Hiển thị các bài đăng có nhãn Chia sẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chia sẻ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2009

Ai Tốt Hơn Ai?

(Lc 18,9-14)

Gié lúa nặng bông thì trĩu xuống. Ghé lúa lép hạt thì ngẩng lên. Con người cũng có những biểu hiện tương tự như thế. Những người thật sự có tài đức, có năng lực thường ít khi nói về những thành tích của mình. Họ cũng không bao giờ so sánh mình với những người khác, nhất là với những người kém tài năng hơn mình để nâng mình lên. Những người không có thực lực thì ngược lại. Họ ưa khoe khoang về những gì mình có và những gì mình làm được. Tệ hơn, họ có thể khoe khoang ngay cả những cái mà họ không có nữa. Họ cũng thích so sánh mình với người này người nọ. Và khi so sánh, họ luôn luôn tự xếp mình vào vị trí cao nhất. Trong đời sống xã hội có không ít những con người như thế. Và đáng buồn thay, trong đời sống tôn giáo cũng không thiếu hạng người này.

***

Vào thời Chúa Giê-su, các kinh sư và các người Pha-ri-sêu thường bị Chúa Giê-su quở trách nặng lời về tính tự cao tự đại của họ. Trong dụ ngôn “Người Pha-ri-sêu và người thu thuế”, Người dùng ngay hình ảnh một người Pha-ri-sêu hợm hĩnh khoe khoang công trạng của mình trước mặt Thiên Chúa. Ông đáng trách không phải vì những việc tốt ông đã làm, như tự nguyện ăn chay mỗi tuần hai lần và đóng thuế thập phân cho đền thờ, nhưng ông đáng trách vì đã xem những công việc đạo đức này như những chiếc vé mang lại sự công chính cho ông. Qua lời cầu nguyện của ông, người ta thấy rõ ông làm những việc này cốt là để tự biến mình trở nên người công chính chứ không phải để thờ phượng Thiên Chúa và phục vụ quê hương dân tộc. Ông giữ mình khỏi vướng vào các thói hư tật xấu cốt là để cho người khác thấy ông là người đạo đức tốt lành chứ không như những phường hư đốn đồi bại khác.

Mỗi khi ra đường, chắc hẳn ông đã kiêu hãnh ngẩng cao đầu, với khuôn mặt nghiêm trang đường bệ, với dáng đi chững chạc uy nghi, các hộp kinh thật lớn thắt trên người, các tua áo thật dài thả tung bay. Ông thấy mình thật xứng đáng để cho thiên hạ kính nể. Biết bao kẻ sống bê tha trụy lạc, còn tôi đây vẫn giữ mình trung trinh với Lề Luật. Nếu là ông là người Việt Nam, có thể ông đã cao hứng tự thưởng cho mình hai câu ca dao: “Trong đầm gì đẹp bằng sen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Ông thấy mình sao mà đáng thán phục đến thế!

Bước vào đền thờ, ông đứng riêng ra, chọn cho mình một chỗ xứng đáng. Và ông bắt đầu khoe với Thiên Chúa những công trạng của mình. Những công trạng này ông đã kể cho hàng xóm láng giềng nghe không biết bao nhiêu lần rồi. Vả lại, nếu ông không kể thì người ta cũng phải biết đến chúng, bởi mỗi khi ăn chay ông đều ra vẻ thiểu não ảm đạm, còn khi đóng thuế đền thờ thì ông cũng chọn lúc có đông người chứng kiến. Nhưng đối với ông, được người ta thán phục thôi thì chưa đủ. Ông cần được Thiên Chúa chứng giám nữa cơ. Ông là người tốt lành, Chúa phải biết cho ông điều đó!

Đang hăng say khoe mình, ông chợt nghĩ đến người thu thuế đang cúi đầu đứng xó ró ở góc đền thờ. Tiện thể, ông thưa với Chúa: Đấy, Chúa thấy cái tên thu thuế tội lỗi kia không. Con đâu như hắn ta. Con tốt hơn hắn nhiều lắm. Hắn tham lam tiền bạc, gian lận thuế má, chèn ép lận lường. Ôi thôi thì đủ thứ. Con cám ơn Chúa vì con đâu giống như hắn.

Ôi ông Pha-ri-sêu hợm hĩnh tội nghiệp! Ông đâu biết rằng Thiên Chúa chẳng cần đếm xỉa gì tới những lời khoe khoang tự cao tự đại của ông. Người cần tấm lòng chứ không cần hy lễ. Người cần con tim yêu thương chứ không cần trí óc tự phụ. Tâm hồn khiêm cung tự hối của cái tên thu thuế mà ông coi chẳng ra gì kia lại làm đẹp lòng Người nhiều hơn là ông nghĩ đấy!

***

Tôi tìm thấy mình trong hình ảnh người nào trong dụ ngôn trên đây? Người Pha-ri-sêu hay là người thu thuế. Nếu đã lỡ là người Pha-ri-sêu, tôi đừng ngã lòng, nhưng hãy thành thật hoán cải và trông cậy vào tình thương của Thiên Chúa. Người có thể biến sự dữ trong tôi nên sự lành. Nếu tôi thành tâm thiện chí, Thiên Chúa sẽ đập tan tính kiêu hãnh của tôi và thay vào đó một tâm tình mới. Người sẽ dạy tôi biết sống sao cho đẹp lòng Người. Còn nếu tôi đã là người thu thuế, thì tôi cũng hãy cương quyết làm lại cuộc đời. Thiên Chúa đã yêu thương tha thứ mọi tội lỗi của tôi. Người đã đón nhận tấm lòng tan nát khiêm cung của tôi. Tôi hãy tin tưởng làm lại từ đầu. Với ân sủng của Thiên Chúa, không có sự gì là không thể thực hiện được. Chỉ cần tôi vững tin và phó thác vào Người, rồi Người sẽ dẫn dắt tôi bước đi trên đường nay nẻo chính. Mùa Chay là mùa thuận lợi để canh tân đời sống. Tôi hãy cộng tác với ơn Chúa để đổi mới tâm hồn mình nên công chính như Chúa vẫn mong chờ.

Lạy Chúa Giê-su, con đọc được một câu chuyện trẻ con kể rằng: Có một con diều giấy kia, nhờ trời quang mây tạnh và gió thổi thuận chiều, bay được lên cao trên bầu trời xanh. Nó kiêu hãnh nhìn xuống những con diều thật đang bay lượn phía dưới và tự nhủ: Ôi, lũ chim tầm thường tội nghiệp, chúng mầy chẳng biết thế nào là trời cao lồng lộng, chỉ biết bay lè tè quanh quẩn ở dưới thấp kia! Nó tự hào bốc cao lên nữa. Nào ngờ, gió giật đứt giây, con diều cao ngạo kia bị rơi trở lại mặt đất, rách nát tan tành. Chúa ôi, xin gìn giữ con đừng trở thành con diều giấy cao ngạo ấy. Xin cho con biết sống khiêm nhường tự hạ trước tôn nhan Thiên Chúa và trước mặt anh chị em. Amen ./.

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2009

Câu Trả Lời Của Ngôi Mộ Trống (Ga 20,1-9)

“Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin” (Ga 20,8)

Hai hôm sau ngày Chúa Giê-su chịu chết và được táng xác trong huyệt đá, trời vừa hửng sáng, Ma-ri-a Ma-đa-lê-na đi ra thăm mộ Chúa Giê-su và thấy tảng đá đậy cửa mộ đã bị lăn đi, còn mộ thì trống không.

Bà chạy về báo tin cho ông Si-mon Phê-rô và người được mệnh danh là “môn đệ Chúa Giê-su thương mến”. Cả ba cùng hối hả chạy ra mộ.

Họ đã cùng chứng kiến cảnh ngôi mộ trống không, khăn liệm xếp lại gọn gàng. Nhưng trong thâm tâm, mỗi người lại có những suy nghĩ khác nhau:

Bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na cứ đinh ninh rằng xác Chúa Giê-su đã bị đánh cắp (Ga 20,13-15).

Ông Phê-rô thì rất đỗi ngạc nhiên vì sự việc đã xảy ra (Lc 24,12).

Còn “người môn đệ Chúa Giê-su thương mến” thì tin chắc rằng Chúa Giê-su đã sống lại như lời Ngài đã tiên báo (Ga 20,9).

Cùng một sự kiện, nhưng lại có nhiều thái độ đức tin khác nhau.

Điều này vẫn thường xảy ra trong đời sống của mỗi Ki-tô hữu.

***

Sống đức tin là biết nhìn tất cả mọi việc theo quan điểm của Thiên Chúa và trong ý hướng của Thiên Chúa.

Sống đức tin là xác tín rằng Thiên Chúa đang thực hiện chương trình của Ngài xuyên qua mọi biến cố trong cuộc đời.

Nhưng làm thế nào để biết được ý Chúa?

Cách thế duy nhất và hữu hiệu nhất là sống bằng chính Lời của Ngài.

Lời Chúa sẽ soi sáng cho chúng ta biết rõ ý Chúa, sẽ giúp chúng ta củng cố, phát triển và kiện toàn đức tin.

***

Chúa Ki-tô đã sống lại, chỉ còn ngôi mộ trống không.

Trong cuộc sống, chẳng thiếu gì lúc chúng ta gặp thấy ngôi mộ trống này.

Đó là những lúc chúng ta kiếm tìm một dấu chứng để củng cố lòng tin đang bị lung lay của mình.

Nhưng thay vì một chứng cớ rõ ràng, Chúa Ki-tô lại chỉ đưa ra cho chúng ta một biến cố tạo nghi vấn.

Thay vì trả lời, Ngài lại bắt chúng ta tự đặt ra câu hỏi cho chính mình:

“Như thế nghĩa là gì?”

Quả thật lắm lúc chúng ta đã bối rối phân vân trước câu hỏi bỏ ngỏ ấy.

“Chúa muốn nói gì?”

Thật khó mà xác tín được!

***

Bài Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta trả lời câu hỏi ấy:

Cũng như cái chết và sự sống lại của Chúa Giê-su đã được tiên báo trong Kinh Thánh, sứ mạng của mỗi người chúng ta cũng đã được Thiên Chúa tỏ lộ bằng cách này hay cách khác trong chính cuộc đời chúng ta.

Thiên Chúa cũng đã mở sẵn cho chúng ta một tương lai bằng cách chuẩn bị cho chúng ta những bước đường trong quá khứ.

Xuyên qua những hỗn độn trong cuộc sống, Thiên Chúa đã tỏ ý của Ngài cho chúng ta bằng những biến cố bỏ ngỏ, những “ngôi mộ trống” mà Ngài đặt trước mắt chúng ta.

Muốn biết được những “ngôi mộ trống” ấy muốn nói gì, chúng ta phải duyệt xét lại quãng đời đã qua của mình, để nắm bắt những dữ kiện chính và xếp đặt chúng lại dưới ánh sáng của Tin Mừng.

Với ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ nhận ra được thánh ý Thiên Chúa trong cuộc đời mình.


Lạy Chúa Giê-su,

Chúa đã sống cuộc sống trần gian, đã chịu chết và đã sống lại để mở ra cho nhân loại đường về cõi trường sinh.

Con tin chắc một điều là Chúa cũng muốn con sống, chết và sống lại như thế.

