Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

Ca Khúc Tâm Linh - Thánh Gioan Thánh Giá - Dẫn vào Ca Khúc Tâm Linh

 


THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ
Toàn văn sưu tập các tác phẩm
Quyển 4

CA KHÚC TÂM LINH

Bản dịch của
NGUYỄN UY NAM và LM TRĂNG THẬP TỰ

+++

KÝ HIỆU CÁC TÁC PHẨM
CỦA THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ
CaA : Ca Khúc Tâm Linh, phiên bản A
CaB : Ca Khúc Tâm Linh, phiên bản B
Châm: Châm ngôn
1&2 Đêm : Đêm Dày, quyển 1& 2
1&2 Lên : Đường Lên Núi Cát Minh, quyển 1& 2
3 Lên : Đường Lên Núi Cát Minh, quyển 3
Lửa A : Ngọn Lửa Tình Nồng, phiên bản A
Lửa B : Ngọn Lửa Tình Nồng, phiên bản B
---

DẪN VÀO CA KHÚC TÂM LINH

* Bài này cha Lucien Marie de Saint Joseph viết cho bản dịch tiếng Pháp của cha Cyprien de la Nativité de la Vierge. Bài dẫn nhập này viết năm từ 1945, nhưng cho đến nay vẫn là bài dẫn nhập đặc biệt sâu sắc. Bản tiếng Pháp của cha Cyprien dịch từ bản in Madrid 1630 ngày nay ít ai nhắc đến, còn bản dịch Việt Ngữ này dịch từ thủ bản Jaén, hiện được coi là thủ bản nền tảng. Trong bài viết của cha Lucien, có hai câu trích chỉ có trong bản Madrid, chúng tôi thay bằng hai câu tương tự của bản Jaén. Ngoài ra, chúng tôi cũng lược bỏ những chi tiết chuyên môn về sự khác biệt giữa các thủ bản, về các lần xuất bản và những chi tiết không quan trọng.

+ Từ bài thơ

Ít có tác phẩm nào gợi lên được đời sống của tác giả như bài thơ Ca Khúc Tâm Linh và tập minh giải bài thơ ấy. Bài thơ có một lai lịch riêng, độc lập với tập minh giải. Chính trong thời gian bị cầm tù ở Toledo, thánh Gioan Thánh Giá đã sáng tác 30 ca khúc đầu tiên. Chúng mang một âm hưởng rất cá nhân, đọc qua thấy hệt như một bản tự truyện bằng thơ. Nhà nghiên cứu Dom Chevallier đã nói rất đúng rằng bài thơ ấy ca mừng những ơn lành Thiên Chúa tưởng thưởng cho sự trung thành của một tình yêu mà không khổ đau nào làm tan vỡ được. Đọc những đoạn thơ của bài Ca Khúc Tâm Linh, ta thấy sống dậy bao kỷ niệm của vùng Castilla nồng nhiệt, nơi mà vì nhiệt tình, thánh Gioan Thánh Giá đã chịu đau khổ chết được; bao kỷ niệm của miền Andalusia nơi ngài đã được quen biết những tâm hồn vương giả của các nữ tử ngài tại đan viện Beas. Chẳng phải 5 đoạn thơ cuối cùng đã được ngài sáng tác cho một đan nữ của tu viện này đó sao? Chị Phanxica của Đức Mẹ Thiên Chúa lúc ấy chỉ mới hai mươi. Về sau, trước toà án phong chân phước, chính chị đã kể lại gốc tích 5 đoạn thơ này. Một ngày nọ, khi thánh Gioan Thánh Giá hỏi chị làm gì trong giờ nguyện ngắm, chị thưa rằng chị chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Thiên Chúa và sung sướng hân hoan vì thấy Thiên Chúa đẹp như thế. Nghe vậy, vị thánh hết sức vui mừng. Suốt mấy ngày liền, ngài nói những điều rất cao diệu về vẻ đẹp của Thiên Chúa. Rồi trong thời gian được phấn khích vì tình yêu Thiên Chúa như thế, ngài đã sáng tác 5 đoạn thơ bắt đầu từ câu:
Hỡi Đấng Chí Ái, ta hãy cùng hân hoan.

+ Đến tập minh giải

Còn về tập minh giải, ta chỉ cần đọc từng chữ lời đề tặng ngài viết cho Mẹ Ana Chúa Giêsu, bề trên đan viện Cát Minh Granađa. Trong những năm 1578-1579, bên cửa chấn song phòng khách đan viện này, thánh Gioan Thánh Giá đã diễn giải cho các nữ tu một số đoạn của bài Ca Khúc Tâm Linh. Mãi đến năm 1584, do sự khẩn khoản yêu cầu của họ, ngài đã dần dần viết gửi cho họ các bài minh giải họ từng khao khát.

Vào cuối đời thánh Gioan Thánh Giá, có những vị nắm quyền trong Dòng đã ganh ghét ngài, truy lùng để tiêu huỷ những gì ngài đã viết, thế nhưng người ta vẫn còn giữ được nhiều bản sao chép tay. Điều đó cho thấy quyển Ca Khúc Tâm Linh đã đi vào lòng và đi vào cuộc sống của các nam nữ tu sĩ Cát Minh theo chân thánh Gioan Thánh Giá đến mức nào. Gần 40 năm sau khi ngài chết, Dòng Cát Minh mới in tác phẩm này (1630) nhưng từ 15 năm trước đó đã có hai bản dịch tiếng Pháp được in ra và năm 1627 bản tiếng Tây Ban Nha cũng đã được in tại Bỉ.

