Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Xưa và nay


Ảnh chụp tại Campuchea tháng 1-2011

Ngàn năm rồi lại ngàn năm
Nhân gian kẻ đứng người nằm tiếp nhau.
Hôm nay chở đến mai sau.

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chính là sự minh triết


8/12/2012 09:00
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chính là sự minh triết hay nói cách khác đó chính là ý thức hệ cơ bản của dân tộc được tạo nên bời các nhà tri thức, các bậc minh quân từ buổi đầu trong quá trình hình thành và định hình quốc gia tự chủ.

Trong phiên họp của đại hội đồng UNESCO tại Paris (Pháp) ngày 6/12 vừa qua “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể có tính tiêu biểu của nhân loại.
Đối với nhiều người dân Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã ăn sâu vào tâm thức. Để hiểu rõ hơn vì sao UNESCO lại coi “tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” như một di sản văn hóa, Vietnamnet đã nghi lại ý kiến của GS.TS Ngô Đức Thịnh - Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Giám đốc TT Nghiên cứu và Bảo tồn Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam.
Biểu tượng cội nguồn của quốc gia, dân tộc
Như chúng ta đã thấy, trải suốt chiều dài lịch sử ít nhất hơn 500 đến nay, biểu tượng Vua Hùng được thừa nhận trên cả nước Việt Nam như một biểu tượng cội nguồn chung cho cả dân tộc vượt qua mọi rào cản của các triều đại phong kiến, sự khác biệt tôn giáo và các chế độ xã hội.
Trong mỗi gia đình Việt Nam, việc thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng vô cùng quen thuộc và bình dị. Vì vậy khi xây dựng lên hình tượng Vua Hùng đã tạo nên một tín ngưỡng Hùng Vương với tư cách là biểu tượng cội nguồn của quốc gia – dân tộc.

Biểu tượng Vua Hùng và “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là một hình tượng của một hệ ý thức dân tộc sâu sắc như một sự minh triết được ông cha lưu truyền tới thế hệ ngày nay bằng truyền thuyết.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chính là sự minh triết hay nói cách khác đó chính là ý thức hệ cơ bản của dân tộc được tạo nên bời các nhà tri thức, các bậc minh quân từ buổi đầu trong quá trình hình thành và định hình quốc gia tự chủ.
Nếu hệ thống lại, các huyền thoại ông cha ta có “Tứ bất tử” (4 vị thánh bất tử): Thánh Gióng – tượng trưng sức mạnh chống giặc ngoại xâm; Thánh Tản Viên hay truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh – tượng trưng cho sức mạnh chinh phục tự nhiên, Chử Đồng Tử - một xã hội nhân ái với tình yêu, hôn nhân và sự sung túc, Thánh Mẫu Liễu Hạnh – tượng trưng cho cuộc sống tinh thần qua hình ảnh của phụ nữ như một quyền bình đẳng trong xã hội.
 
Gắn liền với truyền thuyết Hùng Vương, những nét hóa văn chạm khắc trên trống đồng đã trở thành một báu vật quốc gia minh chứng cho sự tồn tại của một quốc gia hoàn toàn độc lập và tự chủ.
 Cùng với 4 hệ ý thức trên, Hùng Vương cũng chính là một hệ ý thức có tính cột trụ biểu tượng cho tinh thần cố kết quốc gia – dân tộc.
 Tính độc đáo tiểu biểu được quốc tế thừa nhận trong “tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” nằm ở chính tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Việc coi quốc gia – dân tộc như một “gia đình lớn”, lấy khuôn phép ứng xử gia đình, gia tộc để tạo thành khuôn khổ ứng xử của xã hội giúp thống nhất một hệ ý thức Việt Nam là điều không phải quốc gia nào cũng có.
 
Sự tích bánh chưng bánh dày gắn liền truyền thuyết Hùng Vương đã trở thành một linh vật của dân tộc Việt Nam.
“Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” với đầy đủ ý nghĩa như vậy nên khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể có tính tiêu biểu của nhân loại. Chúng ta nên hiểu cho đúng giá trị của nó mà từ đó có những kế hoạch để bảo tồn và phát huy, tránh tình trạng nhà nước can thiệp quá mức hay để lợi dụng để trở thành một phong trào thi đua thành tích.
Hậu danh hiệu: Lo ngại “Nhà nước hóa”
Trong quá trình xét duyệt hồ sơ “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” của Việt Nam, vấn đề khiến UNESCO quan ngại nhất khiến những người làm hồ sơ phải đau đầu chính vai trò của Nhà nước đối với di sản văn hóa phi vật thể này.
Không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước đối với các lễ hội, nhưng việc can thiệp quá sâu hay nói theo cách khác là “nhà nước hóa” lễ hội là điều không chỉ UNESCO lo lắng mà ngay cả những nhà khoa học trong nước đã lên tiếng.
Vai trò của nhà nước và vai trò của người dân trong lễ hội?
Cần phân biệt rõ hai khái niệm vai trò của nhà nước với lễ hội và vấn đề “nhà nước hóa” lễ hội.
Lễ hội Đền Hùng những năm qua được chuẩn bị chu đáo, được đầu tư công phu đã trở thành một “quốc lễ” mà Nhà nước đóng vai trò “chủ lễ”. Sự quan tâm của Nhà nước với một lễ hội là điều đáng mừng nhưng một lễ hội truyền thống dân gian phải có sự kết hợp song song vai trò của Nhà nước và vai trò của người dân.
Những năm trước đây, nghi lễ Đền Hùng đã bị nghi lễ Nhà nước hóa khiến một tập tục tín ngưỡng dân gian bị thu hẹp, vai trò của người dân sở tại bị lu mờ trước vai trò “chủ lễ” của các cấp lãnh đạo nhà nước.
Năm vừa qua, Lễ giỗ tổ Hùng Vương đã có sự góp mặt của người dân với nghi lễ rước kiệu của các làng xung quanh khu vực núi Nghĩa Lĩnh là một tín hiệu đáng mừng cho thấy nhà nước đã tôn trọng vai trò của người dân trong lễ hội.
Người dân là chủ thể của lễ hội, là người tạo ra bản sắc của lễ hội vì chính họ đã sáng tạo và gìn giữ lễ hội từ ngàn xưa đến nay. Nếu có sự can thiệp quá sâu, vô tình sẽ đẩy người dân đứng ngoài, thành người chứng kiến, đứng xem lễ hội thì sẽ không thành lễ hội đúng nghĩa.
Nếu nhìn vào lịch sử trước đây, Lễ giỗ Tổ Hùng Vương bắt đầu được coi là một quốc lễ từ thời nhà Nguyễn, cứ 5 năm tổ chức một lần. Khi cử lễ, ít khi Vua có mặt, mà nơi đứng ra lo là bộ Lễ (tương tự bộ Văn hóa) cùng các quan đầu tỉnh. Tài liệu để lại cho thấy triều Nguyễn đã có những quy định cụ thể như giao việc tổ chức giỗ, trông coi hương khói mộ Tổ hàng năm cho nhân dân các xã sở tại, các vị con trưởng. Vào năm hội lệ (không phải hội chính), triều đình gửi 3 đấu gạo thơm (khoảng 20 kg) về để dân làng nấu xôi cúng Tổ. Năm chẵn, triều đình chịu trách nhiệm cử hành các nghi thức.
 
