Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 36 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 36 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 35)

11 - Thế nhưng linh hồn vẫn khát khao đi vào tận chỗ thẳm sâu và khôn dò trong phán quyết và đường lối của Thiên Chúa, bởi vì nó khát khao hiểu biết chúng thật sâu xa, khát khao đến chết được. Quả thật, được hiểu biết chúng như thế quả là một niềm vui thú khôn tả, vượt trên mọi cảm nghiệm khác (x. Pl 4,7). Do đó, Vua Đavít nói về cái lý thú phát sinh từ những phán quyết của Thiên Chúa như sau:

Phán quyết của Chúa phù hợp chân lý,
hết thảy đều công minh.
Thật quí báu hơn vàng, hơn vàng y muôn lượng.
Ngọt ngào hơn mật ong, hơn mật ong nguyên chất.
Nên tôi tớ Ngài đây xin ra công học hỏi
Ai giữ những điều này, sẽ được nhiều lợi ích
(Tv 19,10-12).

Vì lẽ đó, linh hồn hết sức khát mong được ngụp lặn vào trong những phán quyết ấy, và được hiểu biết chúng sâu xa hơn. Để được thế, linh hồn rất được an ủi và vui mừng khi trải qua mọi nỗi truân chuyên gian khổ của đời này cũng như tất cả những gì có thể giúp nó đạt tới ước nguyện ấy, dù khó khăn và vất vả đến đâu, dù phải đương đầu với những âu lo như hấp hối và những kinh khủng của cái chết, nó vẫn cam lòng, miễn sao thấy mình được ở sâu hơn nữa trong Thiên Chúa.

12 - Do đó, nơi thẳm sâu dày kín mà ở đây linh hồn khao khát bước vào còn được hiểu rất đúng là chốn chập chùng vô số thử thách gian khổ mà linh hồn khao khát tiến vào, bởi vì đau khổ đã trở nên hết sức ngọt ngào và hữu ích cho linh hồn. Đau khổ là phương tiện giúp linh hồn tiến sâu hơn vào trong sự khôn ngoan đầy hoan lạc của Thiên Chúa. Đau khổ càng tinh tuyền, thì hiểu biết sẽ càng thâm thuý và tinh tuyền hơn, và vì thế, sự vui thỏa lại càng tinh tuyền và cao vượt hơn, vì phát sinh từ sự hiểu biết thâm thuý hơn. Thế nên, không phải bất cứ cách chịu khổ nào cũng có thể khiến linh hồn hài lòng, nên linh hồn mới nói:

Chúng ta hãy vào mãi phía trong sâu hơn nữa.

Nghĩa là: vào tận chỗ phải kinh hồn khiếp vía chết được vì nhìn thấy Thiên Chúa. Thánh Gióp cũng đã từng khát khao chịu đau đớn như thế để được nhìn thấy Thiên Chúa, ông nói:

Ai làm cho điều tôi mong ước được thành tựu?
Điều tôi hy vọng, ước gì Thiên Chúa khấng ban cho!
Ước gì Thiên Chúa nghiền tôi tan nát,
Người cứ vung tay chặt nhỏ tôi ra,
Ít ra tôi còn có được niềm an ủi này
Còn có được niềm vui trong nỗi đau khôn xiết
(G 6,8-10).

13 - Ôi! Ước gì ai nấy hiểu được rằng người ta chỉ có thể đạt đến chỗ thẳm sâu của sự khôn ngoan và sự giàu sang muôn màu muôn vẻ của Thiên Chúa bằng cách bước thật sâu vào trong khổ đau muôn hình vạn trạng, đặt hết niềm an ủi và khát vọng của mình vào đó! Linh hồn nào thực sự khao khát được ơn khôn ngoan của Thiên Chúa thì trước tiên phải khát khao chịu đau khổ để bước vào sự khôn ngoan ấy, bước vào sự thẳm sâu của thập giá! Chính vì lẽ đó, thánh Phaolô đã khuyên bảo tín hữu Êphêsô: Đừng nản chí khi gặp thử thách ; hãy mạnh mẽ và bám rễ sâu trong đức mến để có thể, cùng với tất cả các thánh, hiểu được thế nào là chiều rộng, chiều dài, chiều cao và chiều sâu (của tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại) đồng thời hiểu được thế nào là lòng mến siêu vời khi được biết Đức Kitô, ngõ hầu được tràn đầy mọi sung mãn của Thiên Chúa (x. Ep 3,13;17-19). Để bước vào kho tàng sự khôn ngoan của Thiên Chúa, phải đi qua khung cửa hẹp là thập giá. Thật hiếm những người mong muốn bước vào cửa ấy, nhưng mong được những niềm hoan lạc đến với mình qua cửa ấy thì lại có khối người.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 36 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 36 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 35)

6 - Trên núi là có ý nói đến cái nhận thức từ ban mai, cái nhận thức cốt yếu về Thiên Chúa, tức là sự hiểu biết nơi chính Ngôi Lời Thiên Chúa. Do chiều cao vời vợi của nó, ở đây sự hiểu biết ấy được miêu tả bằng ngọn núi. Ngôn sứ Isaia cũng nói tương tự để kêu gọi mọi người nhận biết Con Thiên Chúa: Hãy đến đây, ta cùng lên núi Chúa (Is 2,3) và trước đó: Trong tương lai, núi Nhà Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao (Is 2,2).