Nhưng để được sống lại như Chúa, con phải theo con đường nào để hiến tế bản thân con?

Đâu là đỉnh núi Sọ của con?

Xin Chúa dạy con biết nhìn để thấy được điều Chúa muốn con thi hành.

Và xin Chúa trợ giúp để con đủ nghị lực hoàn thành điều Chúa muốn.

Những lúc Chúa cho con xem thấy “ngôi mộ trống”, thì xin Chúa cũng cho con luôn nhớ rằng Chúa đã phục sinh. A-men ./.

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009

Bữa Tiệc Tình Yêu

Bước vào Tam Nhật Thánh, chúng ta được mời gọi đi theo Chúa Giê-su đến phòng Tiệc Ly. Đây là bữa ăn cuối cùng, là lần sau hết Thầy trò được ngồi quây quần bên nhau. Nhìn những khuôn mặt thân yêu mà mình sắp phải chia tay, lòng Chúa Giê-su trào dâng thương mến. Ngài yêu thương họ quá, bởi vì họ đã bỏ mọi sự mà theo Ngài. Trong suốt ba năm bôn ba rao giảng, Ngài luôn là một chỗ dựa vững chắc cho họ. Họ rất nhiệt thành, nhưng họ cũng còn rất non dạ yếu lòng. Ngài đã phải giảng giải cho họ đủ điều, thế nhưng xem ra họ chưa tiếp thu được bao nhiêu. Họ chưa đủ sức để tự mình quyết định trong những tình cảnh khó khăn. Hầu như Ngài luôn phải can thiệp để giúp họ giải quyết các trường hợp khó xử. Như những môn sinh chưa đủ bản lãnh để xuống núi hành đạo, họ cần phải được nâng đỡ rất nhiều. Thế nhưng, giờ của Chúa Giê-su đã đến. Cái thời khắc quyết định để Ngài hoàn thành sứ mạng cứu thế đã gần kề. Đã đến lúc Ngài phải chia tay họ để trở về với Chúa Cha, Đấng đã sai phái Ngài xuống thế gian. Ngài sắp ra đi, nhưng tình yêu của Ngài dành cho họ thì không muốn ra đi. Tình yêu mãnh liệt này muốn ở lại với họ luôn mãi. Làm thế nào để có thể vừa về với Chúa Cha, đồng thời vừa ở lại với các môn đệ thân yêu? Đối với con người thì đây là hai ước vọng không thể đáp ứng cùng một lúc. Nhưng, như đã từng xảy ra trong biến cố Truyền Tin, đối với Thiên Chúa thì không sự gì là không thể làm được. Chúa Giê-su đã nghĩ ra một sáng kiến tuyệt vời để ở lại với các môn đệ mà Ngài yêu quý: con người sống nhờ có ăn có uống, con người cùng vui vẻ quây quần với nhau chung quanh bàn ăn. Vậy thì Ngài sẽ ở lại với họ trong một bàn ăn tương tự như buổi Tiệc Ly hôm nay. Họ sẽ chung mâm với nhau, lương thực nuôi sống tình yêu của họ sẽ là Thịt Máu của Ngài. Ngài sẽ luôn luôn có mặt với họ và sẽ tiếp tục nuôi dưỡng sức sống thần linh mà Ngài đã lưu truyền sang cho họ. Bàn tiệc Thánh Thể được thành hình, và Chúa Giê-su muốn bàn tiệc này sẽ được tái diễn mọi ngày cho đến khi Ngài trở lại trong ngày sau hết. Như thế, Ngài sẽ không bao giờ xa cách các môn sinh của mình, các môn sinh mà Nhóm Mười Hai sẽ gầy dựng trong tương lai.

Tin mừng theo thánh Gio-an không thuật lại việc Chúa Giê-su lập phép Thánh Thể, thay vào đó, tác giả lại cho chúng ta tham dự vào việc Chúa Giê-su rửa chân cho các môn đệ. Cả hai đều là những sáng kiến tuyệt vời của tình yêu. Khi nhập thể, Ngôi Hai Thiên Chúa đã tự hạ làm một con người. Giờ đây, trong bí tích Thánh Thể, Chúa Giê-su còn tự hạ để trở nên lương thực nuôi sống con người. Cũng vậy, khi quy tụ các môn đệ từ giới bình dân, Chúa Giê-su đã tự chọn vai trò lãnh đạo đám người quê mùa dân dã. Giờ đây, khi rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giê-su còn từ bỏ vị thế của một bậc Thầy, nhận lấy thân phận của một kẻ nô lệ rửa chân cho các học trò của mình.

Các môn đệ sửng sốt trước việc làm quá bất ngờ của Thầy. Cũng như những lần khác, ông Phê-rô nhanh nhẩu phát biểu ý kiến. Ông không thể chấp nhận việc nầy. Ông không thể để Thầy cúi xuống rửa chân cho mình. Ai lại đi làm một việc ngược đời như thế bao giờ? Trò còn chưa rửa chân cho Thầy, mà Thầy lại đi rửa chân cho trò ư?

Lạy Chúa Giê-su, Thầy phục dịch trò quả là một chuyện ngược đời. Nhưng Chúa đã muốn làm chuyện ngược đời này để nêu gương phục vụ vì yêu. Muốn yêu thương cho đến tận cùng, phải chấp nhận hạ mình như thế. Khi yêu, phải quên mình đi để phục vụ cho lợi ích của kẻ mình yêu. Không làm được như thế thì chỉ là mới yêu nửa vời, yêu có chừng mực. Mà Chúa lại muốn các môn đệ của Chúa phải yêu tha nhân đến cùng như Chúa đã yêu .

Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã trở nên tấm bánh ly rượu để làm no lòng người khác. Chúa đã trở thành kẻ nô lệ để phục dịch người khác. Tất cả đã được Chúa thực hiện chỉ vì tình yêu. Chúa muốn con kéo dài bí tích Thánh Thể ra trong đời con bằng cách trở thành tấm bánh ly rượu nuôi dưỡng tha nhân. Chúa cũng muốn con tiếp tục công việc rửa chân mà Chúa đã làm bằng cách quên mình để phục vụ kẻ khác.

Lạy Chúa, xin giúp con quảng đại làm mọi sự vì yêu như Chúa đã yêu. Amen ./.

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2008

Chị Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su

Chị thánh Têrêxa lúc 8 tuổi


Hoán cải để nên như trẻ nhỏ (Mt 18,3)

Để trả lời câu hỏi của các môn đệ: “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” , Chúa Giê-su đưa ra một mẫu mực tưởng chừng như trái ngược hẳn: “Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.” Câu trả lời mới nghe qua thì nghịch tai – mà chân lý thì mới nghe qua đều thường nghịch tai như thế - nhưng cứ để cho nó thấm dần vào lòng mình, cứ để cho nó ăn lan vào mọi ngõ ngách của đời sống mình, cứ để cho nó trở thành một chuẩn mực để xác định các giá trị nhân linh trong cuộc sống, thì ta sẽ thấy nó không những không còn nghịch tai mà lại trở nên êm ái đằm thắm dễ nghe.

“Nên như trẻ nhỏ”, ý tưởng này làm tôi lập tức nghĩ đến hình ảnh hài nhi Giê-su Na-da-rét nằm co ro run rẩy trong cái máng súc vật ở ngoài đồng Bê-lem. Nên như trẻ nhỏ trước tiên hẳn phải là như thế, và để mà như thế thì quả là không đơn giản tí nào! Nếu chỉ nhìn vào em bé Giê-su nằm rét run đó mà thôi thì có lẽ vấn đề sẽ đơn giản thật. Thế nhưng, nếu ta chiêm ngắm cho thật thâm sâu thì ta sẽ thấy nơi em bé Giê-su đang ẩn chứa một điều hết sức vĩ đại: chính Ngôi Hai Thiên Chúa hiện diện trong cái hình hài nhỏ bé bình thường này. Điều không đơn giản là ở đó. Để nhập thể một cách trọn vẹn, không ‘đóng kịch’, Ngôi Hai Thiên Chúa đã phải tự hủy mình ra không, đã phải thật sự từ bỏ thiên tính của mình để đến xếp hàng vào trong đoàn lũ con cháu của A-đam: Ngôi Lời Sáng Tạo tự xếp hàng vào trong đoàn lũ loài người thụ tạo! Điều không đơn giản này vượt quá tầm mức suy tưởng của con người. Ta có thể nói một cách hơi ‘hàm hồ’ rằng Ngôi Hai Thiên Chúa đã phải “hoán cải” để nên một trẻ nhỏ: Ngài mang lấy mọi hệ luỵ từ thân phận thấp hèn như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Và chính hành động này đã khởi đầu cho một kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người. Nếu không xúc phạm đến thiên tính của Chúa Giê-su thì ta có thể nói đây là sự “hoán cải” kiểu mẫu đầu tiên và vĩ đại nhất mà con người phải noi theo.

“Trở nên như trẻ nhỏ” là một công việc khó khăn, nhất là khi ta đã lỡ thành ‘người lớn’ mất rồi. Lại còn khó khăn hơn, khi ta tự cho là mình đã ‘trưởng thành’ trọn vẹn. ‘Người lớn’ thì có nhiều điều hay, nhưng cũng có lắm điều dở! Khổ một nỗi là ‘người lớn’ ít khi thấy được cái dở của mình, ít khi chịu khó đón nhận cái hay đến từ bên ngoài mình. ‘Người lớn’ tạo ra một thế giới trong đó họ là chủ, là nhà lập luật, là quan toà, là ... mọi sự cho chính họ. Thiên Chúa sẽ rất vất vả để có thể chen chân vào trong cái vương quốc riêng tư của họ, hoặc nếu có chen chân vào được thì cũng gặp nguy cơ trở nên thần dân của họ! Thiên Chúa khó mà ‘trị’ được ‘người lớn’. Đối với ‘người lớn’, Nước Thiên Chúa khó mà “trị đến” được!

Trẻ nhỏ thì không rắc rối phức tạp như thế. Trẻ nhỏ gọi: “Cha ơi!” rồi phó thác tất cả cho cha mình. Trẻ nhỏ không đòi quyền làm chủ, cũng không so đo hơn thiệt với cha mình. Tuy cũng có lúc nài nỉ vòi vĩnh, nhưng cuối cùng thì ý kiến của cha bao giờ cũng là nhất. Chúa Giê-su lúc đã ngoài 30 tuổi vẫn còn giữ nguyên vẹn nét trẻ nhỏ của mình khi Ngài thốt lên trong vườn Cây Dầu: “Cha ơi! Cha có thể làm được mọi sự, xin cho con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mc 14,36). Và cho đến giây phút cuối đời trên thập giá, Chúa Giê-su cũng không đánh mất nét trẻ nhỏ đó: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Quả thật Chúa Giêsu là mẫu mực tuyệt hảo cho những ai muốn thực hiện lối sống “nên như trẻ nhỏ”. Có thể nói rằng từ lúc sinh ra cho đến lúc chết Chúa Giê-su đã không hề ‘già’ đi bao giờ. Chúa Giê-su vẫn mãi mãi là trẻ nhỏ trước mặt Chúa Cha và chính vì thế Chúa Giê-su là người đầu tiên được Chúa Cha đón nhận vào Nước của Ngài: “Nếu anh em không quay trở lại mà nên như trẻ em, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,3).

