Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

2. Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo

Vì vậy, tôi bước sang phần "Cảm thức tôn giáo cá nhân trong Kitô giáo" [tức là đời sống hay kinh nghiệm Kitô hữu] mà đỉnh cao là đời sống thần hiệp giữa mỗi một tâm hồn, giữa mỗi một con người có thân xác, có linh hồn với chính Thiên Chúa. Chữ "thần hiệp" là tôi dùng để dịch từ tiếng Pháp là "mystique" [Thần hiệp: sau này có lúc được diễn giả thay bằng chữ "huyền giao"]. Đối với các anh chị đây, là những vãn nghê sĩ, thì đời sống cảm thức có lẽ có một tầm mức khá quan trọng, cho nên tôi xin cố gắng tóm tắt, trình bày những nét chính của Đời sống cảm thức tôn giáo trong Kitô giáo. Nếu định nghĩa tóm tắt Kitô giáo trong hai chữ tình yêu, thì cuối cùng cảm thức tôn giáo căn bản trong Kitô giáo chính là tình yêu, tình yêu giữa Thiên Chúa với con người. Như tôi đã trình bày, nguồn gốc của tình yêu chính là tương quan liên ngã vị trong Thiên Chúa, sau đó nguồn mạch tình yêu ấy mới tràn ra ngoài để nhắm tới những đối tượng là những ngã vị được tạo thành, là các thiên thần và con người có thể xác, có tâm linh. Thiên thần và con người được tạo dựng nên là để được mời gọi đi vào thông dự cái mầu nhiệm tình yêu trong Ba Ngôi. Chỉ khi nào bước vào Nước Trời vĩnh cửu, bấy giờ tương quan ấy mới được kiện toàn. Với sự Nhập Thể, Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, khi các linh hổn đón nhận và nhìn nhận Ngài chính là Đấng Cứu thế, gia nhập đoàn chiên của Ngài, trở nên thành viên của dân Ngài, thì mỗi một linh hồn cũng đã khởi sự cuộc sống tình yêu liên ngã vị giữa mình và Thiên Chúa, như một mầm mống đã được gieo vào trong tâm hồn mình ngay ở trần gian này, mà biểu tượng rõ ràng nhất là trong việc Hiệp lễ, tức là việc rước Mình Thánh Chúa. Khi rước lễ, linh hồn tín hữu hiến dâng mình lên cho Chúa, nhưng đồng thời cũng đón nhận lấy Ngài, để hai ngã vị được kết hiệp nên MỘT, khác nào đôi nam nữ yêu nhau, kết hợp với nhau trong động tác trao xương gửi thịt mà tôi đã phác họa qua, trong phần trình bày về Bí tích Thánh Thể. Sự phối hiệp ấy, trước hết là dưới bình diện hữu thể, do đó, về phương diện tâm lý, mặc dầu hiện thực là có thật, có thể nhiều người, nhất là những người ít có xu hướng nội quan, không ý thức được, không cảm nhận được.

Tuy nhiên, trong thái độ của đức tin, của lòng cậy trông, của lòng yêu mến [tin, cậy, mến] và trong Bí tích Thánh Thể, sự kết hiệp giữa loài người và Thiên Chúa đã khởi đầu ngay từ khi một con người chịu phép Thánh tẩy, mà tôi đã trình bày như một cuộc Thánh hiến, hay là như một cuộc tháp nhập vào chính Đức Giêsu Kitô. Sự phối hiệp ấy được thực hiện trong chính con người có linh hồn, có thể xác, cho nên mỗi tín hữu Kitô giáo thường được gọi như là một Bình Thánh, là nơi mà chính Thiên Chúa Ba Ngôi ngự xuống, qua trung gian Ngôi Hai nhập thể làm người, dưới sự kết hợp của Thánh Linh, để đi trở về trong lòng Chúa Cha như lời Đức Giêsu đã hứa hẹn trong bữa Tiệc ly, trước khi Ngài hiến mình chịu Khổ Nạn: "Ta sẽ đến ở trong các con và nơi nào Ta ở, thì Ta cũng sẽ đem các con vào nơi đó, nghĩa là trong cung lòng Chúa Cha, để cho các con nên một như Cha và Ta đã nên một"; và Ngài cũng đã xin với Chúa Cha: "Con ở đâu, thì con cũng xin cho họ cũng được ở đó với con" (x. Ga 17,20-26), nghĩa là chính trong cung lòng của Chúa Cha.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

1. Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

Tôi xin dùng một hình ảnh ví von để nói lên cái hiện thực đó, là khi tạo dựng nên vũ trụ hướng đến cứu cánh, Thiên Chúa giống như "đi hỏi vợ cho con"; tuy nhiên, "người vợ” đây không có từ trước, nhưng chính Thiên Chúa đã gọi lên cho có từ hư không. Và cuộc hôn phối giữa Thiên Chúa và thụ tạo ấy đã thể hiện trong chính mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể làm người, chịu tử nạn và sống lại, là mầu nhiệm vẫn còn tiếp diễn qua trung gian của Hội Thánh là một bí tích lớn, mà trung tâm là Bí tích Thánh Thể được tiến dâng hằng ngày, hằng giây hằng phút, trong các Thánh đtrờng ở khắp mọi nơi. Nơi Bí tích Thánh Thể các Kitô hữu đến, vừa dự phần hưởng thụ mối tình Thiên Chúa trao ban qua trung gian Đức Giêsu Kitô, vừa hiến dâng chính bản thân mỗi người, kéo theo toàn thể vũ trụ, toàn thể nhân loại lên Đức Chúa Cha, cũng qua trung gian Đức Giêsu Kitô hiện diện thực sự trong bí tích này, qua bàn tay thừa tác vụ của những con người được Ngài lựa chọn để thực hiện điều Ngài dạy: "Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy". Vì vậy, có nhiều người đã nói trung tâm Kitô giáo là Thánh lễ Tạ ơn (tức là Bí tích Thánh Thể), được hình dung dưới hình ảnh tiệc cưới Con Chiên, Con Chiên đây là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, còn tiệc cưới là để kết hôn với nhân loại, với vũ trụ và với từng con người riêng biệt. Cứu cánh muôn đời của vũ trụ không gì khác hơn là sống trong tiệc cưới liên hoan ấy cho đến mãi mãi, không bao giờ dứt, như trong tín điều các Kitô hữu vẫn tuyên xưng: "Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy."

