Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Lạc Việt là Nước Việt và là Bách Việt


Thứ hai 30/07/2012 12:00:00 (GMT +7)
LẠC VIỆT NGHĨA LÀ NƯỚC VIỆT VÀ CŨNG NGHĨA LÀ BÁCH VIỆT
Tác giả: Lãn Miên
Nguồn: Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương
Hãy xem từ cái Nôi khái niệm “Sông”:

Krông = Kông = Sông = Tông 宗 = Dòng = Dõng 涌 = Giang 江 = Kang = Kênh = Kinh 泾= Linh 泠 = Lối = Lộ 潞 = Lạc 洛= Lạch = =Rạch = Mạch 脈 = Ngách = Ngòi = Hói = Hà 河 = Hẻm = Hạng 巷 = Cảng 港 =Máng = Mương = Mai 脈 = Phai = Khai 開 = Khơi = =Khe = Khê 溪 = Khoỏng = Khuổi = Suối = Xuôi = Xuyên 川= Quyến 圳 = Tuyền 泉

Chú thích: Kông là Sông, Mê Kông bổn nghĩa là Mẹ Sông.Tông 宗 bổn nghĩa là một nhánh chảy, sau dùng cho từ Tông Tộc là Dòng Họ. Dõng 涌 thường dùng chỉ dòng chảy bao quanh làm bảo vệ, như Dõng quanh thành Phiên Ngung. Kang 江 là tiếng Triều Châu đọc chữ Giang 江. Lộ 潞 là dòng nước, từ Lộ Thủy 潞 水, Lộ Giang 潞 江 sau thành tên riêng của hai con sông ở TQ. Kinh Lạc là những dòng chảy, được dùng thành từ chuyên môn chỉ hệ Kinh Lạc trong cơ thể. Linh 泠 sau được dùng riêng với ý là mát rượi. Mai 脈 là tiếng Hán đọc chữ Mạch 脈. Phai là tiếng Tày chỉ con mương, từ đôi Mương Phai, Mương Máng chỉ hệ thống thủy lợi. Khoỏng là tiếng Lào chỉ con Sông, Mè Khoỏng là Mê Kông, là Mẹ Sông, cũng còn gọi là Mè Nặm Khoỏng. Quyến 圳 bổn nghĩa là dòng nước (giải thích của học giả TQ), Thâm Quyến 深 圳 ở tỉnh Quảng Đông vốn là một làng chài, ở đó có dòng nước sâu nên mang tên Thâm Quyến. 

Lạc 洛 là dòng sông, nên nội dung của nó là Lắm Nác, QT Lướt thì “Lắm Nác” = Lạc, QT Tơi-Rỡi thì Nác = Lạc, đều đúng cả. Chữ nho biểu ý viết chữ Lạc 洛 bằng chữ Nước (bộ Thủy氵) và chữ Các 各 ghép lại. Thủa xưa chữ nho viết dòng dọc thì thứ tự chữ viết từ trên xuống dưới còn thứ tự dòng xếp từ phải sang trái, nếu viết dòng ngang thì thứ tự chữ cũng xếp từ phải sang trái. Nhìn vào chữ Lạc 洛 xếp bằng chữ Các 各 bên phải, chữ Nước 氵 bên trái, đọc từ phải sang trái thì phải đọc là Các Nước. Còn nếu nhìn từ trái sang phải thì là nhìn lướt “Nước 氵 Các 各” = Nác = Lạc 洛. Như vậy đúng như nội dung của nó là Lạc 洛. Cho nên từ ghép “Lạc” Việt = “Lắm Nác” Việt = “Trăm Nác” Việt = Bách 百 Việt 越. Từ Bách mang nghĩa là nhiều, dùng cho số học thì nó chỉ con số cụ thể 100. Bách mang nghĩa là nhiều vì từ nguyên của nó là do từ Prăm của ngôn ngữ Môn - Khơ Me: Prăm = Năm = Lắm = Trăm = Bẵm = Bẫm = Bách 百 ( Trăm Bẵm = Chăm Bẵm nghĩa là lo vun vén cho nhiều, Vớ Bẫm nghĩa là vơ vét được nhiều). Sở dĩ từ Prăm diễn biến ý thành “nhiều” vì nó là con sô 5, là số lớn nhất trong hệ đếm ngũ phân của tiếng Khơ Me ( 1-2-3-4-5 là “Muôi” – “Tê” – “Pây” – “Buôn” – “Prăm”, sau đó đếm quay lại “Prăm Muôi” là 6 ). Lạc 洛 Việt 越 nghĩa là Bách 百 Việt 越. Riêng chữ Lạc 洛 còn có nghĩa là Sông. Cũng có chữ Lạc 駱 gồm ghép Mã 馬 và Các 各, đọc từ phải sang trái là lướt “Các 各 Mã 馬” = Cả, để chỉ cụ thể dòng sông, dòng sông đó là dòng Sông Cả, nho viết chữ Cả này là chữ Cơ 姬 . Sông Cả = Sông Cái = Sông Cơ. (Chữ Cơ 姬 này hoàn toàn biểu ý, không tá âm nào cả mà lại đọc là Cơ. Chữ Cơ 姬 này ghép bằng chữ Nữ 女 và chữ Thần 臣, mang nghĩa là Nữ Thần, đọc lướt thì “Nữ Thần” = Nôm = Nam. Mê Kông còn gọi là Mê Nam hay Mè Nặm . Thuyết Văn Giải Tự hướng dẫn đọc chữ Cơ là lướt “Cư 居 Chi 之” = Kỳ ; giải nghĩa: Hoàng Đế cư Cơ thủy, dĩ vi tính 黃 帝 居 姬 水,以 爲 姓 nghĩa là Hoàng Đế sống ở sông Cơ nên lấy Cơ làm họ. Đế là Nước, chữ Hoàng Đế tức là Đế Vàng = Nước Vuông = Nước Văn, tức nước Văn Lang). Sông là Mẹ. Mẹ = U. U Cơ = Âu Cơ 歐 姬. Đó là nguồn gốc của từ Mẹ Âu Cơ, là từ nền nông nghiệp lúa nước ven các dòng sông. Thời nguyên sơ là mẫu hệ nên có tục thờ “Mẹ Âu” = Mẫu 母.

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012

Sứ điệp trống đồng


1. Sức nặng của từ trống

Sứ điệp trống đồng nằm ngay trong chữ Trống.

Trống nghĩa là chi mà lại chơi vai trò quan trọng quá thế? Thưa trống theo nghĩa thông thường là rỗng, ở đây có nghĩa là để trống một mặt không bịt đáy, không bưng cả hai đầu. Loại trống bít bùng này phát xuất từ miền Bắc du mục gọi là cao thường được dùng trong lúc đánh giặc. Khi truyền vào miền Việt tộc ban đầu chỉ được dùng trong việc kiện cáo (H.46).
(H.46: Trống bịt kín)

Ngược lại trống xuất hiện từ Việt tộc chỉ thị đức trung ương gọi là Tham lương tức sự thông hội giữa trời đất người. Để sự thông hội có điều kiện hiện thực nơi người thì tâm hồn cần phải để trống rỗng. Vì thế lấy từ Trống đặt tên cho hiện vật mà Tàu kêu là cổ là cao. Ngoài nghĩa thông thường từ Trống còn hàm ngụ một ý rất sâu xa quan trọng nữa, nhưng trước khi đi tìm ý nghĩa sâu xa cần xét rộng xem có phải vì tình cờ mà cái Tàu gọi là cổ được Việt đặt tên là Trống, lúc ấy ta mới thấy tên Trống không là một tên cầu âu, nhưng là một tên đã được lựa chọn nằm trong môi sinh tinh thần ứng hợp như được chứng tỏ bằng nhiều vật dụng khác cũng để trống một đầu. Sau đây là thí dụ:

Cái trống Bộc của Bộc Việt (tức Lạc Việt) không có đáy.

Đàn bầu không có đáy.

Trống quân còn gọi là trống đất cũng để một mặt trống.

Bên Tàu cổ đại có thứ nhạc khí quan trọng dùng để mở đầu các bản nhạc cũng để trống một mặt, quen gọi là cái Chúc nhưng trước nữa kêu là cái Không (xem Kinh Thi, Couvreur p.430). Vậy mà trống cũng giữ vai trò mở đầu: mọi hội hè đình đám Việt bao giờ cũng khai mạc bằng ba hồi chín tiếng trống, nên cũng chơi vai trò giống cái Không là khai mở. Cả hai đều mang tên theo chức năng căn bản: một đàng Trống, một đàng Không.

Lại còn vụ trầu không cũng trở nên đối tượng tôn kính được rước trọng thể như thấy ở thôn Tam Đảo, xã Tam Ninh đã rước trầu không vào ngày chính trong tuần kinh Thánh Dóng. Tại sao trầu lại được như thế mà cau với vôi thì không? Chắc là chữ không trong bộ chữ “trầu không” có liên hệ quan trọng đó: chính chữ không đem lại cho trầu vai trò mở đầu câu chuyện, cũng như là vai chính trong truyện trầu cau. (*)

(*) Trong truyện Sorơden cũng có truyện Trầu phép và dân Ca tu cũng có truyện đề cao trầu như vậy.

Xem thế đủ biết chữ Trống không phải vô tình mà là hữu ý đặt cho cái trống. Trống vừa là danh từ vừa là động từ: cái Trống (danh từ) chỉ việc quan trọng hơn hết là để Trống tâm hồn. Đó là đức trung ương bao trùm mọi đức khác, nên lấy từ Trống đặt cho hiện vật có sự mạng mở đầu mọi cuộc lễ hội.

Điều này còn được kiện chứng do cách đánh trống và tang trống.

Trước hết là tang trống với quy mô to lớn gồm ba phần là tang, thân, chân. Theo lối nhìn của nhạc sĩ:

Tang giữ vai trò chứa đựng âm thanh

Thân cộng hưởng

Chân truyền âm

Ngược lại với con mắt triết ba phần trên rõ rệt nói lên tam tài trời, đất, người mà điều quan trọng là cả ba thông hội với nhau để làm thành một thể, như sau này Nho nói “thiên (địa) nhân tương dữ” và được biểu thị bằng nhiều vật như cái cô, có ba phần thông nhau. về sau người ta mất ý thức đem bịt kín đường thông hội giữa ba phần khiến Khổng Tử than rằng: “Cô bất cô: cô tai! cô tai!” nghĩa là cô mà thiếu thông hội (cô) thì gọi là cô cái nỗi gì (chữ Cô cũng giống như chữ trống, vừa là danh từ cô, vừa là động từ Cô viết hoa để chỉ thông  hội).
(H.47: Hình cái cô)

Theo câu đó ta có thể nhại rằng trống mà bịt kín thì còn Trống ở đâu, Trống ở đâu: “Trống bất Trống: Trống tai! Trống tai!”

