Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 35 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 35 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 34)

6 - Như thế là có ý nói rằng: Không những Đức Lang quân hướng dẫn linh hồn trong sự cô tịch của nó, mà hơn nữa, chính Ngài và chỉ một mình Ngài hoạt động nơi linh hồn không nhờ tới bất cứ trung gian nào khác. Bởi lẽ sự hiệp nhất giữa linh hồn và Thiên Chúa trong cuộc linh phối có đặc điểm như sau: Chính Thiên Chúa hoạt động nơi linh hồn và Ngài tự mình thông truyền chính mình cho linh hồn chứ không cần nhờ đến các thiên thần hay một khả năng tự nhiên nào. Sở dĩ thế là vì các giác quan bên ngoài lẫn bên trong, cũng như tất cả các loài thụ tạo, ngay cả đến chính linh hồn đều góp phần rất ít ỏi vào việc nhận lãnh những ân huệ siêu nhiên lớn lao mà Thiên Chúa đang thực hiện trong tình trạng này. Các ân huệ này không thuộc lãnh vực các khả năng và hoạt động tự nhiên hoặc sự chuyên cần của linh hồn. Chỉ một mình Thiên Chúa đơn độc thực hiện điều ấy nơi linh hồn. Ngài làm thế là bởi vì Ngài đã gặp thấy linh hồn đang đơn độc, như đã nói trên. Ngài không muốn linh hồn bè bạn với ai cả ngoài chính Ngài, không muốn nó mong chờ gì nơi ai khác hoặc cậy dựa vào ai khác ngoài chỉ riêng một mình Ngài.

Vả lại, khi linh hồn đã bỏ lại mọi sự, không còn cần trung gian và đã vượt lên trên tất cả để đến với Thiên Chúa thì cũng thật đích đáng để chính Thiên Chúa đích thân làm kẻ dẫn đường và làm phương tiện đưa nó đến với Ngài. Và một khi linh hồn đã vươn lên đến một sự cô tịch vượt lên trên tất cả mọi sự, thì mọi sự chẳng còn thêm được gì cho nó và cũng chẳng có gì khác ngoài chính Đức Lang quân Ngôi Lời có thể đưa nó lên cao hơn. Vì đắm say nó, cho nên Ngài muốn chỉ một mình Ngài thực hiện cho nó những ân huệ nói trên. Thế nên, Ngài nói tiếp:

Cả kẻ nó yêu cũng vì yêu mà bị thương trong cô tịch.

7 - Nghĩa là Ngài bị mang thương tích vì yêu mến bạn trăm năm của Ngài. Thật vậy, không những Đức Lang quân rất quí yêu sự cô tịch của linh hồn, Ngài còn bị thương nhiều hơn nữa vì tình yêu của nó, khi thấy nó chẳng những khát khao sống đơn độc, xa lánh tất cả mọi sự, mà còn bị thương vì yêu mến Ngài. Vì thế, Ngài không muốn bỏ mặc nó một mình. Trái lại, sau khi đã bị thương vì nó, do thấy nó chịu lẻ loi cô quạnh để thuộc riêng về Ngài và do thấy nó chẳng hài lòng về bất cứ thứ gì khác, Đức Lang quân đã một thân một mình dẫn dắt nó đến với chính Ngài, đã lôi kéo nó, đã thu hút cho nó biến tan vào trong Ngài. Hẳn Ngài đã không thực hiện cho nó điều ấy nếu Ngài đã không bắt gặp nó đang sống trong cảnh cô tịch tâm linh.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Pierre Teilhard de Chardin (1881-1955)

 


PIERRE TEILHARD DE CHARDIN (1881-1955) 
VÀ CẢNH VỰC THẦN LINH

Người Kitô hữu thường ra công gắng sức trong việc liên hệ công việc của họ với đức tin, làm sao để dung hòa công việc với đức tin cũng như tìm ra ý nghĩa của công việc trong đời sống đức tin. Khi đối diện với những khó khăn, chúng ta cần một linh đạo cho công việc, điều này sẽ giúp chúng ta hòa nhập một cách trọn vẹn công việc lao động hằng ngày với toàn bộ đời sống con người.

Là nhà cổ sinh vật học, là tu sĩ dòng Tên và đồng thời cũng là một người nhìn xa trông rộng, Pierre Teilhard de Chardin (1881-1955) đã viết về những vấn đề này một cách rất sâu sắc. Các tác phẩm của ngài, đặc biệt là tác phẩm kinh điển Cảnh vực Thần linh (Le divin milieu), đã cung cấp cho chúng ta một thứ khuôn mẫu Kitô hữu. Những tư tưởng lớn lao vốn đã có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển một linh đạo cho công việc toàn nhập của ngài được xem như phát xuất từ những cảm nghiệm tôn giáo sâu sắc ngài đã trải qua.

Teilhard sinh năm 1881. Vào năm lên 5 hay 6 tuổi, Teilhard đã trải qua một biến cố hãi hùng đẩy ngài tới gần kề cái chết, khi ngài vô ý để mái tóc của mình gần lửa và mái tóc bắt lửa, bùng cháy. Trong cuộc sống, ngài luôn thao thức tìm kiếm những giá trị trường tồn, và điều này đã dẫn ngài đến với dòng Tên và chịu chức linh mục vào năm 1911. Trong suốt cuộc đời, ngài luôn làm việc cật lực để xây dựng vương quốc vĩnh cửu. Trong thời gian diễn ra Thế chiến I, khi ngài tham gia tải thương trên chiến trường, một loạt những cảm nghiệm thần bí rất mãnh liệt đã đem lại cho Teilhard một ý nghĩa mang chiều kích vũ trụ về sự duy nhất của toàn thế giới, điều này thấm nhuần trong các tác phẩm sau đó của ngài.