Trước khi viết tập minh giải Ca Khúc Tâm Linh, thánh Gioan Thánh Giá đã viết hai tác phẩm Đường Lên Núi Cát Minh và Đêm Dày. Đường Lên Núi Cát Minh giúp các linh hồn biết cách chuẩn bị để sớm đạt tới sự hiệp nhất với Thiên Chúa, tức là biết thoát khỏi những ràng buộc về mặt trần thế cũng như về mặt tâm linh để có được sự trần trụi và tự do tâm linh cần thiết cho sự hiệp nhất với Thiên Chúa. Đêm Dày tiếp tục giúp các linh hồn vững bước trên đường đạt tới sự hiệp nhất ấy. Cả hai tác phẩm đã khiến độc giả khát khao mong mỏi sự hiệp nhất với Thiên Chúa, sự hiệp nhất sẽ được diễn tả thật tuyệt vời nơi vẻ rực rỡ của những đoạn thơ Ca Khúc Tâm Linh hết sức phong phú và của tập minh giải nối gót theo thật nhịp nhàng bay bổng. Độc giả hân hoan gặp được nơi Ca Khúc Tâm Linh thức ăn bổ dưỡng cho cuộc sống họ, vì sớm hay muộn, hướng đi độc nhất vị thánh Tiến Sĩ Hội thánh vạch ra đã đạt tới đỉnh điểm duy nhất người ta đã hướng tới khi bước theo nẻo đường của cái không gì cả. Cả người mới tập tu lẫn người đã khấn dòng, cả các đan nữ trong nội cấm lẫn các cư sĩ ngoài xã hội, tất cả đều biết đến cùng một lộ trình duy nhất. Vị thánh đã không bao giờ dạy rằng nẻo đường của cái không gì cả là một ngõ cụt, hoặc nẻo đi ấy tự một mình nó đã đủ! Ngược lại, ngài cho biết chẳng bao lâu nẻo đi ấy sẽ đạt tới cao đỉnh ngọn Cát Minh. Chẳng bao lâu là bao lâu? Điều ấy tuỳ nơi sự hào hiệp của những tâm hồn đang leo núi và tuỳ nơi mức độ hiệp nhất Thiên Chúa muốn dành cho họ. Tới đó, không còn cần phải có ai vẽ đường, không còn theo những lối mòn chật hẹp, bởi vì “với người công chính thì không cần phải định luật lệ”. Không còn gì khác hơn là một sự tự phát theo bản năng của người được làm con cái Thiên Chúa mà thánh Phaolô nói đến trong chương 8 thư Rôma. Một sự tự phát đưa dẫn các tâm hồn đến với Thiên Chúa còn chắc chắn hơn mọi giới luật thành văn, mà đồng thời lại luôn đưa dẫn họ đi đúng theo các giới luật.

+ Ca Khúc Tâm Linh và các tác phẩm khác

Quyển Đêm Dày đã kết thúc đột ngột khi vừa khởi sự triển khai “những đặc điểm hồng phúc” của sự hiệp nhất, được vẽ bằng những gam màu nóng hổi. Thế rồi quyển Ca Khúc Tâm Linh dùng lại những từ ngữ cốt yếu ở trang chót quyển Đêm Dày để khởi đầu... Phải chăng vì khuôn khổ quyển Đêm Dày quá chật hẹp không cho phép triển khai các đặc điểm hồng phúc của sự hiệp nhất một cách thoải mái, nên phải cần đến 40 ca khúc để chuyển tải? Quyển Ca Khúc Tâm Linh bắt đầu một tiết tấu mới ngay ở chỗ quyển Đêm Dày vừa hạ thấp xuống. Tựa như một cánh chim sà xuống thấp sát mặt đất để lấy đà bay vút cao hơn (Rồi khi Ca Khúc Tâm Linh vừa kết thúc, Ngọn Lửa Tình Nồng sẽ chắp cánh từ đó để bay vút lên cao hơn nữa).

Ca Khúc Tâm Linh nêu rõ cái phong phú của mấy tiếng “thao luyện tình yêu” hay “tập yêu mến”. Đó là mục tiêu mà ngay từ đầu, những đòi hỏi của quyển Đường Lên Núi Cát Minh hướng chúng ta đến. Đó là mục tiêu mà những miêu tả kinh hoàng của lộ trình Đêm Dày dẫn dắt ta đi: Hiệp nhất với Thiên Chúa trong tình yêu.

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo và hết)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo và hết)

Như vậy, bộ Kinh thánh có thể xem như là một bộ Thánh sử khởi đầu bằng cuộc sáng tạo trời đất và kết thúc bằng những lời dự phóng về ngày Cánh chung huy hoàng, khi mà Thành thánh Giêrusalem bởi trời mà xuống, khi mà vũ trụ đã đi vào vinh hiển.

Bộ Kinh thánh cũng có thể được xem như một bản tình ca về việc Thiên Chúa tình yêu, trước hết là với cộng đoàn dân Chúa thời Đạo Cũ cũng như thời Đạo Mới, sau nữa là với mỗi một linh hồn, cho nên trong Kinh thánh có một cuốn gọi là Nhã Ca hay là Diễm Ca, tiếng Pháp là "Cantique des cantiques", mô tả cuộc tình duyên giữa một vị quân vương với một thôn nữ chăn cừu, nói lên cái hứa hẹn, cái giao ước, cái mời gọi của Thiên Chúa tình yêu với mỗi một tâm hồn cũng như với toàn thể cộng đoàn dân Chúa thời Đạo Cũ cũng như thời Đạo Mới.

Tập Nhã Ca hay là Diễm Ca đó, bên văn hóa Tây phương chịu ảnh hưởng Kitô giáo, được xem như là một bản văn trữ tình tuyệt diệu. Có thể nói những tác phẩm văn chương về tình yêu đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của tập Tình ca ấy, Tình ca giữa Thiên Chúa với con người cá nhân cũng như cộng đoàn.

