Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2012

Sự thật về 'Lưỡng long chầu nguyệt'


Cập nhật 28/01/2012 06:00:00 AM (GMT+7)
Đọc báo Xuân Nhâm Thìn

Trong quan niệm người Việt, rồng luôn là con vật linh thiêng, biểu tượng cho quyền uy, sức mạnh. Và hình ảnh "Lưỡng long chầu nguyệt" trên các mái đình đền, chùa chiền, không chỉ biểu tượng cho sức mạnh thần thánh mà còn ẩn trong đó những giá trị nhân văn, phản chiếu trí tuệ, ước vọng của con người và nền văn minh cổ xưa.

Rồng đứng đầu tứ linh
Trong tâm thức người dân Việt Nam, rồng có vị trí đặc biệt về văn hoá, tín ngưỡng, nó biểu tượng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng Thiên Tử. Rồng cũng đứng đầu trong tứ linh "long, lân, quy, phượng". Thuyết rồng cũng xuất hiện thuở sơ khai với sự tích "con rồng, cháu tiên" và tập quán trồng lúa nước, trong đó rồng đóng vai trò giúp gió mưa thuận hoà.
Lưỡng long chầu nguyệt" còn ẩn trong đó những giá trị nhân văn, phản chiếu trí tuệ...

Tuy trong tâm thức, rồng luôn giữ vị trí tối thượng nhưng hình ảnh rồng lại biến đổi qua từng thời kỳ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh thuộc trung tâm nghiên cứu Lý học Phương Đông đồng ý rằng, rồng xuất hiện rõ nét nhất vào thời Lý. Hình ảnh "rồng bay lên" - Thăng Long tượng trưng cho vùng đất thiêng và sự vươn lên của dân tộc Việt.