Bản dịch hiện nay là "Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau. Amen.” nhưng thật ra, tiếng Pháp là "vie éternelle", chứ không phải "vie future", bởi vì như tôi đã nói nhiều lần, cái vĩnh cửu là một chiều kích siêu thời gian vô thủy vô chung mà mỗi điểm thời gian đã có phần thông dự chứ không phải một cái gì đến sau. Cái vĩnh cửu ấy có thể nói được là đã chuẩn bị, đã tiên báo trong đời Đạo Cũ, đã thực hiện trong thân thế sự nghiệp Đức Giêsu Kitô và vẫn tiếp diễn từ ngày Lên Trời, trong lòng Giáo hội cho đến ngày Cánh chung. Quá khứ, hiện tại hay tương lai chỉ là những điểm phân tán từ một chiều kích gọi là "chiều kích vĩnh cửu". Cho nên, Thiên đàng của Kitô giáo không nằm ở một thời điểm tương lai xa nào, nhưng được thu gồm như lúa gặt vào kho lẫm muôn đời, vô thủy vô chung, siêu thời gian tính. Sở dĩ nhắc lại tiếng Pháp là "vie éternelle", chứ không phải "vie future", bởi vì sự sống thật không dàn trải trong thời gian, dù là thời gian sau này, nhưng sự sống thật được gieo trong từng điếm thời gian và được gặt đưa vào kho lẫm của vĩnh cửu siêu thời gian. Những từ ngữ như: lên trời, lên Thiên đàng, ngự bên hữu, chẳng qua chỉ là những hình ảnh để cho trí tưởng tượng con người có thể thông qua được, bởi vì con người vẫn còn bị giam hãm trong khung không gian và thời gian, nên đành phải tạm dùng vậy, chứ thực ra Thiên đàng hay Hỏa ngục là những hiện thực có tính cách mầu nhiệm siêu việt, vượt qua sự hình dung cũng như quan niệm của con người.

Như đã nói ở trên, tiệc cưới liên hoan là cuộc liên hoan mừng Hôn lễ giữa Ngôi Hai Thiên Chúa với vũ trụ, với toàn thể nhân loại và với mỗi một con người. Từ khởi đầu cho đến nay, thiên tình sử giữa Thiên Chúa và loài thụ tạo có lịch sử tính, trước hết là diễn trình của vũ trụ, rồi đến lịch sử của nhân loại, đến lịch sử dân tộc Do Thái, đến thân thế và sự nghiệp của Đức Giêsu Kitô và lịch sử của Giáo hội Kitô giáo, tức là Dân Mới của Thiên Chúa cùng với tất cả những hệ quả về văn hóa, xã hội, tư tưởng, đạo đức, triết học, v.v... của dân ấy. Nhưng, bất luận thế nào, trong thiên tình sử bao gồm cả vũ trụ và nhân loại kia, thì những đối tượng cụ thể vẫn là những con người có cá vị tính, chủ thể tính, ngã vị tính, tự do tính, là mỗi một tâm hồn. Cuộc hôn phối này có chiều kích vũ trụ, "dimension cosmique", chiều kích toàn thể nhân loại, "dimension humaine", nhưng cũng có chiều kích cá nhân hay ngã vị, "dimension individuelle" hoặc "dimension personnelle" mà mỗi một linh hồn được mời vào tham dự.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

1. Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

Và đến đây, tôi xin được trình bày một phần coi như là thu gồm kết thúc. Thiên Chúa là Đấng tự hữu, vĩnh cửu trong mầu nhiệm Nhất Thể Tam vị, sống trong một tương quan liên ngã vị muôn đời, tức là trao ban, đón nhận, trả về toàn bộ chính mình, gọi là Tình Yêu, trong sự tự do của ngã vị tính, Chủ Thể tính; và đó chính là hạnh phúc trong hiện hữu của Thiên Chúa Nhất Thể Tam Vị, đó chính là sự hoàn hảo, toàn thiện, chí thánh của Ngài. Ta có thể ví Hữu Thể tự hữu toàn thiện đó như một ngọn suối, mà bản chất của ngọn suối là tuôn tràn ra bên ngoài mình; vì vậy cho nên cái phúc lạc, cái sự sống, cái sự hiện hữu ấy, Thiên Chúa không hề ích kỷ, chỉ khép kín lại trong cái chu tuần trao ban, đón nhận, hoàn trả của Ba Ngôi mà thôi, nhưng có một sự tràn ra ngoài. Sự tràn ra ngoài này không phải theo quan niệm "lưu xuất, émanatisme", như một điều tất yếu, nhưng là một quyết định tự do của chính Thiên Chúa ban sự sống, ban hạnh phúc trong tự do, trong sự lựa chọn, nghĩa là Ngài làm nhưng không phải do thúc đẩy của một tất yếu, mà do TìnhYêu tự do muốn trao ban, và đó chính là nguồn gốc đã thúc đẩy Ngài dựng nên vũ trụ. Cái vũ trụ này từ không mà được tạo ra, rồi được mời lên đến đỉnh cao là đi đến chỗ thông dự vào chính Tình Yêu, Hạnh Phúc của Ngài, bằng cách tháp nhập vào Ngôi Vị gần gũi nhất với loài thụ tạo, là Ngôi Hai, tức là Ngôi Con, như có cả một quy trình thăng tiến từ cái hư không vào với chính cái Tự Hữu Thiên Chúa Ba Ngôi. Hư không rồi lên có, có vô cơ rồi lên hữu cơ, tân hữu cơ, thực vật, động vật lên con người và các thiên thần. Thiên Chúa chọn một thụ tạo như là "trục" của vũ trụ ấy, là con người, tức là điểm kết nối giữa vật chất và tâm linh, để như cái móc khâu vào, kéo vào, qua trung gian của Ngôi Hai Thiên Chúa, trong sự Nhập Thể của Ngài, nghĩa là Ngài xuống đồng nhất hóa với chính cái hữu thể đó, đế qua trung gian hữu thể đó mà kéo toàn thể vũ trụ đi vào, nói theo thuật ngữ chuyên môn, trong vinh quang của Thiên Chúa, tức là sự Hiện Hữu, Tình Yêu, Hạnh Phúc và Sự Sống muôn đời của Ngài. Như thế, lịch sử của cả vũ trụ, trong đó có lịch sử của con người, khởi đầu bằng việc tạo lập trời đất từ hư không và kết thúc bằng sự giáng lâm của Đền Thánh Giêrusalem trang điểm như một tân nương chào đón tân lang, ngày vũ trụ đi vào vinh quang, đạt tới chính cùng đích của mình...

