Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Thoạt nhìn, chúng ta có cảm tưởng cái kinh nghiệm thần ứng của mỗi một cá nhân, của mỗi một cộng đoàn bị khép kín, bị bó buộc vào trong sự cứng nhắc của một hệ thống quá chặt, như hệ thống hàng giáo phẩm của Công giáo, nhưng đọc qua lịch sử của Giáo hội Công giáo, trong hai mươi thế kỷ đã qua, chúng ta thấy rằng: hầu hết các vị thánh, ví dụ như các thánh Pacôme, thánh Basile, Bênêđictô, Phanxicô, Inhaxiô và gần đây chẳng hạn, một vị ẩn tu là Charles de Foucauld đều là những người đi trước Hội Thánh, luôn luôn phát sinh ra những đường lối mới để đáp ứng lại với những yêu cầu của thời đại lịch sử lúc nào cũng biến chuyển, dưới sự thúc đẩy của Thánh Linh...

Cuối cùng, sau khi đã trải qua nhiều thử thách gần như là lửa thử vàng, bấy giờ các vị Ngôn sứ thời Đạo Cũ cũng như các Thánh thời Đạo Mới là những người đi trước Hội Thánh, nhưng vẫn một mặt phục tùng và chấp nhận sự kiểm nghiệm của Hội Thánh. Hình như có một sự song hành nào đó giữa truyền thống sống động với bộ Kinh thánh. Bộ Kinh thánh chỉ được đọc, được hiểu đúng trong lòng cộng đoàn những kẻ tin luôn trung thành với một truyền thống không phải là khô cứng, nhưng dù sao vẫn duy trì được sự nguyên tuyền y như một dòng suối phát tích từ đỉnh núi cao, qua không biết bao nhiêu địa phương khác nhau, vẫn giữ được sự trong suốt, chứ không thể tự mình mà phóng túng bất chấp, để rồi lạc vào những khe rãnh thường là không mấy tinh khiết.

Do đó, một mặt, người tín hữu nghiền ngẫm Kinh thánh để như thấm nhuần một não trạng, một tinh thần, nhưng không phải hiểu một cách thiển cận, máy móc những văn tự chết, nhưng cuối cùng là tắm mình trong một bầu không khí, trong một nguồn nhựa sống của một cộng đoàn đức tin khởi đầu từ Tổ phụ Abraham, tiếp tục với nhóm Mười Hai mà phát ngôn nhân vừa là đại diện, vừa là thủ lãnh là Phêrô và các đấng kế vị ngài, cho đến ngày Cánh chung.

Bởi lẽ, cuối cùng, nội dung của đức tin Kitô giáo không phải là những chữ, những câu, những ý, những lời, nhưng là tác động trực tiếp của Thiên Chúa hằng sống trên mỗi một tâm hồn, trên mỗi một cộng đoàn, trên toàn thể nhân loại. Để luôn luôn sống động thì cần phải đặt vào trong lòng chính cộng đoàn sống động, chứ không thể xem bộ sách ấy, dù quý giá đến đâu, như một phương tiện để nói rõ một cách chắc chắn lời của Thiên Chúa, bởi vì không gì có thể đóng khung được lời của Thiên Chúa và xin nhắc lại, lời đó cuối cùng là một tương giao giữa ngã vị Thiên Chúa với ngã vị của mỗi một linh hồn và ngã vị tinh thần, "personne morale" của một cộng đoàn, qua lịch sử của mỗi người, của mỗi cộng đoàn, của toàn thể nhân loại vô cùng phong phú, vô cùng đa tạp.

Không một cuốn sách nào, không một hệ thống tư tưởng nào có thể áp đặt lên một cách cứng nhắc những khuôn vàng thước ngọc. Do đó, muốn hiểu Kinh thánh, đương nhiên là phải có cả một công trình có tính cách chuyên môn kỹ thuật, phải am hiểu các tôn giáo, phong tục, kỷ cương, chế độ, ngôn ngữ của những cộng đồng người từ thời Abraham cho đến những giai đoạn lịch sử của Giáo hội Công giáo, ngõ hầu nắm được ngay cả những phạm trù, những ngôn từ, thể văn, bút pháp của các tác giả, hiểu được ý chính của các tác giả, để cuối cùng như thông dự vào chính cái kinh nghiệm được linh hứng của các tác giả. Sau đó đối chiếu với kinh nghiệm linh hứng có thể nói là của bản thân mình, của cộng đoàn mình, qua từng trường hợp để tìm cho ra ý định của Thiên Chúa, Đấng luôn luôn mời gọi, hứa hẹn, giao ước, chờ đợi mỗi một cá nhân, mỗi một cộng đoàn cộng tác với Ngài trong một kế đồ vô cùng rộng lớn, bao trùm cả và nhân loại và toàn thể vũ trụ.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Một thiện niệm gợi ra một tiếng nói của lương tâm ngăn cản hoặc là phê phán một việc ác, hay là thúc đẩy hoặc khen thưởng một việc lành, đó cũng là lời Chúa. Một biến cố xảy đến, từ những việc nhỏ nhặt như nhỡ một chuyến xe, cho đến những thăng trầm thế sự thay đổi bộ mặt của các quốc gia, của toàn thể nhân loại cũng đều mang một ý nghĩa nào đó, cũng là một lời mời gọi nào đó, để mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đoàn phải có một ứng xử thế nào cho thật phù hợp với ý định của Thiên Chúa.