Sự thông hội này còn thấy nổi bật hơn nữa khi xét tới các lối đánh trống.

- Kiểu đánh được chạm trên mặt trống là để cái trống trên cọc cằm thông xuống đất. Chú ý chữ Thông là để nói lên rằng cọc không chỉ có ý nâng trống mà còn chơi vai trò thông hội với đất.

- Lối khác thì đánh để trống trên mặt nước cũng hàm ý thông đạt với đất với nước.

- Hoặc lối đánh bằng chày rỗng có chứa nước bên trong (ống tre), hoặc khi đánh thì chao vật có hình phễu dưới trống, như còn thấy nơi người Dayak ở đảo Borneo.
(H.48: “Doanh Cổ”: trống có lỗ thông giữa)

Lối biểu lộ rõ nhất sự thông hội cộng hưởng truyền âm là của người Mường gọi là “Chàm Thau” đại để như sau:

Trống được treo trên 4 cọc cách mặt đất 20 phân, bên dưới có đào lỗ tròn sâu 30 phân. Các người đánh gồm một người cái và nhiều người con (theo lối múa trống của Việt Nam một người cái 4 người con, hoặc 4 cặp người con). Các người con đánh nhịp chung quanh vành trống, người cái đánh khắp mặt trống, từ trong trở ra có độ trầm bổng khác nhau, đánh được bài bản. Lối đánh với chày đứng trên đây giống lối giã gạo chày đứng mà người Mường kêu là “Chàm đuống” (chàm là đâm) nên đánh trống kêu là đâm trống: “Chàm thau”.

Người Mường nói rằng đặt trống đúng cách tiếng sẽ vang tới cả hàng huyện. Nếu hỏi thế nào là cách đặt trống đúng cách, ta có thể tìm câu thưa hàm ngụ trong cách họ treo trống cách đất 20 phân, đào lỗ tròn sâu xuống 30 phân: 30 phân chỉ ba trời (tham thiên), 20 phân chỉ hai đất (lưỡng địa). Đó là cách hiện thực tác động giao thoa giữa hai chỉ trời đất, hoặc đó là cách cụ thể hóa câu:

Đồng thanh (trời) tương ứng,

Đồng khí (đất) tương cầu.

Lối thưa bằng số trên (2 trời 3 đất) có thể giải rộng bằng ẩn dụ được ghi lại trong Tiền Hán Thư (quyển 76 tr.101) về cửa sấm của thành Cối Kê kinh đô Việt Chiết Giang, nơi ấy có treo cái trống lớn, khi nào con Bạch Hạc bay vào cửa thành mà chạm phải thì tiếng kêu vang tới Lạc Dương. Đó là lối đánh trống đúng cách. Trống phải Trống, nói bóng là hạc phải trở nên trắng, phải trở nên “bạch hạc”, mà bạch hạc là hình bóng tiên, tức những vị đã giũ sạch bụi trần, tâm hồn thanh thoát thì sẽ đồng hóa với vũ trụ: “ngô tâm tiện thị vũ trụ” chỉ thị bằng số cơ cấu “3-2, tham thiên lưỡng địa”.

2. Ý sâu

Chỉ kể sơ qua như trên đã thấy việc dùng chữ trống để đặt tên cho hiện vật không phải do ngẫu hừng mà là một sự chọn lựa cực kỳ tế vi sau biết bao suy tư thâm trầm, lúc ấy chữ Trống có nghĩa là: tâm hồn con người phải được Trống trơn không vương vấn những cái ngãng trở việc đức trời đức đất giao hội, kẻo lấp mất cửa thông lưu của luồng sống và sáng vũ trụ, không cho con người đạt được chiều kích đại ngã tâm linh của mình. Những vấn vương ấy, những trở ngại ấy có vô số nhưng để tiện luận bàn nên được giản lược vào hai mục là bái vật và ý hệ: cả hai đều quá vụ hình thể nên chắn mất đường thông cù. Bái vật vụ hình kiểu thần thoại. Ý hệ vụ hình kiểu bám ý tượng sự vật: cả hai đều là những cái làm ngổn ngang tâm hồn khiến trời đất hết có thể giao thoa nên không có giao chỉ.

Muốn đạt đợt Giao Chỉ tâm hồn phải trống rỗng, phải bỏ hết những cái bé nhỏ đó, nói cụ thể là những ý tưởng căm thù, ghen ghét, những tin tưởng dị đoan bóp nghẹt cuộc sống đều phải xua khỏi lòng để tâm hồn trở nên trống rỗng. Chính sự trống rỗng đó mới linh nghiệm.
Nó giống với con Zêrô thoạt xem tưởng vô ích nhưng chính nhờ biết dùng nó mà toán học đi được những bước khổng lồ. Hy Lạp rất giỏi hình học nhưng không biết vận dụng con zêrô nên không tiến bằng toán Ấn Độ. (*)

(*) Theo ông Berthelot (trong Astro 363) Ấn Độ học được con zêrô với Maya. Vậy giữa Maya với tộc Việt có cùng một cơ cấu văn hóa, nên có thể ngờ rằng con Zêrô đã xuất hiện trong Việt tộc từ lâu

Xét thế thì con zêrô có họ với Trống đồng, cũng như ba vĩ tích của Lạc Long Quân ví được với ba hồi trống tâm linh đã được bố Lạc khua lên để mở hội Văn Lang Quốc tức lập ra một nước mà con người (lang) có thể đạt đợt văn (chữ Văn hàm ngụ trời đất giao thoa).
Đó là khía cạnh tiêu cực, còn tích cực là cái chi không thể nói ra, vì nói ra là đã bị quy định, có mốc giới, vì thế triết lý Đông phương luôn luôn nhấn mạnh đến chữ Không: Nho thì nhắm đặt lý tưởng cùng cực diệu huyền nơi “vô thanh, vô xú” làm cùng.

Lão nói “Chí hư cực thủ tĩnh đốc”.

Phật thì “không không sắc sắc” với “thái hư”.

Cả ba đều nhấn trên vô, thái hư, tĩnh đốc.

Lê Quý Đôn đã tóm ý đó vào mấy câu sau:
“Trời lấy trống không làm đạo,
Đất lấy im lặng làm đạo,
Người có trống không và yên lặng mới với đạo trời đất.
Vì trống không khắc được tự sáng sủa.
Yên lặng khắc được tự yên định.
Lòng có sáng sủa, tình cờ vững định, mới thành công trong việc cùng trời đất tham dự vào việc giáo dưỡng thiên hạ” (hay việc giáo dưỡng thiên hạ nằm trong chỗ đó).

“Thiên dĩ hư vi đạo.
Địa dĩ tĩnh vi đạo.
Phương hợp thiên địa chi đạo.
Cái hư tắc tự minh.
Tĩnh tắc tự định.
Tâm minh định lý.
Tham tán chí công.
Ư thị hồ tại.
(Vân Đài tr.35)  

Đôi khi có nói kiểu tích cực như “giếng thiêng”, “mạch cam tuyền”, trùng dương chữa muôn khả thể, tâm linh… cũng chỉ là tiêu biểu. Tuy nhiên trong các cách nói đó câu “trời tròn đất vuông” làm nổi lên khá rõ 2 chiều trái ngược: một đàng tròn theo nghĩa không có mốc giới hạn cục, ngược với đất vuông có mốc giới cõi bờ. Chính hai chiều trái ngược không và có đó giao thoa làm nên đạo trời đất, vũ trụ, con người.

3. Chiều kích vô biên nơi con người

Nói cụ thể vào người thì con người nhỏ bé cục hạn lại mang trong mình chiều kích vô biên. Đó là kết luận tiên thiên: còn hậu thiên xin hỏi có bằng chứng nào cho thấy như vậy chăng? Thưa có, nó được biểu lộ cách gián tiếp qua lòng ham thích tự do mà đã là người ai cũng cảm thấy sự mong muốn tuy rộng lớn khác nhau tuỳ hoàn cảnh, nhưng còn tự do nào đó thì ai cũng mơ ước một cách thâm sâu. Tự do là chi? Thưa tiêu cực là thoát khỏi ràng buộc, thoát khỏi giới mốc. Thoát nhiều tự do nhiều. Nhưng không bao giờ thoát trọn vẹn vì bản chất con người là kết hợp bởi trời và đất, nên ngoài trời tròn lại còn đất vuông là các giới mốc là điều cần để làm nên con người tiểu ngã cá thể. Vì vậy giới mốc cũng cần cho sự sống y như Trời vậy. Tuy nhiên nếu giới mốc hạn chế quá đáng tự do thì lúc ấy nảy sinh những mơ ước cũng lại phát xuất từ chiều kích vô biên trong mình, đó là mơ ước vượt qua những giới mốc thường được biểu lộ trong các truyện thần tiên, hô phong hoán vũ, độn thổ đằng vân được mọi người xưa yêu thích một cách say mê vì nó bù lại phần nào nền tự do chính thực đang bị hoàn cảnh cướp mất, hoặc những vươn bay trong bầu khí tâm linh man mác chưa hiện thực được. Người thời mới quá duy lý không nhận ra điều đó nên kết án cho là hoang đường mộng tưởng… Nhưng rồi những điều “hoang đường” đó lại xuất hiện dưới nhiều hình thức khác như các phim khoa học giả tưởng, các show Wonder Woman, Bionic Woman, Six Million Dollar Man, Superman… cũng được mọi người ưa thích, vì chúng đáp ứng một nhu yếu thâm sâu không được đáp ứng, không được dưỡng nuôi, đó là chiều kích vô biên trong con người, nên những truyện giả tưởng kia giúp cho con người khuây khỏa lòng đói khát cái vô biên.