Trẻ nhỏ vẫn luôn miệng gọi: “Cha ơi!”, chính vì thế mà lời kinh Chúa Giê-su dạy cho các môn đệ là kinh “Lạy Cha”. Chúa Giê-su là mẫu mực của nếp sống “Nên như trẻ nhỏ” và Ngài cũng muốn truyền lại cho những kẻ theo Ngài cái bí quyết độc đáo này. “ Lạy Cha chúng con... “, đây chính là lời kinh của những trẻ nhỏ. ‘Người lớn’ thì ít khi chịu gọi Cha ơi ới như thế vì sợ mắc cỡ! Còn nên như trẻ nhỏ thì họ lại ngại ngần.

“Nên như trẻ nhỏ” vì thế đòi hỏi phải hoán cải. Hoán cải là bỏ đi con người cũ và mặc lấy con người mới. Đông phương ta có nói “Cải lão hoàn đồng” là cũng nằm trong ý nghĩa này. Bỏ con người cũ không dễ như bỏ một chiếc áo cũ và mặc lấy con người mới cũng không dễ như mặc một chiếc áo mới. Con người cũ ta bỏ đi vẫn sẵn sàng để trở về lại và con người mới ta vừa hình thành vẫn sẵn sàng để vuột mất đi. Hoán cải đòi hỏi phải nỗ lực và cậy trông liên lỉ. Nỗ lực với tất cả khả năng xác hồn mình có được và cậy trông trọn vẹn vào ơn Chúa. Sự hoán cải này chỉ hoàn tất vào cuối đời ta, khi ta lặp lại câu nói của Chúa Giê-su trên thập giá: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Khi ấy, vĩnh viễn ta được trở nên trẻ nhỏ, vĩnh viễn ta được Chúa Cha nhận là con yêu dấu của Ngài ./.

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2008

Men Thánh Thần và Men Tà Thần

(1Cr 5,6b-8)

Thánh Phao-lô viết cho tín hữu Cô-rin-tô: “Anh em không biết rằng chỉ một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy lên sao?” (1Cr 5,6b). Thế nên chọn men là việc quan trọng bậc nhất: giữa men Thánh Thần và men Tà thần, tôi phải chọn lấy một; và chọn cách quyết liệt dứt khoát chứ không chọn theo kiểu hàng hai, nay men này, mai lại men kia.

Thông dự vào mầu nhiệm thập giá và phục sinh của Chúa Ki-tô, tôi được trở nên “bánh không men”, được trở nên thứ bột mới (1Cr 5,7). Và Chúa Ki-tô sau khi lên trời đã ban xuống cho nhân loại Thánh Thần của Ngài. Chúa Thánh Thần là men mới đã đến tác động lên khối bột mới hầu cho toàn khối bột dậy men.

Để có thể đón nhận men Thánh Thần, điều trước tiên tôi phải làm là tẩy trừ men cũ - men Tà thần - ra khỏi bản thân để trở nên một thứ bột mới, trở nên “bánh không men”. Chỉ cần một chút xíu men cũ sót lại thôi là tiến trình này sẽ hỏng. Bột cũ lại hoàn bột cũ! Thế nên tôi phải kiên trì tẩy trừ cho hết thứ men Tà thần kia, dù một chút xíu thôi cũng không thể khinh thường được. Đây là một công việc vượt quá sức của tôi bởi vì tôi luôn có xu hướng bám lấy cái cũ, cái hấp dẫn, cái thoải mái của Tà thần.

Để tẩy trừ men Tà thần, tôi phải cộng tác với sức mạnh của Thánh Thần. Chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể gột sạch mọi thứ men cũ ấy nơi bản thân tôi. Hãy tỏ thiện chí và ngoan ngoãn vâng theo tác động của Chúa Thánh Thần để Ngài thực hiện việc tinh luyện ấy cho tôi. Một khi đã gột hết men cũ và được thấm nhuần men mới, dù chỉ chút xíu thôi, là toàn con người tôi sẽ dậy men.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Chúa giúp con thanh tẩy mọi uế tạp trong con để linh hồn con được tinh sạch và xin Chúa ban xuống linh hồn con men tin yêu mạnh mẽ để con có thể trở nên men yêu thương cho những người chung quanh. A-men./.

Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2008

Tương Lai Của Bạn


Càng tiến bước, bạn càng dần dần thấy được rằng kế hoạch tiến hoá của Thiên Chúa đang tỏ lộ ra và rằng nhân loại và vũ trụ đang tiến hoá. Trong sự tiến hoá của bạn với tư cách là một con người, bạn lần hồi lấp đầy con tim mình bằng những ước vọng yêu và được yêu, ước vọng chia sẻ, cho và nhận, ước vọng nhìn thấy những tiềm năng của mình khai hoa nở nhụy.

Tôn giáo đã được mô tả như cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa và tha nhân. Trong cuốn "Bước quyết định để gặp Chúa trong đời", ở trang 21, bạn đã khám phá ý nghĩa sâu xa của chữ deai (một từ ngữ Nhật Bản do hai từ "de" nghĩa là "đi ra khỏi" và "ai" nghĩa là "gặp" : phải ra khỏi chính mình thì mới gặp được người khác - Trích dẫn của người dịch). Nếu bạn thấy tôn giáo như là một cuộc gặp gỡ, thì cuộc sống và tôn giáo chính là một, vì cơ hội gặp gỡ có mặt trong toàn bộ cuộc sống của bạn. Thiên Chúa muốn gặp gỡ cá nhân bạn, gặp gỡ riêng với bạn. Ngài muốn làm cho bạn có khả năng gặp gỡ những người khác. Bởi vậy Ngài đã làm người. Ở đây chúng ta có một deai - một cuộc gặp gỡ yêu thương - vĩ đại nhất của mọi thời. Bây giờ chúng ta nhìn cuộc đời của Chúa Kitô, không như một việc đã bị chôn vùi trong quá khứ, nhưng như một việc có liên quan đến bạn, chính nơi đây và ngay lúc này. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, cá nhân bạn đã được ghi nhớ trong mọi biến cố của cuộc đời Chúa Kitô.

Mặc dù Thiên Chúa đã làm người ở thế kỷ thứ nhất, Ngài muốn gặp gỡ bạn - là con người ở thế kỷ hai mươi - một cách thân mật. Bởi thế Chúa Thánh Thần đến, cộng đoàn các bạn hữu Chúa Kitô hình thành, và người ta được lôi kéo vào sự sống nội tại của Thiên Chúa; tiến trình gọi là Giáo Hội này vẫn còn tiếp diễn đến tận hôm nay.

Cộng đoàn các bạn hữu của Chúa Kitô phạm nhiều lầm lỗi và thất bại. Hạt giống không phải là đoá hoa.

Tuy nhiên Giáo Hội chính là tiến trình nhằm lôi kéo ta vào sự sống của Thiên Chúa. Bạn nên một với Chúa Kitô, nhưng đồng thời bạn là chính bạn. Những người khác cũng thế, họ cũng nên một với Chúa Kitô; bởi vậy, nhờ Ngài, hết thảy đều nên một với nhau.

Hãy nhìn vào tương lai và sự sung mãn cuối cùng của việc tiến hoá. Trong tương lai này, kế hoạch của Thiên Chúa sẽ đạt tới mức thành toàn trong sự tiến hoá trọn vẹn của vũ trụ, của nhân loại, và của bạn. Trong tương lai này, deai hay là cuộc gặp gỡ yêu thương sẽ trở thành một thực tại viên mãn.

Thế còn con người cá biệt, hấp dẫn của bạn thì sao? Khi bạn đi vào tương lai thì mối bận tâm không phải là bạn đã ở hay đã không ở đâu, nhưng là bạn đang đi về đâu. Trước hết hãy nhìn vào tương lai tầm xa của bạn cái đã; càng hiểu tương lai đó, bạn sẽ càng hiểu hơn tương lai tầm gần của bạn - cái tương lai đang bắt đầu từ ngày hôm nay.

Khi tìm hiểu tương lai tầm xa của mình, bạn sẽ đối mặt với:
- cái chết, là bước quá độ từ giai đoạn này của cuộc sống (giai đoạn một) qua giai đoạn cuộc sống đã
tiến hoá viên mãn (giai đoạn hai);
- hoả ngục, là tình trạng không tiến hoá, không gặp gỡ, không yêu thương;
- luyện ngục, là sự gạn lọc những lệch lạc còn sót lại;
- thiên đàng, là sự tiến hoá đã viên mãn và sự sống lại của thân xác (giai đoạn hai).

Một trong những trở ngại lớn khiến bạn khó hiểu được những điều này là khái niệm của bạn về thời gian. Khó khăn là vì bạn sống trong thời gian và bạn không thể hiểu bên ngoài thời gian sẽ như thế nào.

CÁI CHẾT

Mọi người rồi sẽ chết. Mọi người rồi sẽ tiến hoá vượt qua giai đoạn của cuộc đời được định vị trong thời gian này. "Mọi người ư? Chắc chắn là không có tôi trong đó. Quý vị muốn nói về mọi người khác, phải không nào - mọi người khác trừ ra tôi phải không?"

Mọi người, kể cả bạn đấy, rồi sẽ chết. Cái chết là bước quá độ từ giai đoạn một sang giai đoạn hai của cuộc sống.

Chắc chắn bạn sẽ phiêu lưu ít nhất là một lần trong đời, cuộc phiêu lưu được gọi là cái chết. Giai đoạn hiện tại của cuộc sống tương tự như khi bạn đang ở trên đôi giày trượt tuyết. Bạn đang được dây tời từ từ kéo lên môt ngọn núi cao 100 dặm. Khi đi lên, bạn nhìn sang phía sườn núi bên kia và thấy một người trượt tuyết đang nhảy lên và lao thẳng xuống.

Khi sợi dây tời mang bạn lên tới đỉnh núi là lúc bạn sẳn sàng cho bước quá độ gọi là cái chết. Bạn sắp lao thẳng xuống và cất cánh bay lên! 

HOẢ NGỤC

Hãy nghĩ đến sự lạc hướng. Bạn sẽ cực kỳ chán ghét chính mình. Bạn sẽ không hạnh phúc ngay trước mặt mình. Bất kỳ sự tiến hoá nào cũng đều sẽ bị bác bỏ. Bạn sẽ là một chân dung biếm hoạ của chính mình.

Bạn sẽ bị lạc hướng không chỉ với chính bản thân bạn thôi, mà còn với Thiên Chúa, tha nhân và vũ trụ nữa. Bạn sẽ chẳng ưa thích Thiên Chúa; những người khác sẽ để mặc bạn lạnh lùng; vũ trụ sẽ hoàn toàn chán ngắt. Thật ra, bạn sẽ tức giận bản thân mình bao nhiêu thì bạn cũng sẽ bực bội với Thiên Chúa, tha nhân và vũ trụ bấy nhiêu. Bạn sẽ khinh miệt tất cả. Và tệ hơn nữa, bạn sẽ muốn khinh miệt tất cả.

Không tiến hoá, không gặp gỡ, không yêu thương - đó chính là hoả ngục.