Do đó, cái kinh nghiệm của mỗi một người cũng như của một cộng đoàn, không phải không có một tương quan nào đó với những kinh nghiệm được gọi là linh hứng của các tác giả viết nên bộ Kinh thánh. Bởi vì Thiên Chúa là Đấng hằng hữu, trước sau như một, ý định của Ngài không bao giờ thay đổi, có thể nói cái phong thái, cái cách xử đãi của Ngài, đối với thụ tạo, có thể bao giờ cũng chỉ là một. Từ lời kêu gọi Abraham, từ lời kêu gọi các Ngôn sứ, từ lời mời chọn Đức Maria, từ lời kêu gọi các môn đệ đầu tiên cho đến những lời kêu gọi dành cho các tín hữu, từ những tín hữu tầm thường, phải chu toàn nhiệm vụ của một người trong gia đình, của một người dân trong một đất nước hoặc vượt cao lên đảm nhận một trọng trách nào đó trong Giáo hội, thi hành những công trình khó khăn, thì thảy đều có một sự tương đồng nào đó, tiếng Pháp gọi là "analogique"; và cái khuôn mẫu để đáp lại lời kêu gọi tuân hành ý định của Thiên Chúa, chính là Đức Giêsu Kitô trong thân thế và sự nghiệp, mà nhất là trong cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Ngài.

Vì vậy, Kinh thánh bao giờ cũng đến sau sự hiện hữu của một cộng đoàn những kẻ tin, mà có thể nói cái cộng đoàn những kẻ tin ấy bao giờ cũng phát tích từ một người: dân Chúa thời Đạo Cũ phát tích từ một người là Tổ phụ Abraham, dân Chúa thời Đạo Mới, có thể nói là phát tích, hay ít nhất là quy tụ vào nơi một người là thánh Tông đồ Phê rô, khi ngài đại diện cho nhóm Mười Hai trả lời câu hỏi mang tính quyết định của Đức Giêsu: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?" Phêrô đã tuyên xưng đức tin: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (x. Mt 16,13-16).

Cộng đoàn đức tin đời cũ cũng như đời mới chỉ là duy trì, bảo vệ, phát triển đức tin đã được gieo vào và đã được dâng lên, khởi điểm từ Tổ phụ Abraham, khởi điểm từ nhóm Mười Hai mà Phêrô là phát ngôn nhân, là người đại diện, do đó, Kinh thánh thời Đạo Cũ cũng như Kinh thánh thời Đạo Mới chỉ có ý nghĩa trong lòng cộng đoàn những kẻ tin, và chỉ có cộng đoàn những kẻ tin mới hiểu rõ được cái truyền thống sống động của một niềm tin đối với lời hứa hẹn của Thiên Chúa, với lời giao ước giữa Thiên Chúa và mỗi một cá nhân, giữa Thiên Chúa và mỗi một cộng đoàn, và tính cách sống động là một hiện thực chứ không phải là một hệ thống tư tưởng. Và có thể nói, truyền thống đức tin đó là để giúp cho mỗi một con người, trong quá trình tiểu sử của đời mình, cũng như trong diễn biến của lịch sử, trong diễn trình của vũ trụ, so sánh chính cái kinh nghiệm của bản thân mình với cái truyền thống đức tin đó để gạn lọc, tìm hiểu và học cách ứng xử ra sao.

Và như vậy, một mặt, cần phải trung thành với truyền thống, mặt khác, cũng phải được sự phê chuẩn, kiểm nghiệm của chính cộng đoàn, qua trung gian những vị được Thiên Chúa chọn, tiếp nối cái cộng đoàn đầu tiên là nhóm Mười Hai Tông đồ, mà hiện nay những người kế vị chính là các Giám mục hiệp thông với người kế vị thánh Phêrô là Đức Giáo hoàng.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Vì vậy, muốn hiểu Kinh thánh thì phải nắm cho được tinh thần sâu xa chứa đựng ở trong ngôn từ, như chính ; Kinh thánh đã viết: "văn tự thì giết chết, chỉ có tinh thần mới làm cho sống động”, tiếng Pháp là: "La lettre tue, c’est l'esprit qui vivifie” [Tiếng Latinh: Lex occidit, spiritus vivificat; xem thêm Rm 2,29b]. Do đó, không thể hiểu Kinh thánh như là một pho sách của các triết gia ghi chép lại những chân lý trừu tượng, mà ai đọc cũng được, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu, tùy theo cách lý giải riêng của mình. Nhưng Kinh thánh là một lời trao đổi của Thiên Chúa hằng sống với những con người sống động, với những cộng đoàn đã được Ngài chọn, vì vậy lời ấy chỉ được hiểu trong một bầu khí cởi mở tâm hồn đón nhận mà chủ yếu là bằng đức tin.

