm trong nhân của tế bào, Mitochondrial DNA (mtDNA) nằm ngoài nhân của tế bào. MtDNA chỉ lưu truyền trong giống cái (ví dụ như từ mẹ sang con gái) do đó chúng rất có ích trong việc trùy tìm những mối quan hệ di truyền giữa các nhóm dân. Nhưng mtDNA có hai nhược điểm: (i) mtDNA có nhiễm sắc rất nhỏ, chỉ khoảng 16500 mẫu tự (tức chỉ khoảng 16 kilobases); và (ii) sự phân phối của các mẫu tự cũng không đồng đều.
Nhiễm sắc thể Y (hay “Y chromosome”) là một đối tượng lư tưởng để truy tầm nguồn gốc dân tộc, bởi vì nó không có những nhược điểm như mtDNA. Ngược lại với mtDNA, nhiễm sắc thể Y chỉ lưu truyền trong giống đực. Nhiễm sắc thể Y chứa nhiều mẫu tự hơn mtDNA (khoảng 60 megebases, tức 4000 lần cao hơn mtDNA), và do đó cho chúng ta nhiều thông tin về di truyền hơn là mtDNA. Ngoài ra, khi nhiễm sắc thể Y được phân tích bằng tập hợp nhiều kiểu di truyền (tức “genotypes”) thành “haplotype”, các nhà nghiên cứu có thể biết được “dấu vết di cư’” của một nhóm dân, và qua đó có thể ước đoán được tuổi của tổ tiên. Tuy nhiên, nhiễm sắc thể Y cũng có một vài nhược điểm, nhất là phân phối của haplotypes có thể bị ảnh hưởng bởi khả năng tái sản sinh của giống đực.
[11] Xem bài “African origin of modern humans in East Asia: a tale of 12000 Y chromosomes,” tác giả Yuehai Ke và đồng nghiệp, [Tập san] Science, năm 2001, bộ 292, trang 1151-1153.
[12] Xem bài “Y-chromosome evidence for a northward migration of modern humans into eastern Asia during the last Ice Age,” tác giả Bing Su và đồng nghiệp, [Tập san] American Journal of Human Genetics, năm 1999, bộ 65, trang 1718-1724.
[13] Xem bài báo khoa học “Polynesian origins: insights from the Y chromosome,” tác giả Bing Su và đồng nghiệp, Tập san Proceedings of the National Academy of Science (USA), năm 2000, bộ 97, trang 8225-8228.
[14] Xem bài “HLA-DR and DQB1 DNA polymorphisms in a Vietnamese Kinh population in Ha Noi”, tác giả A. Vu-Trieu và đồng nghiệp, Tập san European Journal of Immunogenetics, năm 1997, bộ 24, trang 345-356.
[15] Khoảng cách di truyền (hay còn gọi là genetic distance) là một thông số di truyền học đo lường mức độ khác nhau giữa các nhóm dân. Chỉ số này có giá trị tối thiểu là 0 (tức hai nhóm dân giống nhau về mặt di truyền), và giá trị tối đa là 1 (tức hai nhóm dân hoàn toàn khác nhau).
[16] Xem bài “Mitochondrial DNA polymorphism in the Vietnamese population”, tác giả R. Ivanova và đồng nghiệp, Tập san European Journal of Immunogenetics, năm 1999, bộ 26, trang 417-422.
[17] Xem bài “Y chromosomal DNA variation in East Asian populations and its potential for inferring the peopling of Korea”, tác giả W. Kim và đồng nghiệp, Tập san Journal of Human Genetics, năm 2000; bộ 45, trang 76-83.
[18] Xem bài “Southeast Asian mitochondrialDNA analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration,” tác giả S. W. Ballinger và đồng nghiệp, Tập san Genetics, năm 1992, bộ 130, trang 139-45

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2011

Chuyện ly kỳ về chiếc mỏ neo 300 tuổi

Cập nhật lúc 25/04/2011 06:20:00 AM (GMT+7)
- 62 tuổi, dáng người chắc nục như một khúc gỗ lim, lão thuyền chài Nguyễn Văn Mười là người “cai quản” cả một khúc sông dài gần chục cây số từ cầu Thăng Long kéo dài tới mạn cầu Thanh Trì. Tuổi đời, tuổi nghề, kinh nghiệm sông nước… đã mặc định lão là một con rái cá ở khu vực Bến Gỗ mấy chục năm nay. Thế nhưng, lão sẽ còn được nhắc đến nhiều hơn khi chính lão là người “đánh thức” một cổ vật vùi lấp hàng trăm năm dưới lòng sông mẹ…


1. Buổi sáng định mệnh
Đấy là một buổi sáng định mệnh của mùa hè tháng 6/1999, lão thuyền chài Nguyễn Văn Mười vẫn lụi cụi và âm thầm làm công việc mưu sinh đã nuôi sống ông và gia đình mấy chục năm nay: đi xăm củi dưới lòng sông. Sông Hồng khu vực bãi giữa, xưa kia là bến Gỗ - nơi tập kết gỗ từ mạn ngược đổ về Hà Nội bằng đường thủy.
Lão Mười kể, thuở ấy, dễ đến ngót thế kỷ, phương tiện vận chuyển duy nhất để người miền xuôi “ăn hàng gỗ” từ mạn ngược, đấy là hình thức đóng gỗ thành bè, thả trôi sông Hồng. Vì thời gian dài như thế nên rất nhiều củi gỗ bị chìm dưới đáy sông, bị lớp phù sa sông Hồng vùi lấp, nên không biết cơ man nào là củi…
Dụng cụ hành nghề của lão Mười khá đơn giản: một cây sào dài ngót hai chục mét, bằng thân cây tre đực, khá nặng, vót nhọn một đầu. Lão Mười cùng con trai giong thuyền ra giữa dòng sông Cái. Trong lúc con trai điều khiển con thuyền ra đúng lạch nước và dừng lại, để tự trôi thì lão xăm xắn cầm sào xăm từng nhát xuống dưới đáy sông.
Khi chạm vật cứng, cái âm thanh và cảm giác truyền qua cây sào, bằng kinh nghiệm lão sẽ nhanh chóng mà biết được, hôm đó có “ăn hàng” hay không…
Lão thuyền chài Nguyễn Văn Mười - Ảnh: Kiên Trung


