Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Thánh Gioan Thánh Giá - Dẫn vào Ca Khúc Tâm Linh (tiếp theo)

 


THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ
Toàn văn sưu tập các tác phẩm
Quyển 4

CA KHÚC TÂM LINH

DẪN VÀO CA KHÚC TÂM LINH

+ Học thuyết chủ yếu: Tình yêu (tiếp theo)

Tiếp nối những đòi hỏi cam go của Đường Lên Núi Cát Minh hầu như đã được nhân đôi với Đêm Dày, nhưng là tiếp nối trong ánh sáng, toàn bộ Ca Khúc Tâm Linh chỉ là bức tranh khai triển tình yêu ấy cùng với những phương cách giúp tình yêu ấy triển nở tuyệt vời. Dưới hàng ngàn hình thức khác nhau nhưng quay đi quay lại vẫn cùng một đề tài ấy. Thế mới hiểu tại sao thánh nữ Têrêxa Hài Đồng yêu thích đọc đi đọc lại ca khúc diễn tả cuộc đính hôn sau đây không biết bao nhiêu lần:

Thế là linh hồn tôi hoàn toàn chăm chú
Đem hết sức lực phục vụ Chàng
Tôi chẳng còn chăn bầy vật
Cũng chẳng còn phận sự nào khác
Chỉ còn một việc là yêu
(Ca khúc 28)

Tất cả mọi hoạt động của linh hồn giờ đây được giản lược thành một tiếng duy nhất là yêu, kể cả trong việc thực hành tâm nguyện (CaB 28).

Vào cuối tập Ca Khúc Tâm Linh, linh hồn chẳng còn khao khát điều gì khác, chẳng còn tự bộc lộ cách nào khác. Những ân huệ phi thường nhất, những ân sủng diệu kỳ nhất cũng chẳng có gì đáng quan tâm, nếu vì đó mà linh hồn phải lơ là phận vụ duy nhất của mình. Thiếu tình yêu, linh hồn chẳng còn muốn một điều gì, chỉ có tình yêu mới được linh hồn khao khát, chỉ có tình yêu mới đem lại ý nghĩa cho mọi khát vọng khác (CaB 39).

Đỉnh cao của việc thể hiện tình yêu được mô tả nơi ca khúc 39, ở phần minh giải câu thơ thứ nhất. Một khi đã đạt đến sự biến đổi toàn vẹn trong Thiên Chúa, trao thân gởi phận cho Ngài như chính Ngài phó mình cho nó, linh hồn có thể sống sự sống của Thiên Chúa đến mức chúng ta phải sững sờ. Linh hồn được nhận vào trong chuyển động sự sống của Ba Ngôi. Nhờ được kết hiệp bằng tình yêu, linh hồn sống cuộc sống thân tình của Thiên Chúa. Mặc dù với tư cách dự phần chứ không phải nhờ bản tính, nhưng “linh hồn được trở nên đồng hình đồng dạng với Thiên Chúa, được trở nên Thiên Chúa nhờ dự phần, cũng hiểu, cũng biết, cũng yêu - hay nói đúng hơn - nhờ nối kết với Ba Ngôi, linh hồn cũng thực hiện được điều chính Ba Ngôi thực hiện? Chính Thiên Chúa đã làm điều ấy nơi linh hồn bằng cách thông ban và cho dự phần.”

Linh hồn thở vào Thiên Chúa chính hơi thở tình yêu Chúa Cha thở vào Chúa Con và Chúa Con thở vào Chúa Cha. Hơi thở ấy chính là Chúa Thánh Thần, Đấng Chúa Cha và Chúa Con thở vào linh hồn nơi cuộc biến đổi nói trên” (x. CaB 39,5).

Chính lúc chúng ta bị cám dỗ nghĩ rằng những điều nói đây chỉ là chuyện đời xưa của những đám mây mộng mơ thần bí, thánh Gioan Thánh Giá đã đưa chúng ta trở về lại với tảng đá vững chắc là những bản văn phổ biến nhất, và cũng được yêu chuộng nhất của thánh Phaolô và của Tin mừng. Chúng ta là con cái Thiên Chúa, chúng ta sống sự sống của Thiên Chúa. Chúng ta đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần mà Chúa Cha ban cho chúng ta, để trong Ngài chúng ta kêu lên với Chúa Cha. Trên tất cả, chính những bản văn đẹp nhất của lời nguyện tế hiến trong Tin mừng Gioan đã được dùng làm nền cho những kiến trúc táo bạo nhất của tư tưởng vị thánh tiến sĩ.

Bài học chủ yếu của Ca Khúc Tâm Linh được chứa đựng nơi giới răn thứ nhất là phải yêu mến Thiên Chúa trên tất cả mọi sự. Gần như người ta có thể nói mà chẳng sợ nghịch lý, bất cứ linh hồn nào đạt đến sự kết hiệp đều có thể nhận ra chính mình một cách chính xác nơi những gì Ca Khúc Tâm Linh mô tả, ai cũng đều tìm thấy ở đó những nét cốt yếu trong lộ trình của mình. Mà đó cũng là lộ trình thông thường của mọi linh hồn sống trong tình trạng ân sủng. Cha Gabriel-Thánh-Maria-Mađalêna đã nêu bật điều ấy thật thích đáng. Jacques Maritain cùng nhiều vị khác cũng thế.

Chắc chắn, nơi một số linh hồn ta có thể gặp thấy những ân sủng không có liên hệ cốt yếu với tình yêu, bởi lẽ Thiên Chúa tự do ban phát các ân huệ của Ngài. Và chắc chắn nơi Ca Khúc Tâm Linh, thánh Gioan cũng không mô tả những gì riêng mỗi linh hồn gặp được trên đường mình đi mà chỉ mô tả sự phong phú đa dạng của các ân sủng được ban cho, khi thì linh hồn này khi thì linh hồn nọ, bởi trên con đường độc nhất dẫn tới sự hoàn thiện của tình yêu, mỗi cá nhân đều thể hiện một cách khác nhau: “không được cho rằng mọi linh hồn ở trong tình trạng này đều được thông truyền cho mọi điều được minh giải nơi đây. Cũng không được cho rằng các linh hồn ấy được thông truyền theo cùng một cách thức và cùng mức độ nhận thức và cảm nghiệm...” (CaB 14 và 15). Tất cả mọi linh hồn đều chạy trên một con đường nhưng “Mỗi linh hồn chạy qua một miền, theo một thứ thần khí và một mức độ riêng tùy Thiên Chúa ban. Họ theo những thao luyện tâm linh khác nhau, tất cả đều cùng nhắm đến con đường dẫn tới sự sống đời đời” (CaB 25,4).

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Thánh Gioan Thánh Giá - Dẫn vào Ca Khúc Tâm Linh (tiếp theo)

 


THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ
Toàn văn sưu tập các tác phẩm
Quyển 4

CA KHÚC TÂM LINH

DẪN VÀO CA KHÚC TÂM LINH (tiếp theo)

+ Học thuyết chủ yếu: Tình yêu.

Tình yêu rồi sẽ sớm trở thành đề tài gần như độc tôn của thánh Gioan Thánh Giá.