Mà lời của Thiên Chúa không phải là một lời lý giải về vũ trụ học, về nhân sinh học, nhưng là một lời kêu gọi, nói một cách rõ ràng là một lời có tính cách hứa hẹn và giao ước, đòi hỏi người nghe phải có một thái độ tin, phó thác chân thành và cuối cùng là thể hiện trong cuộc sống cá nhân mỗi người cũng như cuộc sống cộng đoàn dân Chúa, để thi hành những huấn lệnh của Ngài trong đời sống cụ thể của mình, trong bối cảnh lịch sử của mình, tùy theo địa phương, tùy vào thời điểm, suốt dòng lịch sử.

Cứ thế, từ Tổ phụ Abraham một thân một mình rời bỏ cả một nền văn hóa lừng lẫy, dấn thân vào một cuộc đời du mục rày đây mai đó, cho đến suốt cả hai nghìn năm lịch sử của dân Do Thái, tiếp tục hai nghìn năm lịch sử của Giáo hội và sẽ còn tiếp tục mãi cho đến ngày Cánh chung, qua không biết bao nhiêu thăng trầm thế sự, qua không biết bao nhiêu biến chuyển, dưới mọi chế độ chính trị, dưới mọi nền văn hóa, dưới mọi phong tục với bao nhiêu biến cố. Vì vậy, như tôi đã nói nhiều lần, nội dung Kitô giáo chính thật là một hiện thực sống động, là động tác của Thiên Chúa trực tiếp can thiệp vào đời sống của mỗi một cá nhân, đời sống của mỗi một cộng đoàn, đời sống của toàn thể nhân loại và diễn trình của vũ trụ, mời gọi mỗi một con người, mỗi một cộng đoàn và toàn thể nhân loại đón nhận, cộng tác để thực hiện chính cái kế đồ sáng tạo và cứu độ của Ngài, chứ không phải là một hệ thống tư tưởng có thể diễn tả ra được bằng ngôn từ, bằng phạm trù để có thể ghi lại như một thứ văn tự khô cứng trong một bộ sách.

Hiểu như thế, chính hiện nay đây, trong giờ phút này Thiên Chúa vẫn đang tác động trên mỗi một tín hữu, trên cộng đoàn dân Chúa là các Giáo hội Kitô giáo và qua đó là trên toàn thể nhân loại và vũ trụ. Nếu chúng ta xem cái hiện thực hiện nay, ngay trong giờ phút này của nhân loại, là như một bản văn, như một bảng tín hiệu, thì có thể nói Kinh thánh như là một bộ văn phạm, một bộ từ điển hay là một cái khung mật mã giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của chính cái hiện thực trong hiện tại của mỗi một con người, mỗi một cộng đoàn, khởi đầu là cộng đoàn dân Chúa, rồi hơn nữa, có thể nói là cộng đoàn nhân loại.

Bởi vì Thiên Chúa luôn nói, mời gọi, hứa hẹn, thiết lập giao ước với mỗi một cá nhân và với mỗi một cộng đoàn. Như vậy, có thể nói rằng, mỗi một người, đương nhiên trước hết là các tín hữu, nhưng có thể nói người nào cũng có một sự tiếp cận nào đó với lời của Thiên Chúa, cũng có một kinh nghiệm nào đó, dưới rất nhiều dạng, và có thể nói bất cứ cái gì tốt lành được khơi dậy lên trong tâm tư con người đều có phần nào do sự linh hứng của Thánh Thần.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Bộ Kinh thánh được xem như một bộ sách mà nói rằng ghi chép Lời Chúa thì hơi quá, bởi vì Chúa không phải là một ông thầy đến đưa ra một giáo trình để những người được chọn ghi chép lại nguyên văn nhưng Ngài chỉ, không biết dùng chữ gì hơn ngoài chữ nói. Nói, thứ nhất là với một số người được Ngài lựa chọn, đồng thời qua trung gian những người được chọn đó, Ngài nói với toàn thể cộng đoàn dân Chúa. Thật ra không nói là văn của Chúa, mà nói là lời, lời là lời nói, một lời nói sống động; mà đã là một lời sống động thì bao giờ cũng là một tương quan liên ngã vị, trước là tương quan với Thiên Chúa, với những cá nhân được chọn, đến những người truyền đạt lời Chúa, sau nữa là đến cộng đoàn; tuy nhiên dù cộng đoàn đi nữa thì cũng là những ngã vị kết hợp lại thành một, tiếng Pháp gọi là "personne morale", một ngã vị tinh thần.

