Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

Thánh Gioan Thánh Giá - Quyển 5 - Ngọn Lửa Tình Nồng



THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ
Toàn văn sưu tập các tác phẩm

Quyển 5
NGỌN LỬA TÌNH NỒNG
(Phiên bản B)


+ Dẫn nhập vào
Ngọn Lửa Tình Nồng

“Thưa phu nhân rất đáng tôn quí và đạo hạnh”, đó là câu mở đầu lời phi lộ tác phẩm Ngọn Lửa Tình Nồng mà Thánh Gioan Thánh Giá viết cho ái nữ tâm linh của ngài là Bà Ana del Mercado y Peñolosa. Chính vì bà thỉnh cầu, thánh nhân đã soạn tập minh giải cho ca khúc này.

Chào đời tại Segovia và được thừa hưởng được nhiều của cải, thế nhưng vào năm 1579, ông Juan de Guevara qua đời, Phu nhân Ana Peñolosa trở thành góa bụa. Tiếp đến, đứa con gái độc nhất lại lìa trần, người quả phụ như rơi vào cô đơn tuyệt vọng. Lúc ấy, người anh trai là ông Luis del Mercado, làm cố vấn trong dinh Chưởng Ấn ở Granađa, cũng đang trong tình cảnh goá vợ, nên đã gửi gắm nhờ bà dạy dỗ đứa con gái tên là Inès. Đã ba năm, không mấy khi bà quả phụ Ana ra khỏi nguyện phòng. Mãi đến ngày 20 tháng giêng năm 1582, mới thấy bà mở cửa bước xuống đường phố Granađa để đón tiếp một số nữ tu Cát Minh đến thành phố này để lập một đan viện mới. Các nữ tu này đến từ Beas, cùng với Mẹ Ana Chúa Giêsu, người mà sau này Thánh Gioan Thánh Giá sẽ đề tặng quyển Ca Khúc Tâm Linh. Họ đang lúng túng vì, vào phút chót, người ta từ chối không cho họ dùng ngôi nhà mà họ đã tính sẽ biến thành một đan viện mới. Chính lúc ấy, ông Luis đã đề nghị em gái ông tiếp đón đoàn người không nơi nương tựa này.

Hai anh em vội vã thu xếp cho họ phần nào có được chỗ ăn chỗ ở. Vào lúc ba giờ sáng, bà Ana đã mời mẹ Ana Chúa Giêsu và các ái nữ của mẹ vào hát kinh Ngợi Khen. Cùng đi với nhóm tiền phong ấy, cha Goan Thánh Giá đã đọc bài Tin mừng trong thánh lễ đầu tiên do cha Antonio Barba đặc sứ của Đức Tổng Giám Mục cử hành và rồi sau đó chính cha cũng cử hành thánh lễ.

Lần gặp gỡ đầu tiên ấy giữa vị thánh và bà quả phụ quí phái, lúc đang đêm, đã là khởi điểm cho những mối quan hệ tâm linh súc tích và đầy hoa trái. Hẳn nhiên các nữ tu Cát Minh không thể nào không biết đến sự biến đổi nhanh chóng nơi bản thân bà Ana.

Buổi tối trước ngày qua đời, Mẹ thánh Têrêxa đã bày tỏ lòng biết ơn bà Ana vì sự tiếp đón bộc phát bà đã dành cho con cái mẹ.

Ảnh hưởng của cha Gioan Thánh Giá đã mau chóng đóng vai trò quyết định trên tâm hồn người quả phụ này. Cũng như bao tâm hồn khác, bà đã chờ đợi Ngài mà chẳng hề hay biết.

Vào thời kỳ thành lập đan viện ở Granađa, khi chị em Cát Minh còn ở tại nhà ông Luis del Mercado, có chị đã trông thấy quả phụ Ana Peñolosa mắt đẫm lệ quì dưới chân Thánh Gioan Thánh Giá khác nào thánh nữ Mađalêna ngày xưa. Còn thánh nhân thì mắt ngước cao, miệng thầm thì: “Không gì cả, không gì cả, không trừ lại gì cả, đến mức trút hết thịt da và mọi sự khác vì Chúa Kitô.”

Sự kiện bà có quan hệ mật thiết với một vài nữ tu Cát Minh đầu tiên tại đan viện Granađa cho ta thấy bà đã mau chóng trải qua một đoạn đường dài, bởi vì từ dạo ấy, “bà đã vui vẻ chịu những nỗi đau thương cách dễ dàng, thậm chí còn khao khát thêm nữa.”

Khá lâu sau khi cha Gioan Thánh Giá qua đời, lúc cần lục lại ký ức để tìm kiếm những ví dụ về đặc ân hướng dẫn các linh hồn của ngài, thầy Luca Thánh Giuse đã chỉ trưng ra độc nhất trường hợp của bà Ana del Mercado và cháu gái bà là Tiểu thư Inès. Cha thánh Gioan rất thường đến thăm họ, dù ở Granađa hay ở Segovia. Vào tháng Năm năm 1586 nhờ lòng quảng đại giúp đỡ của ái nữ tâm linh ngài, cha Thánh Gioan Thánh Giá đã có thể lập đan viện ở Segovia. Đan viện có lối kiến trúc cho thấy cha thánh có được cảm thức diệu kỳ để đưa một lý tưởng tâm linh dệt vào trong những đường nét và chất liệu nhẹ nhàng và hòa điệu. Lúc bấy giờ quả phụ Ana Peñolosa sống ở Segovia, không phải trong tòa lâu đài của bà mà trong một căn nhà bà mua cạnh đan viện. Bà đã cho sắp xếp căn nhà này để đến ở đó cùng với thân nhân.

Các tu sĩ đều biết rõ vị tu viện trưởng của họ rất quí mến hai ái nữ tâm linh của ngài là Phu nhân Ana và Tiểu thư Inès. Khi thấy ngài chuyện vãn với hai người ấy tại tòa giải tội hoặc tại phòng khách đan viện, họ thường xầm xì với nhau: “Xem kìa, thánh Giêrônimô cùng với thánh nữ Paula và Eustochium.” Ngoài đời cũng như trong đan viện, thiên hạ đều trân trọng những “cuộc trò chuyện tuyệt vời” của thánh nhân nơi phòng khách hoặc tại phòng hội.

