Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

Phát hiện đồng tiền Nguyễn Nhạc trong mộ phu nhân Thoại Ngọc Hầu

Tuổi Trẻ – Thứ sáu, ngày 30 tháng chín năm 2011

TT - Những phát hiện về di vật của Thoại Ngọc Hầu (1761-1829) và phu nhân tại khu di tích lăng miếu núi Sam (An Giang) vừa được công bố ngày 29-9 tại hội nghị Những phát hiện mới về khảo cổ học lần 46.

Đồng tiền của triều Nguyễn Nhạc tìm được tại mộ bà Châu Thị Tế - Ảnh tư liệu của TS Phạm Hữu Công
Độc đáo nhất là khi khai quật hố chôn đồ tùy táng của bà Châu Thị Tế - phu nhân của Thoại Ngọc Hầu, giới khảo cổ thu được một đồng tiền Minh Đức Thông Bảo của triều Nguyễn Nhạc.
Đây là một phát hiện hết sức đặc biệt, vì quan niệm chính trị của nhà Nguyễn vẫn xem nhà Tây Sơn là “ngụy triều”, cho nên việc một vị đại thần của triều Nguyễn đã giữ gìn đồng tiền triều Nguyễn Nhạc, lại chôn cùng theo mộ của phu nhân là điều gợi mở nhiều hướng nghiên cứu cho giới sử học.
Theo TS Phạm Hữu Công - thành viên hội đồng giám định, đồng tiền triều Nguyễn Nhạc xuất hiện trong mộ của phu nhân Thoại Ngọc Hầu “có thể liên quan đến một bí mật lịch sử chưa từng được biết...
Làng quê An Hải (Quảng Nam, nay thuộc Q.Sơn Trà , Đà Nẵng - PV) nơi Thoại Ngọc Hầu sinh ra cũng chính là làng quê sinh ra Thiếu phó Trần Quang Diệu của Tây Sơn. Có lẽ Thoại Ngọc Hầu và bà Châu Thị Tế đã có một mối liên hệ nào đó với phong trào Tây Sơn, nên hai ông bà cố lưu giữ một kỷ niệm là đồng tiền nói trên (dù biết nó có thể gây tai họa) và khi bà Châu Thị Tế mất (năm 1826), ông đã chôn theo bà đồng tiền kỷ niệm này”.
TS Phạm Hữu Công cũng lưu ý một vấn đề quan trọng là hiện vật tùy táng của Thoại Ngọc Hầu được chôn bên ngoài huyệt mộ. Điều này cho thấy có thể có một kiểu chôn đồ tùy táng của thời Nguyễn. “Vì vậy khi khai quật mộ táng cổ, nhất là mộ táng thời Nguyễn, cần hết sức lưu ý vấn đề này, đặc biệt cần có sự thám sát lại đối với những ngôi mộ cổ thời Nguyễn đã khai quật trước đây”.
Công cuộc khai quật đã được tiến hành từ tháng 9-2010 với hai hố khai quật (một tại bên phải phần mộ bà Châu Thị Tế - cách huyệt mộ 40cm, và một hố bên phía trái phần mộ Thoại Ngọc Hầu - cách huyệt mộ 40cm), thu được tổng số 523 hiện vật, được sắp xếp thành nhiều nhóm đồ đồng, đồ gốm, đồ vàng bạc...
Đặc biệt có 33 mảnh trang sức trên chiếc mão quan chánh nhị phẩm là vật liệu quan trọng để phục dựng chiếc mão, góp phần vào việc nghiên cứu phẩm phục thời kỳ đầu triều Nguyễn - nội dung vẫn còn tranh cãi trong học giới do khác biệt ý kiến về hình dáng kiểu mẫu của phẩm phục.
LAM ĐIỀN
Nguồn: http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/458128/Phat-hien-dong-tien-Nguyen-Nhac-trong-mo-phu-nhan-Thoai-Ngoc-Hau.html
  

Trưng bày Ấn chương trên châu bản triều Nguyễn

Thể thao & Văn hóa – Thứ tư, ngày 12 tháng mười năm 2011
(TT&VH) - Những bản “công văn” bằng giấy dó vài trăm năm tuổi, có đóng dấu ấn của triều đình nhà Nguyễn sẽ xuất hiện trong cuộc trưng bày khai mạc vào sáng nay 12/10/2011 tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (phố Vũ Phạm Hàm, Hà Nội) - qua đó giúp người xem có thể hình dung phần nào về cách quản lý hành chính trong một giai đoạn lịch sử từ 1802 tới 1945. 
Cuộc trưng bày gồm 90 châu bản triều Nguyễn - những bản “công văn” thuộc dạng sớ, tấu, chiếu dụ... được chuyển lên 13 đời vua triều Nguyễn và có bút tích cùng dấu ấn “ngự phê” bằng mực son đỏ của nhà vua. Đây là cuộc trưng bày lần đầu tiên từ 1945 tới nay.
140 hình dấu ấn tại cuộc trưng bày được chia thành 3 phần: Kim bảo của Hoàng đế và ấn của các hoàng thân; ấn của các cơ quan trung ương và quân đội, ấn của các chính quyền địa phương.

Dấu ấn Quốc gia tín bảo thời Gia Long, dùng trên các loại chiếu, chỉ, dụ và
văn kiện triệu tập các tướng lĩnh, phát động binh sĩ, trưng binh nhập ngũ.
Nếu dấu ấn của Hoàng đế được ghi các dòng chữ “kinh viện” như Quốc gia tín bảo, Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành... thì dấu tích ấn của phủ tôn nhân (quản lý hoàng tộc) cho thấy thay đổi khá lớn ở thời vua Thiệu Trị, khi chữ “tôn” trong câu “Tôn nhân phủ ấn” bị đổi từ nghĩa “tôn tộc” thành nghĩa “tôn kính” và có thay đổi về kích thước, chữ khắc so với những phiên bản cũ. Hoặc, 76 dấu ấn của các cơ quan trung ương và quân đội cho thấy từ 6 “Bộ” cơ bản (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) thời gian đầu, ở giai đoạn cuối của vương triều Nguyễn đã có sự xuất hiện của những “Bộ” mới như Bộ Học (thời Duy Tân), các bộ Tài chính, Kinh tế, Lễ công, Tư pháp (thời Bảo Đại). 
Đặc biệt, ở phần trưng bày về ấn của các cơ quan địa phương, nếu cuộc cải cách hành chính, chia lại lãnh thổ thành 30 tỉnh của vua Minh Mạng làm thay đổi dấu ấn cấp phủ, huyện, châu và chức quan tại các tộc người thiểu số thì dấu ấn của chánh tổng và lý trưởng trong thời vua Đồng Khánh lại được đúc cả bằng chữ Quốc ngữ hoặc chữ Pháp bên cạnh phần chữ Hán truyền thống và cho thấy loại hình văn tự giai đoạn này có những chuyển biến sâu sắc về lịch sử, văn hóa và đời sống xã hội... 
Hiện nay đa phần số Châu bản triều Nguyễn đã được Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I tiến hành số hóa và tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu. Dự kiến trong thời gian tới, cơ quan này cũng tổ chức một cuộc trưng bày các châu bản và ấn chương cho thấy sự giao thoa văn hóa Việt - Pháp trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. 
Cúc Đường
Nguồn: http://vn.news.yahoo.com/tr%C6%B0ng-b%C3%A0y-%E1%BA%A5n-ch%C6%B0%C6%A1ng-tr%C3%AAn-ch%C3%A2u-b%E1%BA%A3n-tri%E1%BB%81u-000500514.html
  

Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2011

Hát Xẩm - Thập Ân - Nghệ Nhân Hà Thị Cầu



***

Thứ hai, 3/1/2005, 12:37 GMT+7
Hà Thị Cầu - người hát xẩm cuối cùng


Nghệ nhân Hà Thị Cầu.
Nghệ nhân Hà Thị Cầu.


