Không "chạy trốn vào thiền", "thất tình lên núi ở ẩn", "Sài Gòn mệt mỏi quá thì về quê nuôi cá và trồng thêm rau",... Những người kết hiệp với Thiên Chúa lại như những người dấn thân giữa đời thường.
Có chú cá con, cứ băn khoăn mãi về đại dương bao la mà mình nghe nói. Chú bơi đến hỏi mẹ: "Mẹ ơi, đại dương ở đâu vậy mẹ?" Bà mẹ mỉm cười trả lời rằng đại dương chính là nơi con đang sống, là nước con đang thở, đang bơi lội đây này, ở quanh con và ở cả trong con nữa. Nhưng có lẽ chú cá con vẫn chưa thực sự "biết" đại dương là gì cho đến khi vì một lý do nào đó chú bị sóng đánh dạt lên bờ cát khô cạn - chỉ khi cảm nhận được sự ngột ngạt, sự thiếu vắng hoàn toàn của nước, chú mới thực sự hiểu giá trị và sự hiện hữu của đại dương mà chú vốn thuộc về.
Cũng vậy, có người bắt đầu hành trình tìm kiếm Thiên Chúa, lòng đầy khao khát nhưng cũng lắm hoang mang, đến hỏi một người linh hướng: "Thưa cha, Thiên Chúa mà con nghe nói rất nhiều, Ngài là ai, Ngài ở đâu?" Câu trả lời "Ngài ở quanh con và ở trong con" là hoàn toàn đúng đắn về mặt chân lý, nhưng thường chưa đủ để mang lại một kinh nghiệm sống động. Bởi cũng như cá cần nước, chúng ta sống và hiện hữu được là nhờ Thiên Chúa, nhưng tâm trí chúng ta lại thường bị che lấp bởi bao điều khác - những nghi kị, lo toan, mong muốn nắn chỉnh và đặt điều kiện với thế giới, cám dỗ nơi thế gian - khiến chúng ta không nhận ra sự hiện diện nền tảng và yêu thương ấy.
Vai trò của người đồng hành thiêng liêng, hay của chính Giáo Hội và các phương thế ơn thánh, không chỉ là nói cho chúng ta biết Thiên Chúa ở đâu, mà còn là chỉ dẫn những con đường thực hành - thực hành sự tĩnh lặng, lắng nghe, từ bỏ những quyến luyến vào xác thịt, cái tôi hay thế gian - để giúp chúng ta dần dần vén bỏ những đám mây mù đang che phủ tâm trí, thanh luyện con tim, và có thể khám phá được Thực Tại Tối Hậu theo cách của riêng mình. Đó là cảm nghiệm về sự hiện diện sống động, yêu thương và vô cùng gần gũi của Thiên Chúa ngay trong chính cuộc đời và tâm hồn mình - một hành trình khám phá cá vị, đầy huyền nhiệm và luôn cần được nâng đỡ bởi ơn Chúa và sự trợ giúp của tha nhân. Đó chính là lời mời gọi bước vào đời sống chiêm niệm dành cho tất cả chúng ta.
----
CHIÊM NIỆM LÀ MỘT TIẾNG GỌI PHỔ QUÁT
I. MỘT TIẾNG GỌI VÔ BỜ
Khi bàn về hành trình tâm linh sâu sắc, những khái niệm như "đời sống thần bí" hay "chiêm niệm" thường vô tình dựng lên một bức tường ngăn cách, gợi lên hình ảnh về những điều cao siêu chỉ dành cho một số ít tâm hồn phi thường, những vị ẩn tu khổ hạnh hay những người được Thiên Chúa ban cho các ơn lạ đặc biệt. Trong thời đại chúng ta, không thiếu những tìm kiếm về cái huyền bí, thể hiện qua vô số sách vở hướng dẫn các phương pháp tu tập, thiền định khác nhau, và điều này dễ dẫn đến một lầm tưởng phổ biến: rằng việc kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa là một đỉnh cao vời vợi, đòi hỏi những nỗ lực phi thường hay những kỹ thuật phức tạp mà người bình thường khó lòng đạt tới.
