Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 13

 


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Được Thiên Chúa trả lời, linh hồn này cảm thấy sự sầu khổ lúc tăng lúc giảm. Và linh hồn cầu nguyện như thế nào cho Hội Thánh và cho mọi người.

13. Khi ấy, linh hồn bốc cháy lửa ước nguyện trước tình thương bao la của Thiên Chúa, đã đoái nghe nó tha thiết nguyện cầu, và làm dịu đi sự cay đắng sầu khổ. Đó là sự sầu khổ đắng cay bởi tội lỗi xúc phạm đến Thiên Chúa, gây thảm hoạ cho Hội Thánh, và cùng lúc nhìn ra sự khốn nạn yếu hèn của mình. Nước mắt nó vơi đi, nhưng rồi lại giàn giụa trào ra, khi Thiên Chúa chỉ cho nó biết con đường hoàn thiện, những hình ảnh xúc phạm đến Ngài, cùng nhiều linh hồn liều mình hư đi.

Được soi sáng, linh hồn biết về mình và về Thiên Chúa nhiều hơn, bởi cảm nghiệm lòng nhân hậu của Thiên Chúa ở trong mình. Linh hồn nhìn thấy lòng nhân hậu ấy như nhìn trong tấm gương của Đấng Toàn Thiện, cùng lúc linh hồn chiêm ngắm phẩm giá của mình và sự thấp hèn của con người. Phẩm giá ấy đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, nhờ ân sủng chứ không bởi công trạng của nó. Thấp hèn, vì những nhuốc nha tội lỗi nó đã xúc phạm đến Thiên Chúa, nó nhìn thấy rõ trong gương toàn hảo của Ngài (Xc Ga 3:2 và Gc 1:24). Càng được soi sáng, càng hiểu biết, sự đau đớn càng gia tăng; nhưng rồi lòng cậy trông vào Đấng Chân Lý tối cao đã làm giảm đi sự đau đớn ấy.

Ngọn lửa bốc lớn hơn khi được chất thêm củi; cũng thế, lửa cháy trong linh hồn này bùng lên, đến nỗi thân xác không chịu nổi. Phải chết mất, nếu linh hồn không được Đấng Quyền Năng tiếp sức cho. Được tẩy sạch vết nhơ bởi lửa tình yêu, mà linh hồn gặp được từ sự hiểu biết Thiên Chúa và về mình, đồng thời phát sinh sự khao khát ơn cứu độ cho các linh hồn, cùng sự canh tân Giáo Hội, đang khốn bởi phong cùi. Linh hồn tin cậy vào Thiên Chúa, và cầu nguyện như ông Môisen xưa (Xc Xh 32:11) rằng: Lạy Cha, xin Cha dủ lòng thương xót trên dân này, là nhiệm thể Giáo Hội của Cha. Xin Cha thương xót, để họ nhìn thấy lòng từ bi nhân hậu của Cha, là Đấng đã lôi kéo họ ra khỏi sự tối tăm tội lỗi và án phạt đời đời, họ sẽ ca ngợi Cha vinh hiển, hơn là chỉ mình con làm được, đứa khốn nạn đã từng xúc phạm đến Cha, và đã thành cớ sinh ra mọi sự dữ. Con nài xin Cha, Đấng Tình Yêu vô biên, xin cứ sát phạt con đi, nhưng mở tình thương cho dân này, dân riêng của Cha (Xc Xh 32:31-32). Con không rời khỏi tôn nhan Cha, bao lâu con chưa thấy Cha thương xót dân này.

Vì nào có nghĩa lý gì, nếu con được sống muôn đời, khi vận mạng dân này của Cha là sự chết, và khi tối tăm còn phủ lên Hiền Thê của Con Một Cha, nhất là vì tại tội lỗi của con, của con chứ không phải ai khác! Cha ơi! Con nài van Cha thương xót dân của Cha, nhân danh tình yêu mà Cha đã tác tạo con người theo hình ảnh và giống Cha, khi phán rằng: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Chúng Ta, giống Chúng Ta (St 1:26). Và khi Cha thực hiện, Cha đã muốn con người được thông phần bản tính Thiên Chúa Ba Ngôi tối cao và vĩnh cửu. Cha cho nó trí nhớ, để nó luôn tưởng nhớ các hồng ân của Cha, nhờ đó nó được chia sẻ quyền năng Cha. Cha cho nó trí tuệ, để nó nhìn biết sự toàn thiện Cha, cùng được chia phần đức khôn ngoan của Con Một của Cha. Cha ban cho nó trái tim, để nó yêu mến những gì trí tuệ xem thấy và hiểu biết về Đấng Chân Lý dịu hiền, nhờ đấy nó được hưởng tình yêu của Thánh Thần.

Điều gì đã ép Cha nâng con người lên cao trọng dường ấy? Chính là tình yêu vô bờ bến của Cha, đã dành cho loài người Cha tạo dựng, Cha yêu thương nó quá đỗi; sáng tạo nó, cho nó cái hiện hữu, để nó được hưởng Cha, là Đấng Tốt Lành vô cùng. Con biết: khi phạm tội, con người mất phẩm giá mà Cha đã cho nó. Nó phản loạn chống lại lòng nhân hậu của Cha, và trở thành kẻ thù nghịch. Nhưng, cũng một tình yêu Cha tạo dựng nó, Cha đã muốn nâng nó dậy và cứu nó khỏi vực sâu thẳm nó đã trót sa vào. Thay vì lên án tội phản loạn, Cha muốn có sự hoà giải, khi Cha sai Ngô Lời Con Một của Cha, đến làm trung gian giữa Cha và chúng con. Chúa con đã trở nên sự công bình cho chúng con (Xc 1Cr 1:30), khi gánh lấy mọi bất công của chúng con. Ôi! Lạy Chúa Cha hằng hữu, Cha đã ban cho chúng con Ngôi Lời của Cha, Ngài đã mặc nhân tính và làm người như chúng con, để cứu chúng con.

Ôi, tình yêu bao la, tại sao trái tim không nổ tung ra, khi nhìn biết Đấng Cao Cả vô cùng hạ mình xuống mặc lấy bản tính thấp hèn của chúng con. Chúng con là hình ảnh Cha, này Con Cha lấy hình ảnh chúng con, che phủ bản tính thần linh, dưới đám mây đen khốn nạn nơi xác thịt hư hỏng của Ađam, chỉ vì để loài người được giao hoà với Cha! Ôi, vì sao vậy thưa Cha? Chỉ vì yêu thương, Thiên Chúa làm người để con người được trở nên thần thánh. Nhân danh tình yêu đã thôi thúc Cha, xin Cha thương xót các vật thụ tạo của Cha. Thưa Cha, con nài van Cha.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 12

 


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Nhắc lại một vài điều nói trên, Thiên Chúa an ủi các tôi tớ Ngài, cùng sự canh tân Giáo Hội bằng con đường chịu đau khổ, như thế nào?

12. Cha là Đấng Chân Lý đã dạy con một giáo lý, để con đạt tới đức trọn lành và sống thánh thiện. Cha cũng đã giải thích cho con, phải làm thế nào để tẩy xoá tội lỗi và được tha hình phạt, khi nói rằng; đau khổ ở đời này nguyên nó không đủ để tẩy xoá tội lỗi và tha hình phạt, nếu nó không kết hợp với đức mến, với lòng thống hối ăn năn ghét tội thật tình, và đức mến cũng như lòng thống hối ăn năn ấy không vì lý do nào khác, ngoài lý do xúc phạm đến Cha, là Tình Yêu.