Một khi đã biết được những mô tả hoành tráng nơi tác phẩm Đêm Dày người ta tự hỏi liệu còn có thể viết thêm gì về đề tài tình yêu? Cứ nhớ lại tất cả những gì Thánh nhân đã nói về tình yêu của một Mađalêna hoặc về 10 bậc thang tình yêu thì rõ. Như thế, người ta có thể dễ bị cám dỗ nản lòng khi nghĩ phải dùng cái bàn phím nặng nề của một học thuyết suy lý để trình tấu bản nhạc hết sức phong phú đem lại sinh động cho toàn tác phẩm Ca Khúc Tâm Linh. Thế nhưng bạn hãy cứ đọc và hãy để cho lòng thẩm thấu. Rồi cuối cùng, Thánh nhân sẽ nói cho bạn thật rõ ràng nơi một câu chủ chốt trong lời phi lộ: “Không cần phải thấu hiểu cách rạch ròi về sự khôn ngoan huyền giao mà các ca khúc ấy bàn đến mới có thể nảy sinh tình yêu thương và sự cảm mến nơi linh hồn” (CaB, phi lộ, 2). Đúng vậy! Chỉ nguyên nỗ lực của trí não, ngay cả một trí não cực kì tinh tế, không thể nào nắm bắt nổi cái thực tại sâu thẳm của Ca Khúc Tâm Linh. Tuy nhiên, khi biết để cho những trang sách viết dưới tác động của Thần Khí, thấm nhập vào từ từ, và khi cố gắng diễn đạt điều có sức làm lan truyền sự sống, hồng ân cao đẹp nhất của tác phẩm, thì người ta sẽ nắm bắt được. Ít ra khi ấy người ta phải nhìn nhận: kết luận rằng Ca Khúc Tâm Linh chỉ bàn về tình yêu là một điều cực kì hiển nhiên. Tình yêu nôn nóng và khắc khoải nơi 12 ca khúc đầu, tình yêu rạng rỡ và hoan hỉ nơi cuộc đính hôn, tình yêu tỏa sáng tròn đầy của hôn lễ đều phơi bày ra những phong phú vững bền của một sự hiệp nhất trọn vẹn.

Tình yêu quả là lời đầu tiên và cũng là lời cuối cùng của Ca Khúc Tâm Linh, mà Ca Khúc Tâm Linh lại chiếm vị trí trọng tâm trong học thuyết của thánh Gioan Thánh Giá, thế nên ta hiểu tại sao thánh nữ Têrêxa Hài Đồng đã tóm tắt niềm thán phục biết ơn đối với thánh Gioan Thánh Giá qua một câu nói độc nhất: “Đây là vị thánh tuyệt vời của tình yêu”. Chắc hẳn đó là lý do khiến thánh nữ thành Lisieux dành ưu ái đặc biệt cho Ca Khúc Tâm Linh. Người ta khám phá thấy phần lớn các trích dẫn về thánh Gioan Thánh Giá được thánh nữ sử dụng đều thuộc về Ca Khúc Tâm Linh.

Nhà văn và triết gia Jacques Maritain đã lưu ý đến một nét chủ yếu làm thành đặc tính của thứ tình yêu được mô tả nơi tác phẩm Ca Khúc Tâm Linh. Đúng ra đây là đặc tính của bất cứ thứ tình yêu nào đi đến tận cùng những đòi hỏi riêng của tình yêu. Tức là đã yêu thì sẽ thấy cần phải đạt tới chỗ yêu như mình đã được yêu, đôi đàng ngang nhau đến nỗi thánh Gioan Thánh Giá có thể không ngần ngại mà nói rằng đó là một sự bình đẳng thực sự trong tình yêu. Khi bàn về tương quan giữa Thiên Chúa và linh hồn thường người ta cảm thấy phải sử dụng hai tiếng tình yêu cách dè dặt. Thế nhưng Thánh nhân đã không hề ngập ngừng khi dùng hai tiếng ấy và đã gán cho hai tiếng tình yêu trọn vẹn ý nghĩa của nó.

Điều khiến linh hồn khắc khoải nôn nóng nơi 12 ca khúc đầu tiên, chính là vì linh hồn cảm thấy mình còn xa với sự bình đẳng ấy. Với một sự ngây ngô đáng mủi lòng, linh hồn còn đi tới chỗ trách móc Thiên Chúa rằng Ngài chẳng yêu linh hồn như chính linh hồn yêu Ngài (CaB 9).

Kể từ ca khúc 12 nội dung sự kết hiệp tạo bình đẳng ấy được phác hoạ như sau: “tình yêu biến đổi hai kẻ đang yêu khiến họ nên giống nhau tới nỗi ta có thể nói rằng người này hoá nên người kia và cả hai hoá nên một. Sở dĩ thế là vì trong sự nên một và biến đổi của tình yêu, người này trao quyền sở hữu chính mình cho người kia, mỗi người đều từ bỏ mình và nhường chỗ cho người kia. Và như thế người này sống trong người kia, người kia sống trong người này. Cả hai nên một nhờ sự biến đổi của tình yêu.” (CaB12).

Ngay từ khi đính hôn, người ta có thể xem như đã có sự bình đẳng đầu tiên (CaB 24) mặc dù chỉ mới là biểu lộ một ước nguyện hơn là xác nhận một điều đã được thực hiện.

Sự thực hiện hoàn toàn chỉ đến và chỉ có thể đến nhờ ân sủng của cuộc linh phối. Những cặp mắt phàm nhân ở đáy thung lũng thán phục cái khác người của những kẻ đã leo lên tận đỉnh thì đã hẳn, nhưng còn phải ghi nhận rằng, ngay cả đối với thánh Gioan Thánh Giá cũng như đối với thánh Têrêxa, nơi cuộc linh phối vẫn thực sự ẩn chứa một điều độc đáo không sao giản lược được. Lễ đính hôn chỉ là để chuẩn bị cho cuộc linh phối chứ chưa có việc trao hiến trọn vẹn cho nhau. Có lẽ những câu nói táo bạo nhất của thánh Gioan Thánh Giá được diễn tả nơi ca khúc 38. “Tham vọng của linh hồn là được luôn bình đẳng trong tình yêu với Thiên Chúa” (CaB 38), và nhất là những hàng sau đây, người ta có thể đọc đi đọc lại mà vẫn không múc cạn hết nội dung: “Khi trao ban tình yêu cho linh hồn, Thiên Chúa cũng dạy cho linh hồn biết cách yêu mến Ngài như đã được Ngài yêu ” (Ca Khúc 38,4).

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Thánh Gioan Thánh Giá - Dẫn vào Ca Khúc Tâm Linh (tiếp theo)

 


THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ
Toàn văn sưu tập các tác phẩm
Quyển 4

CA KHÚC TÂM LINH

DẪN VÀO CA KHÚC TÂM LINH (tiếp theo)

+ Bố cục Ca Khúc Tâm Linh

40 chương của Ca Khúc Tâm Linh có thể chia thành 4 phần không đều [Phần III và IV, cha Lucien chia theo thứ tự các chương trong bản Madrid 1630. Ở đây chúng tôi ghi theo sự phân chia trong bản Jaén và theo số thứ tự các chương của bản này]:

1. Những lao nhọc và cay đắng của sự từ bỏ - Tất cả mạch văn đều nêu bật ý nghĩa mạnh mẽ và khác thường mà ta phải gán cho những từ ngữ này: Ca khúc 1-4.

2. Những nhọc nhằn và trăn trở của tình yêu - Điều này ứng dụng hoàn toàn cho sự gia tăng nỗi khắc khoải chúng ta đã bàn: Ca khúc 5-12.

3. Cuộc Đính Hôn - Những chuẩn bị cho việc hiệp nhất hoàn hảo, những gặp gỡ trong hiệp nhất yêu thương và sự nôn nóng muốn hoàn toàn thoát khỏi mọi trở ngại bên ngoài và bên trong: Ca khúc 13-21.

4. Cuộc Linh Phối: Ca khúc 22-40 - Tức là sự hiệp nhất tròn đầy. Đôi bên trao hiến mình cho nhau trọn vẹn (Ca khúc 22-35). Những hoan lạc của sự hiệp nhất và khát vọng được hưởng kiến vinh quang (Ca khúc 36-40).

Như đã nói, phần đầu của tác phẩm Ca Khúc Tâm Linh gợi lại phần cuối tác phẩm Đêm Dày. Khi minh giải câu thơ cuối của ca khúc 39 “Với ngọn lửa đốt thiêu mà không gây đau đớn”, đến lượt phần cuối tác phẩm Ca Khúc Tâm Linh lại loan báo những khai triển mà một ngày kia sẽ phát sinh từ ngọn bút của Thánh nhân nơi tác phẩm Ngọn Lửa Tình Nồng qua câu bốn ca khúc đầu tiên.