Sau chiến tranh, ngài trở lại nghiên cứu và hoàn tất đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành địa chất học vào năm 1922. Với văn bằng tiến sĩ địa chất học này, ngài bước vào sự nghiệp khoa học, bao gồm: giảng dạy tại Học viện Công giáo Paris từ năm 1920 đến năm 1923, khảo sát thực tế tại Trung Quốc từ năm 1925-1946, và làm việc với tư cách cố vấn nghiên cứu tại Hoa Kì từ năm 1951 cho đến khi ngài qua đời vào Lễ Phục Sinh năm 1955. Ngoài rất nhiều bài viết mang tính khoa học đã được xuất bản, Teilhard còn biên soạn nhiều tác phẩm khác trình bày rõ ràng quan điểm tôn giáo của ngài về một vũ trụ toàn nhập và đang tiến hóa.

Thật không may là một số công trình của ngài, như Hiện tượng Con người, được đánh giá là một kiệt tác; Cảnh vực Thần linh, một tác phẩm kinh điển, và các bài viết khác của ngài chỉ được xuất bản sau khi ngài qua đời. Những khó khăn, hạn chế, thậm chí đau đớn ngài đã gặp phải trong việc bảo vệ và xuất bản tư tưởng của mình đã giúp ngài có cơ hội chắt lọc, làm chín muồi tư tưởng của ngài. Các tác phẩm của Teilhard sau này đều nổi tiếng, có ảnh hưởng mạnh mẽ trên các thần học gia, khoa học gia, các tác giả và cả các nhà hoạt động chính trị.

Một thần học gia và cũng là chuyên viên thần học nổi tiếng của Công đồng chung Vatican II, Henri de Lubac, trong một bài tham luận có tựa đề “Hai phận sự Hiến chế Gaudium et Spes đặt ra cho các thần học gia”, đã dành một đoạn khá dài để nhắc đến tên tuổi và tư tưởng của Teilhard de Chardin, và khẳng định “có lẽ chẳng táo bạo chút nào khi nghĩ rằng cha đã có một ảnh hưởng, ít là gián tiếp và bàng bạc, trên một số định hướng của Công đồng”. [...]. “Trong vấn đề trầm trọng chúng ta quan tâm, Pierre Teilhard đã có công đặt ra với những từ ngữ có tính thôi thúc câu hỏi về ý nghĩa của thế giới này, và qua đó, về ý nghĩa của hành động con người” (trong Théologie d'aujourd'hui et de demain, Ed. Du Cerf, 1967, trg. 57).

- Trích trong bài viết của Lm. Giuse Cao Viết Tuấn, CM

*****

Cuốn phim này giúp tôi hiểu hơn về cuộc đời và tư tưởng của cha Teilhard de Chardin.


Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 35 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 35 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 34)

3 - Con chim cườm mái ấy tượng trưng cho linh hồn đã từng sống trong cô tịch trước khi gặp được Đấng Chí Ái ở bậc hiệp nhất này. Bởi lẽ một linh hồn đã khao khát Thiên Chúa thì không tìm ủi an, cũng không tìm kết bè kết bạn với bất cứ thứ gì. Trái lại, bao lâu chưa gặp được Ngài, tất cả mọi thứ chỉ càng đẩy linh hồn vào cô tịch hơn.

Và trong cô tịch nó làm tổ.

4 - Như chúng tôi đã nói về con chim cườm mái nhỏ, sự cô tịch mà trước kia linh hồn từng sống chính là lòng khát mong vì Đức Lang quân mà chịu thiếu thốn tất cả mọi sự, mọi cái tốt lành của trần gian. Nhờ cố gắng trở nên hoàn thiện và được hoàn toàn cô tịch, linh hồn đạt đến chỗ hiệp nhất cùng Ngôi Lời, đồng thời cũng đạt được thư thái và nghỉ ngơi toàn diện, điều mà ở đây được diễn tả bằng hình ảnh tổ chim. Như thế là Đức Lang quân muốn nói: Nơi sự cô tịch Tân nương sống trước kia, nàng đã thao luyện trong gian khổ và âu lo vì lúc ấy nàng chưa hoàn hảo, còn giờ đây, nàng được nghỉ ngơi thư thái vì đã đạt được sự cô tịch hoàn toàn nơi Thiên Chúa. Bởi thế vua Đavít cũng đã dùng hình ảnh ấy để diễn tả thực tại tâm linh:

Ngay chim sẻ còn tìm được mái ấm
Cánh nhạn kia cũng làm tổ đặt con (Tv 84,4).

Nghĩa là khi linh hồn đã được ở trong Thiên Chúa, các mê thích và quan năng của linh hồn được vui thoả.

Và trong cô tịch kẻ nó yêu hướng dẫn nó.

5 - Đức Lang quân có ý nói: nơi cô tịch ấy, nơi mà linh hồn có được mọi điều kiện để ở một mình với Thiên Chúa, Thiên Chúa hướng dẫn, lay động và nâng linh hồn lên tới những thực tại thần linh. Nghĩa là, Ngài nâng trí hiểu linh hồn lên tới những hiểu biết thần linh bởi vì giờ đây trí hiểu đã chí thú một bề, đã lột bỏ hẳn những thứ hiểu biết đối nghịch và xa lạ. Ngài lay động cho lòng muốn của nó tự nguyện tự giác hướng đến tình yêu Thiên Chúa vì hiện giờ lòng muốn của nó đã thuần thục một dạ một lòng, thoát khỏi những nghiêng chiều quyến luyến khác. Ngài lấp đầy dạ nhớ của linh hồn bằng những nhận thức thần linh vì giờ đây dạ nhớ này cũng đã trút bỏ hết những thứ tưởng tượng và những sáng tạo vẽ vời khác. Quả thật, một khi linh hồn giải tỏa các quan năng của nó, giúp chúng trút bỏ hết tất cả những gì là thấp kém cũng như chẳng màng chiếm hữu những điều cao xa, nghĩa là, để chúng ở trong cô tịch hoàn toàn không vướng thứ gì hết, thì lập tức Thiên Chúa sẽ dùng các quan năng ấy cho thực tại vô hình và thần linh. Chính Thiên Chúa sẽ hướng dẫn linh hồn trong sự cô tịch ấy, như lời thánh Phaolô nói về những người hoàn thiện: Họ được Thần Khí Thiên Chúa tác động (x. Rm 8,14). Như thế khác nào nói: 
Trong cô tịch kẻ nó yêu hướng dẫn nó