Thế thì, tương quan sống động bao giờ cũng có một cái ý nghĩa riêng tư nào đó giữa đôi bên mà đệ tam nhân, chẳng những không thể hiểu được, mà đôi khi còn rất dễ hiểu lầm. Tôi xin lấy một thí dụ có hơi ví von một tí: có lúc người ta yêu nhau đến mức, thay vì nói "yêu”, thì lại nói là "ghét”; chẳng hạn, một cặp vợ chồng yêu nhau đến mức người chồng nói với người vợ: "Anh ghét em quá đi thôi!”, chẳng may có một đứa cháu nghe được câu nói đó liền vội đi thuật lại cho bà ngoại. Nghe vậy, bà ngoại hết sức lo lắng vì nghĩ rằng con gái mình và chàng rể đang lủng củng với nhau, vì chính miệng chàng rể nói “Anh ghét em quá!" kia mà.

Thế nhưng thực ra đứa cháu chỉ nghe được một câu và không hiểu chữ "ghét" đó là chỉ mức độ cao nhất của tình yêu. Chính vì vậy, lời Chúa là một lời sống động do các tác giả ghi chép lại, nhưng chẳng qua các tác giả đó đã vận dụng những phạm trù, những ngôn từ, những bút pháp của riêng mình, của nền văn hóa, của thời đại mình đang sống, để diễn tả một kinh nghiệm tương giao liên ngã vị nào đó với Thiên Chúa mà có thể nói là "bất khả ngôn".

Do vậy, khi nói rằng Kinh thánh được linh hứng, thì không phải hiểu một cách đơn giản rằng Thánh Thần đọc từng chữ cho người viết biên chép lại, nhưng Thánh Thần ngỏ với tâm linh con người ấy, qua một kinh nghiệm nào đó được con người ấy mở lòng ra đón nhận bằng một niềm tín phó thác đáp ứng, chẳng những trong tư tưởng, trong tình cảm mà còn cả trong hành động nữa. Hành động đầu tiên của người ấy là nỗ lực tìm những phạm trù, tìm những ngôn từ, vận dụng những bút pháp để diễn tả ra, hòng thi hành cái mệnh lệnh của Thiên Chúa, là làm phát ngôn nhân của Ngài.

Do đó, nói rằng Kinh thánh không thể sai lầm là phải hiểu một cách sâu xa rằng, điều mà Thiên Chúa đã truyền đạt qua một kinh nghiệm linh hứng nào đó bất khả ngôn, thì mới là không sai lầm. Và muốn hiểu cho được điều đó thì phải chọc thủng cái vỏ phạm trù, cái vỏ ngôn từ, cái vỏ bút pháp bao giờ cũng phụ thuộc vào từng cá nhân, văn hóa, thời đại, từng thể văn chứ không nên hiểu một cách máy móc.

Ví dụ, trong việc mô tả sự sáng thế, có một tiến trình tạo dựng trời đất do Thiên Chúa thực hiện qua bảy ngày, đó chẳng qua là tác giả dùng những cái khuôn khổ thông thường thời bấy giờ, vay mượn một số vũ trụ quan, nhân sinh quan nào đó của nền văn hóa đương thời để diễn tả ra cái kinh nghiệm độc đáo từ tận trong tâm linh của mình về công trình sáng tạo từ hư vô bởi Thiên Chúa, chứ không phải Thiên Chúa đọc cho người viết rằng quả thật là đã tạo dựng trong vòng bảy ngày.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Vì vậy, Do Thái giáo, cũng như Kitô giáo, có một sự sùng kính đặc biệt đối với Kinh thánh, và nhất là trong các hệ Tin Lành lại càng dành cho Kinh thánh một vị trí đặc biệt, để các tín hữu ngày đêm đọc đi đọc lại, suy ngẫm đến mức có thể nhuần nhuyễn trong trí óc, trong cảm tính những điều được chứa đựng trong bộ Kinh thánh.

Các Kitô hữu thuộc những hệ phái Tin Lành quan niệm rằng, qua những lời được ghi chép trong bộ Kinh thánh, mỗi một tín hữu cảm thấy dường như chính cá nhân họ giao tiếp trực tiếp với chính Thiên Chúa và nghe trong lòng mình chính lời dạy bảo của Thiên Chúa, đem lại ánh sáng soi rọi cho cuộc đời của họ. Giáo hội Công giáo thì có quan niệm khác hơn, vì cho rằng Kinh thánh tự bản chất không có giá trị độc lập, nhưng phải được đặt vào giữa lòng cộng đoàn, cộng đoàn có tổ chức, có tôn ti thứ bậc, có những người được Chúa chọn, được giao trách nhiệm và được ơn riêng để hiểu và giải thích Kinh thánh đúng theo tinh thần chính thống, chứ không thể để cho bất cứ ai muốn giải thích sao cũng được, nếu không thì có thể sẽ có những cách hiểu lệch lạc rồi đi đến chỗ càng ngày càng xa với truyền thống chính truyền của những người đã ghi chép lại tất cả những gì được gọi là lời Chúa.

