Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

Khám phá lịch đoi của người Mường


Cập nhật lúc 11:01 11/01/2013 (GMT+7)
(Kienthuc.net.vn) - Theo lời của những thầy mo ở huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình thì đây là bộ lịch cổ xưa nhất của người Mường. Hiện nay, người Mường vẫn dùng song song 2 loại lịch là lịch tây và lịch thẻ tre.

Lịch đoi được làm từ 12 thẻ tre tượng trưng cho 12 tháng trong năm, trên mỗi thẻ tre được khắc 30 khấc tượng trưng cho 30 ngày. 

Bộ lịch cổ xưa nhất của người Mường

Mới sáng sớm mà thầy mo Bùi Văn Ểu ở xóm Lầm, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc đã chếnh choáng hơi men, lảo đảo bước đi trong màn sương mù bàng bạc. Ông khoe: "Theo lịch đoi, hôm nay là ngày đẹp, đứa cháu tao nó đi lấy chồng. Tao đến nhà nó cúng, báo cáo với tổ tiên để vợ chồng nó sống hạnh phúc với nhau đến già như mấy dãy núi Mường bi, như trái núi Cột Cờ".

Gặp chúng tôi, ông trách yêu: "Sư chúng mày! Sao không báo trước cho tao để còn chuẩn bị, giờ còn phải đi cúng mấy cái đám cưới sao có nhiều thời gian mà cà kê với chúng mày. Mà kể chuyện về lịch đoi thì cả ngày không hết". Nói rồi ông cất giọng ca mấy câu trong bộ sử thi "Đẻ đất đẻ nước" của người Mường và giải thích: "Lịch đoi có từ thuở đất còn bạc lạc, đá thì mới đẻ, con dân Mường Bi nhìn trăng đoán nắng, nhìn sao đoán gió, qua hàng trăm đời người mới làm ra được lịch đoi. Từ đó về sau, người Mường Bi đi cày đi cuốc, bắt tôm mò cá, dựng vợ gả chồng, ngày lành tháng tốt... cứ theo lịch đoi mà làm". 

Nói là cái thuở đất còn bạc lạc chắc chắn phải xa xưa lắm rồi! Người Mường Bi không ai còn nhớ nổi cái thuở đó cách ngày nay bao lâu... Chỉ có điều từ ngàn đời nay, người Mường bi vẫn cứ ca vang câu ca đẻ đất đẻ trời, trong đó có nói đến lịch đoi.

Sau khi cúng xong đám cưới, ông Ểu trở về nhà gặp chúng tôi và lấy trên ban thờ xuống một bộ lịch đoi trên 100 năm tuổi làm bằng cây tre già, thanh tre đen bóng như gỗ lim, rắn chắc như gỗ nghiến. Cầm trên tay 12 thẻ tre, mỗi thẻ dài 20cm, ông Ểu tự hào: "Đây là tinh hoa của đất Mường Bi" rồi giải thích cách mà thủy tổ người Mường Bi sáng tạo ra lịch đoi. 

Người Mường Bi cũng chia một năm ra thành 12 tháng. Hằng năm, các thầy mo có tài chiêm tinh thường lên ngọn núi Cột Cờ, hay ra khoảnh đất rộng, thoáng đãng... để nhìn sao đoi (sao tua rua). Tính từ đông sang tây, vào lúc trăng lên, nếu sao đoi vào trước mặt trăng thì năm tới sẽ nóng, hạn hán. Nếu sao đoi vào sau mặt trăng thì năm tới sẽ có nhiều mưa bão. Nếu sao đoi vào cùng với mặt trăng thì năm tới thời tiết ôn hòa, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu.


Lịch đoi thể hiện tài chiêm tinh, sự sáng tạo của người 
Việt cổ. 

Cách tính lạ

Dựa vào việc nhìn sao đoi, người Mường Bi có cách tính ngày tháng rất độc đáo. Trên mỗi thẻ tre được khắc 30 vạch, mỗi vạch tượng trưng cho một ngày. Tuy nhiên, trong số 30 gạch đó có vạch ngắn, vạch dài, vạch hình mũi tên, vạch có một hoặc hai dấu chấm ở trên...