Bộ Kinh thánh cũng có thể xem như một bi kịch tình yêu, giữa tình lang là Thiên Chúa và tình nương là dân Chúa, Đạo Cũ cũng như Đạo mới, và mỗi một tâm hồn, mà trong đó nội dung căn bản vẫn là sự trung thành chung thủy trước sau như một của tình lang là Thiên Chúa và sự phản bội hầu như liên tục của tình nương là dân Chúa và mỗi một con người. Phản bội đến nỗi, trong thời Đạo Cũ, cuộc tình đã kết thúc một cách bi đát, tức là đại diện chính thức của dân Chúa cả chính quyền lẫn giáo quvền, có nhiệm vụ phải chuẩn bị để chờ đón ngày Hôn lễ, cái ngày mà chính Thiên Chúa xuống để kết hợp với loài người, thì ngược lại, chẳng những đã không nhìn ra chính tân lang mà còn giết chết tân lang trên cây thập giá.

Do đó, nếu bản tình ca có những câu ca ngợi tình yêu dìu dặt đằm thắm, thì cũng có những đoạn văn, khi thì lên tiếng đưa ra những lời trách móc, giận hờn bi ai thống thiết của Thiên Chúa lúc Ngài bị phụ tình, khi khác thì là những lời ăn năn hối cải cũng không kém phần thống thiết bi ai của tình nương, sau khi dại dột chạy theo những tên sở khanh, biết mình đã bị phỉnh lừa đau đớn ê chề, quay trở về lại với tình lang, được tình lang ban cho những lời âu yếm thứ tha, và cứ thế mà tiếp tục mãi hết lần này qua lần khác.

Đương nhiên, như tôi vừa nói ở trên, thời Đạo Cũ kết thúc bằng bi kịch là chính tình lang bị giết, còn thời Đạo Mới thì cũng không phải không có những màn đau thương như vậy; bởi vì trong cái thế giới tội lỗi và đau khổ này, mỗi một cá nhân tín hữu Kitô giáo, cũng như mỗi một cộng đoàn, không ai dám vỗ ngực xưng mình là kẻ chung tình. Trái lại, từ vị Giáo hoàng cho đến bất cứ giáo hữu nào, hằng ngày không biết bao nhiêu lần đấm ngực mình mà xưng thú: "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!'' Và gần đây, chính vị đại diện cao nhất của Giáo hội Công giáo là Đức Phaolô VI, trước mặt bàn dân thiên hạ của thế giới năm châu, khi đến viếng Mồ thánh, quỳ xuống và hầu như thay mặt cho toàn thể dân Chúa ăn năn, thống hối, xin Chúa tha thứ cho những bất trung của dân Chúa qua từng thời đại, đồng thời xin Chúa ban ơn tha thứ và nâng đỡ để giữ cho được lòng trung thành với lời hứa hẹn, với lời giao ước của Thiên Chúa, sống cho đúng cái thiên mệnh của mình, để thực hiện cho đầy đủ cái kế đồ cứu chuộc của Thiên Chúa trong lịch sử loài người.

* * *

Trên đây tôi đã có nói về tập Nhã ca hay là Diễm tình ca. Hầu hết các nhà phê bình văn học đều cho đó là một áng văn tuyệt tác, có thể xem như là ý nghĩa sâu xa nhất của bộ Kinh thánh, nói lên mầu nhiệm căn bản là mầu nhiệm Tình Yêu. Thiên Chúa là tình yêu, sáng tạo mọi vật trong tình yêu và bày tỏ tình yêu của Ngài qua việc hiến trao Con Một rất yêu dấu của Ngài để cứu độ nhân loại và vũ trụ, để đưa về lại trong mầu nhiệm Tình Yêu muôn thuở của Thiên Chúa Ba Ngôi. Như vậy, toàn bộ Kinh thánh có thể xem như một bức tình thư của Thiên Chúa gửi đến cho nhân loại. Dù hiện tượng có bi đát, đầy mồ hôi, nước mắt, máu xương và điêu tàn hủy hoại, thì khởi đầu vẫn là những trang vui tươi của ngày Sáng thế, mọi loài thụ tạo vừa được dựng nên, đều được Thiên Chúa khen là tốt lành, và kết thúc cũng là một hình ảnh hân hoan bừng nở dưới hình dạng trời mới đất mới biểu tượng bằng tân nương trang điểm từ trời mà xuống, chào đón tân lang, để đi vào tiệc cưới. Trời mới Đất mới đươc mô tả như là một Đền Thánh, Đền Vàng, Đền Ngọc, như một Nguồn Suối mà hai bên bờ đầy hoa trái đua nở tứ thời bát tiết, nơi mà mọi giọt lệ trần gian được lau khô, và con người lại được ăn quả cây Hằng Sống.

+ Nhân sinh quan và vũ trụ quan của Kitô giáo trong lịch sử nhân loại tóm tắt là thế này: Mọi sự đều từ Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về với Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là Đấng TỰ HỮU và là TÌNH YÊU.

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.


Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Thoạt nhìn, chúng ta có cảm tưởng cái kinh nghiệm thần ứng của mỗi một cá nhân, của mỗi một cộng đoàn bị khép kín, bị bó buộc vào trong sự cứng nhắc của một hệ thống quá chặt, như hệ thống hàng giáo phẩm của Công giáo, nhưng đọc qua lịch sử của Giáo hội Công giáo, trong hai mươi thế kỷ đã qua, chúng ta thấy rằng: hầu hết các vị thánh, ví dụ như các thánh Pacôme, thánh Basile, Bênêđictô, Phanxicô, Inhaxiô và gần đây chẳng hạn, một vị ẩn tu là Charles de Foucauld đều là những người đi trước Hội Thánh, luôn luôn phát sinh ra những đường lối mới để đáp ứng lại với những yêu cầu của thời đại lịch sử lúc nào cũng biến chuyển, dưới sự thúc đẩy của Thánh Linh...

Cuối cùng, sau khi đã trải qua nhiều thử thách gần như là lửa thử vàng, bấy giờ các vị Ngôn sứ thời Đạo Cũ cũng như các Thánh thời Đạo Mới là những người đi trước Hội Thánh, nhưng vẫn một mặt phục tùng và chấp nhận sự kiểm nghiệm của Hội Thánh. Hình như có một sự song hành nào đó giữa truyền thống sống động với bộ Kinh thánh. Bộ Kinh thánh chỉ được đọc, được hiểu đúng trong lòng cộng đoàn những kẻ tin luôn trung thành với một truyền thống không phải là khô cứng, nhưng dù sao vẫn duy trì được sự nguyên tuyền y như một dòng suối phát tích từ đỉnh núi cao, qua không biết bao nhiêu địa phương khác nhau, vẫn giữ được sự trong suốt, chứ không thể tự mình mà phóng túng bất chấp, để rồi lạc vào những khe rãnh thường là không mấy tinh khiết.