Một mình với một mình.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 35




NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 35
(Phiên bản A: chương 34)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Đức Lang quân tiếp tục lên tiếng, cho thấy Ngài hài lòng về những điều tốt lành Tân nương đạt được nhờ đã sống trong niềm cô tịch mà trước kia nàng từng mong ước. Niềm cô tịch ấy chính là một sự bình an vững bền và một ơn lành không thể lay chuyển. Thật vậy, một khi đã vững vàng ổn định trong sự yên hàn nơi tình yêu duy nhất trong thanh vắng của Đức Lang quân, - như tình trạng linh hồn ta đang bàn ở đây - linh hồn sẽ gắn bó yêu thương thật êm đềm với Thiên Chúa và Thiên Chúa gắn bó với linh hồn, đến nỗi linh hồn không còn cần đến những trung gian hay những vị thầy nào khác dẫn đường cho nó đến với Thiên Chúa, bởi vì chính Thiên Chúa là kẻ dẫn dắt và là ánh sáng của linh hồn. Lúc ấy Thiên Chúa chu toàn nơi linh hồn điều Ngài hứa qua miệng ngôn sứ Hôsê: Ta sẽ dẫn nó vào cô tịch và ở đó Ta sẽ nói với lòng nó (Hs 2,14).

Qua lời ấy, Thiên Chúa cho ta hiểu rằng chính là trong cô tịch mà Ngài tự thông truyền và hiệp nhất với linh hồn. Bởi lẽ, nói với lòng một người là làm cho lòng người ấy được thỏa mãn; mà có gì thỏa mãn được cõi lòng ngoại trừ chính Thiên Chúa! Vậy, Đức Lang quân nói:

Nó đã sống trong cô tịch,
Và trong cô tịch nó làm tổ,
Và trong cô tịch kẻ nó yêu hướng dẫn nó
Một mình với một mình,
Cả kẻ nó yêu cũng vì yêu mà bị thương trong cô tịch.

+ Minh giải

2 - Nơi ca khúc này, Đức Lang quân thực hiện hai điều:

Thứ nhất, Ngài ca ngợi sự cô tịch trước đây linh hồn hằng mong ước sống, bảo rằng cô tịch là phương thế giúp linh hồn gặp được và vui hưởng Đấng Chí Ái, một mình với một mình, xa hẳn mọi vất vả phiền muộn đã từng hành hạ nó. Do đã ước muốn náu mình nơi cô tịch xa lánh mọi thích thú, mọi sự ủi an và nương tựa nơi các loài thụ tạo để trở thành bạn hữu và khắng khít với Đấng Chí Ái của mình, linh hồn đáng gặp được sự cô tịch bình an nơi Đấng Chí Ái, nơi Ngài linh hồn được nghỉ ngơi một mình, xa hẳn mọi phiền toái nói trên.

Thứ hai, Đức Lang quân nói rằng bởi lẽ linh hồn đã khát khao xa hẳn mọi loài thụ tạo, để sống một mình với Đấng nó mến yêu, nên chính Ngài cũng say đắm nó vì sự cô tịch ấy của nó. Ngài đã chăm sóc và đưa tay ôm lấy nó, nuôi dưỡng nó nơi Ngài bằng mọi điều tốt lành, và hướng dẫn tinh thần nó vươn tới những điều cao siêu của Thiên Chúa. Không những Ngài cho biết Ngài là kẻ dẫn đường cho linh hồn mà còn cho biết Ngài làm điều ấy một mình, không nhờ đến các trung gian khác chẳng hạn như các thiên thần, loài người, hình thể, dáng dấp, bởi vì nhờ sự cô tịch của nó, linh hồn đã có được sự tự do tinh thần đích thực, không lệ thuộc bất cứ trung gian nào trong những trung gian nêu trên. Vậy Đức Lang quân nói:

Nó đã sống trong cô tịch.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 34 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 34 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 33)

4 - Ở đây, Đức Lang quân ví linh hồn là con chim bồ câu của tàu ông Nôê. Ngài dùng hình ảnh con chim bồ câu bay đi bay về nơi con tàu để diễn tả những gì đang xảy đến cho linh hồn trong tình trạng này. Xưa con chim bồ câu cứ bay đi rồi lại bay về tàu vì chẳng tìm được chỗ dừng chân nghỉ ngơi giữa lũ lụt mênh mông, mãi đến khi quay trở về trên mỏ ngậm một nhánh ôliu, dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa đã xót thương cho chấm dứt trận lụt đang dìm ngập mặt địa cầu (x. St 8,8-11). Giờ đây linh hồn cũng phát xuất từ con tàu quyền năng của Thiên Chúa khi Ngài tạo dựng nó, và trôi giạt giữa lũ lụt của tội lỗi và khiếm khuyết, chẳng tìm được chỗ cho những mê thích của nó được nghỉ ngơi. Những ngọn gió khắc khoải yêu thương khiến nó cứ bay đi bay về nơi con tàu cõi lòng của Đấng Tạo Thành nó, thế nhưng Ngài vẫn không chịu nhận nó vào. Mãi đến khi Thiên Chúa đã khiến trận lụt của những bất toàn trên mặt đất linh hồn chấm dứt, linh hồn mới quay về cắp theo nhành ôliu tiến vào chốn nghỉ ngơi sâu lắng diễm phúc và yên ổn nơi cõi lòng Đấng Chí Ái. Nhành ôliu ấy nói lên rằng Thiên Chúa đã chiến thắng tất cả bằng sự nhân từ và xót thương của Ngài. Linh hồn quay về không những với sự chiến thắng mọi địch thù mà còn cả với phần thưởng dành cho các công trạng đã lập được, vì nhành ôliu tượng trưng cho cả hai điều ấy. Như thế, giờ đây con chim bồ câu linh hồn bé bỏng ấy, không chỉ quay về chiếc tàu của Thiên Chúa với vẻ trắng trong tinh tuyền như lúc xuất phát, khi Ngài tạo dựng ra nó, mà thêm vào đó, nó còn mang về nhành ôliu tượng trưng phần thưởng và sự bình an đạt được nhờ đã chiến thắng chính mình.