Nhưng sự thật có thể đơn giản và gần gũi hơn ta tưởng rất nhiều. Chiêm niệm, trong bản chất sâu xa nhất, không phải là một trạng thái xuất thần hay một kỹ thuật phức tạp, mà chính là sự gặp gỡ Thực Tại - gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống một cách trực tiếp, đơn sơ và thân tình, không nhất thiết phải thông qua những hệ thống lý luận hay những hình ảnh ý niệm trung gian. Đó là sự gặp gỡ từ trái tim đến Trái Tim.
Nhiều tâm hồn sống đời sống kết hiệp sâu sắc với Chúa lại là những người hoàn toàn dấn thân giữa đời thường, giữa những trách nhiệm gia đình, công việc và xã hội. Điều làm nên chiều sâu tâm linh của họ không phải là những trải nghiệm lạ lùng hay sự xa lánh thế sự, mà chính là tình yêu lớn lao họ dành cho Thiên Chúa - một tình yêu trở thành trung tâm và nguồn mạch cho toàn bộ cuộc sống, biến mọi hoạt động thường ngày thành lời cầu nguyện và hành vi phụng sự. Không phải "chạy trốn vào thiền" hay "thất tình thì lên núi ẩn dật", không phải "Sài Gòn mệt mỏi quá thì về quê nuôi cá và trồng thêm rau" - mà là ở lại giữa dòng đời, với một trái tim đã được định hướng về một nơi duy nhất.
Thiên Chúa không ở đâu xa xôi trên trời cao hay trong những nơi thánh thiêng biệt lập. Ngài ở ngay trong tâm hồn chúng ta, gần gũi hơn cả chính chúng ta gần mình. Ngài luôn hiện diện và khao khát được gặp gỡ thân tình với mỗi người, không phân biệt người tội lỗi hay thánh thiện, người học thức hay bình dân. Việc của chúng ta, có lẽ, chỉ là bắt đầu hành trình quay về chính ngôi đền thờ là thân tâm mình, tập lắng nghe những thúc đẩy nhẹ nhàng của Thánh Thần, và khám phá ra rằng rất có thể Thiên Chúa đang mời gọi chính chúng ta bước vào một đời sống kết hiệp mật thiết hơn với Ngài - một đời sống có chiều sâu chiêm niệm ngay giữa lòng cuộc sống thường nhật.
II. PHÂN ĐỊNH: ĐÂU LÀ CHIÊM NIỆM ĐÍCH THỰC?
Để bước đi trên con đường nội tâm này cách vững vàng, điều quan trọng là cần phân biệt rõ ràng giữa chiêm niệm Kitô giáo đích thực với những hình thức huyền bí giả tạo hay những tìm kiếm lệch lạc khác.
Đời sống chiêm niệm đích thực không phải là sự theo đuổi những hiện tượng phi thường, những trạng thái tâm lý đặc biệt hay những cảm giác mạnh mẽ mà tinh thần thế gian thường chiêu dụ. Nó không phải là sản phẩm của những phong trào mang màu sắc huyền bí cực đoan có thể làm người ta mê muội, mất kết nối với thực tại cuộc sống và trách nhiệm thường ngày. Nó cũng hoàn toàn khác biệt với những trạng thái thoát ly thực tại có được nhờ các kỹ thuật tâm lý đơn thuần nhằm tìm kiếm sự dễ chịu tạm thời. Ngược lại, chiêm niệm Kitô giáo giống như một cuộc "đi sâu vào" - đi sâu vào chính trung tâm của hữu thể, can đảm đối diện với sự thật về bản thân, cả ánh sáng lẫn bóng tối, cả niềm vui lẫn khổ đau, dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Những tâm hồn chiêm niệm đích thực, như kinh nghiệm của Giáo Hội cho thấy, thường là những con người mạnh mẽ, đầy sức sống, rõ biết chính mình, bén nhạy với nỗi đau của tha nhân, và luôn được thúc đẩy bởi một tình yêu say mê đối với Thiên Chúa và công cuộc cứu độ của Ngài ở trần gian.