Người dân là chủ thể của lễ hội, là người sáng tạo ra các giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc. 
Giữ gìn bản sắc và tính thiêng liêng của lễ hội, đáp ứng được nhu cầu thay đổi cho phù hợp với tính lịch sử cho phù hợp luôn cần có vai trò của Nhà nước nhưng chỉ cần đến mức nào là đủ luôn là vấn đề đáng quan tâm nhất với lễ hội nói chung và lễ hội đền Hùng nói riêng mà trong đó giá trị của “tín ngưỡng thờ cùng Vua Hùng” luôn là một bài toán cần có lời giải hợp lí.
Hoàng Nguyên (ghi)
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/100065/tin-nguong-tho-cung-hung-vuong-chinh-la-su-minh-triet.html

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Khai quật hóa thạch động vật tuyệt chủng ở Lạng Sơn


06/12/2012 13:47:03
 - Trong số hàng trăm hóa thạch răng và xương động vật vừa được phát hiện ở Lạng Sơn có cả hóa thạch răng của loài voi răng kiếm, tê giác - những loài hiện tuyệt chủng.
Các mẫu hóa thạch vừa được tìm thấy.
Các mẫu hóa thạch vừa được tìm thấy.
Những hóa thạch răng và xương được đoàn khảo sát tìm thấy trong đợt khảo sát di tích lịch sử khảo cổ do Bảo tàng Lịch sử Quốc gia phối hợp với Sở VH-TT&DL tỉnh Lạng Sơn tiến hành tháng trước tại một số điểm khảo sát như Tràng Định, Hữu Lũng, Lộc Bình (Lạng Sơn).
Tiến sĩ khảo cổ Vũ Thế Long cùng các chuyên gia xem xét, phân tích các mẫu hóa thạch vừa tìm thấy.
Tiến sĩ khảo cổ Vũ Thế Long (trái) cùng các chuyên gia xem xét,
phân tích các mẫu hóa thạch vừa tìm thấy.
 
 

Trong số những mẫu răng và xương hóa thạch của động vật vừa được phát hiện, đáng chú ý nhất là hóa thạch răng của loài voi răng kiếm, loài đã tuyệt chủng.

Mẫu hóa thạch răng của voi răng kiếm.
Mẫu hóa thạch răng của voi răng kiếm.
Sau khi xem xét và phân tích, hóa thạch răng của voi răng kiếm này có niên đại cách đây 18 – 20 vạn năm, tương đương với niên đại của địa điểm Kéo Lèng (Bình Gia – Lạng Sơn) đã khai quật năm 1965.
Phát hiện ra hóa thạch răng voi răng kiếm tại Tràng Định (Lạng Sơn) là tư liệu khoa học vô cùng quý giá. Voi răng kiếm tồn tại trên trái đất trong khoảng 11,6 triệu năm cho đến 4.100 năm trước. Chúng được coi là có họ hàng với giống Loxodonta (“giống như” loài voi châu Phi - Loxodonta Africana, Mammuthus (tức voi Mamut, bị tuyệt diệt cách nay chừng 10.000 năm) và Elephas (hiện còn “hậu duệ” duy nhất là loài voi châu Á - Elephas maximus) xuất hiện trong thể Pliocene.

Bên cạnh voi răng kiếm là hóa thạch của tê giác, lợn rừng, khỉ, trâu, bò rừng... Đặc biệt, trong số này còn có một hóa thạch xương động vật có dấu vết ghè, rất có thể là một công cụ mũi nhọn của con người thuộc thời đại đá cũ để lại trong hang ở Tràng Định.

Mẫu hóa thạch răng của tê giác.
Mẫu hóa thạch răng của tê giác.
Hóa thạch xương động vật có dấu vết ghè, rất có thể đây là một công cụ mũi nhọn của con người thuộc thời đại đá cũ để lại trong hang ở Tràng Định.
Hóa thạch xương động vật có dấu vết ghè, rất có thể đây là một công cụ
mũi nhọn của con người thuộc thời đại đá cũ để lại trong hang
ở Tràng Định.

Tại mỏ than Na Dương, đoàn khảo sát cũng phát hiện thêm nhiều hóa thạch của trai ốc có tuổi chừng 20 triệu năm trước.

Mẫu ốc và trai hóa thạch.
Mẫu ốc và trai hóa thạch.

Việc khai quật và nghiên cứu được tiếp tục tiến hành trong thời gian tới, nhằm tìm ra thêm những chứng cứ khoa học về sự tồn tại cuộc sống và sự biến đổi khí hậu, môi trường của con người tại Việt Nam ta từ hàng chục vạn năm về trước.

Vũ Thế Long

Nguồn: http://kienthuc.net.vn/khoa-hoc/kham-pha/201212/Tim-thay-hoa-thach-dong-vat-da-tuyet-chung-o-Lang-Son-1866282/

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

Hình thành và quá trình sáng tác chữ Nôm


I - Hình thành chữ nôm 

Tự lai, ở Việt Nam thấy có ba thứ chữ viết :

1 - Chữ Hán (chữ của dân Hán) còn gọi là chữ Nho (chữ của các nho sĩ) là chữ viết của người Trung-hoa, mà chính quyền đô hộ Tàu cưỡng nhập vào nước ta, để dùng làm văn tự chính thức. Về sau, trong thời gian gần một nghìn năm tự chủ (938-1884) và cả giai đoạn đầu của thời Pháp thuộc (1884-1917), các vua ta vẫn tiếp tục dùng chữ Hán làm văn tự chính thức quốc gia. Lúc đầu ta đọc chữ Hán theo giọng người Tàu đời Đường ở thế kỷ thứ X, rồi dần dần giọng đọc ấy bị Việt hóa hẳn đi, trong lúc đó giọng đọc người Trung-hoa hiện nay lại biến đổi rất nhiều, nên hai bên không còn hiểu nhau được nữa, chỉ dùng bút đàm để giao dịch mà thôi.

2 - Chữ Nôm là chữ viết do các nho sĩ ta, ở thế kỷ XIII, dựa theo phép lục thư (sáu phép cấu tạo chữ) của Trung-hoa, mà chế ra một thứ chữ mới (gọi là chữ nôm = nam) để phiên âm tiếng Việt. Người Hoa đọc chữ nôm không hiểu được.

3 - Chữ quốc ngữ do các giáo sĩ Thiên Chúa giáo Pháp, Ý, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha đến truyền đạo ở nước ta vào khoản thế kỷ XVIII, dùng mẫu tự la-tinh phiên âm ngôn ngữ Việt Nam để tiện bề ghi chép kinh thánh. Rồi đến 1917, chính quyền đô hộ Pháp dùng chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán làm văn tự chinh thức cho nước ta.
Như vậy, chữ Hán chỉ dùng để ghi chép ngôn ngữ dân Hán, là một ngoại ngữ, còn chữ nôm và chữ quốc ngữ dùng để ghi chép ngôn ngữ Việt Nam.

Chữ nôm và chữ quốc ngữ mới thật là văn tự quốc gia của nước ta. Vì theo định nghĩa cổ điển, "một ngôn ngữ đúng với danh vị ấy, là 
một hệ thống những tiếng có những nghĩa được một đoàn thể, một sắc dân qui định, chấp nhận, khi nói ra thì tất cả những người trong đoàn thể, trong sắc dân ấy đều hiểu được" (Février).

A - Phép cấu tạo chữ của người Hoa


Muốn hiểu rõ sự hình thành chữ nôm, tưởng nên biết sơ qua phép lục thư hay sáu phép cấu tạo chữ của văn tự Trung-hoa. Nguyên tắc căn bản của phép lục thư đại khái là :

a - Dùng hình vẽ tượng trưng một số sự vật cụ thể hay trừu tượng, để tạo thành một số chữ căn bản
b - rồi ghép các chữ căn bản ấy lại
c - hoặc biến đổi các nét vẽ các chữ căn bản ấy
d - hoặc biến đổi giọng đọc (thanh) của các chữ căn bản ấy để tạo thành tất cả các chữ khác. Dùng hình vẽ để tạo một số chữ căn bản :

1 - Phép tượng hình :

Dùng hình vẽ tượng trưng một vật cụ thể, như vẽ ba chóp núi tượng trưng "hòn núi", người Hoa đọc là "shan" (núi) ; vẽ 1 gạch ngang, một sổ thẳng, hai vệch xuống hai bên, tượng trưng một cây có cành ngang, rễ dọc, Hoa đọc là "mu" (cây).