Một nếp nhà ven đường ở Quảng Phúc, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, Ninh Bình, cổng rào chả có, rộng khoảng 20m2, bên trong chẳng có gì đáng giá ngoài chiếc đài bán dẫn và một cái líu (nhị). Bát líu bịt bằng da kỳ đà (thường là da trâu bào mỏng) đã đi theo người hát xẩm chuyên nghiệp cuối cùng gần 70 năm qua.

Có lần người ta dụ dỗ bà Hà Thị Cầu đem được cây líu ấy ra Hà Nội. Nhưng rồi cả cái năm phải kéo cây nhị mới bịt nắp bằng vỏ lon bia, bà cứ vật vã không ra bệnh gì. Sở Văn hóa - thông tin Ninh Bình phải điện lên Hà Nội đòi cái "niệm thần chú" ấy về, bà mới thôi ốm.

Để ra mắt, mấy anh Tây mang biếu bà một chai Lúa Mới. Bà cảm động cứ úi giời: "Sao biết tôi có tính máu mê ấy thế". Tuy nhiên thời gian này bà không được khỏe, phải kiêng rượu. Bà cũng mới chuyển sang ăn chay. Bà nói: "Thầy bảo nếu qua được năm nay, tôi sẽ sống đến 90 tuổi".

Lũ trẻ kéo đến đứng đầy ngoài cửa sổ. Bà ngồi trên giường nói ra: "Về! Lúc nào chúng mày muốn nghe thì tao ra ngã ba hát cho mà nghe…". Sau khi hai ngôn ngữ Tây - ta đánh vật với nhau một hồi, nhị và trống được đem ra. "Tôi ốm lay lắt mấy tháng nay nên hát nó cứ ai ai tiếng". Nói thế chứ bà vẫn hát một lèo 7-8 bài, thậm chí không chịu hát bài dễ. Đầu tiên là Tứ hải giao tình, rồi Bác mẹ sinh thànhđệm toàn bằng bộ gõ, Cá vàng, Ngược đờiSáng cả đêm rằmTrương Chi…, hát say sưa cứ như chỉ chờ có người đến nghe. Chẳng biết lúc không "ai ai" thì thế nào, nhưng những gì bà hát vẫn làm người ta vui buồn theo. Tiếng nhị khi réo rắt khi nhấm nhẳn, hết bài lại nghịch ngợm nhại tiếng người. Xiết lên í ò, nghĩa là hết rồi.

Bà Cầu không biết chữ, chỉ có rất nhiều câu cửa miệng. Chẳng hạn hỏi chuyện cát-xê khi xưa, bà buột miệng: "Bảo Đại (ý nói đồng tiền Bảo Đại…) làm hại ăn mày"; hay chuyện bà đang phải uống thuốc thì bà nói: "Thuốc nam đánh giặc thuốc bắc lấy tiền". Có một câu mà bà Cầu nhắc lại nhiều lần: "Vất vả tại số, dở dương tại giờ-ời". Cứ như cái lối bà nhấn vào chữ giời, đai ra một cách không cố ý thì đúng tại giời thật. Dường như kỹ thuật luyến và nhấn đặc trưng của xẩm đã in dấu trong từng câu bà nói. Bà Cầu có một thứ bệnh lạ đời: nói nhịu. Chẳng hạn nếu bà nói "lên giời ngồi" hay "ăn giời đi con", điều đó có nghĩa là "lên giường ngồi" và "ăn cơm đi". Còn "Ninh Bình" hay "giọt nước cánh bèo" nếu không cẩn thận thì "bình" và "bèo" đều thành “bò” như chơi. Ấy vậy mà khi bắt đầu vào cuộc hát, hầu như tật này của bà biến mất.

Hỏi bà biết bao nhiêu bài xẩm, bà đáp: "Hát đến đâu ra đến đấy, không đếm". Hỏi bà phải có tố chất gì mới hát được xẩm. Bà bảo: "Phải có calo trong cái họng". Xẩm cần nhất là sức lực để có thể hát cả ngày, hát bất cứ nơi đâu, lúc ốm hạ giọng vẫn hát như thường... Một vài nghệ sĩ trẻ cũng chịu khó về tận nhà bà học xẩm. Bà khen cô Hồng Ngát sáng ý: "Về nghe chốc lát vài tiếng đồng hồ hát được bài Thập ân".

Nhưng thường mỗi cô cũng chỉ học một đôi bài lấy vốn chứ chẳng ai nghĩ đến chuyện kế thừa cả cái nghệ thuật xẩm. Xẩm có cái chất dân dã, phóng khoáng mà không phải nghệ sĩ được đào tạo chính qui nào cũng tìm lại được. Chưa kể hát lại phải kèm với nhị, bầu, trống phách… mới ra chất. Bà Cầu có biệt tài cùng lúc miệng hát, chân phách, tay sênh, tay kia gõ một lúc hai trống mảnh. Trong băng và đĩa Xẩm chợ của bà không có tiếng phách vì người chơi bộ gõ chỉ có thể dùng tay.

Bà Cầu có ba người con nhưng không ai theo được nghề. Chưa kể họ sinh ra và lớn lên trong thời kỳ xẩm hay hát rong đều không được coi là một nghề. Nhiều nghệ nhân xẩm thượng thặng của Hà Nội cuối đời sống bằng việc vót tăm và bện chổi đót. Khi vẻ đẹp của xẩm phần nào được công nhận thì người dân đã không còn thói quen và cũng ít có cơ hội để đến với nó. Trước đây dân quanh vùng còn có dịp đón bà Cầu đến các đám ma đám giỗ, nay dù có chèo kéo đến mấy bà cũng khó lòng nhận lời vì lý do sức khỏe.

Cầu là tên con trai cả, bà tên thật là Hà Thị Năm. Từ bé, bố mẹ bà đã bỏ thúng gánh đi, lên 10 đã hát xẩm lấy tiền. Ông cụ thân sinh ra bà đánh đàn bầu cũng bị lòa, mất năm bà 11 tuổi. Hai mẹ con từ quê Ý Yên, Nam Định ra Ninh Bình hát xẩm. Nghe nói có con bé 12 tuổi hát hay đáo để, ông Mậu - trùm xẩm Yên Mô- để ý "tạo điều kiện". Hỏi ông có dạy bà hát không, bà Cầu bảo: "Có, mà ông ấy học tôi thì có! Nhưng mà ông ấy kéo nhị những Lý giao duyênLý hành vân thì tuyệt vời". Ông Mậu chơi được đủ cả bầu, sáo, nhị… Phải cái mặt rỗ, mắt lòa - di chứng đậu mùa. "Tôi cũng chả xinh gái. Mắt có ve". Không nhìn thấy gì lại càng ghen. Chỉ cần bà bị khách trêu ném xu đồng vào ngực là ông đánh… "Đánh yêu hả bà?", "Vâng, đánh yêu lắm".

