Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Tiếng-Vô-Biên

 


Tiếng gì trí chẳng nghe ra,
Lòng không rung cảm, chỉ là lặng yên.
Tiếng gì như Tiếng-Vô-Biên.


Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 20 và 21 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 20 và 21 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 29 và 30)

7 - Đức Lang quân lên tiếng, kêu gọi bầy sư tử, tức là Ngài kềm chế những xung lực và những thái quá của sự nóng giận. Ngài lên tiếng kêu gọi lũ hươu nai tức là Ngài tăng sức cho ái dục để vượt thắng những sợ hãi và hèn nhát trước kia thường khiến linh hồn thu mình lại. Ngài lên tiếng kêu gọi lũ hoẵng đang nhảy nhót tức là đáp ứng thỏa đáng và dẹp yên các ước muốn và mê thích trước đây thường bồn chồn như bầy hoẵng nhảy nhót từ chỗ này sang chỗ nọ tìm cách thỏa mãn ái dục. Ái dục này giờ đây được thỏa mãn nhờ những khúc nhạc thất huyền cầm du dương đem lại niềm vui và nhờ khúc hát của bầy nhân ngư đem lại sự hoan lạc.

Cần lưu ý ở đây Đức Lang quân không lên tiếng kêu gọi nộ dục và ái dục ngừng lại bởi lẽ chúng là những năng lực không bao giờ thiếu vắng nơi linh hồn. Ngài chỉ lên tiếng kêu gọi những rối loạn và những hành vi vô trật tự của chúng, mà ở đây gọi là sư tử, hươu nai và hoẵng nhảy nhót phải ngừng lại, bởi vì ở bậc linh phối này những xung động ấy buộc phải ngưng hoạt động.

Này những núi, đồi, thung lũng và bờ sông.

8 - Ba tên gọi này ám chỉ những hành vi sai quấy và vô trật tự nơi ba quan năng của linh hồn là: Dạ nhớ, trí hiểu và lòng muốn. Những hành vi này sở dĩ sai quấy và vô trật tự là vì hoặc chúng vói cao quá đáng hoặc chúng hạ thấp quá đáng, hoặc khi chúng không rơi vào hai thái cực ấy nhưng nghiêng chiều về một trong hai. Những ngọn núi thường rất cao, ám chỉ những hành vi quá đáng và vô trật tự quá mức. Những thung lũng thường lại quá thấp, ám chỉ những hành vi không đạt được mức tối thiểu cần có của ba quan năng nói trên. Còn những bờ sông thường không cao lắm cũng không thấp lắm mà chỉ ngang ngang nên một phần nào đó có dính dự vào cả hai cực cao thấp, chúng ám chỉ những hành vi của các quan năng trên lúc thì vượt quá lúc thì không đạt được mức trung dung đúng đắn. Dù những hành vi này không vô trật tự quá mức, cho nên không đưa đến tội trọng, nhưng dù sao vẫn là vô trật tự cho nên có thể gây ra tội nhẹ hoặc gây ra một bất toàn, dù hết sức nhỏ bé, nơi trí hiểu, dạ nhớ và lòng muốn.

Cũng bằng những khúc thất huyền cầm du dương và tiếng hát của nhân ngư nói trên, Đức Lang quân truyền bảo tất cả các hành động vượt mức trung dung trên đây phải dừng lại. Những khúc thất huyền cầm và những bài ca ấy đưa ba quan năng của linh hồn đặt vào đúng vị trí chính xác để chúng chu toàn hoạt động riêng của chúng thật xác đáng, không rơi vào chỗ thái quá, cả trong những chi tiết nhỏ cũng thế. Tiếp theo là những câu thơ còn lại:

Nước, khí và sức nóng
và hỡi những nỗi sợ của bao đêm không ngủ.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 20 và 21 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 20 và 21 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 29 và 30)

+ Minh giải

4 - Nơi hai ca khúc này, Đức Lang quân Con Thiên Chúa đưa Tân nương linh hồn đến chỗ chiếm hữu sự bình an và thanh tịnh, đến chỗ hòa hợp phần hạ đẳng và phần thượng đẳng, bằng cách gột rửa nó sạch mọi bất toàn và đặt các quan năng cũng như những lý lẽ tự nhiên dưới sự kiểm soát của lý trí, và dẹp yên mọi mê thích khác. Vậy ý nghĩa hai ca khúc này như sau:

Trước tiên, Đức Lang quân lên tiếng kêu gọi và truyền lệnh cho óc sáng tạo vẽ vời và trí tưởng tượng từ nay phải chấm dứt những chuyện đi lang thang vô ích. Đồng thời Ngài cũng đặt hai tiềm năng tự nhiên là nộ dục và ái dục dưới quyền kiểm soát của lý trí. Hai tiềm năng này trước đây từng gây nhức nhối cho linh hồn. Còn ba quan năng của linh hồn là dạ nhớ, trí hiểu và lòng muốn cũng được Ngài kiện toàn tới mức tối đa mà chúng có thể đạt được ở trần gian này, để hướng chúng về đúng đối tượng của chúng.

Ngoài những điều đó, Ngài còn lên tiếng kêu gọi và truyền lệnh cho bốn xúc cảm của linh hồn là vui mừng, hy vọng, đau buồn và sợ hãi, từ nay phải giảm bớt và phải nằm dưới sự kiểm soát của lý trí.

Tất cả những điều đó được ám chỉ nơi tất cả những gì được nhắc đến trong ca khúc thứ nhất. Đức Lang quân chận đứng những hoạt động và xung động đã từng quấy nhiễu linh hồn. Ngài thực hiện điều đó nhờ niềm hoan lạc vô biên, sự êm đềm và sức mạnh mà linh hồn có được khi Thiên Chúa đích thân thông truyền và trao phó chính mình Ngài cho nó vào lúc ấy. Khi thông ban như thế, Thiên Chúa quyết liệt biến đổi linh hồn thành chính mình Ngài, cho nên mọi tiềm năng, mê thích và xung động của linh hồn đều mất hẳn sự bất toàn tự nhiên của chúng và được biến đổi để thuộc về Thiên Chúa. Do đó, linh hồn nói:

Này lũ chim bay nhẹ.