Vào thời kỳ này, rồng cũng được trang trí ẩn hiện trên hình lá đề, cánh sen, ở bệ Đức Phật. Rồng thời Lý có thân hình tròn, uốn lượn nhiều khúc, dài và nhỏ dân về phía đuôi. Chân rồng thường cố định 3 ngón, hình rồng chữ S. Chính sự chặt chẽ về kiến thức đó nên người dân thường trang trí rồng trên các mái đình đền với biểu tượng thiêng liêng. Hình ảnh rồng ngẩng cao đầu, miệng há rộng ngậm ngọc quý, mào rồng hình lửa cùng tai bờm và râu vút lên uy nghi hướng về phía mặt trời là biểu tượng cho sức mạnh thần thánh.
Rồng thời Trần lại khác, tuy kề thừa yếu tố cơ bản của thời Lý nhưng đã có những biến đổi về chi tiết. Rồng bát đầu xuất hiện cặp sừng và đôi tay, mào lửa trên đầu ngắn hơn và phần lưng uốn lượn võng xuống hình yên ngựa.
Rồng thời Lê thì khác biệt hoàn toàn. Các hình dáng được phô bày chứ không chỉ uốn lượn. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to.
Các nhà nghiên cứu dân gian đều đồng ý rằng, rồng đứng đầu trong hàng tứ linh. Hình dáng của rồng mỗi thời một khác là do quan niệm tâm linh và kiến trúc thời đó.
Hiểu đúng về "Lưỡng long chầu nguyệt"
Rồng tượng trưng cho sự phồn vinh và sức mạnh của dân tộc, nhanh chóng trở thành hình tượng biểu hiện uy quyền của nhà nước phong kiến, chỉ dùng nơi trang trọng nhất của cung vua, hay những công trình lớn của quốc gia. Đã có thời triều đình phong kiến chạm khắc hình rồng trên nhà cửa hay đồ dùng gia đình. Nhưng sức sống của con rồng còn dẻo dai hơn khi nó vượt ra khỏi kinh thành, đến với làng quê dân dã. Nó leo lên đình làng, ẩn mình trên các bình gốm, cột đình, cuộn tròn trong lòng bát đĩa hay trở thành người gác cổng chùa. Rồng còn có mặt trõng những bức tranh hiện đại phương Đông, biểu hiện một mối giao hoà giữa nền văn hoá xa xưa bằng những ý tưởng mới mẻ kỳ lạ.
Hình ảnh hai con rồng chầu vào vòng tròn chính giữa xuất hiện trên các nóc đình đền và chùa chiền một thời gây tranh cãi gáy gắt trong giới khoa học. Nhiều người dùng thuật ngữ "Lương long chầu nguyệt" để chỉ đôi rồng chầu về mặt trăng. Những nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh cho rằng, đó là một sai lầm, vì vòng tròn ở giữa không phải mặt trăng, trăng không thể có ánh lửa bùng cháy.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh giải thích, con rồng là biểu tượng của sức mạnh vũ trụ mà cụ thể là hai lực tương tác Âm - Dương. Khi thể hiện hai con rồng thì không con nào ngậm châu cả. Vì sao? Vì hình tượng hai con rồng là biểu tượng lực Âm - Dương cân bằng, hạt châu lại là biểu tượng của Thái cực, là biểu tượng của vũ trụ.
Nếu hai con rồng đều ngậm châu thì đó là hình ảnh sai lầm do người làm ra thiếu hiểu biết hoặc rập khuôn theo mô-típ chung. Bởi không thể có hai vũ trụ, chỉ khi thể hiện một con rồng - tức là một âm (hoặc một dương) thì mới ngậm châu. Đây chính là biểu tượng của một trong hai thế lực âm (hoặc dương) đang chi phối vũ trụ (âm thịnh thì dương suy hoặc ngược lại).
Như vậy, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh thì đôi rồng hướng về "quả cầu lửa" không phải là "Lưỡng long chầu nguyệt". Có thể gọi đó là "Lưỡng long tranh châu" thì chính xác hơn. Ông Tuấn Anh cũng lưu ý, thuật ngữ "Lưỡng long chầu nguyệt" rất có thể bắt nguồn từ "lý ngư vọng nguyệt" (cá chép ngóng về mặt trăng, tất nhiên mặt trăng ở đây là cái bóng dưới nước).
Tuy nhiên, thuật ngữ "Lưỡng long chầu nguyệt" xuất hiện ngay từ những năm 1930. Trong một cuốn sách nghiên cứu về văn hoá dân gian Việt Nam của nhà nghiên cứu Việt Nam học người Pháp là Le Brenton đã đề cập đến thuật ngữ này một cách rõ ràng. Trong đó, ông cho rằng, hình ảnh "Lưỡng long chầu nguyệt" là có thật và nó bị lai tạo hình ảnh rồng và tính đặc trưng trong quan niệm của người Trung Hoa.
Và ngay trên các mái đình, đền, chùa, miếu, hình ảnh "Lưỡng long chầu nguyệt" cũng được thể hiện với đặc điểm là "đuôi chổng lên, đầu chúc xuống, mắt ngước lên nhìn mặt trăng với ý nghĩa thuần phục". Đó là biểu tượng cho tâm linh thần phục thánh thần. Hình ảnh "Lưỡng long chầu nguyệt" đích thực theo khảo sát của các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, hiện tại còn rất ít nếu không muốn nói là cực hiếm. Cho nên, nhiều người lầm tưởng hình ảnh giữa "Lưỡng long chầu nguyệt" và "Lưỡng long tranh châu" là điều khó tránh khỏi.
Theo Khoa học & Đời sống số Xuân 2012

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

Bí ẩn đôi rồng đá mất đầu ở Thành nhà Hồ


Cập nhật 27/01/2012 06:00:00 AM (GMT+7) 


- Một cách lý giải lưu truyền trong dân gian là do làng Xuân Giai thường xuyên bị cháy nhà, người dân cho rằng do rồng quay đầu về làng, đêm đêm phun lửa gây ra nên đã chặt đầu rồng trừ hậu họa...

