Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011
Đường Vào Phong Nha
Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011
Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011
Viếng cụ Nguyễn Công Trứ






Hội thảo khoa học về Danh nhân Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Công Trứ - Không chỉ đa tài, đa tình, đa đoan...
TTO - 130 năm là một quãng thời gian có thể quên đi một con người bình thường, nhưng không thể quên được một con người “kinh luân khởi tâm thượng, binh giáp tàng hung trung” nhưNguyễn Công Trứ.
Xung quanh cuộc đời và sự nghiệp của con người đa tài, đa tình và cũng đa đoan này lại có nhiều ý kiến khác nhau tại Hội thảo khoa học danh nhân Nguyễn Công Trứ vào ngày 19-12 tại Hà Tĩnh.
| Di ảnh của Nguyễn Công Trứ | Bàn thờ Nguyễn Công Trứ tại huyện Nghi Xuân |
Ngay từ thuở còn hàn vi, Nguyễn Công Trứ đã nuôi lý tưởng giúp đời, lập công danh, sự nghiệp: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Vậy mà cuộc đời ông là những thăng trầm trong sự nghiệp. Ông được thăng thưởng quan tước nhiều lần vì những thành tích, chiến công trong quân sự và kinh tế, tới chức thượng thư, tổng đốc; nhưng cũng nhiều lần bị giáng phạt, nhiều lần giáng liền ba bốn cấp…
Ngay từ đầu buổi hội thảo, PGS TS Trần Ngọc Vượng đã định hướng buổi hội thảo không nên nhìn nhận về Nguyễn Công Trứ là một đại thần với bao vinh quang, danh vọng như Thượng thư, Phủ doãn, Tổng đốc, Dinh điền sứ, Đại tướng… mà quên mất rằng đằng sau ông có hơn nửa đời sống trong cảnh nghèo nàn của một bạch diện thư sinh.
Nguyễn Công Trứ là một người đa tài, một đời dấn thân, bị kìm nén, lên xuống mà đã làm được thế, buộc hậu thế chúng ta đây phải nhìn lại cuộc đời thực, mà ta tưởng như tầm thường đó lại phản ảnh của một thế sự - GS Phong Lê đã thổi lửa vào buổi hổi thảo. Và rất nhiều nhà khoa học đã chỉ ra Nguyễn Công Trứ là một người ngay thẳng, rõ ràng, công bằng, không chấp nhận những cách ứng xử nước đôi thiếu minh bạch, thể hiện một tính cách “thuần Nghệ” trong những vần thơ, hay những câu hát nói.
Sau 150 năm Nguyễn Công Trứ vào cõi trường sinh, đây là lần đầu tiên hậu thế tiến hành một loạt hoạt động tôn vinh cuộc đời sự nghiệp của ông. Nguyễn Công Trứ hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn, là con nhà nho "nòi". Phụ thân là Nguyễn Công Tấn, đậu Cử nhân thời Lê Mạt, làm Tri huyện Quỳnh Côi rồi Tri phủ Tiên Hưng, đều thuộc tỉnh Thái Bình. Từ nhỏ nổi tiếng học giỏi, hay thơ văn, tính cách phóng khoáng. Lớn lên trong những năm cuối của nhà Tây Sơn, tiếp đến đầu nhà Nguyễn, khi trưởng thành lại gặp thế sự nhiễu nhương, bao lần lều chõng trường thi, bấy lần bị loại chỉ vì Nguyễn Công Trứ lộ liễu chính khí "đội trời đạp đất" trong bài thi. |
Nguyễn Công Trứ “coi thường quần chúng”, không thấu cận dân tình? TS Nguyễn Duy Mến khẳng định đây là một cái nhìn sai lầm. Trước đây, nhiều người khi đánh giá về công lao, sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ đã cho rằng việc ông đàn áp khởi nghĩa nông dân là “phản bội lại quyền lợi của nông dân”, trung thành một cách mù quáng với nhà nước chuyên chế phản động.
Ông Mến đã chỉ ra, trong con mắt của một số học giả, Nguyễn Công Trứ là một người quan liêu, cực đoan, ngông nghênh, suốt đời theo đuổi một “chí nam nhi” mang màu sắc cá nhân chủ nghĩa, không thấu cận dân tình cho nên từ một người có lòng thương dân vô hình trung đôi lúc trở thành một kẻ phản bội lại quyền lợi chính đáng của họ. Đó là ánh mắt tàn dư của “phong kiến” nhìn về ông.