Khoảng 9h sáng, cây sào của lão Mười truyền tín hiệu lên bàn tay ông lão: một tiếng “pực” rất chắc, gọn – âm thanh của đầu sào tiếp xúc với vật cứng. Để chắc chắn, lão Mười đâm thêm chục nhát nữa, di chuyển trong bán kính khoảng chục mét, vẫn thấy một âm thanh đanh, gọn truyền lên như vậy.

“Khi ấy, tôi cứ chắc mẩm phen này được mớ gỗ to, “hẻo” nhất cũng phải cả tấn củi chứ ít ỏi gì. Nhưng, hóa ra còn vượt cả khả năng tôi dự đoán…” – lão Mười hể hả.
Hai chiếc mỏ neo cổ có niên đại vài trăm năm tuổi - Ảnh: Kiên Trung


Đợi con trai thả neo chiếc thuyền ở khu vực sông vừa “khoanh vùng”, lão Mười hít một bụng hơi đầy rồi nhao xuống sông lặn dò tìm đống củi mà lão vừa xăm được. Ở khúc sông bến Gỗ này, lão Mười là con rái cá và có kinh nghiệm sông nước lâu năm nhất.

Sáu đứa con cả dâu cả rể, cùng với hai ông bà lão già kết lại thành một xóm thuyền chài gần khu vực bãi giữa. Và đương nhiên, lão là người “chỉ huy” và điều hành sáu hộ gia đình này, rất ra dáng của một người thủ lĩnh.
Vẫn câu chuyện của buổi sáng may mắn. Lão Mười lặn một hơi xuống đáy sông thì thấy một đống củi gỗ tròn, dạng như gỗ chống hầm lò khai thác than, ước vài chục cây, đường kính chừng 60cm. Lão làm hiệu cho con trai đứng trên thuyền thả một đầu dây xuống. Kéo hết đống củi thì cũng non trưa, hai cha con định bụng chiều sẽ nghỉ ngơi, vì dẫu sao mớ củi gỗ thu được buổi sáng hôm ấy bán đi cũng đủ cho gia đình chi tiêu cả tuần lễ.
Nhưng, kéo hết đám củi lên thì có chuyện…
“Vớt hết đám củi gỗ tròn lên thì tôi lại thấy một vật cứng, dài, và có vẻ khá kềnh càng. Gạt lớp bùn ra và sờ, rồi bơi lần theo cái thớ gỗ ấy tôi không tài nào đoán được nó là cái gì. Trước tới giờ, số lần vớt củi nhiều đến mức không đếm xuể, nhưng chưa bao giờ thấy đống củi nào có hình thù lạ thế!”.
Trục vớt cổ vật
Lúc ấy khoảng gần 11h trưa. Mặt trời đã chính ngọ. Vừa mừng vừa vui, lại hồi hộp, tò mò vì ngày làm việc may mắn, lão Mười quay thuyền về nhà huy động thêm đám dâu rể con cái, thảy được 8 người. Anh con trai út của lão Mười khuyên bố, cứ thong thả, về nhà ăn uống nghỉ ngơi, vật vẫn nằm đó, mà khúc sông này, từ cầu Nhật Tân chạy xuôi tít mạn Thanh Trì là “địa bàn” của gia đình lão, không ai có quyền khai thác, đánh bắt hay có bất cứ hoạt động liên quan tới việc… mưu sinh.
Luật sông nước phân chia khúc sông, địa bàn là như vậy, hàng trăm năm rồi vẫn thế, và được giới vạn chài chấp nhận như là một mặc định.
Nhưng lão Mười không nghe lời con. Bốn chiếc thuyền được huy động, tín chuyện kết lại với nhau thành một khối vững chãi, hệt như kiểu Chu Du bày kế để Tào Tháo ken chiến thuyền lại thành một chuỗi. Dây chão được đem ra. Hai gã trai trẻ lực điền được cử xuống cùng với lão Mười, lựa vị trí chắc chắn để chốt một đầu chão vào.
Năm người còn lại đứng trên thuyền có nhiệm vụ… tời dây chão. Vì gia đình lão là những con rái cá thực thụ, lại dựa vào sông nước mưu sinh nên mấy chục năm trời, mấy bố con cũng bóp mồm bóp miệng đầu tư một cái thuyền có đầu máy nổ, trên đó có thiết bị ròng rọc tời bằng tay.
Chiếc dây chão căng theo những vòng tời. Càng lên đến gần mặt nước, sức nặng của tải trọng càng lớn. Những cánh tay lực điền phải gồng sức, cong lên những múi bắp như thớ cầu vồng…
“Lâu ngày, lại bị ngâm nước nên cái “vật thổ tả” ấy nặng như chì, cảm giác phải nặng vài tấn chứ chẳng phải ít. Non một tiếng thì cái đầu nó bắt đầu nhô lên mặt nước. Đầu gỗ nhọn, có bịt sắt” – lão Mười hay chuyện – “Rồi qua một đoạn gỗ, nó thò thêm được một cái đầu cũng có hình dáng tương tự, một lúc nữa thì nhô lên cái thân. Dài lắm, ngót hai chục mét lận… Hóa ra nó là cái mỏ neo chú ạ. Nhưng, từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ, chưa bao giờ tôi nhìn thấy cái mỏ neo nào nó to đến thế, lại bằng gỗ liền thân, không chắp vá. Phen này thì được mớ củi to rồi”.
Gương mặt lão Mười giãn nở theo câu chuyện. Đang mùa lũ, nước sông Hồng chảy xiết. “Khúc củi” thân chính dài hơn 4 mét, hai cái ngạnh hai bên, mỗi cái dài thước rưỡi, đường kính chừng 30cm. Chiếc thuyền trọng tải 5 tấn của cha con ông chòng chành theo những lần khúc củi lắc lư. Gần hai tiếng đồng hồ thì cha con lão Mười đưa được “khúc củi” lên mặt nước, nằm yên vị trên thuyền.
Dụng cụ xăm gỗ của lão thuyền chài Nguyễn Văn Mười - Ảnh: Kiên Trung