Chính trong chiều hướng đó các hình thức bái vật với những tin tưởng vu vơ cuồng nhiệt, cũng như những ý niệm xa thực tế có cơ nảy nở và trở nên tai hại tự lúc con người đặt trọn vẹn tin tưởng vào chúng, phong chúng lên tòa cao lẽ ra phải dành cho vô biên, để chúng nắm trọn quyền định đoạt, từ đấy chúng chắn mất đường thông cù không còn cho đức trời nuôi dưỡng đức đất (nói cụ thể theo tâm lý là không để cho bản năng tiềm thức hướng dẫn lương tri lương năng). Thế là con người bị cơn đói khát sự vô biên, không tài nào lấp nổi được. Đáp ứng sao được vì bái vật cũng như ý hệ đều vụ vào hình tượng đã hữu hạn lại còn kết hợp với nhau thành bức tường cứng đơ, không để một tia vô biên nào xuất hiện lọt qua, trên bàn ăn toàn đồ hữu hạn: thần thoại cũng như ý hệ đều là những đồ có mốc giới bé nhỏ, càng kết nạp, càng xây đắp vững lại càng là duy vật đặc sệt, làm sao nuôi nổi con người vốn mang trong mình chiều kích vô biên.

Nhìn sơ qua lịch sử nhân loại ta đếm được có tới trăm ngàn tôn giáo cũng như thuyết lý đã đề ra mà vẫn không làm con người no thỏa, còn gây nhiều tệ hại như các vụ đốt trẻ tế thần, thiêu sống bà góa, giết hàng bao nhân mang, trong các cuộc thánh chiến. Vậy mà con người cứ còn đổ xô đến các tôn giáo bái vật thì đấy là dấu tỏ rõ trong con người có chiều kích vô biên và chiều kích đó chưa được nuôi dưỡng. Thế là nhu yếu thâm sâu nhất làm nên con người lại bị bỏ đói, chính vì thiếu mất chữ Trống vậy.

Ngoài các tai họa do bái vật và ý hệ một tai họa khác cũng do sự đói khát cái vô biên là lòng tham vô đáy.

4. Nhân dục vô nhai

Đó chính là mẹ đẻ ra mọi tai ương, mà nguy hiểm hơn hết là tai họa chuyên chế tức lòng ham làm chủ không những tài vật mà luôn cả con người. Căn nguyên ở tại lòng người có chỗ vô biên mà tài vật lại hữu hạn không đủ sức làm no thỏa, nên hướng lòng khát cái vô biên sang con người, gây ra các tai họa tranh đấu, cướp đoạt, chuyên chế. Đúng là do thiếu Trống rỗng, nên không còn biết dùng con người làm chuẩn như trong luật “giao chỉ” bao giờ cũng lấy người hay cuộc sống trong con người làm chuẩn cho sự thu góp, nói bóng là xứ Nghệ, Nghệ An. Chữ Nghệ sơ nguyên viết bằng hai nét trời đất giao hội, tứ c cuộc sống con người phải là một nghệ thuật: “nghệ thuật sống”. Nghệ thuật là chi nếu không dùng cái hữu hạn để biểu lộ cái vô biên. Ap dụng vào con người vào nghệ thuật sống là “lấy tâm trùm cảnh. Không để cảnh trùm tâm”. Cảnh là con người tiểu ngã với các sự bé nhỏ hữu hạn của nó như tài vật… tất cả cần được bao trùm bởi Đại ngã tâm linh mới giữ được thế quân bình. Cho nên nói được là sứ mạng con người, cứu cánh con người là nuôi dưỡng cho Đại ngã lớn lên, lớn mãi cho tới độ trở thành cái tâm của vũ trụ (vũ trụ chi tâm): khi nào đạt được trình độ đó thì tâm mình ví như mạch nước cam tuyền chảy ra tràn ngập những nước ngọt làm bằng hạnh phúc, an nhiên bao lấy tiểu ngã (vuông) tức tiểu ngã cũng được hạnh phúc sống trong no đủ, an khang: chỉ có các đó mới nuôi dưỡng được chiều kích vô biên đích thực. Vô biên phải được nuôi dưỡng bằng vô biên. Vì con người nằm trong hữu hạn nên cần đến nghệ thuật siêu vượt. Nói là nghệ thuật vì hai chiều trái ngược cần đến tài pha độ đúng liều lượng giữa tròn vuông: phải có tài như nghệ sĩ mới pha nổi. Vì nó rất uyển chuyển tế vi.

Liều lượng đó nói Nôm là “vài ba”, nói Nho là “tham lưỡng”, nói theo tiêu chuẩn là “chí trung hòa”. Đây là điều cần giải rộng. Ngạn ngữ triết nói, “nội hàm càng nhỏ, ngoại hàm càng to” nghĩa là càng vào nhỏ bao nhiêu, sức bao quát bên ngoài lại càng mở rộng ra bấy nhiêu, vào cùng cực đến chỗ trống trơn (vô thanh vô xú) thì sức bao quát gồm thâu vũ trụ. Hai đàng liên đới nhau cách cơ thể. Nho giáo đã công thức thành 3 tiếng chí trung hòa: hễ vào tới chí trung (vô thanh vô xú) thì hòa sẽ bao trùm vũ trụ gọi là thái hòa. Đấy là câu chỉ tỏ hướng tiến phải theo, nó đi trái ngược lối thường: tức muốn thâu vào nhiều thì phải buông ra. Buông tài vật bằng lòng quảng đại. Nhưng nhất là buông những ý nghĩ hẹp hòi, những tin tưởng tai dị, những tình cảm tiêu cực như óan hận, thù ghét, ghen tương, tất cả đều phải xóa bỏ. Xóa bỏ nhiều là Trống rỗng nhiều. Trống rồng nhiều là thâu nhận nhiều. Trống đến độ vô thanh vô xú sẽ thâu được vô biên, thâu được cả vũ trụ, đến độ nói được là vạn vật có đủ nơi minh. Nói khác khi đã xả bỏ đến cùng tột thì đức trời vô biên sẽ tràn lên nuôi dưỡng tâm hồn, lúc ấy lòng tự nhiên cảm thấy an nhiên thanh thoát, hết còn bám víu tài vật, mà chỉ cần vật chất vừa đủ cho cái thân xác hữu hạn. Ngược lại không đạt độ Trống rỗng thì chiếu kích vô biên không được nuôi dưỡng, nên đói hoài: nói đúng là đói cái vô biên, rồi không nhận ra lại tưởng phải có nhiều mới đủ. Thế là khởi đầu thâu đoạt, càng đoạt càng ham. Hết đoạt của thì đoạt đến người, thế là dẫn đến tai họa bên hữu bên vô: một vài người có, bảy tám người không. Đã không có là nô lệ, tuy danh hiệu có khác: khi thì vua, khi thì tư tế thượng phẩm, dồn cả hai lại một thành vua thần, danh tuy khác nhưng hậu quả là một: vẫn bên chủ bên nô, khổ luỵ ngút trời.

Về văn hóa là xa lìa đại chúng, trở nên trừu tượng, lấy định mệnh làm chuẩn, lấy bi kịch làm sở trường. Thí dụ điển hình là Hy Lạp và An Độ, nơi đây có những thần thoại lớn lao theo nghĩa thần nắm trọn chủ quyền, con người chỉ còn là trò chơi của thần minh, của tất mệnh. Nên hiểu rằng đề cao thần minh kiểu đó chính là dọn đường cho các chúa chuyên chế thống trị. Tất mệnh hàm ý rằng nô lệ là do trời đất, hoặc do lỗi của mình đã phạm trong những kiếp trước chớ trông mong thoát ly, đừng thử thách vô ích.

5. Ca vũ

Trên đây là ít nét đại cương về nghệ thuật sống như được ghi trên mặt trống đồng, một hình ảnh cụ thể của triết lý an vi trong miền An Việt. Bây giờ thử xem nền triết lý an vi đó chiếu giải vào nghệ thuật vũ như thế nào. Cần nói riêng đến Vũ, vì Ca Vũ là nét tràn ngập trên mặt trống đồng đến độ trở nên nét đặc trưng. Tại sao lại thế? Thưa vì ca nhạc nói lên nét hài hòa hơn hết, đến độ nhạc đáng tên là Nữ hoàng nghệ thuật. Tính lý của nghệ thuật là hòa, thế mà nhạc bao hàm chữ hòa ngay trong bản tính, gọi là hòa âm, hòa tấu, hòa nhịp. Sự hòa đó hiện hình xuyên qua biết bao nhạc khí khác nhau thuộc đủ loại: gõ, thổi, kéo, rồi to, nhỏ, cao, thấp… vậy mà vẫn tạo nên được những bản hòa tấu, sự tạp đa chỉ càng làm cho cuộc hòa tấu trở nên phong phú, sống động, nhất là khi có vũ đi kèm (H.49).

Vũ nói lên sự sinh động vui tươi, nhảy nhót, hứng khởi nên cũng là nói lên khía cạnh đạo hơn hết, theo nghĩa đạo là đi (Nho viết chữ đạo với bộ xướclà đi). Đó là bầu khí môi sinh tinh thần mạnh mẽ đầy sức lôi cuốn. Vũ gần với các tác động hơn hết cũng như ta có thể nói vũ là tác động an vi hơn hết của con người. Vũ chính là đạo, vì đạo là chuyển nhập tiết nhịp trời đất vào thân tâm, vào chân nhún nhảy, vào tay tung xoè, vào lời nói ra, hát lên, vào chính hơi thở với nhịp bước. Không còn chi gần với con người bằng vũ, phải nói là nó gắn liền với gân mạch, tim gan; khác biết bao với những đền điện chọc trời, uy hiếp tinh thần con người hoặc ở xa lắc xa lơ với con người như những chạm trổ tả cảnh đấu tranh, giao chiến, giết chóc, săn bắn… Đó là những hình ảnh ghi tác động của những con người vong thân, chúng làm con người khốn khổ. Trong thảm trạng đó làm sao con người có thể ca vũ. Mãi cho tới Hy Lạp sử học nghệ thuật mới ghi được một nụ cừoi, nên được kể là nụ cười khai mở thời đại con người khôi phục dần lại quyền làm người. Tuy nhiên đó mới là bứơc đầu, còn phải mấy bước nữa mới tới được ca, còn lâu lắm mới có múa. Nếu có gặp thì hầu chắc đó là của thần minh, múa cho thần minh. Thí du hai ngàn thần vũ bên Angkorvat đang múa, nhưng là múa để mua vui cho thần tiên chứ đâu có phải cho con người.