Con chim cườm mái nhỏ
Đã tìm được kẻ làm bạn nó hằng ao ước
Trên những bờ sông mướt xanh.

5 - Ở đây Đức Lang quân còn gọi linh hồn là con chim cườm mái nhỏ bởi vì khi tìm kiếm Đức Lang quân, linh hồn đã xử sự như con chim cườm mái khi không gặp được con trống mà nó khao khát. Để hiểu điều này nên biết rằng, theo như người ta nói, con chim mái này bao lâu chưa tìm được con trống của nó thì cả cành cây xanh nó cũng không chịu đậu, cả nước trong nước mát nó cũng không chịu uống, nó không chịu nghỉ dưới bóng râm, không chịu kết bạn kết bè với con chim nào khác, chỉ khi nào tìm được con trống của nó, nó mới chịu vui hưởng những điều nói trên.

Linh hồn nói đây có được tất cả các đặc tính ấy. Mà cần phải có các đặc tính ấy nó mới có thể hiệp nhất và chung phần mọi sự với Đức Lang quân, Con Thiên Chúa. Tình yêu và sự quan tâm của linh hồn cũng cao vời tới mức nó không chịu đặt đôi chân mê thích lên bất cứ cành xanh hoan lạc nào, không chịu uống nước trong của bất cứ danh dự vinh quang nào ở trần gian, không chịu nếm nước mát của bất cứ sự thoải mái và an ủi chóng qua nào, không chịu dừng lại dưới bóng mát của bất cứ ân huệ hay sự chở che nào của các loài thụ tạo, không chịu nghỉ ngơi một chút nào nơi bất cứ thứ gì, cũng không kết bầu kết bạn với bất cứ nghiêng chiều nào nhưng chỉ rên rỉ trong nỗi cô tịch, lánh xa hết mọi sự cho đến khi nào tìm được Đức Lang quân mới an dạ thỏa lòng.

6 - Trước khi đạt tới tình trạng cao vời này, linh hồn đã tha thiết nhớ thương tìm Đấng Chí Ái, không chịu thỏa lòng nơi bất cứ thứ gì nếu không có Ngài. Thế nên ở đây chính Đức Lang quân hát mừng cho linh hồn đã được chấm dứt những vất vả và được thỏa mãn những khát vọng của nó. Ngài nói: "Con chim cườm mái nhỏ đã tìm được kẻ làm bạn nó hằng ao ước trên những bờ sông mướt xanh". Tức là có ý nói rằng: Tân nương linh hồn đã đậu trên cành cây xanh mượt, đầy hoan lạc vui vẻ nơi Đấng Chí Ái của mình. Giờ đây nàng được uống dòng nước trong lành là ơn chiêm niệm và khôn ngoan rất đỗi cao vời của Thiên Chúa, được uống dòng nước mát thảnh thơi và được phần thưởng nơi Thiên Chúa. Nàng đặt mình dưới bóng mát chở che hỗ trợ của Ngài, điều mà nàng xiết bao mong ước, nơi đây nàng được ủi an, no đầy và thanh thản một cách êm ái nhiệm mầu, đúng như sách Diễm Ca diễn tả khi nói về Tân nương được vui thỏa nơi Tân lang: Được ngồi dưới bóng chàng, tôi thỏa lòng mơ ước, và hoa trái của chàng ngọt lịm trong miệng tôi (Dc 2,3).

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 34

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 34
(Phiên bản A: chương 33)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Những tặng phẩm thân tình Đức Lang quân thực hiện cho linh hồn nơi tình trạng này thật khôn xiết. Những lời ca ngợi và tán dương tình yêu thần linh liên tục trao qua đổi lại giữa đôi bên thật khôn tả. Nàng thì miệt mài ngợi ca và cảm tạ Đức Lang quân, còn Đức Lang quân thì đáp trả bằng cách tôn dương, ngợi ca và cảm tạ lại nàng, đúng như điều chúng ta thấy trong sách Diễm Ca, khi chàng khen: “Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá! Đôi mắt nàng là đôi mắt bồ câu. ” Thì nàng liền đáp lại: “Người yêu hỡi, anh đẹp, anh tuấn tú làm sao!” (Dc 1,15-16)

Từng trang sách Diễm Ca chất đầy những lời cảm tạ và tán dương lẫn nhau như thế. Do đó, nơi ca khúc trước, Tân nương linh hồn đã khiêm tốn hạ mình, gọi mình là đen đúa, xấu xí, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp và duyên dáng của Đức Lang quân, vì Ngài đã ban cho nàng duyên dáng, đẹp xinh khi đưa mắt nhìn nàng. Và Đức Lang quân, vốn thường nâng người khiêm hạ lên, đã đưa mắt nhìn nàng, đáp ứng lời cầu xin của nàng. Nơi ca khúc tiếp theo, Đức Lang quân hết lời ca ngợi Tân nương, không còn gọi nàng là một người đen đúa như nàng từng tự nhận, mà gọi nàng là con chim bồ câu trắng, ca ngợi nơi nàng những đặc tính tốt đẹp của loài bồ câu và chim cườm mái. Ngài lên tiếng như sau:

Con chim bồ câu trắng
Đã cắp nhánh lá quay về tàu
Con chim cườm mái nhỏ
Đã tìm được kẻ làm bạn nó hằng ao ước
Trên những bờ sông mướt xanh.