Còn trên đồi là có ý nói đến cái nhận thức ban chiều về Thiên Chúa, tức là sự khôn ngoan của Thiên Chúa nơi các thụ tạo, các công trình và những phán quyết kỳ diệu của Ngài. Sự khôn ngoan này không cao cho bằng sự khôn ngoan từ ban mai, cho nên được miêu tả bằng ngọn đồi. Linh hồn nài xin cho được cả sự khôn ngoan của ban mai và ban chiều, cho nên mới nói: trên núi và trên đồi.

7 - Khi giục giã Đức Lang quân: Ta hãy ra đi mà nhìn ngắm trong vẻ đẹp của Người, trên núi, linh hồn có ý nói: xin Người hãy biến đổi em, làm cho em nên giống vẻ đẹp của Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa, mà như đã nói trên, Đức Khôn Ngoan này chính là Ngôi Lời, Con Thiên Chúa. Khi nói thêm và trên đồi, linh hồn xin Ngài trút cho nó cả vẻ đẹp của sự khôn ngoan kia, sự khôn ngoan có phần thua kém hơn đang hàm ẩn trong các thụ tạo của Ngài và trong những công trình kỳ diệu khác. Sự khôn ngoan này cũng là vẻ đẹp của Con Thiên Chúa mà linh hồn hằng khát khao được soi sáng.

8 - Linh hồn không thể thấy mình nơi vẻ đẹp của Thiên Chúa bao lâu nó chưa được biến đổi thành sự khôn ngoan của Thiên Chúa, chỉ trong sự khôn ngoan ấy linh hồn mới thấy mình chiếm hữu được những sự trên trời cũng như dưới đất. Tân nương khao khát được lên ngọn núi ấy và đỉnh đồi kia khi thốt lên: Ta sẽ đi lên núi mộc dược, đi lên đồi nhũ hương (x. Dc 4,6). Núi mộc dược có ý nói về sự hưởng kiến Thiên Chúa nhãn tiền, còn đồi nhũ hương có ý nói về sự nhận thức qua các thụ tạo, bởi vì mộc dược trên núi bao giờ cũng quý hơn nhũ hương trên đồi.

Nơi vọt ra nước tinh khiết.

9 - Ở nơi vọt ra nước tinh khiết nghĩa là ở nơi nào có tri thức và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Tri thức và sự khôn ngoan này được gọi là nước tinh khiết, vì rất trong suốt và được gạn sạch, trần trụi, không còn vướng những cái phụ thuộc cũng như những hình ảnh, đồng thời vì rất tươi sáng, không gợn một chút mây mờ nào của sự mê muội. Linh hồn luôn canh cánh nỗi khao khát được hiểu các chân lý của Thiên Chúa một cách rõ ràng và tinh ròng. Càng yêu mến, linh hồn càng tha thiết muốn được vào sâu trong các chân lý ấy. Vì nỗi khao khát ấy, linh hồn đã xin cho được nét đặc trưng thứ ba của tình yêu, và nói:

Chúng ta sẽ vào mãi phía trong sâu hơn nữa.

10 - Phía trong sâu của những công trình sáng chói và những phán quyết thăm thẳm của Người. Những công trình và phán quyết nhiều vô vàn vô số và có muôn màu muôn vẻ ấy có thể gọi là cả một rừng sâu. Trong những công trình và phán quyết ấy có đầy dẫy sự khôn ngoan chan chứa, đầy dẫy mầu nhiệm, khiến cho không những có thể nói là rừng sâu mà còn phải nói là rừng sâu thăm thẳm, như vua Đavít đã nói: là non thần núi thánh, là rặng núi ngất cao (Tv 67,16).

Rừng sâu này của khôn ngoan thượng trí và toàn tri nơi Thiên Chúa quá sâu và rộng đến nỗi linh hồn chẳng thể nào biết liệu mình sẽ vào được đến đâu, nó quá mênh mông và những phong phú của nó không sao hiểu thấu, như thánh Phaolô đã thốt lên: Ôi sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Những phán quyết của Ngài, ai dò cho thấu và đường lối của Ngài, ai theo dõi được! (Rm 11,33).

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 36 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 36 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 35)

+ Minh giải

3 - Sự hoàn toàn hiệp nhất trong tình yêu giữa linh hồn và Thiên Chúa giờ đã được thực hiện, linh hồn mong ước đem toàn tâm toàn lực thực hiện những đòi hỏi triệt để của tình yêu. Vì thế, nơi ca khúc này, chính linh hồn đã ngỏ lời cùng Đức Lang quân, nài xin Ngài ba điều dành riêng cho tình yêu. Thứ nhất, linh hồn mong nhận được sự hân hoan êm đềm của tình yêu, và xin điều ấy qua câu: "Hỡi Đấng Chí Ái ta hãy cùng hân hoan". Thứ hai, linh hồn mong ước được nên giống Đấng Chí Ái, và xin điều ấy qua câu: "Hãy ra đi mà nhìn ngắm trong vẻ đẹp của Người". Thứ ba, linh hồn mong ước dò xét và biết được những điều, những bí mật về chính Đấng Chí Ái, và xin điều ấy qua câu: "Chúng ta hãy vào mãi phía trong sâu hơn nữa".

Trước tiên là câu:

Hỡi Đấng Chí Ái, ta hãy cùng hân hoan.

