Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 9



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Vì sao con người không nên quá quan tâm vào việc hành xác đền tội bên ngoài, nhưng phải chú tâm vào việc tập tành các nhân đức. Ơn thông hiểu bắt nguồn từ lòng khiêm tốn, và dạy của ai trả cho người ấy.

9. Đấy, những việc tốt đẹp và lành thánh, Cha đòi phải có nơi các tôi tớ Cha, để biết các nhân đức nội tâm của linh hồn phải chịu thử thách, theo đường lối như cha đã nói. Đối với Cha, những hoạt động bên ngoài cũng như việc hành xác chỉ là cách tập tành các nhân đức, bởi vì những hành vi ấy không phải là nhân đức, và không mấy đẹp lòng Cha. Ví dụ, nếu linh hồn thực thi những việc hãm mình mà thiếu sự phân biệt hay thông hiểu, mà chỉ để ý hãm mình đền tội, nó sẽ sai lầm trên con đường trọn lành.

Cha chỉ muốn tình yêu thôi, với một lòng chê ghét tính ích kỷ, cùng đức khiêm nhường chân thật, đức nhẫn nại kiên cường, lòng khao khát làm rạng rỡ danh Cha và ơn cứu độ các linh hồn. Các nhân đức này là dấu chỉ đã diệt được ý riêng, cũng như đã hãm dẹp được tính dục. Cần phải hiểu rõ mục đích của việc hãm mình đền tội, hãy yêu mến nhân đức hơn hãm mình hành xác, là điều chỉ giúp cho việc tập tành các nhân đức, tuỳ mức nhu cầu và điều kiện của mỗi người.

Lấy việc hành xác đền tội làm chủ yếu và làm nền tảng đời sống thiêng liêng, sẽ làm cản trở con đường nên hoàn thiện. Bởi vì, nó sẽ làm quên đi hoặc xa rời sự biết mình và biết lòng nhân hậu của Cha. Nó cũng chẳng biết yêu mến những gì Cha yêu mến nhất, và chê ghét những gì Cha chê ghét nhất. Ơn thông hiểu không gì khác, là sự biết phân biệt linh hồn cần phải có, để nhận thức đúng về mình và về Cha; chính nhờ sự nhận thức này mà linh hồn biết được nguồn gốc của mình. Đó là cái mầm non được ghép vào đức ái, và sản sinh ra nhiều mầm non khác, tựa như một cây đang phát triển nhiều cành lá. Nhưng sự sống của thân và cành cây là gốc rễ, được trồng dưới đất khiêm nhường, là mẹ nuôi đức ái, nơi mầm sống được ghép vào, trở thành cây thông hiểu hay phân biệt.

Ơn thông hiểu hay phân biệt không phải là nhân đức, cũng không sinh hoa trái sự sống, nếu nó không được trồng dưới đất khiêm nhường, bởi vì đức khiêm nhường xuất phát từ sự nhận thức đúng về mình và về Cha là Đấng Nhân Lành vô cùng, và là sự hiểu biết rất rõ của ai phải trả cho chủ ấy cho thật công minh.

Trước hết, có ơn thông hiểu và phân biệt, linh hồn sẽ trả cho Cha những gì thuộc về Cha, đó là tôn vinh danh Cha, là kể lại những hồng ân và những quà tặng Cha ban; chỉ dành cho mình những gì đúng là của mình, nếu là sự tốt lành thì cũng biết đó là những hồng ân bởi Đấng Nhân Lành ban cho, kể cả cái thực thể hiện có của nó cũng bởi Cha. Nó còn lãnh nhận nhiều ơn khác không phải cho nó, nhưng để đem phân phát cho anh em mình. Nó đáng phải trừng phạt nặng nề, nếu nó vô ơn và không biết sử dụng ngày giờ và các ân huệ ấy. Chính vì vậy, nó phải hối hận và ăn năn sám hối.

Đấy, hiệu quả của ơn thông hiểu và phân biệt, xây trên nền tảng biết về mình, tức khiêm nhường. Không có đức khiêm nhường, linh hồn sẽ không biết gì cả. Không ơn thông hiểu, nó sẽ sinh ra kiêu ngạo, còn như có ơn này, nó sống khiêm nhường. Linh hồn thiếu ơn này, nó sẽ như tên trộm cướp đoạt danh Cha, và làm sáng danh mình; và mỗi khi điều gì không vừa ý xảy ra cho nó, nó đổ lỗi cho Cha, nó kêu ca lẩm bẩm, nó giận dữ về ý định mầu nhiệm của Cha đối với nó và đối với các tạo vật khác, nó bất mãn với Cha và với mọi người

Thái độ của những ai có ơn thông hiểu cũng khác nhau. Sau khi đã trả cho Cha và cho mình những gì phải trả, như Cha đã nói, họ sẽ phải trả cho tha nhân nữa. Trả cái gì? Trả tình thương mến phát sinh từ đức ái, trả lời cầu nguyện khiêm tốn và liên lỉ, là điều mọi người phải làm cho nhau. Rồi còn phải trả cái nợ đối với tha nhân, ấy là cái nợ ban lời giảng dạy và an ủi, gương lành thánh thiện, và tất cả những gì lợi ích cho ơn cứu độ các linh hồn. Con người dù ở bất cứ địa vị nào, ông hoàng, giáo sĩ hay thứ dân, nếu có nhân đức này, thì tất cả những gì họ làm cho tha nhân, họ làm một cách hiểu biết và bác ái. Bởi vì hai điều này không thể tách rời nhau: chúng cùng sống trên đất khiêm nhường là nhân đức đi từ sự hiểu biết đúng về mình mà ra.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Thầy Stêphanô Nguyễn Khác Dương (24.09.1925 - 28.09.2026)




NGUYỄN KHẮC DƯƠNG VÀ MỘT ĐỜI TỰ VẤN GIỮA CÁC NỀN VĂN HÓA

Tác giả: Tino CAO

Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24 Tháng Chín năm 1925 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học bề thế. Cha ông là cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, người đỗ đại khoa dưới triều Nguyễn, từng làm quan, và được nhớ đến như một nhà Nho giữ trọn tiết tháo ở buổi hoàng hôn của nền quân chủ. Anh ông là bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện; chị ông là nhà thơ Nguyễn Thị Thiếu Anh; các em ông có giáo sư Nguyễn Khắc Phi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà hoạt động phụ nữ Nguyễn Thị Phương Thảo (*). Muốn nói về Nguyễn Khắc Dương, phải bắt đầu từ nếp nhà ấy, nơi mà chữ nghĩa, đạo đức, trách nhiệm gia tộc, ý thức kẻ sĩ và cảm thức quốc gia thấm vào đời sống hằng ngày.

Nếp nhà ấy cũng đặt Nguyễn Khắc Dương trước một nghịch cảnh lịch sử. Ông sinh ra khi Nho học đã mất địa vị chính thống, khoa cử bị bãi bỏ, xã hội Việt Nam chịu cảnh thuộc địa, tầng lớp trí thức cũ mất con đường hoạn lộ quen thuộc. Với thế hệ của ông, Nho học đã khép lại lối vào quan trường; phần đáng giá còn lại nằm trong gia phong, luân lí, danh tiết và bổn phận.

Đời Nguyễn Khắc Dương từ đó mang theo nhiều băn khoăn day dứt trước những ngả rẽ không phải dễ lựa chọn: con nhà Nho nhưng học ở trường Công giáo; người từng chịu hấp lực Phật học rồi chọn Kitô giáo; người học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với sự Tây hóa; người giảng dạy trong đại học Công giáo miền Nam mà mang trong mình vùng kí ức Đông phương của một ông đồ xứ Nghệ.

Năm 1938, khi Nguyễn Khắc Dương vào học trường Thiên Hựu (Providence) ở Huế, sự chuyển hướng đầu tiên đã bắt đầu. Một người con trong nếp Nho gia gặp nền giáo dục Công giáo, gặp tiếng Pháp, truyền thống nhân văn châu Âu, một diễn ngôn khác về con người. Trong vũ trụ Nho giáo, con người được đặt trong gia đình, tông tộc, luân thường, phận vị; trong thế giới Công giáo mà ông tiếp xúc, con người tồn tại như một nhân vị độc nhất trước Thiên Chúa, có lương tâm, tự do, phẩm giá và trách nhiệm không thể thay thế. Va chạm ấy không phải chuyện đổi trường. Nó là một biến động trong cách hiểu về mình. Từ đây, Nguyễn Khắc Dương bắt đầu đi vào thế kỉ 20 không phải như một người thừa kế yên ổn của truyền thống mà như một cá nhân buộc phải tự tìm lấy vị trí giữa các truyền thống đang tranh chấp trong chính đời ông.

