ĐÔNG - TÂY MẠN ĐÀM: MỘT SO SÁNH GIỮA PHÚC ÂM MATTHEW (7:12) VÀ LUẬN NGỮ (15:24)
Trong Phúc âm Matthew (7:12) có viết “Vậy tất cả những gì các con muốn người ta làm cho mình, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế: Đấy là điều mà Lề luật và các tiên tri dạy ”.
Trong Luận ngữ, Chương XV - Vệ Linh Công, Tử Cống vấn viết: “Hữu nhất ngôn dĩ chung thân hành chi giả hồ?.” Tử viết: “Kỳ thứ hồ! Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân.” (Tạm dịch: Một hôm Thầy Tử Cống hỏi: “Có một lời nào khả dĩ thi-hành được chung thân không?” - Khổng Tử trả lời rằng: “Chữ thứ chăng; điều gì mình không muốn, thì đừng làm cho người.”
Hội ngộ Đông-Tây trên bình diện tư tưởng và triết học từ lâu luôn là một chủ đề mang lại cho tôi lắm sự hứng thú. Tôi ngưỡng mộ vô cùng tận những bậc thánh hiền từ cả hai phương trời cổ đại; đặc biệt là khi tư tưởng của các vị này có lắm sự tương đồng và chia sẻ chung một hệ giá trị trong việc nâng niu và phát huy phẩm giá con người cũng như hướng xã hội của toàn thể nhân loại tới một cái đích tốt đẹp hơn, siêu việt hơn.
Nghe từ các đàn anh, tôi đã quen thuộc và thích thú với việc coi Aristotle là một phiên bản của Đức Khổng Tử tại phương Tây và triết gia Chu Hy như một bản thể của Thánh Thomas Aquinas tại phương Đông. Cả Aristotle và Khổng Tử đều là những người thầy, những bậc đại trí có khởi xướng nên một chủ thuyết có sức ảnh hưởng lớn lao lên khu vực mình tồn sinh, trong khi đó, Chu Hy và Thánh Thomas Aquinas lại là hai người có công lao nghiên cứu, lý tính hóa nhằm làm tường minh thêm lời giảng của các vị cổ nhân đi trước.
Nhân một sự xem lại cuốn “Nho giáo” của cụ Trần Trọng Kim mà bản thân đã ngó lơ trong hằng mấy năm qua, chợt tôi đây có một liên tưởng lạ lùng khi đọc tới câu “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” trong mối tương quan với Phúc âm Matthew (7:12), cũng là lời dạy khiến tôi có thêm nhiều mến mộ với Kitô Giáo và quyết định chọn Matthew làm tên tiếng Anh của mình.
Mừng rỡ như thể "Huyền Đức được Khổng Minh xua tan đám mây mù mà cho thấy tỏ được Mặt trời”, tôi định bụng lại thêm một bận viết gì đó cho thỏa cái lòng thành kính và mến mộ của mình với cổ nhân, thông qua việc tập trung (THỬ) bóc tách những nét dị biệt giữa hai lời dạy mà tưởng như là một này.
Nếu Khổng giáo đặt trọng tâm vào một sự phủ định mang tính bị động và tự kiềm chế thì chủ thuyết của Phúc Âm lại đề cao một lời khẳng định mang tính chủ động và theo hơi hướng thúc đẩy sự dấn thân.
