Thứ Hai, 31 tháng 7, 2023

INÊ TỬ ĐẠO VÃN


Tự Điển La-Việt (Dictionarium Latino-Anamiticum) của Giám mục Jean Louis Taberd, phần phụ lục trang 110 đến 135 có in một bài thơ (vãn) tên Inê Tử đạo vãn về một vị tử đạo có tên thánh là Inê. Bài vãn gồm 562 câu, in song song với bản dịch tiếng Latinh, Anh và Pháp.
Vị tử đạo trong bài thơ này cũng là một người phụ nữ, cũng bị bắt vào tù, bị đánh đập tra tấn, chồng con cũng vào thăm khuyên bỏ đạo nhưng vẫn kiên quyết theo Chúa tới cùng. Vì lẽ đó cho nên có người cho rằng vị tử đạo này chính là Thánh Anê Lê Thị Thành. Tuy nhiên điều này không hợp lý vì Tự Điển La-Việt được in năm 1838, trong khi Thánh Anê Thành tử đạo năm 1841. Về tác giả của bài vãn thì được gán cho linh mục Phan Văn Minh, cộng tác viên của Đức Cha Taberd trong việc biên soạn tự điển.
Linh mục Đỗ Quang Chính, dựa trên sách Histoire de la mission de Cochinchine, kết luận thực ra bài thơ này đã được viết sớm hơn nhiều, vào khoảng năm 1700, và về một nhân vật có thực hoàn toàn khác: bà Inê Huỳnh Thị Thành, tử đạo ngày 25-12-1700 tại Nha Trang; tác giả viết bài thơ là Loren Huỳnh Lâu (1656-1712).
Nội dung bài vãn tóm tắt như sau:
Ông Côrôlô Lam, ở Lâm Tuyền, Phủ Diên Ninh (Khánh Hòa), có vợ là Sa-ve (Elizabeth), sinh 12 con: bảy trai, năm gái hiếu hòa. Loren (Laurent) là trưởng nam, dâng mình cho Chúa, đang chức thầy, coi sóc giáo dân. Inê (Hùinh Thị) là con thứ 8, trọn bề thảo ngay, khiêm nhường nhân từ. Năm Inê 16 tuổi, mẹ chết. Năm Inê 19 tuổi, cha định việc hôn nhân. Inê kết hôn với Mác cô Hiền (Mark) sinh hai con trai là Nabê (Barnabas) và Phaolô. Năm Inê 28 tuổi, cha chết (ông Côrôlô).
Năm Canh Thìn thời Chúa Nguyễn, ba người: Inê, Mắt ta (Mattha) và Duminh (Dominique) có cáo trạng theo “đạo thiên sinh”. Họ bị bắt. Bị giam cầm, bỏ đói. Inê chết trong ngục.
Trong quyển Histoire de la mission de Cochinchine, có nhắc đến câu chuyện tử đạo của Bà Inê do cha Sennemand kể cho các các Giám mục Pháp làm Đại diện Tông tòa bằng một thư đề ngày 01.08.1702:
“Con sẽ kể lại với quý Đức cha một vài tình tiết đặc biệt trong câu chuyện về bà Inê, em của cha Laurent. Người phụ nữ trẻ trạc 30 tuổi ấy có hai đứa con : một đứa 7 tuổi và một đứa 10 tuổi, chị ấy đang ở nhà một mình với hai con. Khi chị bị bắt, chồng chị đang có việc phải đi xa. Hai người con thấy mẹ bị bắt thì cứ đi theo mẹ khắp nơi, việc này khiến chị bối rối hơn cả lo cho bản thân và không biết phải làm sao. Cuối cùng, sau khi đến nhà tù, chị quyết định cho chúng tiền để ra chợ mua trái cây, và trong lúc đó, chị đi vào nhà tù. Hai đứa trẻ, sau khi ra chợ và sử dụng hết số tiền mẹ cho, liền quay về tìm mẹ ở chỗ chúng đã rời đi, và không tìm thấy nên chúng bắt đầu khóc la khiến mọi người thương cảm, và đánh động đến lòng dạ của chính những người lính, cho đến khi những người họ hàng với hai đứa trẻ, được thông báo, đã tìm và dắt chúng ra Dinh.
Mấy hôm sau, người chồng trên đường trở về, lòng đau như cắt và không thể chịu đựng được hơn nữa, nên cùng hai con đi gặp vợ; anh vừa nói chuyện vừa khóc nấc lên, đồng thời chỉ cho vợ thấy hai đứa con. Vợ anh, nhẫn nại chờ cho chồng nói hết, mới trả lời một cách quả cảm: “Chồng em ơi, em xin anh thôi đừng phiền não nữa. Anh hỏi em tại sao em lại ở đây. Đó chỉ là nhờ ơn Chúa mà thôi, và là hạnh phúc lớn nhất, vinh dự cao cả nhất có thể xảy đến cho em, cho anh và cho các con nữa. Vậy sao anh lại run sợ ? Em xin anh một lần nữa hãy ngừng khóc lóc và chỉ chăm lo cho hai con của chúng ta mà thôi, nuôi dạy chúng biết kính sợ Chúa, tin rằng em sẽ nhớ đến anh và các con trên thiên đàng, nơi mà em hy vọng sớm nhận được triều thiên tử vì đạo.” Câu trả lời hết sức lạ lùng ấy đã an ủi và khích lệ người chồng rất nhiều, đến nỗi anh không còn buồn sầu và làm cho vợ đổi ý nữa, anh còn động viên chị hơn nữa, bằng cách nói với chị là vì chị đã đến đấy rồi, và anh đã thấy chị rất quyết tâm và hoàn toàn phó thác vào Chúa, nên ngày nào anh cũng sẽ cầu nguyện để chị bền vững đến cùng, còn anh thì lo chăm sóc các con và không nói năng gì thêm nữa, vì sợ làm chị đau lòng hoặc sao nhãng việc cầu nguyện và nói chuyện với Chúa”... [sđd, tr. 468]
—-
Văn bản:
(Bản chữ Quốc ngữ trong tự điển Việt-La (Dictionarium Anamitico Latinum) của Taberd in năm 1838)
Tượng điềm lành từ Canh thân Hán,
Chúa ra đời giáng đãn chưng dân.
Cõi nam Chúa thành hiền thần,
Đức nhơn giáo hóa oai ân mựa làm.
5. Có người đức hạnh danh Lam,
Dòng truyền giữ đạo nước nam nên tài.
Ca-rô-lô hiệu là người.
Diên Ninh ấy phủ, nhà nơi Lâm Tuyền.
Vợ hiệu Sa-ve là tên
10. Giai lão kết nguyền, đạo đức kính tin.
Sinh đặng mười hai con hiền,
Bảy trai, năm gái đã nên phước nhà!
Trọn bề trung hiếu thảo hòa.
Lo-ren thứ nhứt thật là trưởng nam,
15. Phú dâng cho Chúa mặc làm.
Học hành thông suốt, chức đang nên thầy;
Vào ra xem sóc nước vầy,
Lòng cha mừng phỉ lo tây chẳng hề.
Gái thì đặng một I-nê,
20. Là con thứ tám trọn bề thảo ngay.
Vốn hiền từ bé nhẫn nay.
Nết na khiệm nhượng tính hay nhơn từ.
Tuổi vừa mười sáu thu dư,
Sa-ve Chúa rước mẫu từ lìa con.
25. I-nê nước mắt bằng non:
Mẹ thác chẳng còn, em dại mồ côi,
Ba em để lại chị nuôi.
Cha già phượng dưỡng em tôi giữ gìn.
I-nê tuổi mười chín niên,
30. Cha mới toan nguyền định chốn sàng dòng.
Bèn lo áy náy tấc lòng,
Than rằng: phận gái, uổng công chăng là.
Sự nầy thì mặc lòng cha.
Đội ơn Chúa định lẽ nào dám toan.
35. Kể từ định chốn nhơn doan,
Mat-cô là hiệu phụng loan kết nghì
Sắt cầm hội hiệp phu thê.
Mới sinh nam tử đặng thì hai trai.
Ước nên tuấn tú hiền tài.
40. Na-bê là hiệu, thứ hai Phao-lồ.
I-nê hai mươi tám thu,
Cha tới cõi cù viếng cảnh xa quê.
Những trông báo bổ ơn nghì,
Hay đâu cha đã kíp về thượng thiên.
45. I-nê lòng những lo phiền,
Kính cha thương mẹ, cầu nguyền chẳng khuây.
Anh thì chịu chức làm thầy,
Tôi thì xuất nghiệp, em rày cậy ai?
Mới toan thơ gửi cho thầy.
50. “Lo-ren cha hỡi về đây toan cùng.”
Lo-ren từ hiểu tin thông,
Hai hàng châu lụy ròng ròng nhỏ sa,
Tôi đã lỗi đạo cùng cha!
Đặt bàn làm lễ misa nguyện cầu;
55. Lễ thôi từ giã đền chầu,
Trở về bổn quán, dạ âu lo lường.
Lòng thương cha mẹ võ vàng,
Phải về lo liệu toan đương em cùng.
I-nê xem thấy lòng mừng;
60. Cha đã về cùng toan liệu làm sao?
Mười năm cha ở phương nao?
Lòng em trông nhớ rày sao mới về?
Lo-ren an ủi mọi bề:
Các em chớ dại lỗi nghì chẳng nên.
65. Mới phân gia nghiệp điền viên.
Phần anh phú để cầu nguyền cho cha,
Các phần anh đã chia ra,
Em thì gìn giữ cửa nhà làm ăn,
Thìn lòng giữ đạo cho cần.
70. I-nê em hỡi giữ phần phước em.
Sáu người huinh đệ mới toan,
Đồng Nai tới rước tài quan đam về.
Dần dà cõi nọ xứ kia,
Rước đặng đam về nơi phủ Diên Ninh.
75. Táng cha thôi mới khởi trình.
Mọi nỗi tâm tình dặn bảo Inê:
Trong dòng nam nữ hai phe,
Lòng anh thương một I-nê hơn nhiều,
Em thì giữ vẹn mười điều,
80. Chớ hề sai chạy, chước nghèo phải sa.
I-nê than hỏi chường cha:
Phép trong lẽ đạo người ta ở đời,
Đến khi mình có đổi dời,
Phép nào xác khỏi hồn bay thẳng về?
85.Lo-ren an ủi mọi bề:
Dầu đồng trinh thánh cũng đi chẳng tuyền,
Dầu mà khổ hạnh tu truyền,
Hãy còn đôi chối chưa yên một bề,
Hơn chăng hơn thánh đồng nhi,
90. Hồn ngay thẳng ruổi tiên kì tợ sao.
Cùng hồn tử đạo tù lao,
Hoặc là chết thác cũng cao một bề.
I-nê thưa thốt ngồi kề,
Trình cha than hỏi, chẳng khi nào rời,
95. Thấy cha dặn bảo mọi lời,
Công lòng bát ngát ước nơi cõi lành,
Xin cho gặp hội cầu danh,
Ta sẽ liệu mình họa đặng cùng chăng?
I-nê bịn rịn dùng dằng,
100. Lo-ren từ giã phăng phăng lại dời.
Bình Khương vừa đến nghỉ ngơi.
Giữ gìn xem sóc mọi nơi linh hồn,
Chẳng ngờ tượng bởi càn khôn,
Thiên đàng mở hội võ môn khoe tài.
105. Canh thìn vừa thuở thiên khai,
Nguyễn chúa trị đời hiệu lịnh cả ra:
Truyền cho thiên hạ gần xa,
Ai thờ đạo Phật thì ta dong tình,
Bằng ai giữ đạo thiên sinh,
110. Chẳng chừa thì bắt tội tình chớ tha.
Chẳng ngờ có đứa gian tà,
Lòng hềm độc dữ cáo bà Inê.
Lịnh nghiêm phép kín nhiều bề,
Chị em sao có lòng mê chẳng chừa?
115. Lên Dinh trấn thủ chường thưa,
Trạng bày sau trước, trình thưa cáo rằng:
“Có trạng rằng:
Trạng tố thân tường
Khi quân mạn pháp sự kim tam tử,
120. Danh hiệu I-nê Mắt-ta tinh kỳ Du minh đẳng chúng
Phi kỳ Phật môn lăng túng chánh lịnh,
Ngu đẳng nan y tam giả,
Vị kỳ đồng tâm hiệp lực,
Bất luận quốc pháp, bất kính điều chương,
125. Tùng đồng thiên Chúa đạo.
Phất cố như lai Phật tổ,
Thả thử đạo lễ bất tuân kim cổ pháp,
Bất luận thỉ chung.
Như thử hà y đẳng phân loạn hoành tùng giả?
130. Phả bất nặc văn thư chỉ tự,
Tâm vô hải hà kỳ minh đại sự.
Khẩn khất mặc quan đồng luận.
Tiểu sinh ngưỡng vọng cao minh.
Trạng điều”.
135. Trạng bày sau trước căn do.
Lịnh quan cắt khiến đình pho giục đòi,
Bắt I-nê lại với hai người,
Chị em hai đứa vào nơi công đàng.
Mắt-ta lòng chịu không đang
140. Liều mình trốn trước lên đàng ra đi.
Ông nghè mới hỏi vân vi:
Nàng cùng nam tử toan nghi một lời,
Bay mà bỏ đạo Chúa trời,
Trở về đạo Phật, giày nơi ảnh nầy,
145. Thì tao thứ tội cho bay;
Chẳng thì tao giết bỏ thây oan mình.
Nước nầy Chúa thánh thần minh.
Nào ai giữ đạo thiên sinh bao giờ,
Chúa trời bay thật đạo vơ,
150. Bỏ đi tao đặng thứ tha dong tình,
Chẳng thì tao giết bỏ mình,
Phước đâu chẳng thấy, tội tình nhuốc nha
I-nê đặt gối trình qua:
Chúng tôi giữ đạo Chúa cha nhơn từ,
155. Thật đàng công chính chẳng tư.
Tôi đâu dám bỏ công phu ngãi người?
Mặc ông tha giết hai lời;
Tôi thà chịu chết, cõi trời nên công.
Giết tha thì mặc lượng ông,
160. Kim thạch là lòng chẳng chạy mỗ phân
Ông nghè chẳng muốn giết dân,
Vật chi phụ nữ nhọc nhằn quân ta?
Hãy giam tạm nó một nhà,
Ngày sau sẽ nộp lượng hòa một khi.
165. Cầm Du-minh với I-nê.
Ngày sau chưa nộp ủ ê lo buồn,
Cầu xin cùng Chúa giúp con,
Giúp tôi cho đặng kẻo còn để lâu.
Lại dặn Du-minh chớ âu:
170. Chị em cốt nhục đồng bào mẹ cha,
Đồng sinh đồng tử hai ta,
Trả công ơn Chúa một nhà hiệp nhau.
Nầy đoạn Lo-ren về sau
Nghe tin em đã chịu âu tử hình,
175. Viếng em an ủi tâm tình,
Mới toan liều mình chịu với cùng em.
Đồng sinh đồng tử cho êm!
Tôi xin trọn ngãi Chúa thêm sức cùng.
Anh em dốc chí một lòng.
180. Sinh tử đạo đồng em hỡi I-nê!
Từ rày ta một đặng về,
Anh sao em vậy chớ hề tới lui.
I-nê lòng lại ngùi ngùi,
Khuyên cha, cha hãy nghe tôi kẻo lầm,
185. Nước nầy đạo Chúa ngăn cầm
Ngày sau giáo hữu mê tâm nguôi lòng,
Cha mà toan chịu tử đồng,
Ắt là bổn đạo lạt lòng ngãi nhơn,
Chẳng bằng ở lại thì hơn,
190. Giữ gìn xem sóc mọi nơi linh hồn;
Trước là dạy dỗ cháu con,
Anh em thơ dại thì còn có cha:
Cho nên ý Chúa nhiệm xa,
Dong thầy chẳng bắt, sao cha chẳng bàn?
195. Vậy nên Chúa mở lòng quan,
Tha cha chẳng bắt mà toan đặng nào.
Tôi mà dựa nguyệt ngồi sao,
Thì tôi cũng nguyện cha vào cõi vui.
Thầy bèn lã chã châu rơi:
200. I-nê em hỡi, anh ngồi sao an?
Một mai mặc lịnh nhà quan,
Em chớ phản nàn, anh lại buồn thêm,
Em về anh ở sao an?
Khoa này chẳng liệu, mà toan khoa nào.
205. Nầy lời cha cả khuyên sao.
“Các thầy ngoại quốc tiêu hao nói rằng:
Từ rày con cái mằng tăng,
Cha khôn gìn giữ ủi an mọi lời,
Đòi phương man mác mồ côi .
210. Cha là ngoại quốc khôn noi thế tình.
Lo-ren dốc chí liều mình!
Lịnh quan chẳng bắt tư tình ý tham.
Thầy là người nước An nam,
Để khi nghèo hiểm giúp làm cho dân.
215. Nhơn sao thầy lại dành phần?
Lấy ai gìn giữ con dân nước nầy?
Ai hầu xem sóc đỡ thầy
Làm thơ một bức gửi rày thông tin”.
Nầy lời thầy cả gởi khuyên,
220. Mọi lời sau trước căn nguyên đọc rằng:
“Chúa cả công bình cầm quờn thưởng phạt,
Pha pha chính tước, thầy cả Vít vồ,
Ơn Chúa giúp cho Lo-ren đặng tỏ
Chúa chuộc tội dạy dỗ muôn dân.
225. Ba năm ân cần mới toan chịu chết.
Thầy rày dốc quyết muốn chịu tử nghì,
Bỏ bổn đạo đi, ai hầu an ủi?
Các thầy khác thói ẩn yếng đòi phương.
Nấy cho thầy gìn giữ dân lương,
230. Nỡ nào thầy lại toan về cùng Chúa?
Ai hầu dạy dỗ bổn đạo linh hồn?
Phú cho thầy Nam việt các con.
Bằng chẳng chịu đài vàng mặc phán,
Lời lành diệu toán đến vận thần cơ.
235.Khuyên thầy ở lại sớm khuya,
Cùng bổn đạo khỏi thì nguy hiểm,
Giúp hạn mưa dào trợ hiểm,
Khỏi chưng thì hoạn nạn bốn dân.
Ơn Chúa đượm nhuần sáng soi phù hộ.
240. Nay thơ”.
Lo-ren bèn đọc thơ rồi,
Đượm ngừng nước mắt nhuốm sôi hai hàng.
Khoa nầy chẳng gập bảng vàng,
Ngày nào cho đặng hiển vang nước trời?
245. I-nê thưa thốt chường lời:
Xin cha nghe lịnh Đức thầy bề trên.
Nầy lời bổn đạo lại khuyên.
“Cha chớ xa miền bỏ chúng mồ côi,
Xin cha ở lại cùng tôi,
250. Cầu xin Chúa để cha tôi lại cùng”.
I-nê can gián hết lòng.
Thương em cha thác uổng công chăng là,
Ấy lời thế luận gần xa;
Em quỳ trăm lạy xin cha nhậm lời.
255. Lo-ren lòng động ngùi ngùi,
Thảm thương mọi nỗi em ôi anh về.
Anh giã Du-minh I-nê,
Rày em ở lại anh về cho an,
Đêm ngày cầu nguyện dưới bàn,
260. Xin hai em đặng làm quan cõi trời.
Nầy đoạn Mat-cô càng thương
Tìm lên viếng vợ tư lương thảm sầu,
I-nê em hỡi cầm đâu?
Rày anh đến viếng bạn hầu kẻo thương.
265. Vợ chồng đạo ngãi tào khương,
Con thơ nỡ bỏ lo lường làm sao?
Lìa nhau anh dám cãi nào.
Làm chi lên nỗi tù lao rạc hình.
I-nê lẵng lặng làm thinh.
270. Chồng càng than khóc vợ mình kể khuyên:
Sắt cầm từ thuở ấu niên,
Nỡ nào ly biệt cho an tấc lòng.
Dẫu chẳng nên đạo vợ chồng,
Con thơ ai kể quan phòng dưỡng nuôi,
275. Má hồng mặt bạc mày môi,
Mình vàng vóc ngọc bỏ tôi chẳng nhìn?
Em hỡi nghe lời anh khuyên,
Sắt cầm giai lão nên duyên hiệp hòa.
I-nê rằng: chước quỷ ma,
280. Nó toan làm hại hồn ta phen nầy.
Mát-cô anh đã tới đây,
Công linh nghĩa Chúa tôi rày trả ơn.
Anh thì ở lại chớ sờn,
Thìn lòng giữ đạo chẳng hơn cũng tày,
285. Ngày sau ta lại hiệp vầy.
Thương thì cầu nguyện hồn ngay thẳng về,
Ấy là ngãi đạo phu thê,
Chớ ra lòng mọn lỗi nghì chẳng nên.
Nghe lời em cứng khôn khuyên,
290. Giã em còn ở anh về cùng con.
Ròng ròng nước mắt bằng non.
Thương em anh phải ruột don héo sầu,
Từ rày chếch bạn phải âu,
Lìa tâm lìa đức lìa nhau khôn tìm,
295. Gần ngày đam nộp chị em,
I-nê mới gửi thơ đem cho chồng,
Cùng thăm huinh đệ đạo đồng,
Họ hàng trên dưới tổ tông hai đàng.
“Thơ rằng.
300. Chúa cả cao quang phù trì tiểu tử;
Thiếp nay nhi nữ cám đức phu quân.
Ngãi sắt cầm những ước thiên xuân,
Doan kim cải trọn bề tứ đức.
Đạo chính giúp tôi bền sức,
305. Ơn trên Chúa cả mở lòng.
Xảy gặp hội mây rồng,
Phải lìa doan cá nước .
Thiếp dầu lỗi tam tùng tứ đức,
Dốc trọn nguyền vạn thọ cõi xa.
310. Xin lang quân chớ chấp ngãi hòa,
Thương ấu tử mồ côi mất mẹ.
Chàng thì chớ nại, giữ đạo cho bền,
Đến cõi trường miên hai ta lại hiệp
Sau dầu cải nghiệp làm bạn nơi nào,
315. Phải chọn bề nhân đức đạo cao ,
Gởi ấu tử cho con nương cậy.
Chàng thì giữ lấy lời thiếp chớ quên:
Mặc dầu đã cách nhơn duyên,
Hồn nọ phút giây chẳng khỏi.
320. Xin lang quân thế tình chớ đoái,
Áng nguyệt hoa, tửu sắc thìn mình.
Sau con dầu khôn lớn thành hình,
Xin dạy dỗ ủi an chớ bỏ.
Kính thăm nhạc phụ từ mẫu song thân,
325. Nữ tử vọng ân trăm đàng miễn chấp.
Xin thương tiểu điệt thơ dại mồ côi,
Chớ nỡ nặng lời, con thơ tất tưởi.
Sau thăm trên dưới huinh đệ họ hàng,
Gửi cô tôn ấu tử gia đàng,
330. Giã hết cựu bang từ rày ly biệt.
Nay thơ”
Thơ thôi lại nói cùng em:
Đồng sinh đồng tử cho êm chớ nài,
Chị em cốt nhục hình hài,
335. Chị sao em vậy làm trai cho bền.
Lịnh quan đam nộp lại nguyền:
Xin em chịu đặng Chúa thêm sức cùng,
Chị em dốc chí một lòng,
Ông nghè mới hỏi lẽ công một lời,
340. Bay mà bỏ đạo Chúa trời,
Trở về đạo Phật đạp nơi ảnh nầy,
Thì tao thứ tội dong bay,
Chẳng thì tao giết bỏ thây oan mình.
I-nê thưa thốt phân minh:
345. Đạo nầy thờ Chúa thiên sinh tạo đời,
Có công sinh đất dựng trời,
Tạo thành nhơn vật, mọi nơi thế nầy.
Chúng ta phải giữ đạo ngay.
Phật người Thiên trước cõi tây chẳng thờ.
350. Ảnh nầy hình Chúa tôi xưa,
Khi nào thờ phượng bây giờ đạp đi;
Tôi xin chịu chết chẳng nề,
Trả công ơn Chúa công kia ngãi nầy,
Ơn ông lượng rộng xét suy,
355. Đỗi nào tôi chịu, làm chi nữa là.
Quan trên trấn thủ truyền ra.
Ông nghè mới dạy chớ tha loài nầy.
Bắt vào cầm ngục chớ chầy
Cấm cho ăn uống, truyền vây giữ gìn,
360. Đứa nào nhịn đói chẳng đang.
Đam ra phạm ảnh xử xong cho về.
Đứa nào lòng cứng chẳng nghe,
Thì cầm cho chết bỏ thây ra ngoài.
Bắt đam vào ngục hòa hai.
365. Chị em ren rén vào nơi ngục hình.
Rạc nầy chỉn thật u minh.
Mới toan ngồi xuống phân minh nói rằng:
Lòng mừng chơn bước thung thăng.
Mặt vui hớn hở nói năng vui cười.
370. Làm thơ một bức ba lời,
Dặn con sau trước ở đời cho an.
“Vậy có thơ rằng:
Chúa cả xây vần càn khôn phúc ái,
Sở sinh là ngãi, dưỡng dục bào thai.
375. Trước kính tin một Chúa chớ nài,
Sau thảo kính hai bên cha mẹ.
Mẫu thân Huình Thị mẹ là I-nê:
Sinh hai con châu báu sánh kề.
Mẹ những ước đá vàng trượng mạo.
380. Mát-cô danh ấy hiệu thật Nghiêm Hiền.
Cậu là Lo-ren cha linh hồn thật.
Một nhà hiệp mặt kế hiệu thiên thu,
Trên chín tầng mở hội thiên cù,
Mẹ liều thác trả công ơn Chúa.
385. Con thì thơ bé mẹ thác chẳng còn.
Bức thơ này để lại cho con,
Sau khôn lớn mọi lời cho biết.
Con thì giữ nết đức hạnh khiêm nhường.
Bé thờ cha vâng giữ gia nương,
390. Lớn theo cậu ủi an dạy dỗ.
Cù lao báo bổ ơn ấy chớ nài,
Miễn là con giữ đạo thành tài.
Cho mẹ đặng ngày sau thấy mặt.
Dầu cha cải nghiệp kế mẫu quy đàng.
395. Hai con thìn khiêm nhượng kính đang.
Chớ khá ở bạc tình kiêu ngạo.
Lời lành dặn bảo thương mẹ thì nghe:
Áng vui chơi tửu sắc rượi chè,
Lời độc dữ gian tà lánh rẹn.
400. Mẹ rày đà đến cõi thọ diệu quang,
Mọi lời sau trước rõ ràng.
Mẹ giã con còn ở thế.
Nay thơ”.
Thơ đam về đến gia đàng,
405. Mát-cô xem thấy xót xa đoạn trường
Thơ chồng mọi nỗi đà tường,
Thơ con lại gởi làm thương trăm đàng
I-nê Em chịu sao đang!
Ruột loan vấn vít dạ gan đeo sầu.
410. Khóc than thôi lại lo âu,
Con ôi mẹ cứng làm rầu càng thêm.
Mặt hoa mày liễu mất êm,
Bỏ con kêu khóc sao nên chẳng về?
Than rằng: bậu hỡi I-nê,
415. Nào khi loan phụng sánh kề hỏi han?
Bây giờ quạnh quẽ phòng loan.
Hai hàng nước mắt lụy chan chẳng đừng.
Em thì danh tiết lẫy lừng,
Anh thì hứng chịu vì chưng doan hài.
420. Con ôi! con hỡi! kêu ai?
Mẹ bây đi chợ một mai sẽ về.
Một giây con lại quên đi.
Kêu rằng ớ mẹ, mẹ đi phương nào!
Động lòng cha lại thương sao.
425. Ẵm con tìm tới tù lao lại rằng:
Con đi với mẹ con chăng?
Gặp rày kẻo nhớ xa chừng biết đâu,
Nầy con em đã thương sao?
Ra cho con thấy nỡ nào từ con.
430. Thốt thôi bước xuống thềm môn.
Con rằng cha hỡi thì nào mẹ tôi?
I-nê lòng động thương ôi!
Thấy con kêu khóc nhuốm sôi hai hàng.
Muốn làm thinh vậy cho an,
435. Lại e thất ý phu lang chăng là,
Cầu xin cùng Chúa nói ra,
Giúp tôi bề vững khỏi qua nạn nầy.
Mát-cô anh đã tới đây,
Thiếp giã ơn rày đã có lòng thương.
440. Bồng con trở lại gia đường
Làm chi bịn rịn áp lòng dạ tôi?
Con nghe tiếng mẹ thốt thôi,
Kêu rằng: ớ mẹ, mẹ ôi chẳng về.
Mẹ càng chuyển động ngã kề,
445. Cầu xin cùng Chúa khỏi bề gian nan,
Nín hơi chẳng dám thở than.
Khác nào như kẻ làm quan xa miền.
Chẳng ngờ tượng bỡi đông thiên,
Trời làm bão lụt Trường An dẫy đầy,
450. Nước tràn khắp hết đông tây.
Ngục cầm ở đó ướt nay phải dời.
Lập làm chốn khác cao khơi.
I-nê rén rén lại dời chân ra,
Hai con thấy mẹ kêu la:
455. Kêu rằng: Ớ mẹ về nhà cùng con.
Mát-cô ruột thắt héo don.
Xin em nhịn đã phen này kẻo âu
I-nê lòng chẳng chuyển đâu:
Nói rằng sự ấy mặc dầu thiên cơ.
460. Chờ cho ngục đoạn đến giờ,
Trao tiền kíp dỗ con thơ mua hàng.
Hai con vừa bước ra đàng,
I-nê kíp lại toan đang vào tù.
Ngục nầy là chốn âm u,
465. Quân canh gìn giữ hai đàng vào ra.
Hai con trở lại khóc la,
Kêu rằng: ớ mẹ về nhà cùng con.
I-nê nín lặng làm thinh,
Cầu xin cùng Chúa xui con ra về.
470. Mát-cô thảm thiết nhiều bề,
Bồng con chở dậy ra đi nói rằng:
Từ rày anh chịu mằng tăng ,
Phải về cho kẻo chẳng bằng lòng em.
Tay bồng tay dắc lui thềm
475. Hai hàng nước mắt lụy tuôn lại ngồi.
Con rằng: thì nào mẹ tôi?
Bồng tôi trở lại, mẹ ôi chẳng về.
Mát-cô than thở nhiều bề,
Dối rằng con hỡi, mẹ đi mua hàng.
480. Trở về vừa đến gia đàng,
Tới nhà nghỉ mát, thở than đêm ngày.
Nầy đoạn trong ngục đã chầy,
Mình gầy mặt võ, xương bầy, da nhăn.
Dặn dò sau trước ủi an,
485. Du-minh em hỡi làm quan phen nầy,
Trả công ơn Chúa phải vầy,
Em chớ phiền rày chị lại buồn thêm.
Đói lòng khát nước càng êm.
Mình khô càng nhẹ Chúa thêm sức cùng.
490. Thấy đà mỏi mệt nhọc công.
Tôi xin cho kíp chớ dong lâu ngày.
Hay tôi tội lỗi còn dày,
Cho nên Chúa để lâu ngày cùng chăng?
Kể đà một tháng răng răng,
495. Bốn tuần có lẻ mình chẳng thấy gì?
Quân canh thấy sự dị kỳ,
Lòng thương chẳng nỡ vân vi lời gì.
Lo-ren vừa bước chơn đi,
Thấy hai em đã gầy mòn thảm thương,
500. Thưa quân thăm thử thác. còn,
Một giây tôi sẽ dời chơn ra về.
Cho thầy vào viếng I-nê,
Mừng nhau bơ bải vỗ về hỏi han.
Hết lòng an ủi ủi an,
505. Lại ngồi giải tội khuyên can dặn dò.
Cầu xin cùng Chúa giúp cho,
Kẻo mà đói khát nhỏ to thay là,
Giã hai em ở anh ra.
Quân canh gìn giữ chẳng tha chẳng lìa.
510. Tứ tuần lục nhựt đến kỳ,
Du-minh còn khỏe I-nê gầy mòn,
Gượng mà kêu Chúa hơi don,
Mượn em kêu giúp kẻo non hơi rày,
Làm thinh thôi mới chấp tay,
515. Để qua trên ngực Chúa rày rước đi.
Giữa ngày bảo lụt đang thì,
Bỗng liền tạnh nắng tứ vi như tờ.
Tin cho dòng họ thân sơ,
Ai ai đều đến táng đưa xác người,
520. Hay tin bổn đạo tới nơi.
Lo-ren đi trước các người đi sau,
Xin quân mở cửa cho mau,
Quân quan xem thấy mọi nơi chói lòa,
Tức thì đam xác người ra.
525. Du-minh yếu đạo Chúa cha chẳng nhìn,
Trốn ra khi ấy ban đêm.
Ra khỏi cửa thềm lộn lạo đều đi,
Đam về đất thánh một khi.
Thầy bèn cầu nguyện vân vi nói rằng:
530. Hơi thơm hơn nữa hương lang,
Ra mùi phức phức dường bằng hoa dâu.
Anh em lòng chẳng dám sầu,
Song le ngãi trọng dạ âu khôn cầm.
Thầy bèn an ủi âm thầm.
535. Lịnh quan phép nhặt nhẫn tâm cho bền.
Thốt thôi thầy lại cầu nguyền:
Xin cho em khỏi tiền khiên ở đời,
Hạnh nầy công đã nên người.
Nguyệt in dường nguyệt tốt tươi khôn bì,
540. Linh hồn tới chốn lưu li,
Thanh nhàn tự tại oai nghi rỡ ràng.
Công danh ghi tạc bia vàng,
Trong đời có một nên gương trong trời.
Chép làm một bổn để đời,
545. Truyền cho thiên hạ người người học theo.
Thấy thì hầu đã cheo leo,
Đội ơn Chúa cả giúp nghèo cho an.
Chẳng qua thiên vận tuần hoàn,
Bỉ thôi lại thới, vui hơn khắp nhà.
550. Cầu xin cùng Chúa giúp ta,
Giữ gìn mười giái kẻo sa địa hình..
Hạnh nầy thì đã phân minh,
Xem cho tường tận dâng kinh nguyện cầu.
Phép trong lẽ đạo nhiệm mầu,
555. Ai mà học đặng mới hầu thơm danh.
Bia vàng tạc chữ chí linh,
Để truyền sách ấy nối dòng đời sau,
I-nê là hiệu làm đầu.
Hiền kia thánh nọ xem làu bổn căn,
560. Giáo nhơn học lấy làm lòng,
Giữ trong mười giái thì thông lẽ mầu.
Cùng vãn
***
Bài vãn do Bùi Công Thuấn đánh máy lại và chia số câu.

Nguồn: https://www.facebook.com/anhq.tran.5680