Sau 1945, đường đời Nguyễn Khắc Dương đi qua nhiều bước ngoặt lịch sử. Ông tham gia một số hoạt động Việt Minh tại địa phương, dạy học ở trường tư thục Công giáo tại Hà Tĩnh, rồi năm 1949 lãnh nhận bí tích Rửa tội với tên thánh Stêphanô. Quyết định theo Công giáo của ông cần được nhìn nhận trong chiều sâu văn hóa của nó. Đó không phải là sự rời bỏ một nền nếp cũ để đi theo một tôn giáo ngoại lai theo nghĩa hời hợt mà nhiều diễn ngôn chính trị vẫn gán cho Công giáo Việt Nam. Đó là một chọn lựa phải đi qua mặc cảm gia đình, qua hình ảnh người cha Nho học, qua bổn phận của người con, ý niệm nối dõi, nỗi băn khoăn trước một tôn giáo bị không ít người Việt thời ấy nhìn như gắn với thực dân.

Cuộc “trở lại” của Nguyễn Khắc Dương không phải một quyết định bất chợt. Đó là lựa chọn hình thành giữa những ràng buộc rất sâu xa của gia phong, đạo hiếu, kí ức Nho học và nhu cầu tự tìm lấy một nền tảng tinh thần cho đời mình. Sau khi vào dòng Phanxicô, tu học tại Vinh, Nha Trang, rồi sang Pháp, ông tiếp tục đi sâu vào một lựa chọn vừa thiêng liêng vừa trí thức. Từ năm 1957 đến 1960, ông học triết học tại Sorbonne và tốt nghiệp cử nhân triết học. Cần định danh chính xác điểm này, vì về sau nhiều người gọi ông là giáo sư, thậm chí có nơi gọi sai là tiến sĩ.

Uy tín của Nguyễn Khắc Dương không phải từ chuyện học hàm theo nghĩa hành chính ngày nay. Ông là “thầy” vì cuộc đời giảng dạy, vì tư thế trí thức, vì ảnh hưởng trên nhiều thế hệ linh mục, tu sĩ, kể cả giám mục. Sau khi về miền Nam năm 1965, ông giảng dạy tại Sài Gòn rồi lên Viện Đại học Đà Lạt, nơi ông giữ vai trò Trưởng ban Triết học và quyền Trưởng khoa Văn - Triết. Đà Lạt khi ấy là một không gian đại học Công giáo có vị trí quan trọng trong sinh hoạt trí thức miền Nam, với những gương mặt như linh mục Lê Văn Lý, linh mục Lê Tôn Nghiêm, và nhiều học giả khác.

Với riêng tôi, cái tên Nguyễn Khắc Dương đi vào trí nhớ gia đình trước khi tôi tìm đọc sách báo và các bài viết về ông. Ba tôi từng là học trò của thầy ở Viện Đại học Đà Lạt từ năm 1966. Từ mấy mươi năm trước, ba tôi đã nhiều lần nhắc đến thầy như một người để lại dấu ấn trong cách học, cách nghĩ và đối diện với đời sống tinh thần. Về sau khi đọc thêm về Nguyễn Khắc Dương, tôi gặp lại ở thầy một bóng dáng quen thuộc. Tư liệu và suy nghĩ của tôi về thầy chỉ giúp mở rộng thêm một kí ức đã có sẵn trong gia đình.

Trong môi trường Đà Lạt ấy, Nguyễn Khắc Dương là một giảng viên triết học mang thân phận giao thoa hiếm có: tu sĩ xuất dòng, người Công giáo tha thiết với đức tin, người con Nho gia, người học triết Tây phương, người từng đi qua kinh nghiệm chính trị thời cách mạng, và sống giữa chiến tranh cùng các ý thức hệ. Vì thế, nhận định của Đỗ Lai Thúy rằng ông là “người đi tìm mình qua những xung đột văn hóa” đã chạm đúng phần cốt lõi trong đời thầy Nguyễn Khắc Dương. Trong ông, Nho, Phật, Lão, Kitô giáo và triết Tây tạo thành một vùng va chạm tư tưởng thật sự. Các truyền thống ấy đòi hỏi, chất vấn, làm ông đau, rồi buộc ông phải chọn lựa. Mỗi lựa chọn mở ra một khả thể tự do, đồng thời để lại một vết thương nội tâm sâu sắc.

Nho học ở Nguyễn Khắc Dương không chỉ là vốn kiến thức cổ điển. Nó là nếp sống, là cảm thức về bổn phận, là ý thức thanh liêm, là một “hạt nhân đồ Nho” mà chính ông từng thừa nhận khó phá vỡ. Cái hạt nhân ấy khiến ông không bao giờ thành một người Tây hóa trọn vẹn, dù học triết ở Pháp và sống lâu trong môi trường Công giáo. Ông tiếp nhận Kitô giáo, nhưng không tiếp nhận vô điều kiện toàn bộ văn minh Tây phương. Ông có thể gần với Đức Kitô, nhưng vẫn dị ứng với một số yếu tố duy lí, duy luật, duy kĩ thuật của phương Tây ngoài Kitô giáo.

Điểm này rất quan trọng để hiểu Nguyễn Khắc Dương. Ông không phải một người Việt bỏ Đông sang Tây. Ông cũng không phải một nhà Nho cố thủ trước hiện đại. Ông sống ở giữa, nơi sự hấp thụ luôn đi kèm sàng lọc. Cái Nho trong ông không chết sau khi ông trở thành người Công giáo. Nó chỉ chuyển vị trí, tuy không còn giữ vai trò hệ tư tưởng bao trùm, nhưng tồn tại như một lương tri đạo đức, một thái độ với danh lợi, một nỗi trọng nghĩa, một cách sống thanh bần và nghiêm cẩn.

Phật học và Lão Trang trong ông cũng không phải thứ trang sức của một trí thức đọc nhiều. Phật giáo từng hấp dẫn ông bằng ý niệm giải thoát, bằng lời mời rời bỏ những ràng buộc của dục vọng, danh vọng, bản ngã và khổ đau. Lão Trang trao cho ông cảm thức về tự do nội tâm, về sự buông lỏng những quy phạm cứng nhắc, về khoảng không của con người trước đời sống. Nhưng nơi Kitô giáo, ông gặp một điều khác với con đường giải thoát thuần túy. Ông gặp một ngã vị yêu thương, một Đức Giêsu chịu đau khổ, vô tội, bị đóng đinh, nhưng vẫn gọi con người bằng lòng thương xót. Nếu Nho giáo đặt ông trong mạng lưới gia tộc và đạo nghĩa, nếu Phật giáo gợi ra con đường thoát khổ, thì Kitô giáo cho ông một cách hiểu mới về nhân vị. Con người không chỉ là con trong nhà, dân trong nước, học trò trong trường, kẻ sĩ trong xã hội; con người còn là một hữu thể được gọi tên trước Thiên Chúa.

Ở đây, lựa chọn tôn giáo của Nguyễn Khắc Dương đồng thời là một lựa chọn nhân học. Ông không chỉ đổi hệ niềm tin. Nói chính xác hơn, ông thay đổi cách hiểu về con người, về đau khổ, về tội lỗi, về tình yêu, về cứu cánh. Chính vì vậy, sự hội nhập Công giáo ở ông không phải chỉ là một motivation xuất phát từ văn hóa. Nó là một cuộc thử lửa trong thân phận. Ông không Việt hóa Kitô giáo bằng cách gắn thêm vài biểu tượng dân tộc. Ông làm cho Kitô giáo có giọng Việt qua chính lối sống của một người con Nho gia, hiểu Phật, biết Lão, học Tây, và không chịu để một hệ thống nào độc chiếm toàn bộ con người mình.

Triết học Tây phương giúp Nguyễn Khắc Dương định danh cho những tương phản ấy. Sorbonne cho ông nền học thuật, nhưng điều ông mang về không phải lòng sùng bái hệ thống. Qua cách giảng dạy và hồi kí của ông, có thể thấy ông không thuộc mẫu trí thức say mê xây lâu đài khái niệm. Ông gần hơn với Pascal, Kierkegaard, Jaspers, Gabriel Marcel và dòng hiện sinh hữu thần, câu hỏi triết học không nằm ở việc lập một hệ thống khép kín mà ở việc đối diện với khổ đau, tự do, niềm tin, cô đơn, cái chết, tình yêu và ơn cứu độ.

Trong miền Nam thập niên 1960, hiện sinh không chỉ là một mốt triết học nhập cảng. Nó trở thành một ngôn ngữ để trí thức nói về chiến tranh, thân phận, tự do, phi lí, lựa chọn cá nhân và sự từ chối các trại tù ý thức hệ. Các tạp chí và giảng đường miền Nam từng bàn nhiều về Sartre, Camus, Marcel, Mounier, Kierkegaard, Jaspers, đồng thời đặt hiện sinh trong tương quan với Phật giáo và hoàn cảnh chiến tranh Việt Nam.

Nguyễn Khắc Dương thở trong bầu khí quyển tự do ấy, nhưng ông không đi về phía hiện sinh vô thần. Ông không lấy phi lí làm điểm tựa. Ông dùng câu hỏi hiện sinh để đi sâu hơn vào nhân vị và đức tin. Bởi vậy, giảng triết đối với ông không phải truyền đạt một chương trình gồm các tên tuổi, học phái, niên đại, thuật ngữ. Ông quan niệm thầy trò chỉ là những người cùng đi trên con đường tìm triết lí cho đời mình; người đi trước có kinh nghiệm thì chia sẻ với người đi sau, không ai sở hữu triết học để ban phát cho ai. Quan niệm ấy giải thích vì sao Nguyễn Khắc Dương có ảnh hưởng rất sâu mà không cần một thư mục tác phẩm đồ sộ. Ông là người thầy hơn là nhà lập thuyết. Ông dạy người học cách tự hỏi trước khi đưa cho họ câu trả lời. Ông biến triết học thành một cuộc thẩm vấn đời sống chứ không để nó thành một môn trang sức của trí thức.