Người sống đời chiêm niệm đích thực không tìm kiếm những điều lạ lùng, phi thường như là mục đích - họ tìm kiếm chính Thiên Chúa mà thôi. Đôi khi, Thiên Chúa có thể ban cho một số tâm hồn những ơn đặc biệt như ơn nói lạ, ơn xuất thần hay ơn thấy thị kiến. Tuy nhiên, đây là những hồng ân ngoại thường, không phải là dấu hiệu tất yếu hay mục đích của đời sống chiêm niệm. Chính các vị thánh đã lãnh nhận những ơn này cũng luôn cảnh báo đừng bao giờ chủ tâm tìm kiếm hay bám víu vào những sự an ủi thiêng liêng hay những hiện tượng lạ lùng đó, vì chúng có thể trở thành cám dỗ của sự tự mãn và lệch lạc. Lời mời gọi căn bản luôn là: tìm kiếm Thiên Chúa, Đấng ban mọi niềm an ủi - chứ không phải chỉ tìm kiếm những niềm an ủi chóng qua của Thiên Chúa.
Vậy làm sao để nhận biết một đời sống chiêm niệm đích thực? Dấu chỉ không nằm ở những hiện tượng bên ngoài, mà ở những hoa trái nội tâm được sinh ra từ sự kết hiệp với Chúa. Đó là một niềm vui sâu lắng, bền vững, không phụ thuộc vào hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn bên ngoài. Đó là một sự kiên nhẫn phi thường trước nghịch cảnh và sự yếu đuối của bản thân cũng như tha nhân. Đó là một lòng tín thác ngày càng lớn mạnh vào tình yêu và sự quan phòng của Chúa trong mọi biến cố. Và trên hết, đó là một sự bình an sâu thẳm mà thế gian không thể ban tặng cũng không thể lấy mất đi. Đây mới là những dấu chỉ đáng tin cậy của một tâm hồn đang thực sự tiến bước trên con đường kết hiệp với Thiên Chúa.
III. CHIÊM NIỆM
Chiêm niệm trước hết là một cách hiện hữu. Đó là giữ một cái nhìn đúng đắn, trong sáng và kéo dài hướng về Thiên Chúa, đồng thời nhìn thẳng vào tình trạng thực của bản thân, của người chung quanh và thế giới. Đây là cái nhìn vượt lên trên mọi sự phán xét, bao biện hay phân tích - một cái nhìn thuần túy từ con tim, nơi "người nhìn" tan biến để chỉ còn lại sự thật. Hành vi này bóc tách mọi chiếc mặt nạ, con người hiện diện trước Thiên Chúa mà không có nỗ lực trang điểm hay che đậy. Đó không phải là một ý niệm chung chung và mơ hồ về Thiên Chúa, mà là một sự tiếp xúc trực tiếp, cá vị, giống như kinh nghiệm của Mô-sê khi gặp gỡ Thiên Chúa mặt giáp mặt.
Cái biết trong chiêm niệm không vay mượn từ lý trí hay những mẩu thông tin tích trữ, mà khởi phát từ một trực giác thâm sâu. Giống như người mẹ nhận diện đứa con qua mối liên đới máu thịt, người chiêm niệm chạm thấu Thiên Chúa bằng trái tim. Cốt lõi của cái biết này chính là sự hiệp thông - nơi khoảng cách giữa người biết và Đấng được biết bị xóa nhòa. Nếu trong tri thức lý trí, ta đứng bên ngoài để quan sát Chúa như thể quan sát một đối tượng, thì trong chiêm niệm, ta ở trong Ngài và Ngài ở trong ta. Đó là sự tương giao nảy sinh từ việc "ở cùng" nhau chứ không phải từ việc "học về" nhau. Đây là một thực tại hiện sinh không thể mổ xẻ trọn vẹn, bởi bản chất của nó là sự cảm nếm, tôi nhìn Chúa, và Chúa nhìn tôi. Khi tâm hồn dần buông bỏ những quyến luyến, ta thôi nỗ lực uốn nắn mình cho trở nên "yên" hay "tốt", mà chỉ đơn giản là hiện diện trong chân lý sống động của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Chiêm niệm bắt