Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 4


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU (tiếp theo)

+ Vì sao lòng ước ao và sự ăn năn hối cải chuộc được tội và được tha hình phạt cho mình và cho kẻ khác; nhưng có khi chỉ chuộc tội mà không được tha hình phạt?

4. Cha đã dạy con, hỡi con yêu dấu, tội lỗi không đơn giản được tha thứ bởi chịu đau khổ ở đời này, nhưng là đau khổ phối hiệp với lòng ước nguyện, yêu mến và đau xót; đau xót không vì chịu khổ, nhưng do tinh thần sám hối. Đó là lòng ước nguyện sống theo Con Một của Cha, Chúa Kitô khổ nạn, trong Ngài mà linh hồn được yêu thương và đi theo vết chân Ngài, chỉ có cách ấy, con đường ấy, sự đau khổ ở đời này mới có giá trị. Chúng xoá được tội lỗi, bởi lòng yêu mến tha thiết phát sinh từ sự hiểu biết lòng nhân hậu của Cha; và vị sự đắng cay dày vò của lòng thống hối, linh hồn sẽ hiểu biết về mình, và nhận ra tội lỗi của mình. Sự hiểu biết ấy còn tạo ra mối hận và khinh chê mọi tội lỗi, tính ích kỷ. Từ đấy, linh hồn sẽ nhận thấy mình chỉ đáng trừng phạt, chứ không đáng công trạng gì.

Con cầu xin Cha cho con được chịu đau khổ, để đền tội thay cho các kẻ xúc phạm đến Cha; con còn xin được sự hiểu biết và lòng yêu mến Cha, là Đấng Chân Lý tối cao. Vậy con nghe đây, nếu con muốn biết đầy đủ và được hoan hỉ trong Cha là sự sống vĩnh cửu, thì đừng bao giờ rời bỏ căn phòng biết mình, hãy đặt mình dưới đáy khiêm nhường. Khi ấy con sẽ biết Cha trong con, và từ sự hiểu biết này con sẽ nhận được tất cả những gì con cần và thiếu.

Hỡi con yêu dấu, không có nhân đức nào có được ở ngoài đức mến và lòng khiêm nhường, lòng khiêm nhường nuôi đức mến. Con sẽ tìm được đức khiêm nhường trong sự hiểu biết về mình, khi con nhận ra con chẳng là cái gì, ngay sự hiện có của con cũng là do Cha, vì Cha yêu thương con cũng như mọi thụ tạo khác, trước khi con được tạo thành. Và vì tình yêu vô biên của Cha dành cho con, muốn tái tạo con trong ân sủng, thanh tẩy con và tái sinh con trong Máu Con Một của Cha, đã đổ ra bởi Tình yêu nồng cháy. Máu Thánh này nói lên một chân lý: Chỉ những ai biết mình là thứ gì, mới đánh tan được đám mây mù dày đặc của tình yêu ích kỷ. Không có cách nào khác.

Khi đã hiểu biết tình thương của Cha, linh hồn bừng lên một tình yêu tuyệt vời với lòng đau xót khôn nguôi, sự đau xót trong niềm hy vọng được tha thứ. Nó hiểu biết Đấng Chân Lý và nhận ra sự yếu hèn của mình; sự bội bạc và cố chấp của những người chung quanh cũng làm nó đau khổ nặng nề. Thế nhưng, điều ấy lại làm cho nó xác tín rằng, nếu nó đau khổ, là vì nó yêu mến Cha; nếu nó không yêu mến, thì nó đã không đau khổ. Khi con và các tôi tớ của Cha hiểu biết Đấng Chân Lý của Cha, các con hãy mau mắn tiến trên con đường này, là chấp nhận đến chết mọi nỗi khổ tâm bởi những sỉ vả, nhục nhã vì danh Cha.

Hỡi các con và các tôi tớ Cha, các con hãy chịu đau khổ cách nhẫn nhục, với lòng sám hối ăn năn và yêu mến nhân đức vì danh Cha. Nếu chúng con sống như vậy, Cha sẽ xoá bỏ các tội lỗi của chúng con và của các tôi tớ khác nữa của Cha. Những đau khổ các con chịu, kết hợp với đức mến, sẽ tẩy xoá mọi tội lỗi cho con và cho các tôi tớ khác của Cha. Vì sức mạnh của đức mến, những đau khổ chúng con chịu đủ để xoá tội lỗi và đem lại ân thưởng cho các con và cho kẻ khác nữa. Phần các con sẽ tiếp nhận hoa trái của sự sống; những vết tích ngu xuẩn sẽ được xoá bỏ, và Cha sẽ quên đi mọi tội lỗi xúc phạm đến Cha.

Đối với kẻ khác, Cha sẽ chiếu theo tình bác ái và lòng mến của chúng con, mà ban cho họ nhiều ơn lành, tuỳ theo như họ dọn lòng lãnh nhận. Đặc biệt những ai dọn lòng mình cách khiêm tốn, và kính cẩn theo lời dạy bảo của các tôi tớ Cha, nghĩa là họ cũng theo con đường nhận thức về mình và ăn năn sám hối, Cha sẽ thương tha thứ tội phạm và giảm nhẹ hình phạt. Như vậy, nhờ lời cầu nguyện và lòng ước nguyện của các tôi tớ Cha, họ biết khiêm tốn hạ mình, sẽ nhận lãnh hoa trái ân sủng, nhiều hay ít, là tuỳ sự xứng đáng của lòng họ. Đúng vậy, vì ước nguyện của chúng con mà họ được tha thứ và được ơn ích, trừ phi họ cố chấp, chối bỏ tình thương của Cha, khinh chê Máu Con Một của Cha đã đổ ra để cứu chuộc họ.

Những người này sẽ nhận được hoa trái gì? Vì lời cầu nguyện tha thiết của các tôi tớ Cha, Cha chờ đợi họ và ban cho họ một luồng ánh sáng đánh thức lương tâm họ, cho họ cảm nhận hương thơm nhân đức, và nhìn thấy sự hoan lạc tình bằng hữu nơi các tôi tớ của Cha. Có thể Cha cho họ nhìn ra chân tướng thế gian và hiểu được sự phù phiếm của đam mê, để họ hướng về quê hương thật, là đời sống vĩnh cửu. Mắt không thấy được, tai không hề nghe, trái tim không lường được hàng ngàn vạn kế hoạch và đường lối Cha dẫn họ về với ân sủng. Cha bị ràng buộc vào việc này, bởi cùng một tình yêu vô biên mà Cha đã tạo dựng nên họ, cũng như nhờ lời cầu nguyện, lòng ước nguyện và những đau khổ của chúng con là tôi tớ Cha. Cha chạnh lòng thương vì những giọt nước mắt, những giọt mồ hôi, những lời cầu khẩn khiêm tốn; tất cả đều đẹp lòng Cha. Chính Cha khơi dậy nơi chúng con lòng yêu thương các linh hồn, và sự đau xót khi thấy những linh hồn này hư đi.

