Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 11 (tiếp theo)

 


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

11 (tt) - Ơn thông hiểu thánh hiện hướng dẫn mọi khả năng phục vụ Cha cách can đảm và đại lượng; nó dạy yêu thương tha nhân đến bỏ mạng vì ơn cứu độ các linh hồn, cả ngàn lần nếu có thể. Nó chấp nhận mọi đau khổ và khó nhọc vì đời sống ân sủng của tha nhân. Nó cũng không tiếc của cải vật chất trong việc chia sẻ với tha nhân. Đấy, hành động lớn lao của ơn thông hiểu, phát xuất từ đức ái.

Con thấy đó, mẫu mực do ơn thông hiểu vạch ra, nó cho biết bổn phận đối với tha nhân mà linh hồn phải tuân theo, nếu muốn được sống trong ơn thánh sủng. Nó phải yêu mến Cha một tình yêu vô bờ bến, không tính toán; đối với tha nhân nó cũng phải yêu mến, nhưng là tình yêu phải cân nhắc và có trật tự, như Cha đã nói, là không được làm điều xấu nhằm mưu lợi ích cho người khác. Đấy cũng là điều tông đồ Phaolô đã khuyến cáo khi nói rằng: tình yêu có trật tự là tình yêu bắt đầu từ chính mình. Làm cách khác, là không phục vụ tốt tha nhân. Bởi vì linh hồn không trọn lành, thì tất cả những điều nó có thể làm cho mình và cho người khác đều không trọn hảo. Để cứu một tạo vật hữu hạn, mà xúc phạm đến Cha, là Đấng Vĩnh Cửu và Vô Biên, là điều có nên hay không? Không nên, mà còn là trọng tội không thể đền bù được bởi việc lành nó làm ra; thế nên người ta đừng bao giờ phạm tội.

Đức ái chân thật hiểu rõ điều này, vì nó có ánh sáng của ơn thông hiểu. Ánh sáng đẩy lui tối tăm, tiêu diệt ngu dốt, tạo được nhân đức, và là yếu tố trợ lực cho đời sống thiêng liêng. Nó là đức khôn ngoan không thể lầm đường, là sức mạnh vô song, là sự kiên nhẫn tới cùng. Nó trải dài từ trời tới đất; nó đi từ sự hiểu biết về Cha đến sự hiểu biết về mình, từ tình yêu mến Cha đến tình yêu thương tha nhân.

Nhờ có đức khiêm nhường chân thật, linh hồn tránh được mọi cạm bẫy thế gian; nhờ có đức khôn ngoan, nó thoát được mọi quyến rũ của thế tục. Với đức nhẫn nại, linh hồn với tay không xua đuổi được ma quỷ, cũng như thắng được tính dục xác thịt, nhờ ơn thông hiểu soi sáng mà biết được sự yếu đuối của mình, đồng thời biết chê ghét cái gì đáng chê ghét. Chính vì vậy, mà linh hồn coi rẻ thế gian, khinh chê và đặt nó dưới chân, để linh hồn thành bá chủ.

Bởi vậy, mọi bạo lực trần gian không thể cự lại được nhân đức của một linh hồn; ngược lại, chỉ làm nó tăng lên và vững mạnh hơn. Vì nhân đức sinh ra bởi tình yêu, như đã nói, chịu thử thách khi gặp tha nhân, và gia tăng khi phải đối mặt với họ. Chính vì lý do này, linh hồn cần có cơ hội để xuất diện, để giãi sáng trước mặt mọi người mỗi khi chịu thử thách, để thiên hạ nhìn thấy sự thẳm sâu của linh hồn. Không có một nhân đức nào trọn hảo và sinh nhiều hoa trái, lại thiếu mặt tha nhân, làm trung gian và chứng nhân.

Linh hồn ví như một phụ nữ mang thai đứa con trai, nếu nàng không sinh nó ra, nếu nàng không cho người ta thấy đứa con ấy, chồng nàng không thể nói anh ta có một đứa con trai. Và Cha, Cha là Hôn Phu của linh hồn, nếu linh hồn không sinh ra đứa con, gọi là nhân đức, trong tình yêu thương tha nhân; nếu nó không tỏ ra nhân đức ấy khi người ta đòi hỏi nó, cách chung hay cách riêng, thì như Cha đã nói, và nói lại rằng: nó không có nhân đức. Cũng thế, khi nói về các nết xấu tội lỗi, tất cả đều lộ ra trước sự có mặt của tha nhân, làm trung gian và nhân chứng.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Tín điều "Các Thánh Thông Công" và việc thờ cúng Tổ Tiên và các bậc Phúc Thần, Hiển Thánh của Dân tộc



TÍN ĐIỀU “CÁC THÁNH THÔNG CÔNG”
VÀ VIỆC THỜ CÚNG TỔ TIÊN VÀ CÁC BẬC PHÚC THẦN, HIỂN THÁNH CỦA DÂN TỘC.

+ THẾ TÂM NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

“Và Thiên Chúa đã đẹp lòng chấp nhận Abel và của lễ của ông ta” (Sáng Thế 4,4b).
Và Thiên Chúa nói với Nôe: “Đây là dấu hiệu giao ước mà ta thiết lập giữa TA và TẤT cả mọi sinh linh trên mặt đất” (Sáng Thế 4,17).

I.
Tòng giáo năm 1949 (tức là trước công đồng Vaticanô 2), tôi phải đoạn tuyệt với truyền thống thừa kế từ một nền văn hoá xây dựng trên nền tảng Khổng giáo, vốn lấy đạo Hiếu làm gốc mà việc thờ cúng tiền nhân là một điều quan trọng vào bậc nhất.

– Cụ thể là tôi không được:
1) Thờ cúng Tổ Tiên.
2) Thờ cúng các vị Phúc Thần, Hiển Thánh tức là các Tiền nhân có công đức lớn lao đối với địa phương, với Đất Nước, với nhân dân mà lòng sùng bái của hậu thế đã đặt lên bàn thờ (và phần lớn được Nhà Vua, tức là vị Thiên Tử, thay mặt Trời ban tặng Sắc Phong)
– Vì việc Thờ phụng ấy bị xem như là Thờ Ngẫu Tượng (IDOLATRIE).

II.
Thực ra việc thờ phượng ấy bao hàm một số niềm tin (croyances) về ý nghĩa nhân sinh sau đây:
1) Người chết vẫn tồn tại và vẫn có sự tương ứng với người còn sống một cách nhiệm mầu.
2) Nếu những người quá cố ấy là những kẻ có công đức to lớn thì được TRỜI cho siêu thăng và được ban cho dự phần vào việc hoá dục muôn vật và phù trợ cho hậu thế: con cháu, đồng bào, đồng loại tương tự như Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng được Thiên Chúa giao cho việc rắc xuống trần gian những đoá hoa hồng. Và như vậy là TRỜI tỏ cái Đạo Lý công bằng tài bồi cho những người Công Chính trước mặt Ngài.

Thờ cúng tiền nhân có công đức là tuân Đạo Trời, là thờ Trời một cách gián tiếp. Vì chỉ có Nhà Vua mới được trực tiếp thờ Trời: ba năm một lần Tế Giao rất trọng thể, tôn nghiêm với bá quan Văn Võ. Rồi đến Quan Chức mới được thờ Thần Thánh, còn thường dân thì chỉ thờ Tổ Tiên.

Niềm tin ấy và việc thờ phượng ấy xét ra không có gì là trái với Đức Tin Kitô Giáo. Vì trong căn bản là một nhân sinh quan lấy Đạo Lý làm nền tảng và Đạo Lý ấy là bởi Trời. Không phải không thờ Trời, mà có lòng khiêm cung sâu thẳm, không dám phạm thượng làm cái việc thiêng liêng chỉ dành riêng cho Nhà Vua (tương tự như Giáo dân không làm lễ, đó là việc Thiêng liêng chỉ dành cho các linh mục). Bắt người tòng giáo đoạn tuyệt với một truyền thống tốt đẹp như vậy là không hợp lý hợp tình!

III.
Sau Vaticano 2 người Công Giáo được phúc thờ cúng Tổ Tiên và tham dự việc thờ cúng Phúc Thần và Hiển Thánh. Nhưng hình như chỉ với ý nghĩa bày tỏ lòng tôn kính tri ân chứ không nêu rõ ý nghĩa:
1) Những người công chính, dù chưa được đón nhận tin vui, cũng được siêu thăng vinh hiển (dĩ nhiên là quy về sự siêu thăng vinh hiển tột đỉnh của Đức Giêsu Kitô Phục Sinh),
2) Và như vậy thì được Thiên Chúa trao cho nhiệm vụ làm trung gian ban các ơn phúc của Ngài cho người dương thế, như Ngài đã giao nhiệm vụ ấy cho các Thánh Kitô hữu, theo tín điều “Các Thánh Thông Công” trong kinh Tin Kính.