đầu từlòng can đảm để thấy mình đúng như mình là - thấy mình như Chúa thấy - ghi nhận đầy đủ cả ánh sáng lẫn bóng tối, cả điểm mạnh lẫn những vụng về. Để Thấy, ta cần biết dừng lại. Dừng lại không có nghĩa là chủ động ép buộc tâm trí ngừng hoạt động, mà là không có những nỗ lực can thiệp chủ quan. Thay vì cố gắng dập tắt những cảm xúc (khó chịu lẫn dễ chịu), chối bỏ nhu cầu, nắn sửa các ý nghĩ,... một cách bạo động, ta chỉ cần ghi nhận sự có mặt của chúng. Khi thấy mình đang xao động, hãy cứ để cái xao động đó hiện diện và nhìn ngắm nó với sự an tâm và hiền hậu. Mọi nỗ lực muốn nắn chỉnh trạng thái nội tâm cho ngăn nắp, thực chất chỉ là một lớp tự vệ mới được chồng lên trên những gì đang phơi bày. Ngay cả sự dối trá đang trình hiện cũng chính là sự thật, và việc nỗ lực phủ định sự có mặt của điều giả trá ấy chính là đang chống lại sự thật. Khi ta thấy mình đang tự vệ và cố gắng sửa cái tự vệ đó, ta chỉ đang khoác thêm một lớp mặt nạ tinh vi hơn mà thôi. Hãy tập buông bỏ mọi mong muốn và ý định kiểm soát, hãy nghỉ ngơi thực sự trong tay Thiên Chúa. Giả như, một người thợ lặn thả mình vào lòng đại dương - với sự tin tưởng, nương tựa, để mình được biển sâu âu yếm; thì khi chiêm niệm ta không phải gồng nữa, mà dành sự tin - cậy - mến trọn vẹn vào nền tảng vững chãi chính là biển cả là Thiên Chúa. Nếu bị chia trí, đừng nản lòng và cũng đừng cố gắng đấu tranh để tiêu diệt sự chia trí đó. Chỉ cần nhẹ nhàng nhận diện rằng mình đang chia trí, thì chính cái thấy đó đã là chú tâm, chân thành và chiêm niệm rồi. Ta có thể sử dụng một vài lời nguyện vắn tắt như điểm neo để bắt đầu lại, nhưng hãy thốt lên những lời ấy một cách tự nhiên như trẻ nhỏ.
Chúng ta không đời nào có thể coi chiêm niệm như một thành tích cá nhân, vì đó là ơn thánh đang hoạt động chứ không phải sản phẩm của nỗ lực tự thân. Người chiêm niệm không nói nhiều, họ chỉ có mặt để Thiên Chúa lên tiếng. Chìa khóa là sự kiên trì dành thời gian cho thinh lặng mỗi ngày. Đừng bắt đầu bằng việc tìm kiếm kết quả, đừng săn đuổi những cảm xúc tích cực hay trải nghiệm bình an chóng qua.
Đời sống chiêm niệm là một hồng ân Thiên Chúa mà hễ là con người, ta vốn cần học cách nhìn ra và đón nhận. Nó không phải là phương tiện để mang lại cho ta bất cứ điều gì nơi thế gian này, mà là cách ta trở về với bản vị thật của mình. Mọi sự tùy thuộc vào việc ta có đủ khiêm tốn để giữ cho con tim và ánh mắt của mình luôn trung thực hay không - trung thực ngay cả khi đối diện với những gì ta muốn che giấu nhất!
Khi ta chấp nhận đứng vững trong sự thật về mình dù đang ổn hay không yên, đó là lúc mối tương quan thân tình với Thiên Chúa Ba Ngôi thực sự bắt đầu. Bởi vì Thiên Chúa không đòi gặp ta ở nơi ta hoàn hảo, Ngài thường gặp ta nơi những gì chân thật nhất của hiện hữu.
Bất kể bạn là ai, đang bán hàng rong hay làm quản lý, là người khuyết tật hay một model, còn chất chứa khổ tâm hay đã quân bình,... Sống như một nhà thần bí không phải là trở thành một người đặc biệt hoặc sở hữu những năng lực siêu nhiên. Đó là tiếng gọi dành cho tất cả mọi người: học lại cách thấy cũng như kết hiệp với Thiên Chúa.