Sau 1975, khi Viện Đại học Đà Lạt trong hình thức cũ chấm dứt, ông đi qua trại cải tạo của chế độ mới, rồi tiếp tục dạy học trong các môi trường Công giáo, nhất là cho đại chủng sinh, tu sinh, các nhóm đào tạo linh mục. Đó là đoạn đời ít được nhắc tới như một sự nghiệp đào tạo đại học, nhưng lại rất quan trọng trong lịch sử trí thức Công giáo Việt Nam. Từ giảng đường đại học miền Nam, triết học của Nguyễn Khắc Dương chuyển vào chủng viện, học viện, nơi ông giúp nhiều thế hệ tu sĩ tiếp cận triết học không như một môn tiền đề khô cứng trước thần học mà như một cách luyện tập lương tâm, nhân vị và tự do nội tâm.

Có thể xem Nguyễn Khắc Dương là một trường hợp đặc biệt của hội nhập văn hóa Công giáo, nơi sự gặp gỡ giữa đức tin Kitô giáo và văn hóa Việt Nam được nghiệm sinh bằng chính đời ông hơn là được trình bày như một luận thuyết thần học. Các thảo luận thần học Á châu, trong đó có Peter C. Phan, thường đặt vấn đề làm sao Kitô giáo có thể nói bằng kinh nghiệm Á Đông trong một môi trường đã thấm nhuần Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, tôn giáo dân gian, cùng các tầng nấc kí ức về quá khứ thuộc địa và thương tích chính trị. Đời Nguyễn Khắc Dương đưa câu hỏi ấy vào một thân phận cụ thể. Nếu dùng khái niệm “cultural additivity,” tức khả năng các giá trị Nho, Phật, Lão cùng tồn tại và tác động trong văn hóa Việt, trường hợp của ông cho thấy sự đồng tồn tại ấy luôn có tính xung đột. Các truyền thống có thể nương tựa, tranh biện, gây đau đớn, đòi con người chọn lựa, rồi bắt con người sống với hệ quả của lựa chọn.

Nguyễn Khắc Dương để Đông và Tây tranh luận trong chính đời mình. Ông giữ hạt nhân Nho gia trong tư cách một người Công giáo, hiểu hấp lực giải thoát của Phật giáo rồi chọn Đức Kitô, học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với duy lí hệ thống, dạy triết như một cuộc đồng hành thay vì một uy quyền của người thầy, sống trong Giáo hội với phẩm chất tự vấn cá nhân. Từ đó, ông gợi ra một lối nhìn khác về Công giáo Việt Nam, vượt khỏi cả định kiến xem Công giáo như yếu tố ngoại lai lẫn nỗ lực hòa tan Công giáo vào văn hóa dân tộc đến mức xóa hết dị biệt. Ở Nguyễn Khắc Dương, Công giáo trở thành Việt Nam bằng cách đi qua kinh nghiệm Việt Nam một cách trung thực; văn hóa Việt tiếp nhận Công giáo bằng cách để những xung đột ấy mở ra một chiều sâu mới về nhân vị.

Nhìn lại Nguyễn Khắc Dương, một người thầy đã đi qua tuổi một trăm, điều còn lại không phải một hệ thống tư tưởng khép kín mà là phẩm cách của một người học không ngừng tự xét mình. Ông đi qua Nho học, Phật học, Kitô giáo và triết học Tây phương như đi qua những đòi hỏi nghiêm khắc của đời sống chứ không phải chỉ là người sưu tập các truyền thống. Chính vì vậy, đời ông gợi ra một bài học khó hơn mọi kết luận: văn hóa chỉ thật sự có nghĩa khi buộc con người thành thật trước câu hỏi về chính mình.


Đối Thoại - Chương 1, 8

 


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Các nhân đức chịu thử thách và nên vững mạnh bởi những nghịch cảnh.

8. Cha đã chỉ cho con, thế nào là phục vụ tha nhân, và làm thế nào để sự phục vụ này chứng tỏ con yêu mến Cha. Bây giờ, Cha nói cách chi tiết hơn. Chính vì tha nhân mà con người được điêu luyện đức nhẫn nại, khi bị tha nhân làm nhục. Đức khiêm nhường được được thử thách bởi người kiêu ngạo, đức tin bởi kẻ vô tín ngưỡng, đức cậy bởi người thất vọng, đức công chính bởi kẻ bất công, đức thương xót bởi kẻ độc ác, đức hiền lành và nhân hậu bởi người hay cáu giận. Mọi nhân đức đều được tập luyện từ tha nhân, cũng từ tha nhân con người biểu lộ lòng xấu xa của mình.

Nhưng hãy ghi rõ điều này, là người khiêm nhường tuy bị thử thách, nhưng sẽ thắng kẻ kiêu ngạo. Trước hết, kẻ kiêu ngạo không làm gì hại được người khiêm nhường; kẻ độc ác cũng thế, chúng không yêu mến Cha, không trông cậy Cha, không hiệp thông với các tôi trung của Cha, chúng không tác hại được đức tin, đức cậy của người khiêm nhường; trái lại, chúng còn làm họ thêm vững vàng trong tình yêu thương tha nhân; bởi vì khi các tôi tớ trung thành của Cha nhìn biết những kẻ nào không trông cậy vào họ và vào Cha, thì họ vẫn yêu thương chúng, và tha thiết cầu xin hơn cho chúng được cứu độ. Những ai không yêu mến Cha, thì cũng không tin cậy Cha; chúng tin cậy vào dục vọng ích kỷ của chúng, là thứ chúng mê thích, chúng cũng chẳng tin cậy vào các tôi tớ của Cha. Tuy vậy, cho dù chúng không yêu mến Cha, không tin cậy và tìm ơn cứu độ nơi Cha, “người tôi trung” của Cha vẫn không bỏ chúng (Xc Is 42:3). Con thấy chưa, chính sự bất trung tín và thiếu đức cậy của kẻ ác đã tôi luyện lòng tin cậy của các tôi tớ Cha. Vì đấy là những cơ hội để các nhân đức được nảy sinh và gia tăng.

Đức công chính cũng vậy, không giảm sút nhưng được thử thách bởi hành động bất công của kẻ gian ác; chính những bất công làm người công chính nắm vững được đức công binh bằng sự nhẫn nại; và khi thái độ giận dữ tấn công đức hiền lành và nhân hậu, là lúc những nhân đức này thêm rực rỡ; đến lượt sự ghen ghét, hận thù, ác cảm cũng làm gia tăng lòng yêu thương tha nhân và sự khao khát phần rỗi các linh hồn.
Sự lấy đức trả oán không những làm cho nhân đức trở nên vững chắc, mà nhiều khi còn mang theo những cục than lửa bác ái làm cháy rụi hận thù và ghen ghét của kẻ dữ, cũng như có sức biến dữ ra lành. Đó là sức mạnh lạ lùng của đức ái và đức nhẫn nại hoàn thiện, của những người muốn gánh lấy tội lỗi thay cho kẻ gian ác, và chịu đựng sự phẫn nộ của chúng (Xc Rm 12:17-21).

Sự can đảm và kiên nhẫn là lương thực bồi dưỡng linh hồn, khi phải đối phó với những thử thách lâu dài, như sỉ nhục, bách hại, vu khống, hoặc những quyến rũ muốn lôi mình ra khỏi con đường Chân Lý. Nếu đức can đảm có thật ở mặt nội tâm, linh hồn sẽ chống trả can trường, và chứng tỏ nó là trang anh dũng trước mặt mọi người. Ngược lại, nếu nó không chứng minh được, sự can đảm ấy không có nền tảng chân lý.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 7



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Nhân đức được điêu luyện bằng bàn tay của tha nhân như thế nào? Vì sao có nhiều nhân đức khác nhau?

7. Cha đã nói cho con hay những lý do, tại sao mọi tội phạm đều hại đến tha nhân, khi họ phải mất đi tình yêu thương là lẽ sống của họ. Và như vậy, tình yêu ích kỷ cũng gọi là ái kỷ, là đầu mối và là căn nguyên của mọi tội ác, vì nó làm tiêu tan tình bác ái tha nhân. Gương xấu, hận thù, độc ác, mọi giống tội đều bởi nguồn mạch xấu xa này: Sự ái kỷ đầu độc thế giới và làm suy yếu Nhiệm thể của Hội Thánh và Kitô giáo toàn cầu. Vì thế, Cha đã nói với con: mọi nhân đức đều có mặt tha nhân, làm mục tiêu chung. Cha còn khẳng định: đức ái là linh hồn của các nhân đức, nghĩa là không tìm ra một nhân đức phi đức ái; chỉ có lòng yêu mến Cha mới tạo nên nhân đức. Đó là chân lý.