IV.
Vậy có thể lấy tín điều “Các Thánh Thông Công” làm nhịp cầu nối lại (không đoạn tuyệt nữa!) Đức Tin Kitô Giáo với các truyền thống thờ cúng Tiền nhân của Dân tộc Việt Nam mà không có gì là lạc giáo (hérétique). Đồng thời cũng là mở một cánh cửa để người Việt Nam ngoài Công Giáo nhìn vào Giáo Hội với ít nhiều thiện cảm và thấy gần gũi, bớt xa lạ.

Để minh hoạ suy nghĩ trên đây xin hình dung một ngôi đền thánh có ba dòng Thánh song song hàng dọc:
1) Dòng ở giữa gồm các Thánh Tân Ước.
Hai bên tả hữu:
2) Một bên là dòng gồm các Thánh Cựu Ước.
3) Một bên là dòng gồm các Thánh Tiền-Cựu-Ước (hay Nguyên Ước).
Dòng thứ 3 khởi đầu là người Công Chính Abel và kế tiếp là các vị tiền nhân Công Chính của mọi gia đình, mọi dân tộc, tuy là không thuộc về Giao ước Abraham nhưng cũng được siêu thăng vinh hiển.
Như vậy ắt hẳn là phù hợp với niềm tin vào tính phổ cập của ơn Cứu Độ trong Đức Giêsu Kitô hơn.

● Và để kết luận:

Trong bài Kinh Năm Thánh 2000 (Phần 4) khi nhờ các Thánh chuyển cầu, đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo 2 có “Nhờ lời cầu xin của NHỮNG NGƯỜI CÔNG CHÍNH THUỘC MỌI DÂN, MỌI THỜI”. Có phải chăng Ngài đã mặc nhiên công nhận rằng: Những người công chính thuộc MỌI DÂN, MỌI THỜI, cũng đã được siêu thăng vinh hiển và có khả năng chuyển cầu cho nhân thế trước mặt Thiên Chúa là Vị Cha Chung; chẳng khác gì các người công chính đã được Giáo Hội minh nhiên phong Hiển Thánh.

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 11



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Việc sám hối ăn năn và những việc hành xác chỉ là phương thế đạt tới nhân đức, chứ đừng coi là điều chủ yếu.

11. Đấy, con xem những hoa trái việc lành, mà Cha muốn thấy linh hồn phải thể hiện, để chứng tỏ mình có nhân đức trong những lúc phải thử thách. Cha đã nói với con, nếu con còn nhớ, khi con giao ước làm việc đền tội thật lớn lao, con có nói: “Con có thể làm gì để chịu đau khổ vì Cha, thưa Cha?”. Và Cha đã trả lời trong tâm hồn con bằng những lời đơn giản, như sau: “Cha là Đấng ưa người nói ít, làm nhiều”. Như vậy, là để con biết Cha không thích những tiếng la lối om sòm; “Lạy Chúa, con muốn làm một việc gì cho Chúa” (Xc Mt 7:21), giống như kẻ hành xác mình, nhưng lại không muốn từ bỏ ý riêng, rồi tưởng như vậy là đẹp lòng Cha. Điều Cha muốn là sống nhẫn nại và can đảm chịu đau khổ, cùng nhiều nhân đức nội tâm khác, nhờ sức mạnh của ân sủng. Tất cả những gì người ta làm ngoài nguyên tắc này, Cha coi như là nói suông nói nhiều, và chỉ là việc làm có giá trị hữu hạn, trong khi Cha là Đấng Vô Biên, muốn việc lành và một tình yêu cũng vô biên.

Cha muốn con biết rằng: việc khổ chế đền tội và các hành vi khác, chỉ là con đường tiến đến nhân đức, chứ không phải là bản chất của nhân đức. Chúng chỉ là những việc làm có giá trị hữu hạn, giống như tiếng nói một khi xuất khỏi môi miệng là tan đi, vì nó không đến từ sự cảm thương của linh hồn, chỉ linh hồn mới cảm thụ và sinh ra nhân đức. Một tiếng nói phát ra từ lòng cảm mến sẽ đẹp lòng Cha, là vì không phải chỉ có tiếng nói, nhưng trong đó còn có sự hiểu biết. Ơn thông hiểu này thúc đẩy linh hồn thực thi việc lành bác ái, và coi các hành vi kia chỉ là phương thế để đạt tới đức ái.

Như vậy, không nên lấy việc hãm mình đền tội và những hoạt động bên ngoài khác làm mục tiêu chính phải nhắm tới trong đời sống thiêng liêng, vì như Cha đã nói với con, chúng là những việc lành có giá trị hữu hạn và thực hiện trong thời gian có hạn, đến độ đôi khi con nên ngưng làm, và buộc phải ngưng làm. Có thể vì hoàn cảnh hoặc lệnh của bề trên, mà cứ làm sẽ chẳng có công lênh gì, lại còn mắc tội. Con thấy chưa? Những việc lành hữu hạn là vậy, nên hãy coi chúng chỉ là phương tiện đạt tới nhân đức, chứ không phải là mục tiêu hay bản chất nhân đức. Lấy chúng làm mục tiêu, linh hồn sẽ trở nên trống rỗng mỗi khi buộc phải ngưng một thời gian.

Như Thánh Phaolô tông đồ, người hùng của Cha đã nói: anh em hãy kềm chế xác thịt, hãy giết chết ý riêng, khi chúng muốn nổi dậy chống tinh thần. Ý muốn của anh em phải trói nó lại, bắt nó suy phục ý muốn của Thiên Chúa. Phải thắng ý riêng bằng ơn thông hiểu, là ơn làm cho linh hồn chê ghét tội lỗi và đam mê xác thịt, cùng biết sự thật về mình. Đó là khí giới đem lại thắng lợi, là diệt được lòng tự ái và ích kỷ.

Sống như thế, là họ dâng lên Cha không những lời nói, mà còn nhiều việc lành, làm vui lòng Cha. Đấy, tại sao Cha nói với con rằng: Cha ưa thích nói ít mà làm nhiều. Cha nói “nhiều”, nhưng không nói con số, bởi vì sự thương cảm của linh hồn bắt nguồn từ đức ái là nhân đức ban sự sống cho các nhân đức khác và mọi việc lành. Về lời nói, không phải Cha muốn loại trừ nó, Cha chỉ muốn bảo rằng: Cha không ưa nhiều lời, bởi vì các việc lành bên ngoài chỉ có giá trị hữu hạn. Chúng chỉ đẹp lòng Cha, khi người ta coi chúng là đường đi, là phương tiện, để tập tành các nhân đức, chứ không phải là bản chất nhân đức.

Đừng lấy sự chịu khổ đền tội làm thước đo sự trọn lành trong đời sống thiêng liêng. Vì như Cha đã nói, nhân đức cũng như phần thưởng không hệ tại ở những việc làm ấy, vì có nhiều người, vì lý do chính đáng nào đó, không thể làm được thì sao? Nhân đức và công trạng là ở tại đức ái được soi sáng bởi ơn thông hiểu. Ơn này không làm luật lệ cho tình yêu của Cha, vì Cha là Đấng Chân Lý vĩnh cửu và tuyệt đối, nhưng nó đặt trật tự cho tình yêu đối với tha nhân. Đó là tình yêu dưới ánh sáng của ơn thông hiểu – là ơn xuất phát từ đức ái – nó sẽ hướng dẫn tình yêu tha nhân, để không bị nhầm lẫn, khi muốn làm việc xấu nhằm mưu ích cho tha nhân. Nếu người ta chỉ phạm một tội thôi để cứu cả thế giới khỏi hoả ngục, hay thực hiện một công trình to lớn, thì cũng không nên, vì đó là tình thương thiếu thông hiểu, và vì người ta không được phép làm sự dữ để đạt điều lành.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 10



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Ý nghĩa về sự liên hệ giữa đức ái, đức khiêm nhường và ơn thông hiểu, và linh hồn phải sống theo ý nghĩa này.

10. Con có biết ba nhân đức nói trên liên hệ với nhau như thế nào không? Con hãy hình dung một vòng tròn trên mặt đất, ở giữa vòng tròn là một cây có cái mầm non ghép vào. Cây được nuôi sống bởi đất trong chu vi vòng tròn, nếu không được trồng xuống đất, nó sẽ khô héo, không sinh hoa trái.

Bây giờ con hãy ví linh hồn là cây đó, được sinh ra để yêu và nó không thể sống ngoài tình yêu. Nếu linh hồn không có tình yêu hoàn thiện của Thiên Chúa, nó không sinh hoa trái sự sống, nhưng sự chết. Như vậy, gốc rễ của cây này, nghĩa là tình yêu mến của linh hồn, phải cắm xuống đất, và được nuôi dưỡng trong phạm vi vòng tròn, là sự hiểu biết đúng đắn về mình. Sự hiểu biết về mình lại phải nối kết với Cha, là Đấng không khởi đầu và cũng không tận cùng, giống như trong vòng tròn con quay đi trở lại, mà không hề thấy đâu là đầu, đâu là cuối, nhưng chỉ thấy mình bị nhốt trong đó.