LUYỆN NGỤC

Luyện ngục không phải là hoả ngục ngắn hạn. Nó là một trận cầu hoàn toàn khác. Phương hướng căn bản, tình yêu đích thật đối với chính mình, với Thiên Chúa, tha nhân và vũ trụ, vẫn luôn hiện diện. Nhưng vẫn còn một số lệch lạc, và luyện ngục chính là ở chỗ đó. Bao lâu các lệch lạc này chưa được loại trừ thì bấy lâu bạn chưa thể bước sang giai đoạn hai của cuộc sống.

Dù tin hay không, bạn sẽ muốn có luyện ngục. Bạn sẽ muốn có luyện ngục tương tự như bạn muốn có nha sĩ khi răng bạn hành tội bạn. Bạn không muốn tới nha sĩ, tuy nhiên bạn phải muốn. Bạn nhận thức được rằng cần phải chăm sóc cơn "đau răng" này, nếu không thì chẳng biết phải đau đến bao giờ mới thôi. Cũng vậy, trong luyện ngục bạn sẽ nhận ra rằng sự lệch lạc còn rơi rớt của mình cần phải được quan tâm lo lắng trước khi bước sang giai đoạn hai của cuộc sống.

Những người giờ đây đang ở trong tiến trình luyện ngục không phải là các vong linh trôi dạt loanh quanh. Họ đáng yêu và họ cũng đang yêu. Qua kinh nguyện bạn có thể yêu thương và giúp đỡ họ vượt qua tiến trình luyện ngục. Ngược lại, chắc chắn họ có thể yêu thương và giúp đỡ bạn trong giai đoạn một của cuộc đời bạn.

THIÊN ĐÀNG

Giai đoạn một của cuộc đời bạn được định vị trong thời gian. Với bước quá độ là cái chết, bạn vượt qua các giới hạn của thời gian. Thảm kịch hoả ngục vẫn luôn luôn là một điều có thể xảy ra; tiến trình luyện ngục có thể vẫn còn tồn tại. Nhưng kể từ giai đoạn hai trở đi bạn ở vào một chiều kích khác. Để bắt đầu bám được vào thực tế của chính bạn trong vĩnh cửu, bạn phải mở rộng tầm suy nghĩ của mình ra. Đừng áp đặt những khái niệm về thời gian-không gian của giai đoạn một lên các thực tại của giai đoạn hai.

Bạn sẽ ra sao khi đạt tới mức tiến hoá sung mãn gọi là thiên đàng? Khi bạn nói về "thiên đàng" cho một số người, họ nghĩ về chuyện bay lên một đám mây lớn trên trời. Một ai đó đắp chăn lên người bạn và rồi bạn được sống hạnh phúc muôn đời. Những người khác hình dung thiên đàng như một nơi cư ngụ của các linh hồn hoặc các thần linh.

Nhưng thiên đàng là để cho con người. Trong giai đoạn hai bạn sẽ không sống như một chiếc bóng mờ nhạt. Bạn sẽ là bạn đích thực, với thân xác của bạn - bấy giờ đã nên hoàn thiện, đẹp đẽ vượt mức tưởng tượng. Bạn sẽ đạt mức toàn hảo với một thân xác thực sự, được biến đổi tốt đẹp một cách đặc biệt. Thiên Chúa thấy cá nhân bạn là thú vị. Ngài đã khởi sự với bạn như một con người toàn vẹn; Ngài sẽ hoàn tất với bạn như một con người toàn vẹn. Đức Maria, giờ đang ngự trên thiên đàng, là một khuôn mẫu cho bạn khi sung mãn trên thiên đàng. Nhân vật đặc biệt này là một lời tiên báo cho tương lai của bạn. 

  ● Nhưng có người sẽ nói: kẻ chết chỗi dậy thế nào? Họ lấy thân thể nào mà trở về?
Đây tôi nói cho anh em biết mầu nhiệm này: không phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi trong một giây lát, trong một nháy mắt, khi tiếng kèn cuối cùng vang lên. Vì tiếng kèn sẽ vang lên, và những kẻ chết sẽ chỗi dậy mà không còn hư nát; còn chúng ta, chúng ta sẽ được biến đổi. Quả vậy, cái thân xác phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt; và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử.
Vậy khi cái thân phải hư nát này mặc lấy sự bất diệt, khi cái thân phải chết này mặc lấy sự bất tử, thì bấy giờ sẽ ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: "Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng!"
"Hởi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hởi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi?"
Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật. Nhưng tạ ơn Thiên Chúa, vì Người đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. (Cr 15, 35. 51-57).

Trong giai đoạn hai, sẽ không còn đau khổ, mệt mỏi, bệnh tật. Sự mệt mỏi sẽ bị sức sống nuốt chửng, và sự khổ não chỉ là một ký ức, còn đau buồn thì biến thành niềm vui.

  ● Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên. Họ sẽ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa. Vì Con Chiên đang ngự giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh. Và Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ." (Kh 7, 14. 16-17).

Giai đoạn hai của cuộc đời bạn sẽ mãnh liệt, cá biệt, hứng thú, năng động, hấp dẫn hơn giai đoạn một. Mọi tâm nguyện của bạn: yêu và được yêu, kinh nghiệm, gặp gỡ, chia sẻ, cho và nhận - mọi khả năng của bạn sẽ đạt tới mức tiến hoá sung mãn. Bạn sẽ có sức lôi cuốn và đáng yêu, và sẽ có tràn trề khả năng yêu thương. Bạn sẽ vui thích với những người khác, và họ sẽ vui thích với bạn. Hãy nhớ lại rằng ở giai đoạn hai người ta đều đáng yêu và đang yêu. Khi tình yêu và tình bạn nơi trần thế này đạt tới mức hoàn hảo, bạn sẽ được ở với những người này mãi mãi. Mặc dù ngay từ bây giờ họ có thể yêu thương và giúp đỡ bạn.

Thiên đàng nầy ở đâu? Có những chỉ dẫn rất rõ ràng nói rằng vũ trụ này sẽ trở thành thiên đàng khi, cũng như bạn, nó được biến đổi một cách kỳ diệu. Lúc bấy giờ mọi công trình Thiên Chúa đã đặt vào vũ trụ để giúp nó tiến hoá sẽ đạt tới mức sung mãn. Mọi công trình của chúng ta - mọi nỗ lực của chúng ta nhằm kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn - sẽ được bao trùm bằng thành công.

  ● Nhưng sự trông đợi đất mới không được làm suy giảm, trái lại phải kích thích nỗ lực phát triển trái đất này, nơi mà Thân Thể gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài hình ảnh của thời đại mới.
Thực vậy, sau khi đã theo mệnh lệnh Chúa và nhờ Chúa Thánh Thần phổ biến trên trái đất các giá trị về nhân phẩm, về hiệp thông huynh đệ và tự do, nghĩa là mọi thành quả tốt đẹp do bản tính và hoạt động con người đem lại, chúng ta sẽ gặp lại chúng, nhưng là gặp lại sau khi chúng được thanh tẩy khỏi mọi tì ố, được chiếu sáng và biến đổi, nghĩa là khi Chúa Kitô giao hoàn lại Chúa Cha vương quốc vĩnh cửu và đại đồng : "Vương quốc của chân lý và sự sống, vương quốc thánh thiện và diễm phúc, vương quốc công bình, yêu thương và bình an". Vương quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa đến. (Hiến chế mục vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay, số 39).

Giai đoạn hai cũng sẽ mang lại sự khai sáng diệu kỳ. Bởi vì phần nhiều cuộc sống hiện tại có vẻ mù mờ lộn xộn. Nhiều lúc bạn không thấy rõ các kết quả của kinh nguyện và hy sinh. Khi còn ở giai đoạn một bạn thấy rất khó hiểu ý nghĩa sâu xa của mọi biến cố của cuộc đời mình và của toàn bộ lịch sử vũ trụ. Hiện thời nhiều hy sinh và hành động yêu thương mà bạn làm cho người khác hoặc họ làm cho bạn như rơi vào trong mớ hỗn độn. Bạn không nhận ra nhiều cử chỉ yêu thương của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Chúa Kitô sẽ chỉ rõ tất cả những điều đó cho mỗi người. Bấy giờ bạn sẽ thấy cách thức Thiên Chúa rút điều tốt ra khỏi điều xấu, niềm vui ra khỏi nỗi buồn, thành công ra khỏi thất bại. Bạn sẽ thấy tất cả những điều này vì bạn sẽ thấy Ngài mặt đối mặt.

Tình trạng này sẽ hoàn toàn vượt trên tình trạng của giai đoạn hiện thời - là giai đoạn mà bạn hiện hữu từng giây một trong thời gian. Ở đây, hết thảy kinh nghiệm kỳ diệu của ngày hôm qua đã qua mất rồi; ngày mai thì chưa tới. Thật ra, cái giây phút mới đây vừa qua đi, còn giây phút cận kề thì vẫn chưa đến. Cuộc sống đến từng giọt, từng giây một.

Thật khó hiểu thấu niềm hoan lạc phi thời gian của thiên đàng, vì bạn chỉ quen trải qua những kinh nghiệm trong thời gian mà thôi. Bạn không biết cuộc sống bên ngoài thời gian sẽ ra sao. Hãy mường tượng một đứa trẻ sinh ra trong tù, lớn lên và trưởng thành trong bốn bức tường nhà tù. Nếu có người nào đến và nói rằng có một thế giới kỳ diệu bên ngoài nhà tù, kẻ ở trong tù sẽ thấy rất khó hiểu cuộc sống bên kia các bức tường nhà tù.

Hoặc hãy tưởng tượng một thế giới hình bóng, trong đó mỗi người chỉ có hai chiều và sống như những chiếc bóng trên tường. Có một ai đó từ thế giới ba chiều đến cố gắng kể cho họ nghe về thế giới ấy. Họ có thể hiểu được đến đâu?

Tuy nhiên, chung quanh ta có những điều gợi ý giúp ta bớt khó khăn khi tưởng tượng ra một cuộc sống trong thế giới phi thời gian. Hãy nhớ lại thời gian lúc đôi ba phút kéo dài như hàng giờ, hay lúc giờ giấc vụt qua nhanh như bóng câu cửa sổ. Những kinh nghiệm cá nhân mãnh liệt và bao hàm như thế mang tính chất phi thời gian. Những kinh nghiệm sâu xa nhất là những kinh nghiệm phi thời gian. Đồng hồ của bạn không ăn khớp với những thời gian bạn trải qua. Chúng là những trích đoạn của tính chất phi thời gian.

Giờ bạn đang ở đây, là một tạo vật sống trong thời gian, bị giới hạn như một đứa trẻ được sinh ra trong tù. Dầu bạn từng lướt qua những kinh nghiệm về tính chất phi thời gian, thì vẫn khó hiểu được rằng sống bên ngoài thời gian là như thế nào.

Bạn hãy vừa tiến bước vừa vươn rộng tâm trí mình ra. Đừng để mình bị ấp a ấp úng mãi trong các kiểu suy nghĩ thường ngày.

Thiên đàng là một sức năng động mãnh liệt, tuyệt đối. Mỗi "ngày" trong giai đoạn hai của cuộc đời bạn sẽ tuyệt vời hơn giai đoạn trước. Mỗi một ngày hoàn toàn sung mãn, hoàn toàn hạnh phúc, hoàn toàn hoan hỉ dẫn đến một ngày khác còn tuyệt vời hơn. Không bao giờ thiếu thốn điều gì; đúng hơn, cái khả năng vui tươi của bạn tăng triển đến bất tận.