Do đó, một mặt, người tín hữu nghiền ngẫm Kinh thánh để như thấm nhuần một não trạng, một tinh thần, nhưng không phải hiểu một cách thiển cận, máy móc những văn tự chết, nhưng cuối cùng là tắm mình trong một bầu không khí, trong một nguồn nhựa sống của một cộng đoàn đức tin khởi đầu từ Tổ phụ Abraham, tiếp tục với nhóm Mười Hai mà phát ngôn nhân vừa là đại diện, vừa là thủ lãnh là Phêrô và các đấng kế vị ngài, cho đến ngày Cánh chung.

Bởi lẽ, cuối cùng, nội dung của đức tin Kitô giáo không phải là những chữ, những câu, những ý, những lời, nhưng là tác động trực tiếp của Thiên Chúa hằng sống trên mỗi một tâm hồn, trên mỗi một cộng đoàn, trên toàn thể nhân loại. Để luôn luôn sống động thì cần phải đặt vào trong lòng chính cộng đoàn sống động, chứ không thể xem bộ sách ấy, dù quý giá đến đâu, như một phương tiện để nói rõ một cách chắc chắn lời của Thiên Chúa, bởi vì không gì có thể đóng khung được lời của Thiên Chúa và xin nhắc lại, lời đó cuối cùng là một tương giao giữa ngã vị Thiên Chúa với ngã vị của mỗi một linh hồn và ngã vị tinh thần, "personne morale" của một cộng đoàn, qua lịch sử của mỗi người, của mỗi cộng đoàn, của toàn thể nhân loại vô cùng phong phú, vô cùng đa tạp.

Không một cuốn sách nào, không một hệ thống tư tưởng nào có thể áp đặt lên một cách cứng nhắc những khuôn vàng thước ngọc. Do đó, muốn hiểu Kinh thánh, đương nhiên là phải có cả một công trình có tính cách chuyên môn kỹ thuật, phải am hiểu các tôn giáo, phong tục, kỷ cương, chế độ, ngôn ngữ của những cộng đồng người từ thời Abraham cho đến những giai đoạn lịch sử của Giáo hội Công giáo, ngõ hầu nắm được ngay cả những phạm trù, những ngôn từ, thể văn, bút pháp của các tác giả, hiểu được ý chính của các tác giả, để cuối cùng như thông dự vào chính cái kinh nghiệm được linh hứng của các tác giả. Sau đó đối chiếu với kinh nghiệm linh hứng có thể nói là của bản thân mình, của cộng đoàn mình, qua từng trường hợp để tìm cho ra ý định của Thiên Chúa, Đấng luôn luôn mời gọi, hứa hẹn, giao ước, chờ đợi mỗi một cá nhân, mỗi một cộng đoàn cộng tác với Ngài trong một kế đồ vô cùng rộng lớn, bao trùm cả và nhân loại và toàn thể vũ trụ.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Một thiện niệm gợi ra một tiếng nói của lương tâm ngăn cản hoặc là phê phán một việc ác, hay là thúc đẩy hoặc khen thưởng một việc lành, đó cũng là lời Chúa. Một biến cố xảy đến, từ những việc nhỏ nhặt như nhỡ một chuyến xe, cho đến những thăng trầm thế sự thay đổi bộ mặt của các quốc gia, của toàn thể nhân loại cũng đều mang một ý nghĩa nào đó, cũng là một lời mời gọi nào đó, để mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đoàn phải có một ứng xử thế nào cho thật phù hợp với ý định của Thiên Chúa.

Do đó, cái kinh nghiệm của mỗi một người cũng như của một cộng đoàn, không phải không có một tương quan nào đó với những kinh nghiệm được gọi là linh hứng của các tác giả viết nên bộ Kinh thánh. Bởi vì Thiên Chúa là Đấng hằng hữu, trước sau như một, ý định của Ngài không bao giờ thay đổi, có thể nói cái phong thái, cái cách xử đãi của Ngài, đối với thụ tạo, có thể bao giờ cũng chỉ là một. Từ lời kêu gọi Abraham, từ lời kêu gọi các Ngôn sứ, từ lời mời chọn Đức Maria, từ lời kêu gọi các môn đệ đầu tiên cho đến những lời kêu gọi dành cho các tín hữu, từ những tín hữu tầm thường, phải chu toàn nhiệm vụ của một người trong gia đình, của một người dân trong một đất nước hoặc vượt cao lên đảm nhận một trọng trách nào đó trong Giáo hội, thi hành những công trình khó khăn, thì thảy đều có một sự tương đồng nào đó, tiếng Pháp gọi là "analogique"; và cái khuôn mẫu để đáp lại lời kêu gọi tuân hành ý định của Thiên Chúa, chính là Đức Giêsu Kitô trong thân thế và sự nghiệp, mà nhất là trong cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Ngài.

Vì vậy, Kinh thánh bao giờ cũng đến sau sự hiện hữu của một cộng đoàn những kẻ tin, mà có thể nói cái cộng đoàn những kẻ tin ấy bao giờ cũng phát tích từ một người: dân Chúa thời Đạo Cũ phát tích từ một người là Tổ phụ Abraham, dân Chúa thời Đạo Mới, có thể nói là phát tích, hay ít nhất là quy tụ vào nơi một người là thánh Tông đồ Phê rô, khi ngài đại diện cho nhóm Mười Hai trả lời câu hỏi mang tính quyết định của Đức Giêsu: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?" Phêrô đã tuyên xưng đức tin: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (x. Mt 16,13-16).