GS Phong Lê cho rằng những người đánh giá như vậy mới là “quan liêu”, bởi chưa hiểu được một cách sâu sắc cuộc sống, tâm tư của Nguyễn Công Trứ, cũng như xuất phát từ quan niệm phủ nhận hoàn toàn những đóng góp của nhà Nguyễn đối với dân tộc, lịch sử, cho rằng triều Nguyễn có bản chất “chuyên chế, phản động” nên những đại thần trung thành và có công lao với triều đại ấy là sai lầm, mù quáng.
Buổi hội thảo đã có những đánh giá thỏa đáng, công bằng hơn về bản chất, vai trò của triều Nguyễn, ghi nhận những đóng góp nhất định của triều đại này đối với lịch sử. Và khẳng định: cần ghi nhận Nguyễn Công Trứ như một bậc vi nhân gia như thời cuộc còn cho phép.
Như vậy, dù trong bất cứ lĩnh vực nào, Nguyễn Công Trứ vẫn là một “ông ngất ngưởng” ngạo nghễ trên đỉnh cao của tài năng, bản lĩnh và nhân cách, như cây tùng non Hống vi vu với gió ngàn… Giới khoa học đã so sánh Nguyễn Công Trứ với Nguyễn Du, thì Nguyễn Công Trứ còn gần dân hơn, giữa ông và người dân đen hầu như không có khoảng cách, được người dân gọi thân mật là cố Lớn chứ không gọi theo quan tước mặc dù chức quan của ông có lúc đã đến cực phẩm.
Chí nam nhi của ông xuất phát từ sự trải nghiệm sâu sắc đời sống lam lũ, khổ nghèo của người nông dân, chứ không đơn thuần là một phút cao hứng trong thư phòng lộng lẫy của vương công quý tộc như một số người lầm tưởng.
Nguyễn Công Trứ chưa bao giờ đối lập, tách rời giữa lý tưởng “trí quân” và “trạch dân”. Với ông hai mục tiêu ấy tuy hai mà một, cái này là điều kiện của cái kia, hỗ trợ cho cái kia. Là người học rộng, Nguyễn Công Trứ có một cái nhìn quán thông kim cổ để nhận xét thời thế, hiểu rõ quốc sự, dân tình.
VĂN ĐỊNH
***
*
Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao
Đám phồn hoa trót bước chân vào
Sực nghĩ lại giật mình bao xiết kể.
5Quá giả vãng nhi bất thuyết[1],
Cái hình hài làm thiệt cái thân chi.
Cuộc đời thử gẫm mà suy,
Bạn tùng cúc xưa kia là cố cựu.
Hẹn với lợi danh ba chén rượu,
10Vui cùng phong nguyệt một bầu thơ,
Chuyện cổ kim so sánh tựa bàn cờ,
Riêng vui thú giang sơn phong nguyệt.
Mặc xa mã thị thành không dám biết,
Thú yên hà trời đất để riêng ta.
15Nào ai, ai biết chăng là?
Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010
Viếng Mộ Đại Thi Hào Nguyễn Du


Khu lưu niệm cụ Nguyễn Du thuộc làng Tiên Điền, xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh khoảng 50km, cách Tp. Vinh (Nghệ An) khoảng 8km. Đến đây, du khách sẽ có dịp biết thêm về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du; đồng thời cũng là dịp hiểu thêm về dòng họ Nguyễn Tiên Điền.
Từ Tp. Vinh, theo quốc lộ 1A, qua cầu Bến Thủy - cây cầu bắc qua sông Lam, nối tỉnh Nghệ An với Hà Tĩnh, là du khách đặt chân lên địa phận thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân. Tiếp tục đi theo quốc lộ 8B khoảng 4km nữa là du khách sẽ đến Khu lưu niệm cụ Nguyễn Du.
Nguyễn Du (1765 - 1820) tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, nguyên quán tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh) nhưng sinh ra và lớn lên tại Thăng Long (Hà Nội ngày nay). Cha của cụ là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm và mẹ là Trần Thị Tần làng Hoa Thiền, huyện Đông Ngạn, xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh).
