Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Khắc Dương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Khắc Dương. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2026

Chuỗi Mân Côi và đời sống chiêm niệm



Nhân tháng Mân Côi, xin chia sẻ những chiêm nghiệm của Thầy Nguyễn Khắc Dương:

CHUỖI MÂN CÔI
VÀ ĐỜI SỐNG CHIÊM NIỆM

+ THẾ TÂM NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

MỤC LỤC:
● Ave Maria.
Phần I: Chuỗi hạt Mân Côi một kho tàng thiêng liêng vô tận.
Phần II: Để nhớ đến Mẹ Thầy và cùng Ngài nhớ đến Thầy.
Phần III: Khi lần hạt Mân Côi ta xin ơn gì cùng Đức Mẹ.
Phần IV: Lần hạt Mân Côi với tất cả khả năng tâm hồn.
Phần V: Đưa cuộc sống thiết thực hằng ngày lồng vào chuỗi Mân Côi.
Phần VI: Ý nghĩa cuộc đời trong chuỗi hạt Mân Côi.
Phần VII: Cùng hai Trái Tim Chí Thánh trở nên trái tim của Hội Thánh.
Phần VIII: Một ví dụ gợi ý về cách ngắm một mầu nhiệm trong chuỗi hạt Mân Côi.
● Vài lời minh xác.
● Chiêm niệm bên vệ đường

- Đường dẫn tải sách:


Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Tín điều "Các Thánh Thông Công" và việc thờ cúng Tổ Tiên và các bậc Phúc Thần, Hiển Thánh của Dân tộc



TÍN ĐIỀU “CÁC THÁNH THÔNG CÔNG”
VÀ VIỆC THỜ CÚNG TỔ TIÊN VÀ CÁC BẬC PHÚC THẦN, HIỂN THÁNH CỦA DÂN TỘC.

+ THẾ TÂM NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

“Và Thiên Chúa đã đẹp lòng chấp nhận Abel và của lễ của ông ta” (Sáng Thế 4,4b).
Và Thiên Chúa nói với Nôe: “Đây là dấu hiệu giao ước mà ta thiết lập giữa TA và TẤT cả mọi sinh linh trên mặt đất” (Sáng Thế 4,17).

I.
Tòng giáo năm 1949 (tức là trước công đồng Vaticanô 2), tôi phải đoạn tuyệt với truyền thống thừa kế từ một nền văn hoá xây dựng trên nền tảng Khổng giáo, vốn lấy đạo Hiếu làm gốc mà việc thờ cúng tiền nhân là một điều quan trọng vào bậc nhất.

– Cụ thể là tôi không được:
1) Thờ cúng Tổ Tiên.
2) Thờ cúng các vị Phúc Thần, Hiển Thánh tức là các Tiền nhân có công đức lớn lao đối với địa phương, với Đất Nước, với nhân dân mà lòng sùng bái của hậu thế đã đặt lên bàn thờ (và phần lớn được Nhà Vua, tức là vị Thiên Tử, thay mặt Trời ban tặng Sắc Phong)
– Vì việc Thờ phụng ấy bị xem như là Thờ Ngẫu Tượng (IDOLATRIE).

II.
Thực ra việc thờ phượng ấy bao hàm một số niềm tin (croyances) về ý nghĩa nhân sinh sau đây:
1) Người chết vẫn tồn tại và vẫn có sự tương ứng với người còn sống một cách nhiệm mầu.
2) Nếu những người quá cố ấy là những kẻ có công đức to lớn thì được TRỜI cho siêu thăng và được ban cho dự phần vào việc hoá dục muôn vật và phù trợ cho hậu thế: con cháu, đồng bào, đồng loại tương tự như Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng được Thiên Chúa giao cho việc rắc xuống trần gian những đoá hoa hồng. Và như vậy là TRỜI tỏ cái Đạo Lý công bằng tài bồi cho những người Công Chính trước mặt Ngài.

Thờ cúng tiền nhân có công đức là tuân Đạo Trời, là thờ Trời một cách gián tiếp. Vì chỉ có Nhà Vua mới được trực tiếp thờ Trời: ba năm một lần Tế Giao rất trọng thể, tôn nghiêm với bá quan Văn Võ. Rồi đến Quan Chức mới được thờ Thần Thánh, còn thường dân thì chỉ thờ Tổ Tiên.

Niềm tin ấy và việc thờ phượng ấy xét ra không có gì là trái với Đức Tin Kitô Giáo. Vì trong căn bản là một nhân sinh quan lấy Đạo Lý làm nền tảng và Đạo Lý ấy là bởi Trời. Không phải không thờ Trời, mà có lòng khiêm cung sâu thẳm, không dám phạm thượng làm cái việc thiêng liêng chỉ dành riêng cho Nhà Vua (tương tự như Giáo dân không làm lễ, đó là việc Thiêng liêng chỉ dành cho các linh mục). Bắt người tòng giáo đoạn tuyệt với một truyền thống tốt đẹp như vậy là không hợp lý hợp tình!

III.
Sau Vaticano 2 người Công Giáo được phúc thờ cúng Tổ Tiên và tham dự việc thờ cúng Phúc Thần và Hiển Thánh. Nhưng hình như chỉ với ý nghĩa bày tỏ lòng tôn kính tri ân chứ không nêu rõ ý nghĩa:
1) Những người công chính, dù chưa được đón nhận tin vui, cũng được siêu thăng vinh hiển (dĩ nhiên là quy về sự siêu thăng vinh hiển tột đỉnh của Đức Giêsu Kitô Phục Sinh),
2) Và như vậy thì được Thiên Chúa trao cho nhiệm vụ làm trung gian ban các ơn phúc của Ngài cho người dương thế, như Ngài đã giao nhiệm vụ ấy cho các Thánh Kitô hữu, theo tín điều “Các Thánh Thông Công” trong kinh Tin Kính.

IV.
Vậy có thể lấy tín điều “Các Thánh Thông Công” làm nhịp cầu nối lại (không đoạn tuyệt nữa!) Đức Tin Kitô Giáo với các truyền thống thờ cúng Tiền nhân của Dân tộc Việt Nam mà không có gì là lạc giáo (hérétique). Đồng thời cũng là mở một cánh cửa để người Việt Nam ngoài Công Giáo nhìn vào Giáo Hội với ít nhiều thiện cảm và thấy gần gũi, bớt xa lạ.

Để minh hoạ suy nghĩ trên đây xin hình dung một ngôi đền thánh có ba dòng Thánh song song hàng dọc:
1) Dòng ở giữa gồm các Thánh Tân Ước.
Hai bên tả hữu:
2) Một bên là dòng gồm các Thánh Cựu Ước.
3) Một bên là dòng gồm các Thánh Tiền-Cựu-Ước (hay Nguyên Ước).
Dòng thứ 3 khởi đầu là người Công Chính Abel và kế tiếp là các vị tiền nhân Công Chính của mọi gia đình, mọi dân tộc, tuy là không thuộc về Giao ước Abraham nhưng cũng được siêu thăng vinh hiển.
Như vậy ắt hẳn là phù hợp với niềm tin vào tính phổ cập của ơn Cứu Độ trong Đức Giêsu Kitô hơn.

● Và để kết luận:

Trong bài Kinh Năm Thánh 2000 (Phần 4) khi nhờ các Thánh chuyển cầu, đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo 2 có “Nhờ lời cầu xin của NHỮNG NGƯỜI CÔNG CHÍNH THUỘC MỌI DÂN, MỌI THỜI”. Có phải chăng Ngài đã mặc nhiên công nhận rằng: Những người công chính thuộc MỌI DÂN, MỌI THỜI, cũng đã được siêu thăng vinh hiển và có khả năng chuyển cầu cho nhân thế trước mặt Thiên Chúa là Vị Cha Chung; chẳng khác gì các người công chính đã được Giáo Hội minh nhiên phong Hiển Thánh.

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Thầy Stêphanô Nguyễn Khác Dương (24.09.1925 - 28.09.2026)




NGUYỄN KHẮC DƯƠNG VÀ MỘT ĐỜI TỰ VẤN GIỮA CÁC NỀN VĂN HÓA

Tác giả: Tino CAO

Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24 Tháng Chín năm 1925 tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học bề thế. Cha ông là cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, người đỗ đại khoa dưới triều Nguyễn, từng làm quan, và được nhớ đến như một nhà Nho giữ trọn tiết tháo ở buổi hoàng hôn của nền quân chủ. Anh ông là bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện; chị ông là nhà thơ Nguyễn Thị Thiếu Anh; các em ông có giáo sư Nguyễn Khắc Phi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà hoạt động phụ nữ Nguyễn Thị Phương Thảo (*). Muốn nói về Nguyễn Khắc Dương, phải bắt đầu từ nếp nhà ấy, nơi mà chữ nghĩa, đạo đức, trách nhiệm gia tộc, ý thức kẻ sĩ và cảm thức quốc gia thấm vào đời sống hằng ngày.

Nếp nhà ấy cũng đặt Nguyễn Khắc Dương trước một nghịch cảnh lịch sử. Ông sinh ra khi Nho học đã mất địa vị chính thống, khoa cử bị bãi bỏ, xã hội Việt Nam chịu cảnh thuộc địa, tầng lớp trí thức cũ mất con đường hoạn lộ quen thuộc. Với thế hệ của ông, Nho học đã khép lại lối vào quan trường; phần đáng giá còn lại nằm trong gia phong, luân lí, danh tiết và bổn phận.

Đời Nguyễn Khắc Dương từ đó mang theo nhiều băn khoăn day dứt trước những ngả rẽ không phải dễ lựa chọn: con nhà Nho nhưng học ở trường Công giáo; người từng chịu hấp lực Phật học rồi chọn Kitô giáo; người học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với sự Tây hóa; người giảng dạy trong đại học Công giáo miền Nam mà mang trong mình vùng kí ức Đông phương của một ông đồ xứ Nghệ.

Năm 1938, khi Nguyễn Khắc Dương vào học trường Thiên Hựu (Providence) ở Huế, sự chuyển hướng đầu tiên đã bắt đầu. Một người con trong nếp Nho gia gặp nền giáo dục Công giáo, gặp tiếng Pháp, truyền thống nhân văn châu Âu, một diễn ngôn khác về con người. Trong vũ trụ Nho giáo, con người được đặt trong gia đình, tông tộc, luân thường, phận vị; trong thế giới Công giáo mà ông tiếp xúc, con người tồn tại như một nhân vị độc nhất trước Thiên Chúa, có lương tâm, tự do, phẩm giá và trách nhiệm không thể thay thế. Va chạm ấy không phải chuyện đổi trường. Nó là một biến động trong cách hiểu về mình. Từ đây, Nguyễn Khắc Dương bắt đầu đi vào thế kỉ 20 không phải như một người thừa kế yên ổn của truyền thống mà như một cá nhân buộc phải tự tìm lấy vị trí giữa các truyền thống đang tranh chấp trong chính đời ông.