Cộng đoàn đức tin đời cũ cũng như đời mới chỉ là duy trì, bảo vệ, phát triển đức tin đã được gieo vào và đã được dâng lên, khởi điểm từ Tổ phụ Abraham, khởi điểm từ nhóm Mười Hai mà Phêrô là phát ngôn nhân, là người đại diện, do đó, Kinh thánh thời Đạo Cũ cũng như Kinh thánh thời Đạo Mới chỉ có ý nghĩa trong lòng cộng đoàn những kẻ tin, và chỉ có cộng đoàn những kẻ tin mới hiểu rõ được cái truyền thống sống động của một niềm tin đối với lời hứa hẹn của Thiên Chúa, với lời giao ước giữa Thiên Chúa và mỗi một cá nhân, giữa Thiên Chúa và mỗi một cộng đoàn, và tính cách sống động là một hiện thực chứ không phải là một hệ thống tư tưởng. Và có thể nói, truyền thống đức tin đó là để giúp cho mỗi một con người, trong quá trình tiểu sử của đời mình, cũng như trong diễn biến của lịch sử, trong diễn trình của vũ trụ, so sánh chính cái kinh nghiệm của bản thân mình với cái truyền thống đức tin đó để gạn lọc, tìm hiểu và học cách ứng xử ra sao.

Và như vậy, một mặt, cần phải trung thành với truyền thống, mặt khác, cũng phải được sự phê chuẩn, kiểm nghiệm của chính cộng đoàn, qua trung gian những vị được Thiên Chúa chọn, tiếp nối cái cộng đoàn đầu tiên là nhóm Mười Hai Tông đồ, mà hiện nay những người kế vị chính là các Giám mục hiệp thông với người kế vị thánh Phêrô là Đức Giáo hoàng.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Vì vậy, muốn hiểu Kinh thánh thì phải nắm cho được tinh thần sâu xa chứa đựng ở trong ngôn từ, như chính ; Kinh thánh đã viết: "văn tự thì giết chết, chỉ có tinh thần mới làm cho sống động”, tiếng Pháp là: "La lettre tue, c’est l'esprit qui vivifie” [Tiếng Latinh: Lex occidit, spiritus vivificat; xem thêm Rm 2,29b]. Do đó, không thể hiểu Kinh thánh như là một pho sách của các triết gia ghi chép lại những chân lý trừu tượng, mà ai đọc cũng được, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu, tùy theo cách lý giải riêng của mình. Nhưng Kinh thánh là một lời trao đổi của Thiên Chúa hằng sống với những con người sống động, với những cộng đoàn đã được Ngài chọn, vì vậy lời ấy chỉ được hiểu trong một bầu khí cởi mở tâm hồn đón nhận mà chủ yếu là bằng đức tin.

Mà lời của Thiên Chúa không phải là một lời lý giải về vũ trụ học, về nhân sinh học, nhưng là một lời kêu gọi, nói một cách rõ ràng là một lời có tính cách hứa hẹn và giao ước, đòi hỏi người nghe phải có một thái độ tin, phó thác chân thành và cuối cùng là thể hiện trong cuộc sống cá nhân mỗi người cũng như cuộc sống cộng đoàn dân Chúa, để thi hành những huấn lệnh của Ngài trong đời sống cụ thể của mình, trong bối cảnh lịch sử của mình, tùy theo địa phương, tùy vào thời điểm, suốt dòng lịch sử.

Cứ thế, từ Tổ phụ Abraham một thân một mình rời bỏ cả một nền văn hóa lừng lẫy, dấn thân vào một cuộc đời du mục rày đây mai đó, cho đến suốt cả hai nghìn năm lịch sử của dân Do Thái, tiếp tục hai nghìn năm lịch sử của Giáo hội và sẽ còn tiếp tục mãi cho đến ngày Cánh chung, qua không biết bao nhiêu thăng trầm thế sự, qua không biết bao nhiêu biến chuyển, dưới mọi chế độ chính trị, dưới mọi nền văn hóa, dưới mọi phong tục với bao nhiêu biến cố. Vì vậy, như tôi đã nói nhiều lần, nội dung Kitô giáo chính thật là một hiện thực sống động, là động tác của Thiên Chúa trực tiếp can thiệp vào đời sống của mỗi một cá nhân, đời sống của mỗi một cộng đoàn, đời sống của toàn thể nhân loại và diễn trình của vũ trụ, mời gọi mỗi một con người, mỗi một cộng đoàn và toàn thể nhân loại đón nhận, cộng tác để thực hiện chính cái kế đồ sáng tạo và cứu độ của Ngài, chứ không phải là một hệ thống tư tưởng có thể diễn tả ra được bằng ngôn từ, bằng phạm trù để có thể ghi lại như một thứ văn tự khô cứng trong một bộ sách.

Hiểu như thế, chính hiện nay đây, trong giờ phút này Thiên Chúa vẫn đang tác động trên mỗi một tín hữu, trên cộng đoàn dân Chúa là các Giáo hội Kitô giáo và qua đó là trên toàn thể nhân loại và vũ trụ. Nếu chúng ta xem cái hiện thực hiện nay, ngay trong giờ phút này của nhân loại, là như một bản văn, như một bảng tín hiệu, thì có thể nói Kinh thánh như là một bộ văn phạm, một bộ từ điển hay là một cái khung mật mã giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của chính cái hiện thực trong hiện tại của mỗi một con người, mỗi một cộng đoàn, khởi đầu là cộng đoàn dân Chúa, rồi hơn nữa, có thể nói là cộng đoàn nhân loại.