3 tháng xây xong kinh thành đá độc nhất vô nhị

Thành nhà Hồ là một công trình kiến trúc bằng đá độc đáo có một không hai tại Việt Nam, một di sản biểu tượng tiêu biểu của những công trình thành cổ. Được Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397, thành này còn được gọi là Tây Đô (hay Tây Giai) để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long- Hà Nội). 

Đôi rồng đá bị cụt đầu hiện nay vẫn được đặt ở trung tâm tòa thành. Hai con rồng nằm song song hai bên đường đi xuyên qua thành nối từ cổng Nam lên cổng Bắc.

Sử cũ chép, vào năm 1397, trước nguy cơ đất nước đứng trước mưu đồ xâm lược của nhà Minh, Hồ Quý Ly đã chọn đất An Tôn (nay thộc xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc) để xây dựng kinh thành nhằm chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài.

Vùng đất được chọn có địa thế rất hiểm yếu, có đường đi từ Bắc vào Nam và sang Lào, xung quanh được án ngữ bởi nhiều ngọn núi cao, hai mặt Nam, Bắc có Sông Mã và sông Bưởi chảy qua.

Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận, La thành, Hào thành và Hoàng thành. Trong đó, công trình đồ sộ nhất và còn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay là Hoàng thành.

Toàn bộ mặt ngoài tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá vôi màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau. Các bức tường thành được ghép từ những khối đá lớn, có phiến dài tới hơn 6m, trọng lượng ước nặng hơn 20 tấn. Tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20.000m3 và gần 100.000m3 đất được đào đắp công phu.

Các nhà nghiên cứu lịch sử đánh giá, kiến trúc của Thành nhà Hồ là rất khoa học, với các phiến đá được đục đẽo vuông vức, công phu xếp đan xen theo hình múi bưởi để tránh động đất.

Điều đặc biệt là giữa các phiến đá xây thành không có bất kỳ chất kết dính nào nhưng toà thành vẫn đứng vững hơn 600 năm qua dù chịu rất nhiều tác động của địa chấn và chiến tranh bom đạn tàn phá.

Một điều đáng ngạc nhiên nữa là một công trình kiến trúc đồ sộ, vững chắc như vậy mà quá trình xây dựng chỉ vỏn vẹn trong vòng ba tháng (từ tháng 1/1397 đến tháng 3/1397).

Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu điêu khắc, đôi rồng đá này thuộc loại tượng rồng lớn nhất và đẹp nhất còn lại ở Việt Nam.

Thời ấy chưa có công nghệ ghép đá gắn xi măng, vậy làm sao để những bức tường thành vẫn được xếp vuông vắn, thẳng đứng và tồn tại đến ngày nay? Điều gì đã giúp những người thợ thuở xưa với công cụ thô sơ lại có thể vận chuyển và xây nên những bức tường thành bằng những phiến đá khổng lồ?

Câu trả lời được hé lộ phần nào khi người ta tìm thấy hàng trăm viên bi đá lớn (bằng quả bóng đá), nhỏ (bằng quả bóng tennis) trong nhiều lần khai quật khảo cổ.

Việc tìm thấy những viên bi đá này giúp củng cố giả thiết rằng, người thợ khi xưa đã dùng chúng như những con lăn để tời đá từ vùng khai thác (cách vị trí xây thành hàng chục km). Kết hợp với tời, đắp đất người ta đã đưa những phiến đá này lên cao để xây thành.

Đây là tòa thành duy nhất của Việt Nam xây bằng đá và giữ kỷ lục là công trình được người Việt Nam thiết kế xây dựng nhanh nhất. Di sản này còn gắn với tên tuổi Hồ Quý Ly - nhà cải cách và canh tân hàng đầu của Việt Nam thế kỷ 15 với việc đề ra nhiều chính sách táo bạo như việc mở mang trường học, đề cao chữ Nôm, phát hành giấy bạc...

Ai chặt đầu rồng?