Bà Cầu khăng khăng nói ông đưa bà lên Mường (Quảng Cư, Đồng Bái...) bỏ bùa bà. "Chứ không làm gì có chuyện gái 16 tuổi lấy ông 49". "Bác cháu" ăn cùng mâm, nhiều khả năng "bùa" được bỏ vào nước canh như câu: "Bùa yêu thuốc dấu không bằng mắm ngấu tra canh".

Các cụ đã đúc kết: "Tham giàu lấy chú biện tuần/ Tuy rằng bóng bẩy nợ nần chan chan/ Thà rằng lấy chú xẩm xoan/ Công nợ không có hát tràn cung mây". Xẩm đắt vợ là vì thế! Bà Cầu nói bà là vợ thứ 18 của ông Mậu. Con gái bà gật đầu xác nhận. Ba vợ chồng, lúc ấy ông vẫn còn bà thứ 12 - người Thanh Hóa - cứ "lưu diễn" như thế: "Một năm nhờ bàn dân thiên hạ 10 tháng". Gia tài có trống phách và nồi niêu. Bữa nào ăn hàng thì chủ quán còn miễn tiền trọ, tự nấu lấy thì ngủ mất 5 xu/người. Năm Ất Dậu, ông đem bầu đoàn vào vùng Cẩm Thủy, Kim Tân, La Hoài (Thanh Hóa). Rừng thiêng nước độc, phải uống rượu vào để chống lạnh nhưng nhờ thế mà thoát chết đói. Ông mất khi bà mới 33 tuổi. "Thương ba đứa trẻ tôi cũng muốn đi bước nữa… Hồi ấy lấy ông cai thầu xây dựng giờ có phải được nhờ không", bà Cầu ngậm ngùi.

Vợ chồng bà có mảnh đất từ trước 1945. Năm 1954 về định cư, gia tài vẫn chỉ lếch thếch hai cái niêu một rang một nấu. Ngoài hát xẩm, kéo nhị bà chẳng biết làm gì. Không được đi hát đồng nghĩa với đói. Cũng vì thế nên bà đã mất một người con sơ sinh, một người nữa phải đem cho đi. Gần đây mẹ con mới đoàn tụ… Mãi đến cuối những năm 1980 nhà bà mới được cấp ruộng, 1992 mới xây cái nhà, không có công trình phụ. Đến nay vẫn đang nợ ngân hàng 1 triệu đồng. Bà chẳng thể dưỡng già được với danh hiệu nghệ nhân hay nghệ sĩ ưu tú. Chị Mận đi chợ bán gà nuôi mẹ. Gà cúm thì chuyển sang mèo.

Thời gian như ngừng trôi trong căn nhà của xẩm. Tường trang trí toàn những tờ lịch của năm cũ. Một dãy bằng khen giăng ngang đã bay màu, rặt những giải nhất hạng. Bằng khen năm 1998 của Đài Tiếng nói VN vẫn ghi bà là "thí sinh", Liên hoan trích đoạn tuồng chèo hay toàn quốc thì tặng giải đặc biệt cho cụ Hà Thị Cầu - "nghệ nhân hát chèo tỉnh Ninh Bình".

Năm 1996 bà sang Trung Quốc hát xẩm. Thấy kem Bắc Kinh ngon, bà nhón một que "đem về cho con Mận", cả đoàn can không được. Về đến khách sạn, bà cứ giở khăn tay ra tìm mãi, quái lạ đã gói vào đây rồi… Đến tận bây giờ con cháu vẫn đem chuyện này ra cười với nhau. Bà chỉ chống chế: "Không, kem bên ấy ngon thật". 

(Theo Tuổi Trẻ)

***

Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu: Truân chuyên một kiếp...