Muốn thấy người múa và múa cho người, cho mọi người thì phải đến miền có Trống. Ơ đây không những có múa, mà còn có cảnh mọi người múa, đều ca múa động trời khói đất làm thành những dòng vũ đầy hoạt lực và bao la: khắp vũ trụ đều tham dự; mặt trời tia xuống những dòng sáng soi đầy sinh lực: các cặp đôi giao hoan theo nghi lễ linh thiêng. Các ông già cối chày đứng, các bà đầm vũ chiêng hai tay giơ tới 2 giàn 7 cái chiêng để đánh thành giai điệu. Các người khác đánh sênh khua phách vang lừng. Ra đến vòng ngoài 2 đoàn chim 6 và 8 con ngâm thơ lục bát, xen kẽ 2 toán 10 con nai ngâm vịnh “lưỡng ngũ”, các con đực không quên cong cu lên đánh phần. Vòng ngoài cùng toàn chim đều hết mình ca hát. Con thì hát đưa cổ ra dài, những con nhỏ rụt cổ vào tận gáy để lấy cho đầy ắp một ngực hơi đặng hót tiếp. Không thể tìm đâu ra được bức tranh vui nhộn mênh mông hơn, đầy tràn phúc, lộc, thọ, khang, ninh hơn nữa. Đấy quả là bức chạm đẹp trung thực tuyệt vời, vì cái mỹ ở đây được tăng cường bởi cái chân và thiện hòa hợp, tức mọi nhu yếu thâm sâu đều được đáp ứng: từ ăn, nói, làm tình lên đến chỗ tự do, nhân phẩm đều được no thỏa. Đấy mới là lễ hội chính thực theo lễ hội mọi cái hay cái đạp, cái tốt lành cho con người. Nó không còn chỉ gửi tới khiếu thẩm mỹ mà là cả cái chân, cái thiện, vì tự nội phát xuất chứ không do một quyền lực bên ngoài áp đảo, bẻ quặt bảo phải tươi cái mặt lên (mặc dầu bụng đầy đau khổ). Đấy mới là cái chân thọt. Còn thiện là làm ích ngay cho những người đang ca múa đó: ở đây và bây giờ cả thân lẫn tâm, khỏi phải chờ ở một tương lai mù mịt.

6. Các tên bài vũ trên trống đồng

Tất cả bấy nhiêu ơn huệ là nhờ vào sự huấn linh đã được tiên tổ nhấn mạnh ngay từ thưở âm u huyền sử trong những bài vũ mang rất nhiều tên như Hàm trì, Đông quân và nhất là Khúc nghê thường mà chúng ta cần duyệt qua để hiểu rõ hơn bài ca vũ trên mặt trống.

Hàm trì nghĩa đen là “ao ngậm” tức cái “hữu hạn”(ao) ngậm cái vô biên (chỉ bằng vầng nhật). Huyền sử nói Hàm trì là cái ao nơi mẹ Hi Hòa tắm cho con mặt trời và mẹ mới sinh để con sạch mọi cáu bụi. Tắm xong mẹ “phơi” con trên cây “không tang” (tức tâm hồn trống rỗng) để không cầu bụi nào bám vào con mặt trời tâm linh của Mẹ (H.50). Động Đình Hồ cũng có nghĩa là bài ca vũ được ca múa chào mặt trời, mà người cổ sơ đã hát trên bờ Động Đình Hồ. Chữ này cũng có nghĩa như Hàm trì “ao ngậm” nhưng Động Đình Hồ nói rõ ý nghĩa hơn tức là cái hồ tròn ngậm cái đình vuông trước cái động. Nói đến động là nói đến trống rỗng. Lão tử gọi là “cốc thần bất tử” hạng thần không chết. Tất cả đều muốn nói lên chữ Trống: tâm có trống mới bao hàm được trời đất chỉ bằng tròn vuông (ao tròn, nhà vuông). Ca vũ phải theo đường tả nhậm mới nói lên được chiều của Mẹ, mà ta thấy luôn luôn lo cho con mặt trời như vụ Thái Mẫu Nữ Oa đội đá vá trời cũng nằm trong cùng một nơi huyền sử. Về sau các trường đều theo lối kiến trúc Động Đình Hồ: nhà vuông ao tròn như trường Bích Ung đời Chu, trong đó không dạy chữ mà chỉ dạy có múa do các lão trượng! Hiểu là các lão truyền lại kinh nghiệm tâm linh là then chốt của đời sống con người.
(H.49: Vui nhộn
H.50: Phong lưu thanh thoát)

Còn hậu quả được gởi vào tên “Nghê thường vũ y khúc”, xưa nay ta vẫn nghe nói đến tên bài đó bảo là bài các tiên múa trên cung Quảng mà huyền thoại nói liều là tự Đường Huyền Tôn, nhưng chưa ai được thấy hình vẽ ra sao. Vậy không còn hình vẽ nào hợp với tên bài vũ đó hơn là bài vũ tạc trên mặt trống đồng, đúng cả đến chi tiết. Trứơc hết là chữ nghê có nghĩa màu ráng đỏ, tuy xem vào mặt trống không thấy màu đỏ, nhưng dễ dàng suy luận ra tự môi sinh tinh thần, đó là những người thuộc viêm phương, tôn thờ mặt trời nên màu lửa đó phải được chú ý đặc biệt. Thứ đến chữ thường là cái xiêm kết bằng lông chim có màu ráng, hay là ngũ sắc. Đó là lông chim trĩ ngũ sắc, chữ Nho kêu là địch. Nên địch với lông vũ ở đây là một. Vũ là lông chim ngũ sắc được mang mặc khi vũ. Xem vào mặt trống ta thấy có đủ cả bấy nhiêu yếu tố nhắc đến trong bài “Nghê thường vũ y khúc” của các tiên trên cung Quảng. Nói đến tiên là nói đến loại người siêu phàm sống cuộc đời đầy thong dong trong cảnh phong nhiêu tràn ngập về của ăn, áo mặc khỏi cần bận tâm, nên trọn cuộc sống chỉ còn là ca hát múa vui như chim trời cá nước tung tăng bơi lội bay nhảy. Đó là ước nguyện của tiên tổ Việt tộc. Đó cũng là hình ảnh của cuộc sống con người, con người phải làm thế nào để đạt tới đó, coi như cứu cánh đời này của cuộc tiến hóa. Vì thế cái hướng vọng đó phải là ngọn hải đăng cho con tàu vượt biển trần gian, nó phải là bó đuốc soi đường cho mọi cuộc sống, nó phải là hình ảnh của nền triết lý an vi đánh nhịp vào cuộc sống tiến tới cảnh phong lưu nọ. Con người, mọi con người phải tiến tới đợt đó. Chính vì thế tổ tiên ta cũng được kêu là tiền nhân, tiên tổ. Nói đến tiên là người xưa nghĩ đến chim, nên tu tiên đắc đạo gọi là mọc cánh chim (vũ hóa) hoặc trở nên hạc trắng. Chính vì vậy mà nghệ thuật cổ Việt trang trí cho hình ảnh tiền nhân cùng một lối phục sức như tiên, tức mang lông chim, với đức tính như chim. Các vị không những có lông chim trĩ đỏ, được dùng trang sức như áo quần, lại còn hiện đang ca vũ trên hai mảnh bán nguyệt của trống làm liên tưởng đến cung Quảng, nơi ở của các tiên. Lúc ấy mới hiểu tại sao lại viết tên Việt Thường với chữ thường là xiêm, thì ra đó là đồng triện tổ tiên đóng lên tang vật: Việt Thường là chủ nhân của “nghê thường vũ y khúc” đúng từng nét, một phảy không sai, nó nói lên một cách tích cực hậu quả của trống trơn là siêu việt. Đó là đợt tâm thức sẽ làm cho con người trở nên đại độ quảng khoát, sẽ sống an nhiên như tiên, gọi là giai đoạn “phong lưu” an lạc “homo ludens”, nói bóng là Lạc dân, dân có cuộc sống an vui, có kinh điển tên là “Lạc thư” tức sách đem lại an lạc, nói bóng là xuất từ sông Lạc. Sông đâu? Thưa ở tang trống đó: có nước có thuyền nên cũng gọi được là “thuỷ phủ” nơi Lạc Long Quân đã ban cho thần Tản Viên quyển sách có ba tờ, mà thần dùng hai tờ mộc và hỏa. Tất cả ý nghĩa xoắn xuýt với nhau là thế. Vì vậy nếu phải gọi tên bài vũ trên mặt trống thì đó sẽ là “nghê thường vũ y khúc” cũng gọi là “Động định hồ” để nhắc đến nơi phát xuất. Đó là cái nôi của Việt tộc. Còn “hàm trì” chỉ là tên khác đặt cho Động đình hồ hoặc giải nghĩa như Trang Tử là bài ca vũ trên bờ Động đình hồ thì cũng vậy. Tất cả đều nói lên chủ quyền bài hát của chủ nhân trống đồng(*).

7. Ngô Đạo dĩ trống quán chi

Thế là ta có quyền nói chỉ một chữ Trống đủ gói gọn được nền văn hóa Việt: từ kinh tế, chính trị, xã hội cho tới nghệ thuật, từ lớn tới nhỏ đều tóm thâu được cách quán triệt đến độ người Việt có thể nói “ngô đạo dĩ trống quán chi” (**) vì chữ Trống giải nghĩa được hết mọi hiện tượng tự siêu hình đến đời sống thường nhật, cả đến nghệ thuật, không gì không do chữ Trống chỉ huy và sự chỉ huy đó đưa đến hạnh phúc. Quả là Mỹ thuật siêu phàm.

(*) Trang Tử nói theo lưu truyền rằng bài Động Đình hồ là của Hoàng Đế. Điều ấy sai tỏ tường, câu ấy chứng tỏ một sự chiếm đoạt hớ hênh và chưa ý thức được tiến trình lịch sử Hoàng Đế đã sang qua được sông Hoàng Hà đâu mà đến được bờ hồ Động Đình. Trái lại câu sách Kinh Lễ (chuơng nhạc ký, tiết 2, câu 3) thì nên ghi nhận, sách rằng: “Đại chương chương chi dã. Hàm trì bị hĩ. Thiều kế dã. Hạ đại dã”. Nghĩa là bài hát Đại chương ca ngợi (đức vua Nghiêu) bài Hàm trì tổng hợp mọi nhân đức (y như cái trống để chỉ đức trung ương vậy). Bài Cửu Thiều (của vua Thuấn) nối tiếp bài Hàm trì. Bài Hạ (của Hạ Vũ) thì làm cho rộng thêm ra.

(**) Theo Khổng Tử “ngô đạo dĩ nhất quán chi”: đạo tôi chỉ dùng một mà sâu được hết. Với Nho chữ một đó là chi thì vẫn còn bàn cãi chưa ra. Còn với Việt thì đó là chữ Trống.