Trong khi chúng ta tiến hành cuộc khảo sát, có thể bạn đã lưu ý rằng các mô tả về gặp gỡ, về tình yêu, và về sự sống nội tại của Thiên Chúa đều giống nhau ở phần căn bản. Giờ đây chúng ta hãy thêm vào đó một điều nữa: thiên đàng. Gặp gỡ trong ý nghĩa tròn đầy - là tình yêu, sự sống nội tại của Thiên Chúa, thiên đàng - tất cả đều thuộc về một thực tại duy nhất.

Có thể tất cả những điều này khiến bạn cảm thấy ngợp. Có thể có quá nhiều điều để hấp thụ trong một lúc. Cứ nhẩn nha thôi, mưa lâu thì thấm đất mà. Hãy mở rộng chân trời, hãy vươn xa tầm nhìn của bạn. Hãy mở lòng ra với thực tại cùng với những khả năng vô hạn của nó, thay vì cố gắng cắt xén nó cho vừa tầm của ta. 

  ● Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô: "Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Ngài sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Ngài, còn chính Ngài sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất." Đấng ngự trên ngai phán: "Nầy đây Ta đổi mới mọi sự." (Kh 21,1. 3-5).

Chúa Kitô đã đi trước bạn qua bước quá độ gọi là cái chết. Đối mặt với điều chưa hề biết, Ngài đã làm một cú nhảy vọt để đến với Chúa Cha, và đã kinh qua bước quá độ để tiến vào giai đoạn hai của cuộc sống.

Chúa Kitô đã đi trước bạn và đã chiến thắng bằng sự sống lại. Ngài đã tiến hành cuộc chiến đấu sinh tử và đã chinh phục, một lần cho mọi lần, tất cả những gì là hỗn độn, là khó khăn, là đơn độc - mọi thứ, kể cả cái chết. Bằng chiến thắng của sự phục sinh, Ngài đạt được mọi thứ mà con tim có thể mơ ước - mọi thứ, kể cả sự sống lại.

Chiến thắng này của Chúa Kitô là nguồn mạch của chiến thắng của bạn. Sự phục sinh của Chúa Kitô là nguyên nhân để bạn đạt được mọi thứ (kể cả sự sống lại) mà con tim bạn có thể mơ ước.

Và giờ đây Chúa Kitô nói với bạn: "Đừng cố làm điều đó một mình. Hãy để Ta ở với con! Không chỉ trong bước quá độ gọi là cái chết, không chỉ trong sự viên mãn của cuộc đời con vào giai đoạn hai, không chỉ trong tương lai tầm xa của con, nhưng là trong tương lai tức thời của con - tương lai đang bắt đầu từ ngày hôm nay. Hãy để Ta ở với con trong từng ngày của đời con đang đến."

 THỰC HÀNH

1. Có người đã nói rằng: "Bàn luận về thiên đàng và về giải túc cầu thế giới đều có vấn đề na ná như nhau: nói về năm đã qua bao giờ cũng dễ hơn nói về năm sắp đến". Người ấy muốn ám chỉ điều gì?
2. Những ý tưởng nào ở trong chương này khiến bạn phải mở rộng tâm trí? Những ý tưởng nào xem ra có vẻ gay go?
3. Phải chăng chương này đã trình bày một lối suy nghĩ mới về thiên đàng và hoả ngục? Nó nhiều hay ít ý nghĩa hơn so với cách trình bày cũ? Hãy giải thích rõ.
4. Hãy kể ra các ví dụ mô tả giàu tính tưởng tượng về thiên đàng và hoả ngục trong văn chương và kịch nghệ. Chúng có nắm bắt được thực tại của giai đoạn hai không?
5. Hãy thêm vào các ý tưởng của chính bạn trong việc mô tả giai đoạn hai.

Trích dịch từ nguyên tác: YOUR FUTURE, trong tác phẩm THE CHURCH OF CHRIST - GOING TOGETHER của JAMES DIGIACOMO và JOHN WALSH.

Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2008

Đức Giê-su Ki-tô, Đấng Làm Cho Vấp Ngã?

(Lc 2,34)

Cuộc sống của dân Do Thái thời Tân ước , nếu không có sự xuất hiện của Chúa Giê-su, có lẽ sẽ “bình an phẳng lặng” hơn. Sự kiện Giê-su Na-da-rét đã làm cho dân tộc họ bị xáo trộn đến tận căn ! Đối với mỗi một người Ki-tô hữu chúng ta cũng thế, nếu không có Đức Ki-tô, có lẽ chúng ta sẽ ít phải đặt vấn đề về cuộc sống của mình, ít phải bị trăn trở trong tận cùng thẳm sâu tâm hồn của chúng ta hơn. Không có Đức Ki-tô, xem ra cuộc đời “dễ thở” hơn!

Đức Ki-tô không chịu để ta sống yên ổn : đó là một sự thật và sự thật này đã được chính Ngài xác nhận : “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi” (Lc 7,23), “… Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo …” (x. Mt 10,34-36). Sự thật này cũng là một điều dễ hiểu, bởi lẽ Chúa Giê-su Ki-tô là “Ánh Sáng các dân tộc”, và bởi có Ánh Sáng cho nên người ta sẽ phải nhận ra Bóng Tối, bởi có Ngày cho nên người ta mới nhận ra đâu là Đêm! Đức Ki-tô là sự Thiện Tuyệt Đối, và bởi có sự Thiện Tuyệt Đối cho nên người ta mới phải nhận ra sự Ác Tuyệt Đối. Bởi có Đức Ki-tô, một lằn ranh chính xác đã được vạch ra để phân chia hai miền Thiện, Ác . Kể từ đó, mọi sự đã được phân biệt rành rẽ không còn khoan nhượng hoà hoãn được nữa! Trong tâm hồn mỗi người, đặc biệt là những người Ki-tô hữu, Đức Ki-tô đã vạch ra một lằn ranh biên giới như thế. Và kể từ khi có lằn ranh phân chia đó, hai sức mạnh Thiện, Ác, luôn luôn đối kháng trấn áp nhau một cách dữ dội trong tâm hồn người đó. Và thử hỏi ai có thể an nhiên tự tại khi đang mang trong mình một cuộc chiến khốc liệt đến thế. Rõ ràng là người ta sẽ phải “mất ăn, mất ngủ” sau khi gặp được Đức Ki-tô!

Bây giờ thử đặt câu hỏi là nếu không gặp Đức Ki-tô thì cuộc đời tôi sẽ ra sao?

Dĩ nhiên là cuộc sống của tôi sẽ “thoải mái” hơn vì tôi không còn bị lấn cấn, bị xâu xé một cách quyết liệt bởi cái Thiện và cái Ác kia nữa. Không có Đức Ki-tô, mọi sự sẽ trở nên tương đối. Lúc đó chỉ còn có những điều “nên làm” và những điều “không nên làm”, chứ không có những điều “phải làm” và những điều “không được làm” nữa. Và chữ “nên” là một chữ thường chỉ có tính cách gợi ý: tôi muốn thì tôi làm, tôi không muốn thì thôi. Một cuộc sống như thế dĩ nhiên là “dễ thở” hơn nhiều!

Tuy nhiên, với cuộc sống “dễ thở” như thế thì thử hỏi cuộc đời tôi sẽ đi về đâu?

Theo “lô-gích” mà nói thì một cuộc sống như thế sẽ chẳng đưa tôi đi về đâu cả! Bởi mọi sự đều tương đối cho nên tôi sẽ chẳng có điểm ngừng, cũng chẳng có đích đến. Tôi sẽ đi vòng vo luẩn quẩn mãi một cách “thoải mái dễ thở”, nhưng là “thoải mái dễ thở” một cách hoài công!

Có Đức Ki-tô, rõ ràng là tôi phải đi theo hình xoáy trôn ốc mỗi lúc một hẹp dần và lên cao hơn, mà Đức Ki-tô là điểm đến cuối cùng : nếu đi theo chiều thuận, tôi sẽ tiến đến gần Ngài ; còn nếu đi theo chiều nghịch, tôi sẽ rời xa Ngài. Một cuộc sống như thế dĩ nhiên sẽ không phẳng lặng yên ổn, bởi lẽ hoặc tôi sẽ “được”, hoặc tôi sẽ “mất” một cách rõ ràng. Đứng trước tình huống căng thẳng này tất nhiên tôi sẽ phải “khó thở”, và nếu không gượng được tất nhiên tôi sẽ phải “ngã quỵ” xuống. Tuy nhiên, nguồn an ủi và niềm hy vọng của tôi chính là Đức Giê-su Ki-tô, “Đấng nâng những người vấp ngã chỗi dậy” ./.

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa chính là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống của nhân loại. Xin Chúa giúp con và mọi người luôn can đảm tiến bước trên Con Đường Sống Chân Thật mà Chúa đã vạch ra và đã đi trước nêu gương cho chúng con. Amen./.

Thứ Hai, 28 tháng 7, 2008

Để Được Hạnh Phúc

(Mt 5,1-12)

Ai cũng mơ ước được sống một cuộc sống tràn đầy hạnh phúc và ai cũng nỗ lực để xây dựng cho mình một cuộc sống hạnh phúc. Thế nhưng tại sao lại có lắm cuộc đời “bất hạnh”; mặc dù, khách quan mà nhận xét, những người ấy xem ra cũng đã thành đạt ít nhiều trong cuộc sống?

Để có thể giải gỡ được cái gút mắc nêu trên, trước hết phải xác định lại thật chính xác: “Như thế nào thì gọi là hạnh phúc ?” Trả lời cho câu hỏi này hẳn nhiên là có rất nhiều lời giải đáp. Tuy nhiên, đối với người Ki-tô hữu thì không có lời giải đáp nào chính xác cho bằng lời giải đáp của Chúa Giê-su qua tuyên ngôn “Tám mối Phúc Thật” mà thánh Mát-thêu đã ghi lại. Ai có thể đưa ra một định nghĩa xác thực về hạnh phúc cho bằng chính Đấng là Cội-Nguồn-Của-Hạnh-Phúc?

“Phúc cho ai nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, khát khao công chính, biết xót thương, có tâm hồn trong sạch, xây dựng hoà bình, bị bách hại vì sống công chính.” Lời chúc phúc vạch ra tám con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực và đây là tám con đường hoàn toàn không bình thường một tí nào : chúng hoàn toàn đi ngược lại quan điểm thông thường của con người về hạnh phúc! Đây đúng là tám con dốc ngược dẫn đến cội nguồn hạnh phúc!

Tuy là tám con dốc, tuy đòi hỏi phải nỗ lực không ngừng để leo dốc, nhưng chúng không phải là tám con dốc “vô cớ sự”, bởi vì chúng đã được bảo chứng bằng cuộc sống tại thế của Chúa Giê-su: tám con dốc ấy được trải dài từ hang đá Bê-lem đến đồi Gôn-gô-tha. Chúa Giê-su đã đi qua con đường dốc ngược dẫn đến hạnh phúc để đưa ra cho nhân loại một mẫu gương, một lời bảo đảm về niềm hạnh phúc đích thực mà những ai đi theo bước đường của Ngài sẽ được chung hưởng với Ngài: con đường tử Bê-lem ngang qua Gôn-gô-tha sẽ dẫn đến Nước Trời.