08-02-2011 | 14:18
(Nguoiduatin.vn)- Về thăm nghệ nhân Hà Thị Cầu chúng tôi mơi cảm nhận được cuộc sống thường nhật của người nghệ nhân hát xẩm nỗi tiếng này.
Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu (tên thật là Hà Thị Năm) Sinh ra ở Ý Yên- Nam Định. Tưởng chừng như cuộc sống của người nghệ nhân độc nhất vô nhị đã bước sang tuổi 93 ấy giờ chỉ còn là những phút thư nhàn, thanh thản sau những giông gió của cuộc đời phiêu bạt. Thế nhưng, phải về tận ngôi nhà để thăm và để thấy cuộc sống thường nhật của nghệ nhân Hà Thị Cầu, chúng tôi mới cảm hết được một nỗi thê lương của cả cuộc đời bà...
“Mẹ là người hát xẩm giời đày...”
Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu
Lần theo những dòng ký ức vốn đã chập chờn như ngọn đèn dầu leo lắt trong tâm trí của người đàn bà phiêu bạt, cụ Hà Thị Cầu nhớ lại: "Kiếp hát xẩm ám vào đời tôi bắt đầu từ bà nội vốn nức tiếng về ca xẩm vùng Ý Yên hồi đầu thế kỉ XX. Ngày ấy, xẩm rất thịnh hành và có mặt trong hầu hết các sinh hoạt cộng đồng từ chốn đình chùa đến nơi kẻ chợ. Vì vậy, dẫu đói kém nhưng những người theo nghề xẩm cũng có được cái ăn".
Người đàn bà ca xẩm đất Ý Yên thời ấy sinh được duy nhất một người con gái lòa mắt, sau này cũng vào nghề hát xướng và lấy một người đàn ông mù đàn ca sáo nhị. Cả nhà ba người, hai mù, một sáng mắt lập ra gánh hát đi khắp đầu phố cuối sông. Phiêu dạt khắp các hang cùng ngõ hẻm, ga tàu xó chợ vậy mà đôi vợ chồng mù cũng sinh được bảy người con nhưng đứa còn đứa mất.
Từ nhỏ, Hà Thị Năm đã dạn dày mưa gió, cơm đường cháo chợ lưu lạc đó đây từ chưa đầy tuần. Thế rồi, những làn điệu xẩm như Huê tình, Hà liễu, Ba bậc, Thập ân, Cò lả, Thập sầu, Hành vân, Ca nam... nhập vào cô. Nó tự nhiên như những lời nói cất lên hàng ngày chú ơi, ông ơi, nó sung sướng, chất đầy cảm xúc như lúc người ta bỏ vào tay Năm những đồng cắc, đồng xu hãy còn nóng hổi.
Mười tuổi, khi đã biết đủ ngón nghề của một ca xẩm (tự hát, tự phách và kéo nhị) là lúc đôi lưng của người bà rạp xuống gốc cây gạo, nặng nề chút hơi thở cuối cùng nơi phố chợ hiu hắt. Tiếp sau là người cha mù lòa cũng không còn cất nổi tiếng và bỏ lại cuộc đời đàn ca nhị phách cho người vợ cùng con nhỏ. Hà Thị Năm lại dắt díu người mẹ mù lòa cất tiếng xẩm thân phận trôi dạt sang Yên Mô - Ninh Bình.
Mang tiếng "xướng ca vô loài" giữa cuộc đời xuôi ngược, dẫu nhan sắc cũng chẳng kém cạnh ai, giọng hát làm chạnh lòng biết bao tài tử, cô thiếu nữ đang độ xuân thì Hà Thị Năm chấp nhận về sống đời vợ chồng với ông trùm xẩm mù Nguyễn Văn Mậu nhiều hơn tuổi cha mẹ cô, và đã qua 17 đời vợ.
Ông trùm xẩm Nguyễn Văn Mậu, người có 6 gánh hát ở đất Yên Mô, nhưng gia tài cũng chỉ có cơm niêu nước thùng, với một mái xiêu bốn bên gió lùa, chừng 20m2 nằm ở xã Yên Phong - Yên Mô. Qua 17 đời vợ nhưng ông Mậu vẫn không có lấy một mụn con, nhưng khi nên duyên với Hà Thị Năm đã liên tiếp sinh 7 đứa con.
Nhớ lại những nhọc nhằn của quãng thời gian năm nào đã trôi xa vào ký ức, cụ Cầu vẫn rùng mình như thể nỗi kinh hoàng mới trải qua. Vừa sinh Mận (con gái đầu lòng) được ba ngày cô Năm đã phải trao con cho bà cả để ra chợ ngồi hát. Người sản phụ mới sinh con ba ngày tuổi vừa hát vừa thắt ruột, thắt gan, nhoi nhói như kim châm nơi vùng ổ bụng chưa lành cuống nhau. Thế mà vẫn phải hát để nuôi con, có lúc tưởng kiệt sức, không cất được nổi giọng đành phải uống rượu để cầm hơi, lấy sức.
Bảy lần sinh nhưng chỉ nuôi được ba, 71 tuổi ông Mậu qua đời, cô Năm còn bụng mang dạ chửa người con út. Câu chuyện về người con út là một câu chuyện dài và ly kì mà cho đến tận bây giờ nhiều lúc cụ Hà Thị Cầu vẫn không dám tin đó là sự thật. Ngay sau khi sinh cậu út, do không có gì nuôi, cụ đành phải đứt ruột cho đi cậu con trai tên Cầu. Đó chính là nguyên do mà ngay sau này ca nương lừng danh một thời đã đổi tên thành Hà Thị Cầu, mong rằng có ngày đứa con lưu lạc nhà người sẽ tìm về bên mẹ. Khi cho đi đứa con, cô chỉ kịp nói với người nhận nuôi và với Cầu một câu: "Mẹ là người hát xẩm giời đày tên Năm", rồi im lặng cúi xuống để người ta bế Cầu đi. Những nỗi đau mất mát, những ấm ức của một đời cầm ca đã khiến giọng ca của bà chơi vơi nhẫn nhục tủi hờn khôn xiết mà rắn rỏi, cương cường. Nó như để chống lại sự nghiệt ngã và bạc bẽo kiếp giời đày. Chính tiếng hát ấy sau này đã giúp bà tìm được anh Cầu và nó cũng đã đưa bà lên thành một người hát xẩm có một không hai của Việt Nam còn lại.
Câu ca nghẹn ngào
Bộ đồ nghề hát xẩm của nghệ nhân
Do ở xa, trước khi đến thăm bà Cầu tôi đã gọi điện trước cho một người làm công tác quản lý văn hóa, nghệ thuật ở Ninh Bình, anh bảo: "Nhà bà Cầu ở ngay thị trấn Ngò - Yên Mô, nhà sát đường nên đến đó, hỏi ai họ cũng chỉ cho thôi". Tìm đến nơi tôi mới biết nhà bà Cầu không ở thị trấn, nó nằm cách thị trấn Ngò - Yên Mô chừng 3km, ngôi nhà nhỏ nhuốm đầy bụi đường của nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu do đoạn đường đang được thi công mở rộng và ở ngay sát Ủy ban Nhân dân xã. Trong ngôi nhà nhỏ những giấy khen, bằng khen, giải thưởng được treo la liệt ở bốn bức tường. Đó là, bằng khen năm 1998 của Đài Tiếng nói Việt Nam; danh hiệu Nghệ nhân dân gian; danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú; giải thưởng Đào Tấn... đã mang dấu ấn hoàng kim một đời hát xẩm của cụ.
Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà quạnh quẽ khi chị Mận, người con gái đang sống cùng cụ không có nhà, cụ Cầu mặc chiếc áo khoác cộc tay, chất liệu nhung màu bã trầu đã cũ, bên trong là áo xanh màu nõn chuối với hai đầu gối tay tươm tả, để lộ ra ngoài nếp da nhăn nhúm. Có lẽ cũng đã hơn chục năm nay bà không còn lang thang hát xẩm. Từ ngày đó, cây nhị gắn bó với cụ suốt một đời lang bạt cụ cũng đã cho người ta mượn để mưu sinh. Nhớ cây nhị, cụ ngồi một lát rồi bật cười, cái cười móm mém buồn vô hạn: "Sức tôi giờ chẳng còn, không hát được nữa. Cây nhị nó buồn lắm. Có những đêm, giữa khuya tôi bỗng nghe thấy tiếng cây nhị khóc dấm dứt trên tường. Tôi tỉnh dậy hỏi thì nhị bảo nó nhớ thủa xa xưa nhiều lắm. Giờ đây, nằm nhàn nhã trên tường mà nó tưởng thân nhị như đã chết rồi. Thương cây nhị quá nên khi có người hỏi mượn đi theo gánh xẩm, tôi cũng dứt ruột mà đưa cho người ta".
Bóng chiều đâu đó đã đổ sập xuống phía sau ngôi nhà loang nổ đầy vết rêu phong của thời gian. Và cụ Hà Thị Cầu vẫn ngồi đó, phía trước hiên nhà lặng yên như đang lắng nghe một thanh âm nào đó vút lên trong sâu thẳm miền ký ức. Có lẽ vì vậy mà cụ không nghe thấy cả câu chào của chúng tôi chăng? Một nỗi buồn tê tái len lỏi trong lòng những người lữ khách khi cố níu kéo người đời để họ chợt nhận ra rằng ở mảnh đất này vẫn còn một di sản sống của làng hát xẩm.
Phạm Khoa

Thứ Năm, 20 tháng 10, 2011

A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật?

Giao Duyên xin chân thành cám ơn tác giả đã gởi tặng bài này.
*

A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật?
Nguyễn Cung Thông

Vài năm qua trên báo chí và sách vở xuất hiện một số thảo luận về câu niệm (Nam Mô) A Di Đà Phật hay (Nam Mô) A Mi Đà Phật. Có lẽ khởi đầu từ cuốn "Hương Sen Vạn Đức" của HT Thích Trí Tịnh1 (2006), và "Ý Nghĩa Hoằng Pháp và Hộ Pháp" của tác giả Diệu Âm - Diệu Ngộ được ghi nhận trong bài viết trên mạng Thư Viện Hoa Sen (21/6/2011). Phần này chú trọng đến sự khác biệt ngữ âm giữa Di (trong A Di Đà Phật) và Mi (trong A Mi Đà Phật) và không đi vào chi tiết các giáo pháp liên hệ cũng như phạm vi tâm linh tín ngưỡng dân gian. Thanh điệu ghi bằng số ngay sau một âm như số 3 trong min3 hay mǐn (giọng Bắc-Kinh hay BK ghi theo hệ thống pīnyīn thông dụng hiện nay), không nên lầm với số ghi phụ chú (superscript) như min3; dấu hoa thị  * (hình sao/asterisk) đặt trước một âm tiết để chỉ dạng cổ phục nguyên (reconstructed sound). Hi vọng bài này cho thấy phần nào khuynh hướng ngạc hóa nói riêng, văn hóa ngôn ngữ Phật giáo nói chung đã đóng góp không nhỏ trong quá trình hình thành tiếng Việt hiện đại.

