Thứ Tư, 15 tháng 11, 2017

Hành Trình Tâm Linh: Linh đạo của Cộng đoàn Emmanuel


Linh đạo của Cộng đoàn Emmanuel

Gần đây hơn, người ta đã thấy xuất hiện trong Hội thánh những hình thức linh đạo mới lồng vào trong Truyền thống to lớn của Hội thánh. Cộng đoàn Emmanuel cho ta một thí dụ về điều này.

Cộng đoàn này bắt nguồn từ trào lưu Canh tân đoàn sủng Công giáo. Vào năm 1972, phong trào Canh tân đoàn sủng, vốn được khai sinh tại Hoa Kỳ một vài năm trước, du nhập vào nước Pháp. Một vài nhóm cầu nguyện nhỏ được thành lập. Như chúng ta đã thấy, một trong các nhóm đầu tiên được khai sinh ở Paris với Pierre Goursat, một nhà phê bình điện ảnh đã nghỉ hưu, và một nữ bác sỹ nội trú trẻ, Martine Laffitte (nay gọi là Catta). Bắt đầu với năm người, một năm sau đó nhóm gồm tới năm trăm người và đã phải giảm tốc. Khá nhanh sau đó, một số tham dự viên muốn đi xa hơn. Chính vì thế mà Cộng đoàn Emmanuel đã được khai sinh. Cộng đoàn lan truyền nhanh chóng và được Tòa Thánh chính thức công nhận vào năm 1998. Năm 2003, Cộng đoàn gồm khoảng từ sáu đến bảy ngàn thành viên, trong đó có một trăm sáu mươi linh mục và nhiều chị em sống đời thánh hiến; cộng đoàn được phổ biến trong sáu mươi lăm quốc gia. Đó là một trong những cộng đoàn canh tân đoàn sủng được lồng sâu nhất vào Hội thánh. Nhiều sứ vụ của Hội thánh đã được ủy thác cho nó, đặc biệt là các giáo xứ, và nó đã tự khai triển vô số hoạt động Phúc âm hóa dưới những hình thức rất khác nhau.

Sự tuôn đổ Thần Khí

Pierre Goursat († 1991), vị sáng lập Cộng đoàn Emmanuel, đã năm mươi tám tuổi khi ông gặp phong trào Canh tân đoàn sủng, và ông đã trải qua một hành trình tâm linh dài theo phong trào này. Nhưng khi ông đón nhận lời cầu xin Chúa Thánh Thần đổi mới nội tâm mình (sự “tuôn đổ Thần Khí”), ông đã trở một con người mới. Ông đã “gặp” Chúa Thánh Thần như một ngôi vị.

Sau ông, hàng trăm người đã trải qua kinh nghiệm này. Một ngày kia, hoặc đột ngột, hoặc sau một thời gian dài chuẩn bị trong âm thầm, cuộc đời thay đổi. Thiên Chúa trở nên gần gũi. Chúa Giêsu, từng ở xa, đột nhiên tiến lại gần ta. Bấy giờ ta trao phó đời ta cho Thiên Chúa, và Chúa Thánh Thần trở thành chủ đời ta. Điều đó xảy đến cho những người thuộc mọi lứa tuổi, mọi sắc tộc, mọi bậc sống, mọi trình độ tâm linh và nhân bản:

              - Sự tuôn đổ Thần Khí tương ứng trước hết với một sự khai tâm của Thiên Chúa, qua đó Ngài ngự đến một cách đặc biệt, để tỏ mình ra cho người ta như một ngôi vị sống động và gần gũi. Những người được đổi mới bởi kinh nghiệm này khám phá ra hoặc khám phá lại ý nghĩa của bí tích Thánh Tẩy và bí tích Thêm sức mà mình đã nhận lãnh. Họ đáp lại bằng cách hoán cải, thay đổi đời sống để có thể, một cách tiệm tiến, đặt Thiên Chúa vào trung tâm của đời mình.

Kinh nghiệm về sự tuôn đổ Thần Khí này tạo nên sắc thái đặc biệt cho linh đạo của Emmanuel. Ý nghĩa cuộc đời trở nên tích cực. Ta tin vào tương lai của con người và của nhân loại, bởi vì Thiên Chúa hiện diện ở đó. Ta bắt đầu tìm kiếm nơi mỗi người điều có thể phát triển để phục vụ thiện ích. Ta lưu tâm đến những đoàn sủng được Hội thánh trao ban, và ta thử, không chỉ đem chúng ra thực hành, nhưng còn suy nghĩ để Phúc âm hóa thế giới này từ những đoàn sủng ấy. Hơn nữa, nếu ngày nay Chúa Thánh Thần hoạt động, là vì Ngài có một dự phóng trên Hội thánh. Ngài khát khao canh tân Hội thánh, làm cho Hội thánh sống động trở lại trong các quốc gia Kitô giáo già cỗi, mở rộng Hội thánh trong các quốc gia khác. Từ đó nảy ra một cái nhìn yêu mến và lạc quan về Hội thánh, rất khác xa với những bài diễn văn theo thời trang, cũng từ đó nảy ra khát vọng yêu mến và phục vụ Hội thánh dưới mọi hình thức mà mình có thể làm được. Như vậy, sự tuôn đổ Thần Khí là một cuộc khởi hành: linh đạo Emmanuel thật không tĩnh tại chút nào.

Một hệ quả khác của sự tuôn đổ này là việc ca tụng. Chúa Thánh Thần là thần khí vui tươi hoan hỉ, Ngài là Đấng An Ủi. Hơn nữa: Ngài mở ra lời tụng ca giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Cũng vậy, trong viễn tượng của Canh tân đoàn sủng, Cộng đoàn Emmanuel là một cộng đoàn ca tụng, tạ ơn, tri ân triền miên, theo lời mời gọi của Chúa để “luôn vui tươi [...] và không ngớt dâng lời tạ ơn Thiên Chúa” (1Tx 5,16-18). Việc ca tụng này mặc lấy cả ngàn hình thức, từ lời ca tụng vang dội của các buổi phụng vụ long trọng hoặc của các cuộc hội họp để cầu nguyện cho đến lời ca tụng trong từng gia đình. Nhưng nó không bị hạn chế chỉ trong việc thực hành mà thôi: đó là một lối sống. Toàn cuộc hiện sinh như được nhìn qua một nhãn quan ca tụng, nó trở thành một kinh nguyện liên lỉ mà mọi Kitô hữu đều được mời gọi thực hiện.

Việc ca tụng này không khiến cho các thành viên “tách ra” khỏi cộng đoàn. Trái lại, nó nhập thể vào đời sống hằng ngày. Emmanuel, ấy chính là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta trong các công việc khiêm tốn của cuộc đời, ấy chính là Thiên Chúa đã đến trong xác thể của chúng ta. Cũng vậy, cuộc sống tâm linh chỉ đúng đắn và sinh động nếu nó được nhập thể một cách cụ thể và, nếu ta nói một cách bạo miệng, thực dụng. Ngay cả danh xưng mà Thiên Chúa ban cho cộng đoàn cũng mang ý nghĩa rõ ràng về lời mời gọi nhập thể, về sự tỏ bày của Thiên Chúa đang hiện diện, ở giữa những con người, hôm nay.

Thờ lạy, Thương xót, Phúc âm hóa

Pierre Goursat là một người luôn thờ lạy. Người ta đã có thể nói trong tang lễ của ông rằng “Ông đã tiêu hao bản thân trong việc thờ lạy”. Ông từng trải qua nhiều giờ mỗi ngày trước Mình Thánh Chúa, và ông muốn rằng các thành viên trong cộng đoàn trước hết phải là những người thờ lạy, nghĩa là những người nam và nữ chiêm niệm trước khi mãi mê hành động.

              “Các thành viên của Cộng đoàn Emmanuel dấn thân hết mức có thể vào việc thờ lạy dài giờ trong ngày (thờ lạy bí tích Thánh Thể khi có thể được)” (Nội quy, số 15). Khi làm việc này, họ chiêm ngắm Đức Kitô hiện diện trong Mình Thánh Chúa đang trao ban sự sống và tình yêu của Ngài để cứu rỗi mọi người. Họ không chỉ thờ lạy cho riêng họ mà thôi, nhưng cho hết thảy mọi người. Họ mở con tim mình ra với tình yêu vô tận của Thiên Chúa hầu cho tình yêu xót thương này được đổ tràn xuống thế gian. Họ tự hiến bản thân để đáp lại cơn khát tình yêu mà Đức Kitô đã tỏ ra trên Thánh giá (Ga 19,28)

Thờ lạy Chúa Giêsu trong Mình Thánh Chúa, tham dự thánh lễ, mỗi ngày nếu có thể, không chỉ là chu toàn những việc đạo đức, mà còn là đặt mình càng lúc càng sâu hơn trong một thái độ thường kỳ, trong một tình trạng chiêm niệm và thờ lạy. Thờ lạy dẫn đến việc xả kỷ chầm chậm, việc quên đi càng lúc càng nhiều những dự phóng cá nhân và, ngược lại, để Chúa Giêsu đi vào trong linh hồn mình mỗi lúc một mạnh hơn. Không có gì “vô ích” theo cái nhìn của con người hơn là việc thờ lạy. Ở yên đó, chẳng làm gì, trong nhiều thời khắc, đôi khi tạo ra ấn tượng mất thời giờ vốn có thể được sử dụng cách tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, đó chính là nguồn mạch của cuộc sống. Không thờ lạy, hoạt động chỉ là ngắn ngủi và hời hợt.

Một hiệu quả quan trọng của việc thờ lạy là sự “thông truyền” chính các tâm tình của Trái Tim Chúa Giêsu. Một cách huyền nhiệm, dần dần, ta suy nghĩ như Ngài, ta cảm nhận như Ngài. Và bấy giờ ta cảm thấy một tình thương xót bao la đối với thế giới, đối với con người, đặc biệt đối với nỗi đau khổ của họ. Ta để cho những điều đó chạm đến mình, ta dẹp hàng rào phòng thủ đi. Rất nhanh chóng, ta bị bao trùm bởi nỗi đau khi thấy con người chết đói, một cách vật chất, nhưng còn chết đói hơn nữa về mặt tâm linh. Đó là tiếng kêu la của thánh Đa Minh khi ngài cầu nguyện trong đêm tối, tiếng kêu la mà Pierre Gousat vẫn thường lập lại: “Lạy Thiên Chúa của con, xin thương xót! Những người tội lỗi sẽ ra sao?”

            Lòng thương xót đích thực của Chúa Giêsu là việc cứu rỗi con người đã được Chúa Cha tạo dựng. Trở thành môn đồ của Emmanuel, là để cho mình bị thiêu đốt bởi khát vọng được cộng tác với Ngài để cứu rỗi mọi người.

Đó chính là lòng thương xót, được cắm vào việc thờ lạy và làm phát sinh hành động. Nó mặc lấy dáng vóc của một khát vọng Phúc âm hóa, một khát vọng nói về Chúa Giêsu, một khát vọng không câm miệng khi đối mặt với sự nghèo khó lớn nhất, là sự vắng bóng Thiên Chúa. Ta không có thể ngồi yên thụ động, chỉ đơn giản làm chứng về việc thế giới mất đi ý nghĩa, ta không thể đào ngũ trước cơn đói của con người, cơn đói về Thiên Chúa:

           Lời mời gọi tân Phúc âm hóa của Đức thánh cha chỉ xác nhận thêm ơn gọi của Cộng đoàn Emmanuel là tham gia vào việc hoàn tất sứ mạng của Hội thánh trong thế giới hiện nay.

Như vậy, Emmanuel là một cộng đoàn truyền giáo. Dưới mọi hình thức, trong gia đình, trong công việc, trong các sứ vụ của Hội thánh hoặc các hoạt động riêng của cộng đoàn, ta được mời gọi làm chứng cho Thiên Chúa, mọi bậc sống hỗn hợp (giáo dân, linh mục, nam và nữ tận hiến), trong sự tinh tế nhẹ nhàng được Đức Maria ban cho và với sự nâng đỡ bằng hiến lễ của các thành phần đang gặp đau khổ của cộng đoàn.

Trái Tim Chúa Giêsu

Một cách huyền nhiệm, từ 1975, Cộng đoàn Emmanuel thấy mình được liên kết với địa điểm Paray-le-Monial và với sứ điệp của Thánh Tâm Chúa Giêsu, vốn đã được mặc khải cho thánh nữ Maria-Magarita từ 1673 đến 1675. Thoạt đầu, không có định mệnh nào sắp đặt cho một cộng đoàn Canh tân đoàn sủng tiếp xúc với hình thức linh đạo xem ra đã cũ xưa này. Thế nhưng sứ điệp của Trái Tim Chúa Giêsu đã có một ảnh hưởng quyết định trên cộng đoàn Emmanuel. Đáp lại, cộng đoàn đã cộng tác đổi mới việc loan báo và trình bày sứ điệp này.

Sứ điệp của Paray trước hết được liên kết với nội tâm. Trái tim, đó chính là trung tâm của con người, là nơi chốn của “cái tôi sâu xa”. Nói đến trái tim là nói đến một tôn giáo của nơi “sâu thẳm”, của chốn tâm linh, hơn là nói đến một tôn giáo của công việc. Đó cũng chính là nói đến một sự hợp nhất giữa Trái Tim Thiên Chúa, nghĩa là nơi bí nhiệm của Ngài, và trái tim con người: nơi ấy chúng ta ở trong một linh đạo hợp nhất. Tiếp đến, sứ điệp của Paray là một sứ điệp tình yêu: “Xem kìa, Trái Tim này đã yêu thương con người đến độ không dành lại một điều gì, đến độ tiêu hao chính mình để minh chứng tình yêu của mình cho họ.” Đó chính là toàn bộ Tin mừng của thánh Gioan: Thiên Chúa là tình yêu, sáng tạo là một công trình của tình yêu, và trong tình yêu sự Cứu chuộc đạt đến những đỉnh cao không ngờ. Như vậy, Paray là một lời công bố tình yêu của Thiên Chúa cho nhân loại.

Nhưng trong sứ điệp của Trái tim Chúa Giêsu có một chiều kích mà Emmanuel đã càng ngày càng khám phá ra thêm: đó là tình yêu không được yêu đáp lại. Quả thật, Đức Kitô phàn nàn với thánh nữ Maria-Magarita về sự dững dưng thờ ơ của con người, đặc biệt đối với sự hiện diện yêu thương của Ngài trong Thánh Thể. Và ở vườn Ghếtsêmani, lúc Đức Kitô cần được giúp đỡ, thậm chí cần được các bạn hữu của mình an ủi, sự dửng dưng này đã tới cao điểm. Cũng vậy, Cộng đoàn Emmanuel muốn an ủi Trái Tim Đức Kitô. Các thành viên của cộng đoàn muốn cận kề bên Ngài như những người bạn và những người anh em. Thật là sửng sốt khi nghĩ rằng Đức Kitô đã muốn cần con người đến mức van nài tình bạn của họ. Và chính trong việc thờ lạy và rước Thánh Thể mà tình bạn này có thể biểu lộ một cách ưu việt nhất. Như vậy, sứ điệp của Paray mang tính thời sự hơn bao giờ hết, vì những tâm tình của Trái Tim Chúa Giêsu không hề thay đổi và phải được giải thích cho mọi người thuộc mọi thời đại.

*


Hãy cùng nhau nhắc lại rằng: các thí dụ mà chúng ta vừa nêu ra chỉ nói được đôi chút về sự phong phú của lịch sử thiêng liêng của Hội thánh và về các cơ hội mà Hội thánh trao tặng cho con cái mình. Có nhiều linh đạo cùng hiện hữu. Không phải vì một số linh đạo cổ xưa hơn mà chúng kém thời sự đi. Pierre Van der Meer từng nói: “Luôn luôn sống động, Hội thánh tự biểu lộ dưới nhiều dáng vẻ. Nó sống động trong kinh nguyện thầm lặng của các hội dòng chiêm niệm, nó sống động trong nỗi khổ đau của người nghèo cũng như trong niềm vui trao ban, nó cũng rất sống động trong vẻ tráng lệ của các ngôi đại thánh đường hoặc trong vẻ khiêm tốn của các nguyện đường nhỏ bé.” Đó cũng thật là sự đa dạng của các hình thức linh đạo.

(Hết chương 7) 

Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

Hành Trình Tâm Linh: Linh đạo của phong trào Focolare


Linh đạo của phong trào Focolare

Linh đạo của các thành viên Focolare thì hoàn toàn khác biệt. Được khai sinh ở tỉnh Trento nước Ý, trong thời đệ nhị thế chiến, hiện nay phong trào Focolare được truyển bá trên khắp thế giới và tác động, dưới nhiều hình thức, hàng triệu người ở những cấp độ dấn thân rất đa dạng. Phong trào bắt nguồn từ một nhân vật mà hiện nay danh tánh đã được rất nhiều người biết đến: Chiara Lubich. Người ta đã sống linh đạo của bà rất lâu trước khi linh đạo này được đem ra phân tích. Ta có thể tóm tắt nó xoay quanh một số chủ đề chính.


Chúa Giêsu ở giữa chúng ta

Các thành viên Focolare ưu tiên dành một mối ràng buộc quan trọng với sự hiện diện thiết thực và gần gũi của Chúa Giêsu trong thế giới loài người: Gèsu in mezzo, như cách nói của người Ý. Không có gì xa cách với suy nghĩ của họ hơn là tin rằng Ngài vắng mặt khỏi thế giới mà Ngài đã tạo dựng nên và khỏi lịch sử mà Ngài là chủ tể. Chúa là và vẫn là vị Chúa gần gũi, hôm qua cũng như hôm nay. Và “nơi” mà Ngài mạc khải sự hiện diện của mình một cách đặc biệt hơn hết là bí tích Thánh Thể. Phong trào và vị sáng lập ra nó cũng rất yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể. Nếu các thành viên không rước lễ hằng ngày, hoặc ít nữa là rước lễ thường xuyên, thì phong trào sẽ chẳng là gì cả; vì việc rước lễ tạo ra một sự biến đổi tâm linh không thể diễn tả nơi người Kitô khi họ hợp nhất với Đức Chúa của mình:

              Thánh Thể [...] tạo nên một sự hợp nhất của người tín hữu với Thiên Chúa, vượt xa sự hợp nhất của bí tích Thánh tẩy: nó dẫn đến việc đồng hóa về mặt bản thể [assimilation substantielle]. Dĩ nhiên phải hiểu điều này với sự tôn trọng khoảng cách giữa Đấng Tạo Hóa với kẻ được tạo thành. Không có sự trộn lẫn thể lý giữa người rước lễ và Đức Kitô, nhưng có sự đồng hóa huyền nhiệm, tuy thiêng liêng mà có thực, cho phép ta nói rằng có sự đồng hóa “thân thể”.

Nhưng Chúa Giêsu không chỉ hiện diện trong Thánh Thể mà thôi: Ngài cũng còn hiện diện trong người anh em, với người anh em: “Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đó, giữa họ” (Mt 18,20). Một trong những điểm mạnh của phong trào là ở chỗ dựa vào sự tái khám phá tình yêu của Thiên Chúa hiện diện giữa những người tụ họp nhân danh Ngài. Là hệ quả của điều này, tình yêu thương huynh đệ như cũng được tái khám phá và giữ những chiều kích mới. Như vậy đoàn sủng tình yêu thương huynh đệ là một trong các dữ kiện nền tảng của các thành viên Focolare: “Tình yêu thương anh em của chúng ta là điều răn căn bản. Bất cứ hành vi nào nếu được thực hiện bởi tình yêu thì đều có giá trị. Không có tình yêu thương với anh em của chúng ta, mọi sự chúng ta làm đều rỗng tuếch.”

Sự hợp nhất

Hơn nữa, như có một huyền nhiệm ở trong tình yêu huynh đệ này. Thật vậy, không nên bám vào những mối quan hệ hời hợt bên ngoài, nhưng hãy đạt tới vùng sâu thẳm của người đang ở trước mặt tôi. Nói cách khác, cần phải “tạo sự hợp nhất” với người ấy. Ở đó chúng ta chạm đến một ân sủng nền tảng của phong trào: sự hợp nhất. Chiara Lubich hoàn toàn rõ ràng về điểm này:

              Ơn gọi đặc thù của chúng ta là hợp nhất; đó chính là đặc trưng của phong trào Focolare. Những khái niệm khác, những cách nói khác có thể diễn tả theo một lối khác, chỉ trong một từ, rất thần thiêng và tráng lệ, những cách thức khác nhau để đến với Thiên Chúa... Nhưng đối với chúng ta, hợp nhất là lời tóm tắt linh đạo của chúng ta. Lời này chứa đựng nơi mình mọi thực tế siêu nhiên khác, mọi điều răn khác, mọi thực hành và mọi thái độ tôn giáo khác.

Sự hợp nhất này, trước hết và rất hiển nhiên, là sự hợp nhất với Đức Kitô vốn đang được cụ thể hóa trong bí tích Thánh Thể. Nhưng đó cũng còn là sự hợp nhất với người anh em, trong sự hợp nhất này sự hiện diện của Đức Kitô sắp được tỏ lộ:

              Nếu chúng ta được kêu gọi để đi đến sự hợp nhất, thì đối với chúng ta, con đường dẫn đến Thiên Chúa là ngang qua người anh em. Chính bằng lối đi này, đôi khi cũng âm u và tối tăm như một đường hầm, mà ta đạt tới ánh sáng. Thiên Chúa yêu cầu chúng ta trải qua con đường huyền nhiệm này để đến với Ngài.

Như vậy người theo linh đạo Focolare được mời gọi vét rỗng bản thân, theo một cách nhất định, khỏi chính mình, khỏi nền văn hóa, lối suy nghĩ, thế giới nội tâm của mình, để nên “một” với người mà mình đối thoại. Đó là một sự khổ chế triền miên, nhưng ta có thể làm được, vì qua sự lột trần này, chính Chúa Giêsu lớn lên trong con tim mỗi người:

              Đó là thập giá mà chúng ta phải chọn hằng ngày, thập giá tuyệt vời nhất. Nó là sự sống dành cho chúng ta và những người mà chúng ta yêu thương. Nếu được chia sẻ, nó trở nên sự sống ở giữa chúng ta, là Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu bị bỏ rơi

Khi đòi hỏi chúng ta từ bỏ bản thân, Đức Kitô đòi hỏi nhiều lắm, nhưng Ngài có thể đòi hỏi như thế vì chính Ngài là người đầu tiên cảm nghiệm điều này. Trực giác về “Chúa Giêsu bị bỏ rơi” là một điểm khác – trong một phần lớn chưa được xuất bản – của linh đạo và hiện nay là của thần học về phong trào. Đó là một sự lập lại và đào sâu về thần học Thập giá và các hệ quả của nó.

Quả thật, đối với Chiara Lubich, khi Đức Kitô nói, trên Thánh giá: “Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha bỏ con?” (Mt 27,46), Ngài chạm tới đáy sâu của sự cô quạnh ở một mức độ khó tưởng:

              Chúa Giêsu bị bỏ rơi là mẫu gương của người nghèo về mặt tinh thần. Sự nghèo khó của Chúa Con, có thể nói, là sự nghèo khó đến độ thiếu vắng Thiên Chúa; Chúa Giêsu không còn nhận thấy sự hiện diện của Thiên Chúa nữa. Chúa Giêsu bị bỏ rơi là mẫu gương của sự từ bỏ và khổ hạnh. Sự đau khổ của Ngài không chỉ ở mặt thể lý – là khổ hình thập giá -, mà linh hồn Ngài cũng sống con đường núi Sọ, vì Ngài phải từ bỏ thực tế thân thương nhất này: sự hợp nhất với Thiên Chúa. Đối với Chúa Giêsu, nó đề cập đích xác tới một sự từ bỏ hoàn toàn Ngôi vị Chúa-Người của Ngài.

Như ta thấy, đoạn văn này, vốn chỉ là một giữa rất nhiều đoạn khác, sẽ còn cần được chú giải dài dòng. Nó đi rất xa. Như vậy, chính vì Chúa Giêsu bị bỏ rơi hợp nhất với con người nơi bí tích Thánh Thể nên Ngài có thể yêu cầu các anh em của mình sống trong tình trạng bị bỏ rơi dẫn đến hợp nhất này.


Tất cả điều này hẳn nhiên đã có những hệ quả, và theo dòng thời gian, phong trào đã cải biến chúng dưới hàng ngàn hoạt động hướng về đại kết, về một “kế hoạch hiệp thông”, v.v. Các hoạt động này đã thay đổi cuộc đời của hàng ngàn người và đã có những hệ quả trên toàn thể Hội thánh, những hệ quả mà các thế hệ tương lai sẽ được hưởng ích lợi.

(Còn tiếp)