Người ta không mấy ngạc nhiên khi thánh nhân viết nên thiên khảo luận Ngọn Lửa Tình Nồng cho một tâm hồn vương giả như bà Ana Peñolosa. Vào thời điểm bà thỉnh cầu thánh nhân minh giải bốn ca khúc mầu nhiệm của bài thơ Ngọn Lửa Tình Nồng, có lẽ ngài đã dìu dắt bà được khoảng ba năm. Lúc ấy ngài vẫn còn ở tại Granađa, giữ chức phó giám tỉnh Andalusia . Ngài đã không chấp nhận yêu cầu của bà ngay. Thế nhưng không bao lâu sau, Thiên Chúa đoái thương đưa thánh nhân vào bầu không khí nội tâm cần thiết để minh giải bài thơ nói trên và trong vòng mười lăm ngày, giữa biết bao công việc bận rộn khác, ngài đã tập trung soạn ra tập minh giải cho bốn ca khúc ấy.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 40 (tiếp theo và hết)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 40 (tiếp theo và hết)
(Phiên bản A: chương 39)

4 - Vòng vây ở đây được linh hồn dùng để ám chỉ các xúc cảm và mê thích của nó. Những thứ này nếu không bị khuất phục và hãm dẹp, thì sẽ vây hãm và tấn công linh hồn tứ phía, vì thế linh hồn gọi chúng là vòng vây. Khi nói rằng vòng vây cũng đã yên ắng rồi, linh hồn muốn ám chỉ các xúc cảm ấy đã được ổn định và các mê thích cũng đã bị hãm dẹp rồi.

Thế nên, Tân nương nài xin Đức Lang quân sớm thông truyền cho nàng các ân huệ nàng van xin bởi lẽ vòng vây ấy không còn đó để cản ngăn được nữa. Nàng nói thế là vì bao lâu linh hồn chưa ổn định bốn xúc cảm cho phù hợp ý Thiên Chúa, bao lâu các mê thích của nó chưa được hãm dẹp và thanh luyện thì linh hồn không thể nào có đủ khả năng để nhìn thấy Thiên Chúa. Rồi Tân nương nói tiếp:

Và đám kỵ sĩ
Đã nhìn thấy dòng nước, và đang xuống.

5 - Dòng nước ở đây được hiểu là những điều tốt lành và hoan lạc tâm linh mà ở bậc này linh hồn đang được vui hưởng với Thiên Chúa tận cõi lòng thâm sâu của nó.

Đám kỵ sĩ ở đây hiểu về các giác quan thể chất của phần khả giác cả bên trong lẫn bên ngoài, bởi lẽ chúng mang nơi mình những sáng tạo vẽ vời và những hình ảnh về các đối tượng của chúng.

Tân nương nói rằng đám kỵ sĩ đang xuống khi nhìn thấy dòng nước tâm linh, bởi lẽ nơi tình trạng linh phối hiện nay của nàng, phần khả giác hay còn gọi là phần hạ đẳng của linh hồn được thanh luyện và tâm linh hoá một cách nào đó đến nỗi các quan năng khả giác và các sức mạnh tự nhiên của nó như hội tụ lại để tham dự và vui hưởng, theo cách của chúng, những điều cao cả tâm linh mà Thiên Chúa đang thông truyền cho linh hồn tận nơi thâm sâu nhất của tâm linh, theo như lời ám chỉ của vua Đavít khi ông nói:

Cả tấm thân con cùng là tấc dạ 
những hướng lên Chúa Trời hằng sống 
mà hớn hở reo mừng (Tv 84,3).

6 - Cần lưu ý rằng ở đây Tân nương không nói là đám kỵ sĩ đi xuống để thưởng thức dòng nước mà nói là đi xuống khi thấy dòng nước. Sở dĩ thế là vì phần khả giác cùng các quan năng của nó không có khả năng vui hưởng những điều tốt lành tâm linh một cách thích đáng, kể cả ở đời này lẫn đời sau. Nếu chúng có nhận được sự thư thái và thích thú của những điều tốt lành ấy một cách khả giác thì chỉ là nhờ sự dư dật nào đó của tinh thần tuôn trào ra cho. Nhờ sự vui thú này, các giác quan và các quan năng thân xác ấy được lôi kéo đến sự lắng đọng bên trong, ở đó, linh hồn đang uống những dòng nước là những điều tốt lành tâm linh. Như thế, đám kỵ sĩ đi xuống khi nhìn thấy dòng nước chứ không phải là họ xuống uống và nếm hưởng chính dòng nước ấy.

Linh hồn bảo rằng đám kỵ sĩ đi xuống chứ không bảo là đi tới - hoặc một kiểu nói nào khác - nhằm cho ta hiểu khi phần khả giác được hiệp thông với phần tâm linh, khi mà linh hồn đang nếm hưởng những dòng nước tâm linh, các quan năng khả giác sẽ xuống khỏi các hoạt động tự nhiên của chúng, sẽ ngưng các hoạt động ấy để tiến vào sự lắng đọng tâm linh.

7 - Thế là Tân nương trình lên trước Đấng Chí Ái của nàng, là Con Thiên Chúa, tất cả những sự hoàn hảo và những chuẩn bị ấy với lòng khát mong được Ngài đưa từ tình trạng linh phối, tình trạng mà Thiên Chúa đã muốn nàng đạt tới nơi Hội thánh chiến đấu, lên tận cuộc hôn phối vinh quang của Hội thánh khải hoàn. Ước chi tất cả những ai kêu cầu danh Chúa, là Đức Giêsu hết sức êm ái ngọt ngào, Lang quân của các linh hồn trung tín, cũng đều được đưa vào cuộc hôn phối vinh quang này. Kính chúc danh dự và vinh quang cho Ngài cùng với Chúa Cha và Thánh Thần, tới muôn thuở nghìn đời. Amen.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Hết)

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 40

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 40
(Phiên bản A: chương 39)

Không một ai dòm ngó,
Cả Aminadab cũng không xuất hiện,
Vòng vây cũng thôi rồi,
Và đám kỵ sĩ
Đã nhìn thấy dòng nước, và đang xuống.

+ Minh giải và ghi chú

1 - Ở đây, Tân nương ý thức rằng giờ đây nơi lòng muốn của nàng không còn dính bén mê thích một điều gì nữa nhưng chỉ gắn bó vào Thiên Chúa bằng một tình yêu hết sức khắng khít. Phần cảm giác của linh hồn, với tất cả sức mạnh, quan năng và mê thích của nó, giờ đây đã phù hợp với tâm linh, đã thuần thục và dẹp yên các cuộc nổi loạn. Nhờ linh hồn đã trải qua đủ thứ luyện tập sâu rộng và chiến đấu về mặt tâm linh, giờ đây ma quỷ đã thua và bị đẩy ra xa. Linh hồn được nên một với Thiên Chúa và được biến đổi rất dồi dào phong phú với những ân huệ thiên quốc. Do đó, sau khi được chuẩn bị, sẵn sàng và mạnh mẽ, Tân nương linh hồn nép mình vào Đức Lang quân để băng qua sa mạc chết chóc, lòng ngập tràn vui thú (x. Dc 8,5), linh hồn tiến lên tận những ngai toà vinh quang của Đức Lang quân. Tha thiết ước mong Đức Lang quân sớm kết thúc hẳn sự việc. Nơi ca khúc này Tân nương trình lên Ngài tất cả những sự kiện nhằm hối thúc Ngài mạnh hơn. Nàng nói lên năm điều:

Thứ nhất, linh hồn này giờ đây đã siêu thoát và lìa xa khỏi mọi sự.