“Giờ Người thôi không cay không nghiệt. ”

Phân tích như thế, ta thấy Ca Khúc Tâm Linh là một tác phẩm rất thống nhất. Như Thánh nhân đã loan báo nơi Lời phi lộ, tác phẩm này chỉ mô tả một giai đoạn tâm linh: giai đoạn của những linh hồn đạt tới hoàn thiện và được ban cho ơn hiệp nhất thật trọn vẹn ngay ở đời này, một cách tạm thời nơi cuộc đính hôn và dứt khoát nơi cuộc hôn phối.

+ Những góc độ nguyện ngắm

Trong lời phi lộ, Thánh nhân có nói ngài sẽ không bỏ lỡ cơ hội để “bàn đến và minh giải một vài điểm và những hiệu quả của việc cầu nguyện” đặc biệt là những điểm liên quan tới những linh hồn đã tiến xa trên con đường này.

Ca khúc thứ nhất có thể xem như một khảo luận vắn gọn bàn về sự hiện diện của Thiên Chúa, cũng như cách thức tìm kiếm Thiên Chúa đang hiện diện nơi linh hồn. Trong cộng đoàn của mẹ Ana Chúa Giêsu, nhiều tâm hồn được trui rèn và được nếm hưởng sự hiện diện của Thiên Chúa nhưng lại không hiểu được thật rõ ràng về sự hiện diện ấy thì thử hỏi họ đau đớn biết mấy!

Mặt tích cực rất phong phú của đau khổ giờ đây được triển khai bằng một thứ âm sắc khải hoàn. Dĩ nhiên, tự bản chất, đau khổ là một sự dữ và chắc hẳn người ta không tìm kiếm đau khổ vì đau khổ. Tuy nhiên sự đau khổ tinh tuyền nhất cũng kéo theo và đem lại sự hiểu biết tinh tuyền và thâm sâu nhất và do đó cũng đem lại một hoan lạc tinh tuyền và cao quý nhất.

“Ôi! nếu người ta hiểu được...” thì hẳn ai cũng noi gương bắt chước tấm linh hồn đã đính ước với Chúa. Với những kẻ chê trách nó lãng phí cuộc đời, linh hồn ấy quả cảm trả lời rằng nó tự hào về điều ấy và nó dám nói thẳng với những kẻ chê bai nó rằng: “Tôi đã để mất chính mình và tôi đã được lại ”. Thật khó tìm được một công thức ngắn gọn hơn mà lại tràn đầy ý nghĩa đến thế.

Cũng trong ánh sáng hân hoan ấy, Thánh nhân triển khai thêm giáo huấn của ngài về Đức Kitô. Với tác phẩm Đường Lên Núi Cát Minh, Thánh nhân đã đưa ra cái mệnh lệnh có vẻ gay go, mời gọi noi gương Chúa Kitô và học theo cuộc sống của Ngài trong mọi sự. Hưởng ứng mệnh lệnh ấy, ta đã trải qua cả một con đường gian khổ! Kể từ nay, chính Đức Kitô sẽ khơi lên mầu nhiệm thập giá là nguồn mạch mọi ân sủng, vào lúc linh hồn được ban tặng ơn hiệp nhất trọn vẹn nhất. Chính trên thập giá Đức Kitô đã ban tặng cho linh hồn ân huệ của lòng Ngài xót thương và đã cho linh hồn được đính ước với Ngài. Chẳng phải đang khi hưởng sự bình an của cuộc linh phối, một trong những ước mong sau cùng được linh hồn bộc lộ ra chính là được vào sâu hơn nữa trong sự hiểu biết những mầu nhiệm vô tận của Đức Kitô và các thuộc tính thần linh đi kèm theo những mầu nhiệm ấy đó sao? (CaB 37).

Bất di bất dịch trong một giáo huấn mà ngài không phải là người chủ nhưng chỉ là chứng nhân, thánh Gioan lặp lại rằng, ngay ở đời này, ta vẫn có thể tìm lại được một tình trạng ngây thơ trong trắng, sánh được với tình trạng Ađam nơi vườn Địa đàng hoặc với tình trạng của linh hồn trắng tinh vừa được tẩy sạch bằng nước của phép rửa tội (CaB 38; 3Lên 26; 2Đêm 24).

Bất chấp những kẻ hoài nghi không chịu tin điều ấy, bất chấp những nhà thông thái giả hiệu cho rằng đó là những chuyện đạo hạnh hão huyền, Thánh nhân vẫn trầm tĩnh lặp lại rằng những linh hồn trong trắng ấy không hề biết đến chuyện chống lại lề luật Thiên Chúa, dù chỉ bằng một phản ứng tự phát, và nơi họ, ngay cả những chuyển động sơ khởi cũng đã được điều chỉnh đúng đắn. Thánh nhân lặp lại và nhấn mạnh điều ấy nhiều lần. Hẳn đây là một trong những nét tiêu biểu và có lẽ là một trong những điều gây ngỡ ngàng nhất nơi học thuyết của Thánh nhân. Khi một linh hồn đã đạt tới chỗ lòng muốn của nó và lòng muốn của Thiên Chúa chỉ còn là một và khi ngay cả những chuyển động sơ khởi bột phát của linh hồn đều hướng về Thiên Chúa thì không thể còn vấn đề bị cưỡng ép từ bên trong nữa. Sẽ chỉ còn sự tự do ngoan ngoãn hết sức diệu kỳ của một linh hồn luôn được tình yêu dẫn dắt theo hướng mà Thiên Chúa muốn. Lề luật không còn là một lực đến để kìm hãm một lực khác là sự bột phát của tâm hồn. Lề luật vẫn còn đó nhưng nó chỉ là những dấu đường cắm chặng cho một lộ trình nơi không còn những sai lầm hoặc sức ép áp đặt từ bên ngoài, trên lộ trình ấy, linh hồn tung tăng chạy nhảy dưới sự thôi thúc của Thần Khí Thiên Chúa. Tự bản năng (Theo nghĩa thánh Tôma Aquinô đã hiểu khi bàn về bản năng thần linh của linh hồn) tình yêu thực hiện điều mà lề luật truyền dạy từ bên ngoài. “Hỡi Đấng Chí Ái, ta hãy cùng hân hoan”. Đến một lúc, linh hồn chỉ còn có thể sử dụng đại danh từ ngôi thứ nhất số nhiều và sử dụng điều ấy một cách bột phát (Ca khúc 36 và 37). Mọi lời nguyện của nó, mọi sáng kiến của nó đều là những điều Đấng Chí Ái mong muốn. Linh hồn trở nên một tinh thần với Đấng Chí Ái. Linh hồn được tự do.

Như thế, diễn tiến thật kỳ diệu: con đường khắc khổ đã khởi sự với phần đầu của tác phẩm Đường Lên Núi Cát Minh, được tăng gấp đôi nơi nét tăm tối của Đêm Dày để rồi cuối cùng triển nở trong ánh sáng nồng nàn của Ca Khúc Tâm Linh.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Thánh Gioan Thánh Giá - Dẫn vào Ca Khúc Tâm Linh (tiếp theo)

 


THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ
Toàn văn sưu tập các tác phẩm
Quyển 4

CA KHÚC TÂM LINH

DẪN VÀO CA KHÚC TÂM LINH (tiếp theo)

+ Ca Khúc Tâm Linh diễn tả thời kỳ đính hôn và hôn lễ.

Ngọn Lửa Tình Nồng sẽ tiếp nối Ca Khúc Tâm Linh, phân biệt rõ thời đính hôn và cuộc linh phối. Giữa lời thề son sắt của thời đính hôn với sự thông truyền và hiệp nhất giữa đôi bên được thể hiện trong hôn phối, có một sự khác biệt không sao giản lược được.

