Thứ Ba, 21 tháng 4, 2026

Chiêm niệm là một tiếng gọi phổ quát





Không "chạy trốn vào thiền", "thất tình lên núi ở ẩn", "Sài Gòn mệt mỏi quá thì về quê nuôi cá và trồng thêm rau",... Những người kết hiệp với Thiên Chúa lại như những người dấn thân giữa đời thường.

Có chú cá con, cứ băn khoăn mãi về đại dương bao la mà mình nghe nói. Chú bơi đến hỏi mẹ: "Mẹ ơi, đại dương ở đâu vậy mẹ?" Bà mẹ mỉm cười trả lời rằng đại dương chính là nơi con đang sống, là nước con đang thở, đang bơi lội đây này, ở quanh con và ở cả trong con nữa. Nhưng có lẽ chú cá con vẫn chưa thực sự "biết" đại dương là gì cho đến khi vì một lý do nào đó chú bị sóng đánh dạt lên bờ cát khô cạn - chỉ khi cảm nhận được sự ngột ngạt, sự thiếu vắng hoàn toàn của nước, chú mới thực sự hiểu giá trị và sự hiện hữu của đại dương mà chú vốn thuộc về.

Cũng vậy, có người bắt đầu hành trình tìm kiếm Thiên Chúa, lòng đầy khao khát nhưng cũng lắm hoang mang, đến hỏi một người linh hướng: "Thưa cha, Thiên Chúa mà con nghe nói rất nhiều, Ngài là ai, Ngài ở đâu?" Câu trả lời "Ngài ở quanh con và ở trong con" là hoàn toàn đúng đắn về mặt chân lý, nhưng thường chưa đủ để mang lại một kinh nghiệm sống động. Bởi cũng như cá cần nước, chúng ta sống và hiện hữu được là nhờ Thiên Chúa, nhưng tâm trí chúng ta lại thường bị che lấp bởi bao điều khác - những nghi kị, lo toan, mong muốn nắn chỉnh và đặt điều kiện với thế giới, cám dỗ nơi thế gian - khiến chúng ta không nhận ra sự hiện diện nền tảng và yêu thương ấy.

Vai trò của người đồng hành thiêng liêng, hay của chính Giáo Hội và các phương thế ơn thánh, không chỉ là nói cho chúng ta biết Thiên Chúa ở đâu, mà còn là chỉ dẫn những con đường thực hành - thực hành sự tĩnh lặng, lắng nghe, từ bỏ những quyến luyến vào xác thịt, cái tôi hay thế gian - để giúp chúng ta dần dần vén bỏ những đám mây mù đang che phủ tâm trí, thanh luyện con tim, và có thể khám phá được Thực Tại Tối Hậu theo cách của riêng mình. Đó là cảm nghiệm về sự hiện diện sống động, yêu thương và vô cùng gần gũi của Thiên Chúa ngay trong chính cuộc đời và tâm hồn mình - một hành trình khám phá cá vị, đầy huyền nhiệm và luôn cần được nâng đỡ bởi ơn Chúa và sự trợ giúp của tha nhân. Đó chính là lời mời gọi bước vào đời sống chiêm niệm dành cho tất cả chúng ta.

----

CHIÊM NIỆM LÀ MỘT TIẾNG GỌI PHỔ QUÁT

I. MỘT TIẾNG GỌI VÔ BỜ

Khi bàn về hành trình tâm linh sâu sắc, những khái niệm như "đời sống thần bí" hay "chiêm niệm" thường vô tình dựng lên một bức tường ngăn cách, gợi lên hình ảnh về những điều cao siêu chỉ dành cho một số ít tâm hồn phi thường, những vị ẩn tu khổ hạnh hay những người được Thiên Chúa ban cho các ơn lạ đặc biệt. Trong thời đại chúng ta, không thiếu những tìm kiếm về cái huyền bí, thể hiện qua vô số sách vở hướng dẫn các phương pháp tu tập, thiền định khác nhau, và điều này dễ dẫn đến một lầm tưởng phổ biến: rằng việc kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa là một đỉnh cao vời vợi, đòi hỏi những nỗ lực phi thường hay những kỹ thuật phức tạp mà người bình thường khó lòng đạt tới.

Nhưng sự thật có thể đơn giản và gần gũi hơn ta tưởng rất nhiều. Chiêm niệm, trong bản chất sâu xa nhất, không phải là một trạng thái xuất thần hay một kỹ thuật phức tạp, mà chính là sự gặp gỡ Thực Tại - gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống một cách trực tiếp, đơn sơ và thân tình, không nhất thiết phải thông qua những hệ thống lý luận hay những hình ảnh ý niệm trung gian. Đó là sự gặp gỡ từ trái tim đến Trái Tim.
Nhiều tâm hồn sống đời sống kết hiệp sâu sắc với Chúa lại là những người hoàn toàn dấn thân giữa đời thường, giữa những trách nhiệm gia đình, công việc và xã hội. Điều làm nên chiều sâu tâm linh của họ không phải là những trải nghiệm lạ lùng hay sự xa lánh thế sự, mà chính là tình yêu lớn lao họ dành cho Thiên Chúa - một tình yêu trở thành trung tâm và nguồn mạch cho toàn bộ cuộc sống, biến mọi hoạt động thường ngày thành lời cầu nguyện và hành vi phụng sự. Không phải "chạy trốn vào thiền" hay "thất tình thì lên núi ẩn dật", không phải "Sài Gòn mệt mỏi quá thì về quê nuôi cá và trồng thêm rau" - mà là ở lại giữa dòng đời, với một trái tim đã được định hướng về một nơi duy nhất.

Thiên Chúa không ở đâu xa xôi trên trời cao hay trong những nơi thánh thiêng biệt lập. Ngài ở ngay trong tâm hồn chúng ta, gần gũi hơn cả chính chúng ta gần mình. Ngài luôn hiện diện và khao khát được gặp gỡ thân tình với mỗi người, không phân biệt người tội lỗi hay thánh thiện, người học thức hay bình dân. Việc của chúng ta, có lẽ, chỉ là bắt đầu hành trình quay về chính ngôi đền thờ là thân tâm mình, tập lắng nghe những thúc đẩy nhẹ nhàng của Thánh Thần, và khám phá ra rằng rất có thể Thiên Chúa đang mời gọi chính chúng ta bước vào một đời sống kết hiệp mật thiết hơn với Ngài - một đời sống có chiều sâu chiêm niệm ngay giữa lòng cuộc sống thường nhật.