Từ nhỏ Nguyễn Du đã được tiếp thu sâu sắc tinh hoa văn hoá của cả ba vùng: Xứ Nghệ - Thăng Long và Kinh Bắc. Chính vì thế, Nguyễn Du lớn lên trở thành người học rộng, tài cao, tinh thông cả Phật học và sành các môn thi, họa. Tác phẩm Truyện Kiều là một minh chứng rất rõ về Nguyễn Du. Đây là sự đóng góp rất lớn vào kho tàng văn học Việt Nam.
Khu lưu niệm cụ Nguyễn Du được xây dựng để các nho sỹ, văn sỹ và du khách trong và ngoài nước yêu thích Truyện Kiều, ngưỡng mộ cụ Nguyễn Du - một Đại thi hào dân tộc, một Danh nhân văn hóa thế giới; đến thắp hương tưởng niệm. Đây là khu di tích văn hóa nằm trong quần thể di tích dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Quần thể di tích này là một tổ hợp bao gồm nhiều di tích: đền thờ Đại Vương tiến sĩ Nguyễn Huệ; đền thờ Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Trọng; đàn tế Nguyễn Quỳnh; 2 ngôi nhà Tư văn; khu mộ đại thi hào Nguyễn Du, bảo tàng Nguyễn Du và nhà thờ Nguyễn Du.
Ngôi nhà thờ Nguyễn Du được xây dựng vào năm 1825, ngay trên mảnh vườn nhà cụ thuộc xóm Tiền Giáp. Bên trong có bàn thờ xây bằng vôi cát, phía trên có treo bức hoành phi đề 4 chữ "Hồng sơn thế phả" do Hoàng Phù Phái, tước trung hiếu đại phu đời nhà Thanh tặng vào năm thứ 55 triều Càn Long (1790) cùng bài vị bằng đá có khắc dòng chữ "Thanh Hiên Nguyễn Tiên Sinh".
Tiếp theo nhà thờ Nguyễn Du là đến bảo tàng nguyễn Du - nơi trưng bày nhiều tài liệu, hiện vật gốc quý liên quan trực tiếp đến cuộc đời và sự nghiệp của đại thi hào Nguyễn Du.
Đến Khu lưu niệm cụ Nguyễn Du, du khách vừa có dịp được ngắm nhìn phong cảnh nơi đây vừa có dịp được tìm hiểu thêm về giá trị văn hóa lịch sử, tính nhân văn của quần thể di tích Nguyễn Tiên Điền. Đặc biệt, nếu đến đây vào những ngày đầu xuân, du khách sẽ được thưởng thức những đêm thơ Nguyễn Du tại nhà Tư văn trong Khu lưu niệm Nguyễn Du.
Truyện Kiều là tên gọi phổ biến của tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh (chữ Hán: 斷腸新聲) của đại thi hào Nguyễn Du. Tác phẩm này đã đưa Nguyễn Du lên hàng danh nhân văn hoá thế giới.[cần dẫn nguồn] Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện được viết ra sau khi ông đi sứ nhà Thanh về và theo lời truyền thì Phạm Quý Thích đã cho khắc in vào khoảng từ năm 1820 đến năm 1825, thường được gọi là "bản Kinh". Bản khắc in đó nay không còn nữa nhưng còn lưu lại những phiên bản di dịch ít nhiều. Ngoài "bản Kinh" do Phạm Quý Thích cho khắc in, một số dị bản nữa được in sau đó ở Hà Nội do các nhà in phát hành, thường gọi là "bản Phường".
Nguyên bản tác phẩm Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Hiện nay, ở Việt Nam lưu truyền một số dị bản của tác phẩm này. Bản nôm cổ nhất còn lưu giữ là bản "Liễu Văn Đường" khắc in năm Tự Đức thứ 19 (1866), mới phát hiện ở tỉnh Nghệ An [1].
Truyện Kiều là tiểu thuyết viết bằng thơ lục bát. Truyện phản ánh xã hội đương thời thông qua cuộc đời của nhân vật chính Vương Thuý Kiều. Xuyên suốt tác phẩm là chữ "tâm" theo như Nguyễn Du đã tâm niệm "Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu" (nghĩa là "Linh Sơn chỉ ở lòng người thôi"). Ngày nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những tác phẩmvăn học Việt Nam được giới thiệu rộng rãi nhất đến với các du khách cũng như các nhà nghiên cứu nước ngoài.