Ông Ểu giải thích: "Trên lịch đoi, nếu thấy vạch nào hình chữ vê (V) thì gọi là ngày cá, vạch nào có một chấm ở trên thì gọi là ngày tiểu hao, hai chấm thì gọi là ngày hao, vạch hình mũi tên là ngày mưa bão. Số lượng và mật độ của các ngày này thay đổi theo từng tháng. Tháng nào thấy có nhiều vạch hình mũi tên thì tháng đó rất nhiều mưa bão, nếu gieo mạ, cấy lúa... vào những ngày mưa bão thì sẽ bị hư hỏng hết. Nếu vào ngày cá thì người dân đi đánh cá, mò cua bắt ốc sẽ được nhiều. Trong lịch đoi, tháng 1 là tháng có nhiều ngày cá nhất vì đó là thời điểm mùa cá đẻ. Nếu vào ngày hao thì người dân dù có buôn bán bốn phương, lắm của nhiều tiền thì cũng bị thua lỗ... Khi dựng vợ, gả chồng, người Mường Bi phải nhằm vào những ngày vạch ngắn, đó là ký hiệu của ngày bình thường có thể làm đủ mọi công việc mà không sợ bị thua lỗ, nhưng cũng không phát tài phát lộc được".

Bộ lịch đoi được gia đình ông Ểu lưu giữ đã hơn 
một trăm năm nay. 

Việc tính toán các ngày xấu, tốt trong tháng cũng được dựa trên việc quan sát sao đoi và trăng. Trong mỗi tháng được chia thành 4 tuần là tuần đoi, tuần cối, tuần cây, tuần lồm. Trong mỗi tuần, ngày nào sao đoi đứng ở phía trước mặt trăng là ngày nóng, đứng sau mặt trăng là ngày mưa, có ngày trăng lặn, ngày sao mờ... đó là những ngày xấu. Khi sao đoi đứng ở vị trí sát bên mặt trăng, ánh sao sáng rõ, nền trời trong thì đó là dấu hiệu của ngày tốt.

Ông Ểu  cho biết: "Đã là người Mường Bi thì nhà nào cũng theo lịch đoi. Hơn nửa đời làm thầy mo, tôi sử dụng lịch đoi như một thứ bảo bối để giúp dân làng biết được ngày lành tháng tốt để làm ăn, ma chay, cưới hỏi... Bên cạnh lịch đoi, người dân xứ Mường còn sử dụng lịch Tây, nhưng việc này chỉ để biết ngày tháng hành chính theo qui định của Nhà nước".

"Lịch đoi còn có tên gọi khác là lịch Mường, lịch đá. Đây là loại lịch của người Việt cổ, có lẽ xuất hiện từ thời kỳ Văn hóa Đông Sơn cách đây khoảng 4.000 năm. Lịch đoi không chỉ có ở xứ Mường Bi mà có cả ở Mường Vang, Mường Thàng, Mường động. Tuy nhiên đến nay chỉ còn đất Mường Bi giữ được phong tục cổ xưa này vì ở Mường Bi còn duy trì được một lực lượng đông đảo các thầy mo, thầy cúng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của cộng đồng. Lịch đoi chậm hơn lịch âm khoảng 15 ngày. Chính vì thế mà hiện nay người Mường ăn tết hai lần, một lần Tết Nguyên đán theo lịch âm, và một lần ăn tết theo lịch đoi. Đợt ăn tết thứ hai sau đợt Tết Nguyên đán khoảng 15 ngày gọi là ăn tết lại, tết đoi. Lịch đoi có ý nghĩa rất quan trọng đối với văn hóa Việt, nó thể hiện tài chiêm tinh của người Việt cổ thông qua việc quan sát sao, trăng để đoán ngày lành tháng tốt, thời thế, vận mệnh. Lịch đoi cho con người chỗ dựa niềm tin tạo thành sức mạnh giúp con người vượt qua mọi khó khăn, rủi ro".
TS Nguyễn Thị Ánh Hồng (Khoa Văn hóa Phát triển, Học viện Báo chí & Tuyên truyền)

Nguồn: http://kienthuc.net.vn/di-san/201301/Kham-pha-lich-doi-cua-nguoi-Muong-890719/

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

Phát hiện di cốt 3.500 năm ở Vĩnh Phúc


Cập nhật 11/01/2013 04:16:05 PM (GMT+7)
Phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Lân Cường, Phó Tổng thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam cho biết trong khi tiến hành khai quật tại Khu di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu, thị trấn Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, các nhà khảo cổ đã phát hiện được nhiều hiện vật có giá tri, đặc biệt là một ngôi mộ có di cốt người dưới độ sâu khoảng hơn 3m.
Nhận định ban đầu của các nhà khảo cổ học, di cốt này là một người đàn ông, chiều cao trên dưới 1,6m.
Cuộc khai quật do Hội Khảo cổ học Việt Nam phối hợp với Khoa Sử trường Đại học Khoa học xã hội Nhân văn cùng Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch Vĩnh Phúc thực hiện từ 10/12/2012 đến nay.
Bộ rìu đá thuộc văn hóa Phùng Nguyên. 