Vì giá trị trung thực của mỹ thuật phải là làm cho con người được hạnh phúc, và lẽ ra con người phải dốc toàn lực vào việc tìm hạnh phúc, vì đây là cứu cánh con người. Không may con người lại lơ là đi hướng chú ý vào những cái xa lạ mãi đâu đâu để làm hại cuộc truy tìm hạnh phúc của mình. Đó là vì đã mất ý thức của chữ Trống do bái vật và ý hệ xúi dại, nên mới đi đến chỗ vong thân, bị chúng dẫn dắt vào những ngõ cụt làm bằng đủ loại duy: duy vật, duy tậm, duy hình, duy lý, duy tư bản, duy cộng sản… Tất cả mọi duy, bất cứ duy nào đều làm hại con người vì bản chất người không là duy nhưng là lưỡng thê nên lối sống phải là lưỡng hợp. Hạnh phúc sẽ không tìm thấy ở hai đầu cùng cực duy, nhưng ở đâu đấy giữa 2 nét song trùng: giữa có mà không, không mà lại có.

Quả là bước lưỡng hành vi diệu.

Đó là thứ triết lý hàm hồ, mà cư dân chủ nhân trống đồng đã có lúc đạt được, ngày sau con cháu kêu là “chân không diệu hữu”. Chân không là thứ “không” chân thực được biểu thị cách huy hoàng bằng cái Trống: tâm có trống thiên địa mới giao thoa nơi mình, có giao thoa (giao chỉ) mới đạt “diệu hữu”. Diệu hữu ở đây không cần hiểu kiểu siêu hình như “thái hư” nhà Phật, hay “chí hư cực” của Lão, mà hiểu cách rất cụ thể là có một cuộc sống an vui hòa hợp tràn đầy ca vũ, sau này hiện thực bằng các tết nhất long trọng, hội hè đình đám, biểu dương những nét phong lưu sẽ là cùng đích cho con người mai hậu.
(H.51: Phong lưu siêu thoát)

Đấy quả là trường hợp chân không nhưng lại diệu hữu có thể kiểm soát được. Chân không biểu thị bằng Trống. Còn diệu hữu biểu thị bằng những thói lành gây nên cuộc sống an vui đầy hạnh phúc giáp giới giai đoạn chót của loài người sẽ đi tới gọi là “homo ludens” làm ít chơi nhiều, nhở nhơ như chim, cả ngày vui tươi ca hát. Thảo nào mẹ Au đã đẻ con theo “điểu tục” để các con sống được kiếp người cao nhất.

Kết luận: ngày nào con người giác ngộ thì sẽ tìm về hạnh phúc, hay nói đúng hơn hạnh phúc ai cũng đã tìm, nhưng đường lối dẫn tới phải là cái đường rầy làm bằng 2 nét song trùng lưỡng hợp. Còn bánh lái phải trao vào tay con người nhân chủ được biểu thị bằng ba hồi trống thu không do Lạc Long Quân đã khua vang lừng để khai mạc cuộc dựng Văn Lang quốc. Đến nay mỗi lần ai muốn cất bước lên đường tìm hạnh phúc cũng phải khua ba hồi trống như vậy để xua cho sạch bóng nguyệt là bái vật và ý hệ, mới trông đạt được “Diệu Hữu” Thường Hằng chỉ xảy đến sau cái không chân thực tức cái Tâm trống rỗng.

Sứ điệp trống đồng nằm trong đó:

TRỐNG VIỆT THƯỜNG LUNG LAY BÓNG NGUYỆT
SUỐI CAM TUYỀN TUỆ VIỆT THỨC MƠ. (*)

 (*) Trống Việt Thường đánh lên mà đúng điệu sẽ làm lung lay mọi nền triết học xây trên ý niệm như Kant, Hegel… người ta nói về bản thể bên dưới trăng của triết lý Aristotle (le monde sublunaire des substances Aristotle).

Suối cam tuyền làm nghĩ đến giếng Việt (Việt tỉnh cương) có sức nuôi dưỡng bất tận “dưỡng chi bất cùng”. Tuệ là sự hiểu biết siêu việt mà dạng tự là cái chổi và chữ tâm gợi hình ảnh quét cho sạch tâm hồn để nó được trống trơn, thì sẽ nhận được nước cam tuyền trào lên, cả lúc thức của người tiểu ngã, lẫn lúc ngũ thuộc đại ngã tâm linh.

Chương sau sẽ xem chữ Trống được áp dụng cụ thể ra sao thành vòng đồng tâm, nhất là vào Tứ linh.


Lm.  Kim Định

(Trích trong tác phẩm "Sứ điệp trống đồng")
Nguồn: http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=69&ict=692

Thứ Hai, 13 tháng 8, 2012

Bán rẻ cố đô làm du lịch


13/08/2012 - 01:05
Nếu chỉ biết khai thác theo kiểu rẻ rúng hóa hình tượng vua chúa, làm mai một dần cố đô cổ kính và phí phạm “chất Huế” đặc trưng… thì du lịch Huế sẽ khó phát triển bền vững.

Cố đô Huế đã trở thành TP du lịch nổi tiếng cả nước. Đó là điều không cần phải bàn cãi. Tuy nhiên, việc sử dụng các đặc quyền của vua chúa để làm dịch vụ du lịch trong cơn lốc kinh tế thị trường khiến cho du lịch Huế đã thiếu chuyên nghiệp lại ngày càng bị rẻ rúng hóa.

Rẻ rúng hình tượng vua chúa

Về mặt văn hóa truyền thống phương Đông, với ý thức xa xưa vua là đại diện cho quốc gia dân tộc nên hầu như không có quốc gia nào sử dụng đời sống của vua chúa để kinh doanh du lịch. Trái lại, đời sống của quan lại, võ tướng và dân chúng được sử dụng phổ biến và rộng rãi hơn (trong kinh doanh du lịch). Vua chúa chỉ được tái hiện trong phim lịch sử hoặc các nghi thức đặc biệt nhưng phải với hình ảnh uy quyền - đặc quyền của đấng thiên tử trong chính bối cảnh đang đề cập.

Trái với tâm thế chung đó, các đặc quyền của vua chúa triều Nguyễn như ngai vàng, long bào, ngự thiện, thuyền rồng… đã được ngành du lịch Huế sử dụng như những hình thức câu khách rẻ tiền. Chẳng hạn du khách chỉ cần bỏ ra 45.000 đồng mua vé là có thể “lên ngôi” ngay lập tức tại nhà Hữu Vu bên trong Đại Nội. Trong kỳ Festival Huế 2012 vừa qua, một số du khách còn mang cả áo vua ra ngoài khuôn viên nhà Hữu Vu để chụp ảnh với thái độ giễu cợt, cười đùa. Đặc biệt có cả một bức ảnh nữ du khách người Âu mặc quần lửng ngồi trên đùi “vua” rất phản cảm. Tất nhiên, kết quả cuối cùng là hình tượng vua chúa Việt Nam trở nên rẻ tiền trong mắt du khách nước ngoài, kiểu như thứ vua “An-nam-mít” dưới đôi mắt hai vợ chồng người Pháp trong tác phẩm Vi hành của Nguyễn Ái Quốc.
Chỉ cần bỏ ra 45.000 đồng là du khách có thể “lên ngôi” ngay lập tức. Ảnh: NVT

Hay như du khách chỉ cần bỏ ra một số tiền là sẽ được phục vụ thực đơn “cơm vua” đủ món như các vị vua triều Nguyễn thời xưa. Điều đáng nói là việc các ông Tây, bà đầm mặc “áo vua” một cách cụt cỡn để dùng món “cơm vua” và xem ca Huế trên thuyền rồng khiến cho hình tượng, vị thế vua chúa thời xưa trở nên “lùn” đi rất nhiều trong mắt người phương Tây. Trong khi đó, cố đô Huế tuy không còn là kinh đô của các triều đại phong kiến nữa nhưng nét uy nghi và thiêng liêng của nó vẫn còn trong tâm thức của người Việt Nam. Phải chăng du lịch Huế đã tự đánh mất đi giá trị của chính mình?

Ngang nhiên chặt chém du khách

Đến Huế, du khách thường dạo thuyền trên sông Hương và nghe ca Huế. Nhưng vé nghe ca Huế hiện được bán tại nhiều khách sạn Huế là vé chui, tức không phải do cơ quan có thẩm quyền ấn hành. Các khách sạn móc nối với các doanh nghiệp (DN) vận tải du lịch đưa du khách lưu trú tại cơ sở mình đi nghe ca Huế và tự áp đặt giá vé, thường là cao gấp đôi mức quy định. Mỗi khách, chủ thuyền chỉ thu 40.000 đồng, trong khi khách sạn bán 80.000 đồng/vé.

Theo ông Nguyễn Tấn Thưởng - Giám đốc Trung tâm Quản lý và Tổ chức biểu diễn ca Huế, từ năm 2006 đến nay, trung tâm là đơn vị duy nhất được phép bán vé phục vụ nghe ca Huế trên sông Hương. Việc các DN vận tải du lịch bắt tay với một số khách sạn bán vé thực chất là chỉ bán qua thỏa thuận bằng miệng chứ không in vé.

Ông Cao Chí Hải, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Thừa Thiên-Huế, thừa nhận tình trạng giá vé ca Huế đang được các DN vận tải du lịch câu kết với các cơ sở lưu trú “hô biến” để trục lợi. “Sắp tới, nếu phát hiện DN vận tải in vé chui, tăng giá vé thì sẽ kiểm điểm và buộc dừng hoạt động một thời gian. Cơ sở lưu trú vi phạm cũng sẽ bị xử lý” - ông Hải nói. Trước đây, Trung tâm Quản lý và Tổ chức biểu diễn ca Huế cũng từng có ý kiến đề nghị chấn chỉnh nhưng không hiểu sao tình trạng trên vẫn chưa được giải quyết.

Phí phạm “chất Huế”

Bên cạnh biểu tượng di sản văn hóa thế giới, chùa chiền, cung điện… chính “chất Huế” đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên thương hiệu du lịch cho Huế, cho dù đến nay chưa có định nghĩa chuẩn mực nào về “chất Huế” ấy. Ngay cả TS Thái Kim Lan cũng đã tự “hỏi xoáy đáp xoay” mình rằng: “Chất Huế là chi? Hỏi chi mà khó rứa? Làm răng mà trả lời?”. Tuy nhiên, có thể tạm hiểu “chất Huế” là những gì đặc trưng và rất riêng của Huế.
Có thể nào chấp nhận hình ảnh thế này chăng? Ảnh: NVT

Nhà văn xứ Huế Nguyễn Khắc Phê từng nói: “Đến Huế mà chưa thảnh thơi dạo bước vào chơi dăm ba ngôi nhà vườn đẹp nhất, hay chưa ghé thăm một vài vương phủ ở chốn cựu kinh thì coi như... chưa đến”. Phải chăng ý nhà văn đã nhắc khéo các nhà quản lý du lịch Huế nên “bình dân hóa” các tour để du khách có dịp thưởng thức những nét đẹp đích thực của Huế. Bởi du khách không chỉ đến Huế chỉ để xem kiến trúc cổ, lễ hội hay các làng nghề, bãi biển… mà họ còn muốn xem cái “chất Huế” ấy nó hiển hiện trong đời sống hằng ngày của người dân chốn thần kinh ấy thế nào.