Lão Mười không biết chữ. Nhưng, những gì đã chảy qua cuộc đời lão, lão nhớ rành mạch, không sót một chi tiết nào. Vẫn câu chuyện của lão Mười: “Tháng 10 ta năm ngoái, cũng trong một lần đi xăm gỗ, tôi còn vớt được một loạt súng, kiếm…, nhưng đã han rỉ hết cả. Gọi đồng nát đến bán được mấy triệu bạc. Tôi thấy mình cũng may mắn. Cái khúc sông này nó cũng cho mình nhiều thứ, nuôi sống cả gia đình mình, kể cả bây giờ khi con cháu đã đàn đàn lũ lũ, và đám thuyền nhà tôi neo ở bãi Giữa cũng thành một cái xóm vạn chài sầm uất rồi…”.
Chuyên gia Tây đã vào cuộc "chuyên án mỏ neo cổ" - Ảnh: Kiên Trung

Trở về chuyện chiếc mỏ neo cổ mà lão vớt được vào mùa hè năm 1999. Chừng ngót một tháng sau, ông Quách Văn Địch – chủ một quán bia hơi ở Hà Nội tình cờ lạc bước, rồi chẳng biết trời đất xui khiến thế nào, ông Địch cứ nhất khoát mua chiếc mỏ neo về để bày ở quán bia… cho vui, như là một hình ảnh độc đáo để khách bia bọt nhớ đến cái quán của ông mà tìm cho dễ.
Và, cái quyết định “kỳ quái” của ông Địch ngày ấy, chẳng biết may cho lão Mười hay may cho chiếc mỏ neo, mà bây giờ, chiếc mỏ neo ấy được các chuyên gia Tây vào cuộc nghiên cứu, khẳng định nó là cổ vật từ thế kỷ… 15.
  • Kiên Trung
  • Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/17054/chuyen-ly-ky-ve-chiec-mo-neo-300-tuoi.html

***
Cập nhật lúc 26/04/2011 06:30:00 AM (GMT+7)
- Câu chuyện tưởng như sẽ khép lại khi một ông chủ quán chuyên quan tâm đến bia bọt bỗng dưng lạc bước đến bờ sông Hồng, nơi có “khúc củi” của lão thuyền chài Nguyễn Văn Mười để ở đó, nhưng...

2. Cuộc tầm nã và đánh vật của ông chủ quán bia
Ông Quách Văn Địch – chủ một quán bia ở Hà Nội, là người nhanh nhẹn, quyết đoán. Có thể vì thế nên việc ông gặp và rất nhanh sau đó đã quyết định “khênh” khúc củi mục đó về, để trong quán bia, sau này quán bia dẹp, ông khuân nó về theo những lần chuyển nhà. Bẵng đi, hơn chục năm trời ông là người chung sống với cổ vật sông Hồng.
Ông chủ quán bia Quách Văn Địch bên chiếc mỏ neo mà ông đã "tầm nã" được. - Ảnh: Kiên Trung

Đó là một buổi sáng mùa hè năm 1999, sau khi lão thuyền chài Nguyễn Văn Mười vớt được chiếc mỏ neo khổng lồ được ngót một tháng. Ông Địch có bà con họ hàng ở mạn Hàm Tử Quan nên nhấp nhổm đến thăm. Đến bãi sông, ông nhìn thấy chiếc mỏ neo và dựng tóc gáy vì sửng sốt.
Chiếc mỏ neo gỗ có hình dáng kỳ lạ chưa từng được nhắc đến: thân chính của mỏ neo dài gần chục thước; hai ngạnh hai bên được ghì với thân chính bằng một cái đai sắt, và lại được “khóa” thêm bằng một lần dây chão quấn ghì nhiều vòng, kiểu buộc chỉ có thít chặt vào chứ không bao giờ mở ra. Độ mở của hai chiếc ngạnh hai bên từ vị trí thân trụ của mỏ neo, mỗi bên cũng gần ba thước.
Ban đầu, ông Địch nghĩ đó là một mô hình người ta dựng lên để làm trang trí không gian cổng vào của bến tàu du lịch sông Hồng. Thế nhưng, xem kỹ, ông mới thấy kỳ lạ bởi nước gỗ đã xám xịt màu thời gian; những dăm gỗ trên bề mặt trục chính và hai ngạnh bị nước và nóng làm nở ra, đều tăm tắp hệt như một bức tranh sắp đặt mà ai đó cố tình tạo ra.
Sẵn có quán hàng ăn mà hai vợ chồng ông mở lấy kế sinh nhai, ý định mua chiếc mỏ neo to đuềnh đoàng này về để làm… vật trang trí ở quán ăn, như là một chiêu PR hoàn hảo để khách một lần vào sẽ không thể quên được… nhà hàng mỏ neo. Thế là ông Địch “rước” khúc củi mục kềnh càng ấy về, đặt ở giữa quán bia mà vợ chồng, con cái ông đang mưu sinh, bất chấp bà vợ nghiến răng nghiến lợi vì kiểu… đầu tư không giống ai của ông chồng… trái khoáy.
Những chuyên gia Tây đã sang tận nhà ông Địch để giám định niên đại
hai chiếc mỏ neo này