Đặc điểm của di cốt là có hốc mắt to, sọ và xương cánh tay, xương bả vai... còn nguyên. Răng cửa không còn nhưng theo giới khoa học thì người Phùng Nguyên trước đây, đàn ông tuổi trưởng thành có tục nhổ răng cửa.
Đó là một trong những cơ sở để có thể nhận định người đàn ông được khai quật vừa qua thuộc thời Phùng Nguyên, cách đây khoảng 3.500 năm.
Hiện các nhà khoa học phối hợp với ngành chức năng tỉnh đã vệ sinh hài cốt, bó gỗ và thạch cao bộ hài cốt, sẽ đưa về bảo tàng của tỉnh Vĩnh Phúc. Bên cạnh đó, tiếp tục mời các Viện nghiên cứu, giới khoa học và chuyên môn đo chỉ số, dựa trên các căn cứ khoa học để xác định rõ ràng, chuẩn xác hơn hài cốt nêu trên, tiến hành xử lý và bảo quản thật khoa học để giữ gìn lâu dài, phục vụ khách tham quan, nghiên cứu...
Nhiều hiện vật điển hình khác như rìu đá, bàn mài đá, vòng trang sức, chuỗi hạt bằng gốm, mũi tên đồng, đồ gốm, rũa đồng, các loại trang sức làm bằng sừng và xương các động vật... cũng được phát hiện trong đợt khai quật này và theo giới khoa học, các hiện vật thuộc tầng văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun và Phùng Nguyên.
Bước đầu giới chuyên môn phân tích và có nhận định trên cơ sở những hiện vật khai quật được, có thể nói Đồng Đậu không chỉ là một di tích có diện tích lớn mà còn là di chỉ có tầng văn hóa dày, hiện vật phong phú xếp hàng đầu ở Việt Nam, bao hàm cả 4 giai đoạn văn hóa thời Hùng Vương dựng nước, lớp dưới cùng thuộc văn hóa Phùng Nguyên, lớp giữa thuộc văn hóa Đồng Đậu, lớp trên thuộc văn hóa Gò Mun, lớp trên của ba tầng văn hóa này đã tìm thấy nhiều loại hình công cụ thuộc văn hóa Đông Sơn.
Di chỉ Đồng Đậu được phân chia rất rõ ràng. Phía Đông là nơi sinh sống, còn phía Tây Nam là nơi chôn cất của người Việt cổ thời kỳ Phùng Nguyên. Công việc khai quật ở đây sẽ được tiếp tục triển khai.
Theo Vietnamplus
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/104626/phat-hien-di-cot-3-500-nam-o-vinh-phuc.html

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2013

Thục Phán không phải là người xây Loa Thành?


Cập nhật lúc 13:30 07/01/2013 (GMT+7)

(Kienthuc.net.vn) - Theo chính sử từ xưa đến nay, người xây dựng Loa Thành và chế tạo nỏ thần là Thục Phán An Dương Vương. Tuy nhiên, theo cuốn cổ sử “Ngọc phả Hùng Vương” thì người xây dựng Loa Thành và chế tạo nỏ thần là Hùng Tuyền Vương. 


Tòa soạn xin giới thiệu bài viết này của nhà nghiên cứu Phan Duy Kha như một kênh tham khảo để các nhà khảo cổ, sử học, văn hóa học, dân tộc học… cùng có thêm ý kiến để làm sáng tỏ vấn đề.