2 - Phép chỉ sự -


Dùng hình vẽ để chỉ những sự việc trừu tượng. Như dùng một gạch ngang làm mốc, một sổ thẳng phía trên với một chấm dính vào, chỉ đây là phía trên, người Hoa đọc là "shang" (trên) ; vẽ một gạch ngang làm mốc, một sổ phía dưới với một chấm nhỏ dính vào, chỉ đây là phía dưới, người Hoa đọc là "xia" (dưới) :

 shan mu shang xia(núi) (cây) (trên) (dưới) 
 
Ghép hai chữ căn bản lại để tạo chữ mới

3 - Phép hội ý -

Ghép hai chữ, ý của hai chữ ấy hộp lại gợi ra một ý mới. Thí dụ ghép :
"kou " + "niao" = "ming" "jin" + "lỉng" = linh 
(miệng) + (chim) = (kêu) linh (chuông)
chữ "kou" (miệng) với chữ"niao" (chim) tạo thành chữ Hán "ming" (kêu) (chim mở miệng gợi ra ý "kêu")

4 - Phép tượng thanh -
Ghép hai chữ : một phần chỉ âm và một phần chỉ ý.

Thí dụ ghép một chữ có âm "lỉng", với chữ "jin" chỉ ý (vàng, kim khí), tạo thành một chữ mới người Hoa đọc là "ling" (cái chuông) gợi ý> chuông là một vật phát âm đọc là "ling" và làm bằng kim khí). kou + niao = ming (kêu) jin + lỉnh = linh (chuông) ( Biến đổi nét vẽ hay dấu giọng của một chữ căn bản để tạo chữ mới

5 - Phép chuyển chú -

Biến đổi nét vẽ (thêm, bớt hay dời chỗ nét vẽ) của một chữ đã có sẵn, để tạo thành một chữ mới. Ví dụ chữ "xiao" (nhỏ), nếu thêm một phảy tréo phía dưới, sẽ thành chữ "shao" (ít).

"xiao" (nhỏ) "shao" (ít). Xiang (với nhau) 

6 - Phép giả tá - 

Mượn một chữ có sẵn, rồi biến đổi dấu giọng (thanh) của chữ ấy để tạo thành một chữ mới. Ví dụ chữ "xiáng" (hình dáng) bỏ dấu đi sẽ thành chữ "xiang" (với nhau).Xiao (nhỏ) Shao (ít) Xiáng (hình) Xiang (với nhau)

B - Phép cấu tạo chữ nôm 
Các nho sĩ ta ngày xưa đã dựa theo các phép trong lục thư của Trung Hoa trên đây, để sáng chế ra chữ nôm, như :

a - Phép hội ý -

Ghép hai chữ Hán với nhau, nghĩa của hai chữ ấy hội lại, gợi ra một ý mới. Chẳng hạn như ghép chữ Hán "nhân" (người) với chữ Hán "thượng" (ở trên) tạo thành một chữ nôm "trùm", nghĩa Việt là "người đứng đầu một nhóm" như "trùm xóm", "trùm đĩ ", v.v... ý được gợi ra : đó là người có địa vị ở trên những người khác

nhân + thượng = trùm 
(H : người) + (H : ở trên ) = (V. : trùm
)
b - Phép hài (tượng) thanh

Ghép hai chữ Hán lại với nhau : l chử chỉ âm, một chữ chỉ ý. Chẳng hạn ghép chữ Hán "thổ (đất) chỉ ý, với một chữ Hán có âm là "cát"(may mắn), tạo thành một chữ nôm đọc là "cát" (tiếng Việt : phát âm "cát", ý chỉ vật thuộc về một loại đất) ...

bộ thổ (H : đất) + cát (H : may mắn) = cát (V : đất cát)

c - Phép giả tá - (giả tá : mượn) mượn chữ Hán để biến thành chữ Việt, bằng 4 cách :

1 - Mượn nguyên những chữ Hán đã được Việt hóa (mà ta gọi là chữ Hán Việt), tỉ như các chữ : chủ tọa, đại lộ, minh bạch, toán học v.v... Ta chép y chữ Hán, rồi đọc theo giọng Hán đời Đường đã Việt hóa :

chủ tọa đại lộ minh bạch toán học

2 - Mượn những chữ Hán đồng âm dị nghĩa với tiếng Việt. 

Chẳng hạn như mượn chữ Hán có âm là "chi" (nghĩa là : của, như trong "dân chi phụ mẫu" : cha mẹ của dân"...) để phiên âm tiếng Việt "chi" (có nghĩa là : "gì ?" như trong "anh nói chi ?") ;

"chi" "qua "
mượn chữ Hán có âm là "qua" (nghĩa là cái mác, một binh khí thời xưa) để phiên âm tiếng Việt "qua" (có nghĩa là : đi ngang). chi (H : của) chi (V : gì ?) qua (H : mác) qua (V : đi)

3 - Mượn một chữ Hán có âm tương tự với âm của tiếng Việt rồi đọc trại đi để dùng làm một từ tiếng Việt. Chẳng hạn như mượn chữ Hán "biệt" (nghĩa là : rời cách riêng ra) để ghi âm tiếng Việt "biết" (nghĩa là : nhận thấy rõ) ; mượn chữ Hán "nữ" (nghĩa là : đàn bà) để ghi âm tiếng Việt "nữa" (nghĩa là : chưa hết)

biệt (H : rời) biết (V : rõ) nữ (H : gái) nữa(V : chưa hết)

4 - Mượn một chữ Hán, nhưng không đọc theo âm Hán, mà dịch nghĩa ra tiếng Việtđể phát âm. Tỉ dụ viết chữ mà người Hoa đọc là "kỷ" (ghế), ta dịch thẳng ra tiếng Việt để đọc "ghế" ; viết phần trên của chữ mà người Hoa đọc là "vi" (làm), ta dịch thẳng ra tiếng Việt để đọc "làm".

Kỷ (H : ghế) Ghế (V : ghế) Vi (H : làm) làm (V : làm)

d - Phép chuyển chú 

- Biến đổi (thêm, bớt, hay dời chỗ) nét vẽ của một chữ có sẵn, để tạo thêm một chữ mới. Ngày xưa, người ta thường thêm vào bên cạnh một chữ Hán có âm tương tự với âm của một tiếng Việt (nhưng khác nghĩa) một trong những dấu đặc biệt gọi là dấu cá , , dấu nhấp nháy , hay một dấu giống như chữ "khẩu" mà thu nhỏ lại, để biến chữ Hán ấy thành ra một chữ nôm, rồi phát âm trại đi cho đúng với giọng và nghĩa của tiếng Việt,

"lộ" (đường đi) "la" (cái màn)

[1] tỉ dụ như chữ Hán "lộ" (đường đi), có thêm dấu cá sẽ thành một chữ nôm, đọc là "lọ" (cái bình nhỏ) ; chữ Hán "la" (cái màn) có thêm dấu "chữ khẩu nhỏ" bên cạnh, sẽ thành một chữ nôm, đọc là "ra" (đi ra). lộ (H : đường)> lọ (V : bình) H (la : màn)>ra (V : đi) *

Tóm lại, chữ nôm phần lớn đều được hình thành theo phép giả tá
, căn bản là mượn những chữ Hán đồng âm dị nghĩa (homophone) biến chế hoặc đọc trại đi để phiên âm tiếng Việt. Nhưng trong tiếng Việt không có nhiều tiếng "đồng âm dị nghĩa" hẳn với tiếng Hán, nên phải mượn những tiếng Hán có âm gần giống với âm tiếng Việt mà cấu thành.

Ngày xưa lại không có một cơ quan nào lo việc thống nhất cách viết chữ nôm, nên có tình trạng cùng mượn một chữ Hán mà mỗi người, mỗi nơi đọc trại đi một cách, hoặc cấu tạo chữ nôm một cách khác nhau.