+ Minh giải

2 - Nơi ca khúc này, đến lượt Tân lang lên tiếng. Chàng ca mừng sự tinh tuyền nàng có được khi ở trong tình trạng này, ca mừng những giàu sang và phần thưởng nàng đạt được sau khi đã sẵn sàng và lao nhọc để đến được với Chàng. Chàng cũng ca mừng niềm hạnh phúc của nàng: được gặp và hiệp nhất với Lang quân của mình. Chàng cho thấy những nỗi khát khao hoan lạc, thảnh thơi nàng có được nơi Chàng giờ đây đã được đổ đầy. Những lao nhọc vất vả của đời này và của thời gian qua giờ đây đã kết thúc. Đức Lang quân lên tiếng:

Con chim bồ câu trắng.

3 - Chàng gọi linh hồn là chim bồ câu trắng nhỏ vì nó đã trở nên trắng trẻo tinh tuyền nhờ ân sủng nó nhận được nơi Thiên Chúa. Trong sách Diễm Ca, Chàng cũng gọi nàng là bồ câu (x. Dc 2,14) để diễn tả tính cách đơn sơ hiền lành cũng như sự chiêm niệm yêu thương của nàng. Chim bồ câu chẳng những đơn sơ hiền lành, không cay độc mà lại còn có đôi mắt sáng ngời và trìu mến. Vì thế, để diễn tả đặc tính chiêm niệm trìu mến nơi Tân nương khi nàng nhìn ngắm Thiên Chúa, ở đây Đức Lang quân cũng bảo rằng nàng có đôi mắt bồ câu. Theo chàng, con chim ấy:

Đã cắp nhánh lá quay về tàu.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 33 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 33 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 24)

7 - Điều linh hồn nói lên nơi hai câu thơ trước đó giúp ta hiểu được câu Tin mừng của Thánh Gioan: Thiên Chúa ban cho ta hết ơn này đến ơn nọ (Ga 1,16). Quả thật, khi Thiên Chúa nhìn thấy linh hồn duyên dáng đẹp mắt Ngài, Ngài rất xúc động nên lại càng cho nó được thêm ân sủng duyên dáng và Ngài hân hoan ở lại với nó. Ông Môsê biết rõ điều đó nên khi nài xin Thiên Chúa ban thêm ân nghĩa, ông đã kể ra cho Ngài những ân nghĩa Ngài đã ban cho ông trong quá khứ: Ngài nói rằng: Ta biết đích danh ngươi và hơn nữa, ngươi đã được ơn nghĩa với Ta. Vậy, nếu quả thật con đã được ơn nghĩa với Ngài, xin tỏ cho con thấy nhan Ngài để con biết Ngài và được ơn nghĩa trước mắt Ngài (x. Xh 33,12-13).

Như chúng tôi đã nói, nhờ nét duyên dáng tức ân sủng đã nhận được, linh hồn trở nên cao cả, danh giá và xinh đẹp trước mặt Thiên Chúa. Nhờ thế, nó được Ngài yêu khôn tả. Trước khi linh hồn ở trong ân sủng, Thiên Chúa yêu nó là yêu vì Ngài mà thôi, còn giờ đây, linh hồn đã ở trong ân sủng Ngài, Thiên Chúa yêu nó không chỉ vì Ngài mà còn cả vì nó nữa. Vì thế, khi đã say đắm vẻ đẹp của linh hồn, dù nhờ vào hiệu quả và công việc của nó hay không, Thiên Chúa vẫn luôn thông truyền thêm tình yêu và ân sủng cho linh hồn và một khi đã làm cho linh hồn thêm danh giá và cao cả, Ngài lại càng thêm mê mệt, đắm say nó.

Chính Thiên Chúa đã bày tỏ điều này khi nói với bạn Ngài là Giacóp qua miệng ngôn sứ Isaia: Từ khi ngươi trở nên danh giá và vinh hiển trước mắt Ta, Ta đã yêu mến ngươi (x. Is 43,4). Khác nào Ngài nói: Đôi mắt Ta nhìn ngươi đã làm cho ngươi nên duyên dáng trong ơn nghĩa, nên vinh hiển và xứng đáng được danh dự trước mặt Ta thì ngươi lại càng đáng được thêm duyên dáng nhờ những ân huệ Ta ban. Có nghĩa là Thiên Chúa càng yêu thì càng ban thêm ân huệ.

Trong sách Diễm Ca, Tân nương giúp ta hiểu điều đó khi nàng ngỏ lời với những linh hồn khác như sau:

Này các thiếu nữ Giêrusalem,
Da tôi đen nhưng nhan sắc mặn mà
Vì thế Đức Quân Vương đã yêu tôi
Và đưa tôi vào tận loan phòng trong ấy (x. Dc 1,4-5).