Cha giải thích điều này, theo như con đã xin Cha cho được chịu hy sinh: hy sinh thể chất lẫn tinh thần, tựa như dâng binh nước lên ông chủ. Người ta không thể dâng nước mà không có binh, và ông chủ không hài lòng khi nhận cái bình mà không có nước. Ấy vậy, Cha muốn nói; các con hãy dâng lên Cha cái bình đầy lao nhọc thân xác do Cha gửi đến, bất cứ từ đâu, lúc nào, và bao nhiêu, tất cả là tuỳ ý Cha. Nhưng bình này phải đầy, nghĩa là các con phải chịu đựng với tấm lòng yêu mến, nhẫn nại chấp nhận mọi lỗi lầm của tha nhân, với lòng chê ghét tội lỗi. Cái bình của chúng con khi ấy sẽ đầy nước ân sủng của Cha ban sự sống, và Cha sẽ vui nhận lễ vật hy sinh của các linh hồn trung thành trung tín dâng lên Cha. Cha đoái nhìn đến những lo âu, những ước nguyện, những giọt nước mắt, những thao thức, những nguyện cầu tha thiết của họ, tất cả đều là dấu chỉ của tình yêu, sẽ làm dịu đi cơn thịnh nộ của Cha đối với các kẻ thù địch Cha, những con người xấu xa phạm biết bao tội lỗi.

Ấy vậy, các con hãy chấp nhận đau khổ, và dũng cảm cho đến chết như bậc nam nhi, đó là dấu các con yêu mến Cha. “Một khi đã tra tay cầm cày, đừng nhìn lại đằng sau” (Lc 9:62), vì sợ hãi một tạo vật hay một khốn khổ nào. Trái lại, “còn tự hào khi gặp gian truân thử thách” (Rm 5:3); thế gian sẽ vui mừng vì những hành động bất công của nó (Xc Ga 16:20), còn các con hãy than khóc những việc nó làm khổ Cha, cũng là làm khổ chúng con, vì những gì làm khổ chúng con cũng là làm khổ Cha (Xc Ga 16:3), bởi Cha với chúng con đã nên một (Xc Ga 17:21-23).

Con biết rõ Cha đã sáng tạo các con theo hình ảnh và giống Cha (Xc St 1:27). Khi phạm tội, chúng con mất tất cả những ơn ấy; và để lấy lại sự sống ân sủng cho chúng con, Cha đã kết hợp bản tính của Cha với các con, mang lấy nhân tính của chúng con. Cha đã cấu tạo các con theo hình ảnh Cha, giờ đây Cha nhận lấy hình ảnh chúng con, để làm người. Như vậy, Cha làm một với các con bao lâu linh hồn không lìa bỏ Cha vì phạm tội trọng; bởi vì ai yêu mến Cha sẽ ở trong Cha và Cha ở trong nó (Xc Ga 14:23).

Đấy là lý do, tại sao thế gian ghét các con. Vì thế gian không có gì giống Cha, nên đã kết án Con Một của Cha và treo trên Thập Giá cách nhục nhã. Nó cũng đối xử với các con như vậy, nó bách hại các con và sẽ bách hại tới khi các con chết, vì lẽ nó không biết Cha, “nếu nó biết, nó đã yêu mến Cha và yêu thương các con” (Ga 15:18), nhưng các con đừng lo buồn, vì “nỗi buồn của các con sẽ trở thành niềm vui” (Ga 16:20) trên Nước Trời.

Cha nói thêm cho con, nhiệm thể của Hội Thánh càng chịu nhiều phiền muộn bây giờ, sẽ càng được vui mừng và an ủi sau này. Khi ấy, điều an ủi cho Hội Thánh là sự canh tân và đời sống thánh thiện của các chủ chăn tốt lành, làm vinh danh Cha, và luôn toả hương thơm các nhân đức. Chính hàng giáo phẩm và giáo sĩ trong Giáo Hội cần được canh tân, chứ không phải Giáo Hội, Hiền Thê của Con Cha, bởi vì sự trinh tiết của nàng không mắc tì ố hay bị huỷ hoại bởi tội lỗi nơi các tôi tớ của nàng.

Vậy hỡi con Cha cùng với các tôi tớ của Cha, các con hãy vui mừng trong mọi gian nan thử thách, vì Cha là Chân Lý vĩnh cửu, Cha hứa cho chúng con được an ủi và hân hoan, khi nhìn thấy Hội Thánh được canh tân, sau bao nỗi đắng cay sầu khổ chúng con dâng lên Cha cho sự canh tân này.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Chuỗi Mân Côi và đời sống chiêm niệm



Nhân tháng Mân Côi, xin chia sẻ những chiêm nghiệm của Thầy Nguyễn Khắc Dương:

CHUỖI MÂN CÔI
VÀ ĐỜI SỐNG CHIÊM NIỆM

+ THẾ TÂM NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

MỤC LỤC:
● Ave Maria.
Phần I: Chuỗi hạt Mân Côi một kho tàng thiêng liêng vô tận.
Phần II: Để nhớ đến Mẹ Thầy và cùng Ngài nhớ đến Thầy.
Phần III: Khi lần hạt Mân Côi ta xin ơn gì cùng Đức Mẹ.
Phần IV: Lần hạt Mân Côi với tất cả khả năng tâm hồn.
Phần V: Đưa cuộc sống thiết thực hằng ngày lồng vào chuỗi Mân Côi.
Phần VI: Ý nghĩa cuộc đời trong chuỗi hạt Mân Côi.
Phần VII: Cùng hai Trái Tim Chí Thánh trở nên trái tim của Hội Thánh.
Phần VIII: Một ví dụ gợi ý về cách ngắm một mầu nhiệm trong chuỗi hạt Mân Côi.
● Vài lời minh xác.
● Chiêm niệm bên vệ đường

- Đường dẫn tải sách:


Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 11 (tiếp theo)

 


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

11 (tt) - Ơn thông hiểu thánh hiện hướng dẫn mọi khả năng phục vụ Cha cách can đảm và đại lượng; nó dạy yêu thương tha nhân đến bỏ mạng vì ơn cứu độ các linh hồn, cả ngàn lần nếu có thể. Nó chấp nhận mọi đau khổ và khó nhọc vì đời sống ân sủng của tha nhân. Nó cũng không tiếc của cải vật chất trong việc chia sẻ với tha nhân. Đấy, hành động lớn lao của ơn thông hiểu, phát xuất từ đức ái.

Con thấy đó, mẫu mực do ơn thông hiểu vạch ra, nó cho biết bổn phận đối với tha nhân mà linh hồn phải tuân theo, nếu muốn được sống trong ơn thánh sủng. Nó phải yêu mến Cha một tình yêu vô bờ bến, không tính toán; đối với tha nhân nó cũng phải yêu mến, nhưng là tình yêu phải cân nhắc và có trật tự, như Cha đã nói, là không được làm điều xấu nhằm mưu lợi ích cho người khác. Đấy cũng là điều tông đồ Phaolô đã khuyến cáo khi nói rằng: tình yêu có trật tự là tình yêu bắt đầu từ chính mình. Làm cách khác, là không phục vụ tốt tha nhân. Bởi vì linh hồn không trọn lành, thì tất cả những điều nó có thể làm cho mình và cho người khác đều không trọn hảo. Để cứu một tạo vật hữu hạn, mà xúc phạm đến Cha, là Đấng Vĩnh Cửu và Vô Biên, là điều có nên hay không? Không nên, mà còn là trọng tội không thể đền bù được bởi việc lành nó làm ra; thế nên người ta đừng bao giờ phạm tội.