Giáo huấn của thánh Gioan Thánh Giá quả là một giáo huấn nghiêm túc. Thánh nhân không bao giờ tỏ ra bất nhất trong những điểm chính yếu. Ngài không phải là người chủ của học thuyết này, cũng như nhà vật lý không phải là người chủ của định luật dãn nở các vật thể. Cả hai đều nghiêng mình trước một thực tế vượt lên trên bản thân họ, một thực tế mà họ chỉ là chứng nhân. Đôi lúc họ có thể thay đổi cách diễn tả hoặc vận dụng những lối khác nhau để trình bày cùng một thực tế, nhưng luôn luôn họ vẫn là những đầy tớ của một chân lý đã có sẵn trước họ và không lệ thuộc vào họ.

Không gì đánh động hơn là tính cố định của học thuyết thánh Gioan Thánh Giá. Ngài đã viết trong những điều kiện thật khác nhau, vào những giai đoạn khác nhau của đời ngài, cho những đối tượng khác nhau, khi thì viết cho tu sĩ, khi thì viết cho người đời, và dùng những cách triển khai khác nhau để nói về cùng một mức độ đời sống tâm linh, thế mà những quả quyết chính yếu trên những điểm quan trọng của học thuyết ngài vẫn luôn luôn y hệt. Đúng là cả một khoa học về đời sống bên trong, cả một khoa học về những con đường dẫn dắt các linh hồn đến với Thiên Chúa, mà vị thầy của khoa học này, cả ngài nữa, cũng chỉ là “đầy tớ của Lời”. Ta cần phải đọc những điều ngài quả quyết với cùng một sự trân trọng như sự trân trọng của chính ngài khi viết ra những điều ấy.

+ Hành trình của Ca Khúc Tâm Linh

Thật ái ngại khi đưa tác phẩm Ca Khúc Tâm Linh ra phân tích bởi làm thế khác nào định mốc cho đường bay của một cánh chim. Tuy nhiên dù sao cũng có thể chỉ ra những chặng đường chính yếu nơi đường bay ấy. Đường đi của Ca Khúc Tâm Linh gồm hai đợt chuyển động lớn lần lượt đạt tới đỉnh điểm nơi ca khúc 13 và rồi nơi ca khúc 22.

Đợt chuyển động thứ nhất phát xuất từ tiếng kêu khẩn thiết mở màn cho Bài Thơ. Chuyển động diễn tiến thật nhịp nhàng khác nào những hợp xướng của Bach. Suốt 12 ca khúc đầu vang lên niềm khắc khoải của linh hồn khát mong được nhìn thấy Thiên Chúa. Khắc khoải càng lúc càng dâng cao cực điểm (mặc dù có chùng lại đôi chút nơi phần luận bàn thêm thắt nơi các ca khúc 3, 4, 5), và có thể nói, đã nổ tung khi bất thình lình được Đức Tình quân đoái nhận: điều này diễn ra nơi phần đầu của ca khúc 13. Thế rồi là những niềm hân hoan trải dài qua suốt 8 ca khúc kế tiếp nơi diễn ra mọi nét rạng rỡ của cuộc đính hôn tâm linh: nào là những cuộc thăm viếng, những ơn này lộc nọ, những đồ trang sức Đấng Chí Ái tặng ban cho linh hồn. Ngài xử sự với linh hồn thật bình đẳng, dù vẫn chưa đạt tới sự bình đẳng như trong hôn nhân. Khát mong, đoái nhận, hỉ hoan. Đó là ba thời kỳ rất cách biệt trong suốt cuộc chuyển động đầu tiên của Ca Khúc Tâm Linh.

Nơi ca khúc 16 và 17 người ta có cảm giác cuộc chuyển động bắt nhịp trở lại. Chắc chắn không còn nữa khổ đau, càng không còn nữa khắc khoải. Mà chỉ còn một tí xíu gì đó chưa được toại lòng thỏa dạ. Hạnh phúc của cuộc đính hôn ngóng đến sự trao ban trọn vẹn và quyết liệt hơn. Việc khẩn nài Chúa Thánh Thần nơi ca khúc 17 đánh dấu đỉnh cao của cuộc tiến lên lần này.

Sự hiệp nhất hoàn toàn được thực hiện nơi ca khúc 22: Tân nương và Tân lang chỉ là một trong tinh thần và tình yêu của Thiên Chúa.

19 ca khúc cuối của Ca Khúc Tâm Linh khai triển những đặc tính của sự hiệp nhất toàn diện này, sự kết hợp cao vời nhất mà người ta có thể mơ ước ở trần gian này. Linh hồn không ngừng nhận biết càng lúc càng sâu về các mầu nhiệm bất tận của Đức Kitô. Sau khi được hoàn toàn ổn định, linh hồn đạt tới sự bình an hoàn toàn ngay trong những chuyển động sơ khởi của nó, đạt tới niềm vui của thứ tình yêu hoàn toàn bình đẳng trong cô tịch tuyệt đối. Linh hồn tìm lại được sự ngây thơ trong trắng khi phần nhục cảm không hề dấy loạn nữa...

Vào đầu ca khúc 22, chẳng còn mấy niềm say mê thứ luận lý trừu tượng như nơi hai tác phẩm trước, Cha Thánh Gioan đã nêu lên một kiểu phân đoạn mà thoạt nhìn như có vẻ khác biệt.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Thánh Gioan Thánh Giá - Dẫn vào Ca Khúc Tâm Linh

 


THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ
Toàn văn sưu tập các tác phẩm
Quyển 4

CA KHÚC TÂM LINH

Bản dịch của
NGUYỄN UY NAM và LM TRĂNG THẬP TỰ

+++

KÝ HIỆU CÁC TÁC PHẨM
CỦA THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ
CaA : Ca Khúc Tâm Linh, phiên bản A
CaB : Ca Khúc Tâm Linh, phiên bản B
Châm: Châm ngôn
1&2 Đêm : Đêm Dày, quyển 1& 2
1&2 Lên : Đường Lên Núi Cát Minh, quyển 1& 2
3 Lên : Đường Lên Núi Cát Minh, quyển 3
Lửa A : Ngọn Lửa Tình Nồng, phiên bản A
Lửa B : Ngọn Lửa Tình Nồng, phiên bản B
---

DẪN VÀO CA KHÚC TÂM LINH

* Bài này cha Lucien Marie de Saint Joseph viết cho bản dịch tiếng Pháp của cha Cyprien de la Nativité de la Vierge. Bài dẫn nhập này viết năm từ 1945, nhưng cho đến nay vẫn là bài dẫn nhập đặc biệt sâu sắc. Bản tiếng Pháp của cha Cyprien dịch từ bản in Madrid 1630 ngày nay ít ai nhắc đến, còn bản dịch Việt Ngữ này dịch từ thủ bản Jaén, hiện được coi là thủ bản nền tảng. Trong bài viết của cha Lucien, có hai câu trích chỉ có trong bản Madrid, chúng tôi thay bằng hai câu tương tự của bản Jaén. Ngoài ra, chúng tôi cũng lược bỏ những chi tiết chuyên môn về sự khác biệt giữa các thủ bản, về các lần xuất bản và những chi tiết không quan trọng.