II. PHÂN ĐỊNH: ĐÂU LÀ CHIÊM NIỆM ĐÍCH THỰC?

Để bước đi trên con đường nội tâm này cách vững vàng, điều quan trọng là cần phân biệt rõ ràng giữa chiêm niệm Kitô giáo đích thực với những hình thức huyền bí giả tạo hay những tìm kiếm lệch lạc khác.
Đời sống chiêm niệm đích thực không phải là sự theo đuổi những hiện tượng phi thường, những trạng thái tâm lý đặc biệt hay những cảm giác mạnh mẽ mà tinh thần thế gian thường chiêu dụ. Nó không phải là sản phẩm của những phong trào mang màu sắc huyền bí cực đoan có thể làm người ta mê muội, mất kết nối với thực tại cuộc sống và trách nhiệm thường ngày. Nó cũng hoàn toàn khác biệt với những trạng thái thoát ly thực tại có được nhờ các kỹ thuật tâm lý đơn thuần nhằm tìm kiếm sự dễ chịu tạm thời. Ngược lại, chiêm niệm Kitô giáo giống như một cuộc "đi sâu vào" - đi sâu vào chính trung tâm của hữu thể, can đảm đối diện với sự thật về bản thân, cả ánh sáng lẫn bóng tối, cả niềm vui lẫn khổ đau, dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Những tâm hồn chiêm niệm đích thực, như kinh nghiệm của Giáo Hội cho thấy, thường là những con người mạnh mẽ, đầy sức sống, rõ biết chính mình, bén nhạy với nỗi đau của tha nhân, và luôn được thúc đẩy bởi một tình yêu say mê đối với Thiên Chúa và công cuộc cứu độ của Ngài ở trần gian.

Người sống đời chiêm niệm đích thực không tìm kiếm những điều lạ lùng, phi thường như là mục đích - họ tìm kiếm chính Thiên Chúa mà thôi. Đôi khi, Thiên Chúa có thể ban cho một số tâm hồn những ơn đặc biệt như ơn nói lạ, ơn xuất thần hay ơn thấy thị kiến. Tuy nhiên, đây là những hồng ân ngoại thường, không phải là dấu hiệu tất yếu hay mục đích của đời sống chiêm niệm. Chính các vị thánh đã lãnh nhận những ơn này cũng luôn cảnh báo đừng bao giờ chủ tâm tìm kiếm hay bám víu vào những sự an ủi thiêng liêng hay những hiện tượng lạ lùng đó, vì chúng có thể trở thành cám dỗ của sự tự mãn và lệch lạc. Lời mời gọi căn bản luôn là: tìm kiếm Thiên Chúa, Đấng ban mọi niềm an ủi - chứ không phải chỉ tìm kiếm những niềm an ủi chóng qua của Thiên Chúa.

Vậy làm sao để nhận biết một đời sống chiêm niệm đích thực? Dấu chỉ không nằm ở những hiện tượng bên ngoài, mà ở những hoa trái nội tâm được sinh ra từ sự kết hiệp với Chúa. Đó là một niềm vui sâu lắng, bền vững, không phụ thuộc vào hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn bên ngoài. Đó là một sự kiên nhẫn phi thường trước nghịch cảnh và sự yếu đuối của bản thân cũng như tha nhân. Đó là một lòng tín thác ngày càng lớn mạnh vào tình yêu và sự quan phòng của Chúa trong mọi biến cố. Và trên hết, đó là một sự bình an sâu thẳm mà thế gian không thể ban tặng cũng không thể lấy mất đi. Đây mới là những dấu chỉ đáng tin cậy của một tâm hồn đang thực sự tiến bước trên con đường kết hiệp với Thiên Chúa.

III. CHIÊM NIỆM

​Chiêm niệm trước hết là một cách hiện hữu. Đó là giữ một cái nhìn đúng đắn, trong sáng và kéo dài hướng về Thiên Chúa, đồng thời nhìn thẳng vào tình trạng thực của bản thân, của người chung quanh và thế giới. Đây là cái nhìn vượt lên trên mọi sự phán xét, bao biện hay phân tích - một cái nhìn thuần túy từ con tim, nơi "người nhìn" tan biến để chỉ còn lại sự thật. Hành vi này bóc tách mọi chiếc mặt nạ, con người hiện diện trước Thiên Chúa mà không có nỗ lực trang điểm hay che đậy. Đó không phải là một ý niệm chung chung và mơ hồ về Thiên Chúa, mà là một sự tiếp xúc trực tiếp, cá vị, giống như kinh nghiệm của Mô-sê khi gặp gỡ Thiên Chúa mặt giáp mặt.

​Cái biết trong chiêm niệm không vay mượn từ lý trí hay những mẩu thông tin tích trữ, mà khởi phát từ một trực giác thâm sâu. Giống như người mẹ nhận diện đứa con qua mối liên đới máu thịt, người chiêm niệm chạm thấu Thiên Chúa bằng trái tim. ​Cốt lõi của cái biết này chính là sự hiệp thông - nơi khoảng cách giữa người biết và Đấng được biết bị xóa nhòa. Nếu trong tri thức lý trí, ta đứng bên ngoài để quan sát Chúa như thể quan sát một đối tượng, thì trong chiêm niệm, ta ở trong Ngài và Ngài ở trong ta. Đó là sự tương giao nảy sinh từ việc "ở cùng" nhau chứ không phải từ việc "học về" nhau. ​Đây là một thực tại hiện sinh không thể mổ xẻ trọn vẹn, bởi bản chất của nó là sự cảm nếm, tôi nhìn Chúa, và Chúa nhìn tôi. Khi tâm hồn dần buông bỏ những quyến luyến, ta thôi nỗ lực uốn nắn mình cho trở nên "yên" hay "tốt", mà chỉ đơn giản là hiện diện trong chân lý sống động của Thiên Chúa Ba Ngôi.