Đức ái chân thật hiểu rõ điều này, vì nó có ánh sáng của ơn thông hiểu. Ánh sáng đẩy lui tối tăm, tiêu diệt ngu dốt, tạo được nhân đức, và là yếu tố trợ lực cho đời sống thiêng liêng. Nó là đức khôn ngoan không thể lầm đường, là sức mạnh vô song, là sự kiên nhẫn tới cùng. Nó trải dài từ trời tới đất; nó đi từ sự hiểu biết về Cha đến sự hiểu biết về mình, từ tình yêu mến Cha đến tình yêu thương tha nhân.

Nhờ có đức khiêm nhường chân thật, linh hồn tránh được mọi cạm bẫy thế gian; nhờ có đức khôn ngoan, nó thoát được mọi quyến rũ của thế tục. Với đức nhẫn nại, linh hồn với tay không xua đuổi được ma quỷ, cũng như thắng được tính dục xác thịt, nhờ ơn thông hiểu soi sáng mà biết được sự yếu đuối của mình, đồng thời biết chê ghét cái gì đáng chê ghét. Chính vì vậy, mà linh hồn coi rẻ thế gian, khinh chê và đặt nó dưới chân, để linh hồn thành bá chủ.

Bởi vậy, mọi bạo lực trần gian không thể cự lại được nhân đức của một linh hồn; ngược lại, chỉ làm nó tăng lên và vững mạnh hơn. Vì nhân đức sinh ra bởi tình yêu, như đã nói, chịu thử thách khi gặp tha nhân, và gia tăng khi phải đối mặt với họ. Chính vì lý do này, linh hồn cần có cơ hội để xuất diện, để giãi sáng trước mặt mọi người mỗi khi chịu thử thách, để thiên hạ nhìn thấy sự thẳm sâu của linh hồn. Không có một nhân đức nào trọn hảo và sinh nhiều hoa trái, lại thiếu mặt tha nhân, làm trung gian và chứng nhân.

Linh hồn ví như một phụ nữ mang thai đứa con trai, nếu nàng không sinh nó ra, nếu nàng không cho người ta thấy đứa con ấy, chồng nàng không thể nói anh ta có một đứa con trai. Và Cha, Cha là Hôn Phu của linh hồn, nếu linh hồn không sinh ra đứa con, gọi là nhân đức, trong tình yêu thương tha nhân; nếu nó không tỏ ra nhân đức ấy khi người ta đòi hỏi nó, cách chung hay cách riêng, thì như Cha đã nói, và nói lại rằng: nó không có nhân đức. Cũng thế, khi nói về các nết xấu tội lỗi, tất cả đều lộ ra trước sự có mặt của tha nhân, làm trung gian và nhân chứng.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Tín điều "Các Thánh Thông Công" và việc thờ cúng Tổ Tiên và các bậc Phúc Thần, Hiển Thánh của Dân tộc



TÍN ĐIỀU “CÁC THÁNH THÔNG CÔNG”
VÀ VIỆC THỜ CÚNG TỔ TIÊN VÀ CÁC BẬC PHÚC THẦN, HIỂN THÁNH CỦA DÂN TỘC.

+ THẾ TÂM NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

“Và Thiên Chúa đã đẹp lòng chấp nhận Abel và của lễ của ông ta” (Sáng Thế 4,4b).
Và Thiên Chúa nói với Nôe: “Đây là dấu hiệu giao ước mà ta thiết lập giữa TA và TẤT cả mọi sinh linh trên mặt đất” (Sáng Thế 4,17).

I.
Tòng giáo năm 1949 (tức là trước công đồng Vaticanô 2), tôi phải đoạn tuyệt với truyền thống thừa kế từ một nền văn hoá xây dựng trên nền tảng Khổng giáo, vốn lấy đạo Hiếu làm gốc mà việc thờ cúng tiền nhân là một điều quan trọng vào bậc nhất.

– Cụ thể là tôi không được:
1) Thờ cúng Tổ Tiên.
2) Thờ cúng các vị Phúc Thần, Hiển Thánh tức là các Tiền nhân có công đức lớn lao đối với địa phương, với Đất Nước, với nhân dân mà lòng sùng bái của hậu thế đã đặt lên bàn thờ (và phần lớn được Nhà Vua, tức là vị Thiên Tử, thay mặt Trời ban tặng Sắc Phong)
– Vì việc Thờ phụng ấy bị xem như là Thờ Ngẫu Tượng (IDOLATRIE).

II.
Thực ra việc thờ phượng ấy bao hàm một số niềm tin (croyances) về ý nghĩa nhân sinh sau đây:
1) Người chết vẫn tồn tại và vẫn có sự tương ứng với người còn sống một cách nhiệm mầu.
2) Nếu những người quá cố ấy là những kẻ có công đức to lớn thì được TRỜI cho siêu thăng và được ban cho dự phần vào việc hoá dục muôn vật và phù trợ cho hậu thế: con cháu, đồng bào, đồng loại tương tự như Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng được Thiên Chúa giao cho việc rắc xuống trần gian những đoá hoa hồng. Và như vậy là TRỜI tỏ cái Đạo Lý công bằng tài bồi cho những người Công Chính trước mặt Ngài.

Thờ cúng tiền nhân có công đức là tuân Đạo Trời, là thờ Trời một cách gián tiếp. Vì chỉ có Nhà Vua mới được trực tiếp thờ Trời: ba năm một lần Tế Giao rất trọng thể, tôn nghiêm với bá quan Văn Võ. Rồi đến Quan Chức mới được thờ Thần Thánh, còn thường dân thì chỉ thờ Tổ Tiên.

Niềm tin ấy và việc thờ phượng ấy xét ra không có gì là trái với Đức Tin Kitô Giáo. Vì trong căn bản là một nhân sinh quan lấy Đạo Lý làm nền tảng và Đạo Lý ấy là bởi Trời. Không phải không thờ Trời, mà có lòng khiêm cung sâu thẳm, không dám phạm thượng làm cái việc thiêng liêng chỉ dành riêng cho Nhà Vua (tương tự như Giáo dân không làm lễ, đó là việc Thiêng liêng chỉ dành cho các linh mục). Bắt người tòng giáo đoạn tuyệt với một truyền thống tốt đẹp như vậy là không hợp lý hợp tình!

III.
Sau Vaticano 2 người Công Giáo được phúc thờ cúng Tổ Tiên và tham dự việc thờ cúng Phúc Thần và Hiển Thánh. Nhưng hình như chỉ với ý nghĩa bày tỏ lòng tôn kính tri ân chứ không nêu rõ ý nghĩa:
1) Những người công chính, dù chưa được đón nhận tin vui, cũng được siêu thăng vinh hiển (dĩ nhiên là quy về sự siêu thăng vinh hiển tột đỉnh của Đức Giêsu Kitô Phục Sinh),
2) Và như vậy thì được Thiên Chúa trao cho nhiệm vụ làm trung gian ban các ơn phúc của Ngài cho người dương thế, như Ngài đã giao nhiệm vụ ấy cho các Thánh Kitô hữu, theo tín điều “Các Thánh Thông Công” trong kinh Tin Kính.