Thường các kẻ ấy chỉ được Cha dung tha tội phạm, mà không xá miễn hình phạt. Vì họ phần đông không sẵn lòng đáp lại lòng thương xót của Cha, nhưng họ ngoan cố. Đó là những kẻ có bàn tay lựa chọn, nhưng lòng dạ chai đá, cứng như kim cương, không thể tan chảy ra được, ngoại trừ bởi máu. Lại nữa, Cha nói cho con nghe, cho dù họ ngoan cố trong khi còn thời giờ tự do chọn lựa, hãy để họ tìm đến Máu Con Cha, Máu ấy sẽ làm tan trái tim cứng như kim cương, để họ nhìn thấy hiệu quả của Máu Thánh đã đổ ra cứu chuộc họ. Nhưng nếu họ chậm trễ, thời gian không còn nữa, thì sẽ chẳng có phương cách nào khác, để lôi kéo họ về với “Đấng sẽ làm cho họ trở nên công chính, thánh hoá và cứu chuộc họ” (1Cr 1:30). Bởi Cha đã ban cho họ trí nhớ để ghi lại các hồng ân của Cha, trí tuệ để biết chân lý, và ý muốn để yêu mến Cha là Chân Lý tối cao.

Đấy, con xem hồng ân Cha ban cho tất cả các con, và Cha mong đợi nơi các con một sự đền đáp. Nếu chúng con đem bán đi, giao ước với ma quỷ, thì ma quỷ sẽ đem đi hết, làm một với tất cả những gì các con thu hoạch ở đời này. Ma quỷ rất giàu trí nhớ, nó sẽ gợi lại những hành vi vô luân, ham danh vọng, tham tiền của, sống ích kỷ, hận thù và khinh khi người khác. Giữa những khốn khổ ấy, tâm trí sẽ ra rối loạn, tối tăm, tưởng mình mất khả năng sám hối, để khỏi hình phạt muôn đời.

Như vậy, con thấy rõ tội lỗi không được tha thứ vì sự đau khổ ở đời này, nhưng do sự tan nát dày vò của tâm hồn. Các kẻ ăn năn hối cải cách trọn vẹn, như Cha đã nói, sẽ được tha hết mọi tội nặng nhẹ với hình phạt, và lãnh nhận ân sủng. Nhưng nếu sự sám hối và lòng mến không đủ để được tha hình phạt, thì họ sẽ phải chịu ở Luyện ngục. Con thấy đó, lòng ước ao của một linh hồn kết hợp với Cha là Đấng Tốt Lành vô cùng, sẽ đền được tội mình, ít hay nhiều là tuỳ ở nhiệt độ tình yêu nơi người ước nguyện cầu xin, và mức thiện chí của kẻ nhận lãnh. Lòng nhân hậu của Cha cứ thế mà đong lường (Lc 6:38).

Vậy, con hãy ấp ủ mồi lửa ước nguyện, và không thôi khóc thương những con người ấy, bằng lời khiêm tốn và tha thiết cầu xin Cha. Như vậy, là Cha đã dạy con và vị linh hướng của con; chúng con hãy hành động xứng bậc nam nhi, và chết đi đối với tính tự ái và ích kỷ.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

Đối Thoại - Chương 1, 2-3



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

CHƯƠNG MỘT
CHÚA CHA THƯƠNG XÓT CATARINA

BAN ƠN THÔNG HIỂU

+ Sự thao thức gia tăng, khi linh hồn nói trên được Thiên Chúa cho biết nỗi nguy khốn của thế giới.

2. Sự thao thức nói trên của linh hồn thật lớn lao và liên tục, nhất là khi Đấng Chân Lý tối cao cho nó biết những nhu cầu của thế giới, cùng nhìn thấy một thế giới lâm nguy, vì không thôi xúc phạm đến Thiên Chúa. Hơn nữa, linh hồn ấy nhớ đến một bức thư, nhận được từ Cha linh hướng. Trong thư, vị linh hướng bày tỏ nỗi lòng đau xót lo lắng về biết bao tội xúc phạm đến Thiên Chúa, về những linh hồn sa hoả ngục và sự bách hại chống phá Hội Thánh. Tất cả những điều ấy khơi dậy nơi tâm hồn nó một ngọn lửa khao khát thánh thiện, vừa ưu sầu vì những xúc phạm, vừa hân hoan trong hy vọng, mà nó trông đợi Chúa sẽ thương ban cách nào, để giải trừ những sự dữ lớn lao dường ấy.

Và bởi vì mỗi khi được rước Mình Thánh Chúa, nó thấy mình được kết hợp với Thiên Chúa một cách êm ái, hiểu biết hơn về Đấng Chân Lý của Ngài, vì khi ấy, nó ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong nó, tựa như cá ở trong biển khơi và biển khơi ở trong cá.

Giờ Thánh Lễ đã đến, nó quỳ xuống đầy lòng sốt sắng và khao khát. Nó nhận biết sâu sắc về bản thân nó yếu đuối và tội lỗi, những tội đã gây nên mọi sự dữ trong thế gian. Sự nhận biết này gợi cho nó một sự gớm ghét chính bản thân nó; nó xin đức công minh của Thiên Chúa rửa sạch nó khỏi mọi vết nhơ tội lỗi nó xét thấy, bằng những lời cầu như sau: “Lạy Chúa Cha hằng hữu, con xin xưng thú tội lỗi trước Thánh Nhan Cha, xin Cha sửa phạt con ngay ở đời này. Bởi vì tội lỗi con đã làm cớ gây ra mọi khốn khổ cho mọi người chung quanh con, con xin Cha cứ đánh phạt con đi, vì những tội lỗi của con, thưa Cha, con nài van Cha”.

+ Việc lành của con người ở đời này, không đủ để được xoá tội và lãnh ân thưởng, nếu không vì lòng mến Thiên Chúa.

3. Thế rồi Đấng Chân Lý vĩnh cửu nhận lấy tấm lòng khao khát của linh hồn ấy, và kéo nó lại với Ngài cách mạnh mẽ hơn. Cũng như thời Cựu Ước, khi người dân dâng tiến lễ vật hy sinh lên Đức Chúa, thì một ngọn lửa ập xuống, thiêu đốt vật hy lễ làm đẹp lòng Đấng Tối Cao, xin Ngài nhận lấy. Thiên Chúa cũng làm thế đối với linh hồn này. Ngài gửi đến ngọn lửa thương xót của Chúa Thánh Thần và nhận lấy lễ vật hy sinh, là tấm lòng khao khát mà linh hồn dâng lên. Chúa Cha phán: Hỡi con Cha, con có biết không? Tất cả mọi sự khổ đau mà linh hồn phải chịu đựng, hoặc có thể chịu đựng được ở đời này, không đủ đền bù cho một tội nhẹ nhất? Vì sự xúc phạm đến Cha là Đấng Tốt Lành vô cùng đòi một sự đền bù cũng phải vô cùng.

Vì thế, Cha muốn con biết rằng: mọi đau khổ ở đời này không phải để chuộc tội, nhưng để sửa dạy. Chúng được gửi đến để người Cha giáo dục con cái, khi chúng sai lỗi. Sự thành thật ghét tội và hối hận ăn năn mới làm con người được sạch tội. Muốn được tha thứ mọi tội lỗi và cả hình phạt đáng phải chịu nữa, thì phải có lòng ước nguyện vô biên của một tâm hồn tan nát dày vò, tức ăn năn hối cải cách trọn vẹn.