Hạnh phúc đích thực là như thế, cho nên những ai muốn đạt được hạnh phúc thì phải chấp nhận bước theo những con dốc mà Chúa Giê-su đã vạch ra và đã đi tiên phong. Những ai ước mơ hạnh phúc mà chọn lấy một đường nẻo khác là đã “lạc lối” ngay từ đầu, nên không lạ gì khi họ gặp phải “bất hạnh” ngay cả trên những thành công gọi là đáng kể của cuộc đời họ. Họ “bất hạnh” vì họ đã xây dựng một niềm hạnh phúc khác với niềm hạnh phúc đích đích thực mà Chúa Giê-su đã vạch ra cho con người.

Để được hạnh phúc, không thể có con đường nào khác hơn con đường “Tám mối Phúc Thật”. Tôi đã xác tín về điều này chưa? Tôi có luôn kiên vững đi trong đường lối này không?

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2008

Cuộc Gặp Gỡ Định Mệnh

(Mt 9, 9-13)

Trong cuộc sống, gặp gỡ nhau là việc thường tình. Tuy nhiên, có những cuộc gặp gỡ làm thay đổi vận mệnh của một đời người. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và ông Lê-vi là một trong những trường hợp đó.

Trong xã hội Do Thái thời Chúa Giê-su, những người làm nghề thu thuế bị dân chúng ghét bỏ và liệt vào hạng tội lỗi. Ông Lê-vi là một nhân viên thu thuế, và người ta nhìn ông với cặp mắt đầy ác cảm. Sự ác cảm này không phải là vô cớ, vì khi làm nghề thu thuế, hầu chắc ông khó tránh được những lần lem nhem tiền bạc, đút lót đầu này ăn chận đầu kia. Sống chung với những người thu thuế , làm sao ông có thể tránh được những thói hư tật xấu của họ? Ông cha ta có nói: "Gần mực thì đen", câu nói này chắc cũng không ngoa! Có tiền có quyền thì dễ có cơ hội giao du với những người xa hoa phóng đãng. Số bạn bè mang tiếng là "bọn thu thuế và quân tội lỗi" đến dự tiệc tại nhà ông hôm ấy có thể minh chứng phần nào cho điều này.

Tuy hành nghề thu thuế, tuy sống lăn lộn với giới bất lương tội lỗi, nhưng thâm tâm ông luôn cảm thấy bất an. Ông cảm thấy đời mình có cái gì đó không ổn, có cái gì đó cần phải bỏ đi, có cái gì đó cần phải sửa sang chỉnh đốn lại. Ban ngày ông ra bàn thu thuế loay hoay với tiền bạc, với những kẻ trên cúi dưới lòn. Nhưng đêm về, đối diện với chính mình, ông thấy buồn da diết: tiền bạc không mang lại cho ông niềm vui đích thật! Từng đêm rồi lại từng đêm, ông dằn vặt khổ sở vì những ý nghĩ tốt xấu cứ đấu tranh dai dẳng trong tâm hồn. Ông muốn tìm cho mình một lối thoát, thế nhưng cái thòng lọng của nghề nghiệp, của lợi nhuận vẫn cứ xiết chặt lấy ông.

Mấy hôm rồi, quanh bàn thuế, ông nghe người ta nói nhiều đến một Thầy Giê-su nào đó đã mang lại an vui cho nhiều người. Lê-vi nửa tin nửa ngờ: Thầy Giê-su là ai mà có thể làm được điều đó? Ông tò mò tìm hiểu và nghe được rất nhiều điều thú vị. Ông thầm ước mong mình có cơ hội gặp được vị Thầy có sức cảm hóa ấy, nhưng công việc bàn thuế và các mối giao lưu nghề nghiệp cứ chiếm hết giờ của ông!

Thế rồi hôm nay, một ngày định mệnh của đời ông: Thầy Giê-su đi ngang trạm thu thuế, thấy ông và gọi ông. Không chần chừ, ông đứng dậy đi theo Người, liều mất cả việc làm béo bở, liều chịu mọi hậu quả rắc rối có thể xảy đến sau này.

Lê-vi đã khởi sự tiến trình hoán cải. Ông đã cương quyết rời bỏ bóng tối để đi ra miền đất ánh sáng. Ông cương quyết làm lại cuộc đời. Cơ hội đã tới, ông phải bám lấy nó, không thể để cơ hội hiếm hoi này vuột khỏi tay ông. Ông đã quá ngán ngẩm những đêm dài trằn trọc. Phải cương quyết ra đi thôi. Ông về nhà tổ chức một bữa tiệc lớn, mời Thầy Giê-su, các môn đệ của Thầy và các thân bằng quyến thuộc của mình đến chung vui, để nói lên quyết định trọng đại của mình, để từ giả họ mà đi theo vị thầy mà ông tin là sẽ mang lại cho đời mình niềm hạnh phúc an vui đích thật.

Bữa tiệc vui này lại làm xốn xang những người Pha-ri-sêu và những kinh sư thuộc nhóm của họ. Vốn tự xưng là công chính, những người này mới lẩm bẩm trách tại sao các môn đệ của Chúa Giê-su lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi! Những người Pha-ri-sêu và những kinh sư này không muốn hoán cải và cũng không muốn thấy những người khác hoán cải! Chúa Giê-su điềm tĩnh trả lời: " Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn " .

***


Tiến trình hoán cải là con đường trở về được Thiên Chúa vạch ra cho tôi, là một tội nhân. Tiến trình này cho tôi thấy lòng thương xót bao la của Thiên Chúa biểu lộ qua Chúa Giê-su Ki-tô. Người không đến để luận tội tôi, nhưng để vạch cho tôi thấy tội lỗi của mình mà hoán cải, hầu được giải thoát khỏi vòng cương tỏa của tội lỗi và được sống an vui thanh thản. Qua các câu chuyện thuật lại trong các sách Tin mừng, tôi thấy Chúa Giê-su luôn tìm dịp đến với những người tội lỗi. Ngài lân la chuyện trò với họ. Ngài cùng ăn cùng uống với họ, để khơi dậy nơi họ niềm hy vọng vươn lên khỏi tình cảnh đáng thương của mình. Và khi kẻ tội lỗi đã có thiện chí hoán cải, Ngài luôn tạo cơ hội thuận tiện để giúp họ làm lại cuộc đời.

Tôi là một tội nhân trước mặt Thiên Chúa và trước mặt anh chị em. Vì là người có tội, tôi thường mang nhiều mặc cảm. Tôi muốn vươn lên, muốn thoát ra khỏi tình trạng đáng buồn của mình. Nhưng có lúc tôi không đủ can đảm, có lúc lại chẳng có ai chìa tay ra nâng đỡ tôi! Chúa Giê-su hiểu rõ tâm trạng này. Ngài là vị Lương Y từ ái sẵn sàng ra tay cứu chữa mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền. Ngài là vị Mục Tử nhân lành biết rõ từng con chiên của mình. Ngài sẵn sàng tạm rời chín mươi chín con chiên đã yên ổn trong đàn để đi tìm một con chiên lạc, và đưa nó trở về sum họp với đàn .

Lạy Chúa Giê-su, con là một tội nhân hư hỏng. Những tội lỗi mà con quen phạm cứ mãi dằn vặt trong tâm hồn con. Con rất muốn dứt bỏ những tội lỗi ấy. Nhưng rồi con cứ sa đi ngã lại mãi, khiến nhiều lúc con nản chí muốn buông xuôi. Xin Chúa giúp con đảm đứng dậy như ông Lê-vi, đi ra khỏi vùng đất tối tăm của sự chết, để theo Chúa tiến về miền đất ánh sáng của sự sống muôn đời./.

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2008

Hành Trình Đến Cõi Tuyệt Đối

Từ “THẤY MÀ KHÔNG TIN” để đi đến “KHÔNG THẤY MÀ TIN”


“Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20,29b). Đây là lời chúc phúc của Chúa Giê-su gởi đến cho những ai tuyệt đối tin tưởng vào Thiên Chúa mà không cần đến những chứng cớ hiển nhiên, không cần Ngài phải xuất hiện tỏ tường hay phán bảo rõ rệt cho mình. Dĩ nhiên, không phải dễ đạt tới một đức tin kiên vững như thế mà không trải qua những bước đầu chuẩn bị cho đức tin ấy. “Thấy mà không tin” có thể kể là một trong những bước chuẩn bị đó.

“Phúc thay những người thấy mà không tin!”: chúng ta thử đảo ngược câu nói của Chúa Giê-su để tìm ra khía cạnh bổ sung cho đức tin của người Ki-tô hữu.

Chúng ta thấy gì ? – Chúng ta thấy rất nhiều thứ xảy ra trong đời sống của chính mình và của những người khác. Đại để chúng ta có thể xếp chúng vào ba thứ mà mãnh lực của chúng chi phối đời sống của chúng ta một cách rõ rệt: tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng. Ba thứ này lúc nào cũng lồ lộ ra trước mắt chúng ta và luôn thu hút nhãn quan thể xác cũng như linh hồn của mỗi một người chúng ta. Hoặc ít hoặc nhiếu; hoặc một, hai, hoặc cả ba; ai ai trong chúng ta cũng cảm thấy mình bị cuốn hút bởi hấp lực của chúng, và càng bị chúng hấp dẫn chúng ta càng “thấy” chúng rõ hơn. Chúng ta thấy, và nếu không đề cao cảnh giác thì chúng ta sẽ “tin” vào quyền lực của chúng; chúng ta sẽ phủ phục trước quyền lực của chúng và suy tôn chúng làm chủ tể, làm cùng đích của đời chúng ta !

“Thấy mà không tin” thật ra cũng không phải là một chuyện dễ; vì tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng có vẻ như đã đáp ứng, đã thoả mãn được những nhu cầu “bên ngoài” của những ai chú trọng đến đời sống “tai nghe mắt thấy”. Muốn “thấy mà không tin”, chúng ta phải tập cho mình có một cái nhìn xuyên thấu các dáng vẻ bên ngoài để gặp được cái cùng tận ở bên trong. Chúng ta phải tập thấy “khác” với những gì lồ lộ ra trước mắt, và một khi đã khám phá ra “bộ mặt thật” của chúng thì chúng ta sẽ không còn “tin” vào những gì đang phơi bày ra trước chúng ta nữa.

“Phúc thay những người không thấy mà tin!”: nhờ khám phá ra “bộ mặt thật” của tiền bạc, của sắc đẹp, của danh vọng mà chúng ta không còn bị loá mắt, không còn bị hấp lực của chúng cuốn hút một cách mãnh liệt như trước nữa: chúng ta thấy mọi thứ chỉ là tương đối và chẳng có thứ gì làm cho chúng ta thoả mãn một cách tuyệt đối được. Lòng chúng ta sẽ thấy trống vắng và dậy lên lên một nỗi khát khao cái “Tuyệt Đối”. Chúng ta sẽ bươn chải lên đường tìm kiếm Tuyệt Đối. Hành trình có thể đầy gian nan thử thách. Chúng ta có thể phải lần mò như người đi trong đêm tối. Tuy nhiên chúng ta sẽ không nghi nan, không nản chí, vì chúng ta tin tưởng rẳng cái “Tuyệt Đối” là một điều có thực dù chúng ta chưa hề thấy bao giờ. Chúng ta sẽ không đòi thấy cho được những gì tuyệt đối rồi mới tin vào cái “Tuyệt Đối”, vì chúng ta đã có kinh nghiệm về những thứ mà chúng ta đã thấy rõ ràng nhưng đã không tin. Và cuối hành trình, chúng ta sẽ khám phá ra cái “Tuyệt Đối” ấy chính là Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin Chúa giúp con tập nhìn mọi sự trong Chúa và thấy Chúa trong mọi sự để con có thể sống lời Chúa chúc phúc: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” ./.