4 - Nghĩa là: Chúng ta hãy cùng hân hoan trong cảnh thông chia sự êm ái dịu dàng của tình yêu, không những là sự êm ái dịu dàng chúng ta đã có được khi đôi bên tâm đồng ý hợp nên một mà, hơn nữa, còn là sự êm ái dịu dàng tuôn trào khi ta thực sự thể hiện tình yêu cách hữu hiệu, bên trong thì qua những hành vi trìu mến của lòng muốn, bên ngoài thì qua những công việc nhằm phụng sự Đấng Chí Ái. Bởi vì như chúng tôi đã nói, hễ đã để cho tình yêu bám vào đâu rồi thì người ta sẽ luôn luôn mong ước, nếm hưởng những nỗi vui mừng và sự êm ái dịu dàng của nó ở đó, nghĩa là sẽ thể hiện tình yêu cả bên trong lẫn bên ngoài. Người ta thực hiện tất cả những điều ấy là để làm cho mình nên giống Đấng Chí Ái hơn. Do đó, linh hồn nói tiếp:

Ta hãy ra đi mà nhìn ngắm trong vẻ đẹp của Người.

5 - Nghĩa là: Người với em hãy làm sao để có thể nhờ việc thể hiện tình yêu nói trên mà đạt đến chỗ nhìn thấy chúng ta trong vẻ đẹp của Người, trong cuộc sống đời đời. Nói cách khác, làm sao để em được biến đổi trong vẻ đẹp của Người, để khi đã được giống Người trong vẻ đẹp, cả hai chúng ta sẽ thấy nhau nơi vẻ đẹp của Người, có được chính vẻ đẹp của Người; đến nỗi, khi ngắm nhìn nhau, mỗi bên đều thấy nơi bên kia vẻ đẹp của mình, bởi thật ra, cả hai bên vẫn chỉ là một vẻ đẹp duy nhất, vẻ đẹp của Người, vì em đã bị hút mất vào trong vẻ đẹp của Người. Do đó, em sẽ thấy Người nơi vẻ đẹp của Người và Người cũng thấy em nơi vẻ đẹp của Người. Rồi em sẽ thấy chính em nơi Người trong vẻ đẹp của Người và Người sẽ thấy chính Người nơi em trong vẻ đẹp của Người. Và như thế, em được nên giống Người trong vẻ đẹp của Người và Người cũng nên giống em nơi vẻ đẹp của Người. Và, vẻ đẹp của em hãy là vẻ đẹp của Người, và ngược lại, vẻ đẹp của Người cũng hãy là vẻ đẹp của em. Như thế, em sẽ là chính Người nơi vẻ đẹp của Người và Người sẽ là chính em cũng nơi vẻ đẹp của Người; bởi vì chính vẻ đẹp của Người sẽ là vẻ đẹp của em. Và như thế, chúng ta sẽ nhìn thấy nhau trong vẻ đẹp của Người.

Đó chính là ơn làm nghĩa tử của các con cái Thiên Chúa, là những người thực sự nói được với Thiên Chúa điều mà chính Ngôi Con đã nói với Ngôi Cha Hằng Hữu qua Tin Mừng theo thánh Gioan: Mọi sự của con đều là của Cha và mọi sự của Cha đều là của con (Ga 17,10). Ngài nói vậy theo yếu tính, vì Ngài là Người Con đồng bản tính với Chúa Cha, còn chúng ta có thể nói như vậy là do được dự phần vào bản tính ấy và được làm nghĩa tử. Ngài nói điều đó không phải chỉ cho riêng Ngài là Đầu, nhưng còn thay cho tất cả nhiệm thể của Ngài là Hội thánh. Hội thánh này trong ngày khải hoàn, được nhìn thấy Thiên Chúa mặt giáp mặt, sẽ được thông dự vào chính vẻ đẹp của Đức Lang quân. Chính vì thế, ở đây linh hồn xin cho chính mình và Đức Lang quân được ra đi mà nhìn ngắm trong vẻ đẹp của Ngài.

Trên núi và trên đồi.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 36

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 36
(Phiên bản A: chương 35)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Có một điều kỳ lạ là những kẻ yêu nhau thường rất thích ở bên nhau riêng một cõi, không muốn bất cứ loài thụ tạo nào khác lai vãng. Bởi, nếu có kẻ khác hiện diện thì dù họ có ở bên nhau và có thể chuyện vãn với nhau như không có kẻ ấy, cả khi kẻ ấy chẳng hỏi han gì đến họ, chỉ nguyên sự hiện diện của kẻ ấy cũng đủ khiến họ mất hứng thú. Sở dĩ thế là vì tình yêu là chuyện riêng tư dành cho hai người, nên họ chỉ muốn trao đổi chuyện vãn riêng với nhau thôi.

Như thế, một khi linh hồn được đặt vào đỉnh hoàn thiện và được hưởng tự do tâm linh nơi Thiên Chúa, không còn bị quấy phá chút nào vì những sự đáng gớm ghiếc và trái nghịch của nhục cảm, linh hồn sẽ không còn phải bận tâm hiểu biết điều gì khác, không còn phải lo chu toàn một việc luyện tập nào khác ngoài việc buông mình hân hoan vui hưởng tình yêu thắm thiết với Đức Lang quân. Tựa như thánh Tôbia trong quyển sách mang tên ông, sau khi đã trải qua bao gian truân của nghèo khó và thử thách, ông đã được Thiên Chúa cho sáng mắt lại, và ông đã trải qua những tháng ngày còn lại trong hoan lạc (x. Tb 14,4). Linh hồn chúng ta đang bàn đến cũng như thế, do thấy mình được bao ơn lành như thế, nó chan hòa vui mừng hoan lạc. Đó cũng là điều ngôn sứ Isaia cho ta hiểu về linh hồn mà chúng ta đang bàn đây, tức linh hồn sau khi thực hành các công việc của sự hoàn thiện, đã đạt đến được đỉnh hoàn thiện.