Tưởng như vậy đã xong, thì cuối năm 1999, một thanh niên lạ mặt tìm đến quán bia của ông Địch. Anh này “biết tiếng” ông Địch đã bỏ hẳn một cục tiền để rước “khúc củi” hai ngạnh kia về. Và, anh này cũng vừa vớt được một cái mỏ neo bằng gỗ, hình dáng còn kỳ lạ hơn, đấy là chỉ có một ngạnh.
Mọi chuyện lúc đó, chỉ khổ mỗi… vợ ông Địch. Đợi vợ ra khỏi nhà, ông Địch “mở trộm” két, lấy tiền trao cho anh thanh niên kia để “khênh” nốt chiếc mỏ neo một ngạnh. Gần chục năm trôi qua, hai chiếc mỏ neo kềnh càng này đã trở thành thành viên trong gia đình ông Địch.
Chuyên gia Tây vào cuộc
Năm 2002, một ông khách du lịch người Trung Quốc đến quá bia của ông Địch. Sau một hồi nhìn ngắm, ông khách này nhờ cô hướng dẫn viên phiên dịch giúp, ngỏ ý muốn mua lại một chiếc mỏ neo hai ngạnh với giá… 30.000 USD. Ông Địch chỉ cười, vì ngỡ rằng ông khách Trung Hoa nói đùa.
Vì nhà chật chội, và hai chiếc mỏ neo quá lớn, ông Địch phải "ghé" nó sát mé tường - Ảnh: Kiên Trung

Nhìn vẻ mặt của ông Địch, ông khách du lịch lại nghĩ mức tiền mà ông này ngỏ ra chưa hợp lý. Sau mấy ngày vào Sài Gòn theo tour, ông này quay trở lại, và quyết định nâng giá lên gấp… năm lần: 150.000USD. Bây giờ thì đến lượt ông Địch giật mình. Ông giật mình không phải vì khoản tiền khổng lồ mà ông khách lạ bỏ ra để mua lại “khúc gỗ”, mà trước đấy, ông nghĩ trên thế gian này chỉ có mình ông là người “rồ dại”. Sau đấy nghĩ lại, ông mới lờ mờ suy đoán, hẳn chắc chắn đấy là một cổ vật có giá trị lịch sử rất lớn, chứ không chỉ đơn thuần là một vật vô tri bấy lâu nay trầm tích dưới sông Hồng, được người ta tình cờ phát hiện.
Về nhà, ông Địch bắt đầu nhìn hai “hiện vật” của mình bằng một “con mắt” khác. Ông chụp ảnh và lần “mò” lên Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tìm gạp ông Dương Trung Quốc, vì “nghe nói ông Quốc là người rành lịch sử”. Ông Quốc đi vắng, ông Địch viết một bức thư tay, đại ý muốn mời ông Quốc đến tận nhà xem hai cái mỏ neo của mình, và lý giải giúp ông vì sao mà hai “khúc củi” ấy lại được người ta bỏ cả bạc tỷ ra mua lại.
Ông Mười - người trục vớt chiếc mỏ neo hai ngạnh - Ảnh: Kiên Trung

Hai hôm sau, nhà sử học Dương Trung Quốc đến nhà ông Địch theo địa chỉ trong bức thư, nhưng không phải đến một mình. Ông Quốc rủ thêm một chuyên gia khảo cổ học, tiến sỹ Vũ Thế Long. Cả ông Quốc và ông Long sửng sốt trước hai chiếc mỏ neo kỳ lạ này. Lời hứa của ông Quốc và ông Long đã dẫn tới câu chuyện các chuyên gia, giáo sư đầu ngành… của những nước có ngành hàng hải phát triển đến tận nơi tìm hiểu nghiên cứu về chiếc mỏ neo cổ của ông Địch.
Đoàn chuyên gia gồm có hai người Nhật, Randall Sasaki và Jun Kimura; hai chuyên gia người Úc, hai chuyên gia – giáo sư người Mỹ và Pháp. Đây là những chuyên gia hiện đang làm việc ở các Viện nghiên cứu về sự phát triển của ngành hàng hải dựa trên các xác tàu đắm được trục vớt.
Tiến sỹ Vũ Thế Long là người "móc nối" với những chuyên gia nghiên cứu
lịch sử hàng hải đến Việt Nam để làm "chuyên án mỏ neo cổ"
- Ảnh nhân vật cung cấp.