IV.
Vậy có thể lấy tín điều “Các Thánh Thông Công” làm nhịp cầu nối lại (không đoạn tuyệt nữa!) Đức Tin Kitô Giáo với các truyền thống thờ cúng Tiền nhân của Dân tộc Việt Nam mà không có gì là lạc giáo (hérétique). Đồng thời cũng là mở một cánh cửa để người Việt Nam ngoài Công Giáo nhìn vào Giáo Hội với ít nhiều thiện cảm và thấy gần gũi, bớt xa lạ.

Để minh hoạ suy nghĩ trên đây xin hình dung một ngôi đền thánh có ba dòng Thánh song song hàng dọc:
1) Dòng ở giữa gồm các Thánh Tân Ước.
Hai bên tả hữu:
2) Một bên là dòng gồm các Thánh Cựu Ước.
3) Một bên là dòng gồm các Thánh Tiền-Cựu-Ước (hay Nguyên Ước).
Dòng thứ 3 khởi đầu là người Công Chính Abel và kế tiếp là các vị tiền nhân Công Chính của mọi gia đình, mọi dân tộc, tuy là không thuộc về Giao ước Abraham nhưng cũng được siêu thăng vinh hiển.
Như vậy ắt hẳn là phù hợp với niềm tin vào tính phổ cập của ơn Cứu Độ trong Đức Giêsu Kitô hơn.

● Và để kết luận:

Trong bài Kinh Năm Thánh 2000 (Phần 4) khi nhờ các Thánh chuyển cầu, đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo 2 có “Nhờ lời cầu xin của NHỮNG NGƯỜI CÔNG CHÍNH THUỘC MỌI DÂN, MỌI THỜI”. Có phải chăng Ngài đã mặc nhiên công nhận rằng: Những người công chính thuộc MỌI DÂN, MỌI THỜI, cũng đã được siêu thăng vinh hiển và có khả năng chuyển cầu cho nhân thế trước mặt Thiên Chúa là Vị Cha Chung; chẳng khác gì các người công chính đã được Giáo Hội minh nhiên phong Hiển Thánh.

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 11



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Việc sám hối ăn năn và những việc hành xác chỉ là phương thế đạt tới nhân đức, chứ đừng coi là điều chủ yếu.

11. Đấy, con xem những hoa trái việc lành, mà Cha muốn thấy linh hồn phải thể hiện, để chứng tỏ mình có nhân đức trong những lúc phải thử thách. Cha đã nói với con, nếu con còn nhớ, khi con giao ước làm việc đền tội thật lớn lao, con có nói: “Con có thể làm gì để chịu đau khổ vì Cha, thưa Cha?”. Và Cha đã trả lời trong tâm hồn con bằng những lời đơn giản, như sau: “Cha là Đấng ưa người nói ít, làm nhiều”. Như vậy, là để con biết Cha không thích những tiếng la lối om sòm; “Lạy Chúa, con muốn làm một việc gì cho Chúa” (Xc Mt 7:21), giống như kẻ hành xác mình, nhưng lại không muốn từ bỏ ý riêng, rồi tưởng như vậy là đẹp lòng Cha. Điều Cha muốn là sống nhẫn nại và can đảm chịu đau khổ, cùng nhiều nhân đức nội tâm khác, nhờ sức mạnh của ân sủng. Tất cả những gì người ta làm ngoài nguyên tắc này, Cha coi như là nói suông nói nhiều, và chỉ là việc làm có giá trị hữu hạn, trong khi Cha là Đấng Vô Biên, muốn việc lành và một tình yêu cũng vô biên.

Cha muốn con biết rằng: việc khổ chế đền tội và các hành vi khác, chỉ là con đường tiến đến nhân đức, chứ không phải là bản chất của nhân đức. Chúng chỉ là những việc làm có giá trị hữu hạn, giống như tiếng nói một khi xuất khỏi môi miệng là tan đi, vì nó không đến từ sự cảm thương của linh hồn, chỉ linh hồn mới cảm thụ và sinh ra nhân đức. Một tiếng nói phát ra từ lòng cảm mến sẽ đẹp lòng Cha, là vì không phải chỉ có tiếng nói, nhưng trong đó còn có sự hiểu biết. Ơn thông hiểu này thúc đẩy linh hồn thực thi việc lành bác ái, và coi các hành vi kia chỉ là phương thế để đạt tới đức ái.

Như vậy, không nên lấy việc hãm mình đền tội và những hoạt động bên ngoài khác làm mục tiêu chính phải nhắm tới trong đời sống thiêng liêng, vì như Cha đã nói với con, chúng là những việc lành có giá trị hữu hạn và thực hiện trong thời gian có hạn, đến độ đôi khi con nên ngưng làm, và buộc phải ngưng làm. Có thể vì hoàn cảnh hoặc lệnh của bề trên, mà cứ làm sẽ chẳng có công lênh gì, lại còn mắc tội. Con thấy chưa? Những việc lành hữu hạn là vậy, nên hãy coi chúng chỉ là phương tiện đạt tới nhân đức, chứ không phải là mục tiêu hay bản chất nhân đức. Lấy chúng làm mục tiêu, linh hồn sẽ trở nên trống rỗng mỗi khi buộc phải ngưng một thời gian.

Như Thánh Phaolô tông đồ, người hùng của Cha đã nói: anh em hãy kềm chế xác thịt, hãy giết chết ý riêng, khi chúng muốn nổi dậy chống tinh thần. Ý muốn của anh em phải trói nó lại, bắt nó suy phục ý muốn của Thiên Chúa. Phải thắng ý riêng bằng ơn thông hiểu, là ơn làm cho linh hồn chê ghét tội lỗi và đam mê xác thịt, cùng biết sự thật về mình. Đó là khí giới đem lại thắng lợi, là diệt được lòng tự ái và ích kỷ.

Sống như thế, là họ dâng lên Cha không những lời nói, mà còn nhiều việc lành, làm vui lòng Cha. Đấy, tại sao Cha nói với con rằng: Cha ưa thích nói ít mà làm nhiều. Cha nói “nhiều”, nhưng không nói con số, bởi vì sự thương cảm của linh hồn bắt nguồn từ đức ái là nhân đức ban sự sống cho các nhân đức khác và mọi việc lành. Về lời nói, không phải Cha muốn loại trừ nó, Cha chỉ muốn bảo rằng: Cha không ưa nhiều lời, bởi vì các việc lành bên ngoài chỉ có giá trị hữu hạn. Chúng chỉ đẹp lòng Cha, khi người ta coi chúng là đường đi, là phương tiện, để tập tành các nhân đức, chứ không phải là bản chất nhân đức.

Đừng lấy sự chịu khổ đền tội làm thước đo sự trọn lành trong đời sống thiêng liêng. Vì như Cha đã nói, nhân đức cũng như phần thưởng không hệ tại ở những việc làm ấy, vì có nhiều người, vì lý do chính đáng nào đó, không thể làm được thì sao? Nhân đức và công trạng là ở tại đức ái được soi sáng bởi ơn thông hiểu. Ơn này không làm luật lệ cho tình yêu của Cha, vì Cha là Đấng Chân Lý vĩnh cửu và tuyệt đối, nhưng nó đặt trật tự cho tình yêu đối với tha nhân. Đó là tình yêu dưới ánh sáng của ơn thông hiểu – là ơn xuất phát từ đức ái – nó sẽ hướng dẫn tình yêu tha nhân, để không bị nhầm lẫn, khi muốn làm việc xấu nhằm mưu ích cho tha nhân. Nếu người ta chỉ phạm một tội thôi để cứu cả thế giới khỏi hoả ngục, hay thực hiện một công trình to lớn, thì cũng không nên, vì đó là tình thương thiếu thông hiểu, và vì người ta không được phép làm sự dữ để đạt điều lành.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 10



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Ý nghĩa về sự liên hệ giữa đức ái, đức khiêm nhường và ơn thông hiểu, và linh hồn phải sống theo ý nghĩa này.