Linh hồn biết về mình và về Cha, sự thông hiểu đặt trên đất của đức khiêm nhường, mà diện tích của nó là kích thước của vòng tròn hiểu biết về Cha trong nó. Nếu không, vòng tròn sẽ có khởi đầu và có tận cùng. Có khởi đầu, đó là biết mình nhưng rồi tan biến vào hư vô, nếu nó tách rời khỏi Cha. Như vậy, cây đức ái phải được nuôi dưỡng trong đất khiêm nhường; cây này sinh ra một mầm non, đó là ơn thông hiểu. Cái tuỷ của cây đức ái trong linh hồn là đức nhẫn nại, nó là dấu chỉ sự hiện diện của Cha trong linh hồn và linh hồn ở trong Cha.

Cây này được trồng cách tốt đẹp như thế, nó sẽ trổ bông nhân đức, có hương thơm khác nhau, nó sinh trái ngon ngọt cho những ai ước ao theo chân các tôi tớ của Cha; thế nên nó tôn vinh và ca tụng danh Cha, là Đấng đã tạo dựng nên nó. Như vậy, nó đạt mục đích, nghĩa là chiếm hữu Cha là Thiên Chúa của nó, Đấng ban sự sống thật, và không ai lấy mất được, trừ phi nó muốn mất. Mọi hoa trái của cây này đều gắn bó với nhau, chúng đều đến từ ơn thông hiểu.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 9



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Vì sao con người không nên quá quan tâm vào việc hành xác đền tội bên ngoài, nhưng phải chú tâm vào việc tập tành các nhân đức. Ơn thông hiểu bắt nguồn từ lòng khiêm tốn, và dạy của ai trả cho người ấy.

9. Đấy, những việc tốt đẹp và lành thánh, Cha đòi phải có nơi các tôi tớ Cha, để biết các nhân đức nội tâm của linh hồn phải chịu thử thách, theo đường lối như cha đã nói. Đối với Cha, những hoạt động bên ngoài cũng như việc hành xác chỉ là cách tập tành các nhân đức, bởi vì những hành vi ấy không phải là nhân đức, và không mấy đẹp lòng Cha. Ví dụ, nếu linh hồn thực thi những việc hãm mình mà thiếu sự phân biệt hay thông hiểu, mà chỉ để ý hãm mình đền tội, nó sẽ sai lầm trên con đường trọn lành.

Cha chỉ muốn tình yêu thôi, với một lòng chê ghét tính ích kỷ, cùng đức khiêm nhường chân thật, đức nhẫn nại kiên cường, lòng khao khát làm rạng rỡ danh Cha và ơn cứu độ các linh hồn. Các nhân đức này là dấu chỉ đã diệt được ý riêng, cũng như đã hãm dẹp được tính dục. Cần phải hiểu rõ mục đích của việc hãm mình đền tội, hãy yêu mến nhân đức hơn hãm mình hành xác, là điều chỉ giúp cho việc tập tành các nhân đức, tuỳ mức nhu cầu và điều kiện của mỗi người.

Lấy việc hành xác đền tội làm chủ yếu và làm nền tảng đời sống thiêng liêng, sẽ làm cản trở con đường nên hoàn thiện. Bởi vì, nó sẽ làm quên đi hoặc xa rời sự biết mình và biết lòng nhân hậu của Cha. Nó cũng chẳng biết yêu mến những gì Cha yêu mến nhất, và chê ghét những gì Cha chê ghét nhất. Ơn thông hiểu không gì khác, là sự biết phân biệt linh hồn cần phải có, để nhận thức đúng về mình và về Cha; chính nhờ sự nhận thức này mà linh hồn biết được nguồn gốc của mình. Đó là cái mầm non được ghép vào đức ái, và sản sinh ra nhiều mầm non khác, tựa như một cây đang phát triển nhiều cành lá. Nhưng sự sống của thân và cành cây là gốc rễ, được trồng dưới đất khiêm nhường, là mẹ nuôi đức ái, nơi mầm sống được ghép vào, trở thành cây thông hiểu hay phân biệt.

Ơn thông hiểu hay phân biệt không phải là nhân đức, cũng không sinh hoa trái sự sống, nếu nó không được trồng dưới đất khiêm nhường, bởi vì đức khiêm nhường xuất phát từ sự nhận thức đúng về mình và về Cha là Đấng Nhân Lành vô cùng, và là sự hiểu biết rất rõ của ai phải trả cho chủ ấy cho thật công minh.

Trước hết, có ơn thông hiểu và phân biệt, linh hồn sẽ trả cho Cha những gì thuộc về Cha, đó là tôn vinh danh Cha, là kể lại những hồng ân và những quà tặng Cha ban; chỉ dành cho mình những gì đúng là của mình, nếu là sự tốt lành thì cũng biết đó là những hồng ân bởi Đấng Nhân Lành ban cho, kể cả cái thực thể hiện có của nó cũng bởi Cha. Nó còn lãnh nhận nhiều ơn khác không phải cho nó, nhưng để đem phân phát cho anh em mình. Nó đáng phải trừng phạt nặng nề, nếu nó vô ơn và không biết sử dụng ngày giờ và các ân huệ ấy. Chính vì vậy, nó phải hối hận và ăn năn sám hối.

Đấy, hiệu quả của ơn thông hiểu và phân biệt, xây trên nền tảng biết về mình, tức khiêm nhường. Không có đức khiêm nhường, linh hồn sẽ không biết gì cả. Không ơn thông hiểu, nó sẽ sinh ra kiêu ngạo, còn như có ơn này, nó sống khiêm nhường. Linh hồn thiếu ơn này, nó sẽ như tên trộm cướp đoạt danh Cha, và làm sáng danh mình; và mỗi khi điều gì không vừa ý xảy ra cho nó, nó đổ lỗi cho Cha, nó kêu ca lẩm bẩm, nó giận dữ về ý định mầu nhiệm của Cha đối với nó và đối với các tạo vật khác, nó bất mãn với Cha và với mọi người

Thái độ của những ai có ơn thông hiểu cũng khác nhau. Sau khi đã trả cho Cha và cho mình những gì phải trả, như Cha đã nói, họ sẽ phải trả cho tha nhân nữa. Trả cái gì? Trả tình thương mến phát sinh từ đức ái, trả lời cầu nguyện khiêm tốn và liên lỉ, là điều mọi người phải làm cho nhau. Rồi còn phải trả cái nợ đối với tha nhân, ấy là cái nợ ban lời giảng dạy và an ủi, gương lành thánh thiện, và tất cả những gì lợi ích cho ơn cứu độ các linh hồn. Con người dù ở bất cứ địa vị nào, ông hoàng, giáo sĩ hay thứ dân, nếu có nhân đức này, thì tất cả những gì họ làm cho tha nhân, họ làm một cách hiểu biết và bác ái. Bởi vì hai điều này không thể tách rời nhau: chúng cùng sống trên đất khiêm nhường là nhân đức đi từ sự hiểu biết đúng về mình mà ra.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Thầy Stêphanô Nguyễn Khác Dương (24.09.1925 - 28.09.2026)




NGUYỄN KHẮC DƯƠNG VÀ MỘT ĐỜI TỰ VẤN GIỮA CÁC NỀN VĂN HÓA

Tác giả: Tino CAO

Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24 Tháng Chín năm 1925 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học bề thế. Cha ông là cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, người đỗ đại khoa dưới triều Nguyễn, từng làm quan, và được nhớ đến như một nhà Nho giữ trọn tiết tháo ở buổi hoàng hôn của nền quân chủ. Anh ông là bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện; chị ông là nhà thơ Nguyễn Thị Thiếu Anh; các em ông có giáo sư Nguyễn Khắc Phi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà hoạt động phụ nữ Nguyễn Thị Phương Thảo (*). Muốn nói về Nguyễn Khắc Dương, phải bắt đầu từ nếp nhà ấy, nơi mà chữ nghĩa, đạo đức, trách nhiệm gia tộc, ý thức kẻ sĩ và cảm thức quốc gia thấm vào đời sống hằng ngày.

Nếp nhà ấy cũng đặt Nguyễn Khắc Dương trước một nghịch cảnh lịch sử. Ông sinh ra khi Nho học đã mất địa vị chính thống, khoa cử bị bãi bỏ, xã hội Việt Nam chịu cảnh thuộc địa, tầng lớp trí thức cũ mất con đường hoạn lộ quen thuộc. Với thế hệ của ông, Nho học đã khép lại lối vào quan trường; phần đáng giá còn lại nằm trong gia phong, luân lí, danh tiết và bổn phận.