Cha là Đấng Vô Biên, Cha muốn một tình yêu vô biên, một lòng sám hối trọn vẹn. Cha đòi như thế, là vì tạo vật đã xúc phạm đến Đấng Tạo Hoá, và vì tội xúc phạm đến anh em mình, là tội kể như xúc phạm đến Cha. Ai là người có lòng ước nguyện vô biên? Là những kẻ kết hợp với Cha bằng tình yêu mến. Chính vì tình yêu này mà họ cay đắng và than khóc khi xúc phạm đến Cha, hoặc nhìn thấy Cha bị xúc phạm. Nhờ sự kết hợp và lòng ao ước vô biên này, mà mọi nỗi thống khổ, tinh thần hay thể xác, bất kể từ đâu đến, đều có giá trị vô cùng, chuộc được tội mình đáng chịu phạt vô cùng, cho dù những việc lành ấy giới hạn, thực hiện trong thời gian hữu hạn. Đó là giá trị của lòng ước nguyện chấp nhận đau khổ với Chúa Kitô khổ nạn, của lòng ăn năn sám hối. Tình yêu hay đức mến có giá trị như vậy.

Phaolô, vị tông đồ vinh hiển, cũng đã dạy như thế, khi ngài quả quyết rằng: “Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần; giả như tôi được ơn nói tiên tri, và biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non; giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi mà chịu thiêu đốt, mà tôi không có đức mến, thì tất cả cũng như không” (1Cr 13, 1-3). Lời của vị tông đồ cho biết mọi việc lành hữu hạn không đủ để được tha tội, cũng chẳng làm nên công trạng gì, nếu không phối hiệp với đức mến.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Tác phẩm Đối Thoại - Mở đầu: Bốn điều ước nguyện



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

MỞ ĐẦU: BỐN ĐIỀU ƯỚC NGUYỆN

+ Một linh hồn ước ao làm sáng danh Thiên Chúa và cứu vớt các linh hồn đã cầu nguyện như thế nào. Khi linh hồn được kết hợp với Thiên Chúa bằng tình yêu, nó đã dâng lên Thiên Chúa bốn điều ước nguyện.

1. Có một linh hồn lòng đầy thao thức xao xuyến, ước ao vô vàn muốn làm vinh danh Thiên Chúa và cứu vớt các linh hồn. Linh hồn ấy đã được rèn luyện nhân đức một thời gian, và thường lắng đọng tâm hồn để hiểu biết chính mình, nhằm thấu hiểu lòng lành Thiên Chúa đối với nó. Bởi vì sự hiểu biết ấy phát sinh tình yêu, và theo sau tình yêu mến là quyết tâm theo sự thật và sống sự thật.

Nhưng linh hồn có thể hiểu biết được như thế và được soi sáng bởi sự thật ấy chỉ nhờ bằng cầu nguyện khiêm tốn và liên lỉ, đặt nên nền tảng biết sự thật về mình và về Thiên Chúa. Bằng sự cầu nguyện này, linh hồn được kết hợp với Thiên Chúa, bước theo vết chân Chúa Kitô chịu đóng đinh, để rồi qua bao khát vọng và yêu mến trong sự kết hợp với Ngài bằng tình yêu, linh hồn được biến cải, trở nên một với Chúa Kitô. Điều này có thể hiểu vì những lời sau đây: “Nếu anh em yêu mến Thầy và giữ lời Thầy, Thầy sẽ tỏ mình cho anh em, và anh em sẽ nên một với Thầy, và Thầy với anh em” (Ga 14:23). Chúng ta tìm được nhiều câu giống vậy ở nhiều nơi khác trong Kinh Thánh. Đức Kitô là đấng Chân Lý, lời của Ngài cho chúng ta biết sự thật này, là tình yêu biến linh hồn thành một với Ngài.

Để làm sáng tỏ điều này, tôi nhớ lại đã được nghe từ một tớ nữ của Thiên Chúa rằng: trong khi cầu nguyện, tâm hồn nàng nâng cao ngút ngàn, con mắt trí tuệ nàng đã được Chúa mở ra, cho thấy tình thương dành cho các tôi tớ của Ngài. Vâng, chính Ngài đã tỏ tình thương ấy khi nói rằng:

Hãy mở mắt trí tuệ ra, nhìn thẳng vào Ta, con sẽ thấy được sự cao trọng và vẻ đẹp của các thụ tạo có lý trí của Ta. Nhất là cái đẹp mà Ta đã tô điểm cho linh hồn, khi sáng tạo nó theo hình ảnh và giống Ta. Hãy nhìn xem những linh hồn luôn luôn kết hợp với Ta, chúng lộng lẫy trong chiếc áo cưới của đức Ái, được trang điểm bằng nhiều nhân đức, chúng làm một với Ta trong tình yêu. Vì thế, nếu có ai hỏi Ta chúng là ai, thì Ta, cùng Ngôi Lời yêu thương dịu hiền sẽ trả lời rằng: “Chúng là một chính Ta khác”, vì chúng đã nhận chìm và làm mất đi ý riêng của mình, chúng mặc lấy Ta, hiệp nhất và đồng tình với ý muốn của Ta mà thôi. Thật không sai khi nói rằng: Linh hồn được trở nên một với Thiên Chúa bằng tình yêu.

Ý muốn của tớ nữ nói trên lúc này là làm thế nào để hiểu biết và đi theo chân lý một cách xứng bậc nam nhi. Vì thế, nàng đã dâng lên Đức Chúa Cha, là Đấng Tối Cao và Hằng Hữu, bốn điều ước nguyện. Trước hết, xin cho chính mình, vì nàng biết mình sẽ chẳng làm ích gì cho ai, dù giảng dạy, gương sáng hay cầu nguyện, nếu chính nàng trước hết không lo tiến tới và tạo được các nhân đức cho mình. Bởi vậy, điều ước nguyện thứ nhất là nàng xin ơn cho bản thân.

Điều ước nguyện thứ hai là xin cho Giáo Hội được cải cách và canh tân.

Điều ước nguyện thứ ba là xin cho thế giới được hoà bình, cách riêng cho những người Kitô hữu đang nổi loạn, chống phá, khinh dể và bách hại Hội Thánh.

Điều ước nguyện thứ bốn là xin Đấng Quan Phòng ban các ơn cần thiết cho thế giới nói chung, và cách riêng cho một trường hợp đặc biệt mới xảy ra.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

Tác phẩm Đối Thoại - Tiểu sử thánh Catarina Siena (tiếp theo)

 


ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

THÁNH CATARINA SIENA
Tiến sĩ Hội Thánh

Bản dịch Việt ngữ của
Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

+++

TIỂU SỬ THÁNH CATARINA SIENA (tiếp theo)

- Thân xác và linh hồn tràn trề ân sủng

Cha linh hướng Raymond cũng là người viết tiểu sử Catarina đã coi đây là một sự kiện phi thường, là tột đỉnh đời sống của một tâm hồn anh hùng. Cha còn cho biết, từ khi Catarina được uống từ vết thương cạnh sườn Đấng Cứu thế, linh hồn cô tràn ngập ân sủng và tràn ra cả ngoài thân xác. Bởi vì thân xác Catarina gần như không cần đến lương thực đời này nữa, trong thời gian ăn chay 40 đêm ngày, cô chỉ uống nước lã và rước Thánh thể, cầu nguyện và làm việc tông đồ.

Có một lần ma quỷ hiện ra dưới hình người ghê tởm để cám dỗ Catarina, một sự cám dỗ thô bỉ chưa từng xảy ra cho cô, Catarina cảm thấy mình trải qua một sự cô đơn đau khổ nhất đời, và thấy như Thiên Chúa bỏ rơi mình. Cô đã kêu lên: "Ôi lạy Chúa! Chúa ở đâu khi tâm hồn con quá đau đớn và buồn bực vì sự cám dỗ ghê tởm và tồi tệ đó?" Chúa đã hiện ra, và nói: "Con yêu dấu, Cha vẫn ngự trong linh hồn con, thêm sức cho con bằng ân sủng của Cha".