2 - Isaia nói với linh hồn ấy về sự hoàn thiện này như sau:

....Ảnh sáng của ngươi sẽ chiếu tỏa trong bóng tối.
Và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.
Giữa đồng khô cỏ cháy,
Ngài sẽ cho ngươi được no lòng.
Xương cốt ngươi, Ngài sẽ làm cho cứng cáp.
Ngươi sẽ như thửa vườn được tưới đẫm.
Như mạch suối không cạn nước bao giờ
Nhờ ngươi, người ta sẽ tái thiết những tàn tích cổ xưa
Ngươi sẽ dựng lại những nền móng của các thế hệ trước.
Thiên hạ sẽ gọi ngươi là người sửa lại những lổ hổng,
Là kẻ tu bổ phố phường cho người ta cư ngụ.
Nếu ngươi giữ chân không vi phạm ngày Sabát
Và không tìm lợi lộc trong ngày thánh của Ta
Nếu ngươi gọi ngày Sabát là 'mềm vui ’
Và ngày thánh của Chúa là 'vinh hiển’
Nếu ngươi tôn trọng ngày đó,
Mà tránh đi đường, tránh kiếm lợi, tránh nói huyên thiên.
Thì bấy giờ, ngươi sẽ được Chúa làm niềm vui.
Ta sẽ cho ngươi phóng ngựa trên các vùng đất cao trong xứ,
Sẽ cho ngươi hưởng gia nghiệp của Giacóp, tổ tiên ngươi
(Is 58,10-14).

Đó là những lời của Isaia, theo đó, gia nghiệp của nhà Giacóp chính là Thiên Chúa. Cũng theo đó, như chúng tôi đã nói, linh hồn ta đang bàn đây cũng chẳng quan tâm đến điều gì ngoài việc vui hưởng những hoan lạc của thứ lương thực nó đang được hưởng. Nó chỉ còn một nỗi khát khao là được hoàn toàn vui hưởng Thiên Chúa nơi cuộc sống vĩnh cửu.

Do đó, nơi ca khúc tiếp theo và nơi những ca khúc kế tiếp sau đó, linh hồn tha thiết nài xin Đức Lang quân ban cho nó thứ lương thực diễm phúc ấy, tức là được xem thấy Thiên Chúa tỏ tường. Cho nên nó mới nói:

Hỡi Đấng Chí Ái, ta hãy cùng hân hoan,
Hãy ra đi mà nhìn ngắm trong vẻ đẹp của Người
Trên núi và trên đồi,
Nơi vọt ra nước tinh khiết;
Chúng ta sẽ vào mãi phía trong sâu hơn nữa.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 35 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 35 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 34)

6 - Như thế là có ý nói rằng: Không những Đức Lang quân hướng dẫn linh hồn trong sự cô tịch của nó, mà hơn nữa, chính Ngài và chỉ một mình Ngài hoạt động nơi linh hồn không nhờ tới bất cứ trung gian nào khác. Bởi lẽ sự hiệp nhất giữa linh hồn và Thiên Chúa trong cuộc linh phối có đặc điểm như sau: Chính Thiên Chúa hoạt động nơi linh hồn và Ngài tự mình thông truyền chính mình cho linh hồn chứ không cần nhờ đến các thiên thần hay một khả năng tự nhiên nào. Sở dĩ thế là vì các giác quan bên ngoài lẫn bên trong, cũng như tất cả các loài thụ tạo, ngay cả đến chính linh hồn đều góp phần rất ít ỏi vào việc nhận lãnh những ân huệ siêu nhiên lớn lao mà Thiên Chúa đang thực hiện trong tình trạng này. Các ân huệ này không thuộc lãnh vực các khả năng và hoạt động tự nhiên hoặc sự chuyên cần của linh hồn. Chỉ một mình Thiên Chúa đơn độc thực hiện điều ấy nơi linh hồn. Ngài làm thế là bởi vì Ngài đã gặp thấy linh hồn đang đơn độc, như đã nói trên. Ngài không muốn linh hồn bè bạn với ai cả ngoài chính Ngài, không muốn nó mong chờ gì nơi ai khác hoặc cậy dựa vào ai khác ngoài chỉ riêng một mình Ngài.

Vả lại, khi linh hồn đã bỏ lại mọi sự, không còn cần trung gian và đã vượt lên trên tất cả để đến với Thiên Chúa thì cũng thật đích đáng để chính Thiên Chúa đích thân làm kẻ dẫn đường và làm phương tiện đưa nó đến với Ngài. Và một khi linh hồn đã vươn lên đến một sự cô tịch vượt lên trên tất cả mọi sự, thì mọi sự chẳng còn thêm được gì cho nó và cũng chẳng có gì khác ngoài chính Đức Lang quân Ngôi Lời có thể đưa nó lên cao hơn. Vì đắm say nó, cho nên Ngài muốn chỉ một mình Ngài thực hiện cho nó những ân huệ nói trên. Thế nên, Ngài nói tiếp:

Cả kẻ nó yêu cũng vì yêu mà bị thương trong cô tịch.