Bất tiện thứ hai là muốn đọc chữ nôm phải học qua chữ Hán.
 Cũng như chữ Hán, chữ nôm học chữ nào, nhớ chữ ấy, không có "mẫu tự" hay "chữ cái" để rắp vần như ở chữ quốc ngữ, thành ra phải nhớ thuộc lòng đến hàng trăm trăm chữ. Như thế học chữ nôm phải tốn công, tốn thì giờ. Song chữ nôm cũng có cái lợi là ở một số chữ, nhờ các "phần chỉ ý" mà có thể phân biệt được các từ đồng âm dị nghĩa. Ví dụ, chữ "năm" ở quốc ngữ chẳng hạn, gồm có ba chữ cái N-Ă-M, viết riêng rẻ không ai rõ được đó là "năm tháng" hay là "số 5". Còn ở chữ nôm, vì hai chữ "năm" viết khác nhau :

1 - Phần chỉ ý : "niên" (12 tháng) + phần chỉ âm : "nam" (phía nam) dùng phát âm> "Năm"
2)- Phần chỉ ý : "ngũ" (số 5) + phần chỉ âm : "nam" (phía nam) dùng phát âm> "năm" Nên người đọc biết ngay chữ "năm" trên" chỉ thời gian 12 tháng, còn chữ "năm" dưới chỉ số 5. Trong nhiều trường hợp khác, cũng nhờ các "phần chỉ ý" trong chữ nôm mà ta có thể phân biệt các "phụ âm đầu chữ" như "d và g" (bà dì, cái gì ; dã tâm, giả định...) hay các "phụ âm cuối chữ" như "n và ng" (đan áo, đang khi), "c và t" (các người, cát bụi)..

II- Quá trình tiến triển văn nôm  

Chưa ai biết được chữ nôm đã được hình thành vào lúc nào ? Do ai sáng chế ra ? Trước đây, theo B.E.F.E.O. (Nội san Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp) quyển XII, số 1, H. Maspéro đã tìm được trên núi Dục Thúy (Ninh Bình) một tấm bia khắc năm 1343, dưới đời Trần Dụ Tông, có ghi hai mươi chữ nôm. Nhưng hiện nay không tìm ra được tấm bia ấy.

Năm 1970, Đào Duy Anh cho biết trong một tấm bia khác, khắc năm 1210 dưới đời Lý Cao Tông, hiện ở tại chùa Tháp Miếu, huyện Yên Lãng,tỉnh Phúc Yên (Vĩnh Phúc ngày nay) có ghi 21 chữ nôm về tên người cúng ruộng cho chùa, và các tên làng, sông, núi giới hạn ruộng. [2]

Ngoài ra, theo Khâm định Việt sử thông giám, Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) vào đầu thế kỷ XIII, đã dùng chữ nôm làm bài "Văn tế cá sấu". Sau đó, Nguyễn Sĩ Cố (hạ bán thế kỷ XIII) Chu văn An (thế kỷ XIV) đều có sáng tác bằng chữ nôm. (Song các tác phẩm ấy hiện bị thất lạc).

Có người cho rằng các truyện bằng thơ viết bằng chữ nôm, như Trê Cóc, Trinh thử ... cũng được sáng tác vào các thời kỳ nầy. Tuy nhiên, xét về hình thức, có những chi tiết chứng tỏ rằng các tác phẩm nầy thuộc về các thế kỷ sau.( Đời Lê và sự phát triển văn nôm Đến thế kỷ XV văn chữ nôm mới bắt đầu được hình thành với Hồng Đức quốc âm thi tập và nhất là với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Hiện nay, Quốc âm thi tập là tập thơ chữ nôm cổ nhất còn lưu lại đến ngày nay. Với lời văn giản dị và tự nhiên, những bài thơ trong tập nầy nói lên được lòng thiết tha yêu nước, nỗi ghê tởm chán chường của tác giả trước cảnh tham nhũng của bọn quan lại đương thời, và lòng khắng khít với cuộc sống thanh đạm xa rời thế tục.

Phải đợi đến thế kỷ XVI, chữ nôm mới có những tiến triễn rõ ràng về phương diện hình thức cũng như về nội dung. Nhà văn chữ nôm nổi tiếng nhất ở thời kỳ nầy là Nguyễn Bînh Khiêm còn gọi là Trạng Trình. Tập thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập của ông đã thăng hoa cuộc sống nhàn nhã, cô tịch, sự giao cảm với thiên nhiên, và bộc lộ nỗi lòng hối tiếc vì đã không có thể phụng sự đất nước đắc lực hơn, theo như sở nguyện bình sinh của mình. Vào thế kỷ XVIII, văn chương chữ nôm đã tiếp tục tiến triễn khả quan trong nhiều thể loại : thơ, ca ngâm, nhất là truyện dài bằng văn vần. Về thơ đặc biệt có hai nữ thi sĩ có tài là Đoàn thị Điểm người (mà được cho là) đã diễn dịch bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán, ra thơ song thất lục bát bằng chữ nôm, và Hồ Xuân Hương, với những bài thơ dí dỏm, rạo rực dục tình, đã tả chân những nhục cảm, nhục thể qua lối "lời thanh giảng tục". Cũng ở thời gian nầy, ta thấy xuất hiện dồn dập đủ các loại ngụ ngôn, ca dao, truyện kể dân gian, truyện tiếu lâm phúng thế, như truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Tú Xuất, Ba Giai ... nguyên ở thể "truyền khẩu" nhưng về sau được ghi lại bằng chữ nôm, nhưng không rõ các người ghi lại ấy là những ai?

1 - Lê mạt - Nguyễn : sơ thời cực thịnh của văn nôm

Cuối đời nhà Lê và đầu nhà Nguyễn (cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX) là thời cực thịnh của văn nôm với những truyện thơ nổi tiếng như Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, và Nguyễn Thiện nhuận sắc, Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều ; Bích Câu kì ngộ (vô danh), Phan Trần (vô danh), Nhị độ Mai (vô danh), Quân trung đối [3] (Chu Kiều, em ruột của Nguyễn Du), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu) ...

Đoạn Trường Tân Thanh (truyện Kiều) là một tuyệt tác được phổ biến rộng rãi nhất của văn học Việt Nam : lời thơ nhẹ nhàng, thanh nhã, tâm lý sâu sắc, phản ảnh sống động cả một xã hội thối nát nhiễu nhương của buổi giao thời. Ba mối tình của Kiều, (tình thơ mộng với người yêu Kim Trọng, tình chăn gối với người chồng họ Thúc, tình tri kỷ với người hùng Từ Hải), là ba thành tố chính yếu "cần thiết và đầy đủ", bất khả phân ly, để xây dựng hạnh phúc vợ chồng. Kiều đã được hưởng đủ cả ba, nhưng cái trớ trêu bi đát của định mệnh là ba mối tình ấy lại bị tách rời ra ở ba đối tượng khác nhau, trong thời gian và không gian khác nhau : ba "phút huy hoàng rồi chợt tắt", xen kẻ với những cảnh "đau khổ nhục nhã" trong lầu xanh ! Phần đông độc giả xưa nay, đã tìm thấy trong truyện Kiều một phản ảnh tương tự với những tình tự định mệnh oái ăm của chính mình... để cùng than khóc cho người xưa, cũng như ngậm ngùi đau xót cho bản thân. Vì thế mà truyện Kiều đã được nhiều người say mê và sẽ còn say mê mãi mãi chăng ? Đoạn Trường Tân Thanh là kết tinh kì diệu của văn nôm, từ thể "nói lối", "lục bát tự do" của thi ca bình dân, biến hóa thành thể "lục bát" bác học hóa mà ta quen gọi là "lục bát chính thức". Và nếu Nguyễn Du mượn truyện tình dở dang giữa Kiều và Kim Trọng mà giải bày nỗi khổ tâm của một cựu thần nhà Lê phải ra làm việc với nhà Nguyễn, thì em ruột ông là Chu Kiều hẳn cũng mượn truyện tình chung thủy giữa La Thành và Đậu Tuyến Nương, mà phát huy lòng trung thành của mình đối với nhà Lê, để gián tiếp chống lại anh mình là Nguyễn Du chăng ?

Ở tiền bán thế kỷ XIX, một thể loại mới, "ca trù" (hát nói), (do các nhà nho viết lời ca, đưa cho các cô đào hát để thưởng thức), đã được Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát cải chế hoàn hảo. Nguyễn Công Trứ, một nhà thơ vừa là một vị quan văn võ toàn tài, đã từng lãnh chức thượng thư, hay đại tướng, cũng như đã từng bị giáng xuống tri huyện hay lính thú ở biên cương. Cho nên các bài ca trù của ông thường chứa đựng những tình tự tương phản nhau : hăng hái làm việc phi thường lưu danh hậu thế, mà vẫn khao khát thoát ra cuộc đời để hưởng thú an nhàn, tha thiết với công danh mà vẫn không chìm đắm trong lợi danh, sống theo đạo lý cương thường mà vẫn tìm mọi cách hưởng thụ cuộc đời.

Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát đều dựa vào Nho giáo mà hành động, một bên theo tinh thần tôn quân, một bên hướng về tinh thần "cách mệnh Thang Võ", một danh từ mà sử gia Trung Hoa Tư-mã Thiên, đã dùng để chỉ việc vua Thang diệt vua Kiệt tàn bạo, vua Văn diệt vua Trụ hoang dâm, vì theo Nho giáo Vua là người được Trời giao cho sứ mệnh lo cho dân no ấm, yên lành, nếu Vua nào tàn ác, vô đạo làm cho dân đói khổ, lầm than, thì Trời cách (hủy bỏ) cái sứ mệnh ấy mà giao lại cho người khác hiền đức hơn. Do đó có từ "cách mệnh" mà ta dịch là "révolution".(a) Nếu Nguyễn Công Trứ chấp nhận cuộc đời với tất cả những nghịch cảnh, cho rằng "thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức" (luật Trời vận hành một cách cứng rắn, người quân tử phải dựa vào đấy mà tự sức tranh đấukhông ngừng) thì Cao Bá Quát thường hay chán nản trước cuộc đời ngắn ngủi :

"Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười
"Thôi công đông chuốc lấy sự đời ..."
"Làm chi cho mệt một đời ! ..." 
 

Phải chăng vì trước cái cái ngắn ngủi của cuộc đời, cái bất lực của con người bất uất hận với mọi áp bức, bất công của chế độ, mà trong các bài ca trù toàn bích của Cao Bá Quát đã tràn đầy những nỗi chán chường, thê lương, não nuột ... Cũng trong thời "hoàng kim" của văn nôm nầy, phải kể đến bà huyện Thanh Quan, một nữ thi sĩ có những bài Đường thi trang nhã, giọng buồn một nổi hoài Lê nhẹ nhàng kín đáo.

2 - Thời suy vong của văn nôm 

Năm 1888, Pháp quyết tâm xâm chiếm nước ta. Trước binh lực tối tân, Triều đình chủ trương hòa hoãn, nhượng bộ, dần dần đi đến đầu hàng. Trong lúc đó nhân dân Việt Nam vẫn tiếp tục chống lại, cuộc kháng chiến kéo dài suốt trên bốn mươi năm, do các nho sĩ và cũng do các vua như Hàm Nghi, Duy Tân khởi xướng lãnh đạo (thất bại, bị chính quyền thuộc địa Pháp truất phế và lưu đày).

Trong thời kỳ nầy, hầu hết các tác phẩm văn nôm đều tràn ngập tinh thần bất khuất và quyết chiến chống ngoại xâm của sĩ, dân Việt Nam chúng ta. Các nhà văn thơ không chủ trương sáng tác "nghệ thuật vì nghệ thuật". Văn thơ lúc nầy chỉ là một hương tiện để kêu gọi lòng yêu nước thương nòi, lòng hi sinh tranh đấu cho độc lập của đất nước. Trong số những nhà văn thơ đương thời, đáng kể nhất là Nguyễn Đình Chiểu.

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà văn người miền Nam đã từng chứng kiến, từ đầu cho đến cuối, đến năm 1888, là năm ông qua đời, bao cảnh đau thương thê thảm của dân gian, qua những các cuộc gây hấn, giao tranh của quân Pháp mưu đồ xâm chiếm nước ta. Ông là gương mẫu một nhà Nho yêu nước, suốt đời tận tụy dùng ngòi bút tranh đấu bảo vệ cho Tổ Quốc Việt Nam, cho cái Đạo của thánh hiền đang bị lâm nguy.
Ông viết nhiều văn nôm, như truyện Lục Vân Tiên, thể thơ lục bát, mà vai chính là một chàng trai hào hùng, mặc dầu gặp bao hiểm nguy ngang trái, vẫn giữ vững đạo đức sĩ khí nho phong. Như trường ca Dương Từ - Hà Mậu, động viên lòng ái quốc và đạo Nho, bài bác những tôn giáo ngoại lai một cách hùng hồn ; Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giồi,Văn tế Trương Công Định, than khóc thống thiết các chiến sĩ đã hi sinh cho chính nghĩa, cho kháng chiến.

Khi người Pháp đã đặt được cơ sở cai trị ở nước ta, thì cơ cấu xã hội Việt Nam cũng bắt đầu bị xáo trộn đến tận gốc rễ. Một "giai cấp mới" xuất hiện. Một "lớp người đầu hàng và ra làm tay sai cho quân xâm lăng" và nhờ đó chúng có tiền của, địa vị hơn trước, như bọn quan lại, nha thuộc, bồi bếp, trưởng giả thị thành, chức sắc hương thôn...

Trong khi nhiều người khác, như các Nho sĩ, nhất định không cọng tác với chính quyền thực dân, cam lòng sống cảnh thanh bần để giữ tròn khí tiết. Cảm thấy bất lực trước bạo lực của quân thù, họ chỉ biết dùng thơ văn "trào phúng", chế diễu thói đời, chế diễu bọn người vô liêm sỉ kia, đồng thời cũng tự chế diễu cái bất lực hư hèn của bản thân, và đã phá uy thế của quân thống trị, của bọn tay sai của chúng, cho hả hơi, hả giận !

Trào phúng vốn là một khí giới sắc bén của kẻ yếu để chống trả với những kẻ lớn mạnh hơn mình. Vì " đối với những hỗn xược, xã hội trả lời bằng tiếng cười, là một hỗn xược còn lớn mạnh hơn nữa... Cái cười trước hết là một phương tiện để trừng phạt. Cười lên cốt để sỉ nhục ... " [4]

Trong số các nhà văn phúng thế đương thời ấy, đáng kể nhất có Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương hay Tú Xương. Nguyễn Khuyến đỗ tam nguyên(b) , làm quan đến chức Tổng Đốc ba tỉnh Sơn- Hưng-Tuyên (c) .

Năm 1885, sau khi quân Pháp đánh chiếm Bắc Hà, Hà Nội hai lần thất thủ, triều đình Huế ký hiệp ước nhận quyền bảo hộ của Pháp, ông đau buồn cho quốc sự, lấy cớ bị đau mắt nặng, cáo quan về hưu. Người Pháp mời ông ra làm lại Tổng Đốc, ông nhất định từ chối. Về làng, ẩn cư, ông sáng tác nhiều bài thơ trào lộng phúng thế, tiếng cười nhẹ nhàng, trang nhã nhưng không kém phần mỉa mai cay độc. Nhưng sau những tiếng cười diễu, vọng lại bao niềm tủi hận buồn đau.

Nguyễn Khuyến còn là một nhà thơ trữ tình, yêu mến thiên nhiên, một thi sĩ của mùa thu với chiếc thuyền con trên ao lạnh, với bầu trời mây lơ lửng, với đôi tiếng ngổng nước nào trên từng trời cao thẳm... Nguyễn Khuyến cũng là một nhà thơ của tình bạn khắng khít "đối diện đàm tâm" theo lối các nhà Nho ngày xưa, của tình thương xót cho đồng bào trong những lúc thiên tai thủy nạn ! Giọng thơ của ông chân thành, tế nhị, trang trọng, thuần túy Việt Nam.

Ông thường tự trách : bao nhiêu văn bằng, bao nhiêu học vấn, bao nhiêu quyền cao chức trọng của ông cũng không ích lợi cho nhân dân tổ quốc lúc lâm nguy ! Mà bất lực, đành khoanh tay nhìn cảnh nước mất, nhà tan, đồng bào điêu linh, đau khổ ! Trần Tế Xương là một nhà thơ bình dân. Ông thi hương mấy lần đều bị hỏng, chỉ được mỗi một chứng chỉ tú tài (d) , nên gọi là Tú Xương. Cũng như Nguyễn Khuyến, Tú Xương đã viết nhiều bài thơ nôm phúng thế, chế diễu thói đời lố lăng của một xã hội bị phân hóa ở buổi giao thời, của một giai cấp xu thời vô liêm sỉ mới xuất hiện, và cũng để tự cười cái thân phận lỡ thời lỡ vận, nghèo túng của mình. Nếu cái cười của Nguyễn Khuyến kín đáo, thanh nhã, rộng lượng của một bậc hiển nho bất đắc ý, thì cái cười của Trần Tế Xương là cái cười trắng trợn, đầy hằn học của một nhà nho bất đắc chí, trước viễn tượng "vợ lăm le ở vú, con tấp tểnh đi bồi". Tú Xương không làm thơ văn chữ Hán, chỉ sáng tác bằng chữ nôm. Thơ ông vừa viết ra là được phổ biến rộng rãi, nhanh chóng khắp nơi. Ông qua đời vào năm 1907.