Nhưng trên thực tế, đa phần các tour du lịch ở Huế thường rất ít chọn lựa những nét bình dân trong lịch trình tham quan của mình. Chính vì vậy, đã có rất nhiều du khách nước ngoài từ chối đi tour. Họ tự đi bộ hay đạp xe rong trên đường để tự trải nghiệm, khám phá nét đẹp Huế cho riêng mình.

Trên thực tế, do không áp dụng sớm chủ trương “bình dân hóa” các tour du lịch nên ngành du lịch mới có nhiều bất cập, tồn tại và hạn chế đến như vậy. Nếu du lịch Huế mạnh dạn hợp tác và chuyển giao cho người dân hai khu phố cổ Bao Vinh và Gia Hội cùng kinh doanh du lịch (như trường hợp Quảng Nam đã làm với Hội An) thì hẳn người dân ở đây đã không tháo dỡ nhà cổ rồi xây nhà mới như nhiều năm qua.
* * *

Du lịch đã trở thành ngành kinh tế trọng điểm của Thừa Thiên-Huế. Hiện dịch vụ du lịch của Huế đang chiếm 45% GDP địa phương, cao nhất so với du lịch các tỉnh, thành trong cả nước. Theo ông Phan Tiến Dũng, Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Thừa Thiên-Huế, dự kiến đến năm 2015, dịch vụ du lịch Huế sẽ tăng dần về tỉ trọng và chiếm khoảng 50% GDP của địa phương. Tuy nhiên, nếu chỉ biết khai thác du lịch theo kiểu bán rẻ “nét cố đô” và bỏ phí cái “chất Huế” đặc trưng của xứ mộng mơ thì du lịch Huế sẽ khó phát triển một cách bền vững.

Hy vọng trong tương lai không xa bộ mặt du lịch Huế sẽ đổi mới, như chính nỗi niềm của nhạc sĩ Võ Tá Hân từng gửi gắm trong bài hát Rất Huế nổi tiếng của ông: “Dẫu em rất Huế tự bao giờ/ Đừng để lòng em như cung điện/ Để cho anh suốt đời đứng đợi/ Trước cổng thành gọi mãi chẳng ai thưa…”.
Cư trú trên di sản thế giới!
Được xây dựng bên bờ bắc sông Hương vào những năm đầu thời vua Gia Long triều Nguyễn, kinh thành Huế có chu vi gần 10 km, cao 6,6 m, dày 21 m, có cả một hệ thống phòng thủ vững chắc với hàng trăm pháo đài và hộ thành hào bao quanh.
Tuy nhiên, hiện một số đoạn thành thuộc vòng thành ngoài đang bị xuống cấp nghiêm trọng, tình trạng lấn chiếm xây mới diễn ra khá nhức nhối. Đặc biệt, ở phía đông kinh thành, tại khu vực phòng lộ và hộ thành hào có hơn 150 hộ dân sinh sống chen chúc. Người dân đào cả giếng khoan và xây các bể chứa nước ngay trên phần thượng thành để tưới tiêu. Ở nhiều đoạn tường thành khác, nhà cửa san sát đến nỗi khó nhận ra đó là những bức tường từng bảo vệ kinh thành năm xưa. Trên mặt tường thành khu vực cửa Nhà Đồ và cửa Hữu còn có những thửa ruộng trồng hoa màu trải dài hàng trăm mét.
Chính quyền cùng Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế từng nỗ lực giải quyết tình trạng này. UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế từng quyết định đầu tư 1.282 tỉ đồng để tu bổ kinh thành Huế, trong đó có việc giải tỏa, bồi thường, tái định cư cho 876 hộ dân. Đến nay dù đã triển khai gần hai năm nhưng hàng trăm hộ dân vẫn thản nhiên cư trú trên di sản thế giới.

Huế, ngày 12-8-2012
NGUYỄN VĂN TOÀN

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012

Nét đặc trưng nguy hiểm của Triết Việt



1.      Lao tâm lao lực một lòng 

Việt Nam đã có triết lý.

Không những thế nó có cả triết bình dân. Và nền triết này đặc biệt ở chỗ nó không khác triết bác học về nội dung mà chỉ khác về trình độ và ngôn ngữ. Và đấy là nét đặc trưng, nhưng lại là nét đặc trưng nguy hiểm.

Trước hết hãy bàn về điểm nhất, chúng ta sẽ dễ nhận ra đó là nét đặc trưng khi đem đối chiếu với các nền văn minh khác. Ở những nền văn minh Âu Ấn, triết học được sáng tạo hoặc do những người quý tộc hoặc do hàng tư tế tăng lữ là những giới không san sẻ cùng một đối tượng cùng một mối bận tâm như bàn dân. Người tri thức quý tộc Hy Lạp mải đi tìm ý niệm trừu tượng (Platon); giới tăng lữ Ấn Độ lo cầu đảo kinh sách, còn người dân đâu đâu cũng như nhau lo ăn lo làm, lo tình ái, lo về những mối giao liên giữa người với người. Vây mà trong xã hội Việt Nho lại không có tri thức quý tộc chủ trương sống bám trên lưng nô lệ, cũng như không có tư tế biệt lập khỏi dân nên nói được là văn hóa do dân, triết cũng do dân, và vì thế không có hai đối tượng cho hai giai cấp mà chỉ có một và đối tượng đó là của dân, tức không nói về sau hay trước mà về những người đang sống ở đây và bây giờ. Bác học hay bình dân cũng thế cả chỉ khác nhau có sự trình bày là để thích nghi với trình độ học thức mà thôi. Vì thế sự khác biệt hoàn toàn ở ngoại diện chứ không ở nội dung.

Do đấy mà có một nét đặc biệt vô cùng đó là siêu hình nằm ngay trong hữu hình và đấy là điểm khác hẳn Âu Tây như ông Alfred Meynard đã nhận xét: “Người Đông Phương đã đem cái vô hình xuống cuộc đời của họ. Họ sống với thế giới huyền bí… Trái lại người Âu Tây sống bên lề cái vô hình, phủ nhận nó nữa vì không biết đến có nó hay là họ bị sô đẩy vào nó mà không nhìn ra. Ở bên Việt Nam tục lệ tín ngưỡng đã pha trộn và hợp hóa thần bí tâm linh của Phật giáo với chủ nghĩa ma thuật của đạo giáo vào tín ngưỡng nguyên thuỷ, một phần hoạt động và tư tưởng đã dành cho phương diện vô hình của thiên nhiên. Đời sống hàng ngày của họ đã kết cấu bằng những đề tài huyền bí làm đề tài chính thức.  Suốt ba tháng đầu năm của dân Việt Nam cũng có rất nhiều nghi lễ trong ấy người ta thông cảm với thần linh hay kéo thần linh xuống một lúc gần với người, cùng với người san sẻ nỗi lo âu hay hy vọng” (Revue Indochinoise. Mai 1928).

Tôi trưng mấy lời của ngoại nhân để biểu thị tính chất khách quan. Khi không có hậu ý thì ngoại nhân cũng nhìn ra được nét đặc trưng của ta. Cần nhận xét rằng đây không phải là tình trạng bất phân sơ khai kéo dài, nhưng nó là hậu quả của một nền minh triết đã được vun tưới tài bồi. Gọi là Minh Triết vì đã được kết tinh vào kinh điển của dân Lạc Việt gọi là Lạc Thư mà căn để của nó là linh thiêng (cũng gọi là Hoàng Cực) được gói tròn giữa các việc ăn làm (biểu thị bằng bát trù) gọi là Hồng Phạm cửu trù. Hồng phạm là hình thái bác học còn khi biểu diễn cho toàn dân thì Hồng Phạm cửu trù trở thành câu chuyện bánh chưng bánh dầy rất quen thuộc. Đây là một câu chuyện triết lý rất cao độ, cao độ vì nhập thể vào một vật rất thường như cơm bánh. Cơn bánh là những cái ta tiếp cận mỗi ngày vài ba lần nên rất thường thế mà đã nói lên được rất nhiều ý nghĩa cao siêu. Chúng ta hãy lưu ý về hai điểm.

Điểm nhất là Hùng Vương không truyền ngôi cho con trưởng nam nhưng cho con nào tài ba hơn cả. Đây là giai đoạn chiết trung giữa truyền hiền của Việt Nho nguyên thuỷ và truyền tử của Hán Nho. Hùng Vương tham bám giữa Hán Nho là truyền tử, nhưng không truyền cho trưởng nam mà truyền cho con nào hiền tài, đó là chú ý đến truyền hiền của Viêm Việt.

Điểm thứ hai mới thực là đặc tính của Lạc Việt là tìm cái phi thường trong cái thường thường. Và cái thường thường hơn nhất là cơm bánh mọi người phải dùng hằng ngày, vậy mà Lang Liêu con thứ 18 của Hùng Vương lại dùng để diễn đạt được cả đạo trời, đạo đất, đạo người. Đấy là khả năng diễn tả cái phi thường bằng những cái thường thường khỏi cần đi tìm chân trâu hải vị mãi ở đâu đâu. Đấy là một tài ba thường không mấy người nhận ra được giá trị vì không thấy cái khó khăn của nó. Học triết là một việc nhiều người làm được nhưng nói lên triết bằng những lời đơn sơ, trong dăm ba câu, một hai cử chỉ… là một việc rất khó vì nó đòi sự thấu hiểu và nhập thể rất sâu là bậc chỉ dành cho một số người họa hiếm. Lang Liêu là một trong số họa hiếm đó vì đã khỏi phải nói dài dòng khó khăn quanh quất (huyền sử kêu là lên rừng xuống bể tìm vật lạ) nhưng chỉ với một cử chỉ cụ thể, tức hai cái bánh hình thái khác nhau mà nói lên được cả đạo trời, đạo đất, đạo người. Thật là một thứ đơn sơ siêu tuyệt, nên đã được Hùng Vương chấm ưu điểm “Cum maxima laude”, hết lời khen kèm theo ngôi báu, và để ghi nhờ Hùng Vương đã cho cải tên Lang Liêu (chữ hán) ra Tiết Liệu (chữ hán). Chữ Tiết Liêu vừa có nghĩa là biết lo liệu cách tiết kiệm không cần trèo núi lặn biển, sang Đông, chạy Tây, nhưng chỉ bằng mớ gạo bên tay với những cử chỉ hằng này như dọn cơm, làm bánh… thế mà nói lên được tiết điệu uyên nguyên của cả Đất, Trời, Người, tức là nói lên  cùng tột cái cơ cấu sâu thẳm và nhân đó là sự hiệu nghiệm của nền triết Việt.