7 - Nghĩa là Ngài bị mang thương tích vì yêu mến bạn trăm năm của Ngài. Thật vậy, không những Đức Lang quân rất quí yêu sự cô tịch của linh hồn, Ngài còn bị thương nhiều hơn nữa vì tình yêu của nó, khi thấy nó chẳng những khát khao sống đơn độc, xa lánh tất cả mọi sự, mà còn bị thương vì yêu mến Ngài. Vì thế, Ngài không muốn bỏ mặc nó một mình. Trái lại, sau khi đã bị thương vì nó, do thấy nó chịu lẻ loi cô quạnh để thuộc riêng về Ngài và do thấy nó chẳng hài lòng về bất cứ thứ gì khác, Đức Lang quân đã một thân một mình dẫn dắt nó đến với chính Ngài, đã lôi kéo nó, đã thu hút cho nó biến tan vào trong Ngài. Hẳn Ngài đã không thực hiện cho nó điều ấy nếu Ngài đã không bắt gặp nó đang sống trong cảnh cô tịch tâm linh.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Pierre Teilhard de Chardin (1881-1955)

 


PIERRE TEILHARD DE CHARDIN (1881-1955) 
VÀ CẢNH VỰC THẦN LINH

Người Kitô hữu thường ra công gắng sức trong việc liên hệ công việc của họ với đức tin, làm sao để dung hòa công việc với đức tin cũng như tìm ra ý nghĩa của công việc trong đời sống đức tin. Khi đối diện với những khó khăn, chúng ta cần một linh đạo cho công việc, điều này sẽ giúp chúng ta hòa nhập một cách trọn vẹn công việc lao động hằng ngày với toàn bộ đời sống con người.

Là nhà cổ sinh vật học, là tu sĩ dòng Tên và đồng thời cũng là một người nhìn xa trông rộng, Pierre Teilhard de Chardin (1881-1955) đã viết về những vấn đề này một cách rất sâu sắc. Các tác phẩm của ngài, đặc biệt là tác phẩm kinh điển Cảnh vực Thần linh (Le divin milieu), đã cung cấp cho chúng ta một thứ khuôn mẫu Kitô hữu. Những tư tưởng lớn lao vốn đã có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển một linh đạo cho công việc toàn nhập của ngài được xem như phát xuất từ những cảm nghiệm tôn giáo sâu sắc ngài đã trải qua.

Teilhard sinh năm 1881. Vào năm lên 5 hay 6 tuổi, Teilhard đã trải qua một biến cố hãi hùng đẩy ngài tới gần kề cái chết, khi ngài vô ý để mái tóc của mình gần lửa và mái tóc bắt lửa, bùng cháy. Trong cuộc sống, ngài luôn thao thức tìm kiếm những giá trị trường tồn, và điều này đã dẫn ngài đến với dòng Tên và chịu chức linh mục vào năm 1911. Trong suốt cuộc đời, ngài luôn làm việc cật lực để xây dựng vương quốc vĩnh cửu. Trong thời gian diễn ra Thế chiến I, khi ngài tham gia tải thương trên chiến trường, một loạt những cảm nghiệm thần bí rất mãnh liệt đã đem lại cho Teilhard một ý nghĩa mang chiều kích vũ trụ về sự duy nhất của toàn thế giới, điều này thấm nhuần trong các tác phẩm sau đó của ngài.

Sau chiến tranh, ngài trở lại nghiên cứu và hoàn tất đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành địa chất học vào năm 1922. Với văn bằng tiến sĩ địa chất học này, ngài bước vào sự nghiệp khoa học, bao gồm: giảng dạy tại Học viện Công giáo Paris từ năm 1920 đến năm 1923, khảo sát thực tế tại Trung Quốc từ năm 1925-1946, và làm việc với tư cách cố vấn nghiên cứu tại Hoa Kì từ năm 1951 cho đến khi ngài qua đời vào Lễ Phục Sinh năm 1955. Ngoài rất nhiều bài viết mang tính khoa học đã được xuất bản, Teilhard còn biên soạn nhiều tác phẩm khác trình bày rõ ràng quan điểm tôn giáo của ngài về một vũ trụ toàn nhập và đang tiến hóa.

Thật không may là một số công trình của ngài, như Hiện tượng Con người, được đánh giá là một kiệt tác; Cảnh vực Thần linh, một tác phẩm kinh điển, và các bài viết khác của ngài chỉ được xuất bản sau khi ngài qua đời. Những khó khăn, hạn chế, thậm chí đau đớn ngài đã gặp phải trong việc bảo vệ và xuất bản tư tưởng của mình đã giúp ngài có cơ hội chắt lọc, làm chín muồi tư tưởng của ngài. Các tác phẩm của Teilhard sau này đều nổi tiếng, có ảnh hưởng mạnh mẽ trên các thần học gia, khoa học gia, các tác giả và cả các nhà hoạt động chính trị.

Một thần học gia và cũng là chuyên viên thần học nổi tiếng của Công đồng chung Vatican II, Henri de Lubac, trong một bài tham luận có tựa đề “Hai phận sự Hiến chế Gaudium et Spes đặt ra cho các thần học gia”, đã dành một đoạn khá dài để nhắc đến tên tuổi và tư tưởng của Teilhard de Chardin, và khẳng định “có lẽ chẳng táo bạo chút nào khi nghĩ rằng cha đã có một ảnh hưởng, ít là gián tiếp và bàng bạc, trên một số định hướng của Công đồng”. [...]. “Trong vấn đề trầm trọng chúng ta quan tâm, Pierre Teilhard đã có công đặt ra với những từ ngữ có tính thôi thúc câu hỏi về ý nghĩa của thế giới này, và qua đó, về ý nghĩa của hành động con người” (trong Théologie d'aujourd'hui et de demain, Ed. Du Cerf, 1967, trg. 57).

- Trích trong bài viết của Lm. Giuse Cao Viết Tuấn, CM

*****

Cuốn phim này giúp tôi hiểu hơn về cuộc đời và tư tưởng của cha Teilhard de Chardin.


Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 35 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 35 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 34)

3 - Con chim cườm mái ấy tượng trưng cho linh hồn đã từng sống trong cô tịch trước khi gặp được Đấng Chí Ái ở bậc hiệp nhất này. Bởi lẽ một linh hồn đã khao khát Thiên Chúa thì không tìm ủi an, cũng không tìm kết bè kết bạn với bất cứ thứ gì. Trái lại, bao lâu chưa gặp được Ngài, tất cả mọi thứ chỉ càng đẩy linh hồn vào cô tịch hơn.

Và trong cô tịch nó làm tổ.

4 - Như chúng tôi đã nói về con chim cườm mái nhỏ, sự cô tịch mà trước kia linh hồn từng sống chính là lòng khát mong vì Đức Lang quân mà chịu thiếu thốn tất cả mọi sự, mọi cái tốt lành của trần gian. Nhờ cố gắng trở nên hoàn thiện và được hoàn toàn cô tịch, linh hồn đạt đến chỗ hiệp nhất cùng Ngôi Lời, đồng thời cũng đạt được thư thái và nghỉ ngơi toàn diện, điều mà ở đây được diễn tả bằng hình ảnh tổ chim. Như thế là Đức Lang quân muốn nói: Nơi sự cô tịch Tân nương sống trước kia, nàng đã thao luyện trong gian khổ và âu lo vì lúc ấy nàng chưa hoàn hảo, còn giờ đây, nàng được nghỉ ngơi thư thái vì đã đạt được sự cô tịch hoàn toàn nơi Thiên Chúa. Bởi thế vua Đavít cũng đã dùng hình ảnh ấy để diễn tả thực tại tâm linh:

Ngay chim sẻ còn tìm được mái ấm
Cánh nhạn kia cũng làm tổ đặt con (Tv 84,4).

Nghĩa là khi linh hồn đã được ở trong Thiên Chúa, các mê thích và quan năng của linh hồn được vui thoả.

Và trong cô tịch kẻ nó yêu hướng dẫn nó.

5 - Đức Lang quân có ý nói: nơi cô tịch ấy, nơi mà linh hồn có được mọi điều kiện để ở một mình với Thiên Chúa, Thiên Chúa hướng dẫn, lay động và nâng linh hồn lên tới những thực tại thần linh. Nghĩa là, Ngài nâng trí hiểu linh hồn lên tới những hiểu biết thần linh bởi vì giờ đây trí hiểu đã chí thú một bề, đã lột bỏ hẳn những thứ hiểu biết đối nghịch và xa lạ. Ngài lay động cho lòng muốn của nó tự nguyện tự giác hướng đến tình yêu Thiên Chúa vì hiện giờ lòng muốn của nó đã thuần thục một dạ một lòng, thoát khỏi những nghiêng chiều quyến luyến khác. Ngài lấp đầy dạ nhớ của linh hồn bằng những nhận thức thần linh vì giờ đây dạ nhớ này cũng đã trút bỏ hết những thứ tưởng tượng và những sáng tạo vẽ vời khác. Quả thật, một khi linh hồn giải tỏa các quan năng của nó, giúp chúng trút bỏ hết tất cả những gì là thấp kém cũng như chẳng màng chiếm hữu những điều cao xa, nghĩa là, để chúng ở trong cô tịch hoàn toàn không vướng thứ gì hết, thì lập tức Thiên Chúa sẽ dùng các quan năng ấy cho thực tại vô hình và thần linh. Chính Thiên Chúa sẽ hướng dẫn linh hồn trong sự cô tịch ấy, như lời thánh Phaolô nói về những người hoàn thiện: Họ được Thần Khí Thiên Chúa tác động (x. Rm 8,14). Như thế khác nào nói: 
Trong cô tịch kẻ nó yêu hướng dẫn nó

Một mình với một mình.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 35




NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 35
(Phiên bản A: chương 34)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Đức Lang quân tiếp tục lên tiếng, cho thấy Ngài hài lòng về những điều tốt lành Tân nương đạt được nhờ đã sống trong niềm cô tịch mà trước kia nàng từng mong ước. Niềm cô tịch ấy chính là một sự bình an vững bền và một ơn lành không thể lay chuyển. Thật vậy, một khi đã vững vàng ổn định trong sự yên hàn nơi tình yêu duy nhất trong thanh vắng của Đức Lang quân, - như tình trạng linh hồn ta đang bàn ở đây - linh hồn sẽ gắn bó yêu thương thật êm đềm với Thiên Chúa và Thiên Chúa gắn bó với linh hồn, đến nỗi linh hồn không còn cần đến những trung gian hay những vị thầy nào khác dẫn đường cho nó đến với Thiên Chúa, bởi vì chính Thiên Chúa là kẻ dẫn dắt và là ánh sáng của linh hồn. Lúc ấy Thiên Chúa chu toàn nơi linh hồn điều Ngài hứa qua miệng ngôn sứ Hôsê: Ta sẽ dẫn nó vào cô tịch và ở đó Ta sẽ nói với lòng nó (Hs 2,14).

Qua lời ấy, Thiên Chúa cho ta hiểu rằng chính là trong cô tịch mà Ngài tự thông truyền và hiệp nhất với linh hồn. Bởi lẽ, nói với lòng một người là làm cho lòng người ấy được thỏa mãn; mà có gì thỏa mãn được cõi lòng ngoại trừ chính Thiên Chúa! Vậy, Đức Lang quân nói:

Nó đã sống trong cô tịch,
Và trong cô tịch nó làm tổ,
Và trong cô tịch kẻ nó yêu hướng dẫn nó
Một mình với một mình,
Cả kẻ nó yêu cũng vì yêu mà bị thương trong cô tịch.