Với cái chết của nhà Nho cuối cùng nầy, quá trình sáng tác văn nôm đã cáo chung. Văn nôm nhường chỗ cho văn quốc ngữ. Thế hệ Nho sĩ ảnh hưởng Khổng Mạnh Trung-hoa nhường chỗ cho thế hệ trẻ ảnh hưởng văn hóa Âu Tây.* Tóm lại, trong thời gian trên 400 năm, quá trình diễn tiến văn nôm đã thực hiện tiếp cận song hành với quá trình diễn tiến của ngôn ngữ Việt. Văn Việt từ thời Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV đến văn Việt thời Nguyễn Du đã tiến một bước vô cùng trọng đại. Khởi đầu, chữ nôm được hình thành do những sáng chế của một số Nho sĩ riêng rẻ, thúc đẩy bởi nhu cầu diễn tả tình ý, cảm xúc của con người Việt, muốn có một chữ viết riêng để ghi lại những tình tự, nguyện vọng của người dân Việt nhằm hoàn thành cho được nền độc lập quốc gia. Đây là một phản ứng của cả toàn dân Việt Nam để đấu tranh thoát ra cho khỏi nền thống trị của văn hóa ngoại lai từ phương Bắc cưỡng nhập vào nước đã bao nhiêu thế kỷ.

Đầu thế kỷ XVII, Trần Anh Tông ra lệnh cho các quan ở địa phương phải dịch những công văn chữ Hán ra chữ nôm để phổ biên cho dân gian được thông hiểu.

Năm 1395, Hồ Quí Ly dịch thiên Vô Dật trong Kinh Thư ra chữ nôm để dạy vua Trần Thuận Tông, ngụ ý khuyên kẻ làm vua chúa không nên nhàn rổi, và năm 1396, làm ra sách Thi Nghĩa (nghĩa của Kinh Thi) bằng chữ nôm, sai nữ sử đem dạy hậu, phi và cung nhân của Thuận Tông. Hồ Quí Ly thích sáng tác bằng chữ nôm, nhưng chưa lấy chữ nôm làm văn tự chính thức, Nguyễn Huệ mới là nhà vua đã ra lệnh mọi người phải dùng chữ nôm như là văn tự quốc gia, trong các giấy tờ quốc gia như chiếu, biểu, công văn, văn tế... và trong các khóa thi bắt buộc thí sinh phải làm thơ phú bằng chữ nôm.

Tương truyền, Nguyễn Huệ đã tuyên bố rằng : "Người nước Nam phải dùng tiếng nước Nam, phải có văn chương đặc biệt nước Nam để gây tinh thần nước Nam, không cần đi mượn tiếng, mượn chữ nuớc Tàu". Ông đã ra lệnh cho La Sơn phu tử Nguyễn Thiệp "diễn dịch các sách tiểu học, Tứ Thư, và giải thích ba kinh Thi, Thơ, Dịch theo kinh văn mà lấy từng chữ, từng câu, diễn ra quốc âm". Đến đầu thế kỷ XIX [5], Nguyễn Trường Tộ, một sinh viên Việt đã từng du học tại Rome và Paris, lúc về nước đã dâng lên Tự Đức bản điều trần "Tế cấp bát điều" (để ngày 20 tháng 10 năm Tự Đức thứ 20 - 1807), trong điều 4, khoản 5, đã đề nghị dùng chữ nôm làm quốc tự thay thế chữ Hán, lập hội đồng cải cách và thống nhất cách viết chữ nôm, cho soạn tự điển chữ nôm dùng trong các cơ quan chính quyền và trong trường học. Nhưng một phần vì bận rộn về những thất trận liên tiếp trong công cuộc chống Pháp xâm lăng, một phần vì triều thần thủ cựu chống lại mọi đổi mới, nên chương trình canh tân văn tự do Nguyễn Trường Tộ đề xướng bị bỏ rơi.

Hiện nay nhiều người quên rằng đa số các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của nước ta đã viết bằng chữ nôm. Nhờ có chữ nôm mà ta có được một kho tàng đầy những tuyệt tác văn chương đáng cho dân tộc chúng ta hảnh diện, tự hào : từ những truyện thơ như Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, những ngâm khúc như Chinh phụ ngâm của Đoàn thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Ôn như hầu, những bài ca trù của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, cho đến những bài thơ của Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, để chỉ kể những tác giả nổi tiếng nhất mà thôi. Nhưng vì ngày nay không mấy ai đọc được chữ nôm, nên phải phiên âm các tác phẩm ấy ra chữ quốc ngữ cho sinh viên học ở các trường, và phổ biến trong sách báo cho mọi người trong nước đọc. Chính nhờ chữ nôm mà tiếng Việt đã được trưởng thành, tinh vi, phong phú, và biến thành một công cụ , một trợ lực truyền thong đác lực cho các nhà văn , nhà thơ, cho các học giả chữ quốc ngữ vào đầu thế kỷ XX.

Tài liệu :

[1] - Nguyễn Tá Nhí, Lối đánh dấu cá trong chữ nôm, in “Tạp chí Hán Nôm”, số 1 - 2, 1987, trang35-38.
[2] - Đào Duy Anh, Chữ Nôm, Nguồn gốc, Cấu tạo, Diễn Biến, Nxb Khoa học-Xã hội, Paris, 1979, trang 14..
[3] - Chu Kiều (em ruột Nguyễn Du), Quân Trung Đối, Nxb Sudestasie, Paris, 1995, "Lời nói đầu" của Võ Thu Tịnh, trang 15-19.. 
[4] - Henri Bergson, Le Rire, Ed. France Loisirs, Paris, 1940, trang 128, 129 (A ces impertinences, la société réplique par le rire, qui est une impertinence plus forte encore... Le rire est avant tout une correction. Fait pour humilier).
[5] - Hoàng Cơ Thụy, Việt Sử Khảo Luận, Hội Văn Hóa hải ngoại, Paris, 1989, q 5, Bài chiếu bằng chữ nôm của vua Quang Trung gửi cho Nguyễn Thiệp (La Sơn phu tử) về việc dịch sách, ngày mồng một tháng 6, năm Quang Trung năm thứ 5, khoảng tháng 7/1792), trang 870,
(a) Thật ra "cách mệnh" theo sử gia Tàu ngày xưa chỉ là một cuộc đảo chính, truất phế một bạo quân để đưa một minh quân lên thay thế, tiếp tục sứ mệnh của Trời giao phó cho để làm cho dân an vui, no ấm.
(b) Tam nguyên = ba lần đỗ đầu : thủ khoa thi hương, thủ khoa thi hội, thủ khoa thi đình
(c) Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quan.
(d) Tú tài = ngày xưa thi hương đỗ, được bằng cử nhân, ra làm quan. Nhưng thí sinh nào tuy bị hỏng mà có điểm cao suýt soát với điểm tiêu chuẩn để đỗ, thì được gọi là tú tài. Chính quyền có giấy báo về làng để được sắp vào hạng "sĩ tử" (có học vấn) không bị sai cắt trong những dịch vụ như hạng thường dân. Có trường hợp thí sinh nào "suýt" đỗ cử nhân đôi ba lần như thế, thì được gọi là "tú hai", "tú ba"...."tú năm" v.v...