Trong Luận ngữ, “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” hiện hữu như thể một lời cảnh tỉnh nhằm căn chỉnh nền luân lý thông qua “sự kính sợ” và “sự hổ thẹn”. Nếu mình không muốn bị lừa dối thì đừng lừa dối người khác. Nếu mình không muốn bị sỉ vả thì đừng đi sỉ vả người khác. Chung quy lại có thể kết luận là “sự không dám làm” từ “cái sợ” những điều tương tự xảy tới với bản thân. Cần diễn giải lại chữ “sợ” từ góc nhìn Khổng giáo không hoàn toàn mang một ý nghĩa tiêu cực hay xấu xa tuyệt đối như chúng ta hay nghĩ tới. Trái lại, “sợ” với Khổng Tử là một “phương tiện hữu hiệu”, cốt để khuếch đại cái phẩm hạnh thông qua sự tự tiết chế những “bại ý”. Trong Luận ngữ (16:8), Tử viết: “Quân tử hữu tam úy: Úy thiên mệnh, úy đại nhân, úy thánh nhân chi ngôn", tạm dịch là: “Người quân tử có ba cái sợ: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân”. Trích trên đó cho thấy sự sợ không chỉ bao hàm cái e ngại tục trần về những đớn đau thể xác, mà thực tế, sự sợ này là cái sợ vì kính, sợ điều hổ thẹn do sự thiếu tiết chế trong hành động gây sai lệch cái “Lý” tối cao của Trời, làm rung động tới quỷ thần để từ đó mà làm bại hoại nốt cả chữ “Trung” và chữ “Nhân” mà mỗi người quân tử hằng đeo đuổi.
Với Phúc âm, yêu cầu dành cho con người không dừng lại ở một sự tự tiết chế bị động. Cách tiếp cận, trái hẳn, nhấn mạnh một sự mạo hiểm dấn thân và thậm chí hy sinh để gây nên thành tựu. Nhìn lại vào chính Thiên Chúa, Đấng Tối cao của muôn loài đã sẵn lòng “nhập thể” vào dáng hình “Chúa con” và chấp nhận hy sinh chính mình để hóa thành nên những bánh và rượu từ máu thịt nhằm cứu chuộc cho tội lỗi con người, thì tất yếu, con người cần nhất thiết noi gương cái khí tiết oai cường và tình yêu bao la đó để chủ động “bước ra ngoài” mà làm điều thiện lành cho tha nhân. Nếu bạn muốn được yêu thương, hãy yêu thương người khác. Nếu bạn muốn sức khỏe mình an ổn, cũng hãy cầu và giúp cho người khác được như vậy. Nếu cái chính yếu của Nho giáo là chữ “sợ” thì cái cốt lõi của Kitô giáo lại là chữ “yêu” và chữ “dám”. Luận ngữ cho con người ta cần tự co lại vào bên trong để tự kiểm cái “Chính danh”, là cái vị trí của mình trong một tôn ti, nhằm đạt tới chữ Trung thông qua sự giữ những khoảng cách chừng mực thiết yếu. Phúc Âm thì khác khi cho rằng, con người cần hướng ra bên ngoài để nhìn đồng loại, nhìn đời sống mà dấn thân vào trong cuộc hiệp thông thân ái. Bởi nếu Thiên Chúa đã dám dấn thân và chứng cho cái thành tâm của những kẻ noi bước mình mà dám dấn thân thì không việc gì con người còn phải khép nép và e ngại trước những hiểm nguy xa vời.
Nhớ lại sự kiện trên núi Bát Phúc khi Chúa Giêsu giảng cho các môn đệ và đám đông lớn, Phúc âm Matthew (5:43-44) đã ghi lại lời dạy: “Khi ấy, Chúa phán cùng các môn đệ rằng: “Các con đã nghe dạy: Ngươi hãy yêu thân nhân, và hãy thù ghét địch thù. Còn Ta, Ta bảo các con: Hãy yêu thương thù địch và làm ơn cho những kẻ ghét các con; hãy cầu nguyện cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các con, để như vậy các con nên con cái của Cha các con, Đấng ngự trên trời: Người khiến mặt trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết và kẻ bất lương”. Nếu “cái sợ” của đạo Nho là “cái kính sợ” có tính thiêng liêng, thì ở đây, chính cái “yêu” và cái “dám” của Kitô Giáo cũng là những cái yêu, cái dám mang tính siêu việt. Tình thương bao la và sự dấn thân vô cùng tận đã không còn giới hạn ở người thân quyến nữa mà mở ra cho cả “những kẻ thù để mưa cùng trút xuống trên cả người liêm khiết và kẻ bất lương”. Do vậy, từ góc độ Thần học, Phúc âm (7:12) đã không còn thuần túy là một lời dạy mang tiếng chuyên biệt hay cô lập nữa, mà là sự đúc kết đức hạnh của cả một hệ giá trị bác ái quảng đại đã đúc kết từ chính “những Lề luật và lời dạy của các vị tiên tri cổ xưa” đã tồn tại suốt hàng ngàn năm qua. Vì suy cho cùng, cái cốt yếu dù “kẻ xấu hay người thiện lương”, dù “ta dấn thân vì người hay người dấn thân vì mình” thì tất cả cũng chỉ hướng tới sự trọn lành của Thiên đàng thôi.