Thành Tây Đô ẩn chứa quá nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Trong những bí ẩn đó là đôi rồng đá bị mất đầu. Đôi rồng đá bị cụt đầu hiện nay vẫn được đặt ở trung tâm tòa thành.

Hai con rồng đá nằm song song hai bên đường đi xuyên qua thành nối từ cổng Nam lên cổng Bắc. Nhà Hồ thất thủ, đôi rồng đá cũng mất tích bí ẩn lúc nào không ai hay.

Vào năm 1938, tượng rồng đầu tiên được một nông dân phát hiện khi đang cày ruộng trong thành. Cho rằng, đã là tượng rồng ở cung vua thì nhất thiết phải có cặp nên các chức dịch trong làng đã cho đào bới khắp vùng mới tìm được tượng rồng đá thứ hai.

Ai đã chặt đầu rồng? Đó là câu hỏi chưa có lời giải đáp thoả đáng.

Cặp rồng được chạm khắc rất tỉ mỷ, trau chuốt. Thân rồng thon nhỏ dần về phía đuôi, uốn bảy khúc, vây lưng nhỏ, đều.

Rồng có bốn chân, mỗi chân 3 móng với các túm lông lượn mềm mại. Đầu rồng hiện đã bị mất nhưng vẫn còn lại phần bờm dài lượn chín nếp. Các khoảng trống dưới bụng và các ô tam giác ghép thành bậc đều được chạm hoa cúc và các móc hoa lượn mềm.

Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu điêu khắc, đôi rồng này là loại rồng chạm khắc trên thềm bậc của các cung điện như hiện thấy ở điện Kính Thiên (Hoàng thành Thăng Long), chính điện Lam Kinh (Thanh Hóa).

Ai đã chặt đầu rồng? Cho đến nay có khá nhiều lý giải về việc này. Người thì cho rằng, sau khi xâm lược được nước ta, quân Minh đã chặt đầu rồng, biểu tượng quyền lực của nhà Hồ để thể hiện sự diệt vong của vương triều này.

Lại có người cho rằng việc này là do những người bất đồng chính kiến với nhà Hồ gây ra. Một ý kiến khác nhận định, thời kỳ mới chiếm đóng nước ta, người Pháp bắt dân trong vùng hàng tháng, hàng năm phải trải chiếu hoa trên con đường dẫn tới đôi rồng đá.

Người dân bức xúc mà chặt đầu rồng? Còn có một cách lý giải lưu truyền trong dân gian khá thú vị. Một cụ ông cao niên trong làng kể rằng, có một thời kỳ làng Xuân Giai (nằm ở cổng Nam, thuộc xã Vĩnh Tiến) thường xuyên bị cháy nhà, người dân cho rằng do rồng quay đầu về làng mình phun lửa gây ra cháy nhà nên đã chặt đầu rồng!?

Người dân xứ Thanh còn truyền tai nhau câu chuyện, tương truyền trong mắt rồng ở cung cấm thường có yểm rất nhiều vàng ngọc châu báu.

Một đêm, lợi dụng lúc trời sầm sập đổ mưa, trong thành hoang vắng không bóng người qua lại, hàng chục tên đạo tặc bịt mặt với đao trên tay đã chặt đầu đôi rồng mang đi xa rồi đập nát để tìm ngọc quý. Cũng chẳng ai nhớ nổi đó là năm nào?

Tiến sỹ Phạm Văn Đấu (Hội sử học Thanh Hoá) cho biết, đôi rồng đá ở thành Tây Đô thuộc loại tượng rồng lớn nhất và đẹp nhất hiện còn lại ở Việt Nam.

“Sử cũ không ghi chép cũng không ai biết đôi rồng đá bị mất đầu từ bao giờ, nhưng giả thiết cho rằng, sau khi xâm lược được nước ta, quân Minh đã cho chặt đầu rồng mang về báo công được nhiều người chấp nhận”.