Quả thật, khi linh hồn biết rõ về mình, như Cha đã nói trên đây, nó sẽ hạ mình xuống và chê ghét tính dục của nó, nhận ra luật hư tà đã in vào nhục thể luôn luôn khởi chiến chống thần khí. Linh hồn đứng lên cương quyết chống lại tính dục hư tà ấy, bắt nó phải quy phục lý trí. Hơn nữa, vì những hồng ân Cha ban, nó nhận biết Cha là Đấng Nhân Hậu vô cùng. Từ sự hiểu biết này, nó hạ mình nhìn lên Cha, là Đấng đã đem nó ra khỏi bóng tối, đưa vào ánh sáng Chân Lý đích thực. Một khi nhận biết lòng nhân hậu của Cha, nó yêu mến Cha dù có hay không có hậu ý. Cha muốn nói: yêu mến không có hậu ý, là yêu mến không nhằm kiếm lời hay vụ lợi, nhưng yêu vì biết rõ: không yêu mến Cha thì không đẹp lòng Cha và không tạo được nhân đức; và không ai đẹp lòng Cha, lại không chê ghét tội lỗi và yêu mến nhân đức. Một khi linh hồn có nhân đức bởi đức ái, nó sẽ sinh hoa trái cho tha nhân; ngay lúc nó yêu mến Cha trong sự thật, là lúc nó phục vụ mọi người cách chân thành. Không thể khác được, bởi vì tình yêu mến Cha và tình thương tha nhân chỉ là một, và vì tình yêu thương tha nhân bắt nguồn từ nơi Cha, càng mến Cha càng thương tha nhân.

Đấy chính là con đường Cha đã vạch ra cho các con, để chúng con tập luyện và cảm nghiệm nhân đức ở nơi các con. Cũng là chứng cớ Cha ở trong chúng con với ân sủng, và lúc các con yêu mến, muốn làm vinh danh Cha, và khao khát ơn cứu độ các linh hồn, là lúc chúng con thu được nhiều hoa trái của lời cầu nguyện. Những hoa trái ấy chẳng phải vì ích lợi gì cho Cha, nhưng cho các kẻ chúng con phục vụ.

Vì vậy, linh hồn sống theo chân lý và yêu mến Cha không bao giờ hết lợi ích cho mọi người và cho từng người. Ít hay nhiều, là tuỳ sự xứng đáng của kẻ lãnh nhận, và lòng ước nguyện nồng nhiệt của người cầu xin, như Cha đã giải thích cho con trên đây rằng: sự đau khổ mà thiếu lửa ước nguyện, không đủ để tẩy xoá tội lỗi (Xc số 4). Một khi linh hồn được hồng phúc tình yêu hiệp nhất với Cha, nó sống không phải là nó sống mà là Cha sống trong nó (Xc Gl 2:20), nó sẽ đáp ứng nhu cầu của thế giới bằng tình yêu thương, nó còn quan tâm đến nhu cầu của tha nhân từng người, tuỳ theo đặc sủng Cha ban, để nó thi hành mục vụ tông đồ (Xc 1Cr 12, 4-6). Có người được ơn giảng dạy bằng lời nói, kẻ khác bằng gương sáng việc lành, đời sống thánh thiện, điều mà ai cũng phải làm, vì mỗi người phải xây dựng cho anh em mình bằng đời sống đức độ và đạo hạnh.

Những nhân đức ấy – và nhiều nhân đức khác không kể hết được – đều bởi lòng yêu thương tha nhân. Cha không ban các nhân đức cho mỗi người như nhau, nhân đức này cho người này, nhân đức kia cho người khác; nhưng có điều chắc chắn, là không ai có một nhân đức lại thiếu các nhân đức khác, bởi vì mọi nhân đức liên kết với nhau, Cha ban cho họ theo nhiều đường lối khác nhau, để thế một nhân đức như đã có, làm cột trụ cho các nhân đức khác. Người này đức bác ái, người kia đức công chính, người khác đức khiêm nhường, người khác nữa đức tin mạnh mẽ, nhiều người được sự khôn ngoan, tiết độ, hoặc nhẫn nại, có người được sự can đảm với ý chí anh hùng. Những nhân đức này, Cha ban cho các linh hồn theo mức độ khác nhau. Cho dù chỉ có một nhân đức là chủ yếu, linh hồn vẫn có cơ hội để tập luyện nhân đức này nọ, nhằm tạo được mọi nhân đức, bởi vì như đã nói, các nhân đức liên kết với nhau trong đức ái.

Cũng thế, khi nói về các hồng ân và ân sủng, cùng những quà tặng tinh thần hay vật chất. Về vật chất, vì nhu cầu của người trần, Cha ban cho họ không như nhau. Cha không muốn cho mọi người đầy đủ mọi cần thiết, để vì nhu cầu của cuộc sống, con người phải thực thi bác ái với nhau. Cha có thể ban cho con người mọi nhu cầu thể chất và thiêng liêng, nhưng Cha muốn họ cần lẫn nhau, và muốn họ làm thừa tác viên của Cha, đi phân phát ân sủng và tặng phẩm mà họ đã lãnh nhận bởi tay Cha. Muốn hay không muốn, con người không thể bỏ trốn cái luật buộc phải làm việc bác ái; cũng đừng quên, khi làm việc bác ái vẫn phải vì yêu mến Cha, nếu không, công việc ấy không có giá trị siêu nhiên.

Con thấy chưa? Chính vì để con người thực thi đức bác ái, theo như Cha đặt họ làm những thừa tác viên của Cha, Cha xếp họ vào địa vị khác nhau, với những điều kiện không như nhau. Cũng là điều khi nói rằng: “Nhà Cha có nhiều chỗ ở” (Ga 14:2), nhưng chỉ có một, chính là tình yêu thương tha nhân, và ai “yêu thương tha nhân là chu toàn mọi lề luật” (Mt 22:37-40). Con người chỉ trở thành người hữu ích, là khi phục vụ tha nhân theo khả năng và địa vị mình.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 5-6



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Ước nguyện chịu đau khổ vì phần rỗi các linh hồn là điều đẹp lòng Thiên Chúa.

5. Con Cha yêu dấu, lòng ao ước chịu đau khổ và lao nhọc cho đến chết vì ơn cứu độ các linh hồn là điều rất đẹp lòng Cha. Càng đau khổ vì Cha, con càng chứng tỏ lòng yêu mến Cha; càng yêu mến Cha, con càng hiểu biết sự thật về Cha; càng hiểu biết Cha, con càng buồn sầu đau đớn khi thấy Cha bị xúc phạm. Con xin cho được chịu đau khổ, chịu hình phạt thay cho tội nhân, mà không nhận ra rằng: điều con xin chính là tình yêu, là ánh sáng, là hiểu biết sự thật. Cha đã nói với con: Tình yêu càng lớn, đau đớn và lao nhọc càng tăng; sự đau khổ gia tăng theo mức độ tình yêu. Vì vậy, Cha đã nói với con: Hãy xin, thì sẽ được (Xc Mc 11:24), vì Cha không hề từ chối các kẻ xin Cha điều chính đáng. Con đừng quên rằng: khi linh hồn yêu mến Thiên Chúa, tình yêu thần linh, kết hợp chặt chẽ với nó một cách nhẫn nại hoàn hảo, đến độ không thể tách rời nhau. Cũng thế, linh hồn muốn yêu mến Cha, thì nó cũng phải vì Cha mà chịu đựng mọi đau khổ do Cha gửi đến, bất kể đau khổ nào và từ đâu đến. Sự nhẫn nại chỉ chứng tỏ bằng đau khổ, và sự nhẫn nại, như đã nói, là một với lòng mến.

Vậy, chúng con hãy chịu đựng như bậc nam nhi. Không cách nào khác để chúng con trở thành bạn hữu của Đấng Chân Lý, và làm con cái yêu dấu của Cha. Các con hãy luôn thao thức tìm vinh quang Danh Thánh Cha, và cứu vớt các linh hồn.

+ Mọi nhân đức cũng như mọi tật xấu đều có mặt tha nhân làm nhân chứng, như thế nào?

6. Cha muốn con biết rằng: không một nhân đức hay một nết xấu nào lại thiếu mặt tha nhân. Kẻ chối từ Cha, nó sẽ tác hại cho tha nhân và cho mình nó là tha nhân chính. Sự tác hại này có thể ở trường hợp thông thường hay khác thường. Thông thường, là vì chúng con buộc phải “yêu thương tha nhân như chính mình” (Mc 12:33); tình yêu này đòi chúng con phải giúp đỡ người thân cận bằng lời cầu nguyện, bằng khuyên bảo, bằng an ủi và nâng đỡ cả tinh thần lẫn vật chất, theo như họ cần và thiếu. Nếu chúng con không làm được, vì thiếu khả năng hay phương tiện, tối thiểu chúng con hãy có lòng ao ước làm.