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

1. Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

Nói tóm lại, tương quan Cha, Con, Thánh Thần chính là cái làm nên Ba Ngôi, vì thế, gọi đó là tương quan bản thể, "relation substantielle" hay là "relation subsistante". Và cái tương quan đó bao hàm một sự trao ban hoàn toàn triệt để, một sự đón nhận hoàn toàn triệt để, một sự trao trả trở về lại triệt để: trao ban là Cha, đón nhận là Con, trao ban trở về là Thánh Thần; chính cái động tác trao-ban-đón-nhận-trao- ban-trở-về đó làm nên Cha là Cha, Con là Con, Thánh Thần là Thánh Thần.

Không có tương quan đó thì không có Cha, không có Con, không có Thánh Thần. Do đó, chính cái tương quan trao-ban-đón-nhận-trao-ban-trở-về đó, trong sự tự do của các Ngã vị, là yếu tính, có thể nói là bản tính, bản thể của Thiên Chúa, cho nên mới định nghĩa Thiên Chúa là Tình Yêu. Chẳng phải là có Thiên Chúa rồi thì Ngài yêu cũng được mà không yêu cũng được, nhưng Ngài chỉ có trong mức độ Ngài yêu nhau trong tương quan liên Tam ngã vị của một Thiên Chúa có một bản tính duy nhất. Điều này Kitô giáo gọi là mầu nhiệm Thiên Chúa Nhất Thể Tam vị, hay là Một Thiên Chúa trong Ba Ngôi là Ngôi Cha, Ngôi Con, Ngôi Thánh Thần. Cha là "Nguồn gốc" Con là "Ngọn", nhưng trong cái "Ngọn" là toàn bộ "Nguồn gốc" được trao ban, và Ngọn, sau khi đã đón nhận hoàn toàn chính Cha chứ không phải như một tặng phẩm của Cha, chính bản thân Cha múc cạn tất cả rồi lại trao trở về toàn diện, không phải như một tặng phẩm, một món quà. nhưng là chính bản thân Cha múc cạn hết trong một tương quan tình yêu, và tương quan tình yêu này, chính vì múc cạn hết hai chiều trao ban, hai chiều hoàn toàn triệt để tận căn giữa Ngôi Nhất và Ngôi Hai, cho nên tương quan tình yêu này cũng có phẩm giá, vị thế của một Ngã vị, đó gọi là Ngôi Ba.

Có thể hình dung Ngôi Cha như "Ngọn nguồn", Ngôi Con, trong một hình ảnh nào đó, cũng là "Ngọn Nguồn" và Ngôi Ba như một Thần Lực nào đó; nhưng như vậy, chẳng qua là chỉ hình dung để tạm thấy lờ mờ, chứ thật ra, cái hiện thực ấy, tôi dùng chữ "hiện thực", chứ không dùng chữ "chân lý", là bởi vì đây là một hiện thực sống động, chứ không phải một chân lý trừu tượng vượt quá mọi tầm suy luận - cái hiện thực ấy vượt quá mọi tầm kinh nghiệm của con người. Sở dĩ con người biết được cũng chỉ là do sự mạc khải của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô mà thôi. Vì lẽ, "Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Ngài đã tỏ cho chúng ta biết" (Ga 1,18). Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho thế gian (x. Ga 3,16)...

Như thế, trong ba Ngã vị Thiên Chúa, Ngôi Hai là Con, từ đời đời đã được Ngôi Cha sinh thành và đã cùng với Ngôi Cha tác thành nên vũ trụ, giờ đây Ngài lại có dáng dấp như là một thụ tạo, tôi nói là "có dáng dấp như là một thụ tạo" từ Chúa Cha mà ra, do đó, có một phần nào gần gũi với các thụ tạo từ Thiên Chúa mà ra. Vì vậỵ, có thể nói rằng mọi thụ tạo, từ vật chất vô tri cho đến các thiên thần là thuần linh, đều mô phỏng một phần nào đó chính Ngôi Con, và các thụ tạo ở vị thế gần gũi nhất với Ngôi Con, được mời gọi tiến lên đến Ngôi Vị của Ngôi Con bằng cách thâm nhập vào trong Ngài, qua trung gian thân xác và nhân tính của Ngài trong mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể, chẳng những làm người, mà còn mang lấy xác phàm, tức là kết hợp nhuần nhuyễn với vật chất; vì ở cấp thấp nhất thì thân xác Đức Giêsu Kitô cũng đươc tạo thành bằng những tế bào, những phân tử, những nguyên tử vốn là vật chất.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

1. Thiên Chúa nhất thể tam vị (tiếp theo)

Thật ra, nói rằng Thiên Chúa là Nhất Thể Tam vị, thì đó chỉ là một cách nói trừu tượng, sau khi đã trải qua hằng trăm năm suy nghĩ, cân nhắc, tính toán, lựa chọn do cộng đoàn dân Chúa tuyên xưng, định rõ nội dung đức tin. Còn nếu chỉ đọc những lời của Đức Giêsu Kitô, chúng ta không thấy những từ ngữ trừu tượng mang dấu vết những phạm trù loài người.