Thứ hai, ma quỷ đã bị thua cuộc và đã bỏ trốn.

Thứ ba, các xúc cảm đã bị khuất phục và các mê thích tự nhiên đã được hãm dẹp.

Thứ tư và thứ năm, phần giác quan và hạ đẳng đã được cải tạo và thanh luyện, đã phù hợp với phần tâm linh, đến nỗi, chẳng những không còn cản trở việc nhận lãnh những ơn lành tâm linh, mà trái lại, còn thích ứng với các ơn lành ấy. Thật vậy, giờ đây trong khả năng của nó, phần giác quan hạ đẳng tham dự vào những ơn lành linh hồn đang chiếm hữu. Do đó, Tân nương nói:

Không một ai dòm ngó.

2 - Có nghĩa là: Giờ đây linh hồn em đã trần trụi, siêu thoát, đơn độc, xa hẳn mọi vật thụ tạo cả trên cao lẫn dưới thấp, và đã cùng Người vào tận cõi sâu lắng bên trong, đến nỗi không một thụ tạo nào có thể dòm ngó được niềm hoan lạc thâm sâu em đang có nơi Người. Tức là, không một thụ tạo nào có thể lay chuyển linh hồn em khiến nó thích thú cái êm ái ngọt ngào hoặc khiến nó chán ngán khó chịu vì sự khốn cùng và thấp hèn của nó. Thật vậy, linh hồn em đã hết sức xa cách chúng và đang cùng với Người hưởng hoan lạc hết sức sâu xa, không một thụ tạo nào có thể dòm ngó tới được. Tuy nhiên không chỉ như thế, mà ngay cả

Aminadab cũng không xuất hiện.

3 - Trong Thánh kinh (x. Dc 6,11), theo nghĩa tâm linh thì Aminadab ám chỉ ma quỷ, kẻ thù của linh hồn. Tên này luôn giao chiến và quấy nhiễu linh hồn bằng đủ thứ vũ khí đạn dược nhằm ngăn cản không cho linh hồn bước vào đồn luỹ, vào nơi ẩn náu là sự lắng đọng bên trong cùng Đức Lang quân. Giờ đây đã được vào ẩn náu ở đó, hoàn toàn yên ổn nhờ các nhân đức đã có được và nhờ được Thiên Chúa ôm ấp hỗ trợ, linh hồn cảm thấy mạnh mẽ và đắc thắng, ma quỷ chẳng những không dám đến gần mà thậm chí còn hết sức sợ hãi trốn xa không dám xuất đầu ló mặt. Đàng khác, nhờ sự luyện tập các nhân đức và nhờ tình trạng hoàn thiện đã đạt được, linh hồn đã thắng vượt và tống khứ tên quỷ ấy khiến nó không còn xuất hiện trước linh hồn nữa. Như vậy, quả là, Aminadab cũng không có quyền xuất hiện để cản trở hạnh phúc mà em đang nhắm tới.

Vòng vây cũng thôi rồi.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 39 (tiếp theo)



NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 39 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 38)

13 - Vì lẽ đó, linh hồn gọi sự chiêm niệm này là đêm. Nơi đây, nhờ sự biến đổi đã có được, linh hồn nhận biết được ngay ở đời này một cách thật cao siêu "rừng cây thần linh và vẻ đẹp của rừng cây ấy". Tuy nhiên, dù sự hiểu biết này thật cao vời, nó vẫn chỉ như một đêm dày so với sự hiểu biết toàn phúc mà linh hồn van xin ở đây. Vì thế, khi nài xin được sự chiêm ngưỡng tỏ tường là linh hồn nài xin được thưởng thức "rừng cây và nét duyên dáng của nó", cộng thêm những thứ khác mà nó đã nói ở đây, ngay "giữa đêm thanh", nghĩa là nơi sự chiêm niệm tỏ tường và toàn phúc, sao cho đêm chiêm niệm tối tăm ở đời này biến thành sự chiêm niệm trong đó linh hồn được nhìn thấy Thiên Chúa tỏ tường và trong sáng ở đời sau. Như thế, giữa đêm thanh ở đây có nghĩa là ngay giữa sự chiêm niệm trong đó linh hồn được thấy Thiên Chúa tỏ tường và trong sáng. Vua Đavít đã nói về đêm chiêm niệm này như sau:

“Con tự nhủ: ước gì bóng tối bao phủ tôi
Và ánh sáng quanh tôi thành đêm tối” (Tv 138,11).

Như thể Vua Đavít muốn nói: khi tôi vui sướng được nhìn thấy Thiên Chúa tận yếu tính Ngài, đêm chiêm niệm sẽ bùng lên thành ban ngày và trở thành ánh sáng cho trí hiểu của tôi. Tiếp đến là hồng ân thứ năm:

Với ngọn lửa đốt thiêu mà không gây đau đớn.

14 - Hình ảnh ngọn lửa ở đây nhằm nói về tình yêu của Chúa Thánh Thần. Thiêu đốt, ở đây có nghĩa là đưa đến chỗ kết thúc và hoàn tất. Quả thế, linh hồn khẳng định rằng Đấng Chí Ái sẽ ban cho nó tất cả những gì nó nêu lên nơi ca khúc này, và rằng nó sẽ có được những điều ấy với một tình yêu viên mãn, và rằng cùng với nó, tất cả những điều tốt lành ấy cũng sẽ mất hút vào trong tình yêu vừa hoàn tất mỹ mãn vừa không gây một chút đớn đau; linh hồn khẳng định tất cả những điều ấy cốt để nói lên sự hoàn tất mỹ mãn của tình yêu ấy. Muốn cho hoàn hảo, tình yêu phải có hai đặc tính: vừa thiêu đốt linh hồn vừa biến đổi nó thành Thiên Chúa. Lại nữa, ngọn lửa này thiêu đốt và biến đổi linh hồn mà không được làm nó đau đớn. Điều này chỉ có thể có được khi đã đạt tới tình trạng toàn phúc, khi ngọn lửa kia chỉ còn là tình yêu hoan lạc. Sở dĩ thế là vì khi linh hồn được biến đổi nơi ngọn lửa ấy như thế thì đôi bên đã nên đồng hình đồng dạng và cùng mãn nguyện trong hạnh phúc. Vì thế, không còn chuyện khổ tâm vì bên hơn bên kém như từng xảy đến trước kia, khi linh hồn chưa đạt tới khả năng yêu thương hoàn hảo. Bởi vì, khi đã đạt tới đó, linh hồn đã có được một tình yêu phù hợp và thật êm đềm đối với Thiên Chúa, đến nỗi, dù Thiên Chúa từng là một ngọn lửa thiêu như Môsê đã nói (x. Đnl 4,24), thì giờ đây Ngài không còn như thế nữa mà đã trở thành ngọn lửa hoàn tất và đổi mới. Sự biến đổi này không giống như sự biến đổi trước kia linh hồn từng cảm nghiệm ở đời này bởi lẽ mặc dù hết sức hoàn hảo và là một sự hoàn tất của tình yêu, sự biến đổi ở đời này vẫn còn mang tính chất thiêu đốt và tàn phá, giống như thể lửa thiêu cháy than. Mặc dù than được biến đổi và thành đồng dạng với lửa, không còn bốc khói như trước khi biến thành lửa nữa, nhưng khi thiêu đốt than, lửa cũng huỷ diệt và biến than thành ra tro.