​Chiêm niệm bắt đầu từlòng can đảm để thấy mình đúng như mình là - thấy mình như Chúa thấy - ghi nhận đầy đủ cả ánh sáng lẫn bóng tối, cả điểm mạnh lẫn những vụng về. ​Để Thấy, ta cần biết dừng lại. Dừng lại không có nghĩa là chủ động ép buộc tâm trí ngừng hoạt động, mà là không có những nỗ lực can thiệp chủ quan. Thay vì cố gắng dập tắt những cảm xúc (khó chịu lẫn dễ chịu), chối bỏ nhu cầu, nắn sửa các ý nghĩ,... một cách bạo động, ta chỉ cần ghi nhận sự có mặt của chúng. Khi thấy mình đang xao động, hãy cứ để cái xao động đó hiện diện và nhìn ngắm nó với sự an tâm và hiền hậu. Mọi nỗ lực muốn nắn chỉnh trạng thái nội tâm cho ngăn nắp, thực chất chỉ là một lớp tự vệ mới được chồng lên trên những gì đang phơi bày. Ngay cả sự dối trá đang trình hiện cũng chính là sự thật, và việc nỗ lực phủ định sự có mặt của điều giả trá ấy chính là đang chống lại sự thật. Khi ta thấy mình đang tự vệ và cố gắng sửa cái tự vệ đó, ta chỉ đang khoác thêm một lớp mặt nạ tinh vi hơn mà thôi. Hãy tập buông bỏ mọi mong muốn và ý định kiểm soát, hãy nghỉ ngơi thực sự trong tay Thiên Chúa. Giả như, một người thợ lặn thả mình vào lòng đại dương - với sự tin tưởng, nương tựa, để mình được biển sâu âu yếm; thì khi chiêm niệm ta không phải gồng nữa, mà dành sự tin - cậy - mến trọn vẹn vào nền tảng vững chãi chính là biển cả là Thiên Chúa. ​Nếu bị chia trí, đừng nản lòng và cũng đừng cố gắng đấu tranh để tiêu diệt sự chia trí đó. Chỉ cần nhẹ nhàng nhận diện rằng mình đang chia trí, thì chính cái thấy đó đã là chú tâm, chân thành và chiêm niệm rồi. Ta có thể sử dụng một vài lời nguyện vắn tắt như điểm neo để bắt đầu lại, nhưng hãy thốt lên những lời ấy một cách tự nhiên như trẻ nhỏ.

Chúng ta không đời nào có thể coi chiêm niệm như một thành tích cá nhân, vì đó là ơn thánh đang hoạt động chứ không phải sản phẩm của nỗ lực tự thân. Người chiêm niệm không nói nhiều, họ chỉ có mặt để Thiên Chúa lên tiếng. Chìa khóa là sự kiên trì dành thời gian cho thinh lặng mỗi ngày. Đừng bắt đầu bằng việc tìm kiếm kết quả, đừng săn đuổi những cảm xúc tích cực hay trải nghiệm bình an chóng qua.

​Đời sống chiêm niệm là một hồng ân Thiên Chúa mà hễ là con người, ta vốn cần học cách nhìn ra và đón nhận. Nó không phải là phương tiện để mang lại cho ta bất cứ điều gì nơi thế gian này, mà là cách ta trở về với bản vị thật của mình. Mọi sự tùy thuộc vào việc ta có đủ khiêm tốn để giữ cho con tim và ánh mắt của mình luôn trung thực hay không - trung thực ngay cả khi đối diện với những gì ta muốn che giấu nhất!

Khi ta chấp nhận đứng vững trong sự thật về mình dù đang ổn hay không yên, đó là lúc mối tương quan thân tình với Thiên Chúa Ba Ngôi thực sự bắt đầu. Bởi vì Thiên Chúa không đòi gặp ta ở nơi ta hoàn hảo, Ngài thường gặp ta nơi những gì chân thật nhất của hiện hữu.

Bất kể bạn là ai, đang bán hàng rong hay làm quản lý, là người khuyết tật hay một model, ​còn chất chứa khổ tâm hay đã quân bình,... Sống như một nhà thần bí không phải là trở thành một người đặc biệt hoặc sở hữu những năng lực siêu nhiên. Đó là tiếng gọi dành cho tất cả mọi người: học lại cách thấy cũng như kết hiệp với Thiên Chúa.


Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 18 (tiếp theo)




NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 18 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 31)

7 - Như đã nói, Giuđê là phần hạ đẳng và khả giác của linh hồn. "Vùng ngoại thành" của Giuđê chính là những giác quan khả giác bên trong như dạ nhớ, óc sáng tạo vẽ vời và trí tưởng tượng, nơi cư trú và qui tụ những hình thể, hình ảnh và ảo tượng về mọi vật, là những thứ mà phần nhục cảm tận dụng để xách động các mê thích và ham hố của linh hồn... Và một khi các hình thể vv.. mà ở đây gọi là đám kiều nữ... được bình lặng và nghỉ yên thì các mê thích cũng ngủ theo. Đám kiều nữ đi vào những vùng ngoại thành của chúng là các giác quan bên trong ngang qua những cánh cửa giác quan bên ngoài như: thính giác, thị giác, khứu giác... Chúng ta có thể gọi tất cả các quan năng và giác quan ấy cả bên trong lẫn bên ngoài của phần khả giác là vùng ngoại thành bởi lẽ chúng khác nào những khu vực bên ngoài các bức tường thành phố. Phần nội thành của linh hồn là phần sâu kín ở bên trong, phần thuộc lý trí, và có khả năng thông giao với Thiên Chúa. Các hoạt động của phần này trái ngược với các hoạt động của phần nhục cảm.

Tuy nhiên, do có sự thông truyền tự nhiên giữa những cư dân trú ngụ ở những vùng ngoại thành ấy, tức phần cảm giác (và cũng chính là các kiều nữ chúng ta đã đề cập) với phần thượng đẳng tức là khu vực nội thành, những gì xảy ra ở phần hạ đẳng vẫn thường dội lên phần thượng đẳng bên trong và, do đó, sẽ khiến phần này bị phân tâm và xao động, không còn chăm chỉ làm việc và chú tâm vào Thiên Chúa. Vì thế, linh hồn yêu cầu các kiều nữ ấy hãy ở lại nơi vùng ngoại thành, nghĩa là hãy nằm yên nơi những giác quan khả giác, cả bên trong lẫn bên ngoài.

“Các cô đừng tìm cách chạm đến ngưỡng cửa của chúng tôi”.

8 - Có nghĩa là, đừng chạm vào phần thượng đẳng kể cả bằng những xung động đầu tiên bởi lẽ những xung động đầu tiên của linh hồn chính là lối vào, là ngưỡng cửa để vào được bên trong linh hồn. (Không những đừng vượt qua mà cả đừng chạm đến). Bước qua ngưỡng cửa tức là đã vượt qua những xung động đầu tiên để xâm nhập vào phần lý trí. Còn nếu chỉ mới có những xung động đầu tiên thì chỉ mới chạm đến ngưỡng cửa hoặc chỉ mới gọi cửa mà thôi. Đây là điều vẫn xảy ra khi phần nhục cảm tấn công phần lý trí qua một hành vi vô trật tự nào đó. Thế nên ở đây, khi yêu cầu đừng chạm đến ngưỡng cửa, linh hồn không những yêu cầu các kiều nữ ấy đừng chạm đến linh hồn mà còn cảnh báo họ chớ chạm đến sự yên tĩnh và những ơn lành nó đang vui hưởng.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 18 (tiếp theo)



NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 18 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 31)

