NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI
CA KHÚC 28 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 19)
4 - Ở đây cụm từ hết năng lực được Tân nương dùng để ám chỉ tất cả những gì thuộc về phần khả giác của linh hồn. Phần khả giác này bao gồm thân xác cùng với mọi giác quan và quan năng của nó, cả bên trong lẫn bên ngoài, tất cả khả năng tự nhiên của nó với bốn xúc cảm, các mê thích tự nhiên và những năng lực khác của linh hồn. Tân nương bảo rằng nàng đã sử dụng tất cả những thứ ấy để phục vụ Đức Lang quân cũng như đã sử dụng phần lý trí và tâm linh của linh hồn vào việc ấy như đã đề cập nơi câu thơ trên đây. Các hoạt động của giác quan bên trong lẫn bên ngoài đều được điều khiển và qui hướng về Thiên Chúa, do đó thân xác cũng được linh hồn giúp hướng trọn về Thiên Chúa. Bốn xúc cảm của linh hồn cũng đều được Tân nương cột trói lại nộp cho Thiên Chúa vì nàng chỉ còn biết mừng vui nơi Thiên Chúa, chỉ còn biết hy vọng vào Thiên Chúa, chỉ còn sợ mỗi mình Thiên Chúa, chỉ còn đớn đau theo ý Thiên Chúa. Tất cả mê thích và lo lắng của nàng cũng chỉ còn quy hướng về Thiên Chúa mà thôi.
5 - Toàn thể năng lực ấy đều được sử dụng và quy hướng về Thiên Chúa đến nỗi mọi thành phần của năng lực ấy, ngay từ chuyển động đầu tiên, đều hướng đến chỗ hành động trong Thiên Chúa và vì Thiên Chúa. Trí hiểu, lòng muốn và dạ nhớ đều lập tức hướng về Thiên Chúa; cả các nghiêng chiều, giác quan, ước muốn và mê thích, hy vọng, vui mừng và toàn thể năng lực ngay phút đầu tiên cũng đều quy hướng về Thiên Chúa, mặc dù, như tôi đã nói, linh hồn không nhận thức được rằng nó đang hành động vì Ngài.
Do đó, linh hồn này sẽ hết sức thường xuyên làm việc cho Thiên Chúa. Nó chú tâm vào Thiên Chúa và những sự thuộc về Ngài mà không cần nghĩ hay nhớ rằng nó làm điều ấy là vì Ngài. Việc sử dụng năng lực nói trên và thói quen hành động như thế khiến linh hồn mất đi sự chú tâm và lo lắng, thậm chí mất đi cả những hành động hăng hái mà trước kia nó thường có khi bắt đầu làm một việc nào đó.
Bởi vì, tất cả năng lực ấy giờ đây đã được sử dụng cho Thiên Chúa nên nhất thiết linh hồn có được điều mà nó thốt lên nơi câu thơ tiếp theo, đó là:
Tôi chẳng còn chăn bầy vật.
6 - Linh hồn như muốn nói: Tôi chẳng còn theo đuổi những điều lý thú và những mê thích của tôi nữa, bởi vì sau khi đã đặt chúng vào tay Thiên Chúa và hiến hết cho Ngài, linh hồn chẳng còn lo cho chúng ăn cũng chẳng giữ chúng cho mình nữa.
Không những nói rằng không chăn giữ bầy vật, linh hồn còn nói thêm:
Tôi cũng chẳng còn phận sự nào khác.
7 - Trước khi đạt tới sự hiến dâng và trao phó chính mình và năng lực mình cho Đấng Chí Ái, linh hồn thường có nhiều thứ phận sự vô ích được dùng để thỏa mãn mê thích riêng của nó và của kẻ khác. Có thể nói rằng bao nhiêu thói quen bất toàn là có bấy nhiêu phận sự. Những thói quen bất toàn ấy có thể là hay nói, hay nghĩ, hay làm những chuyện vô ích, hoặc không phù hợp với sự hoàn thiện của linh hồn. Linh hồn lại thường có những mê thích khác nhằm phục vụ cho mê thích của kẻ khác chẳng hạn hay phô trương, khen tặng, nịnh bợ, nể vì, làm ra vẻ mình am hiểu và hợp thời, và biết bao nhiêu chuyện vô ích khác để làm kẻ khác thích thú. Linh hồn tập trung hết sự bận tâm, mê thích và hoạt động của nó vào đấy. Nói tóm lại, nó đem hết năng lực ra làm vừa lòng kẻ khác.
Giờ đây linh hồn tuyên bố nó chẳng còn những phận sự ấy nữa, bởi mọi lời nói, tư tưởng và công việc của nó đều đã thuộc về Thiên Chúa và qui hướng về Ngài, và chúng không còn bị các bất toàn ấy làm nhơ bẩn nữa. Cũng có nghĩa là linh hồn muốn nói: Tôi chẳng còn tìm cách thỏa mãn mê thích của tôi và mê thích của kẻ khác, chẳng còn bận tâm hay dính líu với những chuyện tầm phào vô ích và những chuyện thuộc về thế gian. Bởi lẽ giờ đây tôi:
Chỉ còn một việc là yêu.
Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)