Đức Giêsu Kitô chỉ nhắc đến Thiên Chúa như là Cha của Ngài, và cho thấy tất cả mọi sự nơi Ngài đều do Ngài hoàn toàn đón nhận từ Cha Ngài, nghĩa là có một dạng nào đó. Ngài được sinh ra bởi Cha Ngài, nhưng đồng thời cũng có những ngôn từ, nhưng hành vi của Ngài cho con người loáng thoáng thấy Ngài cũng có những quyền năng, có tính cách của chính một Thiên Chúa. Rồi trước khi đi vào cuộc Khổ Nạn, Ngài cũng hứa hẹn, khi rời khỏi trần gian này để ngự bên hữu Đức Chúa Cha, sẽ phái một Đấng đến để an ủi, dạy dỗ, khai triển, nâng đỡ, hướng dẫn cái cộng đoàn mà Ngài thành lập nên, tức là Giáo hội Kitô giáo, tức là dân Thiên Chúa trong thời Đạo Mới, và Đấng mà Ngài sẽ gửi xuống ấy được gọi là Thánh Linh, cũng có một dạng như là một chủ thể có ngã vị tính.

Sau hàng trăm năm đời sống thực tế suy nghĩ tìm tòi, cân nhắc lựa chọn, một công đồng của Giáo hội đã họp lại và đã quyết định đi đến chỗ công bố một cách rõ ràng minh bạch rằng, trung thành với truyền thống độc thần của Do Thái giáo: Thiên Chúa chỉ có MỘT, nhưng trong Thiên Chúa một bản tính duy nhất đó có một tương quan nhất định giữa ba thực thể gọi là ngã vị.

Đến đây chúng ta bước sang một phạm trù đặc biệt của Kitô giáo, đó là phạm trù có thể tạm dịch là "Tương quan bản thể", tiếng Pháp là "Relation substantielle", hoặc là "Subsistence". Tôi mạn phép các anh chị để đi vào một bình diện hơi trừu tượng. Thường thường người ta quan niệm tương quan chỉ là một tùy thể, như một "accident" (cái phụ/ ngẫu nhiên) có thể có mà cũng có thể không. Ví dụ, tương quan trên dưới: A ở trên B, nhưng nếu A và B ở hai chân trời khác nhau, thì sự trên dưới có thể không có mà A và B vẫn có, hoặc là cái tương quan đó cũng có thể thay đổi, ví dụ A ở trên B nhưng cũng có thể đảo ngược lại được, B ở trên A, bởi vì, khi chưa có tương quan trên - dưới hoặc dưới - trên giữa A và B, hoặc có thể không bao giờ có tương quan trên - dưới, dưới - trên giữa A và B, thì A tự nó vẫn có như là một hữu thể. Chính vì vậy, tương quan chẳng qua chỉ là một phụ thể hay là một tùy thể, có đó nhưng có thể không có, có như vậy nhưng cũng có thể có cách khác.

Trái lại, tương quan liên ngã vị trong Thiên Chúa không phải là một cái gì đến sau các ngã vị, chẳng hạn như, có Ngôi Cha trước một thời gian đã, và trong thời gian đó chỉ có một mình Ngôi Cha mà không có Ngôi Con, sau đó mới có Ngôi Con và Ngôi Con có là có đó, nhưng tương quan Cha-Con chỉ là một cái gì tùy thể; và Ngôi Thứ Ba cũng thế, có thể có Ngôi Thứ Ba nhưng không có tương quan giữa Ba Ngôi. Nếu thế thì tương quan chỉ là tùy thể. Tuy nhiên, thực tế tương quan trong Ba Ngôi thì khác hẳn: Cha chỉ có trong mức độ là Cha, nghĩa là cái có của "tính Cha" chỉ có khi có Con, và "tính Con" chỉ có khi có Cha và có thể nói rằng sự hiện hữu của Cha là chính tương quan Cha - Con, sự hiện hữu của Con chính là tương quan Con - Cha, và sự hiện hữu của Ngôi Ba chính là tương quan nối liền giữa Cha và Con ấy. Như thế không có chuyện Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần có thể có ở dạng tách rời nhau mà không có tương quan, bởi lẽ chính cái tương quan múc cạn sự hiện hữu của Ngôi Vị Cha, Con và Thánh Thần, chính cái tương quan làm nên Cha là Cha, không có tương quan thì không có Cha, chính cái tương quan làm nên Con là Con, không có tương quan thì không có Con, chính cái tương quan yêu đương giữa Hai Ngôi làm nên Ngôi Ba, không có tương quan đó thì không có Ngôi Ba.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Thiên Chúa nhất thể tam vị



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

1. Thiên Chúa nhất thể tam vị

Với ba phạm trù ngã vị, tự do và tình yêu, chúng ta bước sang phần cuối cùng về vấn đề "Ảnh hưởng Kitô giáo trên bình diện tư tưởng", một vấn đề vừa có tính cách thần học, vừa có tính cách triết học, và cũng là trình bày cái tín điều căn bản cao nhất của nội dung Kitô giáo, đó là mầu nhiệm Thiên Chúa Nhất Thể Tam vị, hay nói một cách nôm na là: một Chúa Trời mà có Ba Ngôi.