+ Từ bài thơ

Ít có tác phẩm nào gợi lên được đời sống của tác giả như bài thơ Ca Khúc Tâm Linh và tập minh giải bài thơ ấy. Bài thơ có một lai lịch riêng, độc lập với tập minh giải. Chính trong thời gian bị cầm tù ở Toledo, thánh Gioan Thánh Giá đã sáng tác 30 ca khúc đầu tiên. Chúng mang một âm hưởng rất cá nhân, đọc qua thấy hệt như một bản tự truyện bằng thơ. Nhà nghiên cứu Dom Chevallier đã nói rất đúng rằng bài thơ ấy ca mừng những ơn lành Thiên Chúa tưởng thưởng cho sự trung thành của một tình yêu mà không khổ đau nào làm tan vỡ được. Đọc những đoạn thơ của bài Ca Khúc Tâm Linh, ta thấy sống dậy bao kỷ niệm của vùng Castilla nồng nhiệt, nơi mà vì nhiệt tình, thánh Gioan Thánh Giá đã chịu đau khổ chết được; bao kỷ niệm của miền Andalusia nơi ngài đã được quen biết những tâm hồn vương giả của các nữ tử ngài tại đan viện Beas. Chẳng phải 5 đoạn thơ cuối cùng đã được ngài sáng tác cho một đan nữ của tu viện này đó sao? Chị Phanxica của Đức Mẹ Thiên Chúa lúc ấy chỉ mới hai mươi. Về sau, trước toà án phong chân phước, chính chị đã kể lại gốc tích 5 đoạn thơ này. Một ngày nọ, khi thánh Gioan Thánh Giá hỏi chị làm gì trong giờ nguyện ngắm, chị thưa rằng chị chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Thiên Chúa và sung sướng hân hoan vì thấy Thiên Chúa đẹp như thế. Nghe vậy, vị thánh hết sức vui mừng. Suốt mấy ngày liền, ngài nói những điều rất cao diệu về vẻ đẹp của Thiên Chúa. Rồi trong thời gian được phấn khích vì tình yêu Thiên Chúa như thế, ngài đã sáng tác 5 đoạn thơ bắt đầu từ câu:
Hỡi Đấng Chí Ái, ta hãy cùng hân hoan.

+ Đến tập minh giải

Còn về tập minh giải, ta chỉ cần đọc từng chữ lời đề tặng ngài viết cho Mẹ Ana Chúa Giêsu, bề trên đan viện Cát Minh Granađa. Trong những năm 1578-1579, bên cửa chấn song phòng khách đan viện này, thánh Gioan Thánh Giá đã diễn giải cho các nữ tu một số đoạn của bài Ca Khúc Tâm Linh. Mãi đến năm 1584, do sự khẩn khoản yêu cầu của họ, ngài đã dần dần viết gửi cho họ các bài minh giải họ từng khao khát.

Vào cuối đời thánh Gioan Thánh Giá, có những vị nắm quyền trong Dòng đã ganh ghét ngài, truy lùng để tiêu huỷ những gì ngài đã viết, thế nhưng người ta vẫn còn giữ được nhiều bản sao chép tay. Điều đó cho thấy quyển Ca Khúc Tâm Linh đã đi vào lòng và đi vào cuộc sống của các nam nữ tu sĩ Cát Minh theo chân thánh Gioan Thánh Giá đến mức nào. Gần 40 năm sau khi ngài chết, Dòng Cát Minh mới in tác phẩm này (1630) nhưng từ 15 năm trước đó đã có hai bản dịch tiếng Pháp được in ra và năm 1627 bản tiếng Tây Ban Nha cũng đã được in tại Bỉ.

Trước khi viết tập minh giải Ca Khúc Tâm Linh, thánh Gioan Thánh Giá đã viết hai tác phẩm Đường Lên Núi Cát Minh và Đêm Dày. Đường Lên Núi Cát Minh giúp các linh hồn biết cách chuẩn bị để sớm đạt tới sự hiệp nhất với Thiên Chúa, tức là biết thoát khỏi những ràng buộc về mặt trần thế cũng như về mặt tâm linh để có được sự trần trụi và tự do tâm linh cần thiết cho sự hiệp nhất với Thiên Chúa. Đêm Dày tiếp tục giúp các linh hồn vững bước trên đường đạt tới sự hiệp nhất ấy. Cả hai tác phẩm đã khiến độc giả khát khao mong mỏi sự hiệp nhất với Thiên Chúa, sự hiệp nhất sẽ được diễn tả thật tuyệt vời nơi vẻ rực rỡ của những đoạn thơ Ca Khúc Tâm Linh hết sức phong phú và của tập minh giải nối gót theo thật nhịp nhàng bay bổng. Độc giả hân hoan gặp được nơi Ca Khúc Tâm Linh thức ăn bổ dưỡng cho cuộc sống họ, vì sớm hay muộn, hướng đi độc nhất vị thánh Tiến Sĩ Hội thánh vạch ra đã đạt tới đỉnh điểm duy nhất người ta đã hướng tới khi bước theo nẻo đường của cái không gì cả. Cả người mới tập tu lẫn người đã khấn dòng, cả các đan nữ trong nội cấm lẫn các cư sĩ ngoài xã hội, tất cả đều biết đến cùng một lộ trình duy nhất. Vị thánh đã không bao giờ dạy rằng nẻo đường của cái không gì cả là một ngõ cụt, hoặc nẻo đi ấy tự một mình nó đã đủ! Ngược lại, ngài cho biết chẳng bao lâu nẻo đi ấy sẽ đạt tới cao đỉnh ngọn Cát Minh. Chẳng bao lâu là bao lâu? Điều ấy tuỳ nơi sự hào hiệp của những tâm hồn đang leo núi và tuỳ nơi mức độ hiệp nhất Thiên Chúa muốn dành cho họ. Tới đó, không còn cần phải có ai vẽ đường, không còn theo những lối mòn chật hẹp, bởi vì “với người công chính thì không cần phải định luật lệ”. Không còn gì khác hơn là một sự tự phát theo bản năng của người được làm con cái Thiên Chúa mà thánh Phaolô nói đến trong chương 8 thư Rôma. Một sự tự phát đưa dẫn các tâm hồn đến với Thiên Chúa còn chắc chắn hơn mọi giới luật thành văn, mà đồng thời lại luôn đưa dẫn họ đi đúng theo các giới luật.

+ Ca Khúc Tâm Linh và các tác phẩm khác

Quyển Đêm Dày đã kết thúc đột ngột khi vừa khởi sự triển khai “những đặc điểm hồng phúc” của sự hiệp nhất, được vẽ bằng những gam màu nóng hổi. Thế rồi quyển Ca Khúc Tâm Linh dùng lại những từ ngữ cốt yếu ở trang chót quyển Đêm Dày để khởi đầu... Phải chăng vì khuôn khổ quyển Đêm Dày quá chật hẹp không cho phép triển khai các đặc điểm hồng phúc của sự hiệp nhất một cách thoải mái, nên phải cần đến 40 ca khúc để chuyển tải? Quyển Ca Khúc Tâm Linh bắt đầu một tiết tấu mới ngay ở chỗ quyển Đêm Dày vừa hạ thấp xuống. Tựa như một cánh chim sà xuống thấp sát mặt đất để lấy đà bay vút cao hơn (Rồi khi Ca Khúc Tâm Linh vừa kết thúc, Ngọn Lửa Tình Nồng sẽ chắp cánh từ đó để bay vút lên cao hơn nữa).

Ca Khúc Tâm Linh nêu rõ cái phong phú của mấy tiếng “thao luyện tình yêu” hay “tập yêu mến”. Đó là mục tiêu mà ngay từ đầu, những đòi hỏi của quyển Đường Lên Núi Cát Minh hướng chúng ta đến. Đó là mục tiêu mà những miêu tả kinh hoàng của lộ trình Đêm Dày dẫn dắt ta đi: Hiệp nhất với Thiên Chúa trong tình yêu.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo và hết)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo và hết)

Như vậy, bộ Kinh thánh có thể xem như là một bộ Thánh sử khởi đầu bằng cuộc sáng tạo trời đất và kết thúc bằng những lời dự phóng về ngày Cánh chung huy hoàng, khi mà Thành thánh Giêrusalem bởi trời mà xuống, khi mà vũ trụ đã đi vào vinh hiển.