Đó là điều linh hồn phải trải qua khi được biến đổi bằng thứ tình yêu hoàn hảo ở đời này, bởi vì, dù đã được nên đồng dạng (với ngọn lửa thần linh) nó vẫn phải chịu đớn đau và tổn hại một cách nào đó. Một đàng là vì linh hồn vẫn còn chưa được hoàn toàn biến đổi trong hạnh phúc, đàng khác, tiếp xúc với sức mạnh và sự cao vời của một tình yêu dường ấy, giác quan yếu đuối và dễ hư hoại thế nào cũng bị tổn thương, bởi lẽ bất cứ thứ gì tuyệt hảo cũng gây tổn hại và đớn đau cho bản tính yếu đuối, như lời sách Khôn Ngoan viết: Thân xác dễ hư nát và khiến linh hồn ra nặng (x. Kn 9,15). Trái lại, trong cuộc sống toàn phúc đời sau, linh hồn sẽ không cảm thấy tổn hại hoặc đau đớn chút nào dù vẫn hiểu biết sâu xa và vẫn yêu vô cùng tận. Sở dĩ thế là vì Thiên Chúa sẽ ban cho linh hồn khả năng để hiểu biết và sức mạnh để yêu thương, Ngài sẽ kiện toàn trí hiểu nó bằng sự khôn ngoan của Ngài và sẽ nung nấu lòng muốn của nó bằng tình yêu của Ngài.

15 - Nơi những ca khúc trước cũng như nơi ca khúc chúng tôi đang minh giải, linh hồn nài xin cho có được thật nhiều sự thông truyền và hiểu biết về Thiên Chúa. Nó cần phải có một tình yêu mạnh mẽ, cao vời mới có thể yêu cho xứng với sự lớn lao cao vời của những hiểu biết ấy. Vì lẽ đó, ở đây, linh hồn nài xin Thiên Chúa gói ghém tất cả những sự thông truyền và hiểu biết ấy vào tình yêu kiện toàn, hoàn hảo và mạnh mẽ này.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 39 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 39 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 38)

10 - Đó là cách thức bài ca diễn ra trong linh hồn nơi cuộc biến đổi nó có được ở đời này. Hoan lạc bài ca ấy vượt quá tất cả những gì người ta có thể diễn tả. Tuy nhiên bài ca ấy vẫn không hoàn hảo bằng bài ca mới nơi cuộc sống hiển vinh. Vì thế trong khi thưởng thức sự cao vời của bài ca ấy, linh hồn vẫn dõi mắt hướng về bài ca tuyệt hảo không gì sánh nổi mà nó sẽ có trong vinh quang. Linh hồn nhớ đến bài ca vinh hiển ấy và nói rằng điều Ngài sẽ ban cho nó chính là tiếng hoạ mi ca dịu dàng. Rồi linh hồn nói tiếp:

Rừng cây và vẻ duyên dáng của nó.

11 - Đây là hồng ân thứ ba mà linh hồn bảo rằng Đức Lang quân sẽ ban cho nó. Rừng cây vốn tạo ra nhiều loại cỏ cây và thú vật nên ở đây nó ám chỉ Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên muôn loài và ban cho chúng được hiện hữu. Mọi loài đều bắt nguồn từ Ngài và có được sự sống nơi Ngài. Như thế rừng cây diễn tả hình ảnh Thiên Chúa tỏ mình cho linh hồn và cho nó biết Ngài là Đấng Tạo Hoá.

Vẻ duyên dáng của rừng cây mà ở đây linh hồn đang nài xin Đức Lang quân, ám chỉ ơn sủng diễm lệ, sự khôn ngoan và vẻ đẹp mà mỗi thụ tạo dưới đất cũng như trên trời đều nhận được từ Thiên Chúa, không phải chỉ riêng nơi từng thụ tạo mà còn nơi sự hòa hợp đầy khôn ngoan, trật tự, duyên dáng và thân hữu giữa các loài thụ tạo với nhau, giữa các thụ tạo hạ đẳng với nhau, giữa các loài thượng đẳng với nhau và ngay cả giữa các loài thượng đẳng và hạ đẳng. Nhận biết được điều ấy linh hồn hết sức ngất ngây và hoan lạc. Rồi linh hồn nói tiếp hồng ân thứ tư đó là:

Giữa đêm thanh.

12 - Đêm thanh chính là sự chiêm niệm trong đó linh hồn khao khát được nhìn thấy những điều nói trên. Sở dĩ linh hồn gọi sự chiêm niệm này là đêm chính là vì sự chiêm niệm ấy thật tối tăm. Cũng vì lý do đó, chiêm niệm còn được mệnh danh là thần học huyền giao, nghĩa là sự khôn ngoan bí mật và ẩn giấu của Thiên Chúa. Trong chiêm niệm, Thiên Chúa dạy bảo linh hồn một cách thật lặng lẽ và thầm kín mà linh hồn chẳng biết bằng cách nào, vì chẳng có một chút động tịnh của ngôn từ, chẳng có sự hỗ trợ của bất cứ một giác quan thể xác hoặc tâm linh nào, trong thinh lặng và tĩnh mịch, hoàn toàn tối tăm đối với lãnh vực khả giác và tự nhiên. Một số người sống theo tâm linh gọi sự chiêm niệm này là hiểu bằng cách không hiểu. Quả thật, hoạt động này không xảy ra nơi trí hiểu mà các nhà triết học gọi là trí hiểu chủ động, tức là cái trí hiểu vốn hoạt động dựa trên những hình thể, những sáng tạo vẽ vời và những điều các quan năng thể xác đã lãnh hội. Trái lại hoạt động này xảy ra nơi một trí hiểu thụ động và sẵn sàng đón nhận. Nó không tiếp nhận các thứ hình thể hoặc các thứ khác như nói trên... nhưng nó chỉ thụ động nhận lấy sự hiểu biết tận bản thể đã được lột bỏ khỏi các hình ảnh. Sự hiểu biết này được ban cho linh hồn mà chẳng cần đến hoạt động hay nỗ lực chủ động của linh hồn.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 39 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 39 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 38)

7 - Ôi hỡi những linh hồn đã được tạo dựng cho những điều cao cả ấy và được mời gọi hưởng những điều cao cả ấy! Các bạn đang làm gì vậy? Đang tiêu phí thời giờ vào việc gì vậy? Tham vọng của các bạn thật thấp hèn, những gì các bạn có được thật đáng thương biết bao! Ôi tội nghiệp thay cho đôi mắt tâm linh các bạn đã bị mù loà! Các bạn mù loà trước một thứ ánh sáng rạng rỡ đến thế! Các bạn điếc lác trước những âm thanh vang dội đến thế! Các bạn không thấy sao? Bao lâu các bạn còn tìm kiếm lợi lộc và hư danh trần thế, các bạn sẽ vẫn mãi khốn khổ và thấp hèn, trở thành những kẻ không biết đến và không đáng hưởng những điều tốt lành cao cả dường ấy!