Khi bàn về vấn đề hữu thể, chúng ta thấy có một vấn đề là tương quan giữa một và nhiều, giữa "l'un", cái đơn và "le multiple", cái đa. Hình như trí tuệ con người luôn bị giằng co giữa cái yêu sách, cái nguyên tắc căn bản cho trí tuệ là sự đồng nhất, với cái đa tạp mà mọi hiện tượng đều phô ra trước mắt con người. Cái khát vọng của trí tuệ là đi đến một cái gì đồng nhất, nhưng đồng thời hiện thực bao giờ cũng thể hiện cái đa tạp.

Trên kia, tôi đã có nói quan niêm cho rằng Thiên Chúa !à thuần linh thì không hẳn đã là đúng, nhưng có thế nói Thiên Chúa thuần hữu, là Đấng có, Đấng HỮU, như Ngài đã tự xưng với Môsê trong Cựu ước. Nhưng bản chất của cái HỮU ấy là gì? Trong toàn bộ Kinh thánh tôi không thấy có chữ "tâm" cũng không thấy có chữ "vật", tôi cũng chẳng thấy có chữ "linh", tôi chỉ thấy trong Tân ước, thánh Gioan định nghĩa Thiên Chúa là TÌNH YÊU. Vậy thì, đúc kết từ hai định nghĩa ấy về Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng CÓ và Thiên Chúa là TÌNH YÊU, chúng ta có thể rút ra kết luận: "CÓ là TÌNH YÊU".

Tình yêu bao hàm tương quan giữa chủ thể yêu và đối tượng được yêu; nhưng đối tượng được yêu đây không phải là một sự vật ù lì, thụ động, mà đối tượng được yêu đây cũng phải là một chủ thể, có thể đón nhận tình yêu trong tự do và có khả năng đáp lại tình yêu ấy cũng trong sự tự do, nghĩa là đối tượng của tình yêu cũng phải là một ngã vị.

Vậy thì, khi mạc khải của Thiên Chúa nói cho biết Thiên Chúa là Tình Yêu, tất nhiên cũng bao hàm rằng Thiên Chúa có ngã vị tính, có tự do tính, vì chỉ có ngã vị với tự do mới có tình yêu. Như thế, trong Thiên Chúa tuy là Một, lại cũng có cả Nhiều, vừa đơn vừa phức, bởi vì tình yêu chỉ có nghĩa khi ít nhất phải có hai người yêu nhau, A yêu B, B yêu A; A đón nhận tình yêu của B và B đón nhận tình yêu của A.

Tôi nghĩ rằng, trong các tư tưởng hữu thần, hầu hết đều ít nhiều có lờ mờ quan niệm Thiên Chúa có ngã vị; còn nếu quan niệm hữu thần mà cho rằng Thiên Chúa không có ngã vị, thì quả thực, đào cho đến cùng sẽ đi đến nhận xét rằng đó là một quan niệm "phiếm thần". Như tôi đã trình bày trên kia nếu đã là phiếm thần, thì có thể nói là "vô thần". Do đó, mạc khải trong Kitô giáo cho ta thấy Thiên Chúa có ngã vị tính là Tam vị, và bản chất của tương quan giữa Tam vị ấy được gọi là Tình Yêu trao ban, đón nhận trong sự tự do.

Trong Do Thái giáo, Thiên Chúa chỉ mới mạc khải cái ngã vị tính của Ngài và chỉ mới có một sự giao ước giữa ngã vị tính của Ngài với ngã vị tính của mỗi một cá nhân cũng như ngã vị tính tinh thần, tiếng Pháp là "Personne morale", của toàn thể dân Chúa. Phải sang thời Tân ước, Đức Giêsu mới mạc khải cho dân Ngài biết rằng, trong Thiên Chúa có tương quan liên ngã vị, và tương quan liên ngã vị đó là Tình Yêu, mà Tình Yêu ấy bao hàm một sự đồng đẳng nào đó giữa những Chủ Thể yêu nhau.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Con đường tình yêu - Yêu đến quên mình

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU

4. Yêu đến quên mình

Trong chúng ta, ai đã nếm hưởng tình yêu thì cũng biết rằng, trong tình yêu có một sự tha hóa nào đó, một sự phóng thể nào đó trong đối tượng mình yêu; nhưng có một điểm, là trong sự tha hóa đó, thứ nhất là có sự tha hóa hai chiều, A tha hóa cho B nhưng mà B cũng tha hóa cho A, và thực ra trong sự tha hóa hai chiều đó, thì A và B đã tìm gặp lại nhau trong một tương quan liên ngã vị tốt đẹp, tình yêu xuôi ngược trao ban, đáp trả hai chiều. Như vậy, nếu muốn nói rằng có một sự tha hóa tôn giáo nào đó cũng được, nhưng là tha hóa hai chiều, mà đã tha hóa hai chiều thì rốt cuộc không còn tha hóa. Ngoài chuyện tha hóa hai chiều, lại còn một chân lý này nữa, như thánh Gioan đã nói, chính Thiên Chúa đã đi bước trước, chính Ngài thương yêu ta trước, mà thực ra có thể nói, chính Ngài đã tự tha hóa để phóng thể bản thân Ngài trong tình yêu con người, và sự sự phóng thể đó được cụ thể hóa bằng cuộc nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa, tức là Ngài đã phóng thể đến độ "Thiên Chúa tính" biến thành gần như bằng KHÔNG, để mang lấy thân phận con người đau thương và tội lỗi, và cụ thể hóa bằng một sự tha hóa khác nữa, là chết trên cây thập tự. Vì vậy, nếu xét về một mặt nào, con người đáp lại tình yêu của Thiên Chúa, cũng như đáp lại bất cứ tình yêu nào, có một sự tha hóa, một sự phóng thể nào đó, thì chẳng qua đó là một cái gì vô cùng tích cực vì nó đáp trả lại, thuận tình đón nhận một sự tha hóa, một sự phóng thể bắt đầu từ người yêu, và người yêu đây chính là Thiên Chúa.