Đời Nguyễn Khắc Dương từ đó mang theo nhiều băn khoăn day dứt trước những ngả rẽ không phải dễ lựa chọn: con nhà Nho nhưng học ở trường Công giáo; người từng chịu hấp lực Phật học rồi chọn Kitô giáo; người học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với sự Tây hóa; người giảng dạy trong đại học Công giáo miền Nam mà mang trong mình vùng kí ức Đông phương của một ông đồ xứ Nghệ.

Năm 1938, khi Nguyễn Khắc Dương vào học trường Thiên Hựu (Providence) ở Huế, sự chuyển hướng đầu tiên đã bắt đầu. Một người con trong nếp Nho gia gặp nền giáo dục Công giáo, gặp tiếng Pháp, truyền thống nhân văn châu Âu, một diễn ngôn khác về con người. Trong vũ trụ Nho giáo, con người được đặt trong gia đình, tông tộc, luân thường, phận vị; trong thế giới Công giáo mà ông tiếp xúc, con người tồn tại như một nhân vị độc nhất trước Thiên Chúa, có lương tâm, tự do, phẩm giá và trách nhiệm không thể thay thế. Va chạm ấy không phải chuyện đổi trường. Nó là một biến động trong cách hiểu về mình. Từ đây, Nguyễn Khắc Dương bắt đầu đi vào thế kỉ 20 không phải như một người thừa kế yên ổn của truyền thống mà như một cá nhân buộc phải tự tìm lấy vị trí giữa các truyền thống đang tranh chấp trong chính đời ông.

Sau 1945, đường đời Nguyễn Khắc Dương đi qua nhiều bước ngoặt lịch sử. Ông tham gia một số hoạt động Việt Minh tại địa phương, dạy học ở trường tư thục Công giáo tại Hà Tĩnh, rồi năm 1949 lãnh nhận bí tích Rửa tội với tên thánh Stêphanô. Quyết định theo Công giáo của ông cần được nhìn nhận trong chiều sâu văn hóa của nó. Đó không phải là sự rời bỏ một nền nếp cũ để đi theo một tôn giáo ngoại lai theo nghĩa hời hợt mà nhiều diễn ngôn chính trị vẫn gán cho Công giáo Việt Nam. Đó là một chọn lựa phải đi qua mặc cảm gia đình, qua hình ảnh người cha Nho học, qua bổn phận của người con, ý niệm nối dõi, nỗi băn khoăn trước một tôn giáo bị không ít người Việt thời ấy nhìn như gắn với thực dân.

Cuộc “trở lại” của Nguyễn Khắc Dương không phải một quyết định bất chợt. Đó là lựa chọn hình thành giữa những ràng buộc rất sâu xa của gia phong, đạo hiếu, kí ức Nho học và nhu cầu tự tìm lấy một nền tảng tinh thần cho đời mình. Sau khi vào dòng Phanxicô, tu học tại Vinh, Nha Trang, rồi sang Pháp, ông tiếp tục đi sâu vào một lựa chọn vừa thiêng liêng vừa trí thức. Từ năm 1957 đến 1960, ông học triết học tại Sorbonne và tốt nghiệp cử nhân triết học. Cần định danh chính xác điểm này, vì về sau nhiều người gọi ông là giáo sư, thậm chí có nơi gọi sai là tiến sĩ.

Uy tín của Nguyễn Khắc Dương không phải từ chuyện học hàm theo nghĩa hành chính ngày nay. Ông là “thầy” vì cuộc đời giảng dạy, vì tư thế trí thức, vì ảnh hưởng trên nhiều thế hệ linh mục, tu sĩ, kể cả giám mục. Sau khi về miền Nam năm 1965, ông giảng dạy tại Sài Gòn rồi lên Viện Đại học Đà Lạt, nơi ông giữ vai trò Trưởng ban Triết học và quyền Trưởng khoa Văn - Triết. Đà Lạt khi ấy là một không gian đại học Công giáo có vị trí quan trọng trong sinh hoạt trí thức miền Nam, với những gương mặt như linh mục Lê Văn Lý, linh mục Lê Tôn Nghiêm, và nhiều học giả khác.

Với riêng tôi, cái tên Nguyễn Khắc Dương đi vào trí nhớ gia đình trước khi tôi tìm đọc sách báo và các bài viết về ông. Ba tôi từng là học trò của thầy ở Viện Đại học Đà Lạt từ năm 1966. Từ mấy mươi năm trước, ba tôi đã nhiều lần nhắc đến thầy như một người để lại dấu ấn trong cách học, cách nghĩ và đối diện với đời sống tinh thần. Về sau khi đọc thêm về Nguyễn Khắc Dương, tôi gặp lại ở thầy một bóng dáng quen thuộc. Tư liệu và suy nghĩ của tôi về thầy chỉ giúp mở rộng thêm một kí ức đã có sẵn trong gia đình.

Trong môi trường Đà Lạt ấy, Nguyễn Khắc Dương là một giảng viên triết học mang thân phận giao thoa hiếm có: tu sĩ xuất dòng, người Công giáo tha thiết với đức tin, người con Nho gia, người học triết Tây phương, người từng đi qua kinh nghiệm chính trị thời cách mạng, và sống giữa chiến tranh cùng các ý thức hệ. Vì thế, nhận định của Đỗ Lai Thúy rằng ông là “người đi tìm mình qua những xung đột văn hóa” đã chạm đúng phần cốt lõi trong đời thầy Nguyễn Khắc Dương. Trong ông, Nho, Phật, Lão, Kitô giáo và triết Tây tạo thành một vùng va chạm tư tưởng thật sự. Các truyền thống ấy đòi hỏi, chất vấn, làm ông đau, rồi buộc ông phải chọn lựa. Mỗi lựa chọn mở ra một khả thể tự do, đồng thời để lại một vết thương nội tâm sâu sắc.

Nho học ở Nguyễn Khắc Dương không chỉ là vốn kiến thức cổ điển. Nó là nếp sống, là cảm thức về bổn phận, là ý thức thanh liêm, là một “hạt nhân đồ Nho” mà chính ông từng thừa nhận khó phá vỡ. Cái hạt nhân ấy khiến ông không bao giờ thành một người Tây hóa trọn vẹn, dù học triết ở Pháp và sống lâu trong môi trường Công giáo. Ông tiếp nhận Kitô giáo, nhưng không tiếp nhận vô điều kiện toàn bộ văn minh Tây phương. Ông có thể gần với Đức Kitô, nhưng vẫn dị ứng với một số yếu tố duy lí, duy luật, duy kĩ thuật của phương Tây ngoài Kitô giáo.

Điểm này rất quan trọng để hiểu Nguyễn Khắc Dương. Ông không phải một người Việt bỏ Đông sang Tây. Ông cũng không phải một nhà Nho cố thủ trước hiện đại. Ông sống ở giữa, nơi sự hấp thụ luôn đi kèm sàng lọc. Cái Nho trong ông không chết sau khi ông trở thành người Công giáo. Nó chỉ chuyển vị trí, tuy không còn giữ vai trò hệ tư tưởng bao trùm, nhưng tồn tại như một lương tri đạo đức, một thái độ với danh lợi, một nỗi trọng nghĩa, một cách sống thanh bần và nghiêm cẩn.

Phật học và Lão Trang trong ông cũng không phải thứ trang sức của một trí thức đọc nhiều. Phật giáo từng hấp dẫn ông bằng ý niệm giải thoát, bằng lời mời rời bỏ những ràng buộc của dục vọng, danh vọng, bản ngã và khổ đau. Lão Trang trao cho ông cảm thức về tự do nội tâm, về sự buông lỏng những quy phạm cứng nhắc, về khoảng không của con người trước đời sống. Nhưng nơi Kitô giáo, ông gặp một điều khác với con đường giải thoát thuần túy. Ông gặp một ngã vị yêu thương, một Đức Giêsu chịu đau khổ, vô tội, bị đóng đinh, nhưng vẫn gọi con người bằng lòng thương xót. Nếu Nho giáo đặt ông trong mạng lưới gia tộc và đạo nghĩa, nếu Phật giáo gợi ra con đường thoát khổ, thì Kitô giáo cho ông một cách hiểu mới về nhân vị. Con người không chỉ là con trong nhà, dân trong nước, học trò trong trường, kẻ sĩ trong xã hội; con người còn là một hữu thể được gọi tên trước Thiên Chúa.

Ở đây, lựa chọn tôn giáo của Nguyễn Khắc Dương đồng thời là một lựa chọn nhân học. Ông không chỉ đổi hệ niềm tin. Nói chính xác hơn, ông thay đổi cách hiểu về con người, về đau khổ, về tội lỗi, về tình yêu, về cứu cánh. Chính vì vậy, sự hội nhập Công giáo ở ông không phải chỉ là một motivation xuất phát từ văn hóa. Nó là một cuộc thử lửa trong thân phận. Ông không Việt hóa Kitô giáo bằng cách gắn thêm vài biểu tượng dân tộc. Ông làm cho Kitô giáo có giọng Việt qua chính lối sống của một người con Nho gia, hiểu Phật, biết Lão, học Tây, và không chịu để một hệ thống nào độc chiếm toàn bộ con người mình.