+ Minh giải

2 - Nơi ca khúc này, Đức Lang quân thực hiện hai điều:

Thứ nhất, Ngài ca ngợi sự cô tịch trước đây linh hồn hằng mong ước sống, bảo rằng cô tịch là phương thế giúp linh hồn gặp được và vui hưởng Đấng Chí Ái, một mình với một mình, xa hẳn mọi vất vả phiền muộn đã từng hành hạ nó. Do đã ước muốn náu mình nơi cô tịch xa lánh mọi thích thú, mọi sự ủi an và nương tựa nơi các loài thụ tạo để trở thành bạn hữu và khắng khít với Đấng Chí Ái của mình, linh hồn đáng gặp được sự cô tịch bình an nơi Đấng Chí Ái, nơi Ngài linh hồn được nghỉ ngơi một mình, xa hẳn mọi phiền toái nói trên.

Thứ hai, Đức Lang quân nói rằng bởi lẽ linh hồn đã khát khao xa hẳn mọi loài thụ tạo, để sống một mình với Đấng nó mến yêu, nên chính Ngài cũng say đắm nó vì sự cô tịch ấy của nó. Ngài đã chăm sóc và đưa tay ôm lấy nó, nuôi dưỡng nó nơi Ngài bằng mọi điều tốt lành, và hướng dẫn tinh thần nó vươn tới những điều cao siêu của Thiên Chúa. Không những Ngài cho biết Ngài là kẻ dẫn đường cho linh hồn mà còn cho biết Ngài làm điều ấy một mình, không nhờ đến các trung gian khác chẳng hạn như các thiên thần, loài người, hình thể, dáng dấp, bởi vì nhờ sự cô tịch của nó, linh hồn đã có được sự tự do tinh thần đích thực, không lệ thuộc bất cứ trung gian nào trong những trung gian nêu trên. Vậy Đức Lang quân nói:

Nó đã sống trong cô tịch.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 34 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 34 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 33)

4 - Ở đây, Đức Lang quân ví linh hồn là con chim bồ câu của tàu ông Nôê. Ngài dùng hình ảnh con chim bồ câu bay đi bay về nơi con tàu để diễn tả những gì đang xảy đến cho linh hồn trong tình trạng này. Xưa con chim bồ câu cứ bay đi rồi lại bay về tàu vì chẳng tìm được chỗ dừng chân nghỉ ngơi giữa lũ lụt mênh mông, mãi đến khi quay trở về trên mỏ ngậm một nhánh ôliu, dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa đã xót thương cho chấm dứt trận lụt đang dìm ngập mặt địa cầu (x. St 8,8-11). Giờ đây linh hồn cũng phát xuất từ con tàu quyền năng của Thiên Chúa khi Ngài tạo dựng nó, và trôi giạt giữa lũ lụt của tội lỗi và khiếm khuyết, chẳng tìm được chỗ cho những mê thích của nó được nghỉ ngơi. Những ngọn gió khắc khoải yêu thương khiến nó cứ bay đi bay về nơi con tàu cõi lòng của Đấng Tạo Thành nó, thế nhưng Ngài vẫn không chịu nhận nó vào. Mãi đến khi Thiên Chúa đã khiến trận lụt của những bất toàn trên mặt đất linh hồn chấm dứt, linh hồn mới quay về cắp theo nhành ôliu tiến vào chốn nghỉ ngơi sâu lắng diễm phúc và yên ổn nơi cõi lòng Đấng Chí Ái. Nhành ôliu ấy nói lên rằng Thiên Chúa đã chiến thắng tất cả bằng sự nhân từ và xót thương của Ngài. Linh hồn quay về không những với sự chiến thắng mọi địch thù mà còn cả với phần thưởng dành cho các công trạng đã lập được, vì nhành ôliu tượng trưng cho cả hai điều ấy. Như thế, giờ đây con chim bồ câu linh hồn bé bỏng ấy, không chỉ quay về chiếc tàu của Thiên Chúa với vẻ trắng trong tinh tuyền như lúc xuất phát, khi Ngài tạo dựng ra nó, mà thêm vào đó, nó còn mang về nhành ôliu tượng trưng phần thưởng và sự bình an đạt được nhờ đã chiến thắng chính mình.

Con chim cườm mái nhỏ
Đã tìm được kẻ làm bạn nó hằng ao ước
Trên những bờ sông mướt xanh.

5 - Ở đây Đức Lang quân còn gọi linh hồn là con chim cườm mái nhỏ bởi vì khi tìm kiếm Đức Lang quân, linh hồn đã xử sự như con chim cườm mái khi không gặp được con trống mà nó khao khát. Để hiểu điều này nên biết rằng, theo như người ta nói, con chim mái này bao lâu chưa tìm được con trống của nó thì cả cành cây xanh nó cũng không chịu đậu, cả nước trong nước mát nó cũng không chịu uống, nó không chịu nghỉ dưới bóng râm, không chịu kết bạn kết bè với con chim nào khác, chỉ khi nào tìm được con trống của nó, nó mới chịu vui hưởng những điều nói trên.

Linh hồn nói đây có được tất cả các đặc tính ấy. Mà cần phải có các đặc tính ấy nó mới có thể hiệp nhất và chung phần mọi sự với Đức Lang quân, Con Thiên Chúa. Tình yêu và sự quan tâm của linh hồn cũng cao vời tới mức nó không chịu đặt đôi chân mê thích lên bất cứ cành xanh hoan lạc nào, không chịu uống nước trong của bất cứ danh dự vinh quang nào ở trần gian, không chịu nếm nước mát của bất cứ sự thoải mái và an ủi chóng qua nào, không chịu dừng lại dưới bóng mát của bất cứ ân huệ hay sự chở che nào của các loài thụ tạo, không chịu nghỉ ngơi một chút nào nơi bất cứ thứ gì, cũng không kết bầu kết bạn với bất cứ nghiêng chiều nào nhưng chỉ rên rỉ trong nỗi cô tịch, lánh xa hết mọi sự cho đến khi nào tìm được Đức Lang quân mới an dạ thỏa lòng.