Thành ra trong đức tin Kitô giáo, có một tính cách biện chứng nào đó giữa tha hóa và tự thể hiện chính mình. Con người được tạo dựng bởi tình yêu, cho tình yêu thì chỉ có thể tự thể hiện được mình trong sự tha hóa xây dựng trên động lực của tình yêu. Dùng chữ "tha hóa" xem ra có vẻ tiêu cực, nhưng nếu dùng chữ "hiến thân, se donner, s’aliéner", thực ra là "trở nên khác đi", hay nói khác đi là trao tặng chính bản thân mình. Tức là "hỉ xả", "xả" là bỏ đi, phóng thể đi, nhưng chính trong cái "xả" đó sẽ kéo theo, không phải như một mục đích, không phải như một điều ước muốn, nhưng là kết quả đương nhiên, đó là "niềm vui sướng". Cái chân lý ấy, trong Kitô giáo, được nói lên một cách rõ ràng, được thực hiện một cách cụ thể bằng cái chết của Đức Kitô; mà thực ra, con người nào cũng đã có ghi dấu chân lý đó trong đỉnh cao của tâm hồn. Cũng chính vì vậy, dù tôn giáo nào, lý tưởng nào, cuối cùng cũng tôn kính những con người hy sinh vì một lý tưởng nào đó nghĩa là bỏ mình vì cái mình yêu.

Và cuối cùng, như ta đã nói trên kia, con người là những hữu thể có chủ thể tính, ngã vị tính, tự do tính vì thế mà con người là giá trị cao nhất ở trần gian này. Do đó, trong Kitô giáo có bao hàm một quy tắc căn bản là, xét cho cùng con người chỉ có thể bỏ mình cho cùng một giá trị từ tương đương trở lên, tức là bỏ mình cho các ngã vị khác, trước hết là Ngã vị của Thiên Chúa, sau nữa là ngã vị của tha nhân, của anh em đồng loại, chứ không có bỏ mình cho bất cứ một giá trị trừu tượng, bất cứ một quy tắc trừu tượng nào cả.

Tội lỗi không phải là vi phạm những quy tắc trừu tượng, không phải là đụng đến những giá trị trừu tượng, nhưng chung qui tội lỗi là phạm đến những ngã vị khác, phá hủy mối tương quan tốt đẹp giữa các ngã vị. Ăn trộm, giết người, hiếp dâm, v.v... là xấu, không phải vì tôi phạm đến những quy tắc, nhưng khi phạm đến những quy tắc đó, tôi lại gián tiếp phạm đến chính Ngã vị của Đấng Thiên Chúa đã thiết lập những quy tắc ấy, và phạm đến ngã vị của các tha nhân mà những quy tắc ấy chẳng qua chỉ là những con đường giúp tôi đi đến tiếp cận, trong tình yêu, với các ngã vị ấy mà thôi.

Do đó, trong triết lý đạo đức Kitô giáo, "Philosophie morale", có phân biệt chữ "faute morale", nghĩa là phạm lỗi, tức là phạm quy tắc, với chữ "péché" là tội lỗi, tức là phạm đến chính Thiên Chúa có ngã vị tính, phạm đến tha nhân có ngã vị tính. Vì thế, triết lý đạo đức của Kitô giáo là một triết lý nói rằng, cái "faute morale", cái lỗi phạm quy tắc chỉ là dấu hiệu cho thấy mình sẽ đi đến chỗ cuối cùng phạm đến các ngã vị, là Ngã vị của Thiên Chúa và ngã vị của tha nhân. Xấu xa là ở chỗ đó, chứ không ở chỗ tôi không tuân phục những quy tắc trừu tượng cứng nhắc.

Thánh Phaolô có nói người của Đức Kitô thì vượt lên mọi lề luật, cũng là vậy. Vượt lên mọi lề luật không phải là vi phạm lề luật, nhưng hiểu rằng mình không phải là nô lệ lề luật; lề luật không phải là một cái gì tự nó có giá trị, mà lề luật chẳng qua là phương tiện để bảo tồn, duy trì, phát triển cái tương quan liên ngã vị cho tốt đẹp, đi đến chỗ yêu thương, nghĩa là trân trọng, vui mừng trước sự hiện hữu của các ngã vị khác mình, tức là Ngã vị của Thiên Chúa và ngã vị của tha nhân.

Tóm lại, nền triết lý đạo đức, "Philosophie morale" của Kitô giáo chỉ là một huấn lệnh: “Hãy thương yêu". Các quy phạm đạo đức chẳng qua chỉ là phương tiện để thực hiện huấn lệnh đó mà thôi, mà đối tượng của tình thương yêu, cuối cùng, chỉ là những ngã vị, ngã vị của Thiên Chúa, ngã vị của tha nhân. Thiết tưởng ít có nền triết học nào đào sâu phân tích đến một mức độ cao sâu về ba vấn đề: ngã vị tính, tự do tính và tình yêu, như trong Kitô giáo; bởi vì, nếu Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi sự và là cùng đích của mọi loài, thì Thiên Chúa chính là một hữu thể có ngã vị tính, tự do tính và cuối cùng là Tình yêu.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Con đường tình yêu - Tự do và hỏa ngục (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU

3. Tự do và hỏa ngục (tiếp theo)

Trong các tín điều, tín điều về Hỏa ngục chỉ là hậu quả của tự do tính của con người; vì Hỏa ngục là gì? Hỏa ngục không phải như thường được hình dung cách bình dân là một nơi tù ngục, mà Thiên Chúa là một viên quan tòa khắc nghiệt áp dụng một cách máy móc một bộ luật nào đó, đày ải con người phạm tội nào thì trừng phạt theo điều luật tương ứng. Theo đức tin Kitô giáo, mọi tội lỗi dù nặng đến đâu cũng đều đã được đền tạ một cách dư dật bằng cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa, chẳng những đã tha thứ hoàn toàn cho tất cả mọi tội lỗi, mà còn trùng tu lại cái phẩm chất của con người đã bị tội lỗi phá hư. Tuy nhiên, Thiên Chúa không áp đặt sự tha thứ đó, không áp đặt sự trùng tu đó, song mời gọi con người đón nhận một cách tự do. Và nếu con người từ khước thì Thiên Chúa, khác nào kẻ yêu mà không được yêu, cũng đành gạt nước mắt mà rút lui. Tại sao? Tại vì Thiên Chúa là tình yêu, mà tình yêu chỉ có ý nghĩa khi được đón nhận đáp trả trong sự tự do, chứ nếu áp đặt, - tôi xin phép các anh chị được dùng một hình ảnh hơi thô bạo - thì thành ra là "cưỡng dâm" chứ không còn là một cuộc phối ngẫu trong tình yêu thương nhau nữa.