Nghĩa là: Hỡi những linh hồn không biết không hay gì về những ân huệ này, xin chớ ngạc nhiên vì Vua trên trời đã thương ban cho tôi những ân huệ cao vời dường ấy đến nỗi đã đưa tôi vào tận nội cung của tình yêu Ngài. Vì mặc dù da tôi sạm nắng, nhưng sau khi đã nhìn tôi một lần đầu, Ngài vẫn cứ đưa mắt nhìn tôi mãi, và rồi vẫn chưa lấy làm thỏa mãn, cho tới khi cưới được tôi và đưa tôi vào tận loan phòng yêu đương của Ngài.

8 - Ai có thể nói được, khi Thiên Chúa đã thỏa lòng về một linh hồn, Ngài sẽ nâng cao nó lên tới đâu? Không thể nói được mà cũng không thể tưởng tượng nổi. Bởi vì cuối cùng, Ngài đã thực hiện điều đó với tất cả quyền năng Thiên Chúa của Ngài, nhằm tỏ cho thấy Ngài là ai. Chúng ta chỉ có thể hiểu đôi chút về điều ấy qua các hành động của Ngài: thường thì những ai đã có nhiều Ngài lại càng ban cho thêm nhiều. Linh hồn nào càng có sẵn nhiều ân huệ càng được Ngài tăng thêm ơn gấp bội, như lời được ám chỉ nơi Tin Mừng: Ai đã có thì được cho thêm và sẽ có dư thừa, còn ai không có, thì ngay cả cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất (x. Mt 13,12). Vì lẽ đó đồng tiền của tên đầy tớ không được ơn nghĩa với ông chủ bị lấy đi để trao cho người đầy tớ vốn được ơn nghĩa với ông chủ, dù người này đã có nhiều tiền hơn hết thảy đầy tớ khác cộng lại.

Như thế, Thiên Chúa dồn hết những của cải tốt lành hơn và quan trọng hơn trong nhà Ngài - tức là của Hội thánh đang chiến đấu lẫn Hội thánh vinh hiển - cho người bạn thân thiết nhất của Ngài. Ngài sắp xếp để người này được thêm danh giá và vinh hiển, tựa như nguồn sáng rực rỡ hút vào mình bao nhiêu ánh sáng nhỏ bé khác. Thiên Chúa cũng muốn ta hiểu điều đó qua câu trích sách Isaia trên kia. Ngài đã phán với Giacóp theo nghĩa tâm linh như sau:

Vì chính Ta là Chúa, Thiên Chúa ngươi thờ,
Là Đức Thánh của Israel, Đấng Cứu Độ ngươi
Ta đã thí Ai Cập làm giá chuộc ngươi về
Nộp Cút và Xơva để đổi lấy ngươi
Ta đã thí bao người đổi lấy ngươi
Nộp bao dân nước thế mạng ngươi (Is 43,3-4).

9 - Vậy, lạy Thiên Chúa của con, Chúa vẫn thường nhìn và quí chuộng linh hồn nào mà Ngài đã một lần nhìn đến, bởi lẽ khi nhìn linh hồn, Chúa khoác cho nó phẩm giá và trang phục diễm lệ khiến Ngài càng quí chuộng và mê mệt linh hồn ấy thêm. Bởi thế, sau khi Chúa đã nhìn linh hồn rồi thì không những nó đáng cho Chúa nhìn thêm một lần nữa mà còn rất nhiều lần. Vì theo lời Thánh Thần phán trong sách Esther là: Đây là cách Đức Vua đãi ngộ người Đức Vua muốn tuyên dương (Et 6,11).

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 33 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 33 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 24)

+ Minh giải

3 - Được Đức Lang quân say đắm và quí chuộng, Tân nương thêm lòng can đảm và trân trọng chính mình. Nàng thấy mình được say đắm và quý chuộng như thế chính là nhờ Đức Lang quân, còn tự bản thân, nàng rất kém giá trị và chẳng đáng quí chuộng gì. Thế nhưng giờ đây, nhờ những ơn lành Ngài ban cho đó, nàng đã được trở nên quí giá. Thế nên nàng dạn dĩ thưa với Đức Lang quân xin đừng nỡ xem nhẹ hoặc khinh thường nàng nữa. Trước kia nàng đáng bị xem thường chính là do tội lỗi và sự hèn hạ của bản tính khiến nàng thành xấu xí. Còn giờ đây, sau khi Đức Lang quân ngắm nhìn nàng lần đầu và trang điểm cho nàng bằng ân sủng Ngài và khoác cho nàng vẻ đẹp của Ngài thì hẳn giờ đây Ngài có thể ngắm nhìn nàng lần thứ hai và còn thêm nhiều lần nữa, và như thế lại càng làm tăng thêm duyên dáng và vẻ đẹp cho nàng. Nếu trước kia, khi nàng chưa xứng đáng, chưa có được nét duyên dáng mỹ lệ, Ngài đã ngắm nhìn nàng, thì giờ đây lại càng có đủ lý lẽ và duyên cớ để Ngài ngắm nhìn nàng thêm.

Đừng nỡ khinh thường em nữa.

4 - Linh hồn nói lên điều này không phải vì muốn mình được coi là thế này thế nọ. Trái lại là khác. Linh hồn nào thật sự yêu mến Thiên Chúa thì rất mong muốn bị khinh thường và sỉ nhục, đồng thời rất vui mừng khi bị sỉ nhục như thế, họ cho là mình chẳng đáng gặt hái thứ gì khác ngoài hai thứ ấy. Quả thế ở đây linh hồn chỉ muốn nói rằng tất cả ân sủng và ân huệ nó có được đều do Thiên Chúa ban. Điều này được đề cập nơi câu thơ tiếp:

Vì nếu Người thấy nơi em màu da sạm nắng.