Bởi vì nếu Thiên Chúa không ở trong tâm hồn Catarina, thì linh hồn đã trống vắng và tên ác quỷ đã chiếm ngự nơi đó rồi. Sự xấu xa kinh tởm của ma quỷ đã được Catarina lặp lại trong cuốn “Đối thoại”, cô viết: “Thà con bước đi trên đống lửa cho đến ngày phán xét chung, chẳng thà nhìn thấy tên quỷ ghê tởm đó một lần nữa”.

- Làm nhiều dấu lạ

Ngoài những lần Chúa hiện ra như thế, và ngoài công việc bác ái xã hội, Catarina là một thiếu nữ đơn sơ chất phác, được Chúa cho làm nhiều dấu lạ, như chữa lành bệnh nhân trong thời gian ôn dịch lây lan khắp Bắc Ý.

Ngoài ra, lịch sử còn nói cho biết, tuy là một thiếu nữ vốn yếu đuối và ít học, vậy mà Thiên Chúa đã dùng Catarina làm người giảng hòa giữa nhiều tiểu vương và nhiều thành trì của nước Ý, cũng như đã thuyết phục và lo đưa Đức Giáo hoàng Gregory XI cùng toàn bộ giáo triều từ Avignon về lại Rome, chấm dứt cuộc lưu đày 67 năm.

Được đặt vào ban cố vấn giáo triều, Catarina nhiều lần thúc giục Đức Urban VI cải cách hàng giáo sĩ và tu sĩ. Theo một bức thư của nữ cố vấn này, Đức Thánh Cha ban nhiều sắc lệnh cải cách hàng giáo sĩ và giáo phẩm.

- Cuốn “Đối Thoại”

Một việc khác đáng ghi nhớ trong cuộc đời thánh Catarina là trong 2 năm cuối đời (năm 1377 đến năm 1378) người đã viết một cuốn sách rất thời danh trong giáo hội, nhan đề là “ĐỐI THOẠI”. Sự thật, Catarina đã không viết một chữ nào. Nội dung, tất cả mọi lời trong cuốn sách đều là của Thiên Chúa Cha đã nói với người - người con rất yêu dấu của Ngài là Catarina. Người ta có thể đọc được trong sách này những tri thức sâu sắc.

Trong sắc tuyên thánh Catarina năm 1461, Đức Piô II đã khẳng định rằng: “Giáo lý của thánh nữ là giáo lý được Chúa phú bẩm, không do học hỏi mà có. Thánh nữ là một vị tôn sư. Các tiến sĩ, các giám mục đã đặt cho thánh nữ những câu hỏi khó khăn nhất về thần học, và đã nhận được những câu trả lời rất thỏa đáng”. Ngoài ra, giáo hội còn giữ lại 381 bức thư Catarina đã gởi Đức Giáo hoàng, nhiều hồng y, giám mục, nhiều nhà cầm quyền, nhiều chính trị gia, các cha linh hướng, nhiều huynh đoàn và môn đệ.

Trong những năm cuối đời, từ năm 1375, tại một nhà thờ ở Pisa, Catarina được in 5 dấu cách kín nhiệm. Catarina qua đời ngày Chúa nhật ngày 29 tháng 4 năm 1380, mới 33 tuổi đời, cùng tuổi với Chúa Giêsu tắt thở trên thánh giá. Ngay sau khi qua đời, 5 dấu hiện ra rõ ràng cho mọi người xem thấy.

- Tiến sĩ Hội thánh

Đức Giáo Hoàng Pio II đã ghi tên Catarina Siena vào sổ bộ các thánh năm 1461. Năm 1861, Đức Pio IX tôn phong thánh nữ làm bổn mạng thứ hai của thành Rome, sau thánh Phêrô tông đồ.

Thời Đức Pio XII, thánh nữ được đặt làm bổn mạng của giáo hội nước Ý cùng với thánh Phanxico thành Assisi.

Vào năm 1970, Đức Phaolô thứ VI đã tôn phong thánh nữ lên bậc Tiến sĩ Hội thánh, biệt hiệu “Tiến sĩ Tình yêu”. Người đã được Thiên Chúa dạy và ban trí thông minh với lòng sốt mến như thiên thần Seraphim, nên cũng có biệt hiệu là “Người trinh nữ Seraphim”.

Lễ kính thánh Catarina hàng năm vào ngày 29/4.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Tác phẩm Đối Thoại (Dialogo) - Tiểu sử thánh Catarina Siena



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

THÁNH CATARINA SIENA
Tiến sĩ Hội Thánh

Bản dịch Việt ngữ của
Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

+++

TIỂU SỬ THÁNH CATARINA SIENA

Thánh Catarina tên gọi trong gia đình là Caterina di Giacomo di Benincasa, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1347 tại thành Siena nước Ý. Thánh nữ là con thứ 24 trong 25 anh chị em, nhưng người em sinh đôi mất năm vào năm 1363 nên Catarina trở thành con út trong gia đình, một gia đình nghèo khó nhưng đạo đức.

Thân phụ của thánh nữ là ông Giacomo di Benincasa, hội viên dòng ba Phan Sinh, làm nghề thợ nhuộm. Thân mẫu là bà Lapa Piagenti con của một thi sĩ nổi tiếng. Hai ông bà sinh hạ được 25 người con.

Catarina sinh ra với thân xác yếu ớt. Từ thuở bé Catarina đã được học giáo lý và biết đọc kinh Mân Côi cách sốt sắng. Thỉnh thoảng bé Catarina quỳ gối leo từng bậc thang trong nhà để lần chuỗi.

- Cuộc gặp gỡ nhiệm màu

Hồi lên 6, một hôm đang cùng anh Stephano đi bộ trên đường từ nhà anh về nhà cha mẹ, Catarina nhìn lên bầu trời, hướng về nhà thờ thánh Đa Minh, được nhìn thấy một cảnh tượng làm thay đổi cả cuộc đời. Catarina nhìn thấy Chúa Giêsu, y phục như Đức Giáo hoàng, áo viền kim tuyến, đội vương miện rực rỡ, Chúa ngự trên ngai vàng, bên cạnh có thánh Phêrô, thánh Phaolô và thánh Gioan chép sử. Chúa Giêsu không nhìn các vị đó mà lại đưa mắt nhìn Catarina cách rất âu yếm và mỉm cười.

Catarina đứng sững sờ nhìn. Chúa Giêsu tiến lại gần Catarina, làm dấu thánh giá trên em và ban phép lành. Em ngây ngất nhìn ngắm Chúa như không cảm thấy sự gì bên ngoài nữa, nhưng cảm nhận tình mến yêu Chúa đầy ắp linh hồn với một niềm hoan hỉ chưa từng cảm nhận bao giờ.

Cuộc gặp gỡ nhiệm màu khiến Catarina ước ao sống đời hiến dâng và cầu nguyện. Dưới sự quan phòng của Thiên Chúa, từ đây cũng như trước đó, theo sự hướng dẫn của cha linh hướng Raymond Capua, Catarina phục vụ những người xung quanh, nhất là những người bệnh tật, già yếu, những người nghèo khổ và những kẻ bị tù đày.