+ Minh giải

3 - Nơi ca khúc này, Tân nương tiếp tục lên tiếng. Nơi phần tâm linh thượng đẳng, nàng thấy mình được Đấng Chí Ái ban cho những ân huệ, những hoan lạc và phong phú khôn tả, vì thế nàng mong ước được nương náu nơi sự an toàn của chàng và được chiếm hữu lâu bền những ân huệ và hoan lạc ấy là tình trạng mà Đức Lang quân đã đặt nàng vào như đã nói trong ca khúc trước đây [Thật ra là hai ca khúc 20 và 21. Sự quy chiếu ở đây thiếu chính xác là vì khi biên soạn phiên bản B, tác giả đảo lộn thứ tự các chương mà quên sửa quy chiếu. Chương này trong phiên bản A là chương 31, hai chương kia là 29 và 30)]. Tuy nhiên nàng lại cũng thấy rằng phần hạ đẳng tức phần nhục cảm của nàng có thể cản trở và quấy phá ơn lành ấy (và quả thật nó đã cản trở và quấy phá) cho nên nàng tha thiết khẩn cầu các hoạt động và xung động của các quan năng và giác quan thuộc phần hạ đẳng hãy ở yên. Nàng yêu cầu chúng đừng vượt qua giới hạn khu vực của chúng là phần nhục cảm để quấy nhiễu và phá rối phần thượng đẳng và tâm linh của linh hồn, làm sao để đừng một xung động nào của phần hạ đẳng, dù nhỏ đến đâu, có thể cản trở những ơn lành và sự êm đềm nàng đang vui hưởng. Thật vậy, đang lúc tâm linh vui hưởng, nếu những xung động của phần giác quan và các quan năng của giác quan dấy lên, linh hồn sẽ bị quấy nhiễu và bất an, nhiều ít tuỳ theo mức độ các xung động ấy. Vì lẽ đó, Tân nương lên tiếng như sau:

Ôi những kiều nữ Giuđê

4 - Nàng gọi phần hạ đẳng của linh hồn tức phần cảm giác là Giuđê. Nàng gọi phần ấy là Giuđê vì nó yếu đuối, mang tính xác thịt và mù loà tựa như dân Giuđê vậy. Nàng gọi tất cả những tưởng tượng, những sáng tạo vẽ vời và các xung động lẫn những nghiêng chiều của phần hạ đẳng ấy là những kiều nữ, bởi vì, tựa như các kiều nữ thường dùng nét duyên dáng quyến rũ để lôi cuốn những kẻ si tình, ở đây các hoạt động và xung động của nhục cảm cũng dịu dàng và kiên trì lôi cuốn ý muốn của lý trí về phía mình. Chúng tìm cách kéo nó ra khỏi sự lắng đọng bên trong và khiến nó cứ mong ước những thứ bên ngoài là những thứ mà chúng tìm kiếm và theo đuổi. Chúng cũng xách động trí hiểu, lôi kéo để nó rơi xuống cùng cảm nhận một cách thấp hèn như chúng, khiến cho phần lý trí cũng rập khuôn và nên một với phần nhục cảm. Vì thế, Tân nương thốt lên: Này hỡi những hoạt động và xung động của nhục cảm!

Giữa bao nhiêu hoa và những khóm hồng.

5 - Như đã nói, hoa ở đây là các nhân đức của linh hồn. Những khóm hồng là những quan năng của linh hồn gồm dạ nhớ, trí hiểu và lòng muốn. Chúng cưu mang và nuôi dưỡng những bông hoa là các khái niệm thần linh, các hành vi yêu thương và những nhân đức nói trên.

Vì này, ngay giữa các nhân đức và quan năng ấy của hồn tôi...

Cây long diên tỏa hương.

6 - Ở đây cây long diên ám chỉ Thần Khí của Đức Lang quân đang ngự trong linh hồn. Cây long diên thần linh này đang tỏa hương giữa những bông hoa và khóm hồng, tức là Thần Khí đang tuôn trào và thông truyền vào các quan năng và nhân đức của linh hồn một cách thật dịu dàng, phú ban vào đó cho linh hồn hương thơm thần linh êm dịu.

Này các kiều nữ Giuđê, đang khi Thần Khí ban cho linh hồn tôi sự dịu dàng tâm linh như thế,

Xin các cô cứ ở lại nơi vùng ngoại thành.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)


Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 18

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 18
(Phiên bản A: chương 31)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Ở bậc đính hôn tâm linh này linh hồn thoáng thấy được những điều tuyệt hảo và những kho tàng phong phú của nó nhưng đồng thời cũng thấy rằng, bao lâu còn ở trong xác thịt, nó không được chiếm hữu và vui hưởng những thứ ấy theo ý nó. Cái nhìn ấy thường khiến linh hồn đau khổ nhiều, nhất là mỗi khi nó ý thức mạnh mẽ về điều ấy. Linh hồn thoáng thấy rằng nó phải ở trong thân xác cũng giống như một lãnh chúa bị nhốt trong ngục, phải chịu khốn khổ trăm bề, bị tịch thu lãnh địa, bị tước đoạt cả quyền làm chủ lẫn của cải. Tài sản ông tích lũy bao nhiêu mà kể, thế mà người ta chỉ cho ông được một tí thức ăn dè sẻn. Ai cũng hiểu ông phiền muộn biết bao nhất là khi gia nhân chẳng còn tùng phục ông mấy nữa. Hễ có dịp là đám tôi tớ và nô lệ ngổ ngáo nổi lên chống lại, thậm chí còn muốn giật luôn thức ăn ở trên đĩa của ông. Quả thật, khi Thiên Chúa thương ban cho linh hồn được nếm hưởng đôi chút những điều tốt lành và phong phú mà Ngài đã dành riêng cho nó thì lập tức nơi phần cảm giác của nó dấy lên một tên đầy tớ xấu xa là một mê thích nào đó hoặc một gã nô lệ là một xung động vô trật tự nào đó, hoặc những sự nổi loạn khác của phần hạ đẳng, nhằm cản ngăn không cho linh hồn hưởng được những ơn lành ấy.