1. Khuynh hướng ngạc hóa trong ngôn ngữ

1.1 Một số phụ âm có thể thay đổi cách đọc vì bị ảnh hưởng của các âm thanh gần bên, như trong tiếng Anh hiện tại, khi ta đọc nhanh bet you, hit you thì âm phát ra có dạng *betch you, *hitch you (phụ âm đầu lưỡi t trở thành phụ âm mặt lưỡi ch) - theo cách đọc dễ dàng hơn (đỡ mệt nhất, đỡ tốn công nhất/least effort) và đây cũng là một tiêu chí phân biệt người nói tiếng Anh lâu đời (tiếng ‘mẹ đẻ’) hay là một ngoại ngữ. Khuynh hướng ngạc hóa2 cũng hiện diện trong tiếng Motu (ở Papua New Guinea): khi phụ âm đầu lưỡi tắc t đứng trước một nguyên âm có độ mở miệng nhỏ (như i hay e) thì trở thành phụ âm đầu lưỡi xát s:

*mate               mase  (chết)
*tina   sina  (mẹ)
*qate   ase   (gan)
Khuynh hướng ngạc hóa trong tiếng Việt dẫn đến phụ âm nh/d(j) như

lẽ   nhẽ
lem  nhem
lớn  nhớn
lời  nhời
...
Hay so sánh tương quan đao - dao, đảm - dám, đinh - dính, đình - dừng ... Và bưng (phụng ), vâng > dâng (lên) ... Đều cho thấy phụ âm đầu biến thành phụ âm d- (j- giọng Nam), giọng Bắc VN đã xát hóa d cao độ để cho ra dạng zi - tự điển Việt Bồ La (1651) vẫn ghi dà - nhà, dân, danh, diệt, di ... Cố GS Nguyễn Tài Cẩn cũng nhận ra khuynh hướng biến âm này, ông đề nghị mj > j > d (trang 45, ‘Một số vấn đề về chữ Nôm’, NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội - 1985). Một vết tích ngạc hóa trong tiếng Việt là cách đọc nhà tiếng Việt của chữ gia HV. Các dạng chữ Nôm đều dùng âm như (hay ), mà âm cổ là *na? so với âm cổ của gia là *kra (tự điển Việt Bồ La còn ghi nhà là dà). Đáng lẽ phải đọc là như hay nhữ theo âm Hán trung cổ nhân chư thiết 人諸切 (Đường Vận) hay nhẫn dữ thiết 忍與切 (Tập Vận). Điều này có thể là do âm nhà đã hiện diện trong tiếng Việt trước thời Đường Vận (năm 751) rất lâu.

1.2 Quá trình ngạc hóa (palatalisation) đã đóng góp quan trọng trong lịch sử hình thành các ngôn ngữ Hàn, Nhật, Trung (Quốc), Việt Nam, Anh (nhánh Đức/Germanic, họ Ấn Âu), Pháp (nhánh La Mã/Romance, họ Ấn Âu) ...v.v... Trở lại với các ngôn ngữ ĐNA, khi tiếng Hán nhập vào tiếng Việt, phụ âm đầu môi môi (bilabial) có khả năng ngạc cứng hóa để trở thành phụ âm d (j), khi đi sau là nguyên âm trước (front vowels) với độ mở miệng nhỏ như i, e. So sánh các tương quan sau đây

mín (BK)    dân (Hán Việt/HV) (A)
míng           danh
míng          mính HV là chè/trà  - tiếng Việt còn dùng từ dành (cây dành dành)
míe             diệt (như cách dùng diệt đế, diệt độ, diệt pháp ...)
miào           diệu (thần diệu)
miàn           diện (mặt)
mí               di (phiên âm Phạn mi/me/mai như Di Lặc, Tu Di, Sa Di, Cù Đàm Di ...) (B)
...
mǐn             mẫn, dân,miến (để ý có khả năng đọc m- hay d-) - hầu như chỉ có tiếng Việt mới cho thấy khuynh hướng ngạc hóa rõ nét khi so sánh với các giọng Quảng Đông, Hẹ, Mân Nam… (B)
mí               mi, còn đọc là di (một loài khỉ)
miǎo           miểu, diểu
miǎn           miễn, miến, diến - 緬甸 Miến Điện hay còn là Diến Điện (Myanmar bây giờ)
...v.v...

(A) Diệu đọc theo Quảng Vận là 彌笑切, 音廟 di tiếu thiết, âm miếu; theo Tập Vận là 弭沼切。與眇通 nhị chiểu thiếtDữ miễu thông. Phụ âm m- (miào BK) ngạc hóa thành mj- hay d- và nh-

(B) Trích trang http://www.zdic.net/zd/zi/ZdicE5ZdicBDZdic8C.htm  về các cách đọc chữ di
Theo Quảng Vận (năm 1008 SCN), di thiết 武移切 so với Tập Vận (năm 1067) đọc là dân ti thiết 𤰞 âm mê (音迷); theo Vận Hội (năm 1297) đọc là mẫu tì thiết 母婢切 và dùng như nhị (通作弭 thông tác nhị). Di là âm Hán Việt so với các giọng đọc hiện nay như giọng BK bây giờ là mí mǐ và
粵語:mei4 nei4,  客家話:[ 客英字典 ] ni2 ni3 [ 陸豐腔 ] ni3 [ 梅縣腔 ] ni2 [ 海陸豐腔 ] ni2 ni3 [ 客語拼音字匯 ] ni2 [ 沙頭角腔 ] li1 [ 東莞腔 ] mi2 [ 寶安腔 ] li2 [ 檯灣四縣腔 ] ni2 ni3
Việt Ngữ (Quảng Đông)mei4 nei4, Khách Gia Thoại (Hẹ)[Khách Anh tự điển] ni2 ni3 [Lục Phong Khang] ni3 [Mai Huyện Khang] ni2 [Hải Lục phong Khang] ni2 ni3 [Khách ngữ bính âm tự hối] ni2 [Sa Đầu Giác Khang] li1 [Đông Hoàn Khang] mi2 [Bảo An Khang] li2 [Đài Loan Tứ Huyện Khang] ni2 ni3 (một anh bạn người Triều Châu/Tiều của người viết, gốc Sơn Đầu, phát âm di là ni2 - 4/10/2011).
Theo học giả Lê Ngọc Trụ (‘Tầm Nguyên Tự Điển VN’, NXB Thành Phố HCM - 1993) và Paul Schneider (‘Dictionnaire Historique Des Idéogrammes Vietnamiens’, licencié en droit Nice, France : Université de Nice-Sophia 1992) thì dài tiếng Việt có gốc là di so với từ HV trường (để ý - Quảng Vận ghi di là trường dã, cửu dã 《廣韻》長也,久也). Một dạng âm cổ phục nguyên3 của di là *me theo GS Axel Schuessler (‘ABC Etymological Dictionary of Old Chinese’, NXB University of Hawai'i, 2007).