Bởi vì Thiên Chúa luôn nói, mời gọi, hứa hẹn, thiết lập giao ước với mỗi một cá nhân và với mỗi một cộng đoàn. Như vậy, có thể nói rằng, mỗi một người, đương nhiên trước hết là các tín hữu, nhưng có thể nói người nào cũng có một sự tiếp cận nào đó với lời của Thiên Chúa, cũng có một kinh nghiệm nào đó, dưới rất nhiều dạng, và có thể nói bất cứ cái gì tốt lành được khơi dậy lên trong tâm tư con người đều có phần nào do sự linh hứng của Thánh Thần.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Bộ Kinh thánh được xem như một bộ sách mà nói rằng ghi chép Lời Chúa thì hơi quá, bởi vì Chúa không phải là một ông thầy đến đưa ra một giáo trình để những người được chọn ghi chép lại nguyên văn nhưng Ngài chỉ, không biết dùng chữ gì hơn ngoài chữ nói. Nói, thứ nhất là với một số người được Ngài lựa chọn, đồng thời qua trung gian những người được chọn đó, Ngài nói với toàn thể cộng đoàn dân Chúa. Thật ra không nói là văn của Chúa, mà nói là lời, lời là lời nói, một lời nói sống động; mà đã là một lời sống động thì bao giờ cũng là một tương quan liên ngã vị, trước là tương quan với Thiên Chúa, với những cá nhân được chọn, đến những người truyền đạt lời Chúa, sau nữa là đến cộng đoàn; tuy nhiên dù cộng đoàn đi nữa thì cũng là những ngã vị kết hợp lại thành một, tiếng Pháp gọi là "personne morale", một ngã vị tinh thần.

Thế thì, tương quan sống động bao giờ cũng có một cái ý nghĩa riêng tư nào đó giữa đôi bên mà đệ tam nhân, chẳng những không thể hiểu được, mà đôi khi còn rất dễ hiểu lầm. Tôi xin lấy một thí dụ có hơi ví von một tí: có lúc người ta yêu nhau đến mức, thay vì nói "yêu”, thì lại nói là "ghét”; chẳng hạn, một cặp vợ chồng yêu nhau đến mức người chồng nói với người vợ: "Anh ghét em quá đi thôi!”, chẳng may có một đứa cháu nghe được câu nói đó liền vội đi thuật lại cho bà ngoại. Nghe vậy, bà ngoại hết sức lo lắng vì nghĩ rằng con gái mình và chàng rể đang lủng củng với nhau, vì chính miệng chàng rể nói “Anh ghét em quá!" kia mà.

Thế nhưng thực ra đứa cháu chỉ nghe được một câu và không hiểu chữ "ghét" đó là chỉ mức độ cao nhất của tình yêu. Chính vì vậy, lời Chúa là một lời sống động do các tác giả ghi chép lại, nhưng chẳng qua các tác giả đó đã vận dụng những phạm trù, những ngôn từ, những bút pháp của riêng mình, của nền văn hóa, của thời đại mình đang sống, để diễn tả một kinh nghiệm tương giao liên ngã vị nào đó với Thiên Chúa mà có thể nói là "bất khả ngôn".

Do vậy, khi nói rằng Kinh thánh được linh hứng, thì không phải hiểu một cách đơn giản rằng Thánh Thần đọc từng chữ cho người viết biên chép lại, nhưng Thánh Thần ngỏ với tâm linh con người ấy, qua một kinh nghiệm nào đó được con người ấy mở lòng ra đón nhận bằng một niềm tín phó thác đáp ứng, chẳng những trong tư tưởng, trong tình cảm mà còn cả trong hành động nữa. Hành động đầu tiên của người ấy là nỗ lực tìm những phạm trù, tìm những ngôn từ, vận dụng những bút pháp để diễn tả ra, hòng thi hành cái mệnh lệnh của Thiên Chúa, là làm phát ngôn nhân của Ngài.

Do đó, nói rằng Kinh thánh không thể sai lầm là phải hiểu một cách sâu xa rằng, điều mà Thiên Chúa đã truyền đạt qua một kinh nghiệm linh hứng nào đó bất khả ngôn, thì mới là không sai lầm. Và muốn hiểu cho được điều đó thì phải chọc thủng cái vỏ phạm trù, cái vỏ ngôn từ, cái vỏ bút pháp bao giờ cũng phụ thuộc vào từng cá nhân, văn hóa, thời đại, từng thể văn chứ không nên hiểu một cách máy móc.

Ví dụ, trong việc mô tả sự sáng thế, có một tiến trình tạo dựng trời đất do Thiên Chúa thực hiện qua bảy ngày, đó chẳng qua là tác giả dùng những cái khuôn khổ thông thường thời bấy giờ, vay mượn một số vũ trụ quan, nhân sinh quan nào đó của nền văn hóa đương thời để diễn tả ra cái kinh nghiệm độc đáo từ tận trong tâm linh của mình về công trình sáng tạo từ hư vô bởi Thiên Chúa, chứ không phải Thiên Chúa đọc cho người viết rằng quả thật là đã tạo dựng trong vòng bảy ngày.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Vì vậy, Do Thái giáo, cũng như Kitô giáo, có một sự sùng kính đặc biệt đối với Kinh thánh, và nhất là trong các hệ Tin Lành lại càng dành cho Kinh thánh một vị trí đặc biệt, để các tín hữu ngày đêm đọc đi đọc lại, suy ngẫm đến mức có thể nhuần nhuyễn trong trí óc, trong cảm tính những điều được chứa đựng trong bộ Kinh thánh.

Các Kitô hữu thuộc những hệ phái Tin Lành quan niệm rằng, qua những lời được ghi chép trong bộ Kinh thánh, mỗi một tín hữu cảm thấy dường như chính cá nhân họ giao tiếp trực tiếp với chính Thiên Chúa và nghe trong lòng mình chính lời dạy bảo của Thiên Chúa, đem lại ánh sáng soi rọi cho cuộc đời của họ. Giáo hội Công giáo thì có quan niệm khác hơn, vì cho rằng Kinh thánh tự bản chất không có giá trị độc lập, nhưng phải được đặt vào giữa lòng cộng đoàn, cộng đoàn có tổ chức, có tôn ti thứ bậc, có những người được Chúa chọn, được giao trách nhiệm và được ơn riêng để hiểu và giải thích Kinh thánh đúng theo tinh thần chính thống, chứ không thể để cho bất cứ ai muốn giải thích sao cũng được, nếu không thì có thể sẽ có những cách hiểu lệch lạc rồi đi đến chỗ càng ngày càng xa với truyền thống chính truyền của những người đã ghi chép lại tất cả những gì được gọi là lời Chúa.