2 - Do đó, linh hồn cảm thấy như đang ở trên mảnh đất của quân thù và bị hà hiếp giữa những kẻ xa lạ. Nó như thể một kẻ đã chết giữa đám kẻ chết. Linh hồn cảm nhận rõ điều mà ngôn sứ Barúc ám chỉ khi ông mô tả sự tù đày khốn khổ của Giacóp như sau:

Vì đâu Israel hỡi, vì đâu
Ngươi phải nương thân trên đất thù địch
Phải mòn hao nơi xứ lạ quê người?
Vì đâu ngươi bị nhiễm uế giữa đám thây ma
Phải nằm chung với những người ở trong âm phủ? (Br 3,10-11)

Và Giêrêmia cũng cảm nhận được tình cảnh khốn khổ này mà linh hồn đang trải qua do sự cầm tù của thân xác, khi ông nói về Israel theo nghĩa tâm linh:

Israel có phải là nô lệ hay gia nhân đâu
Thế mà sao nó lại bị người ta cưỡng đoạt
Những con sư tử gầm gừ đe doạ nó...
(x. Gr 2,14 tt)

Ở đây sư tử ám chỉ những mê thích và những sự nổi loạn của gã bạo chúa là phần nhục cảm. Vì thế, để cho thấy mình đang bị quấy nhiễu đến mức nào và đang khát mong sớm chấm dứt vương quốc của nhục cảm cùng đủ thứ tấn công phá phách của nó, hoặc ít là phải hoàn toàn chế ngự được chúng, linh hồn ngước mắt lên cùng Đức Lang quân, mong Ngài định liệu tất cả, và than phiền về những xung động và nổi loạn nói trên qua ca khúc sau:

Ôi những kiều nữ Giuđê
Giữa bao nhiêu hoa và những khóm hồng
Khi cây long diên tỏa hương
Xin cứ ở lại những vùng ngoại thành
Các cô đừng tìm cách chạm đến ngưỡng cửa của chúng tôi.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 17 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 17 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 26)

9 - Như thế, ngọn gió thần linh của Chúa Thánh Thần thật đáng khao khát biết bao. Mỗi linh hồn hãy cầu xin Ngài thổi qua khu vườn mình để hương thơm thần linh của Thiên Chúa lan toả. Điều này thật cần thiết và mang lại biết bao vinh quang và tốt lành cho linh hồn. Trong sách Diễm Ca, Tân nương đã khát khao và cầu xin điều ấy bằng chính những lời mà ở đây linh hồn đang van vỉ:

Gió Bấc nổi lên đi
Gió Nam hãy ùa tới
Thổi mát vườn của tôi
Cho hương thơm lan toả (Dc 4,16)

Linh hồn khao khát tất cả điều ấy không phải vì mối hoan lạc và vinh quang điều ấy mang lại nhưng chỉ vì linh hồn biết rằng Đức Lang quân của nó thích thú nơi điều ấy. Đàng khác, cũng vì đó là sự chuẩn bị và báo trước cho việc Con Thiên Chúa sẽ đến sống hạnh phúc hoan lạc nơi linh hồn. Vì thế linh hồn nói tiếp:

Đấng Chí Ái sắp dùng bữa giữa muôn hoa.

10 - Niềm hoan lạc Con Thiên Chúa sắp vui hưởng nơi linh hồn trong thời điểm này được linh hồn ám chỉ qua cách nói “bữa ăn”. Cách diễn tả như thế thật dễ hiểu, vì sự dùng bữa, hoặc thức ăn, không những đem lại thích thú mà còn bổ sức. Quả thế, Con Thiên Chúa được thỏa thích nơi những hoan lạc ấy của linh hồn và được bổ sức nơi linh hồn. Ngài lưu lại trong linh hồn như lưu lại ở một nơi khiến Ngài rất thỏa thích, bởi vì chính linh hồn được Ngài cư ngụ đang hết sức vui thỏa trong Ngài. Theo tôi, đó chính là điều Ngài muốn nói qua miệng vua Salomôn trong sách Châm Ngôn: Niềm hoan lạc của Ta là được ở với con cái loài người (x. Cn 8,31), nghĩa là: Ta vui khi thấy con cái loài người hân hoan thích thú được ở cùng Ta vì Ta đây chính là Con Thiên Chúa.

Ở đây cần lưu ý linh hồn không bảo rằng: Đấng Chí Ái dùng những bông hoa làm thức ăn nhưng bảo rằng: Ngài dùng bữa giữa những bông hoa. Sở dĩ thế là vì, một đàng Đức Lang quân tự thông truyền cho linh hồn là nhờ linh hồn có các nhân đức điểm trang, nhưng đàng khác Ngài lại dùng chính linh hồn làm thức ăn của Ngài, để biến đổi linh hồn thành chính Ngài sau khi ướp linh hồn bằng những bông hoa của các nhân đức, các ân tứ và những sự hoàn thiện. Những thứ này là gia vị Ngài nêm vào linh hồn, ướp lên linh hồn khi lấy linh hồn làm thức ăn. Nhờ trung gian của vị tiền trạm đã nói trước đây (tức Chúa Thánh Thần) những gia vị tâm linh ấy sẽ mang lại cho Con Thiên Chúa hương vị dịu dàng nơi linh hồn, để nhờ đó, Ngài được bổ dưỡng hơn nơi tình yêu của linh hồn. Quả thật, Đức Lang quân đặc biệt thích hiệp nhất cùng linh hồn giữa hương thơm ngào ngạt của những bông hoa ấy.

Trong sách Diễm Ca, Tân nương biết rõ điều ấy, nên đã nhận xét rất đúng như sau:

Người tôi yêu đã xuống vườn chàng,
Xuống nơi trồng phương thảo
Chàng để đàn vật ăn trong vườn,
Còn chàng đi hái huệ (Dc 6,2).

Và nơi câu thơ khác:

Tôi thuộc trọn về người tôi yêu
Người tôi yêu thuộc về tôi trọn vẹn
Giữa những khóm huệ, chàng đang dùng bữa (x. Dc 6,3).

Nghĩa là chàng đang bổ dưỡng và vui thỏa nơi linh hồn tôi, là khu vườn của chàng, giữa những khóm huệ là những nhân đức, những sự hoàn thiện và ân sủng của tôi.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 17 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 17 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 26)

7 - Những hương thơm ấy lắm khi dồi dào đến nỗi linh hồn tựa như được mặc toàn hoan lạc và được tắm gội trong niềm vinh quang khôn tả. Không những chính linh hồn cảm thấy điều ấy tận bên trong bản thân mình, mà ngay cả những người tinh ý cũng có thể thấy nó tuôn trào cả ra bên ngoài linh hồn ấy. Linh hồn đang ở trong một khu vườn hoan lạc, đầy những hân hoan và sự phong phú của Thiên Chúa. Không phải chỉ những lúc các bông hoa ấy nở ra người ta mới thấy được điều đó nơi những linh hồn thánh thiện mà ngay cả giữa đời thường, các linh hồn ấy vẫn mang nơi mình một điều gì đó tôi không rõ, một điều gì đó nói lên sự cao cả và phẩm giá của linh hồn, một điều gì đó khiến kẻ khác phải suy nghĩ và kính nể vì cái hoa quả siêu nhiên toát ra từ con người đã trao đổi thật gần gũi và thân tình với Thiên Chúa. Điển hình là trường hợp ông Môsê, được ghi lại trong sách Xuất Hành: Dân chúng không thể nhìn vào khuôn mặt Môsê vì cái rạng rỡ và vẻ vinh quang vẫn còn lưu lại đó sau khi ông chuyện vãn với Thiên Chúa mặt giáp mặt (x. Xh 34,30).