5 - Nghĩa là: Trước đây Người đã ưu ái nhìn em, thấy em xấu xí và đen đúa vì tội lỗi, lại bất toàn trong thân phận tự nhiên thấp hèn, nhưng bây giờ:

Người có thể nhìn ngắm em thật kỹ
Vì Người đã nhìn em

6 - Vì Người đã nhìn em, đã cất khỏi em màu da sạm nắng và vô duyên của tội lỗi từng khiến em xấu xí khó coi và ngay lần đầu tiên ấy Người đã ban cho em nét duyên dáng. Thế nên, bây giờ Người có thể nhìn em thật kỹ, vì giờ đây em thật dễ nhìn và đáng được Người nhìn, vì đã được nhận thêm duyên dáng khi mắt Người nhìn đến. Thật vậy, lần đầu tiên khi mắt Người nhìn đến em, không những Người đã lấy đi màu da sạm nắng của em mà còn khiến em xứng đáng được nhìn đến. Bởi lẽ cái nhìn yêu thương của Người

đã để lại nơi em duyên sắc và vẻ đẹp.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 33

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 33
(Phiên bản A: chương 24)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Để hiểu hơn về những gì đã nói và những gì tiếp theo, cần biết rằng cái nhìn của Thiên Chúa đem lại cho linh hồn bốn ơn lành: được thanh tẩy, được thêm duyên dáng, được thêm phong phú và được soi sáng, cũng như khi mặt trời tỏa ra những tia sáng của nó thì làm cho vạn vật trở nên khô, nóng, đẹp và tỏa sáng.

Sau khi đặt vào linh hồn ba ơn lành sau cùng trong bốn thứ kể trên, nhờ đó linh hồn trở nên hết sức khả ái đối với Ngài, thì theo như lời đã phán qua ngôn sứ Edêkien (x. Ed 18,22), Thiên Chúa không bao giờ còn nhớ tới sự xấu xí và tội lỗi trước đó của linh hồn nữa. Như thế, một khi đã xoá bỏ tội lỗi và sự xấu xí nơi linh hồn, Ngài không bao giờ còn trách cứ linh hồn về chuyện đó và cũng chẳng bao giờ vì thế mà không ban thêm ân huệ cho linh hồn, bởi vì Ngài không bao giờ xét xử một việc tới hai lần (x. Nk 1,9).

Tuy nhiên, mặc dù một khi đã tha thứ, Thiên Chúa quên hết những điều xấu xa và tội lỗi của linh hồn, linh hồn vẫn không nên quên những tội lỗi trước kia của nó, như lời tác giả sách Huấn Ca đã dặn: Đừng ỷ được tha thứ mà khinh nhờn, rồi cứ chồng chất tội này lên tội khác (Hc 5,5).

Ấy là vì ba lý do: Thứ nhất là để linh hồn đừng bao giờ tự phụ, thứ hai là để nó luôn biết tỏ lòng cảm tạ Thiên Chúa và thứ ba, để nhờ đó mà tin cậy hơn hầu có thể lãnh nhận được nhiều hơn. Thật vậy, nếu khi còn ở trong tình trạng tội lỗi mà linh hồn đã được nhận lãnh từ Thiên Chúa biết bao ơn lành thì khi đã được đặt vào tình yêu Thiên Chúa và không vương vấn tội lỗi, thử hỏi linh hồn còn có thể mong đợi biết bao ân huệ lớn lao hơn nữa?

2 - Vì thế, ở đây khi nhớ đến tất cả những sự xót thương đã nhận được từ Thiên Chúa, và thấy mình được hiệp nhất với Đức Lang quân với một phẩm giá như thế, linh hồn hết sức vui thỏa trong niềm hoan lạc biết ơn và yêu mến. Nó càng vui hơn khi nhớ lại tình trạng của mình trước kia thật quá sức thấp hèn và xấu xa. Lúc ấy chẳng những nó không đáng Thiên Chúa ghé mắt nhìn mà thậm chí không đáng được Ngài gọi tên, như lời Ngài đã phán qua ngôn sứ Đavít (x. Tv 15,4). Do đó, khi thấy về phần nó, nó chẳng có lý do gì mà cũng chẳng thể làm gì để đáng được Thiên Chúa nhìn đến và tôn dương, mà tất cả chỉ là do phía Thiên Chúa, chỉ nhờ ân sủng đẹp đẽ và ý muốn đơn thuần của Ngài mà thôi, linh hồn liền quy hết sự khốn nạn về cho mình và quy hết mọi ơn lành nó có được cho Đức Lang quân. Thấy rằng nhờ những ơn lành ấy mà đáng nhận được điều trước đây nó chẳng đáng, linh hồn liền can đảm và bạo dạn cầu xin được ơn liên lỉ hiệp nhất với Thiên Chúa về mặt tâm linh, để nhờ sự hiệp nhất ấy mà các ân huệ được gia tăng gấp bội. Tất cả những điều ấy được linh hồn diễn tả nơi ca khúc tiếp theo:

Đừng nỡ khinh thường em nữa,
Vì nếu Người thấy nơi em màu da sạm nắng,
Thì Người có thể ngắm nhìn em thật kỹ,
Vì Người đã nhìn em
Và đã để lại nơi em duyên sắc và vẻ đẹp.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 32 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 32 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 23)

5 - Yêu cưng là yêu rất nhiều chứ không phải chỉ là yêu mà thôi. Yêu cưng là yêu gấp đôi, yêu vì hai động cơ hoặc hai nguyên nhân. Nơi câu thơ này linh hồn cho ta hiểu hai động cơ và hai nguyên nhân khiến Đức Lang quân yêu nó như sau: Ngài không chỉ yêu cưng nó vì bị sợi tóc nó bắt cầm tù mà còn yêu đến nỗi bị thương vì cái liếc mắt của nó.