Sau 1945, đường đời Nguyễn Khắc Dương đi qua nhiều bước ngoặt lịch sử. Ông tham gia một số hoạt động Việt Minh tại địa phương, dạy học ở trường tư thục Công giáo tại Hà Tĩnh, rồi năm 1949 lãnh nhận bí tích Rửa tội với tên thánh Stêphanô. Quyết định theo Công giáo của ông cần được nhìn nhận trong chiều sâu văn hóa của nó. Đó không phải là sự rời bỏ một nền nếp cũ để đi theo một tôn giáo ngoại lai theo nghĩa hời hợt mà nhiều diễn ngôn chính trị vẫn gán cho Công giáo Việt Nam. Đó là một chọn lựa phải đi qua mặc cảm gia đình, qua hình ảnh người cha Nho học, qua bổn phận của người con, ý niệm nối dõi, nỗi băn khoăn trước một tôn giáo bị không ít người Việt thời ấy nhìn như gắn với thực dân.

Cuộc “trở lại” của Nguyễn Khắc Dương không phải một quyết định bất chợt. Đó là lựa chọn hình thành giữa những ràng buộc rất sâu xa của gia phong, đạo hiếu, kí ức Nho học và nhu cầu tự tìm lấy một nền tảng tinh thần cho đời mình. Sau khi vào dòng Phanxicô, tu học tại Vinh, Nha Trang, rồi sang Pháp, ông tiếp tục đi sâu vào một lựa chọn vừa thiêng liêng vừa trí thức. Từ năm 1957 đến 1960, ông học triết học tại Sorbonne và tốt nghiệp cử nhân triết học. Cần định danh chính xác điểm này, vì về sau nhiều người gọi ông là giáo sư, thậm chí có nơi gọi sai là tiến sĩ.

Uy tín của Nguyễn Khắc Dương không phải từ chuyện học hàm theo nghĩa hành chính ngày nay. Ông là “thầy” vì cuộc đời giảng dạy, vì tư thế trí thức, vì ảnh hưởng trên nhiều thế hệ linh mục, tu sĩ, kể cả giám mục. Sau khi về miền Nam năm 1965, ông giảng dạy tại Sài Gòn rồi lên Viện Đại học Đà Lạt, nơi ông giữ vai trò Trưởng ban Triết học và quyền Trưởng khoa Văn - Triết. Đà Lạt khi ấy là một không gian đại học Công giáo có vị trí quan trọng trong sinh hoạt trí thức miền Nam, với những gương mặt như linh mục Lê Văn Lý, linh mục Lê Tôn Nghiêm, và nhiều học giả khác.

Với riêng tôi, cái tên Nguyễn Khắc Dương đi vào trí nhớ gia đình trước khi tôi tìm đọc sách báo và các bài viết về ông. Ba tôi từng là học trò của thầy ở Viện Đại học Đà Lạt từ năm 1966. Từ mấy mươi năm trước, ba tôi đã nhiều lần nhắc đến thầy như một người để lại dấu ấn trong cách học, cách nghĩ và đối diện với đời sống tinh thần. Về sau khi đọc thêm về Nguyễn Khắc Dương, tôi gặp lại ở thầy một bóng dáng quen thuộc. Tư liệu và suy nghĩ của tôi về thầy chỉ giúp mở rộng thêm một kí ức đã có sẵn trong gia đình.

Trong môi trường Đà Lạt ấy, Nguyễn Khắc Dương là một giảng viên triết học mang thân phận giao thoa hiếm có: tu sĩ xuất dòng, người Công giáo tha thiết với đức tin, người con Nho gia, người học triết Tây phương, người từng đi qua kinh nghiệm chính trị thời cách mạng, và sống giữa chiến tranh cùng các ý thức hệ. Vì thế, nhận định của Đỗ Lai Thúy rằng ông là “người đi tìm mình qua những xung đột văn hóa” đã chạm đúng phần cốt lõi trong đời thầy Nguyễn Khắc Dương. Trong ông, Nho, Phật, Lão, Kitô giáo và triết Tây tạo thành một vùng va chạm tư tưởng thật sự. Các truyền thống ấy đòi hỏi, chất vấn, làm ông đau, rồi buộc ông phải chọn lựa. Mỗi lựa chọn mở ra một khả thể tự do, đồng thời để lại một vết thương nội tâm sâu sắc.

Nho học ở Nguyễn Khắc Dương không chỉ là vốn kiến thức cổ điển. Nó là nếp sống, là cảm thức về bổn phận, là ý thức thanh liêm, là một “hạt nhân đồ Nho” mà chính ông từng thừa nhận khó phá vỡ. Cái hạt nhân ấy khiến ông không bao giờ thành một người Tây hóa trọn vẹn, dù học triết ở Pháp và sống lâu trong môi trường Công giáo. Ông tiếp nhận Kitô giáo, nhưng không tiếp nhận vô điều kiện toàn bộ văn minh Tây phương. Ông có thể gần với Đức Kitô, nhưng vẫn dị ứng với một số yếu tố duy lí, duy luật, duy kĩ thuật của phương Tây ngoài Kitô giáo.

Điểm này rất quan trọng để hiểu Nguyễn Khắc Dương. Ông không phải một người Việt bỏ Đông sang Tây. Ông cũng không phải một nhà Nho cố thủ trước hiện đại. Ông sống ở giữa, nơi sự hấp thụ luôn đi kèm sàng lọc. Cái Nho trong ông không chết sau khi ông trở thành người Công giáo. Nó chỉ chuyển vị trí, tuy không còn giữ vai trò hệ tư tưởng bao trùm, nhưng tồn tại như một lương tri đạo đức, một thái độ với danh lợi, một nỗi trọng nghĩa, một cách sống thanh bần và nghiêm cẩn.

Phật học và Lão Trang trong ông cũng không phải thứ trang sức của một trí thức đọc nhiều. Phật giáo từng hấp dẫn ông bằng ý niệm giải thoát, bằng lời mời rời bỏ những ràng buộc của dục vọng, danh vọng, bản ngã và khổ đau. Lão Trang trao cho ông cảm thức về tự do nội tâm, về sự buông lỏng những quy phạm cứng nhắc, về khoảng không của con người trước đời sống. Nhưng nơi Kitô giáo, ông gặp một điều khác với con đường giải thoát thuần túy. Ông gặp một ngã vị yêu thương, một Đức Giêsu chịu đau khổ, vô tội, bị đóng đinh, nhưng vẫn gọi con người bằng lòng thương xót. Nếu Nho giáo đặt ông trong mạng lưới gia tộc và đạo nghĩa, nếu Phật giáo gợi ra con đường thoát khổ, thì Kitô giáo cho ông một cách hiểu mới về nhân vị. Con người không chỉ là con trong nhà, dân trong nước, học trò trong trường, kẻ sĩ trong xã hội; con người còn là một hữu thể được gọi tên trước Thiên Chúa.

Ở đây, lựa chọn tôn giáo của Nguyễn Khắc Dương đồng thời là một lựa chọn nhân học. Ông không chỉ đổi hệ niềm tin. Nói chính xác hơn, ông thay đổi cách hiểu về con người, về đau khổ, về tội lỗi, về tình yêu, về cứu cánh. Chính vì vậy, sự hội nhập Công giáo ở ông không phải chỉ là một motivation xuất phát từ văn hóa. Nó là một cuộc thử lửa trong thân phận. Ông không Việt hóa Kitô giáo bằng cách gắn thêm vài biểu tượng dân tộc. Ông làm cho Kitô giáo có giọng Việt qua chính lối sống của một người con Nho gia, hiểu Phật, biết Lão, học Tây, và không chịu để một hệ thống nào độc chiếm toàn bộ con người mình.

Triết học Tây phương giúp Nguyễn Khắc Dương định danh cho những tương phản ấy. Sorbonne cho ông nền học thuật, nhưng điều ông mang về không phải lòng sùng bái hệ thống. Qua cách giảng dạy và hồi kí của ông, có thể thấy ông không thuộc mẫu trí thức say mê xây lâu đài khái niệm. Ông gần hơn với Pascal, Kierkegaard, Jaspers, Gabriel Marcel và dòng hiện sinh hữu thần, câu hỏi triết học không nằm ở việc lập một hệ thống khép kín mà ở việc đối diện với khổ đau, tự do, niềm tin, cô đơn, cái chết, tình yêu và ơn cứu độ.

Trong miền Nam thập niên 1960, hiện sinh không chỉ là một mốt triết học nhập cảng. Nó trở thành một ngôn ngữ để trí thức nói về chiến tranh, thân phận, tự do, phi lí, lựa chọn cá nhân và sự từ chối các trại tù ý thức hệ. Các tạp chí và giảng đường miền Nam từng bàn nhiều về Sartre, Camus, Marcel, Mounier, Kierkegaard, Jaspers, đồng thời đặt hiện sinh trong tương quan với Phật giáo và hoàn cảnh chiến tranh Việt Nam.

Nguyễn Khắc Dương thở trong bầu khí quyển tự do ấy, nhưng ông không đi về phía hiện sinh vô thần. Ông không lấy phi lí làm điểm tựa. Ông dùng câu hỏi hiện sinh để đi sâu hơn vào nhân vị và đức tin. Bởi vậy, giảng triết đối với ông không phải truyền đạt một chương trình gồm các tên tuổi, học phái, niên đại, thuật ngữ. Ông quan niệm thầy trò chỉ là những người cùng đi trên con đường tìm triết lí cho đời mình; người đi trước có kinh nghiệm thì chia sẻ với người đi sau, không ai sở hữu triết học để ban phát cho ai. Quan niệm ấy giải thích vì sao Nguyễn Khắc Dương có ảnh hưởng rất sâu mà không cần một thư mục tác phẩm đồ sộ. Ông là người thầy hơn là nhà lập thuyết. Ông dạy người học cách tự hỏi trước khi đưa cho họ câu trả lời. Ông biến triết học thành một cuộc thẩm vấn đời sống chứ không để nó thành một môn trang sức của trí thức.

Sau 1975, khi Viện Đại học Đà Lạt trong hình thức cũ chấm dứt, ông đi qua trại cải tạo của chế độ mới, rồi tiếp tục dạy học trong các môi trường Công giáo, nhất là cho đại chủng sinh, tu sinh, các nhóm đào tạo linh mục. Đó là đoạn đời ít được nhắc tới như một sự nghiệp đào tạo đại học, nhưng lại rất quan trọng trong lịch sử trí thức Công giáo Việt Nam. Từ giảng đường đại học miền Nam, triết học của Nguyễn Khắc Dương chuyển vào chủng viện, học viện, nơi ông giúp nhiều thế hệ tu sĩ tiếp cận triết học không như một môn tiền đề khô cứng trước thần học mà như một cách luyện tập lương tâm, nhân vị và tự do nội tâm.

Có thể xem Nguyễn Khắc Dương là một trường hợp đặc biệt của hội nhập văn hóa Công giáo, nơi sự gặp gỡ giữa đức tin Kitô giáo và văn hóa Việt Nam được nghiệm sinh bằng chính đời ông hơn là được trình bày như một luận thuyết thần học. Các thảo luận thần học Á châu, trong đó có Peter C. Phan, thường đặt vấn đề làm sao Kitô giáo có thể nói bằng kinh nghiệm Á Đông trong một môi trường đã thấm nhuần Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, tôn giáo dân gian, cùng các tầng nấc kí ức về quá khứ thuộc địa và thương tích chính trị. Đời Nguyễn Khắc Dương đưa câu hỏi ấy vào một thân phận cụ thể. Nếu dùng khái niệm “cultural additivity,” tức khả năng các giá trị Nho, Phật, Lão cùng tồn tại và tác động trong văn hóa Việt, trường hợp của ông cho thấy sự đồng tồn tại ấy luôn có tính xung đột. Các truyền thống có thể nương tựa, tranh biện, gây đau đớn, đòi con người chọn lựa, rồi bắt con người sống với hệ quả của lựa chọn.