Cổ truyền Ngọc Phả về các đời Vua Hùng

Ngọc phả Hùng Vương tên đầy đủ của nó là “Cổ Việt Hùng thị nhất thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyện” . Nghĩa là: Ngọc phả cổ truyền về 18 đời vua Thánh triều Hùng nước Việt cổ. Ngọc phả gồm 21 tờ, 42 trang chữ Hán tổng cộng gần 10.000 chữ. Do Nguyễn Cố, Hàn lâm viện trực học sĩ phụng soạn năm Hồng Đức nguyên niên (1470), Hàn lâm thị độc Nguyễn Trọng trùng đính vào ngày tốt tháng 10 mùa đông Canh Tý, Hoằng Định nguyên niên (1600). Lễ phiên Lê Đình Hoan thừa sao. Bản sao lưu tại nhà quan lang phụ đạo con cháu Hùng Vương cha truyền con nối là dân tạo lệ xã Nghĩa Cương và là Giám thôn Trung Nghĩa. Bàn này hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ.

Ngọc phả Hùng Vương từ xưa đến nay chưa ai dịch toàn bộ, mà chỉ dịch từng đoạn để sử dụng trong các bài viết. Gần đây, GS Ngô Đức Thọ, chuyên gia Hán Nôm mới dịch trọn vẹn.

GS Ngô Đức Thọ, người dịch trọn vẹn Ngọc Phả Hùng Vương. 

Chuyện tưởng chừng không phải bàn cãi

Xưa nay, sử sách của ta đều ghi rằng vua Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Đại Việt sử ký toàn thư và Lĩnh Nam chích quái đều ghi như thế. Đại Việt sử lược tuy không ghi cụ thể nhưng có câu: "Phán đắp thành ở Việt Thường, hiệu là An Dương Vương", thì người ta cũng hiểu, thành ở Việt Thường cũng là thành Cổ Loa. Những chi tiết như Rùa Vàng hiện lên bày cho vua cách xây thành, Rùa Vàng rút móng cho vua để chế tạo nỏ thần... đều được cho là xảy ra dưới thời vua An Dương Vương. Tuy nhiên, có một tài liệu không cho là như thế. Đó chính là Ngọc phả Hùng Vương. 

Theo Ngọc phả Hùng Vương thì việc xây thành Cổ Loa, chuyện Rùa Vàng bày cho vua cách xây thành, Rùa Vàng rút móng tặng vua làm lẫy nỏ đều xảy ra dưới thời Hùng Vương thứ 18, Hùng Tuyền Vương (sử sách của ta thường chép là Hùng Duệ Vương). Sau khi vua Hùng nhường ngôi cho vua Thục thì cũng tặng vua Thục chiếc nỏ thần, có lẫy làm bằng móng rùa, một  loại trang bị kỹ thuật hiện đại nhất, thứ vũ khí cực kỳ lợi hại thời bấy giờ.

Trang 19 trong cuốn cổ sử về Ngọc phả Hùng Vương.
 
"Linh hoa kim trảo thần nỗ"

Sau đây là câu chuyện xảy ra dưới thời Hùng Tuyền Vương, ghi theo Ngọc phả:

"Hùng Tuyền Vương hưởng nước 115 năm rồi nhường ngôi cho rể là Sơn Tinh Tản Viên. Sơn Tinh cố từ không dám nhận. Tuyền Vương nói:

-  Cơ đồ họ Hùng đã hết, khanh có thể lên thay. 

Tản Viên còn do dự chưa quyết thì Thục Vương (là chúa phụ đạo nước Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương) từ xa nghe tin Tuyền Vương nhường ngôi cho Tản Viên, bèn đem quân sang đánh Tuyền Vương để xâm chiếm nước Nam. 

Vua binh hùng tướng mạnh, Thục Vương mấy lần bị đánh bại. Vương bảo với Thục Vương: "Ta có sức thần, Thục Vương không sợ sao?".

Từ đó Tuyền Vương bỏ bễ, không chăm sửa sang võ bị, chỉ đam mê tửu sắc làm vui. Đến khi quân Thục kéo đến tận nơi, vua vẫn say mềm chưa tỉnh. Quân lính trở giáo đầu hàng quân Thục. 

Hùng Vương bèn đắp thành ở Việt Thường rộng nghìn trượng, khoanh tròn như hình con ốc, gọi là Loa Thành. Mới đầu thành đắp đến đâu đổ đến đấy. Bỗng thấy một con Rùa Vàng trên sông từ phía đông bơi đến, xưng là Giang Sứ. Hùng Vương lấy mâm vàng đặt rùa lên đấy rồi hỏi rùa vì cớ gì mà thành đắp cứ