Thanh Lê – Duy Tuấn

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Tuyệt đẹp những hình tượng rồng trên cổ vật

Cập nhật 23/01/2012 06:15:00 AM (GMT+7)
Rồng có vị trí đặc biệt trong đời sống văn hóa, chính trị và tinh thần của người Việt Nam. Trước hết, rồng là biểu tượng thiêng liêng gắn với nguồn gốc “con rồng, cháu tiên” của dân tộc Việt Nam. 

Nhân dịp xuân Nhâm Thìn,  Bảo tàng lịch sử Quốc gia Việt Nam (Hà Nội) đã tổ chức trưng bày chuyên đề “Rồng trên cổ vật”. Hơn 60 cổ vật được trưng bày đều là hiện vật gốc, có niên đại từ văn hóa Đông Sơn đến giai đoạn đẩu thế kỷ 20. Triển lãm giới thiệu đến người xem trình độ thẩm mỹ cũng như sự thay đổi tư duy về hình tượng rồng trong văn hóa, tín ngưỡng của người Việt qua thời gian suốt hơn 20 thế kỷ.

Cổ vật có trang trí hình rồng được trưng bày đều là những hiện vật gốc, thuộc sở hữu quốc gia đang được lưu giữ tại Bảo tàng. Được chế tác từ nhiều chất liệu khác nhau như đá, gốm, giấy, gỗ, vàng, bạc, ngọc... Được trưng bày theo 5 chủ điểm về Văn hóa Đông Sơn (thế kỷ 1-10), thời Lý- Trần (thế kỷ 11-14), thời Lê (thế kỷ 15-18); thời Nguyễn (thế kỷ 18 - 1945) và trong văn hóa Champa (thế kỷ 17- 18), số hiện vật này gồm nhiều thể loại phong phú, trong đó có chuông, khay thờ, lư hương, trống đồng, chân đèn, hộp đựng đồ, chậu, đỉnh, sắc phong, vương miện hoàng hậu...


Trong tâm thức người Việt, rồng là biểu tượng linh thiêng và quyền lực song lại rất gần gũi với đời sống con người. Rồng có vị trí đặc biệt trong đời sống văn hóa, chính trị và tinh thần của người Việt Nam. Trước hết, rồng là biểu tượng thiêng liêng gắn với nguồn gốc “con rồng, cháu tiên” của dân tộc Việt Nam.