Theo kết quả giám định của Viện giám định Vật lý, chiếc mỏ neo một ngạnh có tuổi đời từ khoảng thế kỷ 13. Còn chiếc mỏ neo thứ hai, hai ngạnh có niên đại khoảng thế kỷ 15. Hai chiếc mỏ neo này đều có nguồn gốc từ những loại gỗ tốt, họ cây bồ kết, và là một phần của những chiếc tàu lớn, chưa xác định cụ thể là tàu buôn hay tàu chiến, và thuộc các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Ông Mười bên chiếc thuyền tham gia trục vớt chiếc mỏ neo. - Ảnh: K.Trung

Nghe được những thông tin chính xác từ các chuyên gia hàng đầu này, ông Địch là người hạnh phúc nhất. Ông ngỡ ngàng hiểu ra, bấy lâu nay ông đang sở hữu những cổ vật độc nhất vô nhị, nó là minh chứng cho cả một giai đoạn lịch sử quan trọng cho thấy sự phát triển của ngành hàng hải Việt Nam, hay chí ít cũng là nhân chứng của một thời kỳ kinh tế giao thương phát triển của thời kỳ phong kiến.
Randall Sasaki cho hay: “Tôi đã xem rất kỹ hai chiếc mỏ neo được chụp ảnh và gửi qua đường email, nhưng chưa chắc chắn đó là mỏ neo thuộc triều đại Nguyên Mông. Tôi đã nghiên cứu rất kỹ về triều đại Nguyên Mông, và trận Bạch Đằng thực sự là một trận đánh lịch sử. Tôi cho rằng đây là cơ hội tốt để đến Việt Nam tìm hiểu kỹ hơn về trận Bạch Đằng”.
Sang Việt Nam, Randall Sasaki đã lấy các mẫu dăm gỗ cạy ra từ hai chiếc mỏ neo này để về Nhật giám định, nghiên cứu niên đại xem có trùng với niên đại của chiếc mỏ neo phát hiện ở Nhật không. Nhưng khác biệt lớn nhất về nguyên liệu là đầu chiếc mỏ neo phát hiện ở Takashima (Nhật Bản) được bao bằng đá buộc vào, còn đầu hai chiếc mỏ neo ở đây được bọc sắt.
“Nhóm chúng tôi sẽ cố gắng hỗ trợ phía Việt Nam về phương pháp nghiên cứu và thậm chí cả việc kêu gọi tài trợ để lập quỹ hỗ trợ nghiên cứu”, Randall Sasaki, nghiên cứu sinh tiến sĩ của INA khẳng định. Còn Jun Kimura, nghiên cứu sinh tiến sĩ của Flinder University nhận xét: “Qua so sánh với những mỏ neo gỗ trục vớt được ở Nhật năm 1994 (đã được xác định có từ thời Nguyên Mông, thế kỷ thứ 13), cảm giác của tôi là có vẻ như hai chiếc này ra đời muộn hơn”.

Kiên Trung
Nguồn: http://www51.vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/17058/chiec-mo-neo-gia-bac-ty-tren-song-hong.html

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011

Về bản dịch thơ Hồ Xuân Hương của Giáo sư - nhà thơ J. Balaban



21-04-2011
GS MAI QUỐC LIÊN
Năm 2002, tôi nhận được thư của GS J. Balaban. Bức thư lời lẽ nhã nhặn, tình cảm nồng hậu của một GS người Mỹ mà tôi chưa hề được gặp, được làm quen; chứng tỏ một mối quan tâm đến văn hóa Việt Nam và những dự định tốt đẹp vun bồi cho nền văn hóa ấy bằng nhiều cách. Toàn văn bức thư dịch ra tiếng Việt như sau:
“Thưa Giáo sư Liên,

Đính kèm theo đây là bản dịch tập thơ Hồ Xuân Hương của tôi có nhan đề là Hương mùa xuân: Thơ Hồ Xuân Hương (NXB Copper Canyon, 2000). Vào tháng chạp năm 2000, tôi cũng đã gửi đến GS một bản sao của tập thơ này, nhưng tôi không dám chắc rằng, GS đã nhận được. Dầu vậy, ông Trần Văn Dĩnh bảo tôi nên gửi cho GS một bản khác. Tôi cũng đang gửi một bản sao quyển trọn bộ tiểu sử Hồ Chí Minh của tác giả William Duiker bằng thư riêng cho GS.
Trong thư gửi GS lần trước, tôi đã đề cập đến Quỹ Bảo tồn di sản chữ Nôm Việt Nam, do nhà ngôn ngữ học Ngô Thanh Nhàn, Kỹ sư máy tính Đỗ Bá Phước, và tôi khởi xướng sau khi vẫn tiếp tục hoàn chỉnh tập thơ Hương mùa xuân. Hiện chúng tôi cũng đang tiến hành in ấn một quyển từ điển đầu tiên về chữ Nôm - Quốc ngữ. Cả anh Nhàn và anh Phước sẽ có mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng độ ngày 10 tháng 4, và tôi đã đề nghị họ nên đến gặp GS nếu thấy thuận tiện. Họ sẽ gặp TS Ngô Trung Việt, cộng sự tại Việt Nam của Quỹ chúng tôi, Tiến sĩ sẽ liên lạc với GS để sắp xếp cuộc hẹn.
Còn một vấn đề khác nữa, Virginia Jing-yi Shih là một trong những người chúng tôi đã tài trợ để nghiên cứu chữ Nôm ở Việt Nam, thông thạo cả Việt ngữ lẫn tiếng Trung, và cũng là người biết khá rõ về chữ Nôm. Cô Virginia là quản thủ thư viện nghiên cứu về Đông Nam Á của Đại học California - Berkeley. Cô ấy cũng đang quan tâm đến việc nghiên cứu và chuyển ngữ bộ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. GS có nghĩ rằng, GS có thể giúp cô ấy về chữ Nôm trong công trình nghiên cứu đặc biệt này không? Trước đây, cô ấy cũng đã từng chuyển ngữ tập thơ của Nguyễn Trãi sang tiếng Trung Quốc. Nay, cô ấy muốn tiếp tục công trình nghiên cứu đó vào mùa hè này; và Quỹ của chúng tôi sẵn lòng bảo trợ các chi phí cho việc nghiên cứu của cô ấy. Nếu GS quan tâm đến việc này, xin vui lòng cho tôi biết qua địa chỉ điện thư: tbalaban@earthlink.net.
Ngoài ra, chúng tôi cũng có một website mới mà có thể GS sẽ quan tâm: www.nomfoundation.org. Qua thư này, xin kính chúc GS gặp nhiều tốt lành trong năm mới và hy vọng GS sẽ có một cuộc gặp thú vị với các giám đốc đồng nghiệp của tôi.
Trân trọng.