Tiếp theo, linh hồn dùng kiểu nói thứ hai để giúp ta hiểu được “điều” Đấng Chí Ái sẽ ban cho nó, đó là:

Tiếng hoạ mi ca dịu dàng.

8 - Hơi gió thở nhẹ ấy làm phát sinh nơi linh hồn tiếng nói dịu dàng của Đấng Chí Ái ngỏ với nó. Nghe tiếng ấy, linh hồn đã đáp lại Ngài bằng niềm hân hoan thích thú của nó, và gọi cả hai cung giọng ấy là tiếng hoạ mi ca dịu dàng. Vào mùa xuân, khi mà rét mướt mưa phùn và những đổi thay của mùa đông đã trôi qua, tiếng hoạ mi thánh thót nghe thật thích thú, khiến tinh thần được thanh thản. Sự thông truyền và sự biến đổi trong tình yêu mà Tân nương đã đạt được ở đời này cũng thế. Tân nương được che chở và thoát khỏi mọi phiền toái, đổi thay trần tục, được lột bỏ và tinh luyện hết những bất toàn, những vất vả và những bóng tối cả về mặt giác quan lẫn tinh thần. Nàng cảm nhận được tiếng nói êm ái của Đức Lang quân, như tiếng chim hoạ mi hót dịu dàng. Tiếng nói ấy đổi mới và làm tươi mát bản thể linh hồn nàng, khiến nàng hoàn toàn sẵn sàng lên đường tiến vào cuộc sống vĩnh cửu. Chàng gọi nàng thật dịu dàng êm ái, và nàng cảm nhận được cái tiếng gọi dịu dàng kia đang gọi:

Dậy đi em, bạn tình của anh
Người đẹp của anh, hãy ra đây nào!
Tiết đông giá lạnh đã qua
Mùa mưa đã dứt đã xa lắm rồi
Sơn hà nở rộ hoa tươi
Và mùa ca hát vang trời về đây
Tiếng chim gáy vang vẳng
trên khắp đồng quê ta (Dc 2,10-12).

9 - Nghe tiếng nói của Đức Lang quân vang dội bên trong linh hồn mình, Tân nương cảm nghiệm được rằng những gì xấu xa tệ hại đã dứt và những điều tốt lành bắt đầu ló dạng. Được thanh thản, được chở che và được cảm thấy êm đềm nhờ tiếng nói ấy, đến lượt nàng cũng chẳng khác nào chim hoạ mi, nàng cất tiếng hát véo von một khúc ca vui mới dâng lên Thiên Chúa. Nàng cùng hát với Thiên Chúa, Đấng đang gợi hứng cho nàng hát lên bài ca ấy. Sở dĩ Đức Lang quân mớm cho nàng tiếng ca dịu dàng chính là để nàng nối kết nên một với Chàng cùng dâng bài ca lên Thiên Chúa. Bởi vì, chủ tâm và khát vọng của Đức Lang quân là làm sao để linh hồn hân hoan cất cao tiếng hát tâm linh đầy hân hoan dâng lên Thiên Chúa, như chính Ngài đã yêu cầu nó trong sách Diễm Ca:

Dậy đi em, bạn tình của anh
Người đẹp của anh, hãy ra đây nào!
Bồ câu của anh ơi,
Em ẩn trong hốc đá, trong vách đá cheo leo.
Nào, cho anh thấy mặt, nào, cho anh nghe tiếng
(Dc 2,13-14).

Ở đây tai của Thiên Chúa ám chỉ rằng Thiên Chúa khát mong được nghe linh hồn cất giọng dâng Ngài khúc hoan ca hoàn hảo. Để tiếng ca nó được hoàn hảo, Đức Lang quân yêu cầu linh hồn hãy cất tiếng vang lên từ các động đá, nghĩa là từ sự biến đổi mà nhờ những mầu nhiệm của Đức Kitô chúng tôi đã nói trên. Khi được nên một với Thiên Chúa như thế, linh hồn hân hoan ca ngợi Thiên Chúa cùng với chính Thiên Chúa - như chúng tôi đã nói khi bàn về tình yêu - vì thế, lời ca ngợi của linh hồn rất hoàn hảo và đẹp lòng Thiên Chúa. Quả thật, một khi đã ở vào tình trạng hoàn hảo này, linh hồn thực hiện được những công việc hết sức hoàn hảo. Do đó giọng ca hân hoan ấy thật dịu dàng đối với Thiên Chúa cũng như đối với linh hồn. Vì lẽ đó Đức Lang quân đã nói rằng: Tiếng em thật dịu dàng (x. Dc 2,14) nghĩa là không chỉ cho em mà còn cả cho Ta, bởi lẽ một khi đã nên một với Ta, em sẽ ngân cho Ta và cùng với Ta, tiếng hát hoạ mi dịu dàng.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 39 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 39 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 38)

4 - Nơi cuộc biến đổi linh hồn có được ở đời này, chính hơi thở ấy luân chuyển qua lại từ Thiên Chúa tới linh hồn, từ linh hồn tới Thiên Chúa hết sức thường xuyên khiến linh hồn được hưởng sự hoan lạc yêu thương thật cao vời mặc dù chưa đạt tới mức công khai tỏ tường như trong cõi sống đời sau. Đây chính là điều tôi cho rằng thánh Phaolô muốn ám chỉ khi Ngài nói: Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai thần khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Áp-ba, Cha ơi! (Gl 4,6). Đó là điều sẽ xảy ra cho các phúc nhân ở đời sau và những kẻ hoàn thiện ở đời này theo nhiều cách thức như đã nói.