Nguyễn Khắc Dương để Đông và Tây tranh luận trong chính đời mình. Ông giữ hạt nhân Nho gia trong tư cách một người Công giáo, hiểu hấp lực giải thoát của Phật giáo rồi chọn Đức Kitô, học triết Tây phương nhưng vẫn giữ khoảng cách với duy lí hệ thống, dạy triết như một cuộc đồng hành thay vì một uy quyền của người thầy, sống trong Giáo hội với phẩm chất tự vấn cá nhân. Từ đó, ông gợi ra một lối nhìn khác về Công giáo Việt Nam, vượt khỏi cả định kiến xem Công giáo như yếu tố ngoại lai lẫn nỗ lực hòa tan Công giáo vào văn hóa dân tộc đến mức xóa hết dị biệt. Ở Nguyễn Khắc Dương, Công giáo trở thành Việt Nam bằng cách đi qua kinh nghiệm Việt Nam một cách trung thực; văn hóa Việt tiếp nhận Công giáo bằng cách để những xung đột ấy mở ra một chiều sâu mới về nhân vị.

Nhìn lại Nguyễn Khắc Dương, một người thầy đã đi qua tuổi một trăm, điều còn lại không phải một hệ thống tư tưởng khép kín mà là phẩm cách của một người học không ngừng tự xét mình. Ông đi qua Nho học, Phật học, Kitô giáo và triết học Tây phương như đi qua những đòi hỏi nghiêm khắc của đời sống chứ không phải chỉ là người sưu tập các truyền thống. Chính vì vậy, đời ông gợi ra một bài học khó hơn mọi kết luận: văn hóa chỉ thật sự có nghĩa khi buộc con người thành thật trước câu hỏi về chính mình.


Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo và hết)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo và hết)

Như vậy, bộ Kinh thánh có thể xem như là một bộ Thánh sử khởi đầu bằng cuộc sáng tạo trời đất và kết thúc bằng những lời dự phóng về ngày Cánh chung huy hoàng, khi mà Thành thánh Giêrusalem bởi trời mà xuống, khi mà vũ trụ đã đi vào vinh hiển.

Bộ Kinh thánh cũng có thể được xem như một bản tình ca về việc Thiên Chúa tình yêu, trước hết là với cộng đoàn dân Chúa thời Đạo Cũ cũng như thời Đạo Mới, sau nữa là với mỗi một linh hồn, cho nên trong Kinh thánh có một cuốn gọi là Nhã Ca hay là Diễm Ca, tiếng Pháp là "Cantique des cantiques", mô tả cuộc tình duyên giữa một vị quân vương với một thôn nữ chăn cừu, nói lên cái hứa hẹn, cái giao ước, cái mời gọi của Thiên Chúa tình yêu với mỗi một tâm hồn cũng như với toàn thể cộng đoàn dân Chúa thời Đạo Cũ cũng như thời Đạo Mới.

Tập Nhã Ca hay là Diễm Ca đó, bên văn hóa Tây phương chịu ảnh hưởng Kitô giáo, được xem như là một bản văn trữ tình tuyệt diệu. Có thể nói những tác phẩm văn chương về tình yêu đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của tập Tình ca ấy, Tình ca giữa Thiên Chúa với con người cá nhân cũng như cộng đoàn.

Bộ Kinh thánh cũng có thể xem như một bi kịch tình yêu, giữa tình lang là Thiên Chúa và tình nương là dân Chúa, Đạo Cũ cũng như Đạo mới, và mỗi một tâm hồn, mà trong đó nội dung căn bản vẫn là sự trung thành chung thủy trước sau như một của tình lang là Thiên Chúa và sự phản bội hầu như liên tục của tình nương là dân Chúa và mỗi một con người. Phản bội đến nỗi, trong thời Đạo Cũ, cuộc tình đã kết thúc một cách bi đát, tức là đại diện chính thức của dân Chúa cả chính quyền lẫn giáo quvền, có nhiệm vụ phải chuẩn bị để chờ đón ngày Hôn lễ, cái ngày mà chính Thiên Chúa xuống để kết hợp với loài người, thì ngược lại, chẳng những đã không nhìn ra chính tân lang mà còn giết chết tân lang trên cây thập giá.

Do đó, nếu bản tình ca có những câu ca ngợi tình yêu dìu dặt đằm thắm, thì cũng có những đoạn văn, khi thì lên tiếng đưa ra những lời trách móc, giận hờn bi ai thống thiết của Thiên Chúa lúc Ngài bị phụ tình, khi khác thì là những lời ăn năn hối cải cũng không kém phần thống thiết bi ai của tình nương, sau khi dại dột chạy theo những tên sở khanh, biết mình đã bị phỉnh lừa đau đớn ê chề, quay trở về lại với tình lang, được tình lang ban cho những lời âu yếm thứ tha, và cứ thế mà tiếp tục mãi hết lần này qua lần khác.

Đương nhiên, như tôi vừa nói ở trên, thời Đạo Cũ kết thúc bằng bi kịch là chính tình lang bị giết, còn thời Đạo Mới thì cũng không phải không có những màn đau thương như vậy; bởi vì trong cái thế giới tội lỗi và đau khổ này, mỗi một cá nhân tín hữu Kitô giáo, cũng như mỗi một cộng đoàn, không ai dám vỗ ngực xưng mình là kẻ chung tình. Trái lại, từ vị Giáo hoàng cho đến bất cứ giáo hữu nào, hằng ngày không biết bao nhiêu lần đấm ngực mình mà xưng thú: "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!'' Và gần đây, chính vị đại diện cao nhất của Giáo hội Công giáo là Đức Phaolô VI, trước mặt bàn dân thiên hạ của thế giới năm châu, khi đến viếng Mồ thánh, quỳ xuống và hầu như thay mặt cho toàn thể dân Chúa ăn năn, thống hối, xin Chúa tha thứ cho những bất trung của dân Chúa qua từng thời đại, đồng thời xin Chúa ban ơn tha thứ và nâng đỡ để giữ cho được lòng trung thành với lời hứa hẹn, với lời giao ước của Thiên Chúa, sống cho đúng cái thiên mệnh của mình, để thực hiện cho đầy đủ cái kế đồ cứu chuộc của Thiên Chúa trong lịch sử loài người.

* * *

Trên đây tôi đã có nói về tập Nhã ca hay là Diễm tình ca. Hầu hết các nhà phê bình văn học đều cho đó là một áng văn tuyệt tác, có thể xem như là ý nghĩa sâu xa nhất của bộ Kinh thánh, nói lên mầu nhiệm căn bản là mầu nhiệm Tình Yêu. Thiên Chúa là tình yêu, sáng tạo mọi vật trong tình yêu và bày tỏ tình yêu của Ngài qua việc hiến trao Con Một rất yêu dấu của Ngài để cứu độ nhân loại và vũ trụ, để đưa về lại trong mầu nhiệm Tình Yêu muôn thuở của Thiên Chúa Ba Ngôi. Như vậy, toàn bộ Kinh thánh có thể xem như một bức tình thư của Thiên Chúa gửi đến cho nhân loại. Dù hiện tượng có bi đát, đầy mồ hôi, nước mắt, máu xương và điêu tàn hủy hoại, thì khởi đầu vẫn là những trang vui tươi của ngày Sáng thế, mọi loài thụ tạo vừa được dựng nên, đều được Thiên Chúa khen là tốt lành, và kết thúc cũng là một hình ảnh hân hoan bừng nở dưới hình dạng trời mới đất mới biểu tượng bằng tân nương trang điểm từ trời mà xuống, chào đón tân lang, để đi vào tiệc cưới. Trời mới Đất mới đươc mô tả như là một Đền Thánh, Đền Vàng, Đền Ngọc, như một Nguồn Suối mà hai bên bờ đầy hoa trái đua nở tứ thời bát tiết, nơi mà mọi giọt lệ trần gian được lau khô, và con người lại được ăn quả cây Hằng Sống.

+ Nhân sinh quan và vũ trụ quan của Kitô giáo trong lịch sử nhân loại tóm tắt là thế này: Mọi sự đều từ Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về với Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là Đấng TỰ HỮU và là TÌNH YÊU.

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.


Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Thoạt nhìn, chúng ta có cảm tưởng cái kinh nghiệm thần ứng của mỗi một cá nhân, của mỗi một cộng đoàn bị khép kín, bị bó buộc vào trong sự cứng nhắc của một hệ thống quá chặt, như hệ thống hàng giáo phẩm của Công giáo, nhưng đọc qua lịch sử của Giáo hội Công giáo, trong hai mươi thế kỷ đã qua, chúng ta thấy rằng: hầu hết các vị thánh, ví dụ như các thánh Pacôme, thánh Basile, Bênêđictô, Phanxicô, Inhaxiô và gần đây chẳng hạn, một vị ẩn tu là Charles de Foucauld đều là những người đi trước Hội Thánh, luôn luôn phát sinh ra những đường lối mới để đáp ứng lại với những yêu cầu của thời đại lịch sử lúc nào cũng biến chuyển, dưới sự thúc đẩy của Thánh Linh...

Cuối cùng, sau khi đã trải qua nhiều thử thách gần như là lửa thử vàng, bấy giờ các vị Ngôn sứ thời Đạo Cũ cũng như các Thánh thời Đạo Mới là những người đi trước Hội Thánh, nhưng vẫn một mặt phục tùng và chấp nhận sự kiểm nghiệm của Hội Thánh. Hình như có một sự song hành nào đó giữa truyền thống sống động với bộ Kinh thánh. Bộ Kinh thánh chỉ được đọc, được hiểu đúng trong lòng cộng đoàn những kẻ tin luôn trung thành với một truyền thống không phải là khô cứng, nhưng dù sao vẫn duy trì được sự nguyên tuyền y như một dòng suối phát tích từ đỉnh núi cao, qua không biết bao nhiêu địa phương khác nhau, vẫn giữ được sự trong suốt, chứ không thể tự mình mà phóng túng bất chấp, để rồi lạc vào những khe rãnh thường là không mấy tinh khiết.

Do đó, một mặt, người tín hữu nghiền ngẫm Kinh thánh để như thấm nhuần một não trạng, một tinh thần, nhưng không phải hiểu một cách thiển cận, máy móc những văn tự chết, nhưng cuối cùng là tắm mình trong một bầu không khí, trong một nguồn nhựa sống của một cộng đoàn đức tin khởi đầu từ Tổ phụ Abraham, tiếp tục với nhóm Mười Hai mà phát ngôn nhân vừa là đại diện, vừa là thủ lãnh là Phêrô và các đấng kế vị ngài, cho đến ngày Cánh chung.

Bởi lẽ, cuối cùng, nội dung của đức tin Kitô giáo không phải là những chữ, những câu, những ý, những lời, nhưng là tác động trực tiếp của Thiên Chúa hằng sống trên mỗi một tâm hồn, trên mỗi một cộng đoàn, trên toàn thể nhân loại. Để luôn luôn sống động thì cần phải đặt vào trong lòng chính cộng đoàn sống động, chứ không thể xem bộ sách ấy, dù quý giá đến đâu, như một phương tiện để nói rõ một cách chắc chắn lời của Thiên Chúa, bởi vì không gì có thể đóng khung được lời của Thiên Chúa và xin nhắc lại, lời đó cuối cùng là một tương giao giữa ngã vị Thiên Chúa với ngã vị của mỗi một linh hồn và ngã vị tinh thần, "personne morale" của một cộng đoàn, qua lịch sử của mỗi người, của mỗi cộng đoàn, của toàn thể nhân loại vô cùng phong phú, vô cùng đa tạp.