6 - Trước khi đạt tới tình trạng cao vời này, linh hồn đã tha thiết nhớ thương tìm Đấng Chí Ái, không chịu thỏa lòng nơi bất cứ thứ gì nếu không có Ngài. Thế nên ở đây chính Đức Lang quân hát mừng cho linh hồn đã được chấm dứt những vất vả và được thỏa mãn những khát vọng của nó. Ngài nói: "Con chim cườm mái nhỏ đã tìm được kẻ làm bạn nó hằng ao ước trên những bờ sông mướt xanh". Tức là có ý nói rằng: Tân nương linh hồn đã đậu trên cành cây xanh mượt, đầy hoan lạc vui vẻ nơi Đấng Chí Ái của mình. Giờ đây nàng được uống dòng nước trong lành là ơn chiêm niệm và khôn ngoan rất đỗi cao vời của Thiên Chúa, được uống dòng nước mát thảnh thơi và được phần thưởng nơi Thiên Chúa. Nàng đặt mình dưới bóng mát chở che hỗ trợ của Ngài, điều mà nàng xiết bao mong ước, nơi đây nàng được ủi an, no đầy và thanh thản một cách êm ái nhiệm mầu, đúng như sách Diễm Ca diễn tả khi nói về Tân nương được vui thỏa nơi Tân lang: Được ngồi dưới bóng chàng, tôi thỏa lòng mơ ước, và hoa trái của chàng ngọt lịm trong miệng tôi (Dc 2,3).

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 34

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 34
(Phiên bản A: chương 33)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Những tặng phẩm thân tình Đức Lang quân thực hiện cho linh hồn nơi tình trạng này thật khôn xiết. Những lời ca ngợi và tán dương tình yêu thần linh liên tục trao qua đổi lại giữa đôi bên thật khôn tả. Nàng thì miệt mài ngợi ca và cảm tạ Đức Lang quân, còn Đức Lang quân thì đáp trả bằng cách tôn dương, ngợi ca và cảm tạ lại nàng, đúng như điều chúng ta thấy trong sách Diễm Ca, khi chàng khen: “Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá! Đôi mắt nàng là đôi mắt bồ câu. ” Thì nàng liền đáp lại: “Người yêu hỡi, anh đẹp, anh tuấn tú làm sao!” (Dc 1,15-16)

Từng trang sách Diễm Ca chất đầy những lời cảm tạ và tán dương lẫn nhau như thế. Do đó, nơi ca khúc trước, Tân nương linh hồn đã khiêm tốn hạ mình, gọi mình là đen đúa, xấu xí, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp và duyên dáng của Đức Lang quân, vì Ngài đã ban cho nàng duyên dáng, đẹp xinh khi đưa mắt nhìn nàng. Và Đức Lang quân, vốn thường nâng người khiêm hạ lên, đã đưa mắt nhìn nàng, đáp ứng lời cầu xin của nàng. Nơi ca khúc tiếp theo, Đức Lang quân hết lời ca ngợi Tân nương, không còn gọi nàng là một người đen đúa như nàng từng tự nhận, mà gọi nàng là con chim bồ câu trắng, ca ngợi nơi nàng những đặc tính tốt đẹp của loài bồ câu và chim cườm mái. Ngài lên tiếng như sau:

Con chim bồ câu trắng
Đã cắp nhánh lá quay về tàu
Con chim cườm mái nhỏ
Đã tìm được kẻ làm bạn nó hằng ao ước
Trên những bờ sông mướt xanh.

+ Minh giải

2 - Nơi ca khúc này, đến lượt Tân lang lên tiếng. Chàng ca mừng sự tinh tuyền nàng có được khi ở trong tình trạng này, ca mừng những giàu sang và phần thưởng nàng đạt được sau khi đã sẵn sàng và lao nhọc để đến được với Chàng. Chàng cũng ca mừng niềm hạnh phúc của nàng: được gặp và hiệp nhất với Lang quân của mình. Chàng cho thấy những nỗi khát khao hoan lạc, thảnh thơi nàng có được nơi Chàng giờ đây đã được đổ đầy. Những lao nhọc vất vả của đời này và của thời gian qua giờ đây đã kết thúc. Đức Lang quân lên tiếng:

Con chim bồ câu trắng.

3 - Chàng gọi linh hồn là chim bồ câu trắng nhỏ vì nó đã trở nên trắng trẻo tinh tuyền nhờ ân sủng nó nhận được nơi Thiên Chúa. Trong sách Diễm Ca, Chàng cũng gọi nàng là bồ câu (x. Dc 2,14) để diễn tả tính cách đơn sơ hiền lành cũng như sự chiêm niệm yêu thương của nàng. Chim bồ câu chẳng những đơn sơ hiền lành, không cay độc mà lại còn có đôi mắt sáng ngời và trìu mến. Vì thế, để diễn tả đặc tính chiêm niệm trìu mến nơi Tân nương khi nàng nhìn ngắm Thiên Chúa, ở đây Đức Lang quân cũng bảo rằng nàng có đôi mắt bồ câu. Theo chàng, con chim ấy:

Đã cắp nhánh lá quay về tàu.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)