Xã hội loạn, theo quan niệm của Khổng Tử, là do lòng người loạn bởi sự sai lạc trong việc định vị cái Chính danh của mình trong xã hội. Nên để giữ cái tôn ti thì nhất thiết ai cũng phải biết “giữ mình”, mà “giữ mình” cũng tức là “giữ cho mình khỏi tổn hại” tới ai. Đây chính là cái chủ trương “Dĩ hòa vi quý” để lấy sự hòa bình trong cách cư xử làm hàng đầu vậy. Mà đã lấy sự an yên làm trọng thì không nhất thiết gì cứ phải thúc ép con người làm điều này cho người này, làm điều kia cho người kia vì không khéo, chính những sự chủ động ấy, những chủ động không hợp thời, không hợp sức, lại mới dễ đưa con người ra xa khỏi cái bổn phận mà họ nên thực thi (thay vì đi quá). Chính trong Kinh Dịch, “Hệ Từ, hạ”, Khổng Tử đã dạy: “Đức bạc nhi vị tôn, trí tiểu nhi mưu đại, lực tiểu nhi nhiệm trọng, tiển bất cập hỹ” (Tạm dịch: “Đức mỏng mà ngôi cao, trí nhỏ mà lo làm việc lớn, sức nhỏ mà gánh việc nặng, thì ít khi thành công vậy”.) đã chứng minh cho luận điểm trên. “Tu thân” trước rồi mới “Trị Thiên hạ” sau như trong Bát Điều Mục của Sách Đại học đã có nói là bởi vậy.
Tiện thể, cũng nên mở rộng thêm đôi chút về khác biệt trong khía cạnh thần học giữa hai luồng tư tưởng. Ta thấy, trái với Thiên chúa là một Đấng Tối Cao toàn năng, toàn tri và toàn thiện như trong Kitô Giáo thì Thiên (Trời) trong Nho giáo lại không có cái dáng hình minh thị và cũng không có cái toàn thiện đó trong bản tính. Người quân tử, vì thế, kính Trời và sợ Trời hơn là yêu Trời. Cái thâm căn trong lý lẽ của Đức Khổng Tử về phần Hình Nhi Thượng Học này chắc lý giải thêm được phần nào về lý do vì sao “sự tránh cái loạn” lại được ưu tiên hơn việc “(mạo hiểm) chủ động kiếm tìm cái tốt để diệt cái loạn” vì cái loạn, một khi đã trái với cái Lý của Trời ắt gây ra hậu quả thảm khốc vì Thiên vốn dĩ có toàn thiện đâu.