10. Con có biết ba nhân đức nói trên liên hệ với nhau như thế nào không? Con hãy hình dung một vòng tròn trên mặt đất, ở giữa vòng tròn là một cây có cái mầm non ghép vào. Cây được nuôi sống bởi đất trong chu vi vòng tròn, nếu không được trồng xuống đất, nó sẽ khô héo, không sinh hoa trái.

Bây giờ con hãy ví linh hồn là cây đó, được sinh ra để yêu và nó không thể sống ngoài tình yêu. Nếu linh hồn không có tình yêu hoàn thiện của Thiên Chúa, nó không sinh hoa trái sự sống, nhưng sự chết. Như vậy, gốc rễ của cây này, nghĩa là tình yêu mến của linh hồn, phải cắm xuống đất, và được nuôi dưỡng trong phạm vi vòng tròn, là sự hiểu biết đúng đắn về mình. Sự hiểu biết về mình lại phải nối kết với Cha, là Đấng không khởi đầu và cũng không tận cùng, giống như trong vòng tròn con quay đi trở lại, mà không hề thấy đâu là đầu, đâu là cuối, nhưng chỉ thấy mình bị nhốt trong đó.

Linh hồn biết về mình và về Cha, sự thông hiểu đặt trên đất của đức khiêm nhường, mà diện tích của nó là kích thước của vòng tròn hiểu biết về Cha trong nó. Nếu không, vòng tròn sẽ có khởi đầu và có tận cùng. Có khởi đầu, đó là biết mình nhưng rồi tan biến vào hư vô, nếu nó tách rời khỏi Cha. Như vậy, cây đức ái phải được nuôi dưỡng trong đất khiêm nhường; cây này sinh ra một mầm non, đó là ơn thông hiểu. Cái tuỷ của cây đức ái trong linh hồn là đức nhẫn nại, nó là dấu chỉ sự hiện diện của Cha trong linh hồn và linh hồn ở trong Cha.

Cây này được trồng cách tốt đẹp như thế, nó sẽ trổ bông nhân đức, có hương thơm khác nhau, nó sinh trái ngon ngọt cho những ai ước ao theo chân các tôi tớ của Cha; thế nên nó tôn vinh và ca tụng danh Cha, là Đấng đã tạo dựng nên nó. Như vậy, nó đạt mục đích, nghĩa là chiếm hữu Cha là Thiên Chúa của nó, Đấng ban sự sống thật, và không ai lấy mất được, trừ phi nó muốn mất. Mọi hoa trái của cây này đều gắn bó với nhau, chúng đều đến từ ơn thông hiểu.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 9



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Vì sao con người không nên quá quan tâm vào việc hành xác đền tội bên ngoài, nhưng phải chú tâm vào việc tập tành các nhân đức. Ơn thông hiểu bắt nguồn từ lòng khiêm tốn, và dạy của ai trả cho người ấy.

9. Đấy, những việc tốt đẹp và lành thánh, Cha đòi phải có nơi các tôi tớ Cha, để biết các nhân đức nội tâm của linh hồn phải chịu thử thách, theo đường lối như cha đã nói. Đối với Cha, những hoạt động bên ngoài cũng như việc hành xác chỉ là cách tập tành các nhân đức, bởi vì những hành vi ấy không phải là nhân đức, và không mấy đẹp lòng Cha. Ví dụ, nếu linh hồn thực thi những việc hãm mình mà thiếu sự phân biệt hay thông hiểu, mà chỉ để ý hãm mình đền tội, nó sẽ sai lầm trên con đường trọn lành.

Cha chỉ muốn tình yêu thôi, với một lòng chê ghét tính ích kỷ, cùng đức khiêm nhường chân thật, đức nhẫn nại kiên cường, lòng khao khát làm rạng rỡ danh Cha và ơn cứu độ các linh hồn. Các nhân đức này là dấu chỉ đã diệt được ý riêng, cũng như đã hãm dẹp được tính dục. Cần phải hiểu rõ mục đích của việc hãm mình đền tội, hãy yêu mến nhân đức hơn hãm mình hành xác, là điều chỉ giúp cho việc tập tành các nhân đức, tuỳ mức nhu cầu và điều kiện của mỗi người.

Lấy việc hành xác đền tội làm chủ yếu và làm nền tảng đời sống thiêng liêng, sẽ làm cản trở con đường nên hoàn thiện. Bởi vì, nó sẽ làm quên đi hoặc xa rời sự biết mình và biết lòng nhân hậu của Cha. Nó cũng chẳng biết yêu mến những gì Cha yêu mến nhất, và chê ghét những gì Cha chê ghét nhất. Ơn thông hiểu không gì khác, là sự biết phân biệt linh hồn cần phải có, để nhận thức đúng về mình và về Cha; chính nhờ sự nhận thức này mà linh hồn biết được nguồn gốc của mình. Đó là cái mầm non được ghép vào đức ái, và sản sinh ra nhiều mầm non khác, tựa như một cây đang phát triển nhiều cành lá. Nhưng sự sống của thân và cành cây là gốc rễ, được trồng dưới đất khiêm nhường, là mẹ nuôi đức ái, nơi mầm sống được ghép vào, trở thành cây thông hiểu hay phân biệt.

Ơn thông hiểu hay phân biệt không phải là nhân đức, cũng không sinh hoa trái sự sống, nếu nó không được trồng dưới đất khiêm nhường, bởi vì đức khiêm nhường xuất phát từ sự nhận thức đúng về mình và về Cha là Đấng Nhân Lành vô cùng, và là sự hiểu biết rất rõ của ai phải trả cho chủ ấy cho thật công minh.

Trước hết, có ơn thông hiểu và phân biệt, linh hồn sẽ trả cho Cha những gì thuộc về Cha, đó là tôn vinh danh Cha, là kể lại những hồng ân và những quà tặng Cha ban; chỉ dành cho mình những gì đúng là của mình, nếu là sự tốt lành thì cũng biết đó là những hồng ân bởi Đấng Nhân Lành ban cho, kể cả cái thực thể hiện có của nó cũng bởi Cha. Nó còn lãnh nhận nhiều ơn khác không phải cho nó, nhưng để đem phân phát cho anh em mình. Nó đáng phải trừng phạt nặng nề, nếu nó vô ơn và không biết sử dụng ngày giờ và các ân huệ ấy. Chính vì vậy, nó phải hối hận và ăn năn sám hối.