Nhưng nếu người ta không yêu mến Cha, thì cũng chẳng yêu thương tha nhân. Không yêu thương tha nhân, thì người ta cũng chẳng cứu giúp họ, đồng thời gây tổn hại cho chính mình. Người ta đánh mất ân sủng của Cha chính cái lúc bỏ rơi tha nhân, không cầu nguyện, không ước nguyện dâng lên Cha cho họ. Mọi giúp đỡ tha nhân phải phát sinh từ lòng yêu thương, mà sự yêu thương ấy phải vì lòng yêu mến Cha.

Cũng thế, có thể nói: không một tật xấu nào mà không đụng tới tha nhân; bởi vì nếu không yêu mến Cha, thì người ta cũng chẳng thiết gì đến tha nhân, mà động tình thương buộc phải có. Tất cả mọi sự dữ đều đến từ một linh hồn thiếu lòng yêu mến Cha và yêu thương tha nhân. Không làm việc lành, người ta sẽ làm điều ác. Làm điều ác cho ai? Cho chính mình trước hết, rồi cho tha nhân. Không phải cho Cha, vì sự ác không hại được Cha, nhưng hại tha nhân, mà Cha coi như hại chính Cha vậy (Xc Mt 2:40).

Người ta gây hại cho chính mình, vì tội lỗi làm mất ân sủng, là điều tệ hại nhất. Gây hại cho tha nhân, vì không trả cho họ một món nợ là niềm vui tình bác ái, bằng lời cầu xin và ước nguyện dâng lên Cha cho họ. Đó là việc lành phải làm nói chung, đối với mọi thụ tạo có lý trí; còn trường hợp đặc biệt mà chúng con phải làm đối với người kế cận, trước tầm mắt chúng con, đó là chúng con phải nâng đỡ nhau bằng lời nói, bằng giảng dạy, bằng gương sáng việc lành; và trong mọi trường hợp chúng con gặp, hãy đem lời an ủi, khích lệ, như thể chúng con làm cho chính mình. Kẻ không có lòng yêu thương đồng loại sẽ không làm như vậy, họ từ chối việc tương thân, tương trợ, mà còn làm hại nhau.

Tội, có thể là trong tư tưởng hay hành động. Người ta phạm tội trong tư tưởng, khi vui thích điều xấu xa gian ác và chối từ nhân đức, khi buông theo lòng ích kỷ, giết chết lòng yêu mến Cha và tình yêu thương tha nhân, như Cha đã nói trên đây. Sự vui thích điều xấu xa gian ác thai nghén trong lòng sẽ sinh ra nhiều tội ác khác, bất kể tha nhân, miễn sao thoả mãn tâm ý bất chính và xấu xa của mình. Tâm địa gian ác ấy sinh ra ở trường hợp thông thường, đôi khi khác thường, nghĩa là gây mối nguy cho cả cộng đồng thế giới.

Sự độc ác của chúng đối với mọi người, là khi thấy chính mình hoặc tha nhân sống trên bờ vực thẳm của cái chết muôn đời, bởi thiếu ân sủng, và khi chúng không nhận thức được sự cần cứu giúp tha nhân hoặc chính mình, bằng sự yêu mến nhân đức và chê ghét nết xấu. Sự độc ác còn sâu đậm hơn, khi chúng không những chối bỏ gương lành phúc đức, lại còn cấu kết với ma quỷ trong việc lôi cuốn nhiều người xa lìa con đường nhân đức, dẫn họ vào vòng tội lỗi. Độc ác chừng nào, khi chúng tiếp tay với ma quỷ làm tha nhân mất sự sống muôn đời.

Sự độc ác của chúng còn đụng tới thân xác tha nhân, bằng sự gian tham. Đã không cứu giúp tha nhân, chúng còn ức hiếp, bóc lột người nghèo, chúng cậy quyền thế, lừa gạt, chứng gian, để tước đoạt của cải người thân cận, có khi lại là người thân ruột thịt. Sự độc ác này còn thốt ra những lời độc địa, thường kết thúc bằng tội sát nhân. Có khi làm sỉ nhục thân xác tha nhân, biến con người thành súc vật. Và không phải một hay hai người hư đi, nhưng bất cứ ai đến gần chúng, bất cứ ai giao thiệp với chúng, đều ra ô uế.
Cũng vậy, ai là người hứng chịu những hậu quả của kẻ kiêu căng nếu không phải là tha nhân? Chỉ tha nhân thôi. Để làm cho mình là người có giá trị, kẻ kiêu ngạo khinh dể người khác, đặt mình hơn họ, và từ đó làm nhục họ. Và nếu có quyền thế nữa trong tay, chúng sẽ làm những điều bất công và gian ác, trở thành kẻ buôn bán xương thịt người.

Hỡi con yêu dấu, hãy đau xót vì Cha bị xúc phạm, hãy khóc thương những thây chết này, để lời cầu nguyện thắng được sự chết của chúng. Lúc này, con thấy khắp nơi, mọi tầng lớp xã hội, đầy những tội lỗi chống lại tha nhân, hoặc xúc phạm tha nhân. Ngoài ra, không có tội gì mà người ta không phạm, hoặc kín đáo, hoặc công khai. Kín đáo, là người ta không cứu giúp tha nhân, khi phải làm. Công khai, là khi người ta sản sinh ra tật xấu, như Cha vừa nói với con. Mọi sự xúc phạm đến Cha, là vì không yêu thương tha nhân.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 4


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Vì sao lòng ước ao và sự ăn năn hối cải chuộc được tội và được tha hình phạt cho mình và cho kẻ khác; nhưng có khi chỉ chuộc tội mà không được tha hình phạt?

4. Cha đã dạy con, hỡi con yêu dấu, tội lỗi không đơn giản được tha thứ bởi chịu đau khổ ở đời này, nhưng là đau khổ phối hiệp với lòng ước nguyện, yêu mến và đau xót; đau xót không vì chịu khổ, nhưng do tinh thần sám hối. Đó là lòng ước nguyện sống theo Con Một của Cha, Chúa Kitô khổ nạn, trong Ngài mà linh hồn được yêu thương và đi theo vết chân Ngài, chỉ có cách ấy, con đường ấy, sự đau khổ ở đời này mới có giá trị. Chúng xoá được tội lỗi, bởi lòng yêu mến tha thiết phát sinh từ sự hiểu biết lòng nhân hậu của Cha; và vị sự đắng cay dày vò của lòng thống hối, linh hồn sẽ hiểu biết về mình, và nhận ra tội lỗi của mình. Sự hiểu biết ấy còn tạo ra mối hận và khinh chê mọi tội lỗi, tính ích kỷ. Từ đấy, linh hồn sẽ nhận thấy mình chỉ đáng trừng phạt, chứ không đáng công trạng gì.

Con cầu xin Cha cho con được chịu đau khổ, để đền tội thay cho các kẻ xúc phạm đến Cha; con còn xin được sự hiểu biết và lòng yêu mến Cha, là Đấng Chân Lý tối cao. Vậy con nghe đây, nếu con muốn biết đầy đủ và được hoan hỉ trong Cha là sự sống vĩnh cửu, thì đừng bao giờ rời bỏ căn phòng biết mình, hãy đặt mình dưới đáy khiêm nhường. Khi ấy con sẽ biết Cha trong con, và từ sự hiểu biết này con sẽ nhận được tất cả những gì con cần và thiếu.

Hỡi con yêu dấu, không có nhân đức nào có được ở ngoài đức mến và lòng khiêm nhường, lòng khiêm nhường nuôi đức mến. Con sẽ tìm được đức khiêm nhường trong sự hiểu biết về mình, khi con nhận ra con chẳng là cái gì, ngay sự hiện có của con cũng là do Cha, vì Cha yêu thương con cũng như mọi thụ tạo khác, trước khi con được tạo thành. Và vì tình yêu vô biên của Cha dành cho con, muốn tái tạo con trong ân sủng, thanh tẩy con và tái sinh con trong Máu Con Một của Cha, đã đổ ra bởi Tình yêu nồng cháy. Máu Thánh này nói lên một chân lý: Chỉ những ai biết mình là thứ gì, mới đánh tan được đám mây mù dày đặc của tình yêu ích kỷ. Không có cách nào khác.

Khi đã hiểu biết tình thương của Cha, linh hồn bừng lên một tình yêu tuyệt vời với lòng đau xót khôn nguôi, sự đau xót trong niềm hy vọng được tha thứ. Nó hiểu biết Đấng Chân Lý và nhận ra sự yếu hèn của mình; sự bội bạc và cố chấp của những người chung quanh cũng làm nó đau khổ nặng nề. Thế nhưng, điều ấy lại làm cho nó xác tín rằng, nếu nó đau khổ, là vì nó yêu mến Cha; nếu nó không yêu mến, thì nó đã không đau khổ. Khi con và các tôi tớ của Cha hiểu biết Đấng Chân Lý của Cha, các con hãy mau mắn tiến trên con đường này, là chấp nhận đến chết mọi nỗi khổ tâm bởi những sỉ vả, nhục nhã vì danh Cha.