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2008

Sống Trung Tín

MUỐN TRUNG TÍN SUỐT ĐỜI, PHẢI TẬP TRUNG TÍN NGAY TỪ HÀNH VI NHỎ NHẶT NHẤT

Tư tưởng chỉ huy hành động, nhưng ngược lại, hành động cũng gây ảnh hưởng trên tư tưởng. Một nhà tư tưởng đã phát biểu: “Hãy làm theo những gì bạn nghĩ, nếu không, bạn sẽ nghĩ theo những gì bạn làm.” Cho nên, cùng một lúc với việc chỉnh đốn tư tưởng, tôi cần phải chỉnh đốn việc làm cho hợp với các tư tưởng ấy. Cùng lúc với việc hiến dâng ngay từ ý nghĩ nhỏ nhặt nhất, tôi còn cần tập hiến dâng ngay từ hành vi nhỏ nhặt nhất. Tri hành hợp nhất sinh ra khoa học.

Trong “khoa học tu đức” cũng thế, cần phải suy nghĩ sao cho hợp ý Chúa và đồng thời cũng cần phải hành động sao cho hợp với các suy nghĩ ấy. “Tri thiên ý” và “hành thiên ý” tạo nên đời sống khoa học trong tu đức.

Thường thì tôi dễ lưu tâm đến những công việc lớn lao, những hành vi “có sức nặng” trên cuộc đời mình và cuộc đời người khác. Còn trong những công việc nhỏ nhặt, những hành vi “vô danh” thì thật khó mà lưu tâm đến. Và công việc càng nhỏ nhặt bao nhiêu, hành vi càng “vô danh tiểu tốt” bao nhiêu thì tôi lại càng dễ lơi lỏng, dễ khinh xuất bấy nhiêu.

“Ai trung tín trong việc nhỏ, cũng sẽ trung tín trong việc lớn” (Lc 16,10a). Chân lý này phải được tôi nhắc lại trong mỗi giây phút của cuộc đời. Sự trung tín của tôi vào giây phút quyết định cuối đời sẽ là kết quả của sự trung tín của tôi trong mọi hành vi dù nhỏ nhặt nhất suốt cuộc đời.

Lạy Chúa, xin giúp con can đảm và kiên nhẫn để tập trung tín ngay trong những việc nhỏ nhặt nhất của cuộc sống hằng ngày ./.

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2008

Ý Nghĩa Cuộc Đời

Một cuộc đời mà không có ý nghĩa thì thật là đáng chán, cho nên, đã là người thì ai cũng tìm kiếm cho đời mình một ý nghĩa nào đó. Có vô số cuộc đời, bởi thế cũng có vô số “ý nghĩa cuộc đời”. Một cách chủ quan, ai cũng nghĩ rằng ý nghĩa mà mình đang theo đuổi là tốt nhất cho đời mình. Thực ra không phải luôn luôn là như vậy: có những người rồi ra mới biết là mình đã chọn nhầm lối sống, đã đặt sai ý nghĩa đời mình!

Vậy thì làm sao để hướng đời mình vào đúng ý nghĩa của nó?

Thật may mắn cho tôi vì tôi được là một Ki-tô hữu, được có Thiên Chúa là “kim chỉ nam” cho cuộc đời mình. Là con cái Thiên Chúa, là thụ tạo do Ngài dựng nên, tôi biết đời tôi chỉ đạt được ý nghĩa đích thực khi nó hướng trọn đến Ngài: mọi tư tưởng, mọi lời nói, mọi việc làm của tôi phải hướng trọn về Thiên Chúa. Đó là ý nghĩa đích thực của đời tôi.

Hướng về Thiên Chúa không chỉ là một cách nói suông. Tôi không “hướng về Thiên Chúa” để rồi cứ sống ung dung tự tại theo cách thế mà mình tự vẽ ra. Tôi không thể “hướng về Thiên Chúa” nhưng đồng thời cũng “hướng về mình”, đặt mình làm tâm điểm cho mọi tư tưởng, lời nói, việc làm của mình. Sống theo lối đó là sống “nước đôi”, là “hâm hấp” và Thiên Chúa thì rất chán những ai “hâm hấp”. Ngài đã nói: “Cái thứ hâm hấp thì Ta sẽ mửa ra khỏi miệng Ta!”.

Thiên Chúa yêu thích những ai sống quyết liệt: “Hoặc là ngươi nóng hẳn, hoặc là ngươi lạnh hẳn đi”, vì kẻ sống quyết liệt mới sống trọn vẹn con người mình, mới đem tất cả cuộc sống của mình để phục vụ lý tưởng mà mình đã chọn. Sống quyết liệt là cho đi tất cả đời mình. Sống quyết liệt là lấy chính mình làm lễ tế hy sinh.

Dâng hiến đời mình làm hy lễ: đó chính là lối sống cao đẹp nhất mà một con người có thể thực hiện được, vì khi dâng hiến cũng chính là khi con người tự thể hiện một cách phong phú và trọn vẹn hơn cả.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là đã có không thiếu gì những lễ vật đã “bị” dâng hiến cho các tà thần, các ngẫu tượng! Các lễ vật ấy mới thật là vô ích biết chừng nào!

Để khỏi dâng hiến “lầm” bàn thờ, tôi phải luôn luôn đặt mình trên “bàn thờ thánh ý Thiên Chúa”, tôi phải luôn luôn tìm ý Chúa và thực hiện thánh ý Ngài trong cuộc đời tôi. Chính ý Chúa mới là quan trọng chứ không phải việc này việc nọ, cách này thế kia là quan trọng. Tìm ra thánh ý Chúa chính là tìm ra ý nghĩa đời mình. Tuy nhiên thật là ngây ngô khi cho rằng mình chỉ cần tìm ra ý Chúa một lần là đủ ! Ý Chúa trải dài suốt lịch sử đời tôi, cho nên không bao giờ tôi được phép tự cho là mình đã hoàn toàn khám phá ra ý Chúa. Sống theo thánh ý là biết luôn luôn thức tỉnh lắng nghe, luôn luôn nhạy bén để có thể đáp lại : “Lạy Chúa, này con xin đến để thi hành ý Chúa”.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin soi sáng cho con tìm ra đúng ý nghĩa của cuộc đời con. Amen ./.

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2008

Chọn Chúa Trong Mọi Chi Tiết Của Đời Tôi

Trên nguyên tắc, đã là Ki-tô hữu thì hầu như ai cũng đã chọn Chúa làm cùng đích của đời mình. Tuy nhiên cái nguyên tắc chung này khi được áp dụng vào đời sống cụ thể của từng người thì lại khác nhau rất nhiều: có người chọn Chúa một cách triệt để, có người chọn Chúa một cách nửa vời, còn có người thì chỉ chọn Chúa như một món trang trí “cho có với thiên hạ”.

Thông thường, chọn Chúa trong những việc lớn thì tương đối dễ, vì khi ấy tôi chứng tỏ được lòng quảng đại, sự hi sinh, lòng can đảm … của mình. Khi chọn Chúa trong các việc lớn tôi dễ cảm thấy mình anh hùng! Ngược lại, chọn Chúa trong từng chi tiết vụn vặt của đời mình quả là một việc khó, bởi vì muốn làm được như thế thì tôi phải luôn luôn đặt mình về phía Chúa: từ ý nghĩ, lời nói, hành động tất cả phải qui chiếu về một mình Chúa mà thôi. Ấy thế mà tôi thì lại có rất nhiều điểm để qui chiếu đời tôi. Điểm qui chiếu đầu tiên là chính bản thân tôi; kế đó là các đối tượng, các mục đích mà tôi ưa thích. Lại nữa, tôi không phải là một ẩn sĩ để có thể ở trong tịch mịch chỉ có mình tôi với Chúa. Tôi phải liên tục giao tiếp với tất cả những sinh hoạt phức tạp của môi trường chung quanh. Tôi không thể bỏ chúng, nhưng đồng thời tôi cũng không thể đặt chúng ngang hàng với Thiên Chúa. Để có thể dấn thân vào những sinh hoạt ấy mà không phản bội lại Thiên Chúa, tôi phải liên lỉ chọn Ngài trong từng giây phút, trong từng chi tiết nhỏ nhặt của đời tôi. Muốn thực hiện được điều này, trước tiên tôi cần liên tục khẳng định lại sự lựa chọn căn bản của mình, trước tiên tôi cần đặt trọn tư tưởng của tôi hướng về Chúa. Cần phải liên tục nhắc đi nhắc lại luôn để tạo ra một xác quyết là tôi phải hoàn toàn thuộc về Chúa. Từ bước ổn định tư tưởng này, các lời nói và việc làm của tôi sẽ được tư tưởng căn bản ấy chỉ đạo và điều khiển. Tư tưởng ổn định xác quyết thì lời nói và việc làm cũng sẽ ổn định, và nếu có bất ổn thì cũng dễ điều chỉnh sửa sai. Chúa ban cho tôi một món quà quí giá là tư tưởng. Vậy thì lễ vật đầu tiên và quí giá nhất mà tôi có thể dâng và phải dâng lên Thiên Chúa chính là tư tưởng của tôi. Một khi tư tưởng của tôi đã thuộc hẳn về Chúa, nó sẽ hướng dẫn trọn vẹn con người tôi về với Ngài.

Để có thể chọn Chúa trong từng chi tiết nhỏ nhặt của đời mình, tôi phải chọn Chúa ngay từ lãnh vực quan trọng nhất của cuộc đời: tư tưởng chính là lãnh vực quan trọng nhất ấy. Nếu tư tưởng của tôi chưa thuộc hẳn về Chúa, thì khi phải liên tục chọn Chúa trong những chuyện vụn vặt của đời mình, tôi sẽ gặp nhiều khó khăn lấn cấn vì cứ phải so đo cân nhắc luôn. Hơn nữa, một khi tư tưởng chưa thuộc hẳn về Chúa thì những chi tiết vụn vặt ấy dễ vuột khỏi sự kiểm soát của chính tôi để chạy tuột theo đà của chúng. Lúc bấy giờ tôi không còn là của Chúa, cũng không còn là của tôi, mà chỉ còn là nô lệ cho những thần tượng lợi thú nào đó của mình mà thôi.

Lạy Chúa, xin cho tư tưởng của con luôn luôn hướng trọn về Ngài. Amen ./.

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2008

Sống Vâng Phục

VÂNG PHỤC LÀ HIẾN DÂNG NGAY TỪ Ý NGHĨ NHỎ NHẶT NHẤT CỦA MÌNH


Những người đi tu có ba lời nguyện thề với Chúa. Một trong ba lời đó là lời khấn vâng phục.