8 - Khi Chúa Thánh Thần thổi qua linh hồn, hay còn có thể nói khi Chúa Thánh Thần ưu ái thăm viếng linh hồn, Đức Lang quân, Con Thiên Chúa tự thông truyền cho linh hồn một cách thật cao vời. Ngài gửi Thần Khí Ngài đến trước, như đã từng sai các tông đồ, làm vị tiền trạm để chuẩn bị cho Tân nương linh hồn thành chốn Ngài cư ngụ. Ngài nâng linh hồn lên tới niềm hoan lạc, trang hoàng làm đẹp khu vườn linh hồn, làm nở rộ những bông hoa của nó, phơi bày ra các ân huệ Ngài. Ngài trang trí linh hồn với tấm thảm dệt bằng các ân sủng và sự giàu sang của Ngài.

Vì vậy, Tân nương linh hồn hết lòng khao khát mong cho gió Bấc hãy lui đi và gió Nam hãy đến thổi qua khu vườn. Bấy giờ linh hồn sẽ gặt hái được một lúc nhiều điều tốt lành: trước hết là được vui thỏa vì những nhân đức được phát huy khi cuộc thao luyện thú vị đạt tới cao điểm như chúng tôi đã nói, rồi được vui thỏa vì sự hiện diện của Đấng Chí Ái nơi các nhân đức ấy, vì nhờ chúng, Đấng Chí Ái tự thông truyền cho linh hồn bằng một tình yêu mật thiết và ưu ái đối với linh hồn cách đặc biệt hơn trước. Nó còn được vui thỏa rất nhiều khi thấy Đấng Chí Ái hân hoan vì nó. Thật vậy Đấng Chí Ái hân hoan khi thấy linh hồn thực sự tập luyện các nhân đức ấy. Điều làm cho linh hồn thích thú nhất chính là thấy Đấng Chí Ái của nó vui thích. Ngoài ra, linh hồn còn được vui thỏa vì hương vị dịu dàng của các nhân đức ấy vẫn luôn liên tục và kéo dài. Mối hoan lạc này sẽ kéo dài cho Tân nương linh hồn bao lâu Đức Lang quân còn hỗ trợ nàng bằng cách cho nàng nếm được hương thơm dịu dàng nơi các nhân đức của nàng theo như nàng thổ lộ trong sách Diễm Ca:

Lúc quân vương ngự giữa nội cung,
(tức là ngự nơi linh hồn)
dầu cam tùng của tôi tỏa hương thơm ngát (Dc 1,11).

Ở đây dầu cam tùng thơm ngát ám chỉ chính linh hồn. Từ những bông hoa các nhân đức của nó, linh hồn tỏa ra một mùi hương ngào ngạt dâng Đấng Chí Ái, Đấng đang ngự nơi nó trong sự hiệp nhất này.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 17 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 17 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 26)

4 - Ngọn "gió phương nam" thì khác. Nó thường được gọi là gió mát. Làn khí yên lành của nó tạo ra mưa, khiến cho cỏ cây đâm chồi, khiến cho hoa nở và tỏa hương. Nó mang lại những hiệu quả trái ngược với gió Bấc. Do đó, linh hồn dùng hình ảnh ngọn gió Nam để ám chỉ Chúa Thánh Thần, Đấng mà linh hồn bảo rằng: gợi nhớ những yêu thương, bởi lẽ khi làn khí thần linh này bao phủ linh hồn sẽ khiến toàn thể linh hồn như bốc cháy, hân hoan vui mừng, bừng sống, sẽ khiến lòng muốn được thức tỉnh, các mê thích được nâng dậy (trước đây bị ngã gục và ngái ngủ) hướng về tình yêu mến Thiên Chúa, đến nỗi ta có thể nói thật chí lí rằng làn khí ấy gợi nhớ những yêu thương của Thiên Chúa và của linh hồn. Và điều linh hồn cầu xin với Chúa Thánh Thần được biểu lộ nơi câu thơ tiếp:

Hãy thổi qua vườn ta.

5 - Vườn này là chính linh hồn. Trên kia linh hồn đã tự ví mình là vườn nho nở hoa, bởi vì hoa các nhân đức nơi linh hồn làm nên thứ rượu thật ngon. Còn ở đây linh hồn tự gọi mình là khu vườn, bởi vì linh hồn chính là nơi những bông hoa của sự hoàn thiện và nhân đức đã nói trên, được gieo trồng, nảy nở, và lớn mạnh.

Cần lưu ý rằng ở đây Tân nương không bảo: Hãy thổi vào vườn ta nhưng lại nói: Hãy thổi qua vườn ta, vì có sự khác biệt rất lớn giữa việc Thiên Chúa thổi vào trong linh hồn và thổi qua linh hồn. Thổi vào linh hồn tức là đổ đầy các ân sủng, ân huệ và nhân đức vào linh hồn, còn thổi qua linh hồn tức là Thiên Chúa chạm đến và đánh động nhân đức cùng những sự hoàn thiện Chúa đã ban bằng cách đổi mới chúng và lay động chúng để chúng đem lại cho linh hồn hương thơm và sự dịu dàng tuyệt vời. Cũng tựa như khi ta mở các thứ dầu thơm ra mà lắc hoặc khoắng lên thì, vừa đụng vào chúng, chúng liền tỏa ra mùi thơm ngào ngạt mà trước đó ta không ngửi thấy hoặc không ngửi thấy tới mức đó. Về các nhân đức nơi linh hồn cũng thế, cả nhân đức tập thành và nhân đức thần phú, không phải lúc nào ta cũng cảm thấy được và vui hưởng được. Bởi lẽ, như sau này chúng tôi sẽ nói, khi ta còn ở đời này, các nhân đức nơi linh hồn tựa như hoa còn khép trong nụ, hoặc như những loại dầu thơm còn phong kín, chỉ cảm thấy thơm khi được mở ra và lắc mạnh như đã nói trên.