Không một cuốn sách nào, không một hệ thống tư tưởng nào có thể áp đặt lên một cách cứng nhắc những khuôn vàng thước ngọc. Do đó, muốn hiểu Kinh thánh, đương nhiên là phải có cả một công trình có tính cách chuyên môn kỹ thuật, phải am hiểu các tôn giáo, phong tục, kỷ cương, chế độ, ngôn ngữ của những cộng đồng người từ thời Abraham cho đến những giai đoạn lịch sử của Giáo hội Công giáo, ngõ hầu nắm được ngay cả những phạm trù, những ngôn từ, thể văn, bút pháp của các tác giả, hiểu được ý chính của các tác giả, để cuối cùng như thông dự vào chính cái kinh nghiệm được linh hứng của các tác giả. Sau đó đối chiếu với kinh nghiệm linh hứng có thể nói là của bản thân mình, của cộng đoàn mình, qua từng trường hợp để tìm cho ra ý định của Thiên Chúa, Đấng luôn luôn mời gọi, hứa hẹn, giao ước, chờ đợi mỗi một cá nhân, mỗi một cộng đoàn cộng tác với Ngài trong một kế đồ vô cùng rộng lớn, bao trùm cả và nhân loại và toàn thể vũ trụ.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Một thiện niệm gợi ra một tiếng nói của lương tâm ngăn cản hoặc là phê phán một việc ác, hay là thúc đẩy hoặc khen thưởng một việc lành, đó cũng là lời Chúa. Một biến cố xảy đến, từ những việc nhỏ nhặt như nhỡ một chuyến xe, cho đến những thăng trầm thế sự thay đổi bộ mặt của các quốc gia, của toàn thể nhân loại cũng đều mang một ý nghĩa nào đó, cũng là một lời mời gọi nào đó, để mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đoàn phải có một ứng xử thế nào cho thật phù hợp với ý định của Thiên Chúa.

Do đó, cái kinh nghiệm của mỗi một người cũng như của một cộng đoàn, không phải không có một tương quan nào đó với những kinh nghiệm được gọi là linh hứng của các tác giả viết nên bộ Kinh thánh. Bởi vì Thiên Chúa là Đấng hằng hữu, trước sau như một, ý định của Ngài không bao giờ thay đổi, có thể nói cái phong thái, cái cách xử đãi của Ngài, đối với thụ tạo, có thể bao giờ cũng chỉ là một. Từ lời kêu gọi Abraham, từ lời kêu gọi các Ngôn sứ, từ lời mời chọn Đức Maria, từ lời kêu gọi các môn đệ đầu tiên cho đến những lời kêu gọi dành cho các tín hữu, từ những tín hữu tầm thường, phải chu toàn nhiệm vụ của một người trong gia đình, của một người dân trong một đất nước hoặc vượt cao lên đảm nhận một trọng trách nào đó trong Giáo hội, thi hành những công trình khó khăn, thì thảy đều có một sự tương đồng nào đó, tiếng Pháp gọi là "analogique"; và cái khuôn mẫu để đáp lại lời kêu gọi tuân hành ý định của Thiên Chúa, chính là Đức Giêsu Kitô trong thân thế và sự nghiệp, mà nhất là trong cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Ngài.

Vì vậy, Kinh thánh bao giờ cũng đến sau sự hiện hữu của một cộng đoàn những kẻ tin, mà có thể nói cái cộng đoàn những kẻ tin ấy bao giờ cũng phát tích từ một người: dân Chúa thời Đạo Cũ phát tích từ một người là Tổ phụ Abraham, dân Chúa thời Đạo Mới, có thể nói là phát tích, hay ít nhất là quy tụ vào nơi một người là thánh Tông đồ Phê rô, khi ngài đại diện cho nhóm Mười Hai trả lời câu hỏi mang tính quyết định của Đức Giêsu: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?" Phêrô đã tuyên xưng đức tin: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (x. Mt 16,13-16).

Cộng đoàn đức tin đời cũ cũng như đời mới chỉ là duy trì, bảo vệ, phát triển đức tin đã được gieo vào và đã được dâng lên, khởi điểm từ Tổ phụ Abraham, khởi điểm từ nhóm Mười Hai mà Phêrô là phát ngôn nhân, là người đại diện, do đó, Kinh thánh thời Đạo Cũ cũng như Kinh thánh thời Đạo Mới chỉ có ý nghĩa trong lòng cộng đoàn những kẻ tin, và chỉ có cộng đoàn những kẻ tin mới hiểu rõ được cái truyền thống sống động của một niềm tin đối với lời hứa hẹn của Thiên Chúa, với lời giao ước giữa Thiên Chúa và mỗi một cá nhân, giữa Thiên Chúa và mỗi một cộng đoàn, và tính cách sống động là một hiện thực chứ không phải là một hệ thống tư tưởng. Và có thể nói, truyền thống đức tin đó là để giúp cho mỗi một con người, trong quá trình tiểu sử của đời mình, cũng như trong diễn biến của lịch sử, trong diễn trình của vũ trụ, so sánh chính cái kinh nghiệm của bản thân mình với cái truyền thống đức tin đó để gạn lọc, tìm hiểu và học cách ứng xử ra sao.

Và như vậy, một mặt, cần phải trung thành với truyền thống, mặt khác, cũng phải được sự phê chuẩn, kiểm nghiệm của chính cộng đoàn, qua trung gian những vị được Thiên Chúa chọn, tiếp nối cái cộng đoàn đầu tiên là nhóm Mười Hai Tông đồ, mà hiện nay những người kế vị chính là các Giám mục hiệp thông với người kế vị thánh Phêrô là Đức Giáo hoàng.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Vì vậy, muốn hiểu Kinh thánh thì phải nắm cho được tinh thần sâu xa chứa đựng ở trong ngôn từ, như chính ; Kinh thánh đã viết: "văn tự thì giết chết, chỉ có tinh thần mới làm cho sống động”, tiếng Pháp là: "La lettre tue, c’est l'esprit qui vivifie” [Tiếng Latinh: Lex occidit, spiritus vivificat; xem thêm Rm 2,29b]. Do đó, không thể hiểu Kinh thánh như là một pho sách của các triết gia ghi chép lại những chân lý trừu tượng, mà ai đọc cũng được, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu, tùy theo cách lý giải riêng của mình. Nhưng Kinh thánh là một lời trao đổi của Thiên Chúa hằng sống với những con người sống động, với những cộng đoàn đã được Ngài chọn, vì vậy lời ấy chỉ được hiểu trong một bầu khí cởi mở tâm hồn đón nhận mà chủ yếu là bằng đức tin.

Mà lời của Thiên Chúa không phải là một lời lý giải về vũ trụ học, về nhân sinh học, nhưng là một lời kêu gọi, nói một cách rõ ràng là một lời có tính cách hứa hẹn và giao ước, đòi hỏi người nghe phải có một thái độ tin, phó thác chân thành và cuối cùng là thể hiện trong cuộc sống cá nhân mỗi người cũng như cuộc sống cộng đoàn dân Chúa, để thi hành những huấn lệnh của Ngài trong đời sống cụ thể của mình, trong bối cảnh lịch sử của mình, tùy theo địa phương, tùy vào thời điểm, suốt dòng lịch sử.

Cứ thế, từ Tổ phụ Abraham một thân một mình rời bỏ cả một nền văn hóa lừng lẫy, dấn thân vào một cuộc đời du mục rày đây mai đó, cho đến suốt cả hai nghìn năm lịch sử của dân Do Thái, tiếp tục hai nghìn năm lịch sử của Giáo hội và sẽ còn tiếp tục mãi cho đến ngày Cánh chung, qua không biết bao nhiêu thăng trầm thế sự, qua không biết bao nhiêu biến chuyển, dưới mọi chế độ chính trị, dưới mọi nền văn hóa, dưới mọi phong tục với bao nhiêu biến cố. Vì vậy, như tôi đã nói nhiều lần, nội dung Kitô giáo chính thật là một hiện thực sống động, là động tác của Thiên Chúa trực tiếp can thiệp vào đời sống của mỗi một cá nhân, đời sống của mỗi một cộng đoàn, đời sống của toàn thể nhân loại và diễn trình của vũ trụ, mời gọi mỗi một con người, mỗi một cộng đoàn và toàn thể nhân loại đón nhận, cộng tác để thực hiện chính cái kế đồ sáng tạo và cứu độ của Ngài, chứ không phải là một hệ thống tư tưởng có thể diễn tả ra được bằng ngôn từ, bằng phạm trù để có thể ghi lại như một thứ văn tự khô cứng trong một bộ sách.

Hiểu như thế, chính hiện nay đây, trong giờ phút này Thiên Chúa vẫn đang tác động trên mỗi một tín hữu, trên cộng đoàn dân Chúa là các Giáo hội Kitô giáo và qua đó là trên toàn thể nhân loại và vũ trụ. Nếu chúng ta xem cái hiện thực hiện nay, ngay trong giờ phút này của nhân loại, là như một bản văn, như một bảng tín hiệu, thì có thể nói Kinh thánh như là một bộ văn phạm, một bộ từ điển hay là một cái khung mật mã giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của chính cái hiện thực trong hiện tại của mỗi một con người, mỗi một cộng đoàn, khởi đầu là cộng đoàn dân Chúa, rồi hơn nữa, có thể nói là cộng đoàn nhân loại.

Bởi vì Thiên Chúa luôn nói, mời gọi, hứa hẹn, thiết lập giao ước với mỗi một cá nhân và với mỗi một cộng đoàn. Như vậy, có thể nói rằng, mỗi một người, đương nhiên trước hết là các tín hữu, nhưng có thể nói người nào cũng có một sự tiếp cận nào đó với lời của Thiên Chúa, cũng có một kinh nghiệm nào đó, dưới rất nhiều dạng, và có thể nói bất cứ cái gì tốt lành được khơi dậy lên trong tâm tư con người đều có phần nào do sự linh hứng của Thánh Thần.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Bộ Kinh thánh được xem như một bộ sách mà nói rằng ghi chép Lời Chúa thì hơi quá, bởi vì Chúa không phải là một ông thầy đến đưa ra một giáo trình để những người được chọn ghi chép lại nguyên văn nhưng Ngài chỉ, không biết dùng chữ gì hơn ngoài chữ nói. Nói, thứ nhất là với một số người được Ngài lựa chọn, đồng thời qua trung gian những người được chọn đó, Ngài nói với toàn thể cộng đoàn dân Chúa. Thật ra không nói là văn của Chúa, mà nói là lời, lời là lời nói, một lời nói sống động; mà đã là một lời sống động thì bao giờ cũng là một tương quan liên ngã vị, trước là tương quan với Thiên Chúa, với những cá nhân được chọn, đến những người truyền đạt lời Chúa, sau nữa là đến cộng đoàn; tuy nhiên dù cộng đoàn đi nữa thì cũng là những ngã vị kết hợp lại thành một, tiếng Pháp gọi là "personne morale", một ngã vị tinh thần.