Tôi không đi tu, vậy tôi có phải sống vâng phục không? Xin thưa rằng có chứ! Bởi vì tất cả mọi Ki-tô hữu khi nguyện kinh Lạy Cha đều đọc rằng: “Lạy Cha chúng con ở trên trời. Chúng con nguyện (...) ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.” Nguyện cho ý Chúa được thể hiện trong trời đất, mà trước tiên là thể hiện ngay chính trong cuộc đời mình, tức là nguyện sống vâng phục thánh ý Chúa rồi chứ còn gì nữa? Thế nhưng, tôi không có luật dòng, không có nội quy, không có bề trên… thì làm sao mà sống vâng phục?

Thường thì tôi sống vâng phục bằng cách tuân theo lời chỉ bảo hướng dẫn của các vị có thẩm quyền trong đạo, mà cụ thể là các linh mục quản xứ, hoặc theo các chỉ thị của Hội thánh, hoặc theo những gợi ý mà Chúa gởi đến cho tôi qua ý kiến của một trung gian nhân loại nào đó…

Tuy nhiên, trong cuộc đời, không phải bất cứ lúc nào tôi cũng nhận được những “mặc khải” như thế để biết mà vâng theo ý Chúa. Đa số những giây phút của cuộc đời tôi diễn ra trong bình thường và thầm lặng. Bình thường và thầm lặng giữa chỉ một mình tôi với tôi (dĩ nhiên là Thiên Chúa đang hiện diện với tôi trong tất cả mọi giây phút, nhưng sự hiện diện ấy chỉ được hiểu một cách mặc nhiên thôi, chỉ khi có những biến cố rõ ràng nào đó thì tôi mới nhận ra sự hiện diện ấy một cách minh nhiên).

Chỉ có mình tôi với tôi. Vậy thì tôi phải sống vâng phục như thế nào? Tôi có cần vâng phục không? và vâng phục ai? Chẳng lẽ tôi lại đi vâng phục chính tôi?

Để giải đáp cho các câu tự vấn trên, câu trả lời thực tế nhất có lẽ là : “Những lúc chỉ còn mình tôi với tôi mà thôi thì sống vâng phục chính là hiến dâng ngay từ ý nghĩ nhỏ nhặt nhất của mình.”

Thông thường thì những lúc người ta không hành động, không nói năng theo sở thích thì họ quay sang suy nghĩ theo sở thích của mình. Suy nghĩ theo sở thích có lẽ là quyền hạn và cũng là niềm vui cuối cùng mà một con người có thể có được một cách hoàn toàn tự do, không bị lệ thuộc vào bất cứ một điều kiện hay một ràng buộc nào về mặt khách quan. Suy nghĩ theo sở thích cũng là phương thế sáng tạo độc lập mà con người dùng để tự thể hiện chính mình như Pascal đã nói : “Je pense, donc je suis – Tôi suy tư, vậy thì tôi hiện hữu.”

Mỗi một khi tôi suy nghĩ theo sở thích của mình là tôi đã tự thể hiện chính tôi theo sở thích của tôi. Vượt ra ngoài việc Thiên Chúa sáng tạo nên tôi, khi suy nghĩ theo sở thích, tôi “sáng tạo” nên mình theo khuôn mẫu do mình đặt ra. Và một khi làm cho mình trở thành “thiên chúa” của chính mình như thế, hỏi rằng tôi còn vâng phục Thiên Chúa nữa không?

Vâng phục Thiên Chúa là đặt mình hoàn toàn dưới sự sáng tạo của Ngài: Thiên Chúa muốn sao thì tôi cũng muốn như vậy. Và để có thể muốn theo ý Thiên Chúa thì trước tiên tôi phải tập để không còn muốn theo ý mình nữa. Và muốn tập như thế thì trước tiên tôi phải tập hiến dâng ngay từ ý nghĩ nhỏ nhặt nhất của mình. Kể từ nay, ngay từ trong ý nghĩ nhỏ nhặt nhất, tôi sẽ không suy nghĩ theo sở thích của mỉnh nữa. Để tập sẵn sàng và quảng đại hiến dâng, thì điều gì làm cho tôi thích thú trong khi suy nghĩ, tôi sẽ suy nghĩ ngược lại với điều ấy. Chắc chắn là trong khi suy nghĩ ngược lại như thế, ít ra là tôi đã không theo ý riêng của mình.

Để có thể thưa: “Lạy Chúa, này con xin đến để thi hành ý Chúa”, tôi phải tập nói với chính mình: “Này tôi ơi, từ nay ta sẽ không suy nghĩ theo sở thích của mình nữa !”

● Lạy Chúa, xin giúp con can đảm hiến dâng từ ý nghĩ nhỏ nhặt nhất của con. Amen ./.

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2008

Ai Là Chủ Đời Tôi?

Tự chủ là một bí quyết quan trọng để có thể sống một cuộc sống an định không chao đảo, bởi thế con người không ngừng nỗ lực để làm chủ đời mình : làm chủ tư tưởng, làm chủ lời nói, làm chủ hành động…

Con người cố gắng để làm chủ hiện tại và đồng thời cũng có những dự phóng để xây dựng và làm chủ đời mình trong tương lai. Tất cả những nỗ lực ấy đều rất đáng khuyến khích cổ vũ. Tuy nhiên, nếu tôi là một Ki-tô hữu thì tôi không được phép dừng lại ở đó : tôi không tự chủ đời mình để rồi tự “phong vương” cai trị lấy mình. Tôi tự chủ là để dâng hiến đời tôi làm thần dân Thiên Chúa, vì chỉ có Ngài mới là Chủ Tể đời tôi, chỉ có Ngài mới thực sự có quyền định đoạt đời tôi.

Tự chủ là một đức tính tốt, nhưng nếu quá cực đoan trong nỗ lực làm chủ chính mình thì tôi sẽ dễ rơi vào các thái cực nguy hiểm : tự mãn, tự cao, tự quyết đoán… và từ đó lấy mình làm tiêu chuẩn cho chính mình cũng như cho người khác khi hành xử với họ.

Khi chọn mình làm tâm điểm, tôi mặc nhiên đánh bật Thiên Chúa khỏi vị trí phải có của Ngài trong cuộc đời tôi : tôi là chính, còn Thiên Chúa chỉ là thứ yếu ! Và một khi Thiên Chúa đã bị tôi cho “xuống cấp” thì tha nhân là gì để tôi phải yêu thương tôn trọng ? Đức ái huynh đệ của tôi vì thế cũng không còn tinh ròng nữa : tôi sẽ bắt mọi người qui phục tôi, và giả như tôi có qui phục người nào thì cũng chỉ vì một lợi thú nào đó của tôi !

Thiên Chúa mới là Chủ, còn tôi là con dân Ngài. Đó chính là chỗ đứng đích thực và xứng đáng nhất của tôi trên đời.

Lạy Chúa, xin cho con luôn biết chọn Chúa làm Chủ Tể đời con. A-men ./.

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2008

Lối Đi Ven Theo Bờ Vực Thẳm

Để đến với Thiên Chúa, con người chỉ có một lối đi duy nhất: đó là lối đi ven theo bờ vực thẳm của thân phận thụ tạo. Chúa Giê-su đã nói: “Hãy vào Nước Trời bằng cửa hẹp”. Quả thế, con đường dẫn đến quê trời là một con đường hẹp và dốc dác chênh vênh, tương tự như con đường lên đỉnh đồi Gôn-gô-tha với cây thập giá nặng nề trên vai. Hay nói một cách tượng hình như Nikos Kazantzakis trong cuốn tiểu thuyết về cuộc đời thánh Phan-xi-cô thành Át-xi-di : ta đang đứng trên một rẻo đất chỉ đủ để đặt bàn chân, ở giữa hai vực thẳm: một của Thiên Chúa và một của ma quỷ. Trong cái thế chênh vênh hiểm nghèo đó tôi được mời gọi để tiến lên. Tiến lên bằng cách nào? Kazantzakis trả lời : “Nhảy!”

Thánh Phan-xi-cô đã thúc roi vào con lừa của ngài, và sau vô vàn lần té qụy, ngài đã thực hiện thành công cú nhảy ngoạn mục : ngài đã nhảy vào Nước Trời !

Còn tôi, tôi là một con người cực kỳ yếu đuối. Tôi không đủ sức cũng chẳng đủ can đảm để làm một cú nhảy vọt kinh khủng như thế. Đức tin của tôi còn quá non nớt để có thể hoàn toàn phó thác vào Chúa như thánh Phan-xi-cô. Thực tình là tôi không dám nhảy ! Nhưng tôi vẫn phải tiến lên. Trên cái rẻo đất hẹp chỉ vừa đủ đặt bàn chân này, tôi vẫn phải tiến lên ! Thật là một cơn chóng mặt khủng khiếp. Tôi không dám nhìn xuống đáy sâu vực thẳm của Sa-tan, cũng không dám nhìn lên chốn vô cùng của Thiên Chúa. Tôi không đủ sức để làm như thế ! Tôi chỉ biết nhìn xuống chân mình, cẩn trọng nhích từng tí một trên cái rẻo đất chênh vênh ấy. Tim tôi thắt lại, mồ hôi vã ra, chân tôi run rẩy. Đi đứng làm sao trong tình trạng khốn khổ như thế ? Tôi hoảng sợ muốn rời bỏ cuộc phiêu lưu sinh tử này. Nhưng không thể được. Hai bên đều là vực thẳm. Rẻo đất thì quá hẹp để tôi có thể quay trở lại, và đào thoát còn đồng nghĩa với tự hủy diệt. Chỉ còn một cách duy nhất là tiến lên ! Ơn gọi làm Ki-tô hữu là như thế đó. Căng thẳng, tràn đầy nguy hiểm trong mọi giây phút. Nhưng có chấp nhận như thế thì mới đến được Đất Hứa. Giữa hai vực thẳm không còn một lối đi nào khác !

Chúa Giê-su đã nói: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Một Con Đường, một Sự Thật, một Sự Sống đòi tôi phải luôn bám chặt lấy. Rời khỏi Người là đi vào hủy diệt: “Cành nào không liên kết với Thầy sẽ bị khô héo”. Chúa Giê-su Ki-tô là Con Đường giữa hai vực thẳm. Ngài đã nhập thể, đã hiến mình chịu chết, và đã sống lại để mở ra cho nhân loại một con đường sống, một lối đi rất hẹp nhưng là lối đi duy nhất dẫn đến cứu thoát. Không có Chúa Giê-su Ki-tô, con người không cách gì vượt qua được hai vực thẳm này. “Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. Đức Ki-tô đã khẳng định dứt khoát như thế.

Lối đi ven theo bờ vực thẳm. Lối đi lên đỉnh Gôn-gô-tha. Lối đi duy nhất dẫn đến Nước Trời. Tôi đang đi trên lối ấy. Chênh vênh, căng thẳng. Nhưng đó là con đường dẫn đến Sự Sống. Không chấp nhận chênh vênh căng thẳng ấy thì chỉ còn cách đào thoát khỏi ơn gọi Ki-tô hữu của mình, và đào thoát có nghĩa là tự hủy diệt !

Lạy Chúa, xin cho con khiêm tốn, can đảm và trung thành tiến lên trong chênh vênh căng thẳng này. Amen ./.