Hỡi các con và các tôi tớ Cha, các con hãy chịu đau khổ cách nhẫn nhục, với lòng sám hối ăn năn và yêu mến nhân đức vì danh Cha. Nếu chúng con sống như vậy, Cha sẽ xoá bỏ các tội lỗi của chúng con và của các tôi tớ khác nữa của Cha. Những đau khổ các con chịu, kết hợp với đức mến, sẽ tẩy xoá mọi tội lỗi cho con và cho các tôi tớ khác của Cha. Vì sức mạnh của đức mến, những đau khổ chúng con chịu đủ để xoá tội lỗi và đem lại ân thưởng cho các con và cho kẻ khác nữa. Phần các con sẽ tiếp nhận hoa trái của sự sống; những vết tích ngu xuẩn sẽ được xoá bỏ, và Cha sẽ quên đi mọi tội lỗi xúc phạm đến Cha.

Đối với kẻ khác, Cha sẽ chiếu theo tình bác ái và lòng mến của chúng con, mà ban cho họ nhiều ơn lành, tuỳ theo như họ dọn lòng lãnh nhận. Đặc biệt những ai dọn lòng mình cách khiêm tốn, và kính cẩn theo lời dạy bảo của các tôi tớ Cha, nghĩa là họ cũng theo con đường nhận thức về mình và ăn năn sám hối, Cha sẽ thương tha thứ tội phạm và giảm nhẹ hình phạt. Như vậy, nhờ lời cầu nguyện và lòng ước nguyện của các tôi tớ Cha, họ biết khiêm tốn hạ mình, sẽ nhận lãnh hoa trái ân sủng, nhiều hay ít, là tuỳ sự xứng đáng của lòng họ. Đúng vậy, vì ước nguyện của chúng con mà họ được tha thứ và được ơn ích, trừ phi họ cố chấp, chối bỏ tình thương của Cha, khinh chê Máu Con Một của Cha đã đổ ra để cứu chuộc họ.

Những người này sẽ nhận được hoa trái gì? Vì lời cầu nguyện tha thiết của các tôi tớ Cha, Cha chờ đợi họ và ban cho họ một luồng ánh sáng đánh thức lương tâm họ, cho họ cảm nhận hương thơm nhân đức, và nhìn thấy sự hoan lạc tình bằng hữu nơi các tôi tớ của Cha. Có thể Cha cho họ nhìn ra chân tướng thế gian và hiểu được sự phù phiếm của đam mê, để họ hướng về quê hương thật, là đời sống vĩnh cửu. Mắt không thấy được, tai không hề nghe, trái tim không lường được hàng ngàn vạn kế hoạch và đường lối Cha dẫn họ về với ân sủng. Cha bị ràng buộc vào việc này, bởi cùng một tình yêu vô biên mà Cha đã tạo dựng nên họ, cũng như nhờ lời cầu nguyện, lòng ước nguyện và những đau khổ của chúng con là tôi tớ Cha. Cha chạnh lòng thương vì những giọt nước mắt, những giọt mồ hôi, những lời cầu khẩn khiêm tốn; tất cả đều đẹp lòng Cha. Chính Cha khơi dậy nơi chúng con lòng yêu thương các linh hồn, và sự đau xót khi thấy những linh hồn này hư đi.

Thường các kẻ ấy chỉ được Cha dung tha tội phạm, mà không xá miễn hình phạt. Vì họ phần đông không sẵn lòng đáp lại lòng thương xót của Cha, nhưng họ ngoan cố. Đó là những kẻ có bàn tay lựa chọn, nhưng lòng dạ chai đá, cứng như kim cương, không thể tan chảy ra được, ngoại trừ bởi máu. Lại nữa, Cha nói cho con nghe, cho dù họ ngoan cố trong khi còn thời giờ tự do chọn lựa, hãy để họ tìm đến Máu Con Cha, Máu ấy sẽ làm tan trái tim cứng như kim cương, để họ nhìn thấy hiệu quả của Máu Thánh đã đổ ra cứu chuộc họ. Nhưng nếu họ chậm trễ, thời gian không còn nữa, thì sẽ chẳng có phương cách nào khác, để lôi kéo họ về với “Đấng sẽ làm cho họ trở nên công chính, thánh hoá và cứu chuộc họ” (1Cr 1:30). Bởi Cha đã ban cho họ trí nhớ để ghi lại các hồng ân của Cha, trí tuệ để biết chân lý, và ý muốn để yêu mến Cha là Chân Lý tối cao.

Đấy, con xem hồng ân Cha ban cho tất cả các con, và Cha mong đợi nơi các con một sự đền đáp. Nếu chúng con đem bán đi, giao ước với ma quỷ, thì ma quỷ sẽ đem đi hết, làm một với tất cả những gì các con thu hoạch ở đời này. Ma quỷ rất giàu trí nhớ, nó sẽ gợi lại những hành vi vô luân, ham danh vọng, tham tiền của, sống ích kỷ, hận thù và khinh khi người khác. Giữa những khốn khổ ấy, tâm trí sẽ ra rối loạn, tối tăm, tưởng mình mất khả năng sám hối, để khỏi hình phạt muôn đời.

Như vậy, con thấy rõ tội lỗi không được tha thứ vì sự đau khổ ở đời này, nhưng do sự tan nát dày vò của tâm hồn. Các kẻ ăn năn hối cải cách trọn vẹn, như Cha đã nói, sẽ được tha hết mọi tội nặng nhẹ với hình phạt, và lãnh nhận ân sủng. Nhưng nếu sự sám hối và lòng mến không đủ để được tha hình phạt, thì họ sẽ phải chịu ở Luyện ngục. Con thấy đó, lòng ước ao của một linh hồn kết hợp với Cha là Đấng Tốt Lành vô cùng, sẽ đền được tội mình, ít hay nhiều là tuỳ ở nhiệt độ tình yêu nơi người ước nguyện cầu xin, và mức thiện chí của kẻ nhận lãnh. Lòng nhân hậu của Cha cứ thế mà đong lường (Lc 6:38).

Vậy, con hãy ấp ủ mồi lửa ước nguyện, và không thôi khóc thương những con người ấy, bằng lời khiêm tốn và tha thiết cầu xin Cha. Như vậy, là Cha đã dạy con và vị linh hướng của con; chúng con hãy hành động xứng bậc nam nhi, và chết đi đối với tính tự ái và ích kỷ.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 2-3



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU

+ Sự thao thức gia tăng, khi linh hồn nói trên được Thiên Chúa cho biết nỗi nguy khốn của thế giới.

2. Sự thao thức nói trên của linh hồn thật lớn lao và liên tục, nhất là khi Đấng Chân Lý tối cao cho nó biết những nhu cầu của thế giới, cùng nhìn thấy một thế giới lâm nguy, vì không thôi xúc phạm đến Thiên Chúa. Hơn nữa, linh hồn ấy nhớ đến một bức thư, nhận được từ Cha linh hướng. Trong thư, vị linh hướng bày tỏ nỗi lòng đau xót lo lắng về biết bao tội xúc phạm đến Thiên Chúa, về những linh hồn sa hoả ngục và sự bách hại chống phá Hội Thánh. Tất cả những điều ấy khơi dậy nơi tâm hồn nó một ngọn lửa khao khát thánh thiện, vừa ưu sầu vì những xúc phạm, vừa hân hoan trong hy vọng, mà nó trông đợi Chúa sẽ thương ban cách nào, để giải trừ những sự dữ lớn lao dường ấy.

Và bởi vì mỗi khi được rước Mình Thánh Chúa, nó thấy mình được kết hợp với Thiên Chúa một cách êm ái, hiểu biết hơn về Đấng Chân Lý của Ngài, vì khi ấy, nó ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong nó, tựa như cá ở trong biển khơi và biển khơi ở trong cá.

Giờ Thánh Lễ đã đến, nó quỳ xuống đầy lòng sốt sắng và khao khát. Nó nhận biết sâu sắc về bản thân nó yếu đuối và tội lỗi, những tội đã gây nên mọi sự dữ trong thế gian. Sự nhận biết này gợi cho nó một sự gớm ghét chính bản thân nó; nó xin đức công minh của Thiên Chúa rửa sạch nó khỏi mọi vết nhơ tội lỗi nó xét thấy, bằng những lời cầu như sau: “Lạy Chúa Cha hằng hữu, con xin xưng thú tội lỗi trước Thánh Nhan Cha, xin Cha sửa phạt con ngay ở đời này. Bởi vì tội lỗi con đã làm cớ gây ra mọi khốn khổ cho mọi người chung quanh con, con xin Cha cứ đánh phạt con đi, vì những tội lỗi của con, thưa Cha, con nài van Cha”.

+ Việc lành của con người ở đời này, không đủ để được xoá tội và lãnh ân thưởng, nếu không vì lòng mến Thiên Chúa.