Thế thì, tương quan sống động bao giờ cũng có một cái ý nghĩa riêng tư nào đó giữa đôi bên mà đệ tam nhân, chẳng những không thể hiểu được, mà đôi khi còn rất dễ hiểu lầm. Tôi xin lấy một thí dụ có hơi ví von một tí: có lúc người ta yêu nhau đến mức, thay vì nói "yêu”, thì lại nói là "ghét”; chẳng hạn, một cặp vợ chồng yêu nhau đến mức người chồng nói với người vợ: "Anh ghét em quá đi thôi!”, chẳng may có một đứa cháu nghe được câu nói đó liền vội đi thuật lại cho bà ngoại. Nghe vậy, bà ngoại hết sức lo lắng vì nghĩ rằng con gái mình và chàng rể đang lủng củng với nhau, vì chính miệng chàng rể nói “Anh ghét em quá!" kia mà.

Thế nhưng thực ra đứa cháu chỉ nghe được một câu và không hiểu chữ "ghét" đó là chỉ mức độ cao nhất của tình yêu. Chính vì vậy, lời Chúa là một lời sống động do các tác giả ghi chép lại, nhưng chẳng qua các tác giả đó đã vận dụng những phạm trù, những ngôn từ, những bút pháp của riêng mình, của nền văn hóa, của thời đại mình đang sống, để diễn tả một kinh nghiệm tương giao liên ngã vị nào đó với Thiên Chúa mà có thể nói là "bất khả ngôn".

Do vậy, khi nói rằng Kinh thánh được linh hứng, thì không phải hiểu một cách đơn giản rằng Thánh Thần đọc từng chữ cho người viết biên chép lại, nhưng Thánh Thần ngỏ với tâm linh con người ấy, qua một kinh nghiệm nào đó được con người ấy mở lòng ra đón nhận bằng một niềm tín phó thác đáp ứng, chẳng những trong tư tưởng, trong tình cảm mà còn cả trong hành động nữa. Hành động đầu tiên của người ấy là nỗ lực tìm những phạm trù, tìm những ngôn từ, vận dụng những bút pháp để diễn tả ra, hòng thi hành cái mệnh lệnh của Thiên Chúa, là làm phát ngôn nhân của Ngài.

Do đó, nói rằng Kinh thánh không thể sai lầm là phải hiểu một cách sâu xa rằng, điều mà Thiên Chúa đã truyền đạt qua một kinh nghiệm linh hứng nào đó bất khả ngôn, thì mới là không sai lầm. Và muốn hiểu cho được điều đó thì phải chọc thủng cái vỏ phạm trù, cái vỏ ngôn từ, cái vỏ bút pháp bao giờ cũng phụ thuộc vào từng cá nhân, văn hóa, thời đại, từng thể văn chứ không nên hiểu một cách máy móc.

Ví dụ, trong việc mô tả sự sáng thế, có một tiến trình tạo dựng trời đất do Thiên Chúa thực hiện qua bảy ngày, đó chẳng qua là tác giả dùng những cái khuôn khổ thông thường thời bấy giờ, vay mượn một số vũ trụ quan, nhân sinh quan nào đó của nền văn hóa đương thời để diễn tả ra cái kinh nghiệm độc đáo từ tận trong tâm linh của mình về công trình sáng tạo từ hư vô bởi Thiên Chúa, chứ không phải Thiên Chúa đọc cho người viết rằng quả thật là đã tạo dựng trong vòng bảy ngày.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Vì vậy, Do Thái giáo, cũng như Kitô giáo, có một sự sùng kính đặc biệt đối với Kinh thánh, và nhất là trong các hệ Tin Lành lại càng dành cho Kinh thánh một vị trí đặc biệt, để các tín hữu ngày đêm đọc đi đọc lại, suy ngẫm đến mức có thể nhuần nhuyễn trong trí óc, trong cảm tính những điều được chứa đựng trong bộ Kinh thánh.

Các Kitô hữu thuộc những hệ phái Tin Lành quan niệm rằng, qua những lời được ghi chép trong bộ Kinh thánh, mỗi một tín hữu cảm thấy dường như chính cá nhân họ giao tiếp trực tiếp với chính Thiên Chúa và nghe trong lòng mình chính lời dạy bảo của Thiên Chúa, đem lại ánh sáng soi rọi cho cuộc đời của họ. Giáo hội Công giáo thì có quan niệm khác hơn, vì cho rằng Kinh thánh tự bản chất không có giá trị độc lập, nhưng phải được đặt vào giữa lòng cộng đoàn, cộng đoàn có tổ chức, có tôn ti thứ bậc, có những người được Chúa chọn, được giao trách nhiệm và được ơn riêng để hiểu và giải thích Kinh thánh đúng theo tinh thần chính thống, chứ không thể để cho bất cứ ai muốn giải thích sao cũng được, nếu không thì có thể sẽ có những cách hiểu lệch lạc rồi đi đến chỗ càng ngày càng xa với truyền thống chính truyền của những người đã ghi chép lại tất cả những gì được gọi là lời Chúa.

Trong khuôn khổ cuộc trao đổi giữa chúng ta đây, tôi không có đủ điều kiện để trình bày cặn kẽ chi tiết những cách cấu tạo của một bộ sách là nguồn mạch cả một nền văn hóa lớn đưa đến Do Thái giáo, các hệ Kitô giáo và của cả Hồi giáo, chi phối đến cả tỉ người, qua hơn hai mươi thế kỷ này. Xa hơn nữa, nếu kể cả đời Đạo Cũ, tức là đời Cựu ước thì đã ngót nghét bốn nghìn năm nay. Tôi chỉ nói sơ qua đó là một bộ sách có thể nói là vô cùng phong phú, được khởi viết vào khoảng năm hoặc sáu thế kỷ trước Công nguyên, trong đó những cuốn đầu được gán cho một tác giả có tính cách tượng trưng là Môsê, vị lập quốc Do Thái, và kết thúc là một cuốn sách được cho là của thánh Gioan, vào khoảng hơn một thế kỷ sau Công nguyên. Như vậy, Kinh thánh là một bộ sách được viết qua cả ngàn năm, gồm đủ loại, đủ hạng các tác giả, và được chia ra làm hai phần chính: Từ phần khởi đầu cho đến khi Đức Giêsu ra đời được gọi là Cựu Ước, và chỉ có phần này là phần được Do Thái giáo công nhận. Phần còn lại được gọi là Tân ước, được tính từ bốn tập tiểu sử của Đức Giêsu Kitô, với một tập kể lại cuộc sống của cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi, gọi là Công vụ tông đồ, tiếp theo là một số Thư của các thánh Tông đồ Phaolô, Phêrô, Gioan, Giacôbê, Giuđa gửi cho các cộng đoàn tín hữu, vừa dạy bảo vừa khuyên răn, và sau hết là sách Khải Huyền mang một tính cách mầu nhiệm, hầu như là một dự phóng về tương lai và ngày Cánh chung.

Từ bốn cuốn tiểu sử của Đức Giêsu Kitô cho đến sách Khải Huyền được gọi là Tân ước. Bộ Tân ước chỉ có các hệ Kitô giáo nhìn nhận là Sách Thánh mà thôi. Giữa Công giáo với các hệ Tin Lành còn có một vài chi tiết khác biệt không mấy quan trọng, và bây giờ thì hầu như hai bên đều tìm cách xích lại gần nhau để đi đến một chỗ nhất trí nào đó. Chúng ta sẽ không nói đến những chi tiết khác biệt không đáng kể ấy mà chỉ tìm hiểu cái tinh thần căn bản của bộ Kinh thánh.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh

Bây giờ tôi xin trở lại một vấn đề đã chạm đến ngay từ đầu mà chắc các anh chị cũng cho là quan trọng, đó là vấn đề về bộ Kinh thánh. Trong phần nói về thần hiệp Kitô giáo, tôi có nhắc đến hai môn đệ trong một buổi chiều đi về làng Emmaus. Tôi xin quảng diễn sự kiện ấy như sau: Sau ngày Chúa Giêsu chịu tử nạn, các môn đệ tan tác mỗi người một ngã, thì chiều hôm ấy, hẳn là một buổi chiều Chúa nhật, có hai môn đệ thất vọng, bỏ thành Giêrusalem mà trở về Emmaus, có thể là một làng quê, dường như trở về để sống lại cuộc đời như trước khi đi theo chân Thầy.

Đang lúc hai ông đi đường thì xuất hiện một khách bộ hành cùng đi. Nhìn thấy hai ông có vẻ phiền não u uất, người khách liền hỏi chuyện. Hai môn đệ đã kể chuyện Giêsu Nazareth là một vị Ngôn sứ lớn đem lại cho các môn đệ của Ngài và quần chúng niềm hy vọng có một ngày được giải phóng khỏi ách đô hộ của đế quốc Rôma; thế nhưng cuối cùng vị Ngôn sứ lớn ấy đã thất bại thảm hại, chết nhục nhã trên cây thập giá, vì thế mà bây giờ các môn đệ đường ai nấy đi, trở về quê cũ làm ăn.

Thế là người khách bộ hành ấy bèn trích dẫn những đoạn Kinh thánh Cựu ước và giải thích cho hai môn đệ ấy về mầu nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh; nhưng hai môn đệ vẫn chưa biết người khách bộ hành ấy là ai, và khi đi ngang qua làng Emmaus thì trời sắp sập tối, hai ông liền mời vị khách cùng vào quán trọ. Lát sau, khi ngồi vào bàn ăn, vị khách bộ hành cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng rồi bẻ ra, bấy giờ hai môn đệ mới nhận ra đó chính là Đức Giêsu Kitô đã sống lại và tỏ mình ra, nhưng ngay lúc đó Ngài liền biến mất. Thê là hai môn đệ tốc tả quay trở lại thành Giêrusalem. Trên đường trở lại ấy, hai ông thầm nhủ, ừ nhỉ, đó chính là Ngài mà chúng ta không biết, khi nghe Ngài giải thích Kinh thánh trong lúc đi đường, chẳng phải chúng ta cảm thấy lòng bừng cháy lên một ngọn lửa phấn khởi, tin tưởng đó sao?