- Sống đời hiến dâng và cầu nguyện

Trong thời gian này, Catarina thường thăm viếng Andrea, một bệnh nhân rất khó tính, nóng nảy và miệng lưỡi thô tục. Mỗi khi đến chăm sóc cho y là mỗi lần cô nhận lấy những tràng chửi rủa và mỉa mai. Vì muốn đưa Andrea về với Chúa nên Catarina đã dâng mọi hy sinh cho Chúa, không một lời than trách, chống lại. Sau một thời gian, bệnh tình của Andrea trở nên trầm trọng, y thay đổi tính tình, tỏ ý muốn trở về với Chúa. Hôm đó, khi chăm sóc vết thương ung thư trên ngực của Andrea, mở băng ra thì mùi hôi thối xông lên. Catarina đã giật nảy mình và muốn ói mửa. Catarina đã hối hận vì hành động quá tự nhiên, nghịch với ý chí yêu thương và phục vụ của mình. Cô sợ đã vô tình làm Andrea buồn lòng, bởi vậy sau khi đã rửa sạch vết thương của y trong một cái chậu, cô đã uống thứ nước đầy máu mủ đó. Catarina đã kể lại với cha linh hướng Raymond rằng: “Từ khi sinh ra, con chưa bao giờ ăn hay uống thứ gì ngọt ngào và ngon lành như thế!”.

Cũng đêm ấy, trong khi Catarina đang cầu nguyện, Chúa Giêsu đã hiện ra và khen thưởng nàng vì đã để đức bác ái chiến thắng những phản ứng tự nhiên của mình. Rồi Chúa Giêsu biểu Catarina kề miệng vào để uống từng vết thương nơi cạnh sườn Ngài. Chúa nói: "Con yêu dấu, hãy uống từ cạnh sườn Thầy. Nhờ đó linh hồn và thân xác con sẽ được vui mừng hân hoan, bởi con đã từ bỏ mình vì Thầy, con sẽ được tràn ngập sự trọn lành".

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Tác phẩm Đối Thoại (Dialogo) của thánh Catarina Siena



ĐỐI THOẠI
(DIALOGO)

THÁNH CATARINA SIENNA
Tiến sĩ Hội Thánh

Bản dịch Việt ngữ của
Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.


- LỜI GIỚI THIỆU

- TIỂU SỬ THÁNH CATARINA SIENA

- MỞ ĐẦU: Bốn Điều Ước Nguyện.
1- Xin thương xót Catarina.
2- Xin thương xót thế gian.
3- Xin thương xót Hội Thánh.
4- Lòng thương xót của Chúa Quan Phòng.

CHƯƠNG MỘT: Chúa Cha Thương Xót Catarina.
     Ban ơn thông hiểu.

CHƯƠNG HAI: Chúa Cha Thương Xót Thế Gian.
1- Ơn Ngôi Lời nhập thể.
2- Ơn trở nên giống Chúa Kitô.
3- Ơn nước mắt sám hối và nước mắt tình yêu.
     Minh giải thêm về ơn thông hiểu.

CHƯƠNG BA: Chúa Cha Thương Xót Hội Thánh.
     Cải cách hàng Giáo phẩm.

CHƯƠNG BỐN: Lòng Thương Xót Của Chúa Quan Phòng.
1- Giải thích về lòng thương xót của Đấng Quan Phòng đối với ơn cứu độ các linh hồn, ở trường hợp chung và riêng.
2- Giải thích về đức vâng phục, và về Đấng Quan Phòng đối với người có tinh thần vâng phục.
     
Đại Ý Và Kết Thúc

+++

LỜI GIỚI THIỆU

Trong 2 năm cuối đời 1377-1378, Thánh Catarina viết cuốn Dialogo, chúng tôi dịch là Đối Thoại. Đây là tác phẩm chính của Thánh nữ Tiến sĩ.

“Đối Thoại” diễn tả bốn điều ước nguyện của Thánh Catarina dâng lên Đức Chúa Cha, thuật lại những điều Đức Chúa Cha muốn giảng dạy Thánh Catarina và toàn thể thế giới, về các điều trong Kinh Thánh và về Tình yêu Thiên Chúa đối với toàn thể nhân loại. Hơn nữa, giải thích thế nào là tình yêu chân thật và thế nào là tình yêu giả dối; nguyên nhân và hậu quả của nó; tại sao con người khóc khi buồn khi vui, và nước mắt là duyên do cảm giác thiêng liêng chân thật hay giả tạo. Những gì đến từ ma quỷ và những gì đến từ Thiên Chúa, ba quan năng của một linh hồn là gì, sự tương quan của nó với sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi người ra sao. Ngoài ra, tác phẩm còn chú trọng đến phần chân lý mà Thiên Chúa muốn giảng dạy Thánh Catarina, và những gì Thánh nữ ước ao được hiểu biết.

“Đối thoại” nói lên tâm lý ẩn kín nhất của con người, bằng triết lý thần học căn bản thật bình dân; chú thích và dẫn giải lời Kinh Thánh cho rõ nghĩa và rộng ý hơn. Nghĩa là tác phẩm diễn tả một cách chi tiết bằng lời văn xã hội bình dân về cách sống đạo đức giữa người với người, với bản thân và với Thiên Chúa; về mục đích cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu; về số phận của một linh hồn ra sao; lâm nguy hay an bình; sự thật hay chân lý của Thiên Chúa là gì, ai là Đấng Chân Lý?

Lối hành văn giản dị của tác phẩm dễ hiểu cho mọi người thuộc mọi tầng lớp cũng như tuổi tác, cho giáo dân cũng như giáo sĩ và tu sĩ, trong mức độ Thiên Chúa giúp sức cho, để đọc, để tìm và để hiểu biết. Cũng có nhiều đoạn văn, ngôn ngữ người trần không đủ để diễn tả những kế hoạch huyền nhiệm của Thiên Chúa, những mầu nhiệm cao siêu về Thiên Chúa Ba Ngôi, về Ngôi Lời Nhập Thể, về Nhiệm Tích Tình Yêu Thánh Thể., khiến cả những bậc tôn sư thần học cũng phải bóp đầu bóp trán suy nghĩ.

Như Đức Chúa Cha nói, trí tuệ và sự hiểu biết của con người rất giới hạn, không thể thấu hiểu được hết Kinh Thánh. Cuốn “Đối thoại” đem lại một kiến thức mới cho đạo đức học, một sự khôn ngoan chín chắn, để mọi người thông hiểu Kinh Thánh hơn về bản thân, về tha nhân và về Thiên Chúa. Nó còn nói lên chủ đích lòng yêu thương và ân sủng của Thiên Chúa Ba Ngôi đối với nhân loại, trải dài từ đỉnh Thiên Đàng cho đến địa ngục. Tình yêu thương và ân sủng của Chúa Kitô, Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người được biểu tượng bằng cây cầu, bắc từ đất lên tới trời.

Cuốn sách đã được ghi là một dấu lạ, một tác phẩm được nhìn nhận là của Thiên Chúa Cha, mà một thiếu nữ không biết viết đã nghe và đọc lại cho thư ký viết, trong những giờ cầu nguyện xuất thần.

- Nguyên tác của Thánh CATARINA SIENA, bản dịch của Lm VINHSƠN BÙI ĐỨC SINH, O.P.,M.A.