1.3 Khả năng ngạc hóa còn hiện diện khi phiên âm tiếng Phạn4 ra Hán trong kinh Phật, như Kapila  कापिल  được phiên âm là Ca (Già) Bì La hay Ca Di La - phụ âm môi đầu b/p của Bì ngạc hóa (đứng trước nguyên âm i) thành bji- hay yí BK di HV; một dạng phiên âm khác của Kapila là Ca Duy La cũng cho thấy khả năng ngạc hóa b/p thành b/pj- hay d- (Duy HV, yí BK).

Một điểm đáng ghi lại ở đây là tiếng Phạn (Sanskrit) dùng trong kinh Phật thuộc loại ngôn ngữ hòa kết (chuyển dạng/inflectional) hay chi tiết hơn là loại chuyển dạng tổng hợp. Một từ Phạn có thể thành lập bằng cách tổng hợp các thành phần (tiền tố, hậu tố, phụ tố) với nhau, kết quả là một chữ Phạn có thể trở thành rất dài hay nhiều âm tiết, so sánh với tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ đơn lập (isolating language). Thí dụ như từ Vimalakīrti gồm ba phần: tiền tố vi- nghĩa là không (phủ định), mala là vết dơ - do đó vimala विमल là không có dơ (ô uế); kirti कीर्ति là bàn luận/nhắc đến (có tiếng tăm) nên từ Vimalakīrti hàm ý danh tiếng không bụi bẩn (cũ dịch là Tịnh Danh, mới là Vô Cấu). Một dạng phiên âm của Vimalakīrti là 維摩詰 Duy Ma Cật5, hay 毘維摩詰 Tỳ (Tì) Ma La Cật (tên mới). Điều đáng chú ý là âm Duy (wéi, yí BK) chính là dạng ngạc hóa của tiền tố vi-. Một tiền tố khác rất thông dụng trong Phạn ngữ là a- (không, phủ định) hợp với chính tố जित् git (thắng lợi) thành ra chữ agita/ajita अजित nghĩa là không thắng được, phiên âm là 阿夷頭 A Di Đầu hay 阿耆多 A Kì Đa (tên người, một trong 10 ngoại đạo), dịch là Vô Thắng. Di là dạng ngạc hóa của Kì (âm Phạn gi). A Kì Đa còn là một danh hiệu của đức Phật Di Lặc Meitreya/Maitreya मैत्रेय hay 無能勝 Vô Năng Thắng.

A Du Già 阿輸伽 hay A Dục Vương 阿育王 là phiên âm của tiếng Phạn Asoka अशोक . Chữ Asoka lại gồm tiền tố a- (không) và शोक soka (phiền não, lo sợ) nên dịch ý là Vô Ưu ;  Đây cũng là tên đặt cho vua A Du Già (304 TCN- 232 TCN) là vị vua phật tử đầu tiên trong lịch sử Phật giáo, còn gọi là A Thâu Già 阿輸迦. Các dạng Du Già hay Dục đều là âm soka ngạc cứng hóa. Già La Dục 迦羅育 hay Ca La A Dục 迦羅阿育 ... đều có dạng Dục, phiên âm của tiếng Phạn Kalasoka, tên vua nước Ma Ha Đà 100 năm sau khi đức Phật nhập niết bàn.

Tiếng Phạn वैशाली Vaisali - thành phố cổ ở Bắc Ấn Độ6: nơi đức Phật thuyết bài pháp cuối cùng - có một dạng phiên âm là 維耶離 Duy Da Li hay Bì Da Li 毗耶离 - xem chi tiết trang http://fodian.goodweb.cn/dict_read12.asp?ID=516  . Âm Duy là âm Bì (Vai-) ngạc cứng hóa.
  Bản đồ Ấn Độ năm 600 TCN - trích từ trang http://en.wikipedia.org/wiki/Vaishali_(ancient_city)

A Lê Da 阿梨耶 là phiên âm tiếng Phạn arya अर्य với các dạng (phiên âm) khác như A Lý Dạ 阿哩夜, A Ly Dã 阿離耶, A Lê A 阿離野, A Lê Da 阿梨阿, A Lược 阿略, A Di 阿夷 ... Các dạng Da và Di là các âm a và ri ngạc cứng hóa.
…v.v…

Các trường hợp trên cho thấy khuynh hướng ngạc hóa đã hiện diện ngay trong tiếng Hán khi kí âm tiếng 
Phạn, dù rằng không phổ thông lắm.

2. Di dùng để kí âm

Chữ mi được dùng để kí âm các tên nước ngoài khi nhập vào tiếng Hán, như Messiah (chúa cứu thế, chúa độ thế, đấng Mê-si) trong Thánh Kinh7 đã từng được phiên là  迷詩所 Mê Thi Sở hay 彌師訶 Di Sư Ha vào thời Đường Thái Tông (năm 638); dạng phiên âm hiện nay là 瀰賽亞 (phồn thể) hay 赛亚 (giản thể). Phần sau cho thấy vài trường hợp thường gặp về chữ Di khi được dùng để kí âm trong kinh Phật.

2.1 A Di Đà Phật 阿彌陀佛

Câu niệm rất phổ thông trong các môn phái phật giáo Á Châu, dẫn tên đức Phật A Di Đà, cũng là kí âm từ tiếng Phạn Amitābha, अमिताभ. Chữ này thành lập từ tiền tố a- (không, dịch là vô ) và mita मित (đo lường, dịch là lượng ) với phụ tố ābhā (sáng, dịch là quang ). Do đó, Amitābha dịch là Vô Lượng Quang (Phật). Tuy nhiên, Amita- cũng là thành phần đầu của chữ Amitāyus với ayus आयुस् (đời sống dài, dịch là thọ ), cho nên A Di Đà Phật còn có nghĩa là Vô Lượng Thọ (Phật)8 hay A Di Đà Sưu Tư 阿彌陀廋斯 … Từ trục không gian, đức Phật (lý tưởng) là nguồn sáng vô cùng vô tận; từ trục thời gian tuổi thọ ngài cũng vô lượng vô biên. Các chữ Phạn ghép với amita như kratu (năng lượng) tạo thành amitakratu (năng lượng vô hạn/unbounded energy), guna (công đức) ghép với amita trở nên amitaguna (công đức vô lường), amitatman (trí óc vô lường) ...  Tuy câu niệm A Di Đà Phật bằng tiếng Phạn không hiện diện trong các kinh nguyên thủy của pháp môn Tịnh Độ9, nhưng phần đầu của Vô Lượng Thọ Kinh có câu Namo'mitābhāya (dấu phẩy chỉ cách đọc nhanh hay liên âm /sandhi) và Namo Amitābhāya được phát âm như sau

[nɐmoːɐmit̪ɑːbʱɑːjɐ]  ------- đọc theo tiếng Việt bây giờ gần như là  -----  ‘na mô a mita ba da’

2.2 Di Lặc 彌勒

Vị Phật (Bồ Tát) tương lai Di Lặc là phiên âm của tiếng Phạn Maitreya मैत्रेय Metteyya (Pali). Nguồn gốc của cụm từ Di Lặc trong Phật giáo Á Đông không đơn giản và có nhiều nghiên cứu nghiêm túc như của cố học giả Quý Tiện Lâm 季羨林 về khả năng nhập vào tiếng Hán trực tiếp hay gián tiếp (qua ngôn ngữ trung gian nào đó) - xem trang http://zh.wikipedia.org/wiki/%E5%AD%A3%E7%BE%A1%E6%9E%97

2.3 Di Đa La Ni

Di Đa La Ni là phiên âm tiếng Phạn Mitra मित्र , một cách dịch là thiện tri thức - hay là bằng hữu (bạn bè).