Hỏa ngục, cuối cùng chỉ là mặt trái của tự do tính và của tình yêu, vì tình yêu đòi hỏi phải có tự do, mà tự do thì bao hàm khả năng có thể từ khước. Hỏa ngục, cuối cùng chẳng qua chỉ là sự từ khước tình yêu của những hữu thể có ngã vị, có tự do tính. Vì vậy, tín điều có Hỏa ngục chính là một tín điều nâng cao con người hơn bất cứ học thuyết triết lý nào. Bởi lẽ tín điều Hỏa ngục nói lên rằng, con người sánh vai ngang hàng với Thiên Chúa, có khả năng quát thẳng vào mặt Thiên Chúa toàn năng, từ ái: "Tôi không cần!" Trong lúc đó, Thiên Chúa vốn là Đấng không bao giờ thay đổi, nghĩa là Thiên Chúa vẫn yêu thương con người như thường. Trong chúng ta, ai đã có kinh nghiệm được một người nào đó yêu nhưng không đáp trả lại tình yêu của họ, mà vẫn bị tình yêu của họ theo đuổi, thì cũng hình dung được lờ mờ cái Hỏa ngục là gì.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Con đường tình yêu - Tự do và hỏa ngục

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU

3. Tự do và hỏa ngục

Đến đây, tôi xin bước sang một vấn đề khác, đó là về tự do tính của con người, những hữu thể có ngã vị tính, chủ thể tính. Cái thiên đàng mà tôi vừa mới trình bày trên đây không phải là kết quả của những quy luật tất định, như một viên kim cương sáng chói hoặc như một đóa hồng tươi đẹp; vì đóa hồng tươi đẹp hoặc viên kim cương sáng chói chì là kết quả của những quy luật tất yếu, vô thức, không có tự do, không tự biết mình là đóa hồng đẹp cũng chẳng biết mình là kim cương sáng chói và cũng không muốn mình trở nên như vậy. Thực ra, đối với đóa hồng hoặc với viên kim cương, thì có cũng như không; việc tốt hay xấu, thơm hay thối, sáng hay mờ, đối với chính đóa hồng và với viên kim cương không có ý thức mà cũng chẳng có công trạng gì, cho nên rốt cuộc cũng không có ý thức là đạt hay không đạt, cũng không có thiên đàng hay là hỏa ngục. Thiên đàng hay hỏa ngục, tốt hay xấu, phúc lạc hay là đau khổ chỉ có ý nghĩa đối với những hữu thể có ngã vị tính, chủ thể tính và tự do tính.

Tự do tính ở đây không phải theo nghĩa là buông tuồng, muốn làm gì thì làm, nhưng con người là những hữu thể chính mình tự tạo lấy mình, gần tương tự như Thiên Chúa, tạo thành mọi vật từ hư không, nghĩa là mình như thế nào không phải là kết quả của một tất định máy móc, của một hệ thống quy luật sản xuất ra như các sự vật, nhưng chính mình tự tạo lấy mình trong sự hiểu biết, trong sự thuận tình, trong sự lựa chọn và trong nỗ lực thực hiện. Cái tự do tính này thì không có một uy lực vật chất nào, không có một quyền lực tinh thần nào có thể và có quyền xâm phạm. Vì vậy, có lẽ nếu muốn định nghĩa con người là gì, thì chính cái định nghĩa con người là một sinh vật có tự do tính, là định nghĩa sát sườn nhất, nói lên được cái yếu tính của con người. Và theo như nhà triết học Descartes đã nói, chính cái tự do tính là hình ảnh của Thiên Chúa nơi con người, cái tự do tính ấy làm cho con người có tính cách tuyệt đối và có thể nói, có tính cách gần như "toàn năng"; những gì tôi lựa chọn là hoàn toàn do tôi tạo nên, nếu tôi muốn thì nó có, nếu tôi không muốn thì nó không có. Những điều tôi lựa chọn có thể nói là sản phẩm từ chính sự sáng tạo của Thiên Chúa, từ không mà tạo nên có, những điều tôi có thể nói là sản phẩm từ chính sự sáng tạo của Thiên Chúa, từ không mà tạo nên có. Thật ra, với cái tự do tính, Thiên Chúa đã đặt vào tay con người một cái gì vô cùng quý giá, nhưng cũng có thể nói, là vô cùng nặng nề, vì con người hoàn toàn chịu trách nhiệm về chính bản thân mình, không thể quy cho bất cứ một cái gì; do đó, cái hình thức tự xưng thú: "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng’’, thoạt nhìn thì là một sự thú nhận khiêm nhường, nhưng kỳ thực đó chính là một sự hào hùng, nhận lấy mình là chủ đời mình, mình phải trả lời với đời mình, mình trách nhiệm với đời mình, mình sáng tạo chính đời mình, chứ không do bất cứ một nguyên nhân nào bên ngoài cả.