5 - Đức Lang quân gọi những sự lang thang của trí tưởng tượng là lũ chim bay nhẹ, khác nào những hình ảnh chia trí ấy vờn bay thật nhẹ nhàng và tinh tế từ chỗ này sang chỗ khác. Khi lòng muốn lặng lẽ vui hưởng sự thông truyền êm đềm của Đấng Chí Ái, lũ chim ấy thường làm cho nó bực bội và mất hứng thú vì những tiếng vỗ cánh bay nhè nhẹ. Đức Lang quân nói rằng Ngài dùng những khúc nhạc thất huyền cầm du dương để kêu gọi những con chim vỗ cánh nhẹ ấy ngưng đi, v.v... nghĩa là bằng sự êm đềm hoan lạc của linh hồn lúc này đang quá dồi dào và thường xuyên đến nỗi những lo ra chia trí sẽ không thể ngăn cản linh hồn như trước nữa. Giờ đây linh hồn đã lên quá cao đến nỗi những vỗ cánh âu lo, những vận chuyển, những thái quá của các chia trí ấy phải bỏ cuộc không theo nổi.

Cũng phải hiểu như thế về những phần sắp minh giải, chẳng hạn:

Này những sư tử, hươu nai và hoẵng đang nhảy nhót.

6 - Những sư tử ám chỉ những sự gay gắt và dữ tợn của nộ dục bởi lẽ các hành vi của quan năng này thường tàn bạo và liều lĩnh giống như loài sư tử.

Còn lũ hươu nai và lũ hoẵng nhảy nhót ám chỉ một quan năng khác của linh hồn là ái dục, quan năng tạo mê thích. Quan năng này tạo ra hai thứ hậu quả: một bên là hèn nhát còn bên kia lại là liều lĩnh. Có thể diễn tả những hậu quả mang tính hèn nhát phát sinh từ quan năng này như sau: khi các sự việc xảy ra không được thuận lợi cho nó, nó liền rút lui, thu mình lại và trở nên nhát đảm. Quan năng này được ví như loài hươu nai, bởi vì loài hươu nai có ái dục mạnh hơn nhiều loài thú khác khiến chúng rất nhút nhát và dễ thu mình lại. Còn những hậu quả liều lĩnh phát sinh có thể được diễn tả như sau: khi các sự việc xảy ra thuận lợi cho nó, nó không thu mình lại hoặc tỏ ra nhút nhát nhưng lại mạnh dạn háo hức tiếp nhận cho thỏa các ước muốn và nghiêng chiều ấy. Do những nghiêng chiều liều lĩnh ấy, quan năng này còn được ví như loài hoẵng. Loài hoẵng có dục vọng hết sức mạnh, đã ham muốn thì không chỉ chạy theo mà còn nhảy bổ vào. Do đó, ở đây mới bảo là chúng đang nhảy nhót.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 20 và 21

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 20 và 21
(Phiên bản A: chương 29 và 30)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Để đạt tới tình trạng hoàn thiện cao vời mà ở đây linh hồn nhắm đến tức cuộc linh phối, chẳng những linh hồn phải gột sạch, phải thanh luyện mọi bất toàn, nổi loạn và thói quen xấu của phần hạ đẳng bằng cách lột bỏ con người cũ, bắt nó qui hàng và tùng phục phần thượng đẳng, mà hơn nữa, còn phải có được một sức mạnh lớn lao và một tình yêu siêu vời đáp lại vòng tay siết chặt và mạnh đến thế của Thiên Chúa. Bởi vì trong tình trạng linh phối này, linh hồn không những đạt được một sự tinh tuyền và đẹp đẽ rất đỗi cao vời mà còn thêm cả một sức mạnh khủng khiếp từ mối dây thâm tình và mạnh mẽ có được do sự hiệp nhất giữa Thiên Chúa và linh hồn.

2 - Vì thế, để đến với Thiên Chúa, linh hồn cần phải đạt đến sự tinh tuyền, mạnh mẽ và yêu thương thích đáng. Để được như vậy, Chúa Thánh Thần, đấng can thiệp và tác thành sự kết nối tâm linh này, cũng mong muốn linh hồn chiếm hữu được những phẩm chất trên hầu xứng đáng với sự hiệp nhất ấy. Vì thế, trong sách Diễm Ca, ngỏ lời với Ngôi Cha và Ngôi Con, Thánh Thần nói:

Em gái ta còn bé, ngực em chưa nở
Ta sẽ làm gì cho em
ngày người ta nói đến chuyện duyên tình của em?
Nếu em là bức tường thành,
ta sẽ xây lên đó một vọng lâu bằng bạc.
Nếu em là cổng thành,
ta sẽ lắp then cài bằng gỗ bá hương (Dc 8,8 - 9).

Ở đây vọng lâu bằng bạc ám chỉ các nhân đức mạnh mẽ và anh hùng được dát bằng chất bạc đức tin. Các nhân đức anh hùng này là các nhân đức dành cho cuộc linh phối, trên một linh hồn mạnh mẽ mà ở đây được gọi là bức tường. Đức Lang quân hiền hòa nghỉ ngơi nơi các nhân đức mạnh mẽ ấy chẳng hề bị một chút yếu nhược nào quấy rầy. Còn then cài bằng gỗ bá hương ở đây ám chỉ những tình cảm và những biểu hiện của thứ tình yêu cao vời. Thứ tình yêu cao vời này được tượng trưng bằng bá hương và đó là thứ tình yêu của cuộc linh phối.

Để trang điểm cho mình bằng bá hương, Tân nương phải là "cửa" cho Đức Lang quân bước vào, nghĩa là, nàng phải giữ cho cửa của lòng muốn luôn mở rộng để thốt lên tiếng thưa vâng toàn vẹn và thực sự của tình yêu. Đây chính là sự ưng thuận khi đính ước, được trao tặng trước cuộc linh phối. "Bộ ngực" của Tân nương cũng ám chỉ thứ tình yêu hoàn hảo nàng cần phải có để ra trước Đức Lang quân là Chúa Kitô khi cuộc linh phối được hoàn hợp.

3 - Bản văn nói tiếp rằng ngay lập tức Tân nương đã đáp lời và bày tỏ niềm khát vọng được ra đi gặp Đấng Chí Ái của nàng như sau:

Em đây là bức tường thành
Và ngực em như những tháp canh (Dc 8,10).