(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

Ngọn Lửa Tình Nồng - Ca khúc thứ tư (tiếp theo và hết)




NGỌN LỬA TÌNH NỒNG
(Phiên bản B)

CA KHÚC THỨ TƯ (tiếp theo)

15. Ôi! Linh hồn này diễm phúc biết bao vì luôn cảm thấy Thiên Chúa đang thư giãn nghỉ ngơi trong lòng nó. Ôi! Thế nên linh hồn cần phải hết sức xa lánh mọi sự, phải trốn khỏi mọi công việc, và phải sống trong niềm tĩnh lặng bao la, đừng để cõi lòng đã dành trọn cho Đức Tình quân bị quấy nhiễu hoặc xáo trộn, dù chỉ bởi một tí bụi bặm hay một chút ồn ào!

Ngài đang ở đó như vẫn thường ở đó, mơ màng ngủ, nối vòng tay ôm với Tân nương, tức là với bản thể của linh hồn, mà linh hồn thì đang cảm nghiệm rõ điều đó và triền miên vui hưởng tình Ngài. Bởi lẽ nếu như Ngài thường xuyên tỉnh giấc nơi linh hồn, thông truyền cho nó những nhận thức và tình yêu thì hẳn nó đã ở trong tình trạng vinh quang rồi. Chỉ cần Đức Tình quân hơi hé mắt tỉnh giấc, thì như chúng tôi đã nói, đã đủ đưa linh hồn vào tình trạng hạnh phúc nói trên. Nếu Ngài cứ triền miên ở trong lòng nó và nó biết rõ Ngài đang thức thì thử hỏi linh hồn sẽ ra sao?

16. Nơi những linh hồn khác chưa đạt tới sự hiệp nhất này, mặc dù Đức Tình quân không được mãn nguyện, Ngài vẫn lưu ngụ ở đó, vì nói cho cùng những linh hồn này vẫn ở trong tình trạng ân sủng. Tuy nhiên, vì họ không được chuẩn bị kỹ lưỡng cho nên dù Ngài lưu ngụ nơi họ, vẫn là lưu ngụ ở đó một cách bí mật đối với họ. Họ sẽ không thường xuyên cảm nhận được Ngài trừ khi Ngài thực hiện cho họ một vài sự tỉnh giấc ngọt ngào. Tuy nhiên sự tỉnh giấc này không cùng loại hoặc cùng tính chất như sự tỉnh giấc nói trên, và cũng không sánh được với sự tỉnh giấc ấy. Ở đây, sự tỉnh giấc không quá bí mật đối với trí hiểu và ma quỉ như trường hợp trên kia, bởi lẽ ở đây trí hiểu và ma quỉ vẫn có thể hiểu được một điều gì đó nhờ vào các chuyển động của giác quan. Trước khi linh hồn đạt đến sự hiệp nhất nói trên, giác quan chưa bị diệt hẳn, vẫn còn có một số hoạt động và chuyển động liên hệ đến lãnh vực tâm linh, khiến điều ấy chưa được hoàn toàn được tâm linh hóa (nên chúng mới hiểu được).

Còn nơi sự tỉnh giấc Đức Tình quân đang thực hiện nơi linh hồn hoàn thiện này, mọi thứ xảy ra và được thực hiện đều hoàn hảo, bởi lẽ chính Ngài thực hiện tất cả. Sự tỉnh giấc này, được thực hiện theo cách một ai đó tỉnh giấc rồi hít thở. Linh hồn cảm nhận một niềm hoan lạc kỳ lạ nơi hơi thở của Chúa Thánh Thần trong Thiên Chúa, nơi đó linh hồn được tôn vinh một cách tuyệt diệu và cảm thấy đắm đuối yêu thương. Vì lẽ đó, linh hồn thốt lên những câu thơ tiếp theo:

Trong hơi thở dịu êm của Người
Đầy tốt lành và vinh quang,
Người khiến em say yêu biết mấy!

17. Tôi không nên và thậm chí không muốn nói về hơi thở ấy, hơi thở đầy tốt lành, vinh quang và đầy tình yêu tế nhị được Thiên Chúa dành cho linh hồn, bởi tôi thấy rõ mình không biết nói gì về điều ấy, mà nếu tôi có nói lên điều gì thì cũng chẳng bằng không nói ra. Vì đây là một sự thở hơi Thiên Chúa phả vào linh hồn, trong đó, qua sự tỉnh giấc của nhận thức cao vời về thần tính, Ngài thổi Thánh Thần vào linh hồn theo chính mức độ linh hồn hiểu biết và nhận thức về Thiên Chúa. Ngài cho linh hồn được chìm hết sức sâu vào trong Thánh Thần khiến linh hồn say yêu một cách tuyệt diệu và tinh tế, cái tinh tế của Thiên Chúa, hợp với điều nó được nhìn thấy nơi Thiên Chúa. Quả thật hơi thở ấy đầy tốt lành và vinh quang, ở đó, Thánh Thần cho linh hồn được no đầy tốt lành và vinh quang, khiến nó say yêu Ngài, vượt mọi ngôn ngữ và giác quan, đến tận những miền sâu thẳm của Thiên Chúa, Đấng đáng được danh dự và vinh quang đến muôn thuở ngàn đời. Amen.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Hết)

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

Ngọn Lửa Tình Nồng - Ca khúc thứ tư (tiếp theo)



NGỌN LỬA TÌNH NỒNG
(Phiên bản B)

CA KHÚC THỨ TƯ (tiếp theo)

13. Như thế, ở đây, khi Đức vua thiên quốc tỏ tình thân ái với linh hồn, xem nó như bình đẳng, như anh em của Ngài, thì linh hồn không có gì phải sợ hãi. Bởi lẽ Ngài tỏ ra dịu hiền với nó chứ không giận dữ, Ngài tỏ cho nó thấy quyền năng mạnh mẽ và tình yêu nhân ái của Ngài, thông truyền cho nó sức mạnh và tình yêu từ tấm lòng Ngài. Ngài rời khỏi ngai đang ngự, là chính linh hồn, để đến với linh hồn, như Đức Tình quân rời khỏi loan phòng (Tv 18,6) nơi Ngài ẩn mình trước đó, để nghiêng mình trên nó, dùng vương trượng uy nghi chạm vào nó, và như một người anh, Ngài ôm chầm lấy nó. Ở đó linh hồn được khoác long bào tỏa ngát hương thơm tượng trưng cho những uy dũng tuyệt diệu của Thiên Chúa. Ở đó lấp lánh vàng ròng là lòng mến. Ở đó chói ngời châu ngọc là những nhận thức về các bản thể cao siêu lẫn thấp kém. Ở đó tỏa rạng dung nhan Ngôi Lời đầy phúc hậu, vây phủ lấy nữ hoàng linh hồn và khoác cho nó muôn ngàn diễm lệ, đến nỗi nhờ được biến đổi nên những uy dũng ấy của vị vua Thiên Quốc, linh hồn thấy mình được tấn phong làm nữ hoàng và những gì vua Đavít nói về vị hoàng hậu nơi thánh vịnh 44 thực sự có thể áp dụng cho nó: Bên hữu Ngài, hoàng hậu sánh vai, trang điểm bằng vàng ô-phia lộng lẫy (Tv 44,10).

Tất cả những thứ ấy đang diễn ra nơi bản thể thâm sâu của linh hồn, nên nó nói:

Nơi một mình Người được âm thầm ở lại.