Truyện Kiều đã từng được in ngược bởi Nhà xuất bản Thanh Niên để có thể đọc mạch truyện ngược chiều thời gian từ "tái hồi Kim Trọng" trở về đoạn mở đầu truyện lúc hai người còn chưa biết nhau.
Truyện Kiều cũng là tác phẩm được viết và đóng thành quyển sách nặng nhất ở Việt Nam do nhà thư pháp Nguyệt Đình thực hiện. Truyện nặng 50 kg, làm trên trên khổ giấy 1 m × 1,6 m và hiện được trưng bày tại Khu di tích Nguyễn Du huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Nguồn: http://vi.wikipedia.org/
Thứ Tư, 17 tháng 11, 2010
Viếng Nghĩa Trang Thiên Thai, Huế







Thứ Tư, 15 tháng 9, 2010
Thứ Năm, 2 tháng 9, 2010
Vườn Hoa Đại Chủng Viện Huế

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010
Nhà Nguyện Đại Chủng Viện Huế


Bức Họa Giáng Sinh
Trong Cung Thánh Nhà Nguyện
Đại Chủng Viện Huế
Họa sĩ : Hoàng Tích Chù
Nguyễn Tiến Chung
Bố cục :
1. Sơ lược lịch sử bức họa
2. Tác gỉa
3. Đề tài
4. Bố cục
5. Ánh sáng
6. Màu sắc
7. Ý nghĩa
8. Thư mục
I. Đôi dòng lịch sử:
Giải thưởng :
Tuy nhiên, ý nghĩa bức họa không chỉ dừng lại ở chiều kích quá khứ để mà hiệp thông, ở hiện tại để mà nói về hội nhập văn hóa, mà còn đề cập đến chiều kích thứ ba, chiều của tương lai. Thật vậy, bức tranh mang đậm cái chất thâm trầm, tĩnh tại của cảnh sắc và con người Á Đông. Chính vì thế, nó cũng hàm chứa cái triết lý của Á Đông : “trong âm có dương”, trong cái trầm mặc u tịch đã manh nha một cái gì là phấn khởi, vui tươi và đầy sức sống. Điều này ta thấy các tác giả thể hiện thật tài tình. Nhìn bức tranh, ta thấy những dải ánh sáng vàng rực[17] tỏa ra từ Chúa Con, đang lan tỏa và xua dần đi những bóng mây đen kịt, u ám. Tiếng sáo, tiếng đàn du dương của ca đoàn thiên thần đang xua đi những tiếng than não nùng của kiếp lầm than ; và quanh Chúa Hài Đồng, mọi con người đều ra chiều bình an và mãn nguyện. Vâng, đó là một hướng mở cho tương lai, hứa hẹn một vùng trời đầy ắp ánh sáng và tiếng ca.
Và còn nhiều nữa những chân trời, những chiều kích ẩn tàng nơi bức họa, đang chờ được khám phá và thưởng nếm …
Cuối cùng, không biết vô tình hay hữu ý mà tác giả đã phác họa một gương mặt khác, gương mặt Chúa Kitô khổ nạn ? Ta có thể khám phá được điều này khi nhìn gương mặt Chúa Hài Đồng kết hợp với vòng hào quang của Người. Ở đó ta sẽ thấy ẩn hiện một gương mặt khác với ánh mắt buồn thống khổ – ánh mắt của Chúa Giêsu khi chịu đóng đinh ! Nếu như đây là do chủ ý của tác giả chứ không do cái nhìn quá giàu trí tưởng tượng vẽ ra, thì một lần nữa, ta lại thấy nguyên lý âm dương được thể hiện thật tài tình, thể hiện rõ nét quan điểm thần học của Giáo Hội : Mầu Nhiệm Khổ Nạn được manh nha, hay đúng hơn được khởi đầu từ Mầu Nhiệm Giáng Sinh ; trong cái vui của ánh sao lạ đã thấp thoáng bóng hình của cây thập giá ; trong tiếng du dương ca hát của triều thần thiên quốc đã vẳng lên những lời đầy hận thù kết án, những tiếng kêu sắc lạnh của tiếng xiềng xích gươm đao ; trong cái an bình của giờ khắc đất trời nối kết, đã chất chứa những hỗn loạn, tháo chạy, ly tán… Nhưng dù sao, ánh sáng Chúa Kitô đang lan tỏa và sẽ chan hòa khắp quê hương Việt Nam yêu dấu.