Đừng nghĩ rằng linh hồn không thể nào chỉ nhờ dự phần mà có khả năng làm được một điều cao vời đến thế, là phả hơi thở vào Thiên Chúa, như Thiên Chúa thở hơi vào nó. Bởi vì nếu cho rằng Thiên Chúa đã đoái thương cho linh hồn hiệp nhất với Ba Ngôi chí thánh, qua đó, linh hồn được trở nên đồng hình đồng dạng với Thiên Chúa, được trở nên Thiên Chúa nhờ dự phần, thì có gì là không thể tin nếu linh hồn cũng hiểu, cũng biết, cũng yêu - hay nói đúng hơn - nhờ nối kết với Ba Ngôi, linh hồn cũng thực hiện được điều chính Ba Ngôi thực hiện? Tuy nhiên đó là chính Thiên Chúa đã làm điều ấy nơi linh hồn bằng cách thông ban và cho dự phần. Linh hồn được biến đổi nên Ba Ngôi về mặt uy lực, khôn ngoan và tình yêu và được nên giống như Thiên Chúa về sự biến đổi ấy. Thật vậy, chính vì mục đích ấy mà Thiên Chúa đã tạo dựng linh hồn theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài (x. St 1,26).

5 - Điều ấy xảy ra cách nào ta chẳng thể biết mà cũng chẳng thể nói được. Ta chỉ biết được rằng chính Con Thiên Chúa đã đưa ta đạt tới tình trạng cao vời ấy, đã sắm cho ta chức phận cao quý là "Có thể làm con cái Thiên Chúa", như thánh sử Gioan đã nói (x. Ga 1,12). Trong Tin Mừng Gioan, chính Ngài đã xin Chúa Cha điều ấy như sau: "Lạy Cha, Con muốn rằng Con ở đâu thì những kẻ Cha ban cho Con cũng ở đó với Con, để họ chiêm ngắm vinh quang của Con, vinh quang mà Cha đã ban cho Con" (Ga 17,24). Nghĩa là, nhờ dự phần với chúng ta, họ có thể làm được chính công việc Con vẫn làm theo bản tính, tức là thở hơi Thánh Thần. Ngài còn nói: "Lạy Cha, Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con, để tất cả nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con. Phần Con, Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho Con, để họ nên một như chúng ta là một: Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn nên một, như vậy, thế gian sẽ nhận biết chính là Cha đã sai Con và đã yêu thương họ như đã yêu thương Con" (Ga 17,20-23). Như thế là Chúa Cha đã thông truyền cho họ chính tình yêu Ngài đã thông truyền cho Chúa Con, dù không phải theo bản tính như khi thông truyền cho Chúa Con, nhưng là, như chúng tôi đã nói, do sự nên một và biến đổi trong tình yêu. Cũng không phải Chúa Con có ý xin Chúa Cha cho các thánh được hiệp nhất với nhau tận yếu tính và bản thể như Chúa Cha và Chúa Con là một, nhưng là được hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất trong tình yêu, như Chúa Cha và Chúa Con là một trong Tình Yêu.

6 - Như thế, những điều tốt lành Chúa Con có được theo bản tính thì các linh hồn ấy cũng có được nhờ dự phần, do đó, họ thật sự là những thần linh nhờ được dự phần với Con Thiên Chúa, thật sự là những kẻ ngang hàng, những kẻ đồng hội đồng thuyền với Thiên Chúa. Vì lẽ đó, thánh Phêrô đã nói như sau: "Chúc anh em được đầy tràn ân sủng và bình an nhờ được biết Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Thật vậy Đức Kitô đã lấy thần lực của người mà ban tặng cho chúng ta tất cả những gì chúng ta được sống và sống đạo đức, khi Ngài cho chúng ta biết Đấng đã dùng vinh quang và sức mạnh của mình mà kêu gọi chúng ta. Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy, Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Ngài đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa" (2 Pr 1,2-4). Những lời ấy của thánh Phêrô giúp ta hiểu rõ rằng linh hồn sẽ dự phần vào chính Thiên Chúa, nghĩa là sẽ cùng với Thiên Chúa thực hiện nơi Ngài công việc của chính Ba Ngôi Chí Thánh - theo cách chúng tôi đã nói - nhờ vào sự hiệp nhất tận bản thể giữa linh hồn và Thiên Chúa. Mặc dù sự hiệp nhất này chỉ thật sự hoàn tất ở đời sau, nhưng một khi đã đạt tới tình trạng hoàn hảo của linh hồn mà chúng tôi đề cập ở đây, thì ngay ở đời này, linh hồn đã nhận được bảo chứng và được nếm trước hương vị của ơn hiệp nhất ấy, theo như cách thức chúng tôi mô tả, mặc dù, như chúng tôi đã nói, thật ra không thể nào tả nổi điều ấy.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 39

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 39
(Phiên bản A: chương 38)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Một khi đã ở trong tình trạng linh phối đang bàn đây, linh hồn không thể không biết chút ít về "điều ấy". Nhờ được biến đổi trong Thiên Chúa, đương nhiên linh hồn cũng được Thiên Chúa thông truyền cho chút ít về điều ấy. Và nó không nỡ không nói lên đôi chút về điều ấy, về những dấu hiệu và dấu vết của điều ấy mà nó đang cảm nghiệm được. Bởi theo như lời được nói trong sách ngôn sứ Gióp: Nhưng nào ai có thể cứ làm thinh chẳng nói? (G 4,2) Do đó nơi ca khúc tiếp theo, linh hồn tìm cách nói lên đôi điều về vinh phúc nó sẽ vui hưởng nơi sự hưởng kiến. Nó cố gắng hết sức mình để giải thích điều ấy là gì và sẽ xảy ra thế nào.

Hơi gió thở nhẹ,
Tiếng họa mi ca dịu dàng,
Rừng cây và vẻ duyên dáng của nó
Giữa đêm thanh,
Với ngọn lửa đốt thiêu mà không gây đau đớn.

+ Minh giải

2 - Nơi ca khúc này, linh hồn nói lên và minh giải điều mà nó bảo rằng Đức Lang quân sắp ban cho nó nơi sự biến đổi hồng phúc ấy bằng năm lối diễn tả sau đây:

Thứ nhất, linh hồn nói, đó là hơi thở của Thánh Thần Thiên Chúa, thổi từ Thiên Chúa tới linh hồn và từ linh hồn tới Thiên Chúa.

Thứ hai, đó là niềm hân hoan hướng về Thiên Chúa trong sự vui hưởng vinh phúc của Ngài.

Thứ ba, đó là sự hiểu biết các loài thụ tạo và trật tự của chúng.

Thứ tư, đó là sự chiêm niệm thuần khiết và tỏ tường về yếu tính Thiên Chúa.

Thứ năm, đó là sự biến đổi toàn diện trong tình yêu bao la của Thiên Chúa.

Trước hết, linh hồn thốt lên câu thơ sau đây:

Hơi gió thở nhẹ.

3 - Hơi gió nhẹ này là một thứ khả năng mà linh hồn bảo là ở đó Thiên Chúa sẽ ban cho nó nơi sự thông ban Thánh Thần. Nhờ hơi thở thần linh này, Thánh Thần nâng linh hồn lên một cách hết sức cao vời, định hình cho nó, và làm cho nó có khả năng phả vào nơi Thiên Chúa chính hơi thở yêu thương mà Chúa Cha phả vào Chúa Con, Chúa Con phả vào Chúa Cha. Hơi thở yêu thương ấy chính là Thánh Thần. Trong Chúa Cha và Chúa Con, Thánh Thần phả hơi vào linh hồn nơi cuộc biến đổi này để kết hiệp linh hồn hiệp nhất với Ngài. Bởi lẽ cuộc biến đổi này sẽ không thực sự và toàn vẹn nếu linh hồn không được biến đổi trong Ba Ngôi chí thánh ở mức công khai, tỏ tường.