Rồng là tín hiệu tốt lành cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Hình ảnh “rồng bay lên” (Thăng Long) thể hiện khí thế vươn lên và cường thịnh của dân tộc Việt Nam. Đó là hình ảnh đẹp, mang đậm ý nghĩa nhân văn sâu sắc. 
Rồng tượng trưng cho quyền uy tối thượng của các đấng Thiên tử. Dưới thời quân chủ, rồng là linh vật biểu trưng của vua chúa nên hình tượng rồng gắn chặt với đời sống hoàng tộc.
Hình tượng rồng xuất hiện sớm từ buổi đầu dựng nước, tồn tại và phát triển liên tục qua các thời kỳ và trở thành một trong những hình tượng chủ đạo của một số loại hình nghệ thuật Việt Nam. Trong kho tàng di sản văn hóa ấy, hình tượng rồng được thể hiện vô cùng sinh động và đa dạng trên mọi loại hình và chất liệu.
Nằm ở vị trí trung tâm phòng trưng bày là chiếc cột đá được chạm khắc hình rồng
thuộc triều nhà Lý (thế kỷ 11 – 13) được khai quật từ Thành Thăng Long (Hà Nội).
Rồng trang trí trên chuông Văn Bản được làm bằng chất liệu đồng (thế kỷ 13 – 14,
Đồ Sơn, Hải Phòng).
Trống đồng trang trí tứ linh: long, ly, quy, phượng. Triều Tây Sơn, niên hiệu Cảnh Thịnh
năm thứ 8 (1800). Ninh Hiệp – Hà Nội.
Rồng trang trí trên đỉnh bạc triều Nguyễn, niên hiệu Khải Định năm thứ 1 (1916).
Rồng trang trí trên bình bạc triều Nguyễn (1802 – 1945).
Đỉnh trang trí rồng và nghê được làm bằng chất liệu gốm men rạn, triều Lê Trung Hưng, niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 2 (1736), làng gốm Bát Tràng.
Rồng trang trí trên đĩa gốm hoa lam, triều Lê sơ (thế kỷ 15). Tàu đắm Cù lao Chàm,
Hội An, Quảng Nam.
Rồng trang trí trên bát gốm hoa lam, triều Lê sơ – Mạc (thế kỷ 15 – 16). 
Tàu đắm Cù lao Chàm, Hội An, Quảng Nam.
Rồng trang trí trên kiến trúc được làm từ chất liệ đất nung. Triều Lê Trung Hưng
(thế kỷ 17 – 18) làng Đại Yên – Hà Nội).
Ấm đồng trang trí rồng , triều Lê Trung Hưng (thế kỷ 17 – 18).
Rồng trang trí trên bàn đạp yên ngựa làm từ chất liệu đồng. Triều Trần
(thế kỷ 13 – 14).
Rồng trang trí trên bàn đạp yên ngựa làm bằng đồng. Triều Lê Trung Hưng
(thế kỷ 17 -18).
Đầu võng trang trí rồng thú Makara và rắn Naga được làm bằng đồng. Văn hóa ChamPa
(thế kỷ 17 – 18).
Rồng trang trí trên chụp tóc Hoàng Hậu được làm bằng vàng. Văn hóa ChamPa
(thế kỷ 17 – 18).
Tượng rồng bằng vàng, Triều Nguyễn, niên hiệu Thiệu Trị 2 (1842).
Ống cắm bút trang trí rồng và rùa được làm bằng bạc.
Triều Nguyễn (1802 – 1945).
Rồng trang trí trên ấn “Mệnh đức chi báo” được làm bằng vàng.
Triều Nguyễn, hiệu Gia Long (1802 – 1819).
Rồng trang trí trên chân đèn làm bằng chất liệu gốm hoa lam. Triều Mạc (1580). Cẩm Giàng – Hải Dương.
Kiến trúc hình lá đề trang trí rồng được làm từ đất nung. Triều Lý – Trần
(thế kỷ 11 – 14).
Rồng trang trí trên cánh cửa làm bằng gỗ chạm. Triều Trần (thế kỷ 13 – 14). Chùa Phổ Minh – Tức Mặc – Nam Định.
Bệ kê chân cột trang trí “Lưỡng long tranh châu” được làm bằng đá.
Triều Lý (thế kỷ 11 – 13). Chùa Phật Tích – Tiên Du – Bắc Ninh.

Chậu trang trí rồng

Rồng trang trí trên hộp trầu, được làm bằng và và bạc, có thời thời triều Nguyễn 
Rồng trang trí trên hộp - triều Nguyễn 1802 - 1945
Ấm trang trí rồng, mây làm bằng vàng từ năm 1802 - 1945

Rồng trang trí trên ấm triều Nguyễn
Rồng trang trí trên hộp đựng kim sách, được làm bằng chất liệu Bạc,
triều Nguyễn 1802 - 1945
Rồng trang trí trên kinh sách, vàng triều Nguyễn niên hiệu Tự Đức
năm thứ 36 (1881)
Tượng rồng được làm bằng ngọc màu ngà xám. Thế kỷ 1 - 3---
Gạch xây tháp trang trí rồng, vũ công. Chất liệu gốm men thế kỷ 11 - 13
Đầu rồng làm bằng đất nung
Đầu rồng trang trí trên đá trong các công trình kiến trúc
Hình ảnh rồng được sử dụng rất nhiều trong các hoa tiết trang trí kiến trúc
đặc biệt là trên đá

Lê Anh Dũng - Nguyễn Hoàng

Ảnh: Chụp tại bảo tàng và tư liệu