Câu chuyện này đã được họa sĩ Rembrandt vẽ lại thành một kiệt tác hôi họa lừng danh, trong đó thể hiện, tại ngôi quán trọ tại làng Emmau, Chúa Giêsu ngồi ở giữa, trong một vùng sáng, cầm lấy bánh, hai môn đệ ngồi hai bên trong chỗ tranh tối tranh sáng, gợi lên cho thấy sự hiện diện của Đức Gỉêsu như là ánh sáng, đem lại Bánh Sự Sống cho những con người còn ở trong bóng tối để họ lần bước về ánh sáng.
Câu chuyện này có nội dung giúp chúng ta lưu ý đến Bí tích Thánh Thế, như tôi đã trình bày ở trước, song hành với việc đọc, nghe, hiểu và sống Kinh thánh, mà người Do Thái giáo, cũng như người Kitô giáo đều tin rằng đó là bộ sách có thể nói là ghi chép lại lời Chúa, tức là người Do Thái giáo và người Kitô giáo xác tín rằng Chúa có nói, nói với loài người và lời Chúa nói được những người nghe ghi chép lại, để lưu truyền cho hậu thế. Họ coi bộ Kinh thánh như là khuôn vàng thước ngọc mang lại những quy tắc dẫn dắt đời sống cá nhân cũng như đời sống cộng đoàn cho hợp với thánh ý Chúa, và cũng là nơi chứa đựng những chân lý có giá trị tuyệt đối vĩnh cửu, giải đáp hầu như toàn bộ mọi vấn đề về vũ trụ và nhân sinh.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh (tiếp theo)

Mọi vinh quang không chỉ dừng lại nơi những con người được tôn phong lên hàng hiển thánh, nhưng tất cả đều quy về Thiên Chúa, mọi sự chỉ nhằm vinh danh Thiên Chúa. Hướng về đỉnh cao thánh thiện, theo quan niệm của Kitô giáo, không phải là gồng mình như một vận động viên cử tạ nhưng, trái lại, mở rộng lòng mình trong sự khiêm tốn thẳm sâu để đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, có một dạng như là ban cho một cách nhưng không. Chính Thiên Chúa đã dùng các Ngôn sứ và Đức Giêsu Kitô dùng các thánh Tông đô để nói rằng: "Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì” (Is 55,1-3). Chữ "nhưng không", tiếng Pháp là "gratuité", nghĩa là "cho không". Thái độ cơ bản là ý thức được sự hư không của mình, sự hèn kém của mình, nhưng vẫn một lòng tin tưởng, cậy trông và yêu mến, đón nhận ơn Cứu độ, ơn Thánh hóa để muôn đời dâng lên một lời cảm tạ không ngừng mà thôi. Rồi đến cái ngày mà thời gian được cuốn lại, vũ trụ này đi vào Cánh chung, thì sự thánh thiện đó không của riêng ai, mà là chung cho hết thảy mọi người, đều thông dự vào một sự thánh thiện duy nhất, trong một tình yêu duy nhất, trong một hạnh phúc duy nhất trong lòng Thiên Chúa Ba Ngôi, mà ánh sáng thánh thiện, cuối cùng cũng chỉ phát tích từ Đức Giêsu Kitô, giống như hình ảnh trong sách Khải Huyền đã mô tả. Thành Thánh Giêrusalem, tức là Nước Thiên Đàng mai sau, không có ánh đèn, nhưng chính Con Chiên Thiên Chúa tỏa sáng khắp cả Thành Thánh Giêrusalem được mô tả như là một Đền Thánh được xây dựng bằng những viên ngọc toàn bích...

Sự thánh thiện như thế có thể ví như một nguồn sống duy nhất lưu thông trong toàn bộ thân thể Đức Giêsu Kitô mà bất cứ tế bào nào cũng được thấm nhuần, trong cái mà thuật ngữ chuyên môn thần học gọi là "Các thánh thông công", hay "sự hiệp thông giữa các thánh hữu"; cũng như trong một gia đình, không phải ai cũng lao động đổ mồ hôi sôi nước mắt làm ra tiền bạc của cải, nhưng cuối cùng gia sản là gia sản chung, bàn tiệc là bàn tiệc chung, thức ăn, thức uống, cao lương mỹ vị đều là của chung, không ai hơn ai, không ai kém ai.

Trong cuốn sách "Gương Phước, Imitation de Jésus Christ", có một chương hơi phê bình mỉa mai cách suy nghĩ tầm thường của con người trong chuyện bàn luận thánh nào lớn, thánh nào nhỏ, và nói rằng: "Đối với Thiên Chúa, không có thánh lớn thánh nhỏ, bởi vì cuối cùng chỉ có một sự thánh thiện duy nhất là sự thánh thiện của Thiên Chúa trao ban cho bất cứ con người nào, qua trung gian Đức Giêsu Kitô và của Đức Bà Maria”. Có thể nói việc phong thánh, một phần nào chẳng qua một cách nhắc nhớ lại ơn Thiên triệu của bất cứ ai, cũng đều được mời gọi đi vào tiệc cưới Con Chiên, hưởng phần gia nghiệp chung cho hết thảy mọi người, không ai hơn không ai kém, tất cả đều được no thỏa tràn trề.

Việc phong thánh, chẳng qua chì là nói lên cái phẩm giá linh thánh của bất cứ con người nào, mà những vị hiển thánh là những người đã đi trước, để cho mọi người chẳng những noi theo, mà còn một lòng tin tưởng rằng những người ấy đã nên thánh được, thì tôi cũng có thể nên thánh. Bởi vì việc nên thánh không phải chỉ dành riêng cho những người, mà dưới cái nhìn của nhân loại là thánh nhân, là trượng phu, quân tử, nhưng là dành cho hết thảy mọi người, bất luận đó là kẻ đã từng giết người cướp của, đã từng giang hồ đĩ điếm.

Muốn hiểu rõ việc phong hiển thánh, việc tôn kính các Thánh, cần phải nhớ lại lời Đức Giêsu đã ném vào mặt bọn giả hình: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông" (Mt 21,31).

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh (tiếp theo)

Vì thế, việc tôn sùng các Thánh, vừa là nêu lên những gương mẫu, nhưng cũng chính là vừa ngợi khen kỳ công của Thiên Chúa đã nâng những con người hèn yếu tội lỗi lên đến đỉnh cao, để như một lời kêu gọi hứa hẹn cho mọi người thấy rằng những con người ấy cũng chỉ là những thụ tạo mỏng giòn, cũng có thể ngu tối như bất cứ ai, nhưng được nâng cao như vậy thì ai cũng hy vọng mình có thể được như thế.
Do đó, các Thánh của Kitô giáo, như tôi đã nói ở trên, như là những tia sáng phát xuất từ cùng một Mặt Trời là chính Đức Giêsu Kitô. Việc tôn kính các Thánh và tôn kính Đức Maria, thực ra cũng chỉ là tôn kính Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, bởi vì các Thánh, một mặt thì có dạng cá nhân, ngã vị duy nhất, độc đáo, nhưng mặt khác, có dạng chẳng qua chỉ là một chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô...

Quả thật, thuở ban đầu, chính Phaolô cũng gọi các tín hữu là các thánh. Các thánh ở đây không phải là đã đạt được lý tưởng theo quan niệm thánh hiền, chẳng hạn như trong Khổng giáo, trong các triết thuyết của Hy Lạp mà một số người đã thực hiện được, ví dụ như Epictète [Epictète là một triết gia theo chủ nghĩa Khắc kỷ Hy Lạp. ông sinh ra như là một nô lệ tại Hierapolis, Phrygia và sống ở Rome cho đến khi bị trục xuất, và đến sống tại Nicopolis ở phía tây bắc Hy Lạp cho đến hết đời. Những lời dạy của ông đã được học trò Arrian chép ra và xuất bản trong các tác phẩm Discourses và Enchiridion của ông. (Wikipedia)], Marc Aurèle, như Thất Thập Nhị Hiền của Khổng giáo, nhưng chỉ là con người, dù đã lỡ lầm sa đọa đến đâu, trong một giây phút nào đó được ánh sáng hoàn hảo, từ Mặt Trời công chính là Đức Giêsu Kitô, rọi vào.

Nói một cách cụ thể, chẳng hạn chiếu chỉ vua thì được gọi là "thánh chỉ", không phải do bản chất tấm lụa hoặc tấm giấy viết chiếu chỉ là quý nhưng, cho dẫu chiếu chỉ được viết trên một tấm giấy bổi tầm thường, mà một khi đã được triện son của đấng quân vương đóng vào thì cũng trở thành "thánh chỉ". Người Kitô hữu quỳ gối trước bất kỳ ảnh tượng của một vị thánh nào, thì cũng như ngày xưa thần dân quỳ gối trước thánh chỉ, tôn kính không phải tấm lụa hoặc tấm giấy đôi khi rất là tầm thường, nhưng là tôn kính chính dấu ngọc tỉ đã được in lên trên đó. Xét về một phương diện nào, bất cứ ai biết mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Cứu độ, thì khác nào một tờ giấy, dù tầm thường đến đâu, biết trải rộng ra để Đấng Toàn năng in dấu ấn của Ngài vào, và thế là trở thành "Thánh chỉ".

Vì vậy, gần đây có một người phụ nữ rất tầm thường, rất hèn yếu, như là mẫu mực của đức khiêm tốn, vẫn cả dám nói là mình nhất định trở thành một vị thánh lớn; thoạt mới nghe qua, có vẻ như người đó quá tự kiêu, nhưng "thánh lớn", theo quan niệm Kitô giáo, không phải là hoàn toàn do công trạng của mình mà trở nên thánh nhân, trượng phu, quân tử, anh hùng, nhưng chỉ là khiêm tốn biết rằng mình hoàn toàn được Thiên Chúa yêu thương cứu độ và mình mở rộng lòng đón nhận ơn cao trọng đó: vì vậy. sự thánh thiện mà người nữ yến hèn ấy, tức là Têrêsa Hài đồng Giêsu, muốn vươn lên và tin tưởng mình sẽ thực hiện được, chẳng qua chỉ là sự thánh thiện của chính Thiên Chúa và con người được mời gọi thông dự vào mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh

Và bây giờ, tôi xin trình bày một điểm khác: đó là việc tôn kính các Thánh trong đời sống tôn giáo của Kitô giáo, nhất là của Công giáo. Bất cứ con người nào cũng được mời gọi thông dự hai chiều và gần như đồng hóa với chính Đức Giêsu Kitô, như thánh Phaolô đã nói: "Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, nhưng Đức Kitô sống trong tôi", và cũng chính vị Tông đồ dân ngoại cũng đã nói: "Anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Thánh Thấn Thiên Chúa ngự trong anh em" (lCr 3,9b-11.16-17), hoặc là như Đức Chúa Giêsu đã hứa hẹn, “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy" (Ga 14,23-29).

Một Kitô hữu đón nhận Tin vui. chịu các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể để kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, thi có một phần nào trở thành như Thiên Chúa, thể hiện một cách hoàn hảo hình ảnh Thiên Chúa trong chính bản thân mình, mà đã là hình ảnh của Thiên Chúa, thì đương nhiên việc tôn kính các hình ảnh của Thiên Chúa là hợp tình hợp lý.

Những mẫu người mà cộng đoàn Kitô giáo, cách riêng là Công giáo nhìn nhận như là đã được thông dự, đồng hóa cách nào đó với chính Đức Giêsu Kitô, trở nên đối tượng của việc tôn kính, tất nhiên là không phải là tôn thờ, "adoration" - sự tôn thờ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa. Những mẫu người đó, trước hết là những gương mẫu mà Giáo hội nêu lên để các tín hữu bắt chước noi theo, đồng thời còn là một khích lệ, bởi vì dù có thánh đến đâu thì cũng chỉ là thân phận con người, lúc nào cũng phải phấn đấu với bản thân, phải dứt bỏ khỏi những quyến rũ và có nhiều khi phải ngoi lên khỏi những sa ngã trầm trọng... để qua đó cho bất cứ ai cũng đừng tuyệt vọng, miễn là chưa trút hơi thở cuối cùng, chỉ cần quay đầu lại trong chốc lát thì có khả năng đạt được chính cái cứu cánh của mình.

Vả chăng, như thánh Phaolô, một vị thánh có thể nói là lớn nhất trong Kitô giáo, đã than thở rằng: "Thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi... Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này" (x. 2Cr. 12,7...). Thánh nhân quả quyết: "Thiên Chúa không để anh em bị thử thách quá sức" (x. lCr 10.13); và đồng thời cũng than thở: “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm. Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?" Và ngài tự trả lời: "Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!” (Rm 7, 15-16… 24). Những vị mà cộng đoàn Ki tô giáo, nhất là Công giáo, tôn lên bậc hiển thánh, chẳng qua chỉ là những con người được cứu rỗi mà thôi, chứ chính bản thân các ngài luôn luôn ý thức mình là kẻ tội lỗi, luôn luôn cảnh giác phấn đấu, ý thức rằng, dù lên cao đến đâu cũng vẫn có thê sa ngã, và có những người đã sa ngã.