Trong khuôn khổ cuộc trao đổi giữa chúng ta đây, tôi không có đủ điều kiện để trình bày cặn kẽ chi tiết những cách cấu tạo của một bộ sách là nguồn mạch cả một nền văn hóa lớn đưa đến Do Thái giáo, các hệ Kitô giáo và của cả Hồi giáo, chi phối đến cả tỉ người, qua hơn hai mươi thế kỷ này. Xa hơn nữa, nếu kể cả đời Đạo Cũ, tức là đời Cựu ước thì đã ngót nghét bốn nghìn năm nay. Tôi chỉ nói sơ qua đó là một bộ sách có thể nói là vô cùng phong phú, được khởi viết vào khoảng năm hoặc sáu thế kỷ trước Công nguyên, trong đó những cuốn đầu được gán cho một tác giả có tính cách tượng trưng là Môsê, vị lập quốc Do Thái, và kết thúc là một cuốn sách được cho là của thánh Gioan, vào khoảng hơn một thế kỷ sau Công nguyên. Như vậy, Kinh thánh là một bộ sách được viết qua cả ngàn năm, gồm đủ loại, đủ hạng các tác giả, và được chia ra làm hai phần chính: Từ phần khởi đầu cho đến khi Đức Giêsu ra đời được gọi là Cựu Ước, và chỉ có phần này là phần được Do Thái giáo công nhận. Phần còn lại được gọi là Tân ước, được tính từ bốn tập tiểu sử của Đức Giêsu Kitô, với một tập kể lại cuộc sống của cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi, gọi là Công vụ tông đồ, tiếp theo là một số Thư của các thánh Tông đồ Phaolô, Phêrô, Gioan, Giacôbê, Giuđa gửi cho các cộng đoàn tín hữu, vừa dạy bảo vừa khuyên răn, và sau hết là sách Khải Huyền mang một tính cách mầu nhiệm, hầu như là một dự phóng về tương lai và ngày Cánh chung.

Từ bốn cuốn tiểu sử của Đức Giêsu Kitô cho đến sách Khải Huyền được gọi là Tân ước. Bộ Tân ước chỉ có các hệ Kitô giáo nhìn nhận là Sách Thánh mà thôi. Giữa Công giáo với các hệ Tin Lành còn có một vài chi tiết khác biệt không mấy quan trọng, và bây giờ thì hầu như hai bên đều tìm cách xích lại gần nhau để đi đến một chỗ nhất trí nào đó. Chúng ta sẽ không nói đến những chi tiết khác biệt không đáng kể ấy mà chỉ tìm hiểu cái tinh thần căn bản của bộ Kinh thánh.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh

Bây giờ tôi xin trở lại một vấn đề đã chạm đến ngay từ đầu mà chắc các anh chị cũng cho là quan trọng, đó là vấn đề về bộ Kinh thánh. Trong phần nói về thần hiệp Kitô giáo, tôi có nhắc đến hai môn đệ trong một buổi chiều đi về làng Emmaus. Tôi xin quảng diễn sự kiện ấy như sau: Sau ngày Chúa Giêsu chịu tử nạn, các môn đệ tan tác mỗi người một ngã, thì chiều hôm ấy, hẳn là một buổi chiều Chúa nhật, có hai môn đệ thất vọng, bỏ thành Giêrusalem mà trở về Emmaus, có thể là một làng quê, dường như trở về để sống lại cuộc đời như trước khi đi theo chân Thầy.

Đang lúc hai ông đi đường thì xuất hiện một khách bộ hành cùng đi. Nhìn thấy hai ông có vẻ phiền não u uất, người khách liền hỏi chuyện. Hai môn đệ đã kể chuyện Giêsu Nazareth là một vị Ngôn sứ lớn đem lại cho các môn đệ của Ngài và quần chúng niềm hy vọng có một ngày được giải phóng khỏi ách đô hộ của đế quốc Rôma; thế nhưng cuối cùng vị Ngôn sứ lớn ấy đã thất bại thảm hại, chết nhục nhã trên cây thập giá, vì thế mà bây giờ các môn đệ đường ai nấy đi, trở về quê cũ làm ăn.

Thế là người khách bộ hành ấy bèn trích dẫn những đoạn Kinh thánh Cựu ước và giải thích cho hai môn đệ ấy về mầu nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh; nhưng hai môn đệ vẫn chưa biết người khách bộ hành ấy là ai, và khi đi ngang qua làng Emmaus thì trời sắp sập tối, hai ông liền mời vị khách cùng vào quán trọ. Lát sau, khi ngồi vào bàn ăn, vị khách bộ hành cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng rồi bẻ ra, bấy giờ hai môn đệ mới nhận ra đó chính là Đức Giêsu Kitô đã sống lại và tỏ mình ra, nhưng ngay lúc đó Ngài liền biến mất. Thê là hai môn đệ tốc tả quay trở lại thành Giêrusalem. Trên đường trở lại ấy, hai ông thầm nhủ, ừ nhỉ, đó chính là Ngài mà chúng ta không biết, khi nghe Ngài giải thích Kinh thánh trong lúc đi đường, chẳng phải chúng ta cảm thấy lòng bừng cháy lên một ngọn lửa phấn khởi, tin tưởng đó sao?