Chủ tịch, John Balaban
Đồng kính gửi: Trần Văn Dĩnh, Ngô Thanh Nhàn,
James Đỗ Bá Phước, Ngô Trung Việt”.


Bức thư GS. John Balaban gửi cho GS. Mai Quốc Liên.

Sau này, tôi đã gặp TS Ngô Trung Việt và TS Ngô Thành Nhàn, lúc đó là Phó chủ tịch Quỹ bảo tồn di sản chữ Nôm của GS J. Balaban. TS Nhàn đã hướng dẫn tôi đi thăm các Đại học Yale, Southern Connecticut, thăm New York nhân có cuộc Hội thảo châu Á ở Boston 2007, một chuyến viếng thăm để lại những ấn tượng tuyệt vời. TS Nhàn cũng vui lòng tham gia vào Hội Đồng Khoa Học của Trung tâm Nghiên cứu Quốc Học và vẫn giữ liên lạc thường xuyên với chúng tôi. Còn về Virginia Jing-yi Shih ở Đại học Berkeley (Mỹ) thì tôi cũng đã vui lòng giúp chị ấy qua những câu hỏi mà chị ấy đặt ra trong việc làm luận án về Nguyễn Trãi. Chị đã gửi tặng tôi bản luận án sau khi đã bảo vệ thành công, và chúng tôi cũng đã gặp nhau ở Hội thảo Boston.
Rất tiếc là cho đến nay, tôi vẫn chưa được gặp GS J. Balaban. Nghe ông có qua Hà Nội nhưng không vào Thành phố Hồ Chí Minh, và vì bận rộn công việc, nên sau bức thư đó, tôi cũng có lỗi là đã không giữ liên lạc trực tiếp thường xuyên.
Đọc bản dịch Hồ Xuân Hương của GS, tôi có trao đổi vài ý kiến khi gặp TS Ngô Thanh Nhàn. Tôi rất vui mừng là tập thơ dịch đã có tiếng vang lớn ở Hoa Kỳ: bán được 20.000 cuốn và khi Tổng thống Mỹ Clinton đến Việt Nam, trong diễn văn của ông, ông đã nhắc đến bản dịch này: “Các bài thơ 200 năm tuổi của nữ sĩ Hồ Xuân Hương được xuất bản ở Mỹ bằng tiếng Anh, tiếng Việt và cả nguyên bản chữ Nôm, đây là lần đầu tiên mà một bản thảo cổ của Việt Nam được đưa lên in ấn” (diễn văn của Tổng thống Clinton tại cuộc chiêu đãi của Chủ tịch nước Việt Nam tối 17/11/2000). Chúng tôi xin chân thành chúc mừng thành công đó của GS J. Balaban.
Sau đây, để cho những lần in lại sau này ở Mỹ (và từ Mỹ nó sẽ đi đến khắp thế giới, trước hết là đến với những người bạn của Việt Nam và những nhà nghiên cứu Việt Nam), bản dịch sẽ được hoàn thiện hơn, tôi xin góp một số ý kiến.
Trước hết, trong Dẫn nhập (Introduction). GS có nói rõ: “Tháng Hai năm 1999, tôi có đến Hà Nội để tham khảo với các học giả nhằm tìm và xác minh bản gốc bằng tiếng Nôm của những bài thơ trong tập sách này…
…Quyển sách này, tuyển tập khá tầm cỡ đầu tiên của thơ Hồ Xuân Hương bằng tiếng Anh, hầu như chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót về xuất xứ cũng như sai lạc thuần túy do việc làm của tôi, một người ngoại quốc, dù là thi sĩ, đang bơi trong dòng nước ngập lút đầu mặc dù được khích lệ bởi sự cổ vũ của người Việt Nam đứng ở trên bờ xa tít” (Spring essence, tr.14)

Bìa cuốn sách Hương mùa xuân: Thơ Hồ Xuân Hương (Spring essence -
The Poetry of Ho Xuan Huong).