Tôi xin kể lại một câu chuyện, đó là thánh Đômincô, một trong những vị thánh lớn của Công giáo. Một lần, đang lúc đêm tối, thánh nhân với một môn đệ của mình trú lại trong một căn lều chật hẹp. Người môn đệ vô ý khạc nhổ văng trúng mặt ngài và liền hoảng hốt xin ngài tha lỗi. Thánh nhân đã trả lời: “Không sao đâu con, con làm đúng rồi đó! Trong vũ trụ này, chỉ có mặt cha là đáng để bị khạc nhổ vào”; nghĩa là những vị thánh của Kitô giáo là những con người càng lên cao bao nhiêu càng ý thức được thân phận hèn kém tội lỗi của mình bấy nhiêu, vì thế cho nên, nhân đức yêu mến đã đành, nhưng luôn có kèm theo nhân đức khiêm nhượng trong lòng, tự xem mình như là kẻ rốt cùng của nhân loại, chẳng qua được Thiên Chúa ban ơn Cứu độ và biết mở rộng lòng đón nhận ơn Cứu độ ấy mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria (tiếp theo)

Thân thế và sự nghiệp Đức Maria được thâu gồm lại trong tổng hợp mà người Công giáo gọi là Mười Lăm Mầu Nhiệm được thể hiện qua việc lần hạt Mân Côi, là chuỗi hạt mà các anh chị thường thấy người Công giáo cầm trên tay hoặc đeo vào cổ, gồm có năm chục hạt, để vừa lần hạt, đọc lời kinh muôn thuở là kinh Kính Mừng, vừa nhắc lại, suy niệm thân thế sự nghiệp của Mẹ, khởi đầu là Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Vui, tức là cái vui mừng của Mẹ được làm Mẹ Thiên Chúa, sinh ra Hài nhi ở trong máng cỏ, sống ba mươi năm trong khung cảnh gia đình ấm cúng của chàng phó mộc Giêsu; [Thời điểm năm 1988, chưa có thêm Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Sáng, do đó, diễn giả không nhắc đến] tiếp đến là Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Thương, tức là khốn khó, diễn lại cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô mà hình ảnh cuối cùng là Đức Mẹ Sầu Bi đứng kề bên Thánh giá, nhìn người con yêu dấu của Mẹ trút hơi thở cuối cùng; kế đến nữa là Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Mừng, tức là suy ngẫm biến cố Đức Giêsu sống lại, lên trời, cuộc giáng lâm của Thánh Linh khai sinh Giáo hội, rồi chính Đức Maria được "hồn xác lên trời” và được tôn vinh như là Nữ vương của trời đất. Như vậy, thân thế và sự nghiệp của Đức Maria được diễn tả qua việc lần hạt Mân Côi bằng tràng hạt trong tay các tín hữu Công giáo, từ những người bình dân như người già và em bé, kể cả ở những nơi xa xôi hẻo lánh, cho đến trong tay thi hào, văn hào Charles Péguy cũng như trong tay nhà bác học Teilhard de Chardin, hay là trong tay các nữ tu trọn đời phục vụ những người mắc chứng nan y, trong tay một vị Giáo hoàng là Đức Gioan XXIII vừa được thế giới trao tặng giải Nobel Hòa bình... Thân thế và sự nghiệp của Đức Maria trong chuỗi hạt Mân Côi được trình diễn như một sự đồng hành, như một sự kết hợp nhuần nhuyễn với thân thế và sự nghiệp của Đức Giêsu Kitô, và trong Đức Giêsu Kitô, thân thế và sự nghiệp của bất cứ con người nào, cũng được sinh ra trong một gia đình, cũng nếm những chua cay của cuộc đời, nhưng nếu biết sống xứng đáng với ơn Thiên triệu của mình, thì cũng được mời gọi đi đến cùng đích là muôn đời vinh hiển, chẳng những bất tử mà thể xác còn được sống lại vinh quang trong mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Đến đây tôi cũng muốn gửi gắm đôi lời với anh em bên các hệ Tin Lành, đành rằng trong sự tôn kính Đức Maria, Giáo hội Công giáo có đôi khi cũng tỏ ra hơi quá khích, bởi vì các tước hiệu như "Đức Mẹ Chúa trời, Nữ Vương trời đất" biến Mẹ thành như một vị nữ thần, ngang hàng và đôi khi có vẻ như tiếm vị của Thiên Chúa; nhưng sự thực thì, bên cạnh những tước hiệu huy hoàng ấy, còn có những tước hiệu nói rõ lên thân phận làm người của Mẹ, cụ thể như Ngài là "nữ tì của Thiên Chúa", là "Đức Me Sầu Bi". Cũng chính Mẹ, trong bài Magnificat, một mặt thì Mẹ nói rằng: "Muôn đời sẽ khen tôi có phúc/cho tôi là hiếm họa lạ lùng"; nhưng sở dĩ được như vậy bởi vì Mẹ nói rằng, “Vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi, đã đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn". Và những phẩm tước cao sang không phải chỉ để dành riêng cho Mẹ, nhưng còn mở rộng, đón mời bất cứ ai thuận tình với ơn Cứu độ của Thiên Chúa từ ái, nghĩa là có một sự thông dự và đồng hóa nào đó với Mẹ, và qua Mẹ, noi theo gương Mẹ thông dự và đồng hóa với chính Đức Giêsu Kitô, là một con người đã được nâng cao lên một Ngôi VỊ Thiên Chúa.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria (tiếp theo)

Một nhà thần học chuyên về Đức Maria có nói bằng tiếng Latinh: “De Maria nunquam satis est! - Nói về Mẹ Maria không bao giờ đủ!" Một vài nét thô sơ của tôi trên đây, chẳng qua chỉ là gợi lên đế các anh chị tiếp cận với Đấng mà người Kitô hữu Việt Nam gọi là Đức Mẹ Maria, và như người Pháp gọi là, "La Très Sainte Vierge Marie, Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria", các anh chị có thể tìm hiểu sâu hơn qua những tác phẩm văn chương, điêu khắc, hội họa mà ở Việt Nam chúng ta, tiêu biểu là bức tranh "Mẹ bồng con" của họa sĩ Lê Văn Đệ, đã được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Vatican và qua bài thơ lừng danh của thi sĩ Hàn Mạc Tử, "Thánh nữ Đồng trinh Maria" hay "Ave Maria".

Có người nói rằng Đức Maria là biểu tượng của lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa, một phần nào tương tự như Đức Phật Bà Quan Âm; nhưng Đức Phật Bà Quan Âm chẳng qua chỉ là một trong muôn vàn hóa thân của một vị bồ tát, tùy theo căn cơ của chúng sinh. Trái lại, Đức Maria là một con người thật, một phụ nữ như hàng triệu phụ nữ khác, sống cuộc đời tầm thường của một con người với những hệ lụy của nữ giới, sinh hạ Đấng Cứu thế cũng là một con người thật một trăm phần trăm, chứ không phải là hóa thân của một vị nữ thần hay bồ tát nào.

Vì vậy, đứng về một phương diện nào đó, bất cứ người phụ nữ nào, sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù là ngôi mẫu nghi thiên hạ hay là một gái giang hồ, một người mẹ, một người vợ, một nữ tu, một nữ anh hùng liệt sĩ, hoặc nữa là một người hết sức bình thường, thảy đều tìm thấy nơi Đức Maria cái dáng dấp của chính mình, và có thể có một sự đồng hóa, thông dự hai chiều nào đó giữa chính đời sống của Đức Maria, với đời sống của bản thân hay của bất cứ ai, bất cứ con người nào cũng có sự thông dự với chính Đức Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người; được sinh hạ bởi một người nữ đã hứa hôn với một người nam là Giuse. Người nữ ấy chính là Đức Maria, một thôn nữ ở làng quê Nazareth hẻo lánh, trên đất Do Thái, cách đây hai nghìn năm; và ngày nay Mẹ đã "hồn xác lên trời”, thông dự vào sự vinh hiển của chính Thiên Chúa, là cứu cánh của bất cứ thụ tạo nào.

Ngày xưa, trong Vườn Địa đàng có một người nam và một người nữ, là Adam và Eva, thì hiện nay trên Thiên đàng cũng đang có một người nam và một người nữ đã đạt được cứu cánh của mình, đó là Giêsu Nazareth và Maria Nazareth. Đây cũng có thể được xem như là mẫu mực để ta noi theo, và hơn nữa để ta đồng hóa với một lòng tin tưởng vững bền ta cũng sẽ đạt được như hai Đấng ấy, trong một sự thông dự hai chiều. Trong một số gia đình Công giáo các anh chị có thể thấy hai bức ảnh có trái tim: một vẽ trái tim Chúa Giêsu Kitô đã bị lưỡi giáo đâm thấu, chảy máu ra để chứng tỏ tình yêu đối với Đức Chúa Cha, đối với mỗi một linh hồn, đối với cả và nhân loại, đối với toàn thể vũ trụ; và một vẽ Đức Maria đang chỉ tay vào trái tim mình, dù không bị một lưỡi giáo nào đâm thấu nhưng, khi đứng bên chân Thánh giá, ngước mắt lên nhìn chính trái tim của Con mình bị đâm thủng, trái tim Mẹ cũng tan nát khác nào bị một lưỡi gươm xé nát, đúng như lời vị bô lão Siméon đã tiên báo trong lúc ẵm trên tay mình Hài nhi Giêsu được tiến dâng vào Đền Thánh, theo nghi thức phụng vụ của Do Thái giáo.

Cuối cùng, hai trái tim đó thâu gồm nội dung đức tin cùa Kitô giáo. Thể hiện đỉnh cao của thần hiệp Kitô giáo, tức là kính mến Thiên Chúa và thương yêu nhân loại tới mức đổ hết máu mình ra cho đến giọt cuối cùng vì đối tượng của tình yêu.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria (tiếp theo)

Có thể nói rằng, nơi Đức Giêsu Kitô, trời cao hạ xuống đất thấp, mà nơi Đức Maria là nhân loại từ dưới đáy vực sâu vươn lên đến đỉnh cao nhất, và trong cung lòng của Mẹ là nơi trời đất gặp gỡ nhau, kết tụ lại thành một con người là Giêsu Nazareth. Mẹ là lý tưởng về một sự cộng tác mật thiết, một sự thuận tình hoàn toàn tự do của nhân loại trước lời mời gọi của Thiên Chúa, để chương trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa được bắt đầu thực hiện, hay nói cách khác, được khai mạc. Hình ảnh Mẹ đứng bên chân Thánh giá cũng là tiêu biểu cho nhân loại biết dâng sự đau khổ của mình, kết hợp làm một với sự đau khổ của Đức Giêsu Kitô để biến đau khổ thành nguồn mạch cứu độ và đem lại phúc lạc muôn đời.