Như thể nàng nói: Linh hồn em mạnh mẽ và tình yêu em cao vời, vì thế xin chớ bỏ em lại. Tân nương linh hồn khao khát được hiệp nhất và được biến đổi trọn vẹn cho nên nơi những ca khúc trước và nhất là nơi ca khúc chúng ta vừa mới minh giải, nàng đã bày tỏ điều ấy, trong đó, để tăng sức ép nài, nàng đã trình lên trước Đức Lang quân những nhân đức và những sự chuẩn bị phong phú mà nàng đã nhận được từ Ngài. Do đó, để vấn đề này được giải quyết rốt ráo, Đức Lang quân nói lên hai ca khúc tiếp theo đây, qua đó, Ngài hoàn tất sự thanh tẩy cho linh hồn và làm cho nó mạnh mẽ sẵn sàng cả nơi phần khả giác lẫn phần tâm linh. Để giúp bước vào tình trạng này, Ngài lên tiếng chống lại mọi sự đối nghịch và nổi loạn của phần cảm giác cũng như của ma quỷ.

Này lũ chim bay nhẹ
Này những sư tử, hươu nai và hoẵng đang nhảy nhót
Này những núi, đồi, thung lũng và bờ sông
Nước, khí và sức nóng
Và hỡi những nỗi sợ của bao đêm không ngủ.

Bằng những khúc nhạc thất huyền cầm du dương
Và bằng tiếng hát nhân ngư, ta kêu gọi các ngươi
Hãy dừng những cơn cuồng nộ
Đừng động đến bức tường
Để Tân nương được thêm yên giấc

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 19 (tiếp theo)

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 19 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 32)

3 - "Khuôn mặt" của Thiên Chúa chính là thần tính. Những mé đồi ám chỉ các quan năng của linh hồn gồm dạ nhớ, trí hiểu và lòng muốn. Như thế, linh hồn như thể nói: Xin đổ đầy thần tính Người vào trí hiểu em bằng cách ban cho nó những hiểu biết của Thiên Chúa, đổ đầy thần tính vào lòng muốn của em bằng cách trao ban và thông truyền cho nó tình yêu của Thiên Chúa, đổ đầy thần tính vào dạ nhớ của em bằng cách cho nó chiếm hữu niềm vinh quang như Thiên Chúa.

Xin như thế là linh hồn đã xin tất cả những gì nó có thể xin. Thật vậy, linh hồn không còn hài lòng với một sự nhận biết và thông truyền về Thiên Chúa từ phía sau lưng như Ngài từng thực hiện cho Môsê (x. Xh 33,23), cho ông được nhận biết Ngài qua những hiệu quả và các công việc Ngài làm. Linh hồn xin cho được nhìn thấy khuôn mặt Thiên Chúa, nghĩa là được Ngài thông ban cho biết thần tính Ngài tận trong yếu tính chứ không qua một trung gian nào cả, tức là chính linh hồn được tiếp xúc với thần tính cách thật chắc chắn. Một sự tiếp xúc như thế hoàn toàn xa lạ với mọi giác quan và mọi yếu tố phụ thuộc vì đây là sự đụng chạm giữa hai bản thể không che đậy, giữa bản thể linh hồn và bản thể Thiên Chúa. Vì thế, linh hồn nói tiếp:

Và đừng nỡ nói ra điều ấy.

4 - Nghĩa là: xin Người đừng nói ra như trước đây. Trước đây, khi thông truyền cho em, Người đã nói với các giác quan bên ngoài bởi đó không phải là những điều quá cao vời sâu thẳm đến nỗi phần giác quan không thể đạt tới được. Còn giờ đây những điều em xin thông truyền quả là quá cao vời, thiết yếu và nội tâm nên xin Người đừng nói gì cả với các giác quan ấy, chúng không thể biết được đâu. Thật vậy, bản thể của tâm linh không thể nào thông truyền được cho giác quan và tất cả những gì thông truyền được cho giác quan, nhất là nơi cõi đời này, đều không thể là thuần tâm linh vì giác quan không sao lãnh hội được những điều ấy.

Như thế, ở đây linh hồn mong ước rằng khi Thiên Chúa đã thông truyền tận trong bản thể và trong yếu tính như thế thì đừng để sự thông truyền ấy rơi vào giác quan. Nó xin Đức Lang quân "đừng nỡ nói" ra, nghĩa là: xin đừng để cho giác quan đoán được và tiết lộ nơi thâm sâu kín ẩn của cuộc hiệp nhất tâm linh ấy. Nơi ấy phải được giữ bí mật như những bí mật thánh Phaolô đã nghe và người phàm không được phép nói đến (x. 2Cr 12,4).

Nhưng hãy nhìn đám bạn đồng hành.

5 - Thiên Chúa nhìn có nghĩa là Thiên Chúa yêu thương và ban ân huệ. Những bạn đồng hành mà ở đây linh hồn xin Thiên Chúa nhìn đến chính là vô số những nhân đức, những ân huệ, những điều tốt lành và phong phú tâm linh khác mà Ngài đã đặt vào linh hồn làm của hồi môn, bảo chứng và sính lễ của ngày lễ đính hôn. Cũng có nghĩa là, linh hồn như muốn nói: Hỡi Đấng Chí Ái, trước hết xin hãy quay vào chốn nội tâm của linh hồn em, hãy đắm say toàn bộ những giàu sang châu báu Người đã đặt vào đó, để một khi Người đắm say linh hồn em ở nơi những báu vật ấy, Người sẽ ẩn thân và lưu lại ở đó. Bởi vì quả thật, mặc dù chúng là của Người nhưng Người đã ban tặng cho em nên chúng cũng là

Của cô nàng đang đi qua những đảo kỳ lạ.

6 - Nghĩa là của linh hồn em. Nó đang đi đến với Người bằng những nhận thức kỳ lạ về Người, bằng những cách thức và những con đường kỳ bí và xa lạ đối với mọi giác quan và hiểu biết thông thường tự nhiên. Dường như linh hồn muốn ép buộc Đức Lang quân khi ngỏ với Ngài rằng: Này hồn em đã đến với Người bằng những nhận thức tâm linh kỳ bí và xa lạ đối với các giác quan, thì xin Người hãy thông ban chính Người cho nó ở cấp độ thật thâm sâu và cao diệu, xa lạ hẳn với tất cả các giác quan ấy.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 19

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 19
(Phiên bản A: chương 32)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Trong tình trạng nói đây, linh hồn trở nên hết sức thù nghịch với phần hạ đẳng và những hoạt động của phần này đến nỗi không muốn Thiên Chúa thông truyền cho phần này bất cứ điều tốt lành tâm linh nào mà Ngài đã thông truyền cho phần thượng đẳng. Do tính tự nhiên yếu đuối mỏng dòn, phần hạ đẳng không thể chịu đựng nổi sự thông truyền tâm linh phong phú ấy mà không bị ngất đi. Rồi vì thế, phần tâm linh sẽ phải đau khổ và phiền muộn, không thể nếm hưởng sự thông truyền của Thiên Chúa cách bình an. Đúng như lời nhà Hiền Triết nói: Quả vậy, thân xác dễ hư nát này quả là một gánh nặng cho linh hồn (x. Kn 9,15). Linh hồn khát khao những sự thông truyền cao vời và tuyệt hảo của Thiên Chúa, thế nhưng vì không thể nhận lãnh chúng bằng cách toa rập với phần khả giác, nên linh hồn ước gì Thiên Chúa ban cho nó những sự thông truyền ấy mà đừng có phần khả giác can dự vào.