Bộ Kinh thánh cũng có thể được xem như một bản tình ca về việc Thiên Chúa tình yêu, trước hết là với cộng đoàn dân Chúa thời Đạo Cũ cũng như thời Đạo Mới, sau nữa là với mỗi một linh hồn, cho nên trong Kinh thánh có một cuốn gọi là Nhã Ca hay là Diễm Ca, tiếng Pháp là "Cantique des cantiques", mô tả cuộc tình duyên giữa một vị quân vương với một thôn nữ chăn cừu, nói lên cái hứa hẹn, cái giao ước, cái mời gọi của Thiên Chúa tình yêu với mỗi một tâm hồn cũng như với toàn thể cộng đoàn dân Chúa thời Đạo Cũ cũng như thời Đạo Mới.

Tập Nhã Ca hay là Diễm Ca đó, bên văn hóa Tây phương chịu ảnh hưởng Kitô giáo, được xem như là một bản văn trữ tình tuyệt diệu. Có thể nói những tác phẩm văn chương về tình yêu đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của tập Tình ca ấy, Tình ca giữa Thiên Chúa với con người cá nhân cũng như cộng đoàn.

Bộ Kinh thánh cũng có thể xem như một bi kịch tình yêu, giữa tình lang là Thiên Chúa và tình nương là dân Chúa, Đạo Cũ cũng như Đạo mới, và mỗi một tâm hồn, mà trong đó nội dung căn bản vẫn là sự trung thành chung thủy trước sau như một của tình lang là Thiên Chúa và sự phản bội hầu như liên tục của tình nương là dân Chúa và mỗi một con người. Phản bội đến nỗi, trong thời Đạo Cũ, cuộc tình đã kết thúc một cách bi đát, tức là đại diện chính thức của dân Chúa cả chính quyền lẫn giáo quvền, có nhiệm vụ phải chuẩn bị để chờ đón ngày Hôn lễ, cái ngày mà chính Thiên Chúa xuống để kết hợp với loài người, thì ngược lại, chẳng những đã không nhìn ra chính tân lang mà còn giết chết tân lang trên cây thập giá.

Do đó, nếu bản tình ca có những câu ca ngợi tình yêu dìu dặt đằm thắm, thì cũng có những đoạn văn, khi thì lên tiếng đưa ra những lời trách móc, giận hờn bi ai thống thiết của Thiên Chúa lúc Ngài bị phụ tình, khi khác thì là những lời ăn năn hối cải cũng không kém phần thống thiết bi ai của tình nương, sau khi dại dột chạy theo những tên sở khanh, biết mình đã bị phỉnh lừa đau đớn ê chề, quay trở về lại với tình lang, được tình lang ban cho những lời âu yếm thứ tha, và cứ thế mà tiếp tục mãi hết lần này qua lần khác.

Đương nhiên, như tôi vừa nói ở trên, thời Đạo Cũ kết thúc bằng bi kịch là chính tình lang bị giết, còn thời Đạo Mới thì cũng không phải không có những màn đau thương như vậy; bởi vì trong cái thế giới tội lỗi và đau khổ này, mỗi một cá nhân tín hữu Kitô giáo, cũng như mỗi một cộng đoàn, không ai dám vỗ ngực xưng mình là kẻ chung tình. Trái lại, từ vị Giáo hoàng cho đến bất cứ giáo hữu nào, hằng ngày không biết bao nhiêu lần đấm ngực mình mà xưng thú: "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!'' Và gần đây, chính vị đại diện cao nhất của Giáo hội Công giáo là Đức Phaolô VI, trước mặt bàn dân thiên hạ của thế giới năm châu, khi đến viếng Mồ thánh, quỳ xuống và hầu như thay mặt cho toàn thể dân Chúa ăn năn, thống hối, xin Chúa tha thứ cho những bất trung của dân Chúa qua từng thời đại, đồng thời xin Chúa ban ơn tha thứ và nâng đỡ để giữ cho được lòng trung thành với lời hứa hẹn, với lời giao ước của Thiên Chúa, sống cho đúng cái thiên mệnh của mình, để thực hiện cho đầy đủ cái kế đồ cứu chuộc của Thiên Chúa trong lịch sử loài người.

* * *

Trên đây tôi đã có nói về tập Nhã ca hay là Diễm tình ca. Hầu hết các nhà phê bình văn học đều cho đó là một áng văn tuyệt tác, có thể xem như là ý nghĩa sâu xa nhất của bộ Kinh thánh, nói lên mầu nhiệm căn bản là mầu nhiệm Tình Yêu. Thiên Chúa là tình yêu, sáng tạo mọi vật trong tình yêu và bày tỏ tình yêu của Ngài qua việc hiến trao Con Một rất yêu dấu của Ngài để cứu độ nhân loại và vũ trụ, để đưa về lại trong mầu nhiệm Tình Yêu muôn thuở của Thiên Chúa Ba Ngôi. Như vậy, toàn bộ Kinh thánh có thể xem như một bức tình thư của Thiên Chúa gửi đến cho nhân loại. Dù hiện tượng có bi đát, đầy mồ hôi, nước mắt, máu xương và điêu tàn hủy hoại, thì khởi đầu vẫn là những trang vui tươi của ngày Sáng thế, mọi loài thụ tạo vừa được dựng nên, đều được Thiên Chúa khen là tốt lành, và kết thúc cũng là một hình ảnh hân hoan bừng nở dưới hình dạng trời mới đất mới biểu tượng bằng tân nương trang điểm từ trời mà xuống, chào đón tân lang, để đi vào tiệc cưới. Trời mới Đất mới đươc mô tả như là một Đền Thánh, Đền Vàng, Đền Ngọc, như một Nguồn Suối mà hai bên bờ đầy hoa trái đua nở tứ thời bát tiết, nơi mà mọi giọt lệ trần gian được lau khô, và con người lại được ăn quả cây Hằng Sống.

+ Nhân sinh quan và vũ trụ quan của Kitô giáo trong lịch sử nhân loại tóm tắt là thế này: Mọi sự đều từ Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về với Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là Đấng TỰ HỮU và là TÌNH YÊU.

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.


Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Thoạt nhìn, chúng ta có cảm tưởng cái kinh nghiệm thần ứng của mỗi một cá nhân, của mỗi một cộng đoàn bị khép kín, bị bó buộc vào trong sự cứng nhắc của một hệ thống quá chặt, như hệ thống hàng giáo phẩm của Công giáo, nhưng đọc qua lịch sử của Giáo hội Công giáo, trong hai mươi thế kỷ đã qua, chúng ta thấy rằng: hầu hết các vị thánh, ví dụ như các thánh Pacôme, thánh Basile, Bênêđictô, Phanxicô, Inhaxiô và gần đây chẳng hạn, một vị ẩn tu là Charles de Foucauld đều là những người đi trước Hội Thánh, luôn luôn phát sinh ra những đường lối mới để đáp ứng lại với những yêu cầu của thời đại lịch sử lúc nào cũng biến chuyển, dưới sự thúc đẩy của Thánh Linh...

Cuối cùng, sau khi đã trải qua nhiều thử thách gần như là lửa thử vàng, bấy giờ các vị Ngôn sứ thời Đạo Cũ cũng như các Thánh thời Đạo Mới là những người đi trước Hội Thánh, nhưng vẫn một mặt phục tùng và chấp nhận sự kiểm nghiệm của Hội Thánh. Hình như có một sự song hành nào đó giữa truyền thống sống động với bộ Kinh thánh. Bộ Kinh thánh chỉ được đọc, được hiểu đúng trong lòng cộng đoàn những kẻ tin luôn trung thành với một truyền thống không phải là khô cứng, nhưng dù sao vẫn duy trì được sự nguyên tuyền y như một dòng suối phát tích từ đỉnh núi cao, qua không biết bao nhiêu địa phương khác nhau, vẫn giữ được sự trong suốt, chứ không thể tự mình mà phóng túng bất chấp, để rồi lạc vào những khe rãnh thường là không mấy tinh khiết.