Chương sau chúng ta sẽ nói đến cái đình, cũng là một tác động đáng mặt của Tiết Liệu. Ngay từ trong lối kiến trúc cái đình đã hiện thực được cơ cấu của Lạc Thư tức là vuông tròn lồng vào nhau: ao nước tròn bao quanh lấy cái đình gọi là Đông Đình hồ. Đồng thời đình còn là nơi quy tụ mọi hoạt động thuộc ba cấp là kinh tế, chính trị, và tinh thần tượng trưng cho tam tài địa, nhân, thiên. Đấy là một nền Minh Triết hết sức thiết cận vào thân tâm mỗi người Việt Nam lúc xưa. Với tinh thần tổng hợp ấy mọi sự việc đều có thể chở theo linh thiêng đượm màu Minh Triết. Hãy lấy một thí dụ thông thường là việc ve gái.

2.      Nghệ thuật ve gái

Ve gái đối với chúng ta nay là chuyện không nên bàn đến bởi vì nếu không có tội ít nhất cũng là thiếu đứng đắn. Sở dĩ người nay cho là không được đứng đắn vì đã được nhào nặn trong bầu khí của triết lý nhị nguyên. Mà với nhị nguyên thì tinh thần là tinh thần, vật chất là vật chất, tinh thần thì bay bổng cung mây còn vật chất thì nặng trình trịch nằm dính đét xuống mặt đất, phân minh rõ rệt như vậy chứ không có cái chuyện lộn sòng. Vì thế đã nói ra toàn nói về những cái cao thượng chứ ve gái thuộc vật chất đâu có ai dám bàn ít ra cách công khai.

Tiên hiền xưa thì lại nghĩ khác rằng ve gái là một việc thường ai cũng làm cả, kể từ tuổi dậy thì thì ai cũng ve, ve liên tiếp mấy năm có khi đến cả chục năm cho tới lúc lấy được vợ mới thôi, nhiều ông vẫn chưa chịu thôi vẫn lén lút ve mãi. Một số nhà tu không ve gái thì lại thiên về thờ nữ thần… Còn về phía gái nếu không ve trai thì lại sửa soạn để được ve mà nếu không được ve thì buồn thấu đến gáy. Cho nên ai nấy đều sửa soạn và sự sửa soạn này được nguỵ trang bằng tên sửa sắc đẹp. Chính ở những viện thẩm mỹ này mà bên các nước Âu Mỹ phụ nữ đã tiêu một số tiền vượt xa ngân sách quốc phòng. Cũng như ngân sách quốc phòng vượt qua ngân sách giáo dục… Vậy thì xét cả về bên ve lẫn bên chịu ve đều là việc rất lớn, thế mà triết lý lại lờ đi thì đâu có phải lẽ. Cho nên triết lý Việt Nho mới đề cập cả ở trình độ bác học cũng như ở trình độ bình dân.

Ở bác học thì việc ve gái được đưa vào Kinh điển, chiếm đứt một quẻ, mà lại là quẻ lớn tức quẻ 31 mở đầu phần nhì quyển Kinh Dịch gọi quẻ ve gái. Chữ Nho kêu là Hàm, đi trước quẻ Hằng 32 là việc vợ chồng “Đạo quân tử khởi từ vợ chồng” nhưng trước khi nên vợ chồng thì phải biết ve nhau. Vì thế hai quẻ Hàm Hằng có địa vị ngang với hai quẻ Càn Khôn. Càn Không mở đầu phần nhất Kinh Dịch, Hàm Hằng mở đầu phần nhì. Lẽ ra quyển này viết cho bình dân không nên đi vào chi tiết quẻ Hàm nhưng vì bình dân và bác học có liên hệ nằm ngầm nên tôi cứ đi vào ít trang, ai ngại có thể bỏ qua để đọc xuống đoạn “triết lý nhảy đầm”, một hình thức bình dân của đạo ve gái.

Ve gái là gì thì trời vị tất đã định nghĩa nổi vì nó có muôn vàn hình trạng, mục tiêu cũng rất phiền toái có khi chỉ cốt chiếm tí ngoài, hoặc gây nên một cái đỏ mặt, đỏ vì bực tức, đỏ vì thích thú… cho đến chỗ chiếm trọn vẹn cả toàn thân và tâm tình nữa. Cái vụ này mới rắc rối vì nếu chỉ có cái thân xác thì dễ hơn nhiều, ít ra có thể căn cứ trên sức mạnh mà tính toán, đàng này phải len lỏi đi đến tim cô nàng, sao cho nàng phải trả lại số cảm tình tương đương thì lúc ấy mới là đạt đạo ve. Đạo ve gái nói rằng “hàm cảm dã, nhị khí cảm ứng, dĩ tương dữ, chỉ nhi duyệt, chữ hán”: hàm là gây cảm sao cho hai khí kích thích và hưởng ứng nhau để tự tình đi đến chỗ kết hợp”.

Vậy tác động đầu tiên của ve là hãy hạ mã “nam hạ nữ”, nam phải đặt mình bên dưới nữ, cho hợp đạo chung là “nhu thượng nhi cương hạ” == mềm trên cứng dưới. Đấy là cốt tuỷ của đạo ve được diễn ta bằng quẻ Hàm (hình quẻ) kép bởi hai quẻ đơn: trên là quẻ đoài (hình quẻ) chỉ thiếu nữ, ao nước, đẹp lòng; dưới là quẻ cấn (hình quẻ) chỉ thiếu nam, núi và bền gan. Hai quẻ đó nói lên đạo ve gái ở tại làm đẹp lòng (đoài) và phải kiên trì bền chí (cấn). Thiếu nữ (đoài) phải ở trên thiếu nam (cấn), bởi vậy lời tượng của quẻ rằng “tượng viết sơn thượng hữu trạch, quân tử dĩ hư thụ nhân, chữ hán” : trên núi có đầm ao, quân tử coi đó mà lấy trống rỗng tiếp người. Lấy trống rỗng tức là lấy lòng trống rỗng không thiên kiến hay kỳ thị nào mà chỉ có tấm lòng trinh trong để xử kỷ tiếp vật. Đấy là đạo chung cho hết mọi việc, nếu áp dụng vào việc cai trị thì thiên địa an hòa, áp dụng vào việc nam nữ thì gây nên an lạc. Lòng trống rỗng biểu thị bằng quẻ đoài (trên có cái miệng) còn quân tử biểu thị bằng quẻ cấn là núi. Trên núi mà có sự trống rỗng thì chứa được nước là sự đẹp lòng. Người quân tử mà lòng trống rỗng thì được lòng dân.

Sự trống rỗng lòng sẽ được xác định trong các hào từ dưới trở lên để chỉ ngón chân, bắp thịt, đùi, bụng, tim, gáy, miệng v.v… có ý nói phải vượt những cái bé nhỏ để đạt tâm linh mới là đạo chân thực. Ta hãy đọc một lượt các hào:

Hào 1: Cảm ở ngón chân cái == “hàm kỳ mẫu: chí tại ngoại, chữ hán”: bắt đầu tuy đã có cảm nhưng còn ở thấp quá ngoài tâm, chí chưa dự vào chút nào.

Hào 2: Cảm ở bắp chân: hung, nhưng bền vững; thì tốt “hàm kỳ phi: hung, cư cát, chữ hán”. Hung vì cũng còn quá thấp, nhưng nếu bền chí thì chờ sự cảm ứng tự hào 5 trên thì sẽ gặp tốt, vậy đừng vội.

Hào 3: Cảm ở đùi, bám sát những kẻ theo mình mà đi thì có lỗi “hàm kỳ cổ, chấp kỳ tuỳ, vãng lẫn, chữ hán”. Đây là hào dương đã có thể tự động, nhưng vì còn ở đợt dưới nên dễ chấp theo hai hào theo mình là hào 1 và 2. Nếu như thế thì lầm.

Hào 4: “Trinh cát hối vong. Đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư, vị quang đại dã, chữ hán”, bền gan thì tốt, sự hối sẽ tan đi, trở đi trở lại với một ý thì chỉ có người bạn cũ theo anh, như vậy chưa sáng lớn. Đây là bước vào cửa tâm nên bền gan thì tốt. Còn nếu trở đi trở lại với một ý nhỏ nào đó thì chỉ có bạn theo. Bạn đây là hào 1 liên hệ với hào 4. Vì hào 1 bé nhỏ mà đi lại mãi thì chưa đạt ánh sáng lớn lao”.

Hào 5: “Hàm kỳ môi vô hối, chí mạt dã, chữ hán”, cảm đến gáy thì không còn hối hận vì chí đã ra tận đến ngành ngọn. Gáy là nơi ngự trị của óc con mà nhiều nhà sinh lý học kêu là “phần đất bí nhiệm” == “terra incognita”. Gọi là bí nhiệm vì người ta chưa khám phá ra được vai trò rõ rệt của nó, chỉ biết rằng nó rất nhạy cảm, mỗi khi gặp cái gì sợ thì tóc gáy “dựng lên” trước tiên, tức là nói lên sự nhạy cảm nhất của phần này. Có thể thí nghiệm khi đi đường xem thẳng vào gáy người nào (nhất là phụ nữ) một tí thì là người đó quay lại. Như thế tỏ ra gáy rất nhạy cảm; bởi vậy có người cho rằng óc con là nơi mà làm tình bắt liên lạc với óc lớn nơi sản xuất ra ý tưởng. Ý tưởng thường rõ rệt nhưng khô khan, song nếu được tinh thần linh nhuận thì nó sẽ trở nên ý lục giàu chất tác động, nên trong kinh nói là cái chí (tâm) đã tỏa ra tới ngành ngọn. Vì thế khi cảm đến gáy là tuyệt định của tác động ve gái.