Thánh Phaolô khi kể lại thị kiến cao vời ở tầng trời thứ ba, nơi Ngài được nhìn ngắm Thiên Chúa, đã nói rằng ngài không biết mình lãnh nhận thị kiến ấy trong thân xác hay ngoài thân xác (x. 2 Cr 12,2). Tuy nhiên, dù trong hay ngoài thân xác vẫn không có sự can dự của thân xác; bởi vì, nếu thân xác có dự phần, hẳn là thánh Phaolô phải biết, và lúc đó thị kiến ấy sẽ không còn cao vời đến nỗi Thánh nhân phải nói rằng ngài đã nghe được những lời bí mật mà người phàm không được phép thốt lên (x. 2 Cr 12,4). Vì thế, khi biết không thể nhận lãnh những hồng ân cao cả đến thế trong cái bình chật hẹp như vậy, linh hồn ao ước Đức Lang quân sẽ ban những ơn ấy cho nó bên ngoài thân xác hay ít ra đừng có sự can dự của thân xác. Linh hồn ngỏ lời xin Đức Lang quân điều ấy nơi ca khúc sau đây:

Hãy ẩn mình đi, hỡi Bạn Yêu,
Và quay mặt nhìn lên mé đồi
Và đừng nỡ nói ra điều ấy
Nhưng hãy nhìn đám bạn đồng hành
Của cô nàng đang đi qua những đảo kỳ lạ.

+ Minh giải

2 - Nơi ca khúc này, Tân nương linh hồn cầu xin Đức Lang quân bốn điều:

- Thứ nhất, xin Ngài đoái thương thông ban chính Ngài cho linh hồn cách thật sâu xa, tận nơi sâu kín nhất của linh hồn.

- Thứ hai, xin Ngài đổ đầy và uốn nắn các quan năng của linh hồn bằng vinh quang và những sự tuyệt hảo của thần tính Ngài.

- Thứ ba, xin sao cho sự thông truyền ấy luôn hết sức cao vời và sâu thẳm đến nỗi không ai biết được nên cũng chẳng ai buồn nói đến, đồng thời, phần bên ngoài, tức phần khả giác cũng không thể nào nhận lãnh được.

- Thứ tư là xin Đức Lang quân hãy say mê những nhân đức và ân sủng Ngài đã phú ban cho linh hồn thật dồi dào. Các nhân đức và ân sủng này sẽ tháp tùng linh hồn vươn lên tới Thiên Chúa nhờ những nhận thức hết sức cao vời về thần tính cũng như nhờ tình yêu hết sức kỳ diệu và phi thường so với những gì người ta thường thấy. Và như thế, linh hồn nói:

Hãy ẩn mình đi, hỡi Bạn Yêu.

3 - Linh hồn như thể nói: Này Lang quân yêu dấu của em ơi, hãy ẩn mình nơi thâm sâu nhất linh hồn em, xin hãy thông ban chính Người cho linh hồn em một cách hết sức thầm kín. Xin hãy tỏ cho nó thấy những điều kì diệu ẩn giấu của Người, những điều xa lạ đối với mọi con mắt người phàm.

Và xin quay mặt nhìn lên mé đồi.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Chiêm niệm là một tiếng gọi phổ quát





Không "chạy trốn vào thiền", "thất tình lên núi ở ẩn", "Sài Gòn mệt mỏi quá thì về quê nuôi cá và trồng thêm rau",... Những người kết hiệp với Thiên Chúa lại như những người dấn thân giữa đời thường.

Có chú cá con, cứ băn khoăn mãi về đại dương bao la mà mình nghe nói. Chú bơi đến hỏi mẹ: "Mẹ ơi, đại dương ở đâu vậy mẹ?" Bà mẹ mỉm cười trả lời rằng đại dương chính là nơi con đang sống, là nước con đang thở, đang bơi lội đây này, ở quanh con và ở cả trong con nữa. Nhưng có lẽ chú cá con vẫn chưa thực sự "biết" đại dương là gì cho đến khi vì một lý do nào đó chú bị sóng đánh dạt lên bờ cát khô cạn - chỉ khi cảm nhận được sự ngột ngạt, sự thiếu vắng hoàn toàn của nước, chú mới thực sự hiểu giá trị và sự hiện hữu của đại dương mà chú vốn thuộc về.

Cũng vậy, có người bắt đầu hành trình tìm kiếm Thiên Chúa, lòng đầy khao khát nhưng cũng lắm hoang mang, đến hỏi một người linh hướng: "Thưa cha, Thiên Chúa mà con nghe nói rất nhiều, Ngài là ai, Ngài ở đâu?" Câu trả lời "Ngài ở quanh con và ở trong con" là hoàn toàn đúng đắn về mặt chân lý, nhưng thường chưa đủ để mang lại một kinh nghiệm sống động. Bởi cũng như cá cần nước, chúng ta sống và hiện hữu được là nhờ Thiên Chúa, nhưng tâm trí chúng ta lại thường bị che lấp bởi bao điều khác - những nghi kị, lo toan, mong muốn nắn chỉnh và đặt điều kiện với thế giới, cám dỗ nơi thế gian - khiến chúng ta không nhận ra sự hiện diện nền tảng và yêu thương ấy.