Võ Thu Tịnh, Marburg
Nguồn: http://www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=8538

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

Sự tích Tiên Rồng và vòng Thái cực


Kinh Dịch đã được phổ biến rộng rải và ngày nay ai ai cũng thừa nhận đó là một sản phẩm văn hóa của Hán tộc. Sự xác nhận với đầy rẩy chứng cớ trong sách vở khiến khó có ai có thể phủ nhận được. Công việc dẫn chứng để phủ nhận Kinh Dịch không phải của Hán tộc là một việc đội đá vá trời. Chúng tôi không có khả năng cũng như không dám làm công việc vĩ đại ấy mà chỉ nêu dưới đây một vài điểm tương đồng thân thuộc một cách kỳ lạ giữa sự tích Tiên Rồng của Việt tộc với Kinh Dịch của Hán tộc mà thôi.


Một quan niệm căn bản của Kinh Dịch là thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng và biểu tượng rất được phổ biến của Kinh Dịch là Thái cực đồ với hình vòng tròn được chia hai bằng một đường dạng chữ S phân vòng tròn ra làm hai phần đều nhau, nửa đen nửa trắng. Vòng tròn được gọi là vòng thái cực, hai phần trắng đen là hai yếu tố âm dương. Biểu tượng Thái cực đồ nói lên vũ trụ quan của Kinh Dịch là mọi sự vật trong thái cực tức vũ trụ đều do hai yếu tố âm dương chi phối và cấu thành.

Chúng ta ai cũng biết đến sự tích Tiên Rồng nói về nguồn gốc của dân Lạc Việt. Theo chuyện tích này thì dân Lạc Việt khởi nguồn từ sự kết hợp của hai giống Tiên và Rồng. Rồng Lạc Long Quân đã kết duyên cùng Tiên Âu Cơ và do sự kết hợp này mà mẹ Tiên Âu Cơ đã sinh ra một bọc chứa một trăm trứng nở được một trăm người con trai. Cha Rồng, mẹ Tiên sống với nhau một thời gian thì cha Rồng nhớ nguồn cội của mình là Thủy cung nên chia con ra làm hai, 50 con theo cha xuống biển, 50 con ở lại với mẹ Tiên trên non. Trước khi chia tay cha Rồng hẹn mẹ Tiên mỗi năm gp nhau ở cánh đồng Tương hoc khi cần cứ gọi thì ta về ngay.

Sự tích Tiên Rồng mới nghe có vẻ huyền thoại khó tin nhưng nếu nghiên cứu tường tận ta sẽ tìm thấy rất nhiều ẩn ý mà tiền nhân muốn nhắn nhủ và lưu truyền lại cho hậu thế về nguồn gốc và triết lý của dân tộc Lạc Việt. Có thể cuộc hôn nhân của Tiên Âu Cơ và Rồng Lạc Long Quân cũng bình thường như các cuộc hôn nhân khác, nhưng có lẻ vì muốn câu chuyện được hấp dẫn cho dễ lưu truyền từ đời này sang đời khác mà tổ tiên ta đã huyền thoại hoá chuyện tình Âu Cơ và Lạc Long Quân chăng?

Tiên và Rồng là hai biểu tượng không có thật. Tiên là hình ảnh của con người đã thánh hóa, siêu thóat, tượng trưng cho sự thanh nhã, khoan ái, trường tồn. Rồng theo quan điểm phương đông là rắn thăng hoa biểu trưng cho oai dũng, cho sức mạnh, tính nhẫn nại và tài năng biến hóa vô cùng. Trong khi các chủng tộc khác thường chỉ có một vật tổ, chủng tộc Lạc Việt có hai vật tổ cùng lúc là Tiên và Rồng tức có đủ cả hai yếu tố âm và dương. Tiên là giống cái thuộc âm, Rồng là giống đực thuộc dương. Cuộc hôn nhân của Tiên và Rồng là sự kết hợp sinh động của nét thanh nhã hiền hòa với sức mạnh và tài năng thiên biến vạn hóa. Sự kết hợp đó đã tạo nên giồng giống Việt, một giống dân vừa xinh đẹp, dịu hiền, vừa hùng dũng, cương quyết, vừa tình vừa lý, vừa linh động vừa thường hằng, vừa vật thể vừa siêu phàm. Và đó chánh là ẩn ý mà tiền nhân muốn trao gởi lại cho hậu thế để biết tự hào về đc tính của dân tộc Lạc Việt.

Trước tiên, một bọc trăm con tượng trưng cho hình ảnh một nhóm người sống quây quần thành một cộng đồng hay xã hội. Trăm trứng trong cùng một bọc cũng chuyên chở ý nghiã là dân Việt có chung một nguồn gốc và bọc nở ra trăm con là tổ tiên muốn nhắc nhở mọi người dân Việt phải nhớ tới nguồn gốc mà thương yêu đùm bộc nhau. Thêm vào đó, vì cùng sinh ra đồng thời, đồng lúc nên tất cả đều bình đẳng, đều là anh em, đồng thời cũng hàm ý là con người từ khởi thủy đã sống trong cộng đồng và đã có tinh thần xã hội rồi. Một cách tổng quát sự tích Tiên Rồng dạy cho mọi người dân Việt phải biết yêu thương đùm bọc nhau trong tình anh em ruột thịt, trong nghiã đồng bào. Chánh trong ý nghiã này mà tiếng Việt mới có chữ đồng bào để chỉ người dân trong cùng một nước.

Mt khác chữ trăm trứng không chỉ có nghiã thuần 100 trong ý nghiã số học. Trăm ở đây còn có nghiã là nhiều như trong câu: ta còn trăm việc phải làm, hoc cũng có nghiã là tất cả như trong các từ ngữ trăm họ, trăm hoa đua nở. Với ý nghiã này, tổ tiên Lạc Việt qua sự tích "bọc trăm trứng" đã dạy chúng ta là không chỉ giống giồng Tiên Rồng mà tất cả con người đều cùng một nguồn gốc sinh ra và tất cả các giống dân trên trái đất này đều bình đẳng và phải thân thương nhau trong tình ruột thịt.

Bọc trăm trứng cũng nói lên sự kết hợp âm dương. Cha là đực hay dương, mẹ là cái hay âm, cha mẹ tức âm dương kết hợp đã sinh ra bọc 100 con. Nếu xem bọc tượng trưng cho vũ trụ thì từ lâu ông cha ta đã có một quan niệm khá rõ ràng về vũ trụ. Trăm con được chia làm hai, 50 theo mẹ 50 theo cha, đó là tổ tiên với óc sáng tạo độc đáo đã cụ thể hóa hai ý niệm âm dương vốn trừu tượng không thể thấy bằng mắt sờ bằng tay được. Cái bọc chỉ toàn thể vũ trụ được cấu tạo bởi hai yếu tố âm dương cân bằng nhau. Hình ảnh mẹ Tiên tượng trưng cho âm và cha Rồng tượng trưng cho dương để nói lên nguyên lý âm dương kết hợp và vận hành trong vũ trụ. Hai yếu tố âm dương hiện diện trong mọi vật thể từ nhỏ nhất đến lớn nhứt, hai yếu tố này tuy khác nhau nhưng quyện xoắn lấy nhau, tương giao, tương hợp để tạo thành vũ trụ và muôn loài.

Như vậy ta thấy sự tích Tiên Rồng của giống Lạc Việt đã nói lên một cách dễ hiểu vàtrọn vẹn những điều trong Kinh Dịch diễn tả một cách trừu tượng là: Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng (Hệ Từ XI). Cái bọc trong sự tích Tiên Rồng là cách nói dễ hiểu để chỉ vòng thái cực; bọc chia làm hai gồm 50 và 50 chính là ý niệm lưỡng nghi của Kinh Dịch. Nhưng tính chất độc đáo trong sự tích Tiên Rồng là cho con người và vạn vật đều do hai yếu tố âm dương kết hợp. Ý niệm này cũng tìm thấy trong Kinh Dịch qua câu: nhất âm nhất dương chi vị đạo (Hệ Từ V) tức Ðạo của trời đất và vũ trụ là phải có âm dương. Nhưng hai yếu tố âm dương trong Kinh Dịch hoàn toàn trừu tượng, thuộc phần suy luận của lý trí, trong khi đó hai yếu tố âm dương trong sự tích Tiên Rồng được diễn tả bằng hai con người sống động và hiện thực là mẹ Tiên Âu Cơ và cha Rồng Lạc Long.