Triết học Tây phương giúp Nguyễn Khắc Dương định danh cho những tương phản ấy. Sorbonne cho ông nền học thuật, nhưng điều ông mang về không phải lòng sùng bái hệ thống. Qua cách giảng dạy và hồi kí của ông, có thể thấy ông không thuộc mẫu trí thức say mê xây lâu đài khái niệm. Ông gần hơn với Pascal, Kierkegaard, Jaspers, Gabriel Marcel và dòng hiện sinh hữu thần, câu hỏi triết học không nằm ở việc lập một hệ thống khép kín mà ở việc đối diện với khổ đau, tự do, niềm tin, cô đơn, cái chết, tình yêu và ơn cứu độ.

Trong miền Nam thập niên 1960, hiện sinh không chỉ là một mốt triết học nhập cảng. Nó trở thành một ngôn ngữ để trí thức nói về chiến tranh, thân phận, tự do, phi lí, lựa chọn cá nhân và sự từ chối các trại tù ý thức hệ. Các tạp chí và giảng đường miền Nam từng bàn nhiều về Sartre, Camus, Marcel, Mounier, Kierkegaard, Jaspers, đồng thời đặt hiện sinh trong tương quan với Phật giáo và hoàn cảnh chiến tranh Việt Nam.

Nguyễn Khắc Dương thở trong bầu khí quyển tự do ấy, nhưng ông không đi về phía hiện sinh vô thần. Ông không lấy phi lí làm điểm tựa. Ông dùng câu hỏi hiện sinh để đi sâu hơn vào nhân vị và đức tin. Bởi vậy, giảng triết đối với ông không phải truyền đạt một chương trình gồm các tên tuổi, học phái, niên đại, thuật ngữ. Ông quan niệm thầy trò chỉ là những người cùng đi trên con đường tìm triết lí cho đời mình; người đi trước có kinh nghiệm thì chia sẻ với người đi sau, không ai sở hữu triết học để ban phát cho ai. Quan niệm ấy giải thích vì sao Nguyễn Khắc Dương có ảnh hưởng rất sâu mà không cần một thư mục tác phẩm đồ sộ. Ông là người thầy hơn là nhà lập thuyết. Ông dạy người học cách tự hỏi trước khi đưa cho họ câu trả lời. Ông biến triết học thành một cuộc thẩm vấn đời sống chứ không để nó thành một môn trang sức của trí thức.

Sau 1975, khi Viện Đại học Đà Lạt trong hình thức cũ chấm dứt, ông đi qua trại cải tạo của chế độ mới, rồi tiếp tục dạy học trong các môi trường Công giáo, nhất là cho đại chủng sinh, tu sinh, các nhóm đào tạo linh mục. Đó là đoạn đời ít được nhắc tới như một sự nghiệp đào tạo đại học, nhưng lại rất quan trọng trong lịch sử trí thức Công giáo Việt Nam. Từ giảng đường đại học miền Nam, triết học của Nguyễn Khắc Dương chuyển vào chủng viện, học viện, nơi ông giúp nhiều thế hệ tu sĩ tiếp cận triết học không như một môn tiền đề khô cứng trước thần học mà như một cách luyện tập lương tâm, nhân vị và tự do nội tâm.

Có thể xem Nguyễn Khắc Dương là một trường hợp đặc biệt của hội nhập văn hóa Công giáo, nơi sự gặp gỡ giữa đức tin Kitô giáo và văn hóa Việt Nam được nghiệm sinh bằng chính đời ông hơn là được trình bày như một luận thuyết thần học. Các thảo luận thần học Á châu, trong đó có Peter C. Phan, thường đặt vấn đề làm sao Kitô giáo có thể nói bằng kinh nghiệm Á Đông trong một môi trường đã thấm nhuần Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, tôn giáo dân gian, cùng các tầng nấc kí ức về quá khứ thuộc địa và thương tích chính trị. Đời Nguyễn Khắc Dương đưa câu hỏi ấy vào một thân phận cụ thể. Nếu dùng khái niệm “cultural additivity,” tức khả năng các giá trị Nho, Phật, Lão cùng tồn tại và tác động trong văn hóa Việt, trường hợp của ông cho thấy sự đồng tồn tại ấy luôn có tính xung đột. Các truyền thống có thể nương tựa, tranh biện, gây đau đớn, đòi con người chọn lựa, rồi bắt con người sống với hệ quả của lựa chọn.

Nguyễn Khắc Dương để Đông và Tây tranh luận trong chính đời mình. Ông giữ hạt nhân Nho gia trong tư cách một người Công giáo, hiểu hấp lực giải thoát của Phật giáo rồi chọn Đức Kitô, học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với duy lí hệ thống, dạy triết như một cuộc đồng hành thay vì một uy quyền của người thầy, sống trong Giáo hội với phẩm chất tự vấn cá nhân. Từ đó, ông gợi ra một lối nhìn khác về Công giáo Việt Nam, vượt khỏi cả định kiến xem Công giáo như yếu tố ngoại lai lẫn nỗ lực hòa tan Công giáo vào văn hóa dân tộc đến mức xóa hết dị biệt. Ở Nguyễn Khắc Dương, Công giáo trở thành Việt Nam bằng cách đi qua kinh nghiệm Việt Nam một cách trung thực; văn hóa Việt tiếp nhận Công giáo bằng cách để những xung đột ấy mở ra một chiều sâu mới về nhân vị.

Nhìn lại Nguyễn Khắc Dương, một người thầy đã đi qua tuổi một trăm, điều còn lại không phải một hệ thống tư tưởng khép kín mà là phẩm cách của một người học không ngừng tự xét mình. Ông đi qua Nho học, Phật học, Kitô giáo và triết học Tây phương như đi qua những đòi hỏi nghiêm khắc của đời sống chứ không phải chỉ là người sưu tập các truyền thống. Chính vì vậy, đời ông gợi ra một bài học khó hơn mọi kết luận: văn hóa chỉ thật sự có nghĩa khi buộc con người thành thật trước câu hỏi về chính mình.


Đối Thoại - Chương 1, 8

 


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Các nhân đức chịu thử thách và nên vững mạnh bởi những nghịch cảnh.

8. Cha đã chỉ cho con, thế nào là phục vụ tha nhân, và làm thế nào để sự phục vụ này chứng tỏ con yêu mến Cha. Bây giờ, Cha nói cách chi tiết hơn. Chính vì tha nhân mà con người được điêu luyện đức nhẫn nại, khi bị tha nhân làm nhục. Đức khiêm nhường được được thử thách bởi người kiêu ngạo, đức tin bởi kẻ vô tín ngưỡng, đức cậy bởi người thất vọng, đức công chính bởi kẻ bất công, đức thương xót bởi kẻ độc ác, đức hiền lành và nhân hậu bởi người hay cáu giận. Mọi nhân đức đều được tập luyện từ tha nhân, cũng từ tha nhân con người biểu lộ lòng xấu xa của mình.

Nhưng hãy ghi rõ điều này, là người khiêm nhường tuy bị thử thách, nhưng sẽ thắng kẻ kiêu ngạo. Trước hết, kẻ kiêu ngạo không làm gì hại được người khiêm nhường; kẻ độc ác cũng thế, chúng không yêu mến Cha, không trông cậy Cha, không hiệp thông với các tôi trung của Cha, chúng không tác hại được đức tin, đức cậy của người khiêm nhường; trái lại, chúng còn làm họ thêm vững vàng trong tình yêu thương tha nhân; bởi vì khi các tôi tớ trung thành của Cha nhìn biết những kẻ nào không trông cậy vào họ và vào Cha, thì họ vẫn yêu thương chúng, và tha thiết cầu xin hơn cho chúng được cứu độ. Những ai không yêu mến Cha, thì cũng không tin cậy Cha; chúng tin cậy vào dục vọng ích kỷ của chúng, là thứ chúng mê thích, chúng cũng chẳng tin cậy vào các tôi tớ của Cha. Tuy vậy, cho dù chúng không yêu mến Cha, không tin cậy và tìm ơn cứu độ nơi Cha, “người tôi trung” của Cha vẫn không bỏ chúng (Xc Is 42:3). Con thấy chưa, chính sự bất trung tín và thiếu đức cậy của kẻ ác đã tôi luyện lòng tin cậy của các tôi tớ Cha. Vì đấy là những cơ hội để các nhân đức được nảy sinh và gia tăng.