2.4 Lam Tì Ni 藍毗尼

Lam Tì Ni là nơi Ma Da phu nhân sinh ra đức Phật. Lam/Lâm Tì Ni là phiên âm của tiếng Phạn Lumbini लुम्बिनी, còn gọi là Lam Bì Ni , Lạp Phạt Ni , Lâm Vi Ni , Lưu Tì Ni 留毘尼 hay Long Di Ni 龍彌尼 ... Di là âm Bì ngạc hóa.

2.5 Tu Di 須彌

Núi Tu Di còn gọi là Tô Mê 蘇迷, Tô Mê Lâu San 蘇迷盧山, Di Lâu San 彌樓山 ... là trung tâm của mọi thế giới theo huyền thoại Ấn giáo và đã có trước thời đức Phật Tổ, dịch ý là Diệu Quang, Diệu Cao, An Minh, Thiện Tích, Thiện Cao ... Gốc Phạn ngữ sumeru với tiền tố su- (hàm ý tốt, tuyệt vời) hợp với tên chính thức là meru मेरु (tên núi). Để ý âm Mi ngạc hóa thành Di. Tu Di còn có thể chỉ núi Hy Mã Lạp Sơn.

2.6 Di Lan Đà 彌蘭陀

Trong lịch sử Phật giáo, vị vua nước Di Lan Đà10 ngộ đạo và quy y sau khi đàm đạo với Tỳ Kheo Nagasena. Di Lan Đà là phiên âm tiếng Phạn Milinda (cũng như tiếng Pali) so với các các phiên âm khác như Tất Lân Đà 畢鄰陀 hay Mân Lân Đà 旻鄰陀. Di Lan Đà còn gọi tắt là Di Lan.

2.7 Sa Di 沙彌

Người phái nam tuân theo 10 giới Sa Di còn gọi là 室羅摩拏洛迦 Thất La Ma Noa Lạc Già/Ca, phái nữ thì gọi là Sa Di Ni. Sa Di là phiên âm của tiếng Phạn sāmaṇera, còn gọi là Tiểu Hòa Thượng 小龢尚. Ở Nhật, người (nam) đi cạo tóc và có vợ con cũng gọi là Sa Di. Dịch ý là Vi Cầu Tịch 為求寂 , Tức Từ 息慈,  Cần Sách 懃策, Tức Chỉ Ác Hành Từ 即止惡行慈 ...

2.8 Xa Di 奢彌

Xa Di là phiên âm của tiếng Phạn Sa Mi, tên một loại cây, dịch là Câu Kỉ. Để ý hai âm Sa Di và Xa Di nếu không viết ra chữ (Phạn hay Hán) thì đọc giống nhau.

2.9 Ca/Già Thấp Di La 迦濕彌羅
Ca Thấp Di La là phiên âm của tiếng Phạn kâsmîra  काश्मीर, còn có những cách gọi như Yết Thấp Nhị La Quốc 羯濕弭羅國, Ca Diệp Di La Quốc 迦葉瀰/彌羅國, Ca Thất Mật Quốc 箇失蜜國 ... Các âm Di và Nhị đều là dạng ngạc cứng hóa của Mi . Đây là vùng đất Kashmir ở tây bắc Ấn Độ và hiện nay dưới quyn quản lý của ba nước Ấn Độ, Pakistan và Trung Quốc.
2.10 Di già 彌伽
Di già là phiên âm của tiếng Phạn megha मेघ nghĩa là mây. Sau dùng để gọi tên một vị Bồ Tát lương y11 có khả năng tạo ra mây (mưa) giúp chúng sinh (kinh Hoa Nghiêm).
…v.v…
Qua vài thí dụ trên, ta thấy chữ Di đã được dùng để kí âm (gần đúng) tiếng Phạn trong quá trình dịch kinh Phật. Các cách phiên âm trong thư tịch cổ TQ hay kinh Phật thường là những nguồn tài liệu dùng để phục nguyên âm cổ một cách chính xác.
3. Thay cho lời kết luận của bài viết
Trong giây phút chạy theo cái ngã, người viết chợt nhớ tới câu niệm

Nô mô Bụt

 


Đây là câu niệm Phật được ghi lại trong cuốn "Bụt Sử Lược Biên - Thiệt Truyện" in tại SàiGòn năm 1913 - Imprimerie F. H. Schneider12, phản ánh một phần nào âm đọc và câu niệm ở miền Nam VN vào đầu thế kỷ XX. Các câu niệm Phật thay đổi theo môn phái (Tịnh Độ, Đại Thừa, Tiểu Thừa, Thiền Tông ...), không gian (địa phương/phương ngữ, mở rộng hơn - Nhật, Hàn, VN, TQ ...), thời gian (âm thượng cổ, trung cổ hay hiện tại) và ngay cả cá nhân người niệm. Học giả Huình Tịnh Của trong "Đại Nam Quấc Âm Tự Vị" (1896) ghi câu niệm này là Nam mô phật, hơi khác với Jean Bonet trong "Dictionnaire Annamite-Francais" (1899) ghi là Nam vô phật; tất cả các cách đọc trên chứa nhiều thông tin quí giá (quán âm) cho nên khi muốn thay đổi một cách đọc (câu niệm) ta cũng nên cẩn thận cân nhắc những hậu quả có thể xẩy ra. Người viết mong rằng các dữ kiện và bàn luận tóm tắt trong phần này sẽ là động lực kích thích một số bạn đọc tra cứu thêm, và chắc chắn sẽ tìm ra nhiều điều thú vị khác13.

4. Phụ chú và phê bình thêm

Bạn đọc có thể tham khảo những ý kiến cùng trao đổi về vấn đề A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật trên mạng, có nhiều trang liên hệ nhưng đại khái là
...v.v…

Các dạng biến âm trong thuật ngữ Phật giáo là một nguồn dữ kiện phong phú để phục nguyên âm cổ, nhất là khi so sánh với tiếng Phạn, một loại tử ngữ với hệ thống âm thanh rất ổn định; bạn đọc có thể tham khảo loạt bài "Bụt hay Phật?" về các dữ kiện liên hệ, như trên các trang mạng http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=2125:bt-hay-pht-phn-3&catid=71:ngon-ng-hc&Itemid=107  hay  http://www.chuaphatgiaovietnam.com/PDF/TSPH_20_21_All.pdf ...v.v...