Câu chuyện này đã được họa sĩ Rembrandt vẽ lại thành một kiệt tác hôi họa lừng danh, trong đó thể hiện, tại ngôi quán trọ tại làng Emmau, Chúa Giêsu ngồi ở giữa, trong một vùng sáng, cầm lấy bánh, hai môn đệ ngồi hai bên trong chỗ tranh tối tranh sáng, gợi lên cho thấy sự hiện diện của Đức Gỉêsu như là ánh sáng, đem lại Bánh Sự Sống cho những con người còn ở trong bóng tối để họ lần bước về ánh sáng.
Câu chuyện này có nội dung giúp chúng ta lưu ý đến Bí tích Thánh Thế, như tôi đã trình bày ở trước, song hành với việc đọc, nghe, hiểu và sống Kinh thánh, mà người Do Thái giáo, cũng như người Kitô giáo đều tin rằng đó là bộ sách có thể nói là ghi chép lại lời Chúa, tức là người Do Thái giáo và người Kitô giáo xác tín rằng Chúa có nói, nói với loài người và lời Chúa nói được những người nghe ghi chép lại, để lưu truyền cho hậu thế. Họ coi bộ Kinh thánh như là khuôn vàng thước ngọc mang lại những quy tắc dẫn dắt đời sống cá nhân cũng như đời sống cộng đoàn cho hợp với thánh ý Chúa, và cũng là nơi chứa đựng những chân lý có giá trị tuyệt đối vĩnh cửu, giải đáp hầu như toàn bộ mọi vấn đề về vũ trụ và nhân sinh.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Hầu bàn

 


"Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? 
Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ." Lc 22, 27.

HẦU BÀN

Con ăn, Chúa đứng hầu bàn.
Tình đời ai lại trái ngang lạ thường!
Chỉ vì một lẽ yêu thương.


Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh (tiếp theo)

Mọi vinh quang không chỉ dừng lại nơi những con người được tôn phong lên hàng hiển thánh, nhưng tất cả đều quy về Thiên Chúa, mọi sự chỉ nhằm vinh danh Thiên Chúa. Hướng về đỉnh cao thánh thiện, theo quan niệm của Kitô giáo, không phải là gồng mình như một vận động viên cử tạ nhưng, trái lại, mở rộng lòng mình trong sự khiêm tốn thẳm sâu để đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, có một dạng như là ban cho một cách nhưng không. Chính Thiên Chúa đã dùng các Ngôn sứ và Đức Giêsu Kitô dùng các thánh Tông đô để nói rằng: "Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì” (Is 55,1-3). Chữ "nhưng không", tiếng Pháp là "gratuité", nghĩa là "cho không". Thái độ cơ bản là ý thức được sự hư không của mình, sự hèn kém của mình, nhưng vẫn một lòng tin tưởng, cậy trông và yêu mến, đón nhận ơn Cứu độ, ơn Thánh hóa để muôn đời dâng lên một lời cảm tạ không ngừng mà thôi. Rồi đến cái ngày mà thời gian được cuốn lại, vũ trụ này đi vào Cánh chung, thì sự thánh thiện đó không của riêng ai, mà là chung cho hết thảy mọi người, đều thông dự vào một sự thánh thiện duy nhất, trong một tình yêu duy nhất, trong một hạnh phúc duy nhất trong lòng Thiên Chúa Ba Ngôi, mà ánh sáng thánh thiện, cuối cùng cũng chỉ phát tích từ Đức Giêsu Kitô, giống như hình ảnh trong sách Khải Huyền đã mô tả. Thành Thánh Giêrusalem, tức là Nước Thiên Đàng mai sau, không có ánh đèn, nhưng chính Con Chiên Thiên Chúa tỏa sáng khắp cả Thành Thánh Giêrusalem được mô tả như là một Đền Thánh được xây dựng bằng những viên ngọc toàn bích...

Sự thánh thiện như thế có thể ví như một nguồn sống duy nhất lưu thông trong toàn bộ thân thể Đức Giêsu Kitô mà bất cứ tế bào nào cũng được thấm nhuần, trong cái mà thuật ngữ chuyên môn thần học gọi là "Các thánh thông công", hay "sự hiệp thông giữa các thánh hữu"; cũng như trong một gia đình, không phải ai cũng lao động đổ mồ hôi sôi nước mắt làm ra tiền bạc của cải, nhưng cuối cùng gia sản là gia sản chung, bàn tiệc là bàn tiệc chung, thức ăn, thức uống, cao lương mỹ vị đều là của chung, không ai hơn ai, không ai kém ai.