Đấy, hiệu quả của ơn thông hiểu và phân biệt, xây trên nền tảng biết về mình, tức khiêm nhường. Không có đức khiêm nhường, linh hồn sẽ không biết gì cả. Không ơn thông hiểu, nó sẽ sinh ra kiêu ngạo, còn như có ơn này, nó sống khiêm nhường. Linh hồn thiếu ơn này, nó sẽ như tên trộm cướp đoạt danh Cha, và làm sáng danh mình; và mỗi khi điều gì không vừa ý xảy ra cho nó, nó đổ lỗi cho Cha, nó kêu ca lẩm bẩm, nó giận dữ về ý định mầu nhiệm của Cha đối với nó và đối với các tạo vật khác, nó bất mãn với Cha và với mọi người

Thái độ của những ai có ơn thông hiểu cũng khác nhau. Sau khi đã trả cho Cha và cho mình những gì phải trả, như Cha đã nói, họ sẽ phải trả cho tha nhân nữa. Trả cái gì? Trả tình thương mến phát sinh từ đức ái, trả lời cầu nguyện khiêm tốn và liên lỉ, là điều mọi người phải làm cho nhau. Rồi còn phải trả cái nợ đối với tha nhân, ấy là cái nợ ban lời giảng dạy và an ủi, gương lành thánh thiện, và tất cả những gì lợi ích cho ơn cứu độ các linh hồn. Con người dù ở bất cứ địa vị nào, ông hoàng, giáo sĩ hay thứ dân, nếu có nhân đức này, thì tất cả những gì họ làm cho tha nhân, họ làm một cách hiểu biết và bác ái. Bởi vì hai điều này không thể tách rời nhau: chúng cùng sống trên đất khiêm nhường là nhân đức đi từ sự hiểu biết đúng về mình mà ra.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Thầy Stêphanô Nguyễn Khác Dương (24.09.1925 - 28.09.2026)




NGUYỄN KHẮC DƯƠNG VÀ MỘT ĐỜI TỰ VẤN GIỮA CÁC NỀN VĂN HÓA

Tác giả: Tino CAO

Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24 Tháng Chín năm 1925 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học bề thế. Cha ông là cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, người đỗ đại khoa dưới triều Nguyễn, từng làm quan, và được nhớ đến như một nhà Nho giữ trọn tiết tháo ở buổi hoàng hôn của nền quân chủ. Anh ông là bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện; chị ông là nhà thơ Nguyễn Thị Thiếu Anh; các em ông có giáo sư Nguyễn Khắc Phi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà hoạt động phụ nữ Nguyễn Thị Phương Thảo (*). Muốn nói về Nguyễn Khắc Dương, phải bắt đầu từ nếp nhà ấy, nơi mà chữ nghĩa, đạo đức, trách nhiệm gia tộc, ý thức kẻ sĩ và cảm thức quốc gia thấm vào đời sống hằng ngày.

Nếp nhà ấy cũng đặt Nguyễn Khắc Dương trước một nghịch cảnh lịch sử. Ông sinh ra khi Nho học đã mất địa vị chính thống, khoa cử bị bãi bỏ, xã hội Việt Nam chịu cảnh thuộc địa, tầng lớp trí thức cũ mất con đường hoạn lộ quen thuộc. Với thế hệ của ông, Nho học đã khép lại lối vào quan trường; phần đáng giá còn lại nằm trong gia phong, luân lí, danh tiết và bổn phận.

Đời Nguyễn Khắc Dương từ đó mang theo nhiều băn khoăn day dứt trước những ngả rẽ không phải dễ lựa chọn: con nhà Nho nhưng học ở trường Công giáo; người từng chịu hấp lực Phật học rồi chọn Kitô giáo; người học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với sự Tây hóa; người giảng dạy trong đại học Công giáo miền Nam mà mang trong mình vùng kí ức Đông phương của một ông đồ xứ Nghệ.

Năm 1938, khi Nguyễn Khắc Dương vào học trường Thiên Hựu (Providence) ở Huế, sự chuyển hướng đầu tiên đã bắt đầu. Một người con trong nếp Nho gia gặp nền giáo dục Công giáo, gặp tiếng Pháp, truyền thống nhân văn châu Âu, một diễn ngôn khác về con người. Trong vũ trụ Nho giáo, con người được đặt trong gia đình, tông tộc, luân thường, phận vị; trong thế giới Công giáo mà ông tiếp xúc, con người tồn tại như một nhân vị độc nhất trước Thiên Chúa, có lương tâm, tự do, phẩm giá và trách nhiệm không thể thay thế. Va chạm ấy không phải chuyện đổi trường. Nó là một biến động trong cách hiểu về mình. Từ đây, Nguyễn Khắc Dương bắt đầu đi vào thế kỉ 20 không phải như một người thừa kế yên ổn của truyền thống mà như một cá nhân buộc phải tự tìm lấy vị trí giữa các truyền thống đang tranh chấp trong chính đời ông.

Sau 1945, đường đời Nguyễn Khắc Dương đi qua nhiều bước ngoặt lịch sử. Ông tham gia một số hoạt động Việt Minh tại địa phương, dạy học ở trường tư thục Công giáo tại Hà Tĩnh, rồi năm 1949 lãnh nhận bí tích Rửa tội với tên thánh Stêphanô. Quyết định theo Công giáo của ông cần được nhìn nhận trong chiều sâu văn hóa của nó. Đó không phải là sự rời bỏ một nền nếp cũ để đi theo một tôn giáo ngoại lai theo nghĩa hời hợt mà nhiều diễn ngôn chính trị vẫn gán cho Công giáo Việt Nam. Đó là một chọn lựa phải đi qua mặc cảm gia đình, qua hình ảnh người cha Nho học, qua bổn phận của người con, ý niệm nối dõi, nỗi băn khoăn trước một tôn giáo bị không ít người Việt thời ấy nhìn như gắn với thực dân.

Cuộc “trở lại” của Nguyễn Khắc Dương không phải một quyết định bất chợt. Đó là lựa chọn hình thành giữa những ràng buộc rất sâu xa của gia phong, đạo hiếu, kí ức Nho học và nhu cầu tự tìm lấy một nền tảng tinh thần cho đời mình. Sau khi vào dòng Phanxicô, tu học tại Vinh, Nha Trang, rồi sang Pháp, ông tiếp tục đi sâu vào một lựa chọn vừa thiêng liêng vừa trí thức. Từ năm 1957 đến 1960, ông học triết học tại Sorbonne và tốt nghiệp cử nhân triết học. Cần định danh chính xác điểm này, vì về sau nhiều người gọi ông là giáo sư, thậm chí có nơi gọi sai là tiến sĩ.

Uy tín của Nguyễn Khắc Dương không phải từ chuyện học hàm theo nghĩa hành chính ngày nay. Ông là “thầy” vì cuộc đời giảng dạy, vì tư thế trí thức, vì ảnh hưởng trên nhiều thế hệ linh mục, tu sĩ, kể cả giám mục. Sau khi về miền Nam năm 1965, ông giảng dạy tại Sài Gòn rồi lên Viện Đại học Đà Lạt, nơi ông giữ vai trò Trưởng ban Triết học và quyền Trưởng khoa Văn - Triết. Đà Lạt khi ấy là một không gian đại học Công giáo có vị trí quan trọng trong sinh hoạt trí thức miền Nam, với những gương mặt như linh mục Lê Văn Lý, linh mục Lê Tôn Nghiêm, và nhiều học giả khác.