Hơi thở Thánh Thần nơi linh hồn được Thiên Chúa dùng để biến đổi linh hồn nên chính Ngài. Đối với linh hồn, hơi thở ấy thực sự là một hoan lạc cao vời, tinh tế và sâu xa biết bao, đến nỗi miệng lưỡi con người không thể diễn tả được, trí hiểu con người không thể nắm bắt tí gì về điều ấy. Ngay cả về những gì diễn ra nơi sự biến đổi ở đời này nơi linh hồn qua việc thông truyền ấy cũng không thể nào nói lên được, bởi vì một khi được hiệp nhất với Thiên Chúa và được biến đổi nên Thiên Chúa, linh hồn sẽ thở ra trong Thiên Chúa và cho Thiên Chúa chính hơi thở thần linh mà Thiên Chúa thở ra từ nơi chính Ngài, cho linh hồn được biến đổi nên như Ngài.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN
UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 38 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 38 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 37)

7 - Nhưng không lẽ bỏ qua không nói tí gì về "điều ấy". Vậy, chúng tôi xin nêu ra 7 lần Đức Kitô đã nói về nội dung điều ấy với thánh Gioan trong sách Khải Huyền (x. Kh 2-3). Ngài dùng nhiều kiểu nói, từ ngữ và so sánh, bởi vì nếu chỉ nói một lần, chỉ dùng một kiểu nói thì không sao diễn tả nổi được điều ấy. Trước hết, Đức Kitô nói: "Ai thắng, Ta sẽ cho ăn quả cây sự sống, trồng nơi ngự uyển của Thiên Chúa" (Kh 2,7). Lối diễn tả này chưa giải thích rõ được điều ấy, nên Ngài liền nói thêm một hình ảnh khác: "Hãy trung thành cho đến chết, và Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống" (Kh 2,10). Một lần nữa, hình ảnh này vẫn chưa đủ, Ngài lại nói thêm hình ảnh thứ ba còn tối tăm hơn nhưng lại cho ta hiểu rõ hơn về điều ấy: "Ai thắng, Ta sẽ ban cho manna đã được giấu kỹ. Ta cũng sẽ ban cho nó một viên sỏi trắng, trên sỏi đó có khắc một tên mới, chẳng ai biết được tên ấy, ngoài kẻ lãnh nhận" (Kh 2,17). Nhưng kiểu nói này vẫn không đủ diễn tả điều ấy, Con Thiên Chúa lại dùng một kiểu nói khác liên quan tới sự vui mừng và quyền năng lớn lao như sau: "Ai thắng và giữ cho đến cùng các việc Ta truyền, Ta sẽ ban cho người ấy quyền cai trị các dân: Người ấy sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt chúng, Ta sẽ ban Sao Mai cho người ấy" (Kh 2,26-28). Nhưng rồi vẫn chưa bằng lòng với lối giải thích điều ấy bằng những kiểu nói trên, Ngài lại nói thêm: "Ai thắng sẽ được mặc áo trắng: Ta sẽ không xoá tên người ấy khỏi sổ trường sinh và Ta sẽ tuyên xưng tên người ấy trước mặt Cha Ta" (Kh 3,5).

8 - Tuy nhiên, tất cả những lối diễn tả trên vẫn quá vắn gọn, nên sau đó Ngài còn sử dụng thêm nhiều cách diễn tả khác để giải thích điều ấy. Những lời diễn tả này hàm chứa một sự uy nghi, cao cả khôn tả xiết. Ngài nói: "Ai thắng Ta sẽ cho làm cột trụ trong đền thờ Thiên Chúa của Ta, người ấy sẽ không hề ra khỏi đó nữa. Ta sẽ ghi trên người ấy danh thánh Thiên Chúa của Ta và tên thành đô Thiên Chúa của Ta là Giêrusalem mới từ trời, từ nơi Thiên Chúa của Ta mà xuống. Ta cũng sẽ ghi trên người ấy tên mới của Ta" (Kh 3,12). Và lần thứ bảy, để giải thích điều ấy, Ngài đã nói như sau: "Ai thắng, Ta sẽ cho ngự bên Ta trên ngai của Ta, cũng như Ta đã thắng và ngự bên Cha Ta trên ngai của Người. Ai có tai nghe thì hãy nghe..." (Kh 3,21-22)

Trên đây là những lời của Con Thiên Chúa đưa ra để giải thích "điều ấy". Những lời này hết sức ăn khớp với điều ấy nhưng vẫn chẳng giải thích được gì, bởi lẽ đặc điểm của những điều bao la là mọi lối diễn tả tuyệt hảo, đặc sắc, cao cả và hay ho đều ăn khớp với chúng nhưng chẳng thể giải thích được, dù là xét riêng từng lối diễn tả, hoặc gộp chung tất cả các lối diễn tả ấy lại cũng vậy.

9 - Bây giờ, chúng ta hãy xem vua Đavít có nói gì về "điều ấy" không. Trong một thánh vịnh, vua Đavít có nói như sau: "Lạy Chúa, cao cả thay tấm lòng nhân hậu Chúa dành cho kẻ kính sợ Ngài!" (Tv 31,20)

Và ở chỗ khác, Đavít gọi điều ấy là dòng suối hoan lạc: "Nơi suối hoan lạc, Ngài cho uống thỏa thuê." (Tv 36,9).

Tuy vậy, vẫn chưa phải là cách diễn tả cho trọn vẹn được điều ấy nên ở chỗ khác ông gọi điều ấy là: "Chúa ân cần ban muôn phúc lộc." (Tv 21,4).

Như thế, không thể tìm ra lối diễn tả nào phù hợp trọn vẹn với điều mà linh hồn nói ở đây. Chỉ biết rằng điều ấy chính là niềm hoan lạc Thiên Chúa đã tiền định cho linh hồn.

Vậy chúng ta hãy để sang một bên kiểu nói điều ấy mà linh hồn đang sử dụng ở đây và sẽ minh giải câu thơ trên theo cách sau đây: Ôi Đức Lang quân của em! Điều Người đã cho em chính là sức nặng của vinh quang mà Người đã tiền định cho em vào cái ngày trong vĩnh cửu của Người, khi Người đoái thương quyết định tạo dựng nên em. Vậy hãy cho em điều ấy trong ngày đính ước và hôn lễ của em, ngày đó tâm hồn em chan chứa mừng vui, khi em được rời khỏi xác thịt và bước vào trong những hang động thật cao của loan phòng Người. Người sẽ biến đổi em thành Người một cách thật vinh quang, và chúng ta sẽ cùng uống chất ngọt từ những quả lựu ngọt ngào.