Trong cuốn sách "Gương Phước, Imitation de Jésus Christ", có một chương hơi phê bình mỉa mai cách suy nghĩ tầm thường của con người trong chuyện bàn luận thánh nào lớn, thánh nào nhỏ, và nói rằng: "Đối với Thiên Chúa, không có thánh lớn thánh nhỏ, bởi vì cuối cùng chỉ có một sự thánh thiện duy nhất là sự thánh thiện của Thiên Chúa trao ban cho bất cứ con người nào, qua trung gian Đức Giêsu Kitô và của Đức Bà Maria”. Có thể nói việc phong thánh, một phần nào chẳng qua một cách nhắc nhớ lại ơn Thiên triệu của bất cứ ai, cũng đều được mời gọi đi vào tiệc cưới Con Chiên, hưởng phần gia nghiệp chung cho hết thảy mọi người, không ai hơn không ai kém, tất cả đều được no thỏa tràn trề.

Việc phong thánh, chẳng qua chì là nói lên cái phẩm giá linh thánh của bất cứ con người nào, mà những vị hiển thánh là những người đã đi trước, để cho mọi người chẳng những noi theo, mà còn một lòng tin tưởng rằng những người ấy đã nên thánh được, thì tôi cũng có thể nên thánh. Bởi vì việc nên thánh không phải chỉ dành riêng cho những người, mà dưới cái nhìn của nhân loại là thánh nhân, là trượng phu, quân tử, nhưng là dành cho hết thảy mọi người, bất luận đó là kẻ đã từng giết người cướp của, đã từng giang hồ đĩ điếm.

Muốn hiểu rõ việc phong hiển thánh, việc tôn kính các Thánh, cần phải nhớ lại lời Đức Giêsu đã ném vào mặt bọn giả hình: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông" (Mt 21,31).

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh (tiếp theo)

Vì thế, việc tôn sùng các Thánh, vừa là nêu lên những gương mẫu, nhưng cũng chính là vừa ngợi khen kỳ công của Thiên Chúa đã nâng những con người hèn yếu tội lỗi lên đến đỉnh cao, để như một lời kêu gọi hứa hẹn cho mọi người thấy rằng những con người ấy cũng chỉ là những thụ tạo mỏng giòn, cũng có thể ngu tối như bất cứ ai, nhưng được nâng cao như vậy thì ai cũng hy vọng mình có thể được như thế.
Do đó, các Thánh của Kitô giáo, như tôi đã nói ở trên, như là những tia sáng phát xuất từ cùng một Mặt Trời là chính Đức Giêsu Kitô. Việc tôn kính các Thánh và tôn kính Đức Maria, thực ra cũng chỉ là tôn kính Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, bởi vì các Thánh, một mặt thì có dạng cá nhân, ngã vị duy nhất, độc đáo, nhưng mặt khác, có dạng chẳng qua chỉ là một chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô...

Quả thật, thuở ban đầu, chính Phaolô cũng gọi các tín hữu là các thánh. Các thánh ở đây không phải là đã đạt được lý tưởng theo quan niệm thánh hiền, chẳng hạn như trong Khổng giáo, trong các triết thuyết của Hy Lạp mà một số người đã thực hiện được, ví dụ như Epictète [Epictète là một triết gia theo chủ nghĩa Khắc kỷ Hy Lạp. ông sinh ra như là một nô lệ tại Hierapolis, Phrygia và sống ở Rome cho đến khi bị trục xuất, và đến sống tại Nicopolis ở phía tây bắc Hy Lạp cho đến hết đời. Những lời dạy của ông đã được học trò Arrian chép ra và xuất bản trong các tác phẩm Discourses và Enchiridion của ông. (Wikipedia)], Marc Aurèle, như Thất Thập Nhị Hiền của Khổng giáo, nhưng chỉ là con người, dù đã lỡ lầm sa đọa đến đâu, trong một giây phút nào đó được ánh sáng hoàn hảo, từ Mặt Trời công chính là Đức Giêsu Kitô, rọi vào.

Nói một cách cụ thể, chẳng hạn chiếu chỉ vua thì được gọi là "thánh chỉ", không phải do bản chất tấm lụa hoặc tấm giấy viết chiếu chỉ là quý nhưng, cho dẫu chiếu chỉ được viết trên một tấm giấy bổi tầm thường, mà một khi đã được triện son của đấng quân vương đóng vào thì cũng trở thành "thánh chỉ". Người Kitô hữu quỳ gối trước bất kỳ ảnh tượng của một vị thánh nào, thì cũng như ngày xưa thần dân quỳ gối trước thánh chỉ, tôn kính không phải tấm lụa hoặc tấm giấy đôi khi rất là tầm thường, nhưng là tôn kính chính dấu ngọc tỉ đã được in lên trên đó. Xét về một phương diện nào, bất cứ ai biết mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Cứu độ, thì khác nào một tờ giấy, dù tầm thường đến đâu, biết trải rộng ra để Đấng Toàn năng in dấu ấn của Ngài vào, và thế là trở thành "Thánh chỉ".