Vấn đề chia con ra làm 50 theo Mẹ và 50 theo cha khiến nhiều người không chịu tìm hiểu tường tận đã vội kết luận rằng bản chất của dân Việt là chia rẻ. Thực ra, hành động Mẹ Âu Cơ dẫn 50 con lên núi nói lên nguyên lý mẹ tức mẹ làm chủ trong văn hóa Lạc Việt. Dẫn con lên núi là ý niệm đi lên cao, đi đến chỗ triệt cùng, triệt để tức là tìm về với minh triết, đi đến chỗ phân cực triệt thượng. Cha Lạc Long dẫn 50 con xuống đáy biển là một sự việc đối nghịch lại với sự dẫn con lên núi nhưng có cùng một mục tiêu là tìm đến sự triệt để mà ở đây là triệt hạ. Triệt thượng thì lên đến cùng cực của siêu thực, triệt hạthì xuống thấp nhứt đến hiện tượng tức là việc làm ăn sinh sống hằng ngày. Khi đạt đến cùng cực thì mọi sự hội thông đúng như châm ngôn của Lý Thái Cực là: "nhất lý minh, vạn lý thông".

Hai hành động lên non, xuống biển nói lên sự phân cực để tiến hóa là một ý niệm hoàn toàn khoa học. Chia nhưng không chia, chỉ đi về hai phiá để làm nổi rõ sự cách biệt thôi. Sự chia tay này còn biểu thị cho cơ cấu của vạn vật trong trời đất đâu đâu cũng phải phân cực như vậy. Cha Rồng đã nói rõ là mỗi năm gẕp nhau ở cánh đồng Tương và khi gọi thì ta về đã nói rõ sự kết hợp giữa Tiên và Rồng dù kẻ lên núi, người xuống biển vẫn còn tồn tại, vẫn là một. Ðiều này cũng nói lên lưỡng nhất tính trong văn hóa của Việt tộc: hai mà một, một mà hai:
Tình đôi ta tuy hai mà một
Ðời chúng mình tuy một mà hai.

Dẫn con lên núi và xuống biển còn nói lên ý niệm núi vươn cao, biển nằm dài, hai hình ảnh ngang dọc chỉ ý niệm trời đất, đồng thời cũng cốt để diễn đạt quan niệm phân cực. Mẹ lên non đứng thẳng chỉ non nhân, cha xuống biển nằm ngang chỉ nước trí. Mẹ non nhân, Cha nước trí, nước non phối hợp hài hòa cho quốc gia vững mạnh, dân tộc trường tồn.

Sự tích Tiên Rồng cũng thể hiện rõ rệt quan niệm về Ðạo của Việt tộc. Ðạo bao gồm ba yếu tố là âm, dương và hóa tức âm dương hòa hợp tạo nên Ðạo. Bình thường người ta chỉ thấy có âm và dương: âm tán dương tụ. Muốn trở thành Ðạo âm dương phải kết tụ, giao hòa. Tán tụ là hai luật căn bản của vạn vật trong vũ trụ vì tán tụ là hai mối liên hệ ràng buộc vạn vật với nhau một cách mật thiết. Nói cách khác là vạn vật phải giao hòa để tạo thành nhất thể như Kinh Dịch có ghi nhận là vạn vật nhất thể. Ðể nói lên cùng một ý niệm sự tích Tiên Rồng chỉ cần dùng hình ảnh bọc mẹ trăm con rất đơn giản và dễ hiểu.

Trống đồng Ðông Sơn là những cổ vật không ai chối cải là di sản văn hóa của Việt tộc cũng đã ghi khắc lại trên mt trống những tư tưởng về vũ trụ quan của sự tích Tiên Rồng. Mt trống tròn chánh là cái bọc được nhắc đến trong sự tích Tiên Rồng tương đương với ý niệm vòng thái cực của Kinh Dịch. Mt trống vẻ toàn các hình tượng người và vật có mang lông chim nói lên ý niệm Tiên và sự kiện 50 con theo Mẹ lên núi. Tang trống thì vẻ hình 6 thuyền rồng đi trên nước hàm ý 50 con theo Cha xuống biển. Mt trống cũng được chia ra làm hai với một nửa có các hình tượng số chẳn như nóc nhà 2 chim, đoàn 6 người, chim 4 cp, và một nửa có các hình tượng số lẻ như nóc nhà 1 chim, đoàn 7 người, chim 3 cp. Sự phân chia này trùng hợp với điều trong Kinh Dịch gọi là Thái cực sinh lưỡng nghi. Vòng ngoài cùng của mt trống với 36 con chim là tượng trưng cho 4 hoa hướng dương 9 cánh nói lên ý niệm lưỡng nghi sinh tứ tượng của Kinh Dịch.

Một ý niệm khác của Kinh Dịch là tam tài Thiên Ðịa Nhân cũng được diễn tả trên trống đồng Ðông sơn của Việt tộc. Ngay giữa mt trống là hình mt trời rõ nét, đó chánh là yếu tố Thiên. Kế đến là hai vòng vẻ hình người múa hát, tượng trưng cho yếu tố Nhân. Hai vòng ngoài cùng vẻ hình chim thú tượng trưng cho đất, chính là yếu tố Ðiạvậy. Tang trống cũng diễn tả ý niệm tam tài bằng ba phần: phần trên chỉ trời, phần thân chỉ người và phần chân trống chỉ đất.

Ngoài ra, nhìn vào mt trống ta cũng thấy thấp thóang hình bóng của ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ. Như trên vừa nói hai vòng ngoài cùng của mt trống có hình chim thú, kế đến là hai vòng hình người, trong cùng ở ngay giữa là vòng mt trời biểu thị cho hành Thổ trung cung, cọng tất cả các vòng lại ta có con số 5 của ngũ hành với hành Thổ ở giữa và bốn hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa ở bốn phương đông, tây, nam, bắc.

Tóm lại, sự tích Tiên Rồng đã được thể hiện trên trống đồng Ðông Sơn. Và qua trống đồng Ðông Sơn ta thấy hình người và chim muông cùng hợp ca múa hát trong cảnh thái hòa hạnh phúc giữa trời, đất và người. Nếu minh triết là nghệ thuật tối cao sắp đt cuộc sống sao cho mọi người đạt được hạnh phúc, thì triết lý của Việt tộc được gói ghém trong sự tích Tiên Rồng và biểu hiện qua trống đồng Ðông sơn đã nói lên được tánh cách ưu việt đó là hội nhập được hai thái cực cùng tột là có với không, chẳn với lẻ, vuông với tròn, âm với dương một cách trọn vẹn và hài hòa.

Những tánh cách ưu việt đó đem đối chiếu với Kinh Dịch nói chung và thái cực đồ nói riêng ta thấy có nhiều điều trùng hợp. Qua các điều dẫn chứng vừa trình bày, ta có thể ghi nhận là sự tích Tiên Rồng và Thái cực đồ của Kinh Dịch là hai ấn bản của cùng một tư tưởng triết học, Tiên Rồng của Việt tộc có tánh cách bình dân dễ hiểu, Kinh Dịch của Hán tộc có tánh cách bác học khó hiểu. Cả hai cùng nêu cao một vũ trụ quan lưỡng nhất tính và quan niệm âm dương vẫn được nền triết học thế giới thừa nhận là hai yếu tố đc thù của nền triết học Ðông phương. Ðiều sau cùng tưởng cần ghi nhận là sự tích Tiên Rồng đã có từ hơn năm ngàn năm trong khi Kinh Dịch chỉ mới biết đến khoảng hai ngàn năm trăm năm mà thôi.

Nguyễn Minh Triết

Tài liệu tham khảo:
Kim Ðịnh -- Thái Bình Minh Triết, Thời Ðiểm xuất bản, 1997.
Ðào Văn Dương, et. al. -- Tinh Hoa Tư Tưởng Việt, Tủ Sách Việt Thường xuất bản, 1997.
Nam Thiên -- Kinh Việt, Hoa Tiên Rồng xuất bản, 1993.

Nguồn: http://www.anviettoancau.net/anviettc/index.php?option=com_content&task=view&id=594&Itemid=99999999