Với riêng tôi, cái tên Nguyễn Khắc Dương đi vào trí nhớ gia đình trước khi tôi tìm đọc sách báo và các bài viết về ông. Ba tôi từng là học trò của thầy ở Viện Đại học Đà Lạt từ năm 1966. Từ mấy mươi năm trước, ba tôi đã nhiều lần nhắc đến thầy như một người để lại dấu ấn trong cách học, cách nghĩ và đối diện với đời sống tinh thần. Về sau khi đọc thêm về Nguyễn Khắc Dương, tôi gặp lại ở thầy một bóng dáng quen thuộc. Tư liệu và suy nghĩ của tôi về thầy chỉ giúp mở rộng thêm một kí ức đã có sẵn trong gia đình.

Trong môi trường Đà Lạt ấy, Nguyễn Khắc Dương là một giảng viên triết học mang thân phận giao thoa hiếm có: tu sĩ xuất dòng, người Công giáo tha thiết với đức tin, người con Nho gia, người học triết Tây phương, người từng đi qua kinh nghiệm chính trị thời cách mạng, và sống giữa chiến tranh cùng các ý thức hệ. Vì thế, nhận định của Đỗ Lai Thúy rằng ông là “người đi tìm mình qua những xung đột văn hóa” đã chạm đúng phần cốt lõi trong đời thầy Nguyễn Khắc Dương. Trong ông, Nho, Phật, Lão, Kitô giáo và triết Tây tạo thành một vùng va chạm tư tưởng thật sự. Các truyền thống ấy đòi hỏi, chất vấn, làm ông đau, rồi buộc ông phải chọn lựa. Mỗi lựa chọn mở ra một khả thể tự do, đồng thời để lại một vết thương nội tâm sâu sắc.

Nho học ở Nguyễn Khắc Dương không chỉ là vốn kiến thức cổ điển. Nó là nếp sống, là cảm thức về bổn phận, là ý thức thanh liêm, là một “hạt nhân đồ Nho” mà chính ông từng thừa nhận khó phá vỡ. Cái hạt nhân ấy khiến ông không bao giờ thành một người Tây hóa trọn vẹn, dù học triết ở Pháp và sống lâu trong môi trường Công giáo. Ông tiếp nhận Kitô giáo, nhưng không tiếp nhận vô điều kiện toàn bộ văn minh Tây phương. Ông có thể gần với Đức Kitô, nhưng vẫn dị ứng với một số yếu tố duy lí, duy luật, duy kĩ thuật của phương Tây ngoài Kitô giáo.

Điểm này rất quan trọng để hiểu Nguyễn Khắc Dương. Ông không phải một người Việt bỏ Đông sang Tây. Ông cũng không phải một nhà Nho cố thủ trước hiện đại. Ông sống ở giữa, nơi sự hấp thụ luôn đi kèm sàng lọc. Cái Nho trong ông không chết sau khi ông trở thành người Công giáo. Nó chỉ chuyển vị trí, tuy không còn giữ vai trò hệ tư tưởng bao trùm, nhưng tồn tại như một lương tri đạo đức, một thái độ với danh lợi, một nỗi trọng nghĩa, một cách sống thanh bần và nghiêm cẩn.

Phật học và Lão Trang trong ông cũng không phải thứ trang sức của một trí thức đọc nhiều. Phật giáo từng hấp dẫn ông bằng ý niệm giải thoát, bằng lời mời rời bỏ những ràng buộc của dục vọng, danh vọng, bản ngã và khổ đau. Lão Trang trao cho ông cảm thức về tự do nội tâm, về sự buông lỏng những quy phạm cứng nhắc, về khoảng không của con người trước đời sống. Nhưng nơi Kitô giáo, ông gặp một điều khác với con đường giải thoát thuần túy. Ông gặp một ngã vị yêu thương, một Đức Giêsu chịu đau khổ, vô tội, bị đóng đinh, nhưng vẫn gọi con người bằng lòng thương xót. Nếu Nho giáo đặt ông trong mạng lưới gia tộc và đạo nghĩa, nếu Phật giáo gợi ra con đường thoát khổ, thì Kitô giáo cho ông một cách hiểu mới về nhân vị. Con người không chỉ là con trong nhà, dân trong nước, học trò trong trường, kẻ sĩ trong xã hội; con người còn là một hữu thể được gọi tên trước Thiên Chúa.

Ở đây, lựa chọn tôn giáo của Nguyễn Khắc Dương đồng thời là một lựa chọn nhân học. Ông không chỉ đổi hệ niềm tin. Nói chính xác hơn, ông thay đổi cách hiểu về con người, về đau khổ, về tội lỗi, về tình yêu, về cứu cánh. Chính vì vậy, sự hội nhập Công giáo ở ông không phải chỉ là một motivation xuất phát từ văn hóa. Nó là một cuộc thử lửa trong thân phận. Ông không Việt hóa Kitô giáo bằng cách gắn thêm vài biểu tượng dân tộc. Ông làm cho Kitô giáo có giọng Việt qua chính lối sống của một người con Nho gia, hiểu Phật, biết Lão, học Tây, và không chịu để một hệ thống nào độc chiếm toàn bộ con người mình.

Triết học Tây phương giúp Nguyễn Khắc Dương định danh cho những tương phản ấy. Sorbonne cho ông nền học thuật, nhưng điều ông mang về không phải lòng sùng bái hệ thống. Qua cách giảng dạy và hồi kí của ông, có thể thấy ông không thuộc mẫu trí thức say mê xây lâu đài khái niệm. Ông gần hơn với Pascal, Kierkegaard, Jaspers, Gabriel Marcel và dòng hiện sinh hữu thần, câu hỏi triết học không nằm ở việc lập một hệ thống khép kín mà ở việc đối diện với khổ đau, tự do, niềm tin, cô đơn, cái chết, tình yêu và ơn cứu độ.

Trong miền Nam thập niên 1960, hiện sinh không chỉ là một mốt triết học nhập cảng. Nó trở thành một ngôn ngữ để trí thức nói về chiến tranh, thân phận, tự do, phi lí, lựa chọn cá nhân và sự từ chối các trại tù ý thức hệ. Các tạp chí và giảng đường miền Nam từng bàn nhiều về Sartre, Camus, Marcel, Mounier, Kierkegaard, Jaspers, đồng thời đặt hiện sinh trong tương quan với Phật giáo và hoàn cảnh chiến tranh Việt Nam.

Nguyễn Khắc Dương thở trong bầu khí quyển tự do ấy, nhưng ông không đi về phía hiện sinh vô thần. Ông không lấy phi lí làm điểm tựa. Ông dùng câu hỏi hiện sinh để đi sâu hơn vào nhân vị và đức tin. Bởi vậy, giảng triết đối với ông không phải truyền đạt một chương trình gồm các tên tuổi, học phái, niên đại, thuật ngữ. Ông quan niệm thầy trò chỉ là những người cùng đi trên con đường tìm triết lí cho đời mình; người đi trước có kinh nghiệm thì chia sẻ với người đi sau, không ai sở hữu triết học để ban phát cho ai. Quan niệm ấy giải thích vì sao Nguyễn Khắc Dương có ảnh hưởng rất sâu mà không cần một thư mục tác phẩm đồ sộ. Ông là người thầy hơn là nhà lập thuyết. Ông dạy người học cách tự hỏi trước khi đưa cho họ câu trả lời. Ông biến triết học thành một cuộc thẩm vấn đời sống chứ không để nó thành một môn trang sức của trí thức.