Nơi câu thơ này linh hồn nêu lý do tại sao Đức Lang quân lại yêu cưng nó một cách nồng nàn đến thế. Đó là vì khi ngắm nhìn linh hồn, Ngài muốn ban cho nó ân sủng là duyên dáng bên trong để Ngài được vui lòng thỏa dạ. Ngài ban cho nó sợi tóc tình yêu và dùng lòng mến của Ngài tạo thành cái liếc mắt đức tin của nó. Do đó, linh hồn thốt lên: “Vì đó Người yêu cưng em”.

Khi trút ân sủng Ngài vào một linh hồn, Thiên Chúa làm cho linh hồn ấy xứng đáng và có khả năng đáp ứng tình yêu Ngài. Như thế khác nào linh hồn nói: vì Người trút ân sủng Người vào hồn em nên em xứng đáng được Người yêu, để rồi vì thế Người càng yêu cưng em hơn, nghĩa là càng ban cho em thêm ân sủng. Đây đúng là điều thánh Gioan đã nói: Từ nguồn sung mãn của Ngài, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác (Ga 1,16). Nghĩa là từ ân sủng đã cho ta trước đây, Thiên Chúa còn ban thêm ân sủng mới. Bởi nếu không có ân sủng Ngài, thì không đáng lãnh nhận ân sủng Ngài.

6 - Muốn hiểu được điều ấy, cần lưu ý rằng Thiên Chúa chẳng yêu thứ gì ở ngoài Ngài cho nên cũng chẳng yêu bất cứ thứ gì kém hơn là yêu chính mình Ngài. Ngài yêu tất cả đều vì Ngài. Vì yêu bản thân mình nên Ngài mới yêu vạn vật, chứ không phải Ngài yêu chúng vì những gì có nơi chúng. Vì thế, đối với Thiên Chúa, yêu một linh hồn là một cách nào đó đặt nó vào trong chính Ngài, làm cho nó ngang hàng với Ngài. Như vậy, linh hồn đang ở trong Ngài và Ngài yêu nó cùng với chính mình Ngài, bằng chính tình yêu Ngài tự yêu mình. Vì thế, mỗi khi thực hiện bất cứ công việc nào trong Thiên Chúa, linh hồn đều đáng được Thiên Chúa yêu thương. Bởi lẽ một khi đã được Thiên Chúa đặt vào trong giới ân sủng với một phẩm giá cao vời, thì nơi mỗi việc nó làm, linh hồn đều đáng được đón nhận chính Thiên Chúa. Thế nên, linh hồn nói tiếp:

Và nhờ đó đôi mắt em mới đáng

7 - Nghĩa là: Với ơn huệ và ân sủng mà đôi mắt của lòng xót thương Người ban cho em khi Người nhìn em, Người đã khiến em thành khả ái trước mắt Người và xứng đáng được Người nhìn thấy. Thế nên đôi mắt em mới đáng

Tôn thờ điều chúng thấy nơi Người.

8 - Điều này ngầm ý nói: Ôi Đức Lang quân của em! Các quan năng của linh hồn em, khác nào đôi mắt mà nhờ chúng em có thể trông thấy Người. Chúng thật đáng được nâng lên để nhìn ngắm Người. Trước kia do hoạt động thấp kém và năng lực tự nhiên của chúng thật khốn cùng, các quan năng ấy thường gục ngã thấp hèn thảm thương, còn giờ đây, linh hồn có thể ngắm nhìn Thiên Chúa nghĩa là nó có thể làm được nhiều công việc trong ân sủng của Thiên Chúa, thì các quan năng ấy của linh hồn xứng đáng dự phần vào việc tôn thờ, bởi vì chúng tôn thờ là tôn thờ trong ân sủng Thiên Chúa. Chính ân sủng này làm cho mọi hoạt động đều đáng được công trạng. Như thế, một khi được ân sủng và lòng ưu ái của Thiên Chúa soi sáng và nâng lên, các quan năng ấy sẽ tôn thờ những gì chúng thấy nơi Ngài, những điều mà trước đây, vì còn mù loà và thấp kém, chúng chẳng nhìn thấy được.

Vậy đâu là những điều chúng đã thấy được? Chúng đã thấy những uy lực lớn lao, sự ngọt ngào phong phú, lòng tốt bao la, tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa cùng với vô số hồng ân linh hồn đã nhận được từ Ngài, từ khi linh hồn được hiệp nhất khăng khít với Thiên Chúa cũng như cả thời gian trước đó. Giờ đây, đôi mắt linh hồn mới xứng đáng để tôn thờ tất cả những điều ấy, bởi vì đôi mắt ấy đã trở thành duyên dáng và đẹp lòng Đức Lang quân. Trước kia chẳng những chúng không đáng được phép tôn thờ hoặc nhìn thấy Ngài mà ngay cả chỉ suy xét đôi điều thuộc về Thiên Chúa cũng chẳng xứng đáng, bởi vì không có ân sủng Thiên Chúa, linh hồn sẽ hết sức thô thiển và mù loà!

9 - Ở đây có biết bao điều cần lưu ý và cũng thật đau lòng, khi thấy rằng những linh hồn không được tình yêu Thiên Chúa soi sáng thì còn lâu mới chu toàn được phận vụ của họ đối với Ngài, lẽ ra những linh hồn ấy đã phải nhận ra những ân sủng ấy cũng như vô số những hồng ân khác, vật chất lẫn tâm linh, mà họ đã và đang nhận được từ Thiên Chúa nơi từng bước đi của họ. Lẽ ra họ đã phải tôn thờ và dùng hết mọi quan năng mà phục vụ Thiên Chúa không ngơi nghỉ. Chẳng những không làm thế, họ còn khiến cho mình chẳng đáng ngắm nhìn và nhận biết Thiên Chúa, chẳng đáng nắm bắt được một điều như thế. Quả là đáng thương biết bao cho những kẻ đang sống, hay nói đúng hơn, đang chết trong tội lỗi.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)