Đức công chính cũng vậy, không giảm sút nhưng được thử thách bởi hành động bất công của kẻ gian ác; chính những bất công làm người công chính nắm vững được đức công binh bằng sự nhẫn nại; và khi thái độ giận dữ tấn công đức hiền lành và nhân hậu, là lúc những nhân đức này thêm rực rỡ; đến lượt sự ghen ghét, hận thù, ác cảm cũng làm gia tăng lòng yêu thương tha nhân và sự khao khát phần rỗi các linh hồn.
Sự lấy đức trả oán không những làm cho nhân đức trở nên vững chắc, mà nhiều khi còn mang theo những cục than lửa bác ái làm cháy rụi hận thù và ghen ghét của kẻ dữ, cũng như có sức biến dữ ra lành. Đó là sức mạnh lạ lùng của đức ái và đức nhẫn nại hoàn thiện, của những người muốn gánh lấy tội lỗi thay cho kẻ gian ác, và chịu đựng sự phẫn nộ của chúng (Xc Rm 12:17-21).

Sự can đảm và kiên nhẫn là lương thực bồi dưỡng linh hồn, khi phải đối phó với những thử thách lâu dài, như sỉ nhục, bách hại, vu khống, hoặc những quyến rũ muốn lôi mình ra khỏi con đường Chân Lý. Nếu đức can đảm có thật ở mặt nội tâm, linh hồn sẽ chống trả can trường, và chứng tỏ nó là trang anh dũng trước mặt mọi người. Ngược lại, nếu nó không chứng minh được, sự can đảm ấy không có nền tảng chân lý.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 7



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Nhân đức được điêu luyện bằng bàn tay của tha nhân như thế nào? Vì sao có nhiều nhân đức khác nhau?

7. Cha đã nói cho con hay những lý do, tại sao mọi tội phạm đều hại đến tha nhân, khi họ phải mất đi tình yêu thương là lẽ sống của họ. Và như vậy, tình yêu ích kỷ cũng gọi là ái kỷ, là đầu mối và là căn nguyên của mọi tội ác, vì nó làm tiêu tan tình bác ái tha nhân. Gương xấu, hận thù, độc ác, mọi giống tội đều bởi nguồn mạch xấu xa này: Sự ái kỷ đầu độc thế giới và làm suy yếu Nhiệm thể của Hội Thánh và Kitô giáo toàn cầu. Vì thế, Cha đã nói với con: mọi nhân đức đều có mặt tha nhân, làm mục tiêu chung. Cha còn khẳng định: đức ái là linh hồn của các nhân đức, nghĩa là không tìm ra một nhân đức phi đức ái; chỉ có lòng yêu mến Cha mới tạo nên nhân đức. Đó là chân lý.

Quả thật, khi linh hồn biết rõ về mình, như Cha đã nói trên đây, nó sẽ hạ mình xuống và chê ghét tính dục của nó, nhận ra luật hư tà đã in vào nhục thể luôn luôn khởi chiến chống thần khí. Linh hồn đứng lên cương quyết chống lại tính dục hư tà ấy, bắt nó phải quy phục lý trí. Hơn nữa, vì những hồng ân Cha ban, nó nhận biết Cha là Đấng Nhân Hậu vô cùng. Từ sự hiểu biết này, nó hạ mình nhìn lên Cha, là Đấng đã đem nó ra khỏi bóng tối, đưa vào ánh sáng Chân Lý đích thực. Một khi nhận biết lòng nhân hậu của Cha, nó yêu mến Cha dù có hay không có hậu ý. Cha muốn nói: yêu mến không có hậu ý, là yêu mến không nhằm kiếm lời hay vụ lợi, nhưng yêu vì biết rõ: không yêu mến Cha thì không đẹp lòng Cha và không tạo được nhân đức; và không ai đẹp lòng Cha, lại không chê ghét tội lỗi và yêu mến nhân đức. Một khi linh hồn có nhân đức bởi đức ái, nó sẽ sinh hoa trái cho tha nhân; ngay lúc nó yêu mến Cha trong sự thật, là lúc nó phục vụ mọi người cách chân thành. Không thể khác được, bởi vì tình yêu mến Cha và tình thương tha nhân chỉ là một, và vì tình yêu thương tha nhân bắt nguồn từ nơi Cha, càng mến Cha càng thương tha nhân.

Đấy chính là con đường Cha đã vạch ra cho các con, để chúng con tập luyện và cảm nghiệm nhân đức ở nơi các con. Cũng là chứng cớ Cha ở trong chúng con với ân sủng, và lúc các con yêu mến, muốn làm vinh danh Cha, và khao khát ơn cứu độ các linh hồn, là lúc chúng con thu được nhiều hoa trái của lời cầu nguyện. Những hoa trái ấy chẳng phải vì ích lợi gì cho Cha, nhưng cho các kẻ chúng con phục vụ.

Vì vậy, linh hồn sống theo chân lý và yêu mến Cha không bao giờ hết lợi ích cho mọi người và cho từng người. Ít hay nhiều, là tuỳ sự xứng đáng của kẻ lãnh nhận, và lòng ước nguyện nồng nhiệt của người cầu xin, như Cha đã giải thích cho con trên đây rằng: sự đau khổ mà thiếu lửa ước nguyện, không đủ để tẩy xoá tội lỗi (Xc số 4). Một khi linh hồn được hồng phúc tình yêu hiệp nhất với Cha, nó sống không phải là nó sống mà là Cha sống trong nó (Xc Gl 2:20), nó sẽ đáp ứng nhu cầu của thế giới bằng tình yêu thương, nó còn quan tâm đến nhu cầu của tha nhân từng người, tuỳ theo đặc sủng Cha ban, để nó thi hành mục vụ tông đồ (Xc 1Cr 12, 4-6). Có người được ơn giảng dạy bằng lời nói, kẻ khác bằng gương sáng việc lành, đời sống thánh thiện, điều mà ai cũng phải làm, vì mỗi người phải xây dựng cho anh em mình bằng đời sống đức độ và đạo hạnh.

Những nhân đức ấy – và nhiều nhân đức khác không kể hết được – đều bởi lòng yêu thương tha nhân. Cha không ban các nhân đức cho mỗi người như nhau, nhân đức này cho người này, nhân đức kia cho người khác; nhưng có điều chắc chắn, là không ai có một nhân đức lại thiếu các nhân đức khác, bởi vì mọi nhân đức liên kết với nhau, Cha ban cho họ theo nhiều đường lối khác nhau, để thế một nhân đức như đã có, làm cột trụ cho các nhân đức khác. Người này đức bác ái, người kia đức công chính, người khác đức khiêm nhường, người khác nữa đức tin mạnh mẽ, nhiều người được sự khôn ngoan, tiết độ, hoặc nhẫn nại, có người được sự can đảm với ý chí anh hùng. Những nhân đức này, Cha ban cho các linh hồn theo mức độ khác nhau. Cho dù chỉ có một nhân đức là chủ yếu, linh hồn vẫn có cơ hội để tập luyện nhân đức này nọ, nhằm tạo được mọi nhân đức, bởi vì như đã nói, các nhân đức liên kết với nhau trong đức ái.

Cũng thế, khi nói về các hồng ân và ân sủng, cùng những quà tặng tinh thần hay vật chất. Về vật chất, vì nhu cầu của người trần, Cha ban cho họ không như nhau. Cha không muốn cho mọi người đầy đủ mọi cần thiết, để vì nhu cầu của cuộc sống, con người phải thực thi bác ái với nhau. Cha có thể ban cho con người mọi nhu cầu thể chất và thiêng liêng, nhưng Cha muốn họ cần lẫn nhau, và muốn họ làm thừa tác viên của Cha, đi phân phát ân sủng và tặng phẩm mà họ đã lãnh nhận bởi tay Cha. Muốn hay không muốn, con người không thể bỏ trốn cái luật buộc phải làm việc bác ái; cũng đừng quên, khi làm việc bác ái vẫn phải vì yêu mến Cha, nếu không, công việc ấy không có giá trị siêu nhiên.

Con thấy chưa? Chính vì để con người thực thi đức bác ái, theo như Cha đặt họ làm những thừa tác viên của Cha, Cha xếp họ vào địa vị khác nhau, với những điều kiện không như nhau. Cũng là điều khi nói rằng: “Nhà Cha có nhiều chỗ ở” (Ga 14:2), nhưng chỉ có một, chính là tình yêu thương tha nhân, và ai “yêu thương tha nhân là chu toàn mọi lề luật” (Mt 22:37-40). Con người chỉ trở thành người hữu ích, là khi phục vụ tha nhân theo khả năng và địa vị mình.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 5-6



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Ước nguyện chịu đau khổ vì phần rỗi các linh hồn là điều đẹp lòng Thiên Chúa.