Đã chỉ ra bấy nhiêu điểm khác biệt như vậy thì giờ ta cũng nên quay về soi xét những sự tương đồng cho tường tận vấn đề. Cái giống đầu tiên là sự áp dụng Nguyên lý Hoán vị trong Tâm lý (còn gọi là Nguyên tắc Vàng - Golden Rule) vì cho dù có sợ để tránh hay có yêu để dám thì cả hai trường phái đều đã chủ trương một sự lấy chính bản thân mình, đi sâu vào bên trong nội tâm và khát vọng của chính mình để làm thành một thứ chủ thể, cũng là thước đo trong sự đối xử với người khác. Cùng thử chiết tự một chút chữ Thứ (恕) trong phần đầu của câu dạy là: “Kỳ thứ hồ!...”, ta có chữ “Như” (如) nằm trên và chữ “Tâm” (心) nằm dưới. Đây là cái thâm thúy của cổ nhân trong việc coi “lòng mình như lòng người” hay nói cách khác là lấy “lòng mình mà suy lòng người” cũng tương tự như cách Chúa Giêsu đã chỉ ra việc, chính ước muốn được yêu thương của con người là động lực để con người đối xử tương tự với tha nhân.
Cái giống thứ hai là về một sự tối giản hóa cả hai chủ thuyết với nền tảng lý luận đồ sộ thành những điều trực quan nhất, dễ hiểu nhất nhưng cũng trọn vẹn nhất. Với Phúc âm thì đó là sự đúc kết của hàng ngàn năm Lề luật thành cách mà con người nên đối xử với nhau. Với đạo Nho, như ta đã đề cập thì đó là chữ Thứ. Thứ hình như ở đây không hẳn còn là một sự cam chịu nữa mà thực tế thuộc về phạm trù khác của một đức hy sinh cao cả cho thứ đại cục “Dĩ hòa vi quý”, tương tự như cách con người phải dám hy sinh "để được yêu” của Thánh Kinh.
Thứ ba và hẳn là quan trọng nhất, đó là cả hai chủ thuyết này cùng chia sẻ chung một cứu cánh về một xã hội lý tưởng của sự quân bình, hòa hợp và thương yêu nhau. Cái Lý tốt đẹp của Trời và cái Ethos cao cả của Thượng Đế đều có tính lôi kéo con người tiến về cái thiện lương viên mãn, cũng là lý do chính yếu khiến tôi xem Khổng Tử - Aristotle và Chu Hy - Thomas Aquinas ít nhiều là những bản thể của nhau ở thế giới còn lại. Nếu áp dụng Phúc âm vào thực tiễn, xã hội sẽ tràn ngập những sự kiến tạo yêu thương, những cuộc dấn thân của các bậc quân tử vào việc trị quốc thái bình, thịnh trị, như vậy há chẳng giống cái ý của Đức Khổng Tử đã tỏ với thầy Tử Lộ rằng: “Phù nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”. (Tạm dịch: “Phàm kẻ nhân-giả là mình muốn lập, thì lập cho người, mình muốn đạt, thì đạt cho người”) (Luận ngữ 6:30) lắm hay sao!. Nếu áp dụng Luận ngữ vào đời sống, xã hội cũng sẽ tự triệt tiêu đi những bất công và tổn thương vì mấy ai muốn đem cái mình ghét mà áp đặt lên đồng loại, vậy há chẳng phải cũng giống lắm với mấy lời cuối cùng của Đức Giêsu trên Thập giá rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (Phúc âm Luca 23:34) lắm hay sao!.
Tựu chung lại, tôi viết bài này không có ý bàn cái ưu - nhược của cả hai chủ thuyết mà chỉ nhằm chỉ ra đôi chỗ đồng - dị cho làm rõ cái ý cổ nhân. Tôi nghĩ rằng, cả Khổng giáo và Công giáo, những lý luận như của hai thế giới riêng biệt này, tưởng giống mà khác, tưởng khác mà giống, thật ra đều vẹn toàn hết mực và hẳn cũng chả cần phải sinh ra để bổ trợ cho nhau thêm được điều gì. Nếu nói có bổ trợ, thì sự bổ trợ cũng thực chỉ là cái bổ trợ cho sự hiểu biết vì kiến thức quá đỗi hạn hẹp và tầm thường của nhân loại đã không hiểu hết được lời dạy cao thâm của các bậc tiền bối thôi vậy.