Tóm lại, cho dù được nhìn dưới góc độ nào, thì ngoài khía cạnh nghệ thuật, bức tranh còn gợi lên nhiều ý nghĩa sâu lắng mà ta có thể chưa cảm nếm hết. Ở đây, xin được mượn hai câu đối của Cha Giuse Maria Nguyễn Văn Thích tặng cho Chủng Viện, hiện đang treo hai bên bức tranh và Nhà Tạm, để tóm kết ý nghĩa thâm sâu mà bức họa muốn diễn tả :
Vế phải: “Hậu Ngô Chi Sinh Giáng Thế
Cánh Thành Ngô Thánh Lữ”.
Dịch nghĩa: “Vì rộng lòng thương chúng tôi, Người đã sinh xuống thế mà trở nên bạn thánh đồng hành với chúng tôi”
Vế trái : “Bão Ngã Dĩ Đức Tuẫn Thân
Hoàn Tác Ngã Thần Lương”.
Dịch nghĩa: “Để nuôi sống chúng tôi, Người đã hiến thân hy sinh mà làm nên lương thực cho chúng tôi”
(Diễn nghĩa bài Verbum Supernum).
Hiện nay, bức tranh vẫn còn đó, trong cung thánh nhà nguyện Chủng Viện Huế, như chứng tích của biết bao thăng trầm của dòng lịch sử dân tộc, của Giáo Hội Việt Nam, của Hội Xuân Bích, và cách riêng, của biết bao thế hệ Chủng Sinh đã từng ngày đêm chiêm ngắm… Từng thế hệ Chủng Sinh lần lượt rời Chủng Viện ra đi phụng sự Chúa trên mọi miền đất nước. Nhưng bức tranh vẫn còn đó, vẫn gọi mời lòng quảng đại của biết bao thế hệ tiếp nối chuẩn bị cho mình hành trang lên đường, đó là sự dấn thân, tinh thần hội nhập và hiệp thông. Có thế, ánh sáng của Mầu Nhiệm Nhập Thể mới mong thấm đẫm, chan hòa mọi miền đất quê hương.
VIII. Thư mục :
1. Tạp chí Phụng vụ, số 4 tháng 6 năm 1971
số 7 tháng 12 năm 1971
số 14 tháng 2 năm 1973
số 15 tháng 4 năm 1973
2. Bài “Chia sẻ về truyền thống Xuân Bích”,
tác giả Lm. Antôn Nguyễn Mạnh Đồng.
3. http:// minhchau-gallery@hn.vnn.vn
Huế, 2003
Pr. Nguyễn Văn Hiền
________________________________________
[1] Trong khoảng thời gian từ 1942 đến 1954.
[2] Tương đương 1.000 cây vàng vào thời điểm đó.
[3] Cha GB. Nguyễn Văn Đán, qua lời kể của Cha Gastine Bùi Đức Tín
[4] Theo Cha FX. Nguyễn Tiến Cát
[5] Sơn mài, Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam
[6] Sơn mài, Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam
[7] Cùng khoá với Họa sĩ Hoàng Tích Chù
[8] Nguyên văn tiếng Anh trên mạng là "Cho Nhong" ; tranh khắc gỗ màu, Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam
[9] Tranh khắc gỗ màu, Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam
[10] Hiện đang ở nhà nguyện của Tu Viện Mai Khôi – Sài Gòn.
[11] Xem Tạp chí Phụng vụ, số 4, tháng 6.1971, tr.144
[12] Viễn cận, viễn họa : perspective
[13] Hậu bán thế kỷ XIX.
[14] Cha Giáo dạy về “Tìm hiểu Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu”
[15] Đây có lẽ không phải là cây bông sứ mà là một thứ cây có người gọi là cây “sặc máu”, có nhiều ở miền Bắc ?
[16] Đàn tỳ bà là một loại nhạc cụ dân tộc
[17] Theo quan niệm Á Đông, màu vàng là màu vương đế
Đăng trong: Viêt Nam, Xuân Bích VN, ĐCV Huế | Thẻ: Giáng sinh
Nguồn: http://xuanbichvietnam.wordpress.com