Trong khuôn khổ cuộc trao đổi giữa chúng ta đây, tôi không có đủ điều kiện để trình bày cặn kẽ chi tiết những cách cấu tạo của một bộ sách là nguồn mạch cả một nền văn hóa lớn đưa đến Do Thái giáo, các hệ Kitô giáo và của cả Hồi giáo, chi phối đến cả tỉ người, qua hơn hai mươi thế kỷ này. Xa hơn nữa, nếu kể cả đời Đạo Cũ, tức là đời Cựu ước thì đã ngót nghét bốn nghìn năm nay. Tôi chỉ nói sơ qua đó là một bộ sách có thể nói là vô cùng phong phú, được khởi viết vào khoảng năm hoặc sáu thế kỷ trước Công nguyên, trong đó những cuốn đầu được gán cho một tác giả có tính cách tượng trưng là Môsê, vị lập quốc Do Thái, và kết thúc là một cuốn sách được cho là của thánh Gioan, vào khoảng hơn một thế kỷ sau Công nguyên. Như vậy, Kinh thánh là một bộ sách được viết qua cả ngàn năm, gồm đủ loại, đủ hạng các tác giả, và được chia ra làm hai phần chính: Từ phần khởi đầu cho đến khi Đức Giêsu ra đời được gọi là Cựu Ước, và chỉ có phần này là phần được Do Thái giáo công nhận. Phần còn lại được gọi là Tân ước, được tính từ bốn tập tiểu sử của Đức Giêsu Kitô, với một tập kể lại cuộc sống của cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi, gọi là Công vụ tông đồ, tiếp theo là một số Thư của các thánh Tông đồ Phaolô, Phêrô, Gioan, Giacôbê, Giuđa gửi cho các cộng đoàn tín hữu, vừa dạy bảo vừa khuyên răn, và sau hết là sách Khải Huyền mang một tính cách mầu nhiệm, hầu như là một dự phóng về tương lai và ngày Cánh chung.

Từ bốn cuốn tiểu sử của Đức Giêsu Kitô cho đến sách Khải Huyền được gọi là Tân ước. Bộ Tân ước chỉ có các hệ Kitô giáo nhìn nhận là Sách Thánh mà thôi. Giữa Công giáo với các hệ Tin Lành còn có một vài chi tiết khác biệt không mấy quan trọng, và bây giờ thì hầu như hai bên đều tìm cách xích lại gần nhau để đi đến một chỗ nhất trí nào đó. Chúng ta sẽ không nói đến những chi tiết khác biệt không đáng kể ấy mà chỉ tìm hiểu cái tinh thần căn bản của bộ Kinh thánh.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh

Bây giờ tôi xin trở lại một vấn đề đã chạm đến ngay từ đầu mà chắc các anh chị cũng cho là quan trọng, đó là vấn đề về bộ Kinh thánh. Trong phần nói về thần hiệp Kitô giáo, tôi có nhắc đến hai môn đệ trong một buổi chiều đi về làng Emmaus. Tôi xin quảng diễn sự kiện ấy như sau: Sau ngày Chúa Giêsu chịu tử nạn, các môn đệ tan tác mỗi người một ngã, thì chiều hôm ấy, hẳn là một buổi chiều Chúa nhật, có hai môn đệ thất vọng, bỏ thành Giêrusalem mà trở về Emmaus, có thể là một làng quê, dường như trở về để sống lại cuộc đời như trước khi đi theo chân Thầy.

Đang lúc hai ông đi đường thì xuất hiện một khách bộ hành cùng đi. Nhìn thấy hai ông có vẻ phiền não u uất, người khách liền hỏi chuyện. Hai môn đệ đã kể chuyện Giêsu Nazareth là một vị Ngôn sứ lớn đem lại cho các môn đệ của Ngài và quần chúng niềm hy vọng có một ngày được giải phóng khỏi ách đô hộ của đế quốc Rôma; thế nhưng cuối cùng vị Ngôn sứ lớn ấy đã thất bại thảm hại, chết nhục nhã trên cây thập giá, vì thế mà bây giờ các môn đệ đường ai nấy đi, trở về quê cũ làm ăn.

Thế là người khách bộ hành ấy bèn trích dẫn những đoạn Kinh thánh Cựu ước và giải thích cho hai môn đệ ấy về mầu nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh; nhưng hai môn đệ vẫn chưa biết người khách bộ hành ấy là ai, và khi đi ngang qua làng Emmaus thì trời sắp sập tối, hai ông liền mời vị khách cùng vào quán trọ. Lát sau, khi ngồi vào bàn ăn, vị khách bộ hành cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng rồi bẻ ra, bấy giờ hai môn đệ mới nhận ra đó chính là Đức Giêsu Kitô đã sống lại và tỏ mình ra, nhưng ngay lúc đó Ngài liền biến mất. Thê là hai môn đệ tốc tả quay trở lại thành Giêrusalem. Trên đường trở lại ấy, hai ông thầm nhủ, ừ nhỉ, đó chính là Ngài mà chúng ta không biết, khi nghe Ngài giải thích Kinh thánh trong lúc đi đường, chẳng phải chúng ta cảm thấy lòng bừng cháy lên một ngọn lửa phấn khởi, tin tưởng đó sao?