Kẻ biết nhận lỗi, bề ngoài xem ra là khiêm nhường, xét về mặt luân lý đạo đức, nhưng trong bản chất, chính là nói lên cái phẩm giá vô cùng cao quý của con người, là hữu thể chứ không phải một sản phẩm như bất cứ gì trong các sự vật, nhưng là chính mình tự tạo chính mình, có thể nói là ngang hàng sánh vai với chính Thiên Chúa. Mà vì sự ngang hàng sánh vai như thế, cho nên tự do tính ấy kéo theo một hậu quả vô cùng nghiêm trọng là có thể đổi đầu vói Thiên Chúa, có thể trả lời "không", có thể từ khước Thiên Chúa và đứng trước quyền tự do đó, thì chính Thiên Chúa, dù là toàn năng, dù là chí ái cũng đành phải "chịu thua mà rút lui".

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Con đường tình yêu - Thiên đàng là sống trong Thiên Chúa Tình Yêu

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU

2. Thiên đàng là sống trong Thiên Chúa Tình Yêu

Với việc quên mình đi như đã nói ở trước, thì đưa đến một kết quả, tôi xin nói đây là kết quả đương nhiên xảy ra, dù không nhắm đến nó như một mục đích, nó cũng vẫn cứ tới, dù không muốn nó tới, nó vẫn tới, đó là quên mình đi thì lại tìm được chính bản thân mình; bởi vì bản thân mình đây không phải là trau chuốt một viên ngọc, nhưng bản thân mình đây là thực hiện chính cái dấu chỉ của Thiên Chúa đã in vào lòng chúng ta, đó là yêu thương. Như một người mẹ thương con, như vợ chồng hoặc bạn hữu thương yêu nhau, thì tự nhiên là có được niềm vui, chứ không phải dùng tình thương yêu như một phươngtiện để đạt được niềm vui, nhưng niềm vui là phần thưởng đến cách tự nhiên, không nhắm tới nó vẫn đến, không muốn nó cũng đến và đó chính là Thiên đàng.

Bởi vì, Thiên đàng là gì? là sống với Thiên Chúa, sống như Thiên Chúa, sống trong Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là tình yêu.

Đó là ý nghĩa sâu xa câu nói của Đức Giêsu: "Ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Lc 9,24); Không phải theo kiểu con buôn đầu tư để được lợi, nhưng đó là quy luật do chính Thiên Chúa thiết lập. Quên mình vì yêu thì đương nhiên là được vui, không phải vui vì tình yêu của kẻ khác, nhưng vui trong việc mình yêu kẻ khác, quên mình đi. Thiên Chúa là tình yêu, mà Thiên đàng là trở về với Thiên Chúa, thì ai yêu mến đến quên hẳn mình đi là sống với Thiên Chúa, sống như Thiên Chúa.

Vì vậy, trong một bài ca phụng vụ của Kitô giáo có nói rằng, ở đâu có tình yêu thương, ở đấy có Thiên Chúa, mà ở đâu có Thiên Chúa thì ở đó có Thiên đàng. Như vậy, cuối mà trong đó những khát vọng cửa con người được đáp ứng, nhưng chính là thế giới của tình yêu, nơi mà con người thể hiện được hình ảnh chính Thiên Chúa một cách vẹn toàn là tình yêu, vì Thiên Chúa chính là tình yêu.

Thiên đàng là thế giới của tình yêu, ai sống tình yêu người đó đã đi vào Thiên đàng ngay từng giây phút một trong cuộc sống trần gian này, về sau sẽ được duy trì trong sự vĩnh cửu, chứ không phải ở một đời sau xa vời nào, trong một thế giới huyễn hoặc nào.

Trái lại, nơi nào không có tình yêu mà chỉ có hận thù, chỉ có ghen ghét, tranh chấp, thì đưa đến hậu quả là sát phạt, hủy diệt, tương tàn, cuối cùng chẳng những khổ tâm mà còn hủy diệt ngay cả sự sống thực tế ở trên mặt đất này. Nói tóm lại, vũ trụ quan, nhân sinh quan của Kitô giáo xây dựng trên hai chữ Tình Yêu, mà về hữu thể học là giá trị tuyệt đối của những ngã vị có chủ thể tính, tự do tính; về luân lý học thì thiết lập tương quan tốt đẹp giữa những ngã vị có chủ thể tính, tự do tính mà tương quan ấy gọi là Tình Yêu.

Và chỉ có giá trị độc nhất ấy mà thôi, còn các giá trị trừu tượng khác, các quy tắc thành hệ thống khác, chẳng qua chỉ là những phương tiện mà nhân vị của con người, tương quan giữa các nhân vị ấy là cao hơn cần phải được bảo vệ. Những giá trị khác, những quy tắc khác đều phải hướng đến phục vụ chính những ngã vị ấy, trau dồi, thiết lập, phát triển chính cái tương quan liên ngã vị ấy. Ta không được phạm phạm đến tương quan liên ngã vị ấy, vì lẽ, cuối cùng phạm đến chính những ngã vị có chủ thể tính, tự do tính, vì những chủ thể này là hình ảnh của Thiên Chúa, tức là hình ảnh của Sự Tuyệt Đối trên cái trần gian tương đối này.

Khổng giáo có nói "nhân linh ư vạn vật", hay quan niệm cho rằng con người khác với con vật là ở chỗ có linh hồn bất tử. Có lẽ đó cũng chỉ là ngôn từ, chỉ là phạm trù để nói lên chân lý ngã vị tính của con người và tương quan liên ngã vị giữa những con người với nhau, được xây dựng trên tương quan liên ngã vị của mỗi một con người nói riêng và của toàn thể nhân loại nói chung, với Ngã vị tuyệt đối, nguồn gốc của mọi ngã vị, cứu cánh của mọi ngã vị chính là Thiên Chúa hữu ngã vị tính, "Dieu personnel".

Thiên đàng được thực hiện khi mà ngã vị tính của con người được tôn trọng và tương quan liên ngã vị giữa con người với nhau, giữa mỗi một con người với toàn thể nhân loại và với Thiên Chúa được thiết lập một cách tốt đẹp, hài hòa.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.