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN
UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 38 (tiếp theo)



NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 38 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 37)

4 - Cần lưu ý rằng linh hồn không nói rằng ở đó Ngài sẽ ban cho nó tình yêu của Ngài, mặc dù trong thực tế thì ở đó Ngài ban tình yêu ấy; bởi lẽ, nói như thế thì có vẻ như linh hồn chỉ muốn xin Thiên Chúa yêu nó. Thế nhưng, linh hồn nài xin rằng ở đó Thiên Chúa hãy dạy cho nó yêu Ngài cách hoàn hảo như nó mơ ước. Thật ra, ở đó, khi trao ban tình yêu cho linh hồn, Thiên Chúa cũng dạy cho linh hồn biết cách yêu Ngài như đã được Ngài yêu. Ở đó, ngoài việc dạy cho linh hồn biết yêu thương cách tinh tuyền, hào phóng và vô vị lợi như Ngài yêu chúng ta, Thiên Chúa còn làm cho linh hồn yêu bằng sự mạnh mẽ Ngài đã yêu nó, làm cho nó biến đổi trong tình yêu Ngài, như chúng tôi đã nói. Qua đó, Ngài ban cho linh hồn chính sức mạnh của Ngài, nhờ đó nó có thể yêu Ngài, khác nào Ngài đặt vào tay nó một dụng cụ và chỉ cho nó cách sử dụng, rồi lại cùng với nó sử dụng công cụ ấy. Như thế, Ngài vừa chỉ cho linh hồn cách yêu, vừa ban cho nó khả năng để làm điều ấy.

Bao lâu chưa đạt được điều này, linh hồn chưa mãn nguyện, kể cả khi đã ở vào cõi sống đời sau, theo như lời thánh Tôma trong tập sách Bàn về toàn phúc (De Beatitudine), bao lâu chưa cảm thấy yêu mến Thiên Chúa như Thiên Chúa yêu nó thì linh hồn vẫn chưa mãn nguyện. Tuy vậy, như đã nói nơi tình trạng linh phối chúng ta đang bàn vào thời điểm này, mặc dù không có được sự hoàn hảo của thứ tình yêu vinh hiển, ta vẫn thấy được một thứ hình ảnh sống động hoàn toàn không thể tả xiết của sự hoàn hảo ấy.

Và rồi, hỡi Người là sự sống của em!
Ở đó xin Người hãy cho em
Điều Người đã cho em ngày ấy.

5 - Điều mà ở đây linh hồn nói rằng Thiên Chúa sẽ ban cho nó chính là cái vinh quang cốt lõi, tức là thấy được hữu thể Ngài. Như thế, trước khi đi xa hơn, ở đây chúng ta cần giải đáp một vấn nạn: Ta đã biết, cốt lõi của vinh quang chính là được nhìn thấy Thiên Chúa chứ không phải là yêu mến Ngài, vậy tại sao ở đây linh hồn lại bảo rằng ước vọng của nó là tình yêu này chứ không nói là vinh quang cốt lõi ấy? Tại sao, linh hồn đã nêu lên ước vọng về tình yêu ấy ngay từ đầu ca khúc, rồi sau đó mới thỉnh cầu cái vinh quang cốt lõi? Làm thế không phải là xem nhẹ vinh quang này hơn sao? Xin thưa: Có hai lý do để giải đáp cho vấn nạn này.

Thứ nhất, cùng đích của tất cả mọi sự là tình yêu, mà tình yêu nằm dưới quyền kiểm soát của lòng muốn, và đặc điểm của tình yêu là cho chứ không phải là nhận. Còn đặc điểm của trí hiểu, vốn là chủ thể của cái vinh quang cốt lõi, lại là nhận chứ không phải là cho. Linh hồn đang say sưa tình yêu ở đây không đặt ưu tiên vào vinh quang mà Thiên Chúa sẽ ban nhưng lại quan tâm đến sự hiến mình cho Ngài bằng một tình yêu đích thực, chẳng màng gì đến lợi ích riêng.

Lý do thứ hai là ước vọng nhìn thấy Thiên Chúa được bao hàm nơi ước vọng yêu mến Ngài. Điều ấy đã được hiểu ngầm nơi những ca khúc trước, bởi lẽ không thể nào gọi là đạt đến tình yêu hoàn hảo đối với Thiên Chúa nếu không được hoàn toàn nhìn thấy Ngài. Do đó cái gay go của vấn nạn đã được giải tỏa nơi lý do thứ nhất rồi, bởi vì với tình yêu, linh hồn trả cho Thiên Chúa những gì nó mắc nợ Ngài, đang khi với trí hiểu, linh hồn chỉ nhận lãnh từ Ngài mà thôi.

6 - Bây giờ trở lại với phần minh giải. Chúng ta hãy xem ngày ấy mà linh hồn nói đến ở đây là ngày nào, và điều mà Thiên Chúa đã ban cho nó, điều mà nó nài xin sau khi đã được ở trong vinh quang là điều gì. Ngày ấy ở đây được hiểu là ngày vĩnh cửu của Thiên Chúa, khác với ngày ở trần gian. Chính nơi ngày vĩnh cửu này Thiên Chúa đã tiền định cho linh hồn được hưởng vinh quang, đã quyết định thứ vinh quang sẽ ban cho linh hồn, và đã hào phóng ban cho nó điều ấy từ vĩnh cửu trước khi tạo dựng nên nó. Vì lẽ đó điều ấy thành của riêng của linh hồn, đến nỗi không một biến cố hoặc trở lực nào dù cao hoặc thấp, có thể lấy mất đi mãi mãi, trái lại, linh hồn sẽ đạt tới tình trạng sở hữu vĩnh viễn điều mà chính Thiên Chúa đã tiền định cho nó từ vĩnh cửu. Đó chính là điều mà linh hồn nói rằng Thiên Chúa đã ban cho nó vào ngày ấy, điều mà nó khao khát chiếm hữu tỏ tường trong vinh quang.

Thế nhưng điều mà Thiên Chúa đã cho linh hồn ngày ấy là điều gì? Đó là điều mà theo lời thánh tông đồ Phaolô, mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới (1 Cr 2,9). Ngôn sứ Isaia cũng từng nói: Lạy Chúa, ngoài Ngài ra, không mắt nào đã nhìn thấy được những điều Ngài dọn sẵn cho những kẻ yêu Ngài vv... (x. Is 64,4). Vì không biết gọi thế nào nên ở đây linh hồn gọi là điều ấy. Nói cho cùng điều ấy chính là trông thấy Thiên Chúa. Tuy nhiên thế nào là trông thấy Thiên Chúa? Linh hồn chỉ còn biết gọi bằng cái tên là "điều ấy".

Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)