14. Sở dĩ, linh hồn nói rằng Đức Tình quân đang âm thầm ở lại trong lòng nó, bởi vì - như chúng tôi đã nói - tận đáy thẳm của bản thể linh hồn đang diễn ra sự ôm ấp dịu hiền của Đức Tình quân.

Nên biết rằng nơi tất cả mọi linh hồn Thiên Chúa đều cư ngụ một cách âm thầm và kín nhiệm tận bản thể chúng, bởi vì nếu không, các linh hồn không thể tồn tại.

Tuy nhiên Ngài ở lại đó theo nhiều cách rất khác nhau. Nơi một số linh hồn, Ngài ở lại đó một mình, đang khi nơi một số khác không phải chỉ một mình Ngài. Nơi một số linh hồn, Ngài ở lại thật mãn nguyện, nơi một số khác Ngài ở lại mà không được mãn nguyện. Nơi một số linh hồn, Ngài ở lại như ở chính nhà Ngài, Ngài ra lệnh và cai quản mọi thứ, còn nơi một số khác Ngài ở lại như kẻ xa lạ trong một căn nhà xa lạ, nơi đó, người ta chẳng để cho Ngài sai bảo hoặc làm gì cả.

Linh hồn nào chỉ có ít mê thích và vui thú vương vấn, thì Đức Tình quân càng chiếm trọn một mình, càng lấy làm hài lòng và xem như đó là nhà riêng, Ngài điều hành và quản trị nó. Ngài càng ở lại đó âm thầm hơn và càng chỉ có một mình Ngài.

Nơi linh hồn chúng ta đang bàn, chẳng còn tí mê thích nào, chẳng còn hình hay dạng nào hoặc những nghiêng chiều đối với bất cứ một thụ tạo nào nên Đức Tình quân đang hết sức âm thầm ở lại đó. Linh hồn càng tinh tuyền và càng xa cách những gì không phải là Thiên Chúa thì, như chúng tôi đã nói, Ngài càng ôm chặt ôm ghì lấy nó.

Như thế, Ngài ở lại đó thật âm thầm, ma quỉ không thể đến được nơi Ngài đang ôm ấp linh hồn và trí hiểu nhân loại cũng không thể biết được điều đang xảy ra.

Tuy nhiên đối với linh hồn đang ở trong trạng thái hoàn hảo này, đây không phải là điều bí mật, nó cảm nghiệm nơi mình sự ôm ấp thân thiết ấy. Dầu vậy, về những sự tỉnh giấc nói trên, không phải lúc nào linh hồn cũng cảm nhận được, bởi chỉ khi nào Đấng Tình quân thực hiện những điều ấy, linh hồn mới cảm thấy Ngài tỉnh giấc trong lòng nó, còn trước đó như thể Ngài đang ngủ. Trước đó, mặc dù linh hồn vẫn cảm nhận và vui hưởng Ngài nhưng Ngài như thể đang say giấc nồng. Khi một trong hai bên còn ngủ, làm sao có thể thông truyền hiểu biết và yêu thương của hai bên cho nhau, phải chờ đến khi cả hai đều tỉnh giấc.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

Ngọn Lửa Tình Nồng - Ca khúc thứ tư (tiếp theo)



NGỌN LỬA TÌNH NỒNG
(Phiên bản B)

CA KHÚC THỨ TƯ (tiếp theo)

10. Những gì linh hồn hiểu biết và cảm nhận về sự tuyệt hảo của Thiên Chúa nơi sự tỉnh giấc này thật không thể nào diễn tả nỗi, bởi lẽ chính Thiên Chúa đã truyền thông sự tuyệt hảo của Ngài vào bản thể linh hồn mà ở đây linh hồn gọi là "lòng" nó. Nơi linh hồn dậy lên âm vang hùng mạnh của vô số những điều tuyệt hảo, của muôn ngàn muôn triệu uy lực của Thiên Chúa không sao đếm nổi. Nương vào những tuyệt diệu và quyền uy ấy, linh hồn trở nên uy nghi lẫm liệt và kiên vững khác nào đạo binh xếp hàng vào trận (Dc 6,3) đồng thời linh hồn cũng mang lấy nét dịu dàng và duyên dáng hàm chứa nơi mọi nét dịu dàng duyên dáng của các loài thụ tạo.

11. Tuy nhiên có thể nêu lên một vấn nạn như sau: Làm sao linh hồn có thể chịu đựng nổi sự thông truyền dũng mãnh ngần ấy với cái xác thịt yếu nhược của nó mà không quị ngã. Vì quả thật linh hồn không đủ khả năng và sức lực để chịu nổi. Chỉ vừa nhìn thấy vua Asuero oai phong lẫm liệt ngự trên ngai, mình khoác vương bào lấp lánh vòng vàng đá quí, hoàng hậu Esther đã kinh hãi đến nỗi té xỉu. Hoàng hậu đã thú nhận rằng bà té quị xuống là vì khiếp sợ vẻ oai nghi của đức vua vì Ngài trông giống như một thiên thần, long nhan Ngài thật uy lẫm (Et 5,2a). Quả thật, vinh quang đè bẹp kẻ chiêm ngưỡng nó nếu kẻ ấy không được nó tôn vinh. (Cn 25,27). Nếu trường hợp hoàng hậu Esther còn như thế thì ở đây linh hồn còn phải ngã quị biết bao lần vì đấng nó đang chiêm ngưỡng không phải là một thiên thần mà là chính Thiên Chúa, với long nhan đầy vẻ diễm lệ của muôn loài thụ tạo, đầy uy quyền và vinh quang, quanh Ngài rền vang muôn điều tuyệt hảo! Ngôn sứ Gióp có nói về sự thông truyền này như sau: Thật khó mà nghe được tiếng thầm thì Chúa nói nhưng hỏi ai chịu nổi tiếng sấm của quyền năng Ngài? (G 26,14).Và ở chỗ khác, ông Gióp cũng nói: Tôi không muốn Chúa hành sử với tôi bằng tất cả sức mạnh của Ngài, bởi tôi sợ sự cao cả của Ngài đè bẹp tôi (G 23,6).

12. Thế nhưng sở dĩ linh hồn không ngã quị hay hãi sợ trước sự tỉnh giấc đầy quyền năng và vinh hiển ấy là vì hai lý do sau đây:

Thứ nhất, ở đây linh hồn đã đạt đến tình trạng hoàn thiện, phần hạ đẳng của linh hồn đã được thanh tẩy rất nhiều và phù hợp với phần tâm linh, do đó, phần hạ đẳng không còn cảm thấy nỗi nhọc nhằn và phiền muộn thường gặp thấy khi tâm linh và giác quan chưa được thanh tẩy và chưa sẵn sàng để lãnh nhận những sự thông truyền tâm linh ấy. Tuy nhiên như thế vẫn chưa đủ để linh hồn thoát khỏi nhọc nhằn khi đối diện với sự cao cả và vinh quang dường ấy. Bởi lẽ, mặc dù phần tự nhiên đã rất đỗi tinh tuyền nhưng nó vẫn quị ngã vì sự truyền thông ấy vượt quá tự nhiên, cũng như một quan năng thể lý bị quị ngã do một sự vật khả giác vượt quá khả năng của nó. Đoạn văn Gióp trích trên đây cần được hiểu theo nghĩa ấy.

Như thế lý do thứ hai mới là lý do quan trọng, và là điều linh hồn nhắc đến nơi câu thơ thứ nhất: Thiên Chúa tỏ ra thật dịu dàng.