Sang đến hào 6 thì lại xấu rồi, vì cảm ở má, mép, lưỡi “hàm kỳ phụ, giáp, thiệt, chữ hán”, hoàn toàn hời hợt ngoài môi miệng vậy thôi. Chữ miệng gợi lên do quẻ đoài, là miệng vì có hài gẫy ở trên như cái miệng mở ra. Lời kinh nói “đàng khẩu thuyết dã, chữ hán”, mở miệng ra chỉ có nói vậy. Chỉ có nói là ngoại diện, đối với hào 1 cảm ở ngón chân cái, cũng là hời hợt ngoài cùng. Có thể toàn bằng lời bôi bác và y như hào 1 cảm ở ngón chân tức những cảm xúc hạ đẳng bên ngoài. Trên ngón chân là cảm tình biểu thị bằng bắp chân rồi đùi ở hào 2, 3. Đợt sau nữa là tâm, nhưng ở hào 4 thì còn nguy vì liên lạc với hào 1; chỉ đến hào 5 là cao nhất vì ở gáy theo nghĩa bao gồm vừa ý ở hào 4 và tình ở các hào 2, 3 hòa trộn với nhau ở hào 5 là chí (chữ hán). Có đạt chí thì mới đạt đạo ve gái, cũng chính là một lối biểu hiện của đại đạo giữa trời với đất, giữa cha với con, giữa chồng với vợ, giữa người với người. Cho nên ve gái không còn là chuyện vớ vẩn nữa nhưng chính là một việc làm như trời với đất nên con người cũng phải tuân theo. Và bởi vậy có thể xem xét đường lối thông tình mà đoán ra được giá trị của mọi việc. Vì thế lời kinh quẻ Hàm mới nói:

“Thiên địa cảm nhi vạn vật hóa sinh
Thánh nhơn cảm nhơn tâm nhi thiên hạ”
Chữ hán
Trời với đất cảm nhau mà vạn vật hóa sinh. Thánh nhơn cảm hóa lòng người mà thiên hạ được hưởng hòa bình.

Trở lên là thử đem ra một lối bác học để trình bày về việc “nam nữ thông giao”. Tất nhiên đó là lối rất khó chỉ một số nhỏ người có trí thông minh và đủ điều kiện mới đi vào được. Nhưng đạo là đạo chung mọi người, vậy cần lối bình dân, nhiều lối bình dân để rất nhiều người tham dự trong đó có lệ hát trống quân, mà chữ Nho kêu là “lễ sơn thuỷ” hay là sông núi, còn nếu gọi bằng danh từ ngày nay thì là lối “nhảy đầm công cộng” mà chúng ta cần bàn tới. 

3. Triết lý nhảy đầm 

Nhảy đầm là chữ nhà quê còn người trí thức gọi là khiêu vũ, nghe sang hơn nhưng không cụ thể và bình dân bằng hai chữ nhảy đầm. Nhảy đầm là do Tây đưa vào nó có tính cách cá nhân còn nếu nhảy đầm công cộng thì đã có bên ta từ lâu đó là hát trống quân. Trống quân không những khác nhảy đầm vì tính chất công thể tức không nhảy với một bà nhưng nhảy với một đàn bà. Nét thứ hai trong việc nhảy còn có cái gì linh thiêng bao bọc nên trống quân lẽ ra phải được tổ chức dưới núi, bên bờ sông ở cửa Đông Nam của thành hay làng. Thường thì những điều kiện đó khó hội đủ nên người xưa đã sáng chế ra tiếng trời tiếng đất để thay thế cho những điều kiện trên kia. Đó là cái trống đất (đào lỗ xuống đất) lại có dây chằng ở trên chỉ trời. Khi hát mà gõ lên dây phát ra tiếng gầm gừ như là tiếng đất tiếng trời đệm theo quấn quýt lấy những lời hát đối của đôi bên. Còn những lời đối đáp qua lại nhiều khi chở theo rất nhiều yếu tố triết bình dân. Hãy đưa ra vài thí dụ: miếng trầu là đầu câu chuyện.

Bè nữ:
Gặp nhau ăn một miếng trầu
Gọi là nghĩa cũ về sau mà chào

Bè nam:
Miếng trầu đã nặng là bao
Muốn cho đông liễu tây đào là hơn

Bè nữ:
Miếng trầu kể hết nguồn cơn
Muốn xem đây đấy thiệt hơn thế nào.

Bè nam:
Miếng trầu là nghĩa xướng giao
Muốn cho đây đấy duyên nào hợp duyên.

Thí dụ khác:

Bè nam
Ở đâu năm cửa nàng ơi?
Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng”
Sông nào bên đục bên trong?
Núi nào thắt quả bồng mà có thánh sinh?
…………………………………………………………
Ai mà xin được túi đồng?
Ở đâu mà lại con sông Ngân Hà?
Nước nào dệt gấm thêu hoa?
Ai sinh ra cửa ra nhà nàng ơi?
Kìa ai đội đá vá trời?
Kìa ai trị thuỷ cho đời được yên?

Bè nữ:
Thành Hà Nội năm cửa chàng ơi.
Sông Lục Đẩu sáu khúc nước chảy suôi một dòng.
Nước sông Tương bên đục bên trong.
Núi đức Thánh Tản thắt quả bồng mà lại có thánh sinh.
…………………………………………………………………
Ông Khổng Minh không xin được túi đồng.
Trên trời lại có con sông Ngân Hà.
Nước Tàu dệt gấm thêu hoa.
Ông Hữu Sào sinh ra cửa ra nhà chàng ơi.
Bà Nữ Oa đội đá vá trời.
Vua Đại Vũ trị thủy cho đời được yên.

Bè nam:
Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vuờn hồng đã có ai vào hay chưa?

Bè nữ:
Mận hỏi thì đào xin thưa:
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Nam kết:
Ai về đường ấy hôm nay
Gởi dăm điều nhớ gởi vài điều thương.
Gởi cho đến chiếu đến giường.
Gởi cho đến chốn buồng hương em nằm.

Đại khái đó là vài mẫu khi đọc lên nhận thấy hai điểm đặc sắc sau đây.

Thứ nhất là tính chất động đích của trống quân khác với nhảy đầm. Nhảy đầm chỉ cần biết đưa tay đưa chân sao cho hợp với điệu nhạc khỏi phải suy nghĩ, cũng khỏi phải hát nữa, đã có máy. Trống quân thì phải hoạt động hơn nhiều; miệng phải hát, tâm trí phải tác động để đối đáp, vì không được hát bài có sẵn mà phải tuỳ cảnh mà sáng tác lấy rồi hát lên tức khắc cho hợp câu hỏi.

Thứ hai là ý phải từ xa tới gần, mà gần cuối cùng là việc lấy nhau, nói lên một cách không úp mở nhưng phải nói “hoa tình” tức là nói lên cách văn hoa và như thế nó không phải là một sự vui giải trí như nhảy đầm, mà là việc làm có chủ đích đưa đến hôn nhân nhưng đưa đến bằng nghệ thuật, bằng múa hát, tức là một lối triết lý toàn diện. Tất cả tinh thần vật chất hòa trộn với nhau, chứ không có kiểu phân chia. Vào điện hay đền thờ lạy, rồi ra xóm bình khang chui lủi: tinh thần ra tinh thần, vật chất ra vật chất. Ở đây tinh thần vật chất hòa hợp ngay trong một nơi, một lúc theo đúng triết lý tìm phi thường trong cái thường thường.

4.      Nguy cơ

Trở lên là thử đưa ra một hai thí dụ về sự thấm nhập của triết lý vào trong mọi hành vi cử chỉ của người Việt. Đấy là ơn ích rất lớn và nếu biết làm phục hoạt thì sẽ là bài thuốc chữa bệnh thời đại mà Herbert Marcuse kêu là bệnh duy một chiều kích. Hay cũng quen gọi là nhị nguyên, tức là duy vật hoặc duy linh. Linh thiêng được biểu lộ rất lớn lao trong bao nhiêu điện đài, bao nhiêu sách, bao nhiêu người hy hiến thân tâm cho tinh thần. Nhưng vì là nhị nguyên nên anh đi đường anh tôi đi đường tôi.

Đạo là đạo.
Đời là đời.

Hóa cho nên đời trở nên vô đạo, mặc dầu các thứ đạo lý truyền bá khắp nơi nhưng vì đứng ngoài đời nên đời vẫn vô đạo.

Nhưng hỏi vậy tại sao người đời không để ý đến đạo nằm ngay trong đời. Thưa vì đó là điều rất khó và rất dễ quên đi. Rất khó vì người ta dễ chú ý những cái gì ngoài mình, vì lúc ấy nó là đối tượng, giác quan có thể tác động. Còn như Đạo đã lẫn vào đời vào thân tâm thì không còn đứng ngoài nên không còn là đối tượng. Vì thế Kinh Dịch mới nói là “bách tính nhật dụng nhi bất tri chi, chữ hán”, bách tính dùng hằng ngày nhưng không biết đến. Không biết đến nên là nguy cơ, và mối nguy cơ đó càng ngày càng trở nên lớn lao vì không những bách tính là thường dân không biết, mà cả giới trí thức cũng không biết đến nữa, thế mới nguy. Vì từ lúc ấy họ sẽ đi tìm triết ở xa xăm theo cả hai nghĩa, một là phát xuất từ ngoài đời sống, đứng ngoài con người nên dễ được tìm thấy, dễ được học hỏi, và do vậy gây nên cho nền triết lý Việt Nam một cơn thử thách lớn lao như chưa từng thấy. Vì hầu hết tri thức trong nước đã bỏ triết nhà để chạy theo triết ngoài.

Có còn cách nào cứu vớt nổi tình trạng này chăng? Chưa biết, nhưng chắc một điều là nếu không cứu với nổi tinh thần triết Việt thì chúng ta chỉ còn có triết học để học, nghĩa là để mà chơi. Chứ còn triết lý tẩm nhuận việc ăn làm, triết lý hướng dẫn thân tâm thì không còn nữa. Bởi vậy dù thành hay bại việc đáng làm là chúng ta hãy cố gắng làm. Và đó là mục tiêu của quyển sách nhỏ này, và đường lối của quyển này là bình dân. Cụ thể là những lễ lạy đình đám mà vì tinh thần thống nhất nên chúng ta có quyền coi chúng như tài liệu chân thực về triết lý bình dân trong đó cái đình là trung tâm hiện thực nên lấy đó làm đầu đề cho sách: triết lý cái đình.

Lm Kim Định
(Trích trong tác phẩm " Triết lý cái đình")