Do đó, một mặt, người tín hữu nghiền ngẫm Kinh thánh để như thấm nhuần một não trạng, một tinh thần, nhưng không phải hiểu một cách thiển cận, máy móc những văn tự chết, nhưng cuối cùng là tắm mình trong một bầu không khí, trong một nguồn nhựa sống của một cộng đoàn đức tin khởi đầu từ Tổ phụ Abraham, tiếp tục với nhóm Mười Hai mà phát ngôn nhân vừa là đại diện, vừa là thủ lãnh là Phêrô và các đấng kế vị ngài, cho đến ngày Cánh chung.

Bởi lẽ, cuối cùng, nội dung của đức tin Kitô giáo không phải là những chữ, những câu, những ý, những lời, nhưng là tác động trực tiếp của Thiên Chúa hằng sống trên mỗi một tâm hồn, trên mỗi một cộng đoàn, trên toàn thể nhân loại. Để luôn luôn sống động thì cần phải đặt vào trong lòng chính cộng đoàn sống động, chứ không thể xem bộ sách ấy, dù quý giá đến đâu, như một phương tiện để nói rõ một cách chắc chắn lời của Thiên Chúa, bởi vì không gì có thể đóng khung được lời của Thiên Chúa và xin nhắc lại, lời đó cuối cùng là một tương giao giữa ngã vị Thiên Chúa với ngã vị của mỗi một linh hồn và ngã vị tinh thần, "personne morale" của một cộng đoàn, qua lịch sử của mỗi người, của mỗi cộng đoàn, của toàn thể nhân loại vô cùng phong phú, vô cùng đa tạp.

Không một cuốn sách nào, không một hệ thống tư tưởng nào có thể áp đặt lên một cách cứng nhắc những khuôn vàng thước ngọc. Do đó, muốn hiểu Kinh thánh, đương nhiên là phải có cả một công trình có tính cách chuyên môn kỹ thuật, phải am hiểu các tôn giáo, phong tục, kỷ cương, chế độ, ngôn ngữ của những cộng đồng người từ thời Abraham cho đến những giai đoạn lịch sử của Giáo hội Công giáo, ngõ hầu nắm được ngay cả những phạm trù, những ngôn từ, thể văn, bút pháp của các tác giả, hiểu được ý chính của các tác giả, để cuối cùng như thông dự vào chính cái kinh nghiệm được linh hứng của các tác giả. Sau đó đối chiếu với kinh nghiệm linh hứng có thể nói là của bản thân mình, của cộng đoàn mình, qua từng trường hợp để tìm cho ra ý định của Thiên Chúa, Đấng luôn luôn mời gọi, hứa hẹn, giao ước, chờ đợi mỗi một cá nhân, mỗi một cộng đoàn cộng tác với Ngài trong một kế đồ vô cùng rộng lớn, bao trùm cả và nhân loại và toàn thể vũ trụ.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Một thiện niệm gợi ra một tiếng nói của lương tâm ngăn cản hoặc là phê phán một việc ác, hay là thúc đẩy hoặc khen thưởng một việc lành, đó cũng là lời Chúa. Một biến cố xảy đến, từ những việc nhỏ nhặt như nhỡ một chuyến xe, cho đến những thăng trầm thế sự thay đổi bộ mặt của các quốc gia, của toàn thể nhân loại cũng đều mang một ý nghĩa nào đó, cũng là một lời mời gọi nào đó, để mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đoàn phải có một ứng xử thế nào cho thật phù hợp với ý định của Thiên Chúa.

Do đó, cái kinh nghiệm của mỗi một người cũng như của một cộng đoàn, không phải không có một tương quan nào đó với những kinh nghiệm được gọi là linh hứng của các tác giả viết nên bộ Kinh thánh. Bởi vì Thiên Chúa là Đấng hằng hữu, trước sau như một, ý định của Ngài không bao giờ thay đổi, có thể nói cái phong thái, cái cách xử đãi của Ngài, đối với thụ tạo, có thể bao giờ cũng chỉ là một. Từ lời kêu gọi Abraham, từ lời kêu gọi các Ngôn sứ, từ lời mời chọn Đức Maria, từ lời kêu gọi các môn đệ đầu tiên cho đến những lời kêu gọi dành cho các tín hữu, từ những tín hữu tầm thường, phải chu toàn nhiệm vụ của một người trong gia đình, của một người dân trong một đất nước hoặc vượt cao lên đảm nhận một trọng trách nào đó trong Giáo hội, thi hành những công trình khó khăn, thì thảy đều có một sự tương đồng nào đó, tiếng Pháp gọi là "analogique"; và cái khuôn mẫu để đáp lại lời kêu gọi tuân hành ý định của Thiên Chúa, chính là Đức Giêsu Kitô trong thân thế và sự nghiệp, mà nhất là trong cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Ngài.

Vì vậy, Kinh thánh bao giờ cũng đến sau sự hiện hữu của một cộng đoàn những kẻ tin, mà có thể nói cái cộng đoàn những kẻ tin ấy bao giờ cũng phát tích từ một người: dân Chúa thời Đạo Cũ phát tích từ một người là Tổ phụ Abraham, dân Chúa thời Đạo Mới, có thể nói là phát tích, hay ít nhất là quy tụ vào nơi một người là thánh Tông đồ Phê rô, khi ngài đại diện cho nhóm Mười Hai trả lời câu hỏi mang tính quyết định của Đức Giêsu: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?" Phêrô đã tuyên xưng đức tin: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (x. Mt 16,13-16).

Cộng đoàn đức tin đời cũ cũng như đời mới chỉ là duy trì, bảo vệ, phát triển đức tin đã được gieo vào và đã được dâng lên, khởi điểm từ Tổ phụ Abraham, khởi điểm từ nhóm Mười Hai mà Phêrô là phát ngôn nhân, là người đại diện, do đó, Kinh thánh thời Đạo Cũ cũng như Kinh thánh thời Đạo Mới chỉ có ý nghĩa trong lòng cộng đoàn những kẻ tin, và chỉ có cộng đoàn những kẻ tin mới hiểu rõ được cái truyền thống sống động của một niềm tin đối với lời hứa hẹn của Thiên Chúa, với lời giao ước giữa Thiên Chúa và mỗi một cá nhân, giữa Thiên Chúa và mỗi một cộng đoàn, và tính cách sống động là một hiện thực chứ không phải là một hệ thống tư tưởng. Và có thể nói, truyền thống đức tin đó là để giúp cho mỗi một con người, trong quá trình tiểu sử của đời mình, cũng như trong diễn biến của lịch sử, trong diễn trình của vũ trụ, so sánh chính cái kinh nghiệm của bản thân mình với cái truyền thống đức tin đó để gạn lọc, tìm hiểu và học cách ứng xử ra sao.

Và như vậy, một mặt, cần phải trung thành với truyền thống, mặt khác, cũng phải được sự phê chuẩn, kiểm nghiệm của chính cộng đoàn, qua trung gian những vị được Thiên Chúa chọn, tiếp nối cái cộng đoàn đầu tiên là nhóm Mười Hai Tông đồ, mà hiện nay những người kế vị chính là các Giám mục hiệp thông với người kế vị thánh Phêrô là Đức Giáo hoàng.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Vì vậy, muốn hiểu Kinh thánh thì phải nắm cho được tinh thần sâu xa chứa đựng ở trong ngôn từ, như chính ; Kinh thánh đã viết: "văn tự thì giết chết, chỉ có tinh thần mới làm cho sống động”, tiếng Pháp là: "La lettre tue, c’est l'esprit qui vivifie” [Tiếng Latinh: Lex occidit, spiritus vivificat; xem thêm Rm 2,29b]. Do đó, không thể hiểu Kinh thánh như là một pho sách của các triết gia ghi chép lại những chân lý trừu tượng, mà ai đọc cũng được, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu, tùy theo cách lý giải riêng của mình. Nhưng Kinh thánh là một lời trao đổi của Thiên Chúa hằng sống với những con người sống động, với những cộng đoàn đã được Ngài chọn, vì vậy lời ấy chỉ được hiểu trong một bầu khí cởi mở tâm hồn đón nhận mà chủ yếu là bằng đức tin.