Sau 1975, khi Viện Đại học Đà Lạt trong hình thức cũ chấm dứt, ông đi qua trại cải tạo của chế độ mới, rồi tiếp tục dạy học trong các môi trường Công giáo, nhất là cho đại chủng sinh, tu sinh, các nhóm đào tạo linh mục. Đó là đoạn đời ít được nhắc tới như một sự nghiệp đào tạo đại học, nhưng lại rất quan trọng trong lịch sử trí thức Công giáo Việt Nam. Từ giảng đường đại học miền Nam, triết học của Nguyễn Khắc Dương chuyển vào chủng viện, học viện, nơi ông giúp nhiều thế hệ tu sĩ tiếp cận triết học không như một môn tiền đề khô cứng trước thần học mà như một cách luyện tập lương tâm, nhân vị và tự do nội tâm.

Có thể xem Nguyễn Khắc Dương là một trường hợp đặc biệt của hội nhập văn hóa Công giáo, nơi sự gặp gỡ giữa đức tin Kitô giáo và văn hóa Việt Nam được nghiệm sinh bằng chính đời ông hơn là được trình bày như một luận thuyết thần học. Các thảo luận thần học Á châu, trong đó có Peter C. Phan, thường đặt vấn đề làm sao Kitô giáo có thể nói bằng kinh nghiệm Á Đông trong một môi trường đã thấm nhuần Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, tôn giáo dân gian, cùng các tầng nấc kí ức về quá khứ thuộc địa và thương tích chính trị. Đời Nguyễn Khắc Dương đưa câu hỏi ấy vào một thân phận cụ thể. Nếu dùng khái niệm “cultural additivity,” tức khả năng các giá trị Nho, Phật, Lão cùng tồn tại và tác động trong văn hóa Việt, trường hợp của ông cho thấy sự đồng tồn tại ấy luôn có tính xung đột. Các truyền thống có thể nương tựa, tranh biện, gây đau đớn, đòi con người chọn lựa, rồi bắt con người sống với hệ quả của lựa chọn.

Nguyễn Khắc Dương để Đông và Tây tranh luận trong chính đời mình. Ông giữ hạt nhân Nho gia trong tư cách một người Công giáo, hiểu hấp lực giải thoát của Phật giáo rồi chọn Đức Kitô, học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với duy lí hệ thống, dạy triết như một cuộc đồng hành thay vì một uy quyền của người thầy, sống trong Giáo hội với phẩm chất tự vấn cá nhân. Từ đó, ông gợi ra một lối nhìn khác về Công giáo Việt Nam, vượt khỏi cả định kiến xem Công giáo như yếu tố ngoại lai lẫn nỗ lực hòa tan Công giáo vào văn hóa dân tộc đến mức xóa hết dị biệt. Ở Nguyễn Khắc Dương, Công giáo trở thành Việt Nam bằng cách đi qua kinh nghiệm Việt Nam một cách trung thực; văn hóa Việt tiếp nhận Công giáo bằng cách để những xung đột ấy mở ra một chiều sâu mới về nhân vị.

Nhìn lại Nguyễn Khắc Dương, một người thầy đã đi qua tuổi một trăm, điều còn lại không phải một hệ thống tư tưởng khép kín mà là phẩm cách của một người học không ngừng tự xét mình. Ông đi qua Nho học, Phật học, Kitô giáo và triết học Tây phương như đi qua những đòi hỏi nghiêm khắc của đời sống chứ không phải chỉ là người sưu tập các truyền thống. Chính vì vậy, đời ông gợi ra một bài học khó hơn mọi kết luận: văn hóa chỉ thật sự có nghĩa khi buộc con người thành thật trước câu hỏi về chính mình.


Đối Thoại - Chương 1, 8

 


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Các nhân đức chịu thử thách và nên vững mạnh bởi những nghịch cảnh.

8. Cha đã chỉ cho con, thế nào là phục vụ tha nhân, và làm thế nào để sự phục vụ này chứng tỏ con yêu mến Cha. Bây giờ, Cha nói cách chi tiết hơn. Chính vì tha nhân mà con người được điêu luyện đức nhẫn nại, khi bị tha nhân làm nhục. Đức khiêm nhường được được thử thách bởi người kiêu ngạo, đức tin bởi kẻ vô tín ngưỡng, đức cậy bởi người thất vọng, đức công chính bởi kẻ bất công, đức thương xót bởi kẻ độc ác, đức hiền lành và nhân hậu bởi người hay cáu giận. Mọi nhân đức đều được tập luyện từ tha nhân, cũng từ tha nhân con người biểu lộ lòng xấu xa của mình.

Nhưng hãy ghi rõ điều này, là người khiêm nhường tuy bị thử thách, nhưng sẽ thắng kẻ kiêu ngạo. Trước hết, kẻ kiêu ngạo không làm gì hại được người khiêm nhường; kẻ độc ác cũng thế, chúng không yêu mến Cha, không trông cậy Cha, không hiệp thông với các tôi trung của Cha, chúng không tác hại được đức tin, đức cậy của người khiêm nhường; trái lại, chúng còn làm họ thêm vững vàng trong tình yêu thương tha nhân; bởi vì khi các tôi tớ trung thành của Cha nhìn biết những kẻ nào không trông cậy vào họ và vào Cha, thì họ vẫn yêu thương chúng, và tha thiết cầu xin hơn cho chúng được cứu độ. Những ai không yêu mến Cha, thì cũng không tin cậy Cha; chúng tin cậy vào dục vọng ích kỷ của chúng, là thứ chúng mê thích, chúng cũng chẳng tin cậy vào các tôi tớ của Cha. Tuy vậy, cho dù chúng không yêu mến Cha, không tin cậy và tìm ơn cứu độ nơi Cha, “người tôi trung” của Cha vẫn không bỏ chúng (Xc Is 42:3). Con thấy chưa, chính sự bất trung tín và thiếu đức cậy của kẻ ác đã tôi luyện lòng tin cậy của các tôi tớ Cha. Vì đấy là những cơ hội để các nhân đức được nảy sinh và gia tăng.

Đức công chính cũng vậy, không giảm sút nhưng được thử thách bởi hành động bất công của kẻ gian ác; chính những bất công làm người công chính nắm vững được đức công binh bằng sự nhẫn nại; và khi thái độ giận dữ tấn công đức hiền lành và nhân hậu, là lúc những nhân đức này thêm rực rỡ; đến lượt sự ghen ghét, hận thù, ác cảm cũng làm gia tăng lòng yêu thương tha nhân và sự khao khát phần rỗi các linh hồn.
Sự lấy đức trả oán không những làm cho nhân đức trở nên vững chắc, mà nhiều khi còn mang theo những cục than lửa bác ái làm cháy rụi hận thù và ghen ghét của kẻ dữ, cũng như có sức biến dữ ra lành. Đó là sức mạnh lạ lùng của đức ái và đức nhẫn nại hoàn thiện, của những người muốn gánh lấy tội lỗi thay cho kẻ gian ác, và chịu đựng sự phẫn nộ của chúng (Xc Rm 12:17-21).

Sự can đảm và kiên nhẫn là lương thực bồi dưỡng linh hồn, khi phải đối phó với những thử thách lâu dài, như sỉ nhục, bách hại, vu khống, hoặc những quyến rũ muốn lôi mình ra khỏi con đường Chân Lý. Nếu đức can đảm có thật ở mặt nội tâm, linh hồn sẽ chống trả can trường, và chứng tỏ nó là trang anh dũng trước mặt mọi người. Ngược lại, nếu nó không chứng minh được, sự can đảm ấy không có nền tảng chân lý.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)