Câu chuyện này đã được họa sĩ Rembrandt vẽ lại thành một kiệt tác hôi họa lừng danh, trong đó thể hiện, tại ngôi quán trọ tại làng Emmau, Chúa Giêsu ngồi ở giữa, trong một vùng sáng, cầm lấy bánh, hai môn đệ ngồi hai bên trong chỗ tranh tối tranh sáng, gợi lên cho thấy sự hiện diện của Đức Gỉêsu như là ánh sáng, đem lại Bánh Sự Sống cho những con người còn ở trong bóng tối để họ lần bước về ánh sáng.
Câu chuyện này có nội dung giúp chúng ta lưu ý đến Bí tích Thánh Thế, như tôi đã trình bày ở trước, song hành với việc đọc, nghe, hiểu và sống Kinh thánh, mà người Do Thái giáo, cũng như người Kitô giáo đều tin rằng đó là bộ sách có thể nói là ghi chép lại lời Chúa, tức là người Do Thái giáo và người Kitô giáo xác tín rằng Chúa có nói, nói với loài người và lời Chúa nói được những người nghe ghi chép lại, để lưu truyền cho hậu thế. Họ coi bộ Kinh thánh như là khuôn vàng thước ngọc mang lại những quy tắc dẫn dắt đời sống cá nhân cũng như đời sống cộng đoàn cho hợp với thánh ý Chúa, và cũng là nơi chứa đựng những chân lý có giá trị tuyệt đối vĩnh cửu, giải đáp hầu như toàn bộ mọi vấn đề về vũ trụ và nhân sinh.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Hầu bàn

 


"Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? 
Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ." Lc 22, 27.

HẦU BÀN

Con ăn, Chúa đứng hầu bàn.
Tình đời ai lại trái ngang lạ thường!
Chỉ vì một lẽ yêu thương.


Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh (tiếp theo)

Mọi vinh quang không chỉ dừng lại nơi những con người được tôn phong lên hàng hiển thánh, nhưng tất cả đều quy về Thiên Chúa, mọi sự chỉ nhằm vinh danh Thiên Chúa. Hướng về đỉnh cao thánh thiện, theo quan niệm của Kitô giáo, không phải là gồng mình như một vận động viên cử tạ nhưng, trái lại, mở rộng lòng mình trong sự khiêm tốn thẳm sâu để đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, có một dạng như là ban cho một cách nhưng không. Chính Thiên Chúa đã dùng các Ngôn sứ và Đức Giêsu Kitô dùng các thánh Tông đô để nói rằng: "Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì” (Is 55,1-3). Chữ "nhưng không", tiếng Pháp là "gratuité", nghĩa là "cho không". Thái độ cơ bản là ý thức được sự hư không của mình, sự hèn kém của mình, nhưng vẫn một lòng tin tưởng, cậy trông và yêu mến, đón nhận ơn Cứu độ, ơn Thánh hóa để muôn đời dâng lên một lời cảm tạ không ngừng mà thôi. Rồi đến cái ngày mà thời gian được cuốn lại, vũ trụ này đi vào Cánh chung, thì sự thánh thiện đó không của riêng ai, mà là chung cho hết thảy mọi người, đều thông dự vào một sự thánh thiện duy nhất, trong một tình yêu duy nhất, trong một hạnh phúc duy nhất trong lòng Thiên Chúa Ba Ngôi, mà ánh sáng thánh thiện, cuối cùng cũng chỉ phát tích từ Đức Giêsu Kitô, giống như hình ảnh trong sách Khải Huyền đã mô tả. Thành Thánh Giêrusalem, tức là Nước Thiên Đàng mai sau, không có ánh đèn, nhưng chính Con Chiên Thiên Chúa tỏa sáng khắp cả Thành Thánh Giêrusalem được mô tả như là một Đền Thánh được xây dựng bằng những viên ngọc toàn bích...

Sự thánh thiện như thế có thể ví như một nguồn sống duy nhất lưu thông trong toàn bộ thân thể Đức Giêsu Kitô mà bất cứ tế bào nào cũng được thấm nhuần, trong cái mà thuật ngữ chuyên môn thần học gọi là "Các thánh thông công", hay "sự hiệp thông giữa các thánh hữu"; cũng như trong một gia đình, không phải ai cũng lao động đổ mồ hôi sôi nước mắt làm ra tiền bạc của cải, nhưng cuối cùng gia sản là gia sản chung, bàn tiệc là bàn tiệc chung, thức ăn, thức uống, cao lương mỹ vị đều là của chung, không ai hơn ai, không ai kém ai.

Trong cuốn sách "Gương Phước, Imitation de Jésus Christ", có một chương hơi phê bình mỉa mai cách suy nghĩ tầm thường của con người trong chuyện bàn luận thánh nào lớn, thánh nào nhỏ, và nói rằng: "Đối với Thiên Chúa, không có thánh lớn thánh nhỏ, bởi vì cuối cùng chỉ có một sự thánh thiện duy nhất là sự thánh thiện của Thiên Chúa trao ban cho bất cứ con người nào, qua trung gian Đức Giêsu Kitô và của Đức Bà Maria”. Có thể nói việc phong thánh, một phần nào chẳng qua một cách nhắc nhớ lại ơn Thiên triệu của bất cứ ai, cũng đều được mời gọi đi vào tiệc cưới Con Chiên, hưởng phần gia nghiệp chung cho hết thảy mọi người, không ai hơn không ai kém, tất cả đều được no thỏa tràn trề.

Việc phong thánh, chẳng qua chì là nói lên cái phẩm giá linh thánh của bất cứ con người nào, mà những vị hiển thánh là những người đã đi trước, để cho mọi người chẳng những noi theo, mà còn một lòng tin tưởng rằng những người ấy đã nên thánh được, thì tôi cũng có thể nên thánh. Bởi vì việc nên thánh không phải chỉ dành riêng cho những người, mà dưới cái nhìn của nhân loại là thánh nhân, là trượng phu, quân tử, nhưng là dành cho hết thảy mọi người, bất luận đó là kẻ đã từng giết người cướp của, đã từng giang hồ đĩ điếm.

Muốn hiểu rõ việc phong hiển thánh, việc tôn kính các Thánh, cần phải nhớ lại lời Đức Giêsu đã ném vào mặt bọn giả hình: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông" (Mt 21,31).

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.