6 - Đôi khi Thiên Chúa vẫn ưu ái làm điều đó cho Tân nương Ngài là linh hồn, Ngài thổi Thần Khí Ngài qua khu vườn rộ hoa của nàng, làm nở tung hết mọi nụ hoa nhân đức, và mở cho tỏa ra hết bao chất thơm của các ân huệ, của những sự hoàn thiện cũng như những sự phong phú của linh hồn. Ngài phơi bày kho tàng kín ẩn và nguồn mạch vẫn chảy bên trong, làm lộ rõ toàn bộ vẻ đẹp của linh hồn. Bấy giờ ta sẽ bỡ ngỡ thán phục khi nhìn thấy, sẽ sung sướng hân hoan khi cảm nhận sự phong phú của những ân huệ được phơi bày ra cho linh hồn cũng như vẻ đẹp của những bông hoa nhân đức nở rộ nơi linh hồn. Thêm vào đó, hương thơm dịu dàng của mỗi bông hoa với nét đặc sắc riêng của nó thật khôn tả.

Linh hồn gọi đây là cả vườn tỏa ngát hương thơm, nơi câu thơ tiếp:

Với hương thơm ngào ngạt.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 17

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 17
(Phiên bản A: chương 26)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Để hiểu rõ hơn về ca khúc tiếp theo, ở đây cần lưu ý rằng những lần vắng mặt của Đấng Chí Ái mà linh hồn phải chịu ở bậc đính hôn tâm linh này khiến nó hết sức phiền muộn. Một số cảm nghiệm ấy mãnh liệt đến nỗi không sự đau đớn nào so sánh được. Lý do là vì ở bậc này, tình yêu linh hồn dành cho Thiên Chúa thật lớn lao và mạnh mẽ cho nên việc Ngài vắng mặt sẽ khiến nó bị dằn vặt thật nhiều và thật mãnh liệt. Thêm vào nỗi phiền muộn ấy, trong thời điểm này, bất cứ sự gặp gỡ trao đổi nào với các thụ tạo cũng đều khiến linh hồn hết sức bực bội. Lúc này nỗi khát khao mãnh liệt được hiệp nhất với Thiên Chúa của linh hồn như một vực thẳm không đáy, cho nên mọi quan hệ khác đều trở thành hết sức nặng nề và gây bực bội. Tựa như khối đá đang rơi càng lúc càng nhanh mà đụng phải một vật cản thì hẳn sự va chạm sẽ dữ dội biết bao. Linh hồn một khi đã nếm được hương vị dịu dàng nơi những lần Thiên Chúa viếng thăm, thì sẽ khát khao những cuộc viếng thăm này hơn mọi thứ bạc vàng và mọi vẻ đẹp (x. Tv 18/19,11). Linh hồn rất sợ đánh mất sự hiện diện quý báu dường ấy, dù chỉ đánh mất trong chốc lát, nên liền ngỏ lời với sự khô khan của mình và với thần khí của Đức Lang quân, và thốt lên ca khúc tiếp theo:

Hãy lui đi, hỡi gió Bấc chết chóc
Hãy đến, hỡi gió Nam gợi nhớ những yêu thương
Hãy thổi qua vườn ta
Với hương thơm ngào ngạt
Đấng Chí Ái sắp dùng bữa giữa muôn hoa.

+ Minh giải

2 - Bên cạnh những gì đã nói nơi ca khúc trước đây, sự khô khan tâm linh cũng là nguyên nhân ngăn cản không cho linh hồn nếm hưởng cái tinh tuý của hương vị bên trong đã nói trên. Bởi lo sợ chuyện ấy, trong ca khúc này, linh hồn thực hiện hai điều:

Thứ nhất là ngăn chận sự khô khan bằng cách đóng cửa không cho nó vào, nhờ liên tục cầu nguyện và nhiệt tình hăng hái.

Thứ hai là cầu khẩn Chúa Thánh Thần, để Ngài xua đuổi sự khô khan ấy ra khỏi linh hồn và nâng đỡ, cũng như gia tăng nơi linh hồn tình yêu mến đối với Đức Lang quân. Chúa Thánh Thần còn thúc giục linh hồn thao luyện các nhân đức từ bên trong. Tất cả là nhằm để cho Con Thiên Chúa, Đức Lang quân của linh hồn được vui thỏa và thích thú hơn, bởi lẽ tất cả tham vọng của linh hồn là làm sao để Đấng Chí Ái được hài lòng.

Hãy lui đi, hỡi gió Bấc chết chóc!

14 - Gió Bấc là một cơn gió rất lạnh làm khô héo bông hoa cây cỏ, hay ít ra cũng làm chúng co rúm khép lại khi nó chạm đến chúng. Sự khô khan tâm linh và sự vắng mặt của Đấng Chí Ái (theo như cảm nghiệm của linh hồn) cũng gây ra cho linh hồn cùng một hậu quả như thế. Nó làm khô tắt cái tinh tuý, cái ý vị và hương sắc của các nhân đức mà linh hồn đang nếm hưởng. Linh hồn gọi đây là cơn gió Bấc chết chóc, bởi lẽ, mọi nhân đức và việc thao luyện yêu mến của linh hồn đều bị dập tắt. Do đó ở đây linh hồn mới nói:

Hãy lui đi, hỡi gió Bấc chết chóc.

Nói lên điều ấy, linh hồn cho ta hiểu nó đang ra sức cầu nguyện và thao luyện tâm linh nhằm xua đuổi sự khô khan. Tuy nhiên, ở bậc này, những điều Thiên Chúa truyền thông cho linh hồn hết sức thâm sâu, dù các quan năng của nó có thao luyện đến đâu, linh hồn vẫn không thể đạt được những truyền thông ấy bằng thực tập, và do đó không thể nếm hưởng được chúng, trừ khi chính Thần Khí của Đức Lang quân đẩy linh hồn vào chuyển động tình yêu. Vì lẽ đó, linh hồn lên tiếng kêu cầu:

Hãy đến, hỡi gió Nam gợi nhớ những yêu thương.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 16 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 16 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 25)

9 - Linh hồn gọi tập hợp các nhân đức này là "trái thông" bởi nó giống như trái thông là một loại trái cứng cáp và chứa nơi mình nhiều mắt thông là những miếng cứng ôm chặt nhau. Trái thông kết lại từ các nhân đức mà linh hồn thực hiện cho Đấng Chí Ái của nó cũng là một đúc kết của sự hoàn thiện nơi linh hồn. Nó ôm ấp và chứa đựng nơi mình một cách vững chắc và trật tự nhiều sự hoàn thiện và nhân đức mạnh mẽ lẫn các ân tứ rất dồi dào. Tất cả mọi hoàn thiện và nhân đức ấy được sắp đặt tài tình tạo nên một sự hoàn thiện vững chắc cho linh hồn. Đây là sự hoàn thiện có được nhờ thao luyện các nhân đức, và khi đã hoàn thành, linh hồn liền dâng lên Đấng Chí Ái trong tinh thần yêu thương như chúng tôi vừa nói. Thế nên cần phải đuổi lũ chồn nói trên đi xa để chúng không cản trở sự thông truyền bên trong như thế giữa đôi bên.