Như vậy là GS - Nhà thơ J. Balaban đã làm việc rất cẩn trọng, như một nhà văn bản học chuyên nghiệp khi tiếp cận văn bản thơ Hồ Xuân Hương, đã thế ông còn sang cả Việt Nam để tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu.
Nhưng mặc dù như vậy, không thể hiểu được vì sao trong văn bản Nôm in kèm theo và trong bản dịch, lại có những sai lầm sơ đẳng về phiên âm, và do đó đã làm lệch nghĩa câu thơ một cách hết sức đáng tiếc.
Trong bài Vịnh nữ vô âm (tr.38) có câu:
Điển nương dâu 娘妯 mà trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết là “trên Bộc trong dâu”:“Ra tuồng trên Bộc trong dâu/ Thì con người ấy ai cầu mà chi”, xuất tự thành ngữ “tang gian Bộc thượng”. Sách Hậu Hán thư Địa lý chí nói rằng, đất nước Vệ có chỗ kín trong tang gian (bãi trồng dâu) ở Bộc thượng (trên sông Bộc) là nơi trai gái tụ hội, do đó sau người ta dùng mấy chữ “Tang gian Bộc thượng” để chỉ thói dâm ô. Nguyễn Du dịch là trên Bộc trong dâu, bốn từ ấy đã thành thành ngữ” (Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, H., Nxb Văn Hóa Thông Tin, 2000, tr.577).
Thế nhưng trong bản phiên âm này thì lại ghi là nàng dâu: “Trăm năm còn khỏi tiếngnàng dâu; và dịch là: “Since her whole life she’ll never have to hear “daughter – in – law”(Bởi suốt đời này sẽ không bao giờ phải nghe tiếng “nàng dâu” – “daughter – in – law” trong tiếng Anh nghĩa là nàng dâu”.
Như vậy, vì phiên âm nhầm nương dâu thành nàng dâu mà câu thơ mất nghĩa.
- Bài Phận đàn bà (tr.72), có câu:
Tất tả những là thu với vén
Vội vàng nào những bống cùng bông
.
Tất tả 必左 chứ không phải là tất cả 必奇 như trong bản Nôm và bản phiên âm.
Tất tả ở câu trên đối xứng với vội vàng ở câu dưới.
Nhưng hai câu dịch ra tiếng Anh thì không theo cái sai của phiên âm:
Yet, everything must be put in order
Rushing around all helter - skelter.

(Lại còn mọi việc phải thu vén
Dồn dập xoay quanh bấn loạn cả lên).
- Bài Khóc ông Tổng Cóc: Nòng nọc nên phiên là đứt đuôi, 坦 đứt (loại chữ giả tá) x. Từ điển chữ Nôm, Nguyễn Quang Hồng chủ biên, tr.383, H., 2006), chứ phiên đất đuôi thì không có nghĩa gì. (bản tiếng Anh dịch đúng làthe tadpole’s los his tail. Con nòng nọc đã mất đuôi).
- Bài Bánh trôi nên phiên: Bảy nổi ba chìm với nước non chứ không phiênmấy - 買 - có thể phiên là mấy (nghĩa là vài, bao nhiêu; còn phiên là với (mới):“Một ao niễng niễng với đòng đong” (Nguyễn Trãi) x. Từ điển chữ Nôm, Sđd, tr.679).
- Bài Chơi hoa (tr.62) phiên: Đã trót chơi hoa phải trèo. Nên phiên đúng là cố.
Bài Vịnh chùa Quán Sứ, phiên:
Sáng banh không kẻ khua tang mít
Trưa trật không
ai móc kẻ rêu.
nên đổi:
Sáng banh không kẻ khua tang mít
Trưa trật nào
ai móc kẻ rêu.
Theo phép đối, không không thể đối lại là không.
- Bài Người bồ nhìn (tr.98):
Xét xoi trước mặt đôi vầng ngọc
Phải phiên là xét soi .
Trong một bản dịch, một vài sai sót về nghĩa đen như những vết sướt da rất dễ chữa, không làm hại bản dịch rất tài hoa. Tuy vậy, cần phải nhắc để khi tái bản có thể chỉnh lại cho toàn bích. Tôi nhắc lại là GS J. Balaban đã làm việc hết sức cẩn trọng, cẩn trọng đến mức tối đa, nhưng những người giúp đỡ ông có lẽ đã không có dịp soát lại bản phiên âm chăng?
*
Tuy đã rà soát các văn bản cổ nhất chép thơ Hồ Xuân Hương rất kỹ càng (trong đó có bảnL'œuvre de la poétesse Vietnamienne Hồ Xuân Hương của Maurice Durand), việc chọn tuyển dịch thơ ở đây cũng không thể nói là đã mười phần tốt đẹp.
Có những bài thơ mà xét về mặt phong cách, mặt từ ngữ (dùng nhiều từ Hán Việt đài các, trang trọng, mờ nhòe khác với cách dùng từ Nôm thuần Việt, dân dã, cụ thể thường thấy của thơ Hồ Xuân Hương). Đó là hai “mỹ học” khác nhau, thậm chí đối lập nhau.

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông/ Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Tranh Bùi Xuân Phái.