Vai trò của người đồng hành thiêng liêng, hay của chính Giáo Hội và các phương thế ơn thánh, không chỉ là nói cho chúng ta biết Thiên Chúa ở đâu, mà còn là chỉ dẫn những con đường thực hành - thực hành sự tĩnh lặng, lắng nghe, từ bỏ những quyến luyến vào xác thịt, cái tôi hay thế gian - để giúp chúng ta dần dần vén bỏ những đám mây mù đang che phủ tâm trí, thanh luyện con tim, và có thể khám phá được Thực Tại Tối Hậu theo cách của riêng mình. Đó là cảm nghiệm về sự hiện diện sống động, yêu thương và vô cùng gần gũi của Thiên Chúa ngay trong chính cuộc đời và tâm hồn mình - một hành trình khám phá cá vị, đầy huyền nhiệm và luôn cần được nâng đỡ bởi ơn Chúa và sự trợ giúp của tha nhân. Đó chính là lời mời gọi bước vào đời sống chiêm niệm dành cho tất cả chúng ta.

----

CHIÊM NIỆM LÀ MỘT TIẾNG GỌI PHỔ QUÁT

I. MỘT TIẾNG GỌI VÔ BỜ

Khi bàn về hành trình tâm linh sâu sắc, những khái niệm như "đời sống thần bí" hay "chiêm niệm" thường vô tình dựng lên một bức tường ngăn cách, gợi lên hình ảnh về những điều cao siêu chỉ dành cho một số ít tâm hồn phi thường, những vị ẩn tu khổ hạnh hay những người được Thiên Chúa ban cho các ơn lạ đặc biệt. Trong thời đại chúng ta, không thiếu những tìm kiếm về cái huyền bí, thể hiện qua vô số sách vở hướng dẫn các phương pháp tu tập, thiền định khác nhau, và điều này dễ dẫn đến một lầm tưởng phổ biến: rằng việc kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa là một đỉnh cao vời vợi, đòi hỏi những nỗ lực phi thường hay những kỹ thuật phức tạp mà người bình thường khó lòng đạt tới.

Nhưng sự thật có thể đơn giản và gần gũi hơn ta tưởng rất nhiều. Chiêm niệm, trong bản chất sâu xa nhất, không phải là một trạng thái xuất thần hay một kỹ thuật phức tạp, mà chính là sự gặp gỡ Thực Tại - gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống một cách trực tiếp, đơn sơ và thân tình, không nhất thiết phải thông qua những hệ thống lý luận hay những hình ảnh ý niệm trung gian. Đó là sự gặp gỡ từ trái tim đến Trái Tim.
Nhiều tâm hồn sống đời sống kết hiệp sâu sắc với Chúa lại là những người hoàn toàn dấn thân giữa đời thường, giữa những trách nhiệm gia đình, công việc và xã hội. Điều làm nên chiều sâu tâm linh của họ không phải là những trải nghiệm lạ lùng hay sự xa lánh thế sự, mà chính là tình yêu lớn lao họ dành cho Thiên Chúa - một tình yêu trở thành trung tâm và nguồn mạch cho toàn bộ cuộc sống, biến mọi hoạt động thường ngày thành lời cầu nguyện và hành vi phụng sự. Không phải "chạy trốn vào thiền" hay "thất tình thì lên núi ẩn dật", không phải "Sài Gòn mệt mỏi quá thì về quê nuôi cá và trồng thêm rau" - mà là ở lại giữa dòng đời, với một trái tim đã được định hướng về một nơi duy nhất.

Thiên Chúa không ở đâu xa xôi trên trời cao hay trong những nơi thánh thiêng biệt lập. Ngài ở ngay trong tâm hồn chúng ta, gần gũi hơn cả chính chúng ta gần mình. Ngài luôn hiện diện và khao khát được gặp gỡ thân tình với mỗi người, không phân biệt người tội lỗi hay thánh thiện, người học thức hay bình dân. Việc của chúng ta, có lẽ, chỉ là bắt đầu hành trình quay về chính ngôi đền thờ là thân tâm mình, tập lắng nghe những thúc đẩy nhẹ nhàng của Thánh Thần, và khám phá ra rằng rất có thể Thiên Chúa đang mời gọi chính chúng ta bước vào một đời sống kết hiệp mật thiết hơn với Ngài - một đời sống có chiều sâu chiêm niệm ngay giữa lòng cuộc sống thường nhật.

II. PHÂN ĐỊNH: ĐÂU LÀ CHIÊM NIỆM ĐÍCH THỰC?

Để bước đi trên con đường nội tâm này cách vững vàng, điều quan trọng là cần phân biệt rõ ràng giữa chiêm niệm Kitô giáo đích thực với những hình thức huyền bí giả tạo hay những tìm kiếm lệch lạc khác.
Đời sống chiêm niệm đích thực không phải là sự theo đuổi những hiện tượng phi thường, những trạng thái tâm lý đặc biệt hay những cảm giác mạnh mẽ mà tinh thần thế gian thường chiêu dụ. Nó không phải là sản phẩm của những phong trào mang màu sắc huyền bí cực đoan có thể làm người ta mê muội, mất kết nối với thực tại cuộc sống và trách nhiệm thường ngày. Nó cũng hoàn toàn khác biệt với những trạng thái thoát ly thực tại có được nhờ các kỹ thuật tâm lý đơn thuần nhằm tìm kiếm sự dễ chịu tạm thời. Ngược lại, chiêm niệm Kitô giáo giống như một cuộc "đi sâu vào" - đi sâu vào chính trung tâm của hữu thể, can đảm đối diện với sự thật về bản thân, cả ánh sáng lẫn bóng tối, cả niềm vui lẫn khổ đau, dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Những tâm hồn chiêm niệm đích thực, như kinh nghiệm của Giáo Hội cho thấy, thường là những con người mạnh mẽ, đầy sức sống, rõ biết chính mình, bén nhạy với nỗi đau của tha nhân, và luôn được thúc đẩy bởi một tình yêu say mê đối với Thiên Chúa và công cuộc cứu độ của Ngài ở trần gian.

Người sống đời chiêm niệm đích thực không tìm kiếm những điều lạ lùng, phi thường như là mục đích - họ tìm kiếm chính Thiên Chúa mà thôi. Đôi khi, Thiên Chúa có thể ban cho một số tâm hồn những ơn đặc biệt như ơn nói lạ, ơn xuất thần hay ơn thấy thị kiến. Tuy nhiên, đây là những hồng ân ngoại thường, không phải là dấu hiệu tất yếu hay mục đích của đời sống chiêm niệm. Chính các vị thánh đã lãnh nhận những ơn này cũng luôn cảnh báo đừng bao giờ chủ tâm tìm kiếm hay bám víu vào những sự an ủi thiêng liêng hay những hiện tượng lạ lùng đó, vì chúng có thể trở thành cám dỗ của sự tự mãn và lệch lạc. Lời mời gọi căn bản luôn là: tìm kiếm Thiên Chúa, Đấng ban mọi niềm an ủi - chứ không phải chỉ tìm kiếm những niềm an ủi chóng qua của Thiên Chúa.