Vấn đề đặt ra về các cách đọc khác nhau của Mi và Di, theo thiển ý người viết, còn liên hệ đến khái niệm Tam Nghiệp (Thân-Khẩu-Ý) hay tương ứng với mô hình tam giác ngữ nghĩa (Triangle of reference/meaning) của Ogden và Richard: ký hiệu (từ/word), sự vật được chỉ (referent) và khái niệm về sự vật được chỉ (thought); hay theo Ferdinand de Saussure gồm có dấu hiệu (sign), âm thanh (signifier) và ý tưởng (khái niệm, signified). Đây là những vấn đề nên được tra cứu thêm nhưng không thuộc phạm vì bài viết này.  Ngoài ra, có những câu chuyện liên hệ đến Mi và Di như

"Nguyên nhân của sai lầm đó là do thời nhà Nguyễn có 1 vị công chúa tên là Công tằng Tôn Nữ Thị MI, nên để tránh HÚY nhà chùa phải đọc chại thành DI. Cứ vậy rồi thành quen, các Thầy trong nước không được học hành chu đáo nên cứ tưởng là đúng" trích từ trang http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-vn/su-kien-van-de/8965-Tu-A-Mi-Da-Phat-lai-nghi-them-ve-van-nan-cua-Phat-giao-VN.html

Trong tự điển Taberd (1838, thật ra phần chính là chép lại từ bản thảo soạn xong vào tháng 6/1773), các cụm danh từ Di Lặc, Di Đà đã hiện diện, cũng như trước đó hơn trăm năm tự điển Việt Bồ La (1651) cũng ghi nhận rõ ràng hai âm khác biệt dỉ mỉ  (và các âm diện, dân, diệt, di ...) - nên khả năng kiêng húy của công chúa nhà Nguyễn (nếu có) tên MI (đổi thành DI) rất khó xẩy ra.

1) Thích Trí Tịnh (2006) "Hương Sen Vạn Đức" NXB 2006 - xem chi tiết trên mạng http://www.quangduc.com/coban-2/283huongsen.html
2) Terry Crowley (1987) "An introduction to Historical Linguistics" NXB University of Papua New Guinea Press, University of the South Pacific. Tái bản lần thứ 4 với GS Claire Bowern (NXB Oxford University Press, 2009).
3) Một dạng chữ Nôm dài dựa và chữ duệ làm thành phần hài thanh: ‘tóc dài làm biếng búi tròn ... ngực ấy dài rộng’  (Phật Thuyết Đại Báo Ân Trọng Kinh), ‘khôn biết lòng người vắn dài’ (Quốc Âm Thi Tập, Nguyễn Trãi), có khi thêm bộ trường để chỉ nghĩa. Điều này cho thấy hai âm dàidi (nếu cùng gốc) đã đọc khác nhau xa vào thế kỷ XIV, XV cũng như chúng đã hiện diện rất lâu đời trong tiếng Việt. Chữ đầy (full/tiếng Anh mãn HV, nghĩa cổ của di) được Morris Swadesh liệt kê trong bảng từ căn bản. Thuyết Văn Giải Tự biên hiệu 6038 ghi chữ hiếm mi (Unicode 957E) trong bộ trường nghĩa là

镾,[ 武夷切  ] 久長也。 從長爾聲
Mi/Di [vũ di thiết ]cửu trường dãTùng trường nhĩ thanh

5) xem chi tiết về Duy Ma Cật trang http://news.sina.com/c/2008-04-01/120215269365.shtml . Vimalakīrti có các nghĩa không bụi bậm (không dơ bẩn, spotless), trong trẻo (transparent), trong sáng (bright), tinh khiết (pure), tên một vị bồ tát ... Cũng như các từ Phạn (cổ) khác, thường có phạm trù nghĩa rất rộng - xem chi tiết trang http://dsal.uchicago.edu/cgi-bin/romadict.pl?query=Vimala&display=utf8&table=macdonell
6) Xem thêm chi tiết về thành Vaisali trang http://en.wikipedia.org/wiki/Vaishali_(ancient_city)
7) xem thêm chi tiết về giai đoạn đầu (có văn bản ghi nhận/written records) khi các nhà truyền giáo (đạo Thiên Chúa) đến Trường An, trang http://dictionary.editme.com/Alopen
8) Theo Vô Lượng Thọ Kinh thì A Di Đà (Phật) có 13 danh hiệu

《无量寿经》云:是故无量寿佛号无量光佛、无边光佛、无碍光佛、无对光佛、焰王光佛、清净光佛、欢喜光佛、智慧光佛、不断光佛、难思光佛、、无称光佛、超日月光佛 <> vân “thị cố Vô Lượng Thọ Phật Hiệu Vô Lượng Quang PhậtVô Biên Quang PhậtVô Ngại Quang PhậtVô Đối Quang PhậtDiễm Vương Quang PhậtThanh Tịnh Quang PhậtHoan Hỉ Quang PhậtTrí Tuệ Quang PhậtBất Đoạn Quang PhậtNan Tư Quang PhậtVô Xưng Quang PhậtSiêu Nhật Nguyệt Quang Phật; còn gọi là Cam Lộ 甘露 Phật (Cam Lộ Vương) theo Mật Giáo; vì đức Phật A Di Đà ở Tây phương (Cực Lạc Quốc) nên còn gọi là Tây Phật …v.v…

9) xem bàn luận về các dạng niệm Phật ở các nước và nguồn gốc của chúng trang này http://en.wikipedia.org/wiki/Nianfo#cite_note-inf_life_sutra-0 . Nguồn gốc của câu niệm Amitabha cũng có vấn đề: nhà nghiên cứu tiếng Phạn và Tịnh Độ tông, TS Địch Nguyên Vân Lai 荻原雲來 (Ogihara Unrai 1869~1937), đưa ra giả thuyết là tiếng Phạn Amitabha có gốc từ kinh Vệ Đà của Ấn Độ giáo. Amita hay Amitaya (vô lường, vô hạn) là một trong 108 tên gọi thần Ganesha (dễ nhận vì có đầu hình voi) của Ấn Độ giáo. Nếu có liên hệ thì cũng không đáng ngạc nhiên cho lắm vì đức Phật tổ trong kinh Ấn Độ giáo là hóa thân/Avatar (của thần Visnu) thứ 24 trong 25 vị Phật; ngoài ra các khái niệm luân hồi, tái sinh, nhân quả đã hiện diện trước thời đức Phật tổ (đã có trong Ấn Độ giáo) - có thể đây là một nguyên nhân Phật giáo không thể phát triển ngay tại Ấn Độ ... Xem các bàn luận chi tiết trang http://www.lien-hoa.net/nguyen%20ngu%20a%20di%20da.pdf  hay http://www.phatgiaovnn.com/upload1/bz/showthread.php?p=8014
10) xem thêm chi tiết từ trang Phật Quang Đại Từ Điển trên mạng http://etext.fgs.org.tw/etext6/search-1-detail.asp?DINDEX=18943&DTITLE=彌蘭陀王
11) trích từ trang mạng Phật Giáo Từ Điển http://fodian.goodweb.cn/dict_read1.asp?ID=20856
12) xem bản điện tử cuốn "Bụt Sử Lược Biên - Thiệt Truyện" trang http://www.trangnhahoaihuong.com/files/ButSuLuocBien_quyen_1.pdf . Cách dùng Bụt (thay vì Phật) đáng chú ý: như Bụt đạo, Bụt chí tôn, Nô mô Cù Đàm Bụt ...
13) Thí dụ như câu niệm (thần chú, mantra), rất phổ thông trong Phật giáo Tây Tạng, Úm Ma Ni Bát Mê Hồng 嚤呢叭𡁠 có khi đọc là Án Ma Ni Bát Mê Hồng, Úm Ma Ni Bát Di Hồng, Úm Ma Ni Bát Rị Hồng … Đây là các cách phiên âm tiếng Phạn मणि पद्मे हूँoṃ maṇi padme hūṃ và đọc theo tiếng Vit. Để ý Mê 𡁠 có thành phần hài thanh là nhĩ , có các biến âm là Di và Rị, so với Di trong A Di Đà Phật ...v.v...

Nguyễn Cung Thông