Những bài như Cảnh thu: “Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa/ Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ/ Xanh om cổ thụ tròn xoe tán/ Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ…”; bài Đài khán xuân: “Ba hồi triêu mộ chuông gầm sóng/ Một vũng tang thương nước lộn trời”; bài Tức cảnh: “Còi mục thét lừng miền khoáng dã/ Lưới ngư giang gió bãi bình sa”, lâu nay nhiều học giả xếp vào thơ Bà Huyện Thanh Quan.
Bài Vịnh khách đáo gia, 4 câu đầu rất tầm thường, non nớt: “Nhện sa cá nhảy mấy hôm qua/ Uẩy uẩy hôm nay bác đến nhà/ Điếu thuốc quyến đàm mừng bác vậy/ Miếng trầu đỏ tuổi gọi chi là”, lại lọt vào các câu thơ lấy của Nguyễn Khuyến: “Ao sâu nước cả khôn tìm (chài) cá/ Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà”. Ngoài ra, còn khá nhiều bài non kém khác hoặc bị gán lầm cho Hồ Xuân Hương như: Vịnh dạy con trẻ, Vịnh lão nhàn cư, Vịnh đấu kỳ, Vịnh miêu (được gán cho Hồ Xuân Hương), Vịnh bồ nhìn (chính ra là của Lê Thánh Tông). Còn những bài ai cũng cho là của Hồ Xuân Hương như Thiếu nữ ngủ ngày, Cái quạt (II) (Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa), Trống thủng, Đá ông chồng… lại không được chọn dịch.
***
“Tôi đã gõ mãi vào những bản dịch này đến hơn 10 năm, thường bỏ dở nửa chừng, nhưng luôn quay trở lại. Sự kiên trì của tôi được giữ vững bởi sự ngưỡng mộ và kính sợ (tài năng Hồ Xuân Hương) mà tôi hy vọng độc giả cũng thể nghiệm như tôi: đối với cuộc đời thông minh mà cô đơn của Hồ Xuân Hương, đối với tài thơ tuyệt diệu, tính ngoan cường, tài châm biếm, lòng can đảm, sự hóm hỉnh khinh mạn và lòng trắc ẩn, lòng từ bi như một bồ tát của bà. Bà là một nhà thơ của thế giới, người có khả năng làm cho ta phải xúc động như đã từng làm xúc động người Việt Nam hai trăm năm nay” (Dẫn nhập, tr.14).
Nhiệt tình đó, tâm huyết đó, sự uyên bác đó cộng với sự thăng hoa của một tâm hồn thơ, đã làm cho GS J. Balaban có một bản dịch sáng tạo, chuyển tải tinh tế tứ thơ, từ ngữ… của nguyên tác (dĩ nhiên không bao giờ có ai, có bản dịch nào, dù là Nga, Pháp... lại có thể chuyển được cái nghĩa ngầm, nghĩa “một mà hai”, tục mà thanh, những cách nói lái (đá đeo, lộn lèo…, những tử vận…, và ta cũng không thể đòi hỏi điều đó. Trớ trêu thay, đó lại là cái độc đáo vô song, cái bản sắc tuyệt diệu của thơ Hồ Xuân Hương, cái tài “thi quỷ” của thiên tài Hồ Xuân Hương..). Chỉ ra một vài sơ sót nhỏ, chúng tôi mong rằng lần tái bản GS J. Balaban sẽ không khó khăn gì mấy để chỉnh lý bản dịch.
Hồ Xuân Hương là một hiện tượng phồn tạp, đa nghĩa, cả về mặt văn bản và mặt ý nghĩa của văn bản, mặt thế giới quan và thi pháp… Suy cho cùng, đúng như GS-TS N.I.Nikulin (Nga) đã viết: “Rõ ràng là cùng với thơ ca của bà, một hệ thống thẩm mỹ mới mẻ đã đi vào văn học Việt Nam” (Lịch sử văn học Việt Nam, tr. 628, bản dịch Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nxb Văn Học, 2007) và “thơ Hồ Xuân Hương như một cú đột phá của nền văn hóa dân gian Việt Nam còn chưa được thừa nhận vào lĩnh vực văn học nghệ thuật đỉnh cao” (Văn học Việt Nam từ thời Trung cổ đến hiện đại – thế kỷ X-XIX, Nxb Khoa Học Moskva, 1977, tr.242).
Cái gốc, cái bản chất của Hồ Xuân Hương là văn hóa dân gian, và nó chịu sự chế ước của các tầng quan niệm, thi pháp, hình thức của mỹ học dân gian. J. Balaban đã nghiên cứu rất kỹ Hồ Xuân Hương, nhưng có rất nhiều, rất nhiều vấn đề về Hồ Xuân Hương mà giới nghiên cứu Việt Nam cũng còn đang tranh luận. Vì vậy, bản dịch Hồ Xuân Hương ra tiếng Anh được hoan nghênh ở Mỹ là một sự kiện văn hóa đáng khích lệ.
Nói lại cho rõ
Trong bài Về bản dịch thơ Hồ Xuân Hương của GS-Nhà thơ J. Balaban trênHồn Việt số 45 (tháng 4/2011) có câu: tôi đề nghị phiên âm câu cuối là… khỏi tiếng nương dâu và đã có dẫn giải. Cần nói thêm là: hầu hết các bản Nôm thơ Hồ Xuân Hương (xin xem: GS Kiều Thu Hoạch: Hồ Xuân Hương, trong: Các nữ tác gia Hán - Nôm Việt Nam, NXB Khoa Học Xã Hội, 2010, tr. 460-461) đều chép nương dâu 娘 橷 (bản khắc 1922, bản Hồ Xuân Hương thi sao, bản Tạp thảo tập, bản Xuân Hương thi vịnh…). Bản khắc năm 1914 ghi:làm dâu 爫 妯, tức làm nàng dâu, cô dâu(KTH chú, tr. 462, sđd). Nhưng bản GS J. Balaban viết: 娘妯 thì nên phiênnương dâu và hiểu theo điển đã dẫn (câu thơ mới “già nghĩa” và hóm hỉnh, trào tiếu).
Mai Quốc Liên

(*)
John Balaban, Spring Essence: The Poetry of Hồ Xuân Hương. Copper Canyon Press. Washington