3. Thế rồi Đấng Chân Lý vĩnh cửu nhận lấy tấm lòng khao khát của linh hồn ấy, và kéo nó lại với Ngài cách mạnh mẽ hơn. Cũng như thời Cựu Ước, khi người dân dâng tiến lễ vật hy sinh lên Đức Chúa, thì một ngọn lửa ập xuống, thiêu đốt vật hy lễ làm đẹp lòng Đấng Tối Cao, xin Ngài nhận lấy. Thiên Chúa cũng làm thế đối với linh hồn này. Ngài gửi đến ngọn lửa thương xót của Chúa Thánh Thần và nhận lấy lễ vật hy sinh, là tấm lòng khao khát mà linh hồn dâng lên. Chúa Cha phán: Hỡi con Cha, con có biết không? Tất cả mọi sự khổ đau mà linh hồn phải chịu đựng, hoặc có thể chịu đựng được ở đời này, không đủ đền bù cho một tội nhẹ nhất? Vì sự xúc phạm đến Cha là Đấng Tốt Lành vô cùng đòi một sự đền bù cũng phải vô cùng.

Vì thế, Cha muốn con biết rằng: mọi đau khổ ở đời này không phải để chuộc tội, nhưng để sửa dạy. Chúng được gửi đến để người Cha giáo dục con cái, khi chúng sai lỗi. Sự thành thật ghét tội và hối hận ăn năn mới làm con người được sạch tội. Muốn được tha thứ mọi tội lỗi và cả hình phạt đáng phải chịu nữa, thì phải có lòng ước nguyện vô biên của một tâm hồn tan nát dày vò, tức ăn năn hối cải cách trọn vẹn.

Cha là Đấng Vô Biên, Cha muốn một tình yêu vô biên, một lòng sám hối trọn vẹn. Cha đòi như thế, là vì tạo vật đã xúc phạm đến Đấng Tạo Hoá, và vì tội xúc phạm đến anh em mình, là tội kể như xúc phạm đến Cha. Ai là người có lòng ước nguyện vô biên? Là những kẻ kết hợp với Cha bằng tình yêu mến. Chính vì tình yêu này mà họ cay đắng và than khóc khi xúc phạm đến Cha, hoặc nhìn thấy Cha bị xúc phạm. Nhờ sự kết hợp và lòng ao ước vô biên này, mà mọi nỗi thống khổ, tinh thần hay thể xác, bất kể từ đâu đến, đều có giá trị vô cùng, chuộc được tội mình đáng chịu phạt vô cùng, cho dù những việc lành ấy giới hạn, thực hiện trong thời gian hữu hạn. Đó là giá trị của lòng ước nguyện chấp nhận đau khổ với Chúa Kitô khổ nạn, của lòng ăn năn sám hối. Tình yêu hay đức mến có giá trị như vậy.

Phaolô, vị tông đồ vinh hiển, cũng đã dạy như thế, khi ngài quả quyết rằng: “Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần; giả như tôi được ơn nói tiên tri, và biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non; giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi mà chịu thiêu đốt, mà tôi không có đức mến, thì tất cả cũng như không” (1Cr 13, 1-3). Lời của vị tông đồ cho biết mọi việc lành hữu hạn không đủ để được tha tội, cũng chẳng làm nên công trạng gì, nếu không phối hiệp với đức mến.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Tác phẩm Đối Thoại - Mở đầu: Bốn điều ước nguyện



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

MỞ ĐẦU: BỐN ĐIỀU ƯỚC NGUYỆN

+ Một linh hồn ước ao làm sáng danh Thiên Chúa và cứu vớt các linh hồn đã cầu nguyện như thế nào. Khi linh hồn được kết hợp với Thiên Chúa bằng tình yêu, nó đã dâng lên Thiên Chúa bốn điều ước nguyện.

1. Có một linh hồn lòng đầy thao thức xao xuyến, ước ao vô vàn muốn làm vinh danh Thiên Chúa và cứu vớt các linh hồn. Linh hồn ấy đã được rèn luyện nhân đức một thời gian, và thường lắng đọng tâm hồn để hiểu biết chính mình, nhằm thấu hiểu lòng lành Thiên Chúa đối với nó. Bởi vì sự hiểu biết ấy phát sinh tình yêu, và theo sau tình yêu mến là quyết tâm theo sự thật và sống sự thật.

Nhưng linh hồn có thể hiểu biết được như thế và được soi sáng bởi sự thật ấy chỉ nhờ bằng cầu nguyện khiêm tốn và liên lỉ, đặt nên nền tảng biết sự thật về mình và về Thiên Chúa. Bằng sự cầu nguyện này, linh hồn được kết hợp với Thiên Chúa, bước theo vết chân Chúa Kitô chịu đóng đinh, để rồi qua bao khát vọng và yêu mến trong sự kết hợp với Ngài bằng tình yêu, linh hồn được biến cải, trở nên một với Chúa Kitô. Điều này có thể hiểu vì những lời sau đây: “Nếu anh em yêu mến Thầy và giữ lời Thầy, Thầy sẽ tỏ mình cho anh em, và anh em sẽ nên một với Thầy, và Thầy với anh em” (Ga 14:23). Chúng ta tìm được nhiều câu giống vậy ở nhiều nơi khác trong Kinh Thánh. Đức Kitô là đấng Chân Lý, lời của Ngài cho chúng ta biết sự thật này, là tình yêu biến linh hồn thành một với Ngài.

Để làm sáng tỏ điều này, tôi nhớ lại đã được nghe từ một tớ nữ của Thiên Chúa rằng: trong khi cầu nguyện, tâm hồn nàng nâng cao ngút ngàn, con mắt trí tuệ nàng đã được Chúa mở ra, cho thấy tình thương dành cho các tôi tớ của Ngài. Vâng, chính Ngài đã tỏ tình thương ấy khi nói rằng:

Hãy mở mắt trí tuệ ra, nhìn thẳng vào Ta, con sẽ thấy được sự cao trọng và vẻ đẹp của các thụ tạo có lý trí của Ta. Nhất là cái đẹp mà Ta đã tô điểm cho linh hồn, khi sáng tạo nó theo hình ảnh và giống Ta. Hãy nhìn xem những linh hồn luôn luôn kết hợp với Ta, chúng lộng lẫy trong chiếc áo cưới của đức Ái, được trang điểm bằng nhiều nhân đức, chúng làm một với Ta trong tình yêu. Vì thế, nếu có ai hỏi Ta chúng là ai, thì Ta, cùng Ngôi Lời yêu thương dịu hiền sẽ trả lời rằng: “Chúng là một chính Ta khác”, vì chúng đã nhận chìm và làm mất đi ý riêng của mình, chúng mặc lấy Ta, hiệp nhất và đồng tình với ý muốn của Ta mà thôi. Thật không sai khi nói rằng: Linh hồn được trở nên một với Thiên Chúa bằng tình yêu.

Ý muốn của tớ nữ nói trên lúc này là làm thế nào để hiểu biết và đi theo chân lý một cách xứng bậc nam nhi. Vì thế, nàng đã dâng lên Đức Chúa Cha, là Đấng Tối Cao và Hằng Hữu, bốn điều ước nguyện. Trước hết, xin cho chính mình, vì nàng biết mình sẽ chẳng làm ích gì cho ai, dù giảng dạy, gương sáng hay cầu nguyện, nếu chính nàng trước hết không lo tiến tới và tạo được các nhân đức cho mình. Bởi vậy, điều ước nguyện thứ nhất là nàng xin ơn cho bản thân.

Điều ước nguyện thứ hai là xin cho Giáo Hội được cải cách và canh tân.

Điều ước nguyện thứ ba là xin cho thế giới được hoà bình, cách riêng cho những người Kitô hữu đang nổi loạn, chống phá, khinh dể và bách hại Hội Thánh.

Điều ước nguyện thứ bốn là xin Đấng Quan Phòng ban các ơn cần thiết cho thế giới nói chung, và cách riêng cho một trường hợp đặc biệt mới xảy ra.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

Tác phẩm Đối Thoại - Tiểu sử thánh Catarina Siena (tiếp theo)

 


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

THÁNH CATARINA SIENA
Tiến sĩ Hội Thánh

Bản dịch Việt ngữ của
Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

+++

TIỂU SỬ THÁNH CATARINA SIENA (tiếp theo)

- Thân xác và linh hồn tràn trề ân sủng

Cha linh hướng Raymond cũng là người viết tiểu sử Catarina đã coi đây là một sự kiện phi thường, là tột đỉnh đời sống của một tâm hồn anh hùng. Cha còn cho biết, từ khi Catarina được uống từ vết thương cạnh sườn Đấng Cứu thế, linh hồn cô tràn ngập ân sủng và tràn ra cả ngoài thân xác. Bởi vì thân xác Catarina gần như không cần đến lương thực đời này nữa, trong thời gian ăn chay 40 đêm ngày, cô chỉ uống nước lã và rước Thánh thể, cầu nguyện và làm việc tông đồ.

Có một lần ma quỷ hiện ra dưới hình người ghê tởm để cám dỗ Catarina, một sự cám dỗ thô bỉ chưa từng xảy ra cho cô, Catarina cảm thấy mình trải qua một sự cô đơn đau khổ nhất đời, và thấy như Thiên Chúa bỏ rơi mình. Cô đã kêu lên: "Ôi lạy Chúa! Chúa ở đâu khi tâm hồn con quá đau đớn và buồn bực vì sự cám dỗ ghê tởm và tồi tệ đó?" Chúa đã hiện ra, và nói: "Con yêu dấu, Cha vẫn ngự trong linh hồn con, thêm sức cho con bằng ân sủng của Cha".