Vì vậy, gần đây có một người phụ nữ rất tầm thường, rất hèn yếu, như là mẫu mực của đức khiêm tốn, vẫn cả dám nói là mình nhất định trở thành một vị thánh lớn; thoạt mới nghe qua, có vẻ như người đó quá tự kiêu, nhưng "thánh lớn", theo quan niệm Kitô giáo, không phải là hoàn toàn do công trạng của mình mà trở nên thánh nhân, trượng phu, quân tử, anh hùng, nhưng chỉ là khiêm tốn biết rằng mình hoàn toàn được Thiên Chúa yêu thương cứu độ và mình mở rộng lòng đón nhận ơn cao trọng đó: vì vậy. sự thánh thiện mà người nữ yến hèn ấy, tức là Têrêsa Hài đồng Giêsu, muốn vươn lên và tin tưởng mình sẽ thực hiện được, chẳng qua chỉ là sự thánh thiện của chính Thiên Chúa và con người được mời gọi thông dự vào mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh

Và bây giờ, tôi xin trình bày một điểm khác: đó là việc tôn kính các Thánh trong đời sống tôn giáo của Kitô giáo, nhất là của Công giáo. Bất cứ con người nào cũng được mời gọi thông dự hai chiều và gần như đồng hóa với chính Đức Giêsu Kitô, như thánh Phaolô đã nói: "Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, nhưng Đức Kitô sống trong tôi", và cũng chính vị Tông đồ dân ngoại cũng đã nói: "Anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Thánh Thấn Thiên Chúa ngự trong anh em" (lCr 3,9b-11.16-17), hoặc là như Đức Chúa Giêsu đã hứa hẹn, “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy" (Ga 14,23-29).

Một Kitô hữu đón nhận Tin vui. chịu các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể để kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, thi có một phần nào trở thành như Thiên Chúa, thể hiện một cách hoàn hảo hình ảnh Thiên Chúa trong chính bản thân mình, mà đã là hình ảnh của Thiên Chúa, thì đương nhiên việc tôn kính các hình ảnh của Thiên Chúa là hợp tình hợp lý.

Những mẫu người mà cộng đoàn Kitô giáo, cách riêng là Công giáo nhìn nhận như là đã được thông dự, đồng hóa cách nào đó với chính Đức Giêsu Kitô, trở nên đối tượng của việc tôn kính, tất nhiên là không phải là tôn thờ, "adoration" - sự tôn thờ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa. Những mẫu người đó, trước hết là những gương mẫu mà Giáo hội nêu lên để các tín hữu bắt chước noi theo, đồng thời còn là một khích lệ, bởi vì dù có thánh đến đâu thì cũng chỉ là thân phận con người, lúc nào cũng phải phấn đấu với bản thân, phải dứt bỏ khỏi những quyến rũ và có nhiều khi phải ngoi lên khỏi những sa ngã trầm trọng... để qua đó cho bất cứ ai cũng đừng tuyệt vọng, miễn là chưa trút hơi thở cuối cùng, chỉ cần quay đầu lại trong chốc lát thì có khả năng đạt được chính cái cứu cánh của mình.

Vả chăng, như thánh Phaolô, một vị thánh có thể nói là lớn nhất trong Kitô giáo, đã than thở rằng: "Thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi... Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này" (x. 2Cr. 12,7...). Thánh nhân quả quyết: "Thiên Chúa không để anh em bị thử thách quá sức" (x. lCr 10.13); và đồng thời cũng than thở: “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm. Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?" Và ngài tự trả lời: "Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!” (Rm 7, 15-16… 24). Những vị mà cộng đoàn Ki tô giáo, nhất là Công giáo, tôn lên bậc hiển thánh, chẳng qua chỉ là những con người được cứu rỗi mà thôi, chứ chính bản thân các ngài luôn luôn ý thức mình là kẻ tội lỗi, luôn luôn cảnh giác phấn đấu, ý thức rằng, dù lên cao đến đâu cũng vẫn có thê sa ngã, và có những người đã sa ngã.

Tôi xin kể lại một câu chuyện, đó là thánh Đômincô, một trong những vị thánh lớn của Công giáo. Một lần, đang lúc đêm tối, thánh nhân với một môn đệ của mình trú lại trong một căn lều chật hẹp. Người môn đệ vô ý khạc nhổ văng trúng mặt ngài và liền hoảng hốt xin ngài tha lỗi. Thánh nhân đã trả lời: “Không sao đâu con, con làm đúng rồi đó! Trong vũ trụ này, chỉ có mặt cha là đáng để bị khạc nhổ vào”; nghĩa là những vị thánh của Kitô giáo là những con người càng lên cao bao nhiêu càng ý thức được thân phận hèn kém tội lỗi của mình bấy nhiêu, vì thế cho nên, nhân đức yêu mến đã đành, nhưng luôn có kèm theo nhân đức khiêm nhượng trong lòng, tự xem mình như là kẻ rốt cùng của nhân loại, chẳng qua được Thiên Chúa ban ơn Cứu độ và biết mở rộng lòng đón nhận ơn Cứu độ ấy mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.