Vậy làm sao để nhận biết một đời sống chiêm niệm đích thực? Dấu chỉ không nằm ở những hiện tượng bên ngoài, mà ở những hoa trái nội tâm được sinh ra từ sự kết hiệp với Chúa. Đó là một niềm vui sâu lắng, bền vững, không phụ thuộc vào hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn bên ngoài. Đó là một sự kiên nhẫn phi thường trước nghịch cảnh và sự yếu đuối của bản thân cũng như tha nhân. Đó là một lòng tín thác ngày càng lớn mạnh vào tình yêu và sự quan phòng của Chúa trong mọi biến cố. Và trên hết, đó là một sự bình an sâu thẳm mà thế gian không thể ban tặng cũng không thể lấy mất đi. Đây mới là những dấu chỉ đáng tin cậy của một tâm hồn đang thực sự tiến bước trên con đường kết hiệp với Thiên Chúa.

III. CHIÊM NIỆM

​Chiêm niệm trước hết là một cách hiện hữu. Đó là giữ một cái nhìn đúng đắn, trong sáng và kéo dài hướng về Thiên Chúa, đồng thời nhìn thẳng vào tình trạng thực của bản thân, của người chung quanh và thế giới. Đây là cái nhìn vượt lên trên mọi sự phán xét, bao biện hay phân tích - một cái nhìn thuần túy từ con tim, nơi "người nhìn" tan biến để chỉ còn lại sự thật. Hành vi này bóc tách mọi chiếc mặt nạ, con người hiện diện trước Thiên Chúa mà không có nỗ lực trang điểm hay che đậy. Đó không phải là một ý niệm chung chung và mơ hồ về Thiên Chúa, mà là một sự tiếp xúc trực tiếp, cá vị, giống như kinh nghiệm của Mô-sê khi gặp gỡ Thiên Chúa mặt giáp mặt.

​Cái biết trong chiêm niệm không vay mượn từ lý trí hay những mẩu thông tin tích trữ, mà khởi phát từ một trực giác thâm sâu. Giống như người mẹ nhận diện đứa con qua mối liên đới máu thịt, người chiêm niệm chạm thấu Thiên Chúa bằng trái tim. ​Cốt lõi của cái biết này chính là sự hiệp thông - nơi khoảng cách giữa người biết và Đấng được biết bị xóa nhòa. Nếu trong tri thức lý trí, ta đứng bên ngoài để quan sát Chúa như thể quan sát một đối tượng, thì trong chiêm niệm, ta ở trong Ngài và Ngài ở trong ta. Đó là sự tương giao nảy sinh từ việc "ở cùng" nhau chứ không phải từ việc "học về" nhau. ​Đây là một thực tại hiện sinh không thể mổ xẻ trọn vẹn, bởi bản chất của nó là sự cảm nếm, tôi nhìn Chúa, và Chúa nhìn tôi. Khi tâm hồn dần buông bỏ những quyến luyến, ta thôi nỗ lực uốn nắn mình cho trở nên "yên" hay "tốt", mà chỉ đơn giản là hiện diện trong chân lý sống động của Thiên Chúa Ba Ngôi.

​Chiêm niệm bắt đầu từlòng can đảm để thấy mình đúng như mình là - thấy mình như Chúa thấy - ghi nhận đầy đủ cả ánh sáng lẫn bóng tối, cả điểm mạnh lẫn những vụng về. ​Để Thấy, ta cần biết dừng lại. Dừng lại không có nghĩa là chủ động ép buộc tâm trí ngừng hoạt động, mà là không có những nỗ lực can thiệp chủ quan. Thay vì cố gắng dập tắt những cảm xúc (khó chịu lẫn dễ chịu), chối bỏ nhu cầu, nắn sửa các ý nghĩ,... một cách bạo động, ta chỉ cần ghi nhận sự có mặt của chúng. Khi thấy mình đang xao động, hãy cứ để cái xao động đó hiện diện và nhìn ngắm nó với sự an tâm và hiền hậu. Mọi nỗ lực muốn nắn chỉnh trạng thái nội tâm cho ngăn nắp, thực chất chỉ là một lớp tự vệ mới được chồng lên trên những gì đang phơi bày. Ngay cả sự dối trá đang trình hiện cũng chính là sự thật, và việc nỗ lực phủ định sự có mặt của điều giả trá ấy chính là đang chống lại sự thật. Khi ta thấy mình đang tự vệ và cố gắng sửa cái tự vệ đó, ta chỉ đang khoác thêm một lớp mặt nạ tinh vi hơn mà thôi. Hãy tập buông bỏ mọi mong muốn và ý định kiểm soát, hãy nghỉ ngơi thực sự trong tay Thiên Chúa. Giả như, một người thợ lặn thả mình vào lòng đại dương - với sự tin tưởng, nương tựa, để mình được biển sâu âu yếm; thì khi chiêm niệm ta không phải gồng nữa, mà dành sự tin - cậy - mến trọn vẹn vào nền tảng vững chãi chính là biển cả là Thiên Chúa. ​Nếu bị chia trí, đừng nản lòng và cũng đừng cố gắng đấu tranh để tiêu diệt sự chia trí đó. Chỉ cần nhẹ nhàng nhận diện rằng mình đang chia trí, thì chính cái thấy đó đã là chú tâm, chân thành và chiêm niệm rồi. Ta có thể sử dụng một vài lời nguyện vắn tắt như điểm neo để bắt đầu lại, nhưng hãy thốt lên những lời ấy một cách tự nhiên như trẻ nhỏ.

Chúng ta không đời nào có thể coi chiêm niệm như một thành tích cá nhân, vì đó là ơn thánh đang hoạt động chứ không phải sản phẩm của nỗ lực tự thân. Người chiêm niệm không nói nhiều, họ chỉ có mặt để Thiên Chúa lên tiếng. Chìa khóa là sự kiên trì dành thời gian cho thinh lặng mỗi ngày. Đừng bắt đầu bằng việc tìm kiếm kết quả, đừng săn đuổi những cảm xúc tích cực hay trải nghiệm bình an chóng qua.