5. Con Cha yêu dấu, lòng ao ước chịu đau khổ và lao nhọc cho đến chết vì ơn cứu độ các linh hồn là điều rất đẹp lòng Cha. Càng đau khổ vì Cha, con càng chứng tỏ lòng yêu mến Cha; càng yêu mến Cha, con càng hiểu biết sự thật về Cha; càng hiểu biết Cha, con càng buồn sầu đau đớn khi thấy Cha bị xúc phạm. Con xin cho được chịu đau khổ, chịu hình phạt thay cho tội nhân, mà không nhận ra rằng: điều con xin chính là tình yêu, là ánh sáng, là hiểu biết sự thật. Cha đã nói với con: Tình yêu càng lớn, đau đớn và lao nhọc càng tăng; sự đau khổ gia tăng theo mức độ tình yêu. Vì vậy, Cha đã nói với con: Hãy xin, thì sẽ được (Xc Mc 11:24), vì Cha không hề từ chối các kẻ xin Cha điều chính đáng. Con đừng quên rằng: khi linh hồn yêu mến Thiên Chúa, tình yêu thần linh, kết hợp chặt chẽ với nó một cách nhẫn nại hoàn hảo, đến độ không thể tách rời nhau. Cũng thế, linh hồn muốn yêu mến Cha, thì nó cũng phải vì Cha mà chịu đựng mọi đau khổ do Cha gửi đến, bất kể đau khổ nào và từ đâu đến. Sự nhẫn nại chỉ chứng tỏ bằng đau khổ, và sự nhẫn nại, như đã nói, là một với lòng mến.

Vậy, chúng con hãy chịu đựng như bậc nam nhi. Không cách nào khác để chúng con trở thành bạn hữu của Đấng Chân Lý, và làm con cái yêu dấu của Cha. Các con hãy luôn thao thức tìm vinh quang Danh Thánh Cha, và cứu vớt các linh hồn.

+ Mọi nhân đức cũng như mọi tật xấu đều có mặt tha nhân làm nhân chứng, như thế nào?

6. Cha muốn con biết rằng: không một nhân đức hay một nết xấu nào lại thiếu mặt tha nhân. Kẻ chối từ Cha, nó sẽ tác hại cho tha nhân và cho mình nó là tha nhân chính. Sự tác hại này có thể ở trường hợp thông thường hay khác thường. Thông thường, là vì chúng con buộc phải “yêu thương tha nhân như chính mình” (Mc 12:33); tình yêu này đòi chúng con phải giúp đỡ người thân cận bằng lời cầu nguyện, bằng khuyên bảo, bằng an ủi và nâng đỡ cả tinh thần lẫn vật chất, theo như họ cần và thiếu. Nếu chúng con không làm được, vì thiếu khả năng hay phương tiện, tối thiểu chúng con hãy có lòng ao ước làm.

Nhưng nếu người ta không yêu mến Cha, thì cũng chẳng yêu thương tha nhân. Không yêu thương tha nhân, thì người ta cũng chẳng cứu giúp họ, đồng thời gây tổn hại cho chính mình. Người ta đánh mất ân sủng của Cha chính cái lúc bỏ rơi tha nhân, không cầu nguyện, không ước nguyện dâng lên Cha cho họ. Mọi giúp đỡ tha nhân phải phát sinh từ lòng yêu thương, mà sự yêu thương ấy phải vì lòng yêu mến Cha.

Cũng thế, có thể nói: không một tật xấu nào mà không đụng tới tha nhân; bởi vì nếu không yêu mến Cha, thì người ta cũng chẳng thiết gì đến tha nhân, mà động tình thương buộc phải có. Tất cả mọi sự dữ đều đến từ một linh hồn thiếu lòng yêu mến Cha và yêu thương tha nhân. Không làm việc lành, người ta sẽ làm điều ác. Làm điều ác cho ai? Cho chính mình trước hết, rồi cho tha nhân. Không phải cho Cha, vì sự ác không hại được Cha, nhưng hại tha nhân, mà Cha coi như hại chính Cha vậy (Xc Mt 2:40).

Người ta gây hại cho chính mình, vì tội lỗi làm mất ân sủng, là điều tệ hại nhất. Gây hại cho tha nhân, vì không trả cho họ một món nợ là niềm vui tình bác ái, bằng lời cầu xin và ước nguyện dâng lên Cha cho họ. Đó là việc lành phải làm nói chung, đối với mọi thụ tạo có lý trí; còn trường hợp đặc biệt mà chúng con phải làm đối với người kế cận, trước tầm mắt chúng con, đó là chúng con phải nâng đỡ nhau bằng lời nói, bằng giảng dạy, bằng gương sáng việc lành; và trong mọi trường hợp chúng con gặp, hãy đem lời an ủi, khích lệ, như thể chúng con làm cho chính mình. Kẻ không có lòng yêu thương đồng loại sẽ không làm như vậy, họ từ chối việc tương thân, tương trợ, mà còn làm hại nhau.

Tội, có thể là trong tư tưởng hay hành động. Người ta phạm tội trong tư tưởng, khi vui thích điều xấu xa gian ác và chối từ nhân đức, khi buông theo lòng ích kỷ, giết chết lòng yêu mến Cha và tình yêu thương tha nhân, như Cha đã nói trên đây. Sự vui thích điều xấu xa gian ác thai nghén trong lòng sẽ sinh ra nhiều tội ác khác, bất kể tha nhân, miễn sao thoả mãn tâm ý bất chính và xấu xa của mình. Tâm địa gian ác ấy sinh ra ở trường hợp thông thường, đôi khi khác thường, nghĩa là gây mối nguy cho cả cộng đồng thế giới.

Sự độc ác của chúng đối với mọi người, là khi thấy chính mình hoặc tha nhân sống trên bờ vực thẳm của cái chết muôn đời, bởi thiếu ân sủng, và khi chúng không nhận thức được sự cần cứu giúp tha nhân hoặc chính mình, bằng sự yêu mến nhân đức và chê ghét nết xấu. Sự độc ác còn sâu đậm hơn, khi chúng không những chối bỏ gương lành phúc đức, lại còn cấu kết với ma quỷ trong việc lôi cuốn nhiều người xa lìa con đường nhân đức, dẫn họ vào vòng tội lỗi. Độc ác chừng nào, khi chúng tiếp tay với ma quỷ làm tha nhân mất sự sống muôn đời.

Sự độc ác của chúng còn đụng tới thân xác tha nhân, bằng sự gian tham. Đã không cứu giúp tha nhân, chúng còn ức hiếp, bóc lột người nghèo, chúng cậy quyền thế, lừa gạt, chứng gian, để tước đoạt của cải người thân cận, có khi lại là người thân ruột thịt. Sự độc ác này còn thốt ra những lời độc địa, thường kết thúc bằng tội sát nhân. Có khi làm sỉ nhục thân xác tha nhân, biến con người thành súc vật. Và không phải một hay hai người hư đi, nhưng bất cứ ai đến gần chúng, bất cứ ai giao thiệp với chúng, đều ra ô uế.
Cũng vậy, ai là người hứng chịu những hậu quả của kẻ kiêu căng nếu không phải là tha nhân? Chỉ tha nhân thôi. Để làm cho mình là người có giá trị, kẻ kiêu ngạo khinh dể người khác, đặt mình hơn họ, và từ đó làm nhục họ. Và nếu có quyền thế nữa trong tay, chúng sẽ làm những điều bất công và gian ác, trở thành kẻ buôn bán xương thịt người.

Hỡi con yêu dấu, hãy đau xót vì Cha bị xúc phạm, hãy khóc thương những thây chết này, để lời cầu nguyện thắng được sự chết của chúng. Lúc này, con thấy khắp nơi, mọi tầng lớp xã hội, đầy những tội lỗi chống lại tha nhân, hoặc xúc phạm tha nhân. Ngoài ra, không có tội gì mà người ta không phạm, hoặc kín đáo, hoặc công khai. Kín đáo, là người ta không cứu giúp tha nhân, khi phải làm. Công khai, là khi người ta sản sinh ra tật xấu, như Cha vừa nói với con. Mọi sự xúc phạm đến Cha, là vì không yêu thương tha nhân.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 4


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Vì sao lòng ước ao và sự ăn năn hối cải chuộc được tội và được tha hình phạt cho mình và cho kẻ khác; nhưng có khi chỉ chuộc tội mà không được tha hình phạt?

4. Cha đã dạy con, hỡi con yêu dấu, tội lỗi không đơn giản được tha thứ bởi chịu đau khổ ở đời này, nhưng là đau khổ phối hiệp với lòng ước nguyện, yêu mến và đau xót; đau xót không vì chịu khổ, nhưng do tinh thần sám hối. Đó là lòng ước nguyện sống theo Con Một của Cha, Chúa Kitô khổ nạn, trong Ngài mà linh hồn được yêu thương và đi theo vết chân Ngài, chỉ có cách ấy, con đường ấy, sự đau khổ ở đời này mới có giá trị. Chúng xoá được tội lỗi, bởi lòng yêu mến tha thiết phát sinh từ sự hiểu biết lòng nhân hậu của Cha; và vị sự đắng cay dày vò của lòng thống hối, linh hồn sẽ hiểu biết về mình, và nhận ra tội lỗi của mình. Sự hiểu biết ấy còn tạo ra mối hận và khinh chê mọi tội lỗi, tính ích kỷ. Từ đấy, linh hồn sẽ nhận thấy mình chỉ đáng trừng phạt, chứ không đáng công trạng gì.