Mà lời của Thiên Chúa không phải là một lời lý giải về vũ trụ học, về nhân sinh học, nhưng là một lời kêu gọi, nói một cách rõ ràng là một lời có tính cách hứa hẹn và giao ước, đòi hỏi người nghe phải có một thái độ tin, phó thác chân thành và cuối cùng là thể hiện trong cuộc sống cá nhân mỗi người cũng như cuộc sống cộng đoàn dân Chúa, để thi hành những huấn lệnh của Ngài trong đời sống cụ thể của mình, trong bối cảnh lịch sử của mình, tùy theo địa phương, tùy vào thời điểm, suốt dòng lịch sử.

Cứ thế, từ Tổ phụ Abraham một thân một mình rời bỏ cả một nền văn hóa lừng lẫy, dấn thân vào một cuộc đời du mục rày đây mai đó, cho đến suốt cả hai nghìn năm lịch sử của dân Do Thái, tiếp tục hai nghìn năm lịch sử của Giáo hội và sẽ còn tiếp tục mãi cho đến ngày Cánh chung, qua không biết bao nhiêu thăng trầm thế sự, qua không biết bao nhiêu biến chuyển, dưới mọi chế độ chính trị, dưới mọi nền văn hóa, dưới mọi phong tục với bao nhiêu biến cố. Vì vậy, như tôi đã nói nhiều lần, nội dung Kitô giáo chính thật là một hiện thực sống động, là động tác của Thiên Chúa trực tiếp can thiệp vào đời sống của mỗi một cá nhân, đời sống của mỗi một cộng đoàn, đời sống của toàn thể nhân loại và diễn trình của vũ trụ, mời gọi mỗi một con người, mỗi một cộng đoàn và toàn thể nhân loại đón nhận, cộng tác để thực hiện chính cái kế đồ sáng tạo và cứu độ của Ngài, chứ không phải là một hệ thống tư tưởng có thể diễn tả ra được bằng ngôn từ, bằng phạm trù để có thể ghi lại như một thứ văn tự khô cứng trong một bộ sách.

Hiểu như thế, chính hiện nay đây, trong giờ phút này Thiên Chúa vẫn đang tác động trên mỗi một tín hữu, trên cộng đoàn dân Chúa là các Giáo hội Kitô giáo và qua đó là trên toàn thể nhân loại và vũ trụ. Nếu chúng ta xem cái hiện thực hiện nay, ngay trong giờ phút này của nhân loại, là như một bản văn, như một bảng tín hiệu, thì có thể nói Kinh thánh như là một bộ văn phạm, một bộ từ điển hay là một cái khung mật mã giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của chính cái hiện thực trong hiện tại của mỗi một con người, mỗi một cộng đoàn, khởi đầu là cộng đoàn dân Chúa, rồi hơn nữa, có thể nói là cộng đoàn nhân loại.

Bởi vì Thiên Chúa luôn nói, mời gọi, hứa hẹn, thiết lập giao ước với mỗi một cá nhân và với mỗi một cộng đoàn. Như vậy, có thể nói rằng, mỗi một người, đương nhiên trước hết là các tín hữu, nhưng có thể nói người nào cũng có một sự tiếp cận nào đó với lời của Thiên Chúa, cũng có một kinh nghiệm nào đó, dưới rất nhiều dạng, và có thể nói bất cứ cái gì tốt lành được khơi dậy lên trong tâm tư con người đều có phần nào do sự linh hứng của Thánh Thần.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Bộ Kinh thánh được xem như một bộ sách mà nói rằng ghi chép Lời Chúa thì hơi quá, bởi vì Chúa không phải là một ông thầy đến đưa ra một giáo trình để những người được chọn ghi chép lại nguyên văn nhưng Ngài chỉ, không biết dùng chữ gì hơn ngoài chữ nói. Nói, thứ nhất là với một số người được Ngài lựa chọn, đồng thời qua trung gian những người được chọn đó, Ngài nói với toàn thể cộng đoàn dân Chúa. Thật ra không nói là văn của Chúa, mà nói là lời, lời là lời nói, một lời nói sống động; mà đã là một lời sống động thì bao giờ cũng là một tương quan liên ngã vị, trước là tương quan với Thiên Chúa, với những cá nhân được chọn, đến những người truyền đạt lời Chúa, sau nữa là đến cộng đoàn; tuy nhiên dù cộng đoàn đi nữa thì cũng là những ngã vị kết hợp lại thành một, tiếng Pháp gọi là "personne morale", một ngã vị tinh thần.

Thế thì, tương quan sống động bao giờ cũng có một cái ý nghĩa riêng tư nào đó giữa đôi bên mà đệ tam nhân, chẳng những không thể hiểu được, mà đôi khi còn rất dễ hiểu lầm. Tôi xin lấy một thí dụ có hơi ví von một tí: có lúc người ta yêu nhau đến mức, thay vì nói "yêu”, thì lại nói là "ghét”; chẳng hạn, một cặp vợ chồng yêu nhau đến mức người chồng nói với người vợ: "Anh ghét em quá đi thôi!”, chẳng may có một đứa cháu nghe được câu nói đó liền vội đi thuật lại cho bà ngoại. Nghe vậy, bà ngoại hết sức lo lắng vì nghĩ rằng con gái mình và chàng rể đang lủng củng với nhau, vì chính miệng chàng rể nói “Anh ghét em quá!" kia mà.

Thế nhưng thực ra đứa cháu chỉ nghe được một câu và không hiểu chữ "ghét" đó là chỉ mức độ cao nhất của tình yêu. Chính vì vậy, lời Chúa là một lời sống động do các tác giả ghi chép lại, nhưng chẳng qua các tác giả đó đã vận dụng những phạm trù, những ngôn từ, những bút pháp của riêng mình, của nền văn hóa, của thời đại mình đang sống, để diễn tả một kinh nghiệm tương giao liên ngã vị nào đó với Thiên Chúa mà có thể nói là "bất khả ngôn".

Do vậy, khi nói rằng Kinh thánh được linh hứng, thì không phải hiểu một cách đơn giản rằng Thánh Thần đọc từng chữ cho người viết biên chép lại, nhưng Thánh Thần ngỏ với tâm linh con người ấy, qua một kinh nghiệm nào đó được con người ấy mở lòng ra đón nhận bằng một niềm tín phó thác đáp ứng, chẳng những trong tư tưởng, trong tình cảm mà còn cả trong hành động nữa. Hành động đầu tiên của người ấy là nỗ lực tìm những phạm trù, tìm những ngôn từ, vận dụng những bút pháp để diễn tả ra, hòng thi hành cái mệnh lệnh của Thiên Chúa, là làm phát ngôn nhân của Ngài.

Do đó, nói rằng Kinh thánh không thể sai lầm là phải hiểu một cách sâu xa rằng, điều mà Thiên Chúa đã truyền đạt qua một kinh nghiệm linh hứng nào đó bất khả ngôn, thì mới là không sai lầm. Và muốn hiểu cho được điều đó thì phải chọc thủng cái vỏ phạm trù, cái vỏ ngôn từ, cái vỏ bút pháp bao giờ cũng phụ thuộc vào từng cá nhân, văn hóa, thời đại, từng thể văn chứ không nên hiểu một cách máy móc.

Ví dụ, trong việc mô tả sự sáng thế, có một tiến trình tạo dựng trời đất do Thiên Chúa thực hiện qua bảy ngày, đó chẳng qua là tác giả dùng những cái khuôn khổ thông thường thời bấy giờ, vay mượn một số vũ trụ quan, nhân sinh quan nào đó của nền văn hóa đương thời để diễn tả ra cái kinh nghiệm độc đáo từ tận trong tâm linh của mình về công trình sáng tạo từ hư vô bởi Thiên Chúa, chứ không phải Thiên Chúa đọc cho người viết rằng quả thật là đã tạo dựng trong vòng bảy ngày.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.