Một khi Thiên Chúa tỏ bày cho linh hồn sự cao cả và quang vinh để tặng thưởng và tôn vinh linh hồn, Ngài cũng thương ban cho linh hồn khỏi chịu nhọc nhằn. Ngài nâng đỡ phần tự nhiên của linh hồn, tỏ bày cho tâm linh sự cao cả của Ngài một cách dịu dàng, âu yếm mà không cho phần tự nhiên của linh hồn biết vì thế linh hồn không hiểu sự truyền thông đang diễn ra trong hay ngoài thân xác của nó (2 Cr 12,2). Nhờ Thiên Chúa dư thừa khả năng đưa cánh tay phải ra phù trợ, Môsê mới có thể nhìn thấy vinh quang Ngài (Xh 32,22).

Như thế, linh hồn cảm nhận được nơi Thiên Chúa biết bao sự dịu hiền âu yếm cùng với sức mạnh, quyền thế và cao sang của Ngài, bởi lẽ nơi Thiên Chúa mọi ưu phẩm ấy chỉ là một. Như thế, những ưu phẩm ấy đem lại cho linh hồn niềm hoan lạc thật mãnh liệt đồng thời cũng đem lại sự chở che mãnh liệt đầy dịu dàng và yêu thương cho nên linh hồn có thể chịu được niềm hoan lạc mãnh liệt ấy. Nhờ đó, linh hồn được đầy năng lực và mạnh mẽ, không bị quị ngã. Nếu hoàng hậu Esther bị té xỉu, chính là vì lúc ấy đức vua chưa tỏ lòng ưu ái với bà, như chính bà thổ lộ: Đôi mắt đức vua long lên sòng sọc cho thấy lòng ngài rất đỗi giận dữ (Esther 15,10). Thế nhưng khi đức vua tỏ lòng ưu ái giương vương trượng ra chạm đến hoàng hậu, ôm bà vào lòng, bảo bà rằng ông là anh của bà, bà không việc gì phải sợ thì bà liền hồi tỉnh (15,12-15).

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

Ngọn Lửa Tình Nồng - Ca khúc thứ tư (tiếp theo)



NGỌN LỬA TÌNH NỒNG
(Phiên bản B)

CA KHÚC THỨ TƯ (tiếp theo)

7. Theo như linh hồn thấy được, Thiên Chúa luôn luôn như thế. Ngài điều động, cai quản và trao ban hữu thể, sức mạnh, ân sủng và ân huệ cho muôn loài muôn vật. Ngài bảo tồn vạn vật nơi chính Ngài bằng sức mạnh, sự hiện diện và bằng chính bản thể Ngài. Chỉ bằng một ánh nhìn, linh hồn thấy được tất cả những điều ấy, thấy được Thiên Chúa là gì nơi chính Ngài và Ngài là ai nơi các thụ tạo của Ngài. Tựa như khi ta mở cửa một lâu đài và cùng một lúc thấy được cả người chủ vị vọng trong đó cùng với tất cả những gì người ấy đang làm.

Do đó, theo tôi hiểu, việc linh hồn tỉnh giấc và trông thấy nói trên diễn ra như sau: Linh hồn vẫn ở trong Thiên Chúa tận bản thể cũng như mọi thụ tạo khác đang ở trong Ngài, giờ đây Thiên Chúa lấy đi một số khăn màn che chắn trước mắt linh hồn khiến nó có thể thấy được Ngài là ai. Lúc ấy linh hồn mới thấy được mờ mờ khuôn mặt uy nghi phúc hậu của Thiên Chúa - bởi lẽ chưa phải là mọi màn chắn đều đã được lấy đi hết - đồng thời linh hồn cũng trông thấy vạn vật đang chuyển động nhờ sức mạnh của Ngài, như thế Thiên Chúa tự tỏ mình cùng với tất cả những gì Ngài đang thực hiện, có vẻ như Ngài đang chuyển động nơi vạn vật và vạn vật đang chuyển động nơi Ngài cách liên tục. Vì lẽ đó linh hồn có cảm tưởng Thiên Chúa đang chuyển động và tỉnh giấc, nhưng đúng ra chính linh hồn đang chuyển động và tỉnh giấc.

8. Thân phận của chúng ta ở đời này thấp hèn như thế đấy. Ta chỉ biết suy bụng ta ra bụng người, mình thế nào thì cứ nghĩ thiên hạ cũng thế ấy, ta xét đoán người khác theo những gì có nơi ta, phán đoán của ta phát sinh từ chính mình chứ không phải từ phía bên ngoài. Do đó, những kẻ ăn trộm thì cho rằng những kẻ khác cũng ăn cắp, những kẻ ham nhục dục thì nghĩ rằng người khác cũng thế thôi, những kẻ ma mãnh thì cho rằng ai mà không ma mãnh. Phán đoán của họ phát xuất từ tâm địa xấu xa của họ. Còn những người tốt thì trái lại, họ nghĩ tốt về kẻ khác. Sự phê phán của họ phát sinh từ ý nghĩ tốt nơi họ. Nói tóm, kẻ lơ là ngái ngủ thì cho rằng những ngươi khác cũng thế, cũng lơ là ngái ngủ.

Từ đó suy ra, khi chúng ta lơ là ngái ngủ không chú tâm đến Thiên Chúa thì chúng ta lại tưởng Ngài ngái ngủ, lơ là không quan tâm đến chúng ta, như có lần vua Đavít đã thưa với Thiên Chúa trong thánh vịnh: Lạy Chúa, xin trỗi dậy, xin trỗi dậy! Ngài cứ ngủ được sao? (Tv 43,24). Vua Đavít đã gán cho Thiên Chúa những yếu đuối của loài người, những kẻ hay té ngã và ngái ngủ, để xin Thiên Chúa tỉnh giấc và trỗi dậy, đang khi đó Đấng gìn giữ Israel lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành!(Tv 120,4)

9. Tuy nhiên, đúng ra mà nói, mọi sự tốt lành của loài người đều đến từ Thiên Chúa (Gc 1,17) và, tự sức mình, loài người không thể làm được điều chi tốt lành, thế nên, quả thực có thể nói rằng sự tỉnh giấc của chúng ta chính là sự tỉnh giấc của Thiên Chúa, sự trỗi dậy của chúng ta chính là sự trỗi dậy của Thiên Chúa. Do đó, vua Đavít có vẻ như muốn bảo chúng ta hãy trỗi dậy tới hai lần và hãy tỉnh giấc, bởi lẽ chúng ta đã ngái ngủ và té ngã theo hai cách. Như thế, bởi vì linh hồn đã rơi vào giấc ngủ mà không bao giờ có thể tự mình tỉnh dậy, chỉ có Thiên Chúa mới có thể mở mắt cho linh hồn và giúp nó tỉnh giấc, cho nên linh hồn gọi sự tỉnh giấc này là sự tỉnh giấc của Thiên Chúa là một điều hết sức đúng: Người tỉnh giấc giữa lòng em.

Ôi lạy Chúa của con, xin hãy đánh thức chúng con và hãy soi sáng cho chúng con để chúng con nhận biết và yêu mến những điều tốt lành Chúa luôn dọn sẵn cho chúng con, để chúng con nhận biết rằng Chúa luôn dủ lòng gia ân cho chúng con và luôn tưởng nhớ đến chúng con!

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)