Con cầu xin Cha cho con được chịu đau khổ, để đền tội thay cho các kẻ xúc phạm đến Cha; con còn xin được sự hiểu biết và lòng yêu mến Cha, là Đấng Chân Lý tối cao. Vậy con nghe đây, nếu con muốn biết đầy đủ và được hoan hỉ trong Cha là sự sống vĩnh cửu, thì đừng bao giờ rời bỏ căn phòng biết mình, hãy đặt mình dưới đáy khiêm nhường. Khi ấy con sẽ biết Cha trong con, và từ sự hiểu biết này con sẽ nhận được tất cả những gì con cần và thiếu.

Hỡi con yêu dấu, không có nhân đức nào có được ở ngoài đức mến và lòng khiêm nhường, lòng khiêm nhường nuôi đức mến. Con sẽ tìm được đức khiêm nhường trong sự hiểu biết về mình, khi con nhận ra con chẳng là cái gì, ngay sự hiện có của con cũng là do Cha, vì Cha yêu thương con cũng như mọi thụ tạo khác, trước khi con được tạo thành. Và vì tình yêu vô biên của Cha dành cho con, muốn tái tạo con trong ân sủng, thanh tẩy con và tái sinh con trong Máu Con Một của Cha, đã đổ ra bởi Tình yêu nồng cháy. Máu Thánh này nói lên một chân lý: Chỉ những ai biết mình là thứ gì, mới đánh tan được đám mây mù dày đặc của tình yêu ích kỷ. Không có cách nào khác.

Khi đã hiểu biết tình thương của Cha, linh hồn bừng lên một tình yêu tuyệt vời với lòng đau xót khôn nguôi, sự đau xót trong niềm hy vọng được tha thứ. Nó hiểu biết Đấng Chân Lý và nhận ra sự yếu hèn của mình; sự bội bạc và cố chấp của những người chung quanh cũng làm nó đau khổ nặng nề. Thế nhưng, điều ấy lại làm cho nó xác tín rằng, nếu nó đau khổ, là vì nó yêu mến Cha; nếu nó không yêu mến, thì nó đã không đau khổ. Khi con và các tôi tớ của Cha hiểu biết Đấng Chân Lý của Cha, các con hãy mau mắn tiến trên con đường này, là chấp nhận đến chết mọi nỗi khổ tâm bởi những sỉ vả, nhục nhã vì danh Cha.

Hỡi các con và các tôi tớ Cha, các con hãy chịu đau khổ cách nhẫn nhục, với lòng sám hối ăn năn và yêu mến nhân đức vì danh Cha. Nếu chúng con sống như vậy, Cha sẽ xoá bỏ các tội lỗi của chúng con và của các tôi tớ khác nữa của Cha. Những đau khổ các con chịu, kết hợp với đức mến, sẽ tẩy xoá mọi tội lỗi cho con và cho các tôi tớ khác của Cha. Vì sức mạnh của đức mến, những đau khổ chúng con chịu đủ để xoá tội lỗi và đem lại ân thưởng cho các con và cho kẻ khác nữa. Phần các con sẽ tiếp nhận hoa trái của sự sống; những vết tích ngu xuẩn sẽ được xoá bỏ, và Cha sẽ quên đi mọi tội lỗi xúc phạm đến Cha.

Đối với kẻ khác, Cha sẽ chiếu theo tình bác ái và lòng mến của chúng con, mà ban cho họ nhiều ơn lành, tuỳ theo như họ dọn lòng lãnh nhận. Đặc biệt những ai dọn lòng mình cách khiêm tốn, và kính cẩn theo lời dạy bảo của các tôi tớ Cha, nghĩa là họ cũng theo con đường nhận thức về mình và ăn năn sám hối, Cha sẽ thương tha thứ tội phạm và giảm nhẹ hình phạt. Như vậy, nhờ lời cầu nguyện và lòng ước nguyện của các tôi tớ Cha, họ biết khiêm tốn hạ mình, sẽ nhận lãnh hoa trái ân sủng, nhiều hay ít, là tuỳ sự xứng đáng của lòng họ. Đúng vậy, vì ước nguyện của chúng con mà họ được tha thứ và được ơn ích, trừ phi họ cố chấp, chối bỏ tình thương của Cha, khinh chê Máu Con Một của Cha đã đổ ra để cứu chuộc họ.

Những người này sẽ nhận được hoa trái gì? Vì lời cầu nguyện tha thiết của các tôi tớ Cha, Cha chờ đợi họ và ban cho họ một luồng ánh sáng đánh thức lương tâm họ, cho họ cảm nhận hương thơm nhân đức, và nhìn thấy sự hoan lạc tình bằng hữu nơi các tôi tớ của Cha. Có thể Cha cho họ nhìn ra chân tướng thế gian và hiểu được sự phù phiếm của đam mê, để họ hướng về quê hương thật, là đời sống vĩnh cửu. Mắt không thấy được, tai không hề nghe, trái tim không lường được hàng ngàn vạn kế hoạch và đường lối Cha dẫn họ về với ân sủng. Cha bị ràng buộc vào việc này, bởi cùng một tình yêu vô biên mà Cha đã tạo dựng nên họ, cũng như nhờ lời cầu nguyện, lòng ước nguyện và những đau khổ của chúng con là tôi tớ Cha. Cha chạnh lòng thương vì những giọt nước mắt, những giọt mồ hôi, những lời cầu khẩn khiêm tốn; tất cả đều đẹp lòng Cha. Chính Cha khơi dậy nơi chúng con lòng yêu thương các linh hồn, và sự đau xót khi thấy những linh hồn này hư đi.

Thường các kẻ ấy chỉ được Cha dung tha tội phạm, mà không xá miễn hình phạt. Vì họ phần đông không sẵn lòng đáp lại lòng thương xót của Cha, nhưng họ ngoan cố. Đó là những kẻ có bàn tay lựa chọn, nhưng lòng dạ chai đá, cứng như kim cương, không thể tan chảy ra được, ngoại trừ bởi máu. Lại nữa, Cha nói cho con nghe, cho dù họ ngoan cố trong khi còn thời giờ tự do chọn lựa, hãy để họ tìm đến Máu Con Cha, Máu ấy sẽ làm tan trái tim cứng như kim cương, để họ nhìn thấy hiệu quả của Máu Thánh đã đổ ra cứu chuộc họ. Nhưng nếu họ chậm trễ, thời gian không còn nữa, thì sẽ chẳng có phương cách nào khác, để lôi kéo họ về với “Đấng sẽ làm cho họ trở nên công chính, thánh hoá và cứu chuộc họ” (1Cr 1:30). Bởi Cha đã ban cho họ trí nhớ để ghi lại các hồng ân của Cha, trí tuệ để biết chân lý, và ý muốn để yêu mến Cha là Chân Lý tối cao.

Đấy, con xem hồng ân Cha ban cho tất cả các con, và Cha mong đợi nơi các con một sự đền đáp. Nếu chúng con đem bán đi, giao ước với ma quỷ, thì ma quỷ sẽ đem đi hết, làm một với tất cả những gì các con thu hoạch ở đời này. Ma quỷ rất giàu trí nhớ, nó sẽ gợi lại những hành vi vô luân, ham danh vọng, tham tiền của, sống ích kỷ, hận thù và khinh khi người khác. Giữa những khốn khổ ấy, tâm trí sẽ ra rối loạn, tối tăm, tưởng mình mất khả năng sám hối, để khỏi hình phạt muôn đời.

Như vậy, con thấy rõ tội lỗi không được tha thứ vì sự đau khổ ở đời này, nhưng do sự tan nát dày vò của tâm hồn. Các kẻ ăn năn hối cải cách trọn vẹn, như Cha đã nói, sẽ được tha hết mọi tội nặng nhẹ với hình phạt, và lãnh nhận ân sủng. Nhưng nếu sự sám hối và lòng mến không đủ để được tha hình phạt, thì họ sẽ phải chịu ở Luyện ngục. Con thấy đó, lòng ước ao của một linh hồn kết hợp với Cha là Đấng Tốt Lành vô cùng, sẽ đền được tội mình, ít hay nhiều là tuỳ ở nhiệt độ tình yêu nơi người ước nguyện cầu xin, và mức thiện chí của kẻ nhận lãnh. Lòng nhân hậu của Cha cứ thế mà đong lường (Lc 6:38).

Vậy, con hãy ấp ủ mồi lửa ước nguyện, và không thôi khóc thương những con người ấy, bằng lời khiêm tốn và tha thiết cầu xin Cha. Như vậy, là Cha đã dạy con và vị linh hướng của con; chúng con hãy hành động xứng bậc nam nhi, và chết đi đối với tính tự ái và ích kỷ.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)