Bởi vì nếu Thiên Chúa không ở trong tâm hồn Catarina, thì linh hồn đã trống vắng và tên ác quỷ đã chiếm ngự nơi đó rồi. Sự xấu xa kinh tởm của ma quỷ đã được Catarina lặp lại trong cuốn “Đối thoại”, cô viết: “Thà con bước đi trên đống lửa cho đến ngày phán xét chung, chẳng thà nhìn thấy tên quỷ ghê tởm đó một lần nữa”.

- Làm nhiều dấu lạ

Ngoài những lần Chúa hiện ra như thế, và ngoài công việc bác ái xã hội, Catarina là một thiếu nữ đơn sơ chất phác, được Chúa cho làm nhiều dấu lạ, như chữa lành bệnh nhân trong thời gian ôn dịch lây lan khắp Bắc Ý.

Ngoài ra, lịch sử còn nói cho biết, tuy là một thiếu nữ vốn yếu đuối và ít học, vậy mà Thiên Chúa đã dùng Catarina làm người giảng hòa giữa nhiều tiểu vương và nhiều thành trì của nước Ý, cũng như đã thuyết phục và lo đưa Đức Giáo hoàng Gregory XI cùng toàn bộ giáo triều từ Avignon về lại Rome, chấm dứt cuộc lưu đày 67 năm.

Được đặt vào ban cố vấn giáo triều, Catarina nhiều lần thúc giục Đức Urban VI cải cách hàng giáo sĩ và tu sĩ. Theo một bức thư của nữ cố vấn này, Đức Thánh Cha ban nhiều sắc lệnh cải cách hàng giáo sĩ và giáo phẩm.

- Cuốn “Đối Thoại”

Một việc khác đáng ghi nhớ trong cuộc đời thánh Catarina là trong 2 năm cuối đời (năm 1377 đến năm 1378) người đã viết một cuốn sách rất thời danh trong giáo hội, nhan đề là “ĐỐI THOẠI”. Sự thật, Catarina đã không viết một chữ nào. Nội dung, tất cả mọi lời trong cuốn sách đều là của Thiên Chúa Cha đã nói với người - người con rất yêu dấu của Ngài là Catarina. Người ta có thể đọc được trong sách này những tri thức sâu sắc.

Trong sắc tuyên thánh Catarina năm 1461, Đức Piô II đã khẳng định rằng: “Giáo lý của thánh nữ là giáo lý được Chúa phú bẩm, không do học hỏi mà có. Thánh nữ là một vị tôn sư. Các tiến sĩ, các giám mục đã đặt cho thánh nữ những câu hỏi khó khăn nhất về thần học, và đã nhận được những câu trả lời rất thỏa đáng”. Ngoài ra, giáo hội còn giữ lại 381 bức thư Catarina đã gởi Đức Giáo hoàng, nhiều hồng y, giám mục, nhiều nhà cầm quyền, nhiều chính trị gia, các cha linh hướng, nhiều huynh đoàn và môn đệ.

Trong những năm cuối đời, từ năm 1375, tại một nhà thờ ở Pisa, Catarina được in 5 dấu cách kín nhiệm. Catarina qua đời ngày Chúa nhật ngày 29 tháng 4 năm 1380, mới 33 tuổi đời, cùng tuổi với Chúa Giêsu tắt thở trên thánh giá. Ngay sau khi qua đời, 5 dấu hiện ra rõ ràng cho mọi người xem thấy.

- Tiến sĩ Hội thánh

Đức Giáo Hoàng Pio II đã ghi tên Catarina Siena vào sổ bộ các thánh năm 1461. Năm 1861, Đức Pio IX tôn phong thánh nữ làm bổn mạng thứ hai của thành Rome, sau thánh Phêrô tông đồ.

Thời Đức Pio XII, thánh nữ được đặt làm bổn mạng của giáo hội nước Ý cùng với thánh Phanxico thành Assisi.

Vào năm 1970, Đức Phaolô thứ VI đã tôn phong thánh nữ lên bậc Tiến sĩ Hội thánh, biệt hiệu “Tiến sĩ Tình yêu”. Người đã được Thiên Chúa dạy và ban trí thông minh với lòng sốt mến như thiên thần Seraphim, nên cũng có biệt hiệu là “Người trinh nữ Seraphim”.

Lễ kính thánh Catarina hàng năm vào ngày 29/4.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Tác phẩm Đối Thoại (Dialogo) - Tiểu sử thánh Catarina Siena



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

THÁNH CATARINA SIENA
Tiến sĩ Hội Thánh

Bản dịch Việt ngữ của
Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

+++

TIỂU SỬ THÁNH CATARINA SIENA

Thánh Catarina tên gọi trong gia đình là Caterina di Giacomo di Benincasa, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1347 tại thành Siena nước Ý. Thánh nữ là con thứ 24 trong 25 anh chị em, nhưng người em sinh đôi mất năm vào năm 1363 nên Catarina trở thành con út trong gia đình, một gia đình nghèo khó nhưng đạo đức.

Thân phụ của thánh nữ là ông Giacomo di Benincasa, hội viên dòng ba Phan Sinh, làm nghề thợ nhuộm. Thân mẫu là bà Lapa Piagenti con của một thi sĩ nổi tiếng. Hai ông bà sinh hạ được 25 người con.

Catarina sinh ra với thân xác yếu ớt. Từ thuở bé Catarina đã được học giáo lý và biết đọc kinh Mân Côi cách sốt sắng. Thỉnh thoảng bé Catarina quỳ gối leo từng bậc thang trong nhà để lần chuỗi.

- Cuộc gặp gỡ nhiệm màu

Hồi lên 6, một hôm đang cùng anh Stephano đi bộ trên đường từ nhà anh về nhà cha mẹ, Catarina nhìn lên bầu trời, hướng về nhà thờ thánh Đa Minh, được nhìn thấy một cảnh tượng làm thay đổi cả cuộc đời. Catarina nhìn thấy Chúa Giêsu, y phục như Đức Giáo hoàng, áo viền kim tuyến, đội vương miện rực rỡ, Chúa ngự trên ngai vàng, bên cạnh có thánh Phêrô, thánh Phaolô và thánh Gioan chép sử. Chúa Giêsu không nhìn các vị đó mà lại đưa mắt nhìn Catarina cách rất âu yếm và mỉm cười.

Catarina đứng sững sờ nhìn. Chúa Giêsu tiến lại gần Catarina, làm dấu thánh giá trên em và ban phép lành. Em ngây ngất nhìn ngắm Chúa như không cảm thấy sự gì bên ngoài nữa, nhưng cảm nhận tình mến yêu Chúa đầy ắp linh hồn với một niềm hoan hỉ chưa từng cảm nhận bao giờ.

Cuộc gặp gỡ nhiệm màu khiến Catarina ước ao sống đời hiến dâng và cầu nguyện. Dưới sự quan phòng của Thiên Chúa, từ đây cũng như trước đó, theo sự hướng dẫn của cha linh hướng Raymond Capua, Catarina phục vụ những người xung quanh, nhất là những người bệnh tật, già yếu, những người nghèo khổ và những kẻ bị tù đày.

- Sống đời hiến dâng và cầu nguyện

Trong thời gian này, Catarina thường thăm viếng Andrea, một bệnh nhân rất khó tính, nóng nảy và miệng lưỡi thô tục. Mỗi khi đến chăm sóc cho y là mỗi lần cô nhận lấy những tràng chửi rủa và mỉa mai. Vì muốn đưa Andrea về với Chúa nên Catarina đã dâng mọi hy sinh cho Chúa, không một lời than trách, chống lại. Sau một thời gian, bệnh tình của Andrea trở nên trầm trọng, y thay đổi tính tình, tỏ ý muốn trở về với Chúa. Hôm đó, khi chăm sóc vết thương ung thư trên ngực của Andrea, mở băng ra thì mùi hôi thối xông lên. Catarina đã giật nảy mình và muốn ói mửa. Catarina đã hối hận vì hành động quá tự nhiên, nghịch với ý chí yêu thương và phục vụ của mình. Cô sợ đã vô tình làm Andrea buồn lòng, bởi vậy sau khi đã rửa sạch vết thương của y trong một cái chậu, cô đã uống thứ nước đầy máu mủ đó. Catarina đã kể lại với cha linh hướng Raymond rằng: “Từ khi sinh ra, con chưa bao giờ ăn hay uống thứ gì ngọt ngào và ngon lành như thế!”.

Cũng đêm ấy, trong khi Catarina đang cầu nguyện, Chúa Giêsu đã hiện ra và khen thưởng nàng vì đã để đức bác ái chiến thắng những phản ứng tự nhiên của mình. Rồi Chúa Giêsu biểu Catarina kề miệng vào để uống từng vết thương nơi cạnh sườn Ngài. Chúa nói: "Con yêu dấu, hãy uống từ cạnh sườn Thầy. Nhờ đó linh hồn và thân xác con sẽ được vui mừng hân hoan, bởi con đã từ bỏ mình vì Thầy, con sẽ được tràn ngập sự trọn lành".

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)