Nơi ca khúc này Tân nương không chỉ xin khả năng kết một trái thông cho khéo mà còn cầu mong điều sau đây ở câu thơ tiếp theo:

Và đừng để ai ló mặt ở mé đồi.

10 - Để có được sự thao luyện thần linh nơi nội tâm như thế, cần phải cô tịch và xa lánh tất cả những gì có thể đang mời mọc linh hồn, hoặc từ phần hạ đẳng là phần khả giác của con người, hoặc từ phần thượng đẳng là phần lí trí. Cả hai phần bao gồm sự hòa hợp toàn bộ các quan năng và giác quan của người ta. Ở đây, linh hồn gọi sự hòa hợp này là "mé đồi", vì đây là nơi mà mọi hiểu biết và mê thích của bản tính tự nhiên trú ngụ. Bọn quỷ thường hay săn lùng và chụp lấy những mê thích và hiểu biết ấy để làm hại linh hồn.

Linh hồn nói: "Đừng để ai ló mặt ở mé đồi", nghĩa là đừng để cho biểu hiện hay hình ảnh của bất cứ thứ gì thuộc một quan năng hay một giác quan nào đã nói trước đây, xuất hiện trước linh hồn và Đức Lang quân. Như thế, dường như linh hồn muốn nói: Ước gì nơi tất cả những quan năng tâm linh của linh hồn chẳng hạn như dạ nhớ, trí hiểu và lòng muốn, đừng có bất cứ thông tin hoặc nghiêng chiều cụ thể hay bất cứ suy tư nào cả. Ước gì nơi tất cả giác quan và quan năng thể chất, cả trong lẫn ngoài, chẳng hạn nơi trí tưởng tượng, óc sáng tạo vẽ vời vv... nơi thị giác, thính giác. đừng xuất hiện những thứ viển vông, những hình thể, những hình ảnh và hình dáng, những biểu hiện của bất cứ thứ gì linh hồn có thể để ý tới, và kể cả các thứ hoạt động tự nhiên khác.

11 - Linh hồn nói lên điều ấy chính là vì, để có thể vui hưởng toàn vẹn sự thông giao với Thiên Chúa như thế, mọi giác quan và quan năng bên trong cũng như bên ngoài, đều phải thảnh thơi, trống rỗng, không vướng vào các hoạt động và đối tượng riêng của chúng. Bởi lẽ trong tình huống này, các quan năng ấy càng hoạt động càng gây cản trở. Giờ đây, một cách nào đó linh hồn đã đạt đến sự hiệp nhất bên trong của tình yêu, các quan năng tâm linh sẽ không hoạt động nữa và các quan năng thể xác lại càng ít hơn, bởi vì khi sự hiệp nhất trong yêu thương đã được thực hiện, linh hồn chuyển động theo tình yêu. Như thế các quan năng sẽ ngưng làm việc, bởi vì, khi đạt mục đích rồi thì mọi hoạt động của các phương tiện sẽ ngừng lại. Giờ đây linh hồn chỉ còn mỗi một việc là chú tâm trìu mến ở đó với Thiên Chúa, tức là liên lỉ yêu mến bằng tình yêu hiệp nhất.

"Đừng để ai ló mặt ở mé đồi", để chỉ riêng một mình lòng muốn ló mặt ở đó, chăm chú vào Đấng Chí Ái, phó mặc chính mình và mọi thứ nhân đức cho Ngài theo cách nói trên.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 16 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 16 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 25)

7 - Trong sách Diễm Ca, Tình nương có nhắc đến sự kinh hãi nói trên như sau: Linh hồn tôi rối bời vì những chiếc xe của Aminadab (x. Dc 6,12). Ở đây Aminadab ám chỉ ma quỷ, còn những cuộc tấn công vây bủa của nó được gọi là những chiếc xe bởi vì chúng rất hùng hổ và phát ra những tiếng động dữ dội ồn ào. Thế nên ở đây linh hồn mới nói: Hãy săn đuổi lũ chồn giúp chúng tôi.

Trong sách Diễm Ca, Tình nương cũng thốt lên lời van xin tương tự: Hãy bắt giúp chúng tôi lũ chồn con phá phách vườn nho, ngay giữa mùa hoa nở (x. Dc 2,15).

Nàng không nói: Hãy bắt giúp tôi, mà nói: Hãy bắt giúp chúng tôi bởi nàng đang nói về cả nàng lẫn Đấng Chí Ái, vì cả hai đã nên một và đang cùng vui hưởng hương hoa vườn nho.
Sở dĩ ở đây nàng nói: vườn nho đang nở hoa chứ không nói kết trái, là bởi vì ở đời này chúng ta chỉ có thể nếm hưởng các nhân đức, ngay cả của một linh hồn hoàn hảo như linh hồn chúng ta đang bàn, trong tình trạng bông hoa. Chỉ ở đời sau chúng ta mới được thưởng thức chúng trong tình trạng kết trái.

Và linh hồn tiếp:

Bằng bấy nhiêu hoa hồng
Ta hãy kết một trái thông.

8 - Vào lúc này linh hồn đang thưởng thức bông hoa của vườn nho ấy và được hoan lạc nơi cõi lòng Đấng Chí Ái. Và như đã nói, tất cả các nhân đức của linh hồn đã sớm lộ ra thật rõ, rồi bất chợt phơi bày cho linh hồn và mang lại cho linh hồn sự dịu dàng và hoan lạc lớn lao. Linh hồn cảm nhận các nhân đức này cả nơi chính nó lẫn nơi Thiên Chúa đến nỗi, đối với linh hồn, các nhân đức ấy như thể là một vườn nho đang nở rộ, đem lại sự dễ chịu cả cho nó và cho Thiên Chúa. Nơi đó, cả đôi bên đang say sưa thỏa thích. Bấy giờ, linh hồn kết nối tất cả các nhân đức ấy lại và thể hiện nơi mỗi một nhân đức ấy cũng như nơi toàn bộ các nhân đức những hành vi yêu thương thật ý vị. Khi đã gộp chung tất cả các nhân đức ấy, linh hồn đem dâng hết cho Đấng Chí Ái với một tình yêu hết sức dịu dàng êm ái. Chính Đấng Chí Ái giúp linh hồn trong việc ấy. Nếu không được Ngài ủng hộ, giúp đỡ, linh hồn không thể nào gom góp các nhân đức ấy lại thành món quà dâng tặng Đấng Chí Ái. Vì thế, linh hồn nói: chúng ta hãy kết một trái thông. Chúng ta, nghĩa là Đấng Chí Ái và em.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)