​Đời sống chiêm niệm là một hồng ân Thiên Chúa mà hễ là con người, ta vốn cần học cách nhìn ra và đón nhận. Nó không phải là phương tiện để mang lại cho ta bất cứ điều gì nơi thế gian này, mà là cách ta trở về với bản vị thật của mình. Mọi sự tùy thuộc vào việc ta có đủ khiêm tốn để giữ cho con tim và ánh mắt của mình luôn trung thực hay không - trung thực ngay cả khi đối diện với những gì ta muốn che giấu nhất!

Khi ta chấp nhận đứng vững trong sự thật về mình dù đang ổn hay không yên, đó là lúc mối tương quan thân tình với Thiên Chúa Ba Ngôi thực sự bắt đầu. Bởi vì Thiên Chúa không đòi gặp ta ở nơi ta hoàn hảo, Ngài thường gặp ta nơi những gì chân thật nhất của hiện hữu.

Bất kể bạn là ai, đang bán hàng rong hay làm quản lý, là người khuyết tật hay một model, ​còn chất chứa khổ tâm hay đã quân bình,... Sống như một nhà thần bí không phải là trở thành một người đặc biệt hoặc sở hữu những năng lực siêu nhiên. Đó là tiếng gọi dành cho tất cả mọi người: học lại cách thấy cũng như kết hiệp với Thiên Chúa.


Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 18 (tiếp theo)




NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 18 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 31)

7 - Như đã nói, Giuđê là phần hạ đẳng và khả giác của linh hồn. "Vùng ngoại thành" của Giuđê chính là những giác quan khả giác bên trong như dạ nhớ, óc sáng tạo vẽ vời và trí tưởng tượng, nơi cư trú và qui tụ những hình thể, hình ảnh và ảo tượng về mọi vật, là những thứ mà phần nhục cảm tận dụng để xách động các mê thích và ham hố của linh hồn... Và một khi các hình thể vv.. mà ở đây gọi là đám kiều nữ... được bình lặng và nghỉ yên thì các mê thích cũng ngủ theo. Đám kiều nữ đi vào những vùng ngoại thành của chúng là các giác quan bên trong ngang qua những cánh cửa giác quan bên ngoài như: thính giác, thị giác, khứu giác... Chúng ta có thể gọi tất cả các quan năng và giác quan ấy cả bên trong lẫn bên ngoài của phần khả giác là vùng ngoại thành bởi lẽ chúng khác nào những khu vực bên ngoài các bức tường thành phố. Phần nội thành của linh hồn là phần sâu kín ở bên trong, phần thuộc lý trí, và có khả năng thông giao với Thiên Chúa. Các hoạt động của phần này trái ngược với các hoạt động của phần nhục cảm.

Tuy nhiên, do có sự thông truyền tự nhiên giữa những cư dân trú ngụ ở những vùng ngoại thành ấy, tức phần cảm giác (và cũng chính là các kiều nữ chúng ta đã đề cập) với phần thượng đẳng tức là khu vực nội thành, những gì xảy ra ở phần hạ đẳng vẫn thường dội lên phần thượng đẳng bên trong và, do đó, sẽ khiến phần này bị phân tâm và xao động, không còn chăm chỉ làm việc và chú tâm vào Thiên Chúa. Vì thế, linh hồn yêu cầu các kiều nữ ấy hãy ở lại nơi vùng ngoại thành, nghĩa là hãy nằm yên nơi những giác quan khả giác, cả bên trong lẫn bên ngoài.

“Các cô đừng tìm cách chạm đến ngưỡng cửa của chúng tôi”.

8 - Có nghĩa là, đừng chạm vào phần thượng đẳng kể cả bằng những xung động đầu tiên bởi lẽ những xung động đầu tiên của linh hồn chính là lối vào, là ngưỡng cửa để vào được bên trong linh hồn. (Không những đừng vượt qua mà cả đừng chạm đến). Bước qua ngưỡng cửa tức là đã vượt qua những xung động đầu tiên để xâm nhập vào phần lý trí. Còn nếu chỉ mới có những xung động đầu tiên thì chỉ mới chạm đến ngưỡng cửa hoặc chỉ mới gọi cửa mà thôi. Đây là điều vẫn xảy ra khi phần nhục cảm tấn công phần lý trí qua một hành vi vô trật tự nào đó. Thế nên ở đây, khi yêu cầu đừng chạm đến ngưỡng cửa, linh hồn không những yêu cầu các kiều nữ ấy đừng chạm đến linh hồn mà còn cảnh báo họ chớ chạm đến sự yên tĩnh và những ơn lành nó đang vui hưởng.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 18 (tiếp theo)



NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 18 (tiếp theo)
(Phiên bản A: chương 31)

+ Minh giải

3 - Nơi ca khúc này, Tân nương tiếp tục lên tiếng. Nơi phần tâm linh thượng đẳng, nàng thấy mình được Đấng Chí Ái ban cho những ân huệ, những hoan lạc và phong phú khôn tả, vì thế nàng mong ước được nương náu nơi sự an toàn của chàng và được chiếm hữu lâu bền những ân huệ và hoan lạc ấy là tình trạng mà Đức Lang quân đã đặt nàng vào như đã nói trong ca khúc trước đây [Thật ra là hai ca khúc 20 và 21. Sự quy chiếu ở đây thiếu chính xác là vì khi biên soạn phiên bản B, tác giả đảo lộn thứ tự các chương mà quên sửa quy chiếu. Chương này trong phiên bản A là chương 31, hai chương kia là 29 và 30)]. Tuy nhiên nàng lại cũng thấy rằng phần hạ đẳng tức phần nhục cảm của nàng có thể cản trở và quấy phá ơn lành ấy (và quả thật nó đã cản trở và quấy phá) cho nên nàng tha thiết khẩn cầu các hoạt động và xung động của các quan năng và giác quan thuộc phần hạ đẳng hãy ở yên. Nàng yêu cầu chúng đừng vượt qua giới hạn khu vực của chúng là phần nhục cảm để quấy nhiễu và phá rối phần thượng đẳng và tâm linh của linh hồn, làm sao để đừng một xung động nào của phần hạ đẳng, dù nhỏ đến đâu, có thể cản trở những ơn lành và sự êm đềm nàng đang vui hưởng. Thật vậy, đang lúc tâm linh vui hưởng, nếu những xung động của phần giác quan và các quan năng của giác quan dấy lên, linh hồn sẽ bị quấy nhiễu và bất an, nhiều ít tuỳ theo mức độ các xung động ấy. Vì lẽ đó, Tân nương lên tiếng như sau:

Ôi những kiều nữ Giuđê

4 - Nàng gọi phần hạ đẳng của linh hồn tức phần cảm giác là Giuđê. Nàng gọi phần ấy là Giuđê vì nó yếu đuối, mang tính xác thịt và mù loà tựa như dân Giuđê vậy. Nàng gọi tất cả những tưởng tượng, những sáng tạo vẽ vời và các xung động lẫn những nghiêng chiều của phần hạ đẳng ấy là những kiều nữ, bởi vì, tựa như các kiều nữ thường dùng nét duyên dáng quyến rũ để lôi cuốn những kẻ si tình, ở đây các hoạt động và xung động của nhục cảm cũng dịu dàng và kiên trì lôi cuốn ý muốn của lý trí về phía mình. Chúng tìm cách kéo nó ra khỏi sự lắng đọng bên trong và khiến nó cứ mong ước những thứ bên ngoài là những thứ mà chúng tìm kiếm và theo đuổi. Chúng cũng xách động trí hiểu, lôi kéo để nó rơi xuống cùng cảm nhận một cách thấp hèn như chúng, khiến cho phần lý trí cũng rập khuôn và nên một với phần nhục cảm. Vì thế, Tân nương thốt lên: Này hỡi những hoạt động và xung động của nhục cảm!

Giữa bao nhiêu hoa và những khóm hồng.

5 - Như đã nói, hoa ở đây là các nhân đức của linh hồn. Những khóm hồng là những quan năng của linh hồn gồm dạ nhớ, trí hiểu và lòng muốn. Chúng cưu mang và nuôi dưỡng những bông hoa là các khái niệm thần linh, các hành vi yêu thương và những nhân đức nói trên.

Vì này, ngay giữa các nhân đức và quan năng ấy của hồn tôi...

Cây long diên tỏa hương.

6 - Ở đây cây long diên ám chỉ Thần Khí của Đức Lang quân đang ngự trong linh hồn. Cây long diên thần linh này đang tỏa hương giữa những bông hoa và khóm hồng, tức là Thần Khí đang tuôn trào và thông truyền vào các quan năng và nhân đức của linh hồn một cách thật dịu dàng, phú ban vào đó cho linh hồn hương thơm thần linh êm dịu.

Này các kiều nữ Giuđê, đang khi Thần Khí ban cho linh hồn tôi sự dịu dàng tâm linh như thế,

Xin các cô cứ ở lại nơi vùng ngoại thành.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)


Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Ca khúc 18

 


NHỮNG CA KHÚC GIỮA LINH HỒN VÀ ĐẤNG CHÍ ÁI

CA KHÚC 18
(Phiên bản A: chương 31)

+ Ghi chú mở đầu

1 - Ở bậc đính hôn tâm linh này linh hồn thoáng thấy được những điều tuyệt hảo và những kho tàng phong phú của nó nhưng đồng thời cũng thấy rằng, bao lâu còn ở trong xác thịt, nó không được chiếm hữu và vui hưởng những thứ ấy theo ý nó. Cái nhìn ấy thường khiến linh hồn đau khổ nhiều, nhất là mỗi khi nó ý thức mạnh mẽ về điều ấy. Linh hồn thoáng thấy rằng nó phải ở trong thân xác cũng giống như một lãnh chúa bị nhốt trong ngục, phải chịu khốn khổ trăm bề, bị tịch thu lãnh địa, bị tước đoạt cả quyền làm chủ lẫn của cải. Tài sản ông tích lũy bao nhiêu mà kể, thế mà người ta chỉ cho ông được một tí thức ăn dè sẻn. Ai cũng hiểu ông phiền muộn biết bao nhất là khi gia nhân chẳng còn tùng phục ông mấy nữa. Hễ có dịp là đám tôi tớ và nô lệ ngổ ngáo nổi lên chống lại, thậm chí còn muốn giật luôn thức ăn ở trên đĩa của ông. Quả thật, khi Thiên Chúa thương ban cho linh hồn được nếm hưởng đôi chút những điều tốt lành và phong phú mà Ngài đã dành riêng cho nó thì lập tức nơi phần cảm giác của nó dấy lên một tên đầy tớ xấu xa là một mê thích nào đó hoặc một gã nô lệ là một xung động vô trật tự nào đó, hoặc những sự nổi loạn khác của phần hạ đẳng, nhằm cản ngăn không cho linh hồn hưởng được những ơn lành ấy.

2 - Do đó, linh hồn cảm thấy như đang ở trên mảnh đất của quân thù và bị hà hiếp giữa những kẻ xa lạ. Nó như thể một kẻ đã chết giữa đám kẻ chết. Linh hồn cảm nhận rõ điều mà ngôn sứ Barúc ám chỉ khi ông mô tả sự tù đày khốn khổ của Giacóp như sau:

Vì đâu Israel hỡi, vì đâu
Ngươi phải nương thân trên đất thù địch
Phải mòn hao nơi xứ lạ quê người?
Vì đâu ngươi bị nhiễm uế giữa đám thây ma
Phải nằm chung với những người ở trong âm phủ? (Br 3,10-11)

Và Giêrêmia cũng cảm nhận được tình cảnh khốn khổ này mà linh hồn đang trải qua do sự cầm tù của thân xác, khi ông nói về Israel theo nghĩa tâm linh:

Israel có phải là nô lệ hay gia nhân đâu
Thế mà sao nó lại bị người ta cưỡng đoạt
Những con sư tử gầm gừ đe doạ nó...
(x. Gr 2,14 tt)

Ở đây sư tử ám chỉ những mê thích và những sự nổi loạn của gã bạo chúa là phần nhục cảm. Vì thế, để cho thấy mình đang bị quấy nhiễu đến mức nào và đang khát mong sớm chấm dứt vương quốc của nhục cảm cùng đủ thứ tấn công phá phách của nó, hoặc ít là phải hoàn toàn chế ngự được chúng, linh hồn ngước mắt lên cùng Đức Lang quân, mong Ngài định liệu tất cả, và than phiền về những xung động và nổi loạn nói trên qua ca khúc sau:

Ôi những kiều nữ Giuđê
Giữa bao nhiêu hoa và những khóm hồng
Khi cây long diên tỏa hương
Xin cứ ở lại những vùng ngoại thành
Các cô đừng tìm cách chạm đến ngưỡng cửa của chúng tôi.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)