Sau hết, với tín điều "hồn xác lên trời”, vì Đức Maria là một con người, một thụ tạo trăm phần trăm, chứ không như Đức Giêsu Kitô là Ngôi Thiên Chúa, thì Đức Maria là hoa quả đầu mùa của ơn cứu độ, là một thụ tạo hoàn toàn đã được đi vào vinh hiển cả phần linh hồn, cả phần thể xác, như là một bảo chứng để cho mỗi một người trong toàn thể nhân loại, và kéo theo cả vũ trụ, vững tin vào cứu cánh của mình là đi vào vinh hiển của Thiên Chúa Cha, miễn là biết mở rộng tâm hồn ra để đi vào mà thôi.

Đức Maria còn là hình ảnh lý tưởng của thụ tạo khi đã đạt được chính cái cứu cánh của mình, theo đúng như ý định sáng tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa tình yêu. Do đó, lòng sùng kính của các Kitô hữu, và nhất là của tín hữu Công giáo, đối với Mẹ Maria, đã đem lại những ảnh hưởng, những hệ quả về tất cả mọi bình diện tư tưởng, nghệ thuật, tình cảm và có thể nói cả trong cơ chế xã hội, quả là không thể nào kể xiết.

Tôi chỉ nêu lên hai vấn đề: Thứ nhất là vấn đề người nữ, nếu chúng ta mở những trang đầu của Kinh thánh, thì thấy người nữ có một dạng là "lưỡng giá", tiếng Pháp là "ambivalente". Khi Thiên Chúa tạo dựng nên người nữ, người nam Adam đã đón nhận với một niềm hân hoan vui mừng khôn tả mà reo lên: “Đây chính ìà xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi’', và người nữ là cộng tác viên của người nam để thực hiện chính cuộc đời của mình; nhưng một mặt khác thì, qua câu chuyện Adam, vì lời rủ rê của người nữ mà ăn phải "trái cấm”, do đó, có một quan niệm cho rằng người nữ như là cơn cám dỗ muôn đời có thể làm cho người nam suy sụp; nhưng mà đúng là vậy thật, tiểu sử của biết bao cá nhân trong lịch sử của nhân loại cũng cho chúng ta thấy ảnh hưởng, đôi khi khủng khiếp, của những người phụ nữ như Bao Tự, Đát Kỷ, Dương Quý Phi, v.v... Nhưng đồng thời người nữ cũng là người sinh ra những bậc anh hùng hào kiệt: Mạnh mẫu, Ỷ Lan Thái phi, thân mẫu của vua Louis IX, và chính trong chúng ta ai cũng có kinh nghiệm nhờ một người mẹ, nhờ một người chị, nhờ một người vợ, nhờ một người em gái mà đôi khi, chẳng những mình được an ủi khỏi những đau khổ, mà còn được cứu vớt khỏi những bước sa lầy; và cái quan niệm cho rằng người nữ như là một lớp người hạ cấp hơn người nam vẫn còn thông dụng trong nhiều xã hội, và có thể nói là vẫn còn tác động trong tiềm thức của ngay cả những người phẩn đấu cho nam nữ bình quyền, đó là một hiện thực.

Như vậy, cái vấn đề "lưỡng giá" nhắc đến ở trên dường như đã được giải quyết trong chính Đức Maria bởi vì, một mặt, đối với Đức Giêsu, Mẹ chỉ đóng vai trò thứ yếu, nhưng dù sao đi nữa, Đức Giêsu có một khía cạnh là Thiên Chúa, còn nói rằng các thụ tạo vốn chỉ là người, thì Đức Maria chính là thụ tạo tuyệt vời nhất. Do đó, mặc dầu trong những lời giáo huấn của Đức Kitô hay là của các vị Tông đồ, không hề đề cập đến vấn đề nam nữ bình quyền, mà trái lại, hình như vẫn theo cái phong tục các dân tộc thuộc những nền văn hóa cách đây hai nghìn năm là đặt người phụ nữ vào vị trí thứ yếu; nhưng dần dà ảnh hưởng của chính Đức Maria đã âm thầm lặng lẽ tác động khiến cho người phụ nữ được nâng lên ngang hàng với người nam. Nhiều khi tôi tự hỏi, nếu không có Đức Maria, thì liệu rằng hiện nay chúng ta có thể có được một quan niệm nam nữ bình quyền hay không? Đấy chỉ là câu tôi tự hỏi bản thân mình mà thôi, chứ tôi không dám khẳng định.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria (tiếp theo)

Chính do đó mà, trong tiểu sử mỗi một Kitô hữu, cũng như trong lịch sử của Giáo hội Kitô giáo, nhất là Giáo hội Công giáo, Đức Maria vẫn giữ vai trò là Mẹ của nhiệm thể Giêsu Kitô, mà đã là Mẹ thì tất nhiên là cưu mang, chăm sóc, hướng dẫn, dạy dỗ, nuôi nấng, an ủi, vỗ về, phù trợ cho từng người con riêng biệt cũng như người con duy nhất là Giáo hội. Cũng tương tự như Đức Giêsu Kitô, một mặt thì linh hồn và thân xác sống trong sự vinh hiển vĩnh cửu, nhưng một mặt vẫn đồng hành với Giáo hội, với nhân loại, với cả vũ trụ qua những thăng trầm của lịch sử, cũng như qua những chìm nổi của từng cá nhân; đôi khi được tin Mẹ hiện ra với một số linh hồn được lựa chọn để an ủi, khuyến khích, dạy bảo, khi khác thì ra những mệnh lệnh hướng dẫn Giáo hội và cả nhân loại thoát khỏi những đe dọa của tội lỗi, của chiến tranh, của hiểm họa hủy diệt, của hiểm họa hoang tàn. Vì vậy, phần lớn các Thánh đường đều mang danh hiệu của Mẹ như: Đức Mẹ La Vang, Đức Bà Sài Gòn, Đức Bà Paris, Đức Bà Chartres, v.v... Tương quan của Đức Maria đối với mỗi tín hữu đôi khi như một vị nữ hoàng, đôi khi như một bà ngoại, đôi khi như một người mẹ, đôi khi như một người chị em, đôi khi như một người bạn đồng hành; đôi khi nghiêm khắc như Mạnh mẫu, nhưng đôi khi lại dịu hiền như một nữ y tá băng bó, chữa lành vết thương thể xác cũng như tâm hồn; đôi khi như một vị nữ tướng cầm quân trong những cuộc giao tranh giữa mỗi một tâm hồn với Ác thần, hoặc là giữ toàn thể Giáo hội trước những đe dọa, uy hiếp hòng nhận chìm Giáo hội, phá hủy Giáo hội; và đôi khi hướng dẫn nhân loại trong cuộc chiến đấu chống lại sự dữ, sự đau khổ. Trong sách Khải huyền, cuốn sách cuối cùng của bộ Kinh thánh, có vẽ nên một người nữ sáng láng, mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao [Theo các nhà Chú giải học (hermeneutics): - "Áo mặt trời": được bao bọc bởi Thiên Chúa (Thiên Chúa là ánh sáng). - "Chân đạp mặt trăng": "mặt trăng", trong văn hóa Tây phương là biểu tượng cho người nữ (Tiếng Latinh phân biệt mặt trăng "Luna"giống cái; mặt trời "Sol" giống đực. Tiếng Pháp cũng có phân biệt tương tự: mặt trăng "la Lune", giống cái; mặt trời "le Soleil", giống đực). Như vậy "Chân đạp mặt trăng" có ý nghĩa của một sự vượt qua, sự đứng bên trên thân phận người nữ bình thường (vốn mắc tội Tổ Tông)... - "Đầu đội triều thiên 12 sao": Đức Mẹ được tôn vinh bởi Giáo hội ("đội triều thiên": sự tôn vinh; "số 12" tượng trưng cho Giáo hội)], tiến lên uy hùng như một đạo binh, đó là ám chỉ về Đức Maria, Nữ Vương của trời đất; nhưng đôi khi Đức Maria lại được hình dung như là khuôn mẫu một người mẹ xót xa, đau đớn khóc lóc, ẵm lấy xác của con mình vừa được hạ xuống từ thập giá, và chính Mẹ cũng tự xưng mình chẳng qua chỉ là một nữ tì của Thiên Chúa.

Mẹ, như một thôn nữ, như một nữ đồng trinh đầy hương đầy sắc, cho nên dung mạo của Mẹ được các thi hào, các nghệ sĩ vẽ lên bằng những nét vô cùng phong phú, vô cùng đa dạng mà chúng ta được chiêm ngưỡng trong không biết bao nhiêu tác phẩm hội họa, từ bức họa của Leonardo da Vinci đầy bí ẩn, cho đến bức họa đầy tình mẫu tử của họa sĩ Lê Vãn Đệ; từ những bức họa đầy rạng rỡ huy hoàng mô tả vị Nữ thần Hồn Xác Lên Trời của danh họa Murillo [Bartolomé Esteban Murillo, danh họa Tây Ban Nha hậu bán thế kỷ XVII. Ông còn có bộ tranh sơn dầu trên vải; 236cm X 259cm, mô tả Đứa con hoang đàng - (khác với bức tranh nổi tiếng của Rembrandt) - từ lúc bỏ nhà ra đi rồi ãn chơi phung phí cho đến khi trở về. Ngoài bức họa nổi tiếng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, hiểu theo nghĩa được công chúng đón nhận rộng rãi nhất - có lẽ do sự dung dị của tác phẩm và sự dịu dàng, thanh thoát nơi bản thân hình ảnh Đức Mẹ Maria... Murillo cũng là họa sĩ vẽ rất nhiều tranh về chủ đề "Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội". (Nguồn: https://tgpsaigon.net/bai-viet/duc-me-honxac-len-troi-trong- hoi-hoa-38942)], cho đến bức vẽ một thôn nữ liễu yếu, đào tơ cúi đầu trước lời Truyền tin của sứ thần Gabriel, của danh họa Fra Angelico [Fra Angelico, OP là một tu sĩ người Dominica và là họa sĩ người Ý thời kỳ đầu Phục hưng, được Giorgio Vasari mô tả trong cuốn Đời sống nghệ sĩ của mình là có "tài năng hoàn hảo và hiếm có", ông nổi tiếng chù yếu nhờ loạt bức bích họa mà ông thực hiện cho tu viện của riêng mình, San Marco, ở Florence, sau đó làm việc ở Rome và các thành phố khác. Tất cả các tác phẩm được biết đến của ông đều có chủ đề tôn giáo. Bức tranh tuyệt tác "Truyền tin" của họa sĩ Fra Angelico, được vẽ vào khoảng năm 1437, thể loại tranh tường, 230 X 297 cm,Tu viện San Marco - Florence (Ý) là một trong các tuyệt tác của thành phố Florence. Viên ngọc này của Dòng Đa Minh là tác phẩm suy ngẫm luôn được trình bày ở nơi do chính nghệ sĩ chọn. Mỗi chi tiết bức tranh là mỗi nét nhắc người xem hiểu thêm về Mẹ Maria. "Trong phông nền đơn giản tuyệt đối, không một nét nào làm cho người xem lo ra để không chú tâm đến ánh mắt và tâm hồn đang suy ngẫm vế mầu nhiệm thánh". (Nguồn: https://giaoxutanviet.com/ tim-hieu-tuyettac-truyen-tin-cua-danh-hoa-fra-angelico/)] ... Và thi sĩ Hàn Mạc Tử cũng đã dâng lên Đức Bà một câu thơ như một thần tử dâng lên một vị nữ hoàng: "Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh!/ Run như run thần tử thấy long nhan/ Run như run hơi thở chạm tơ vàng/ Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến.” (Trong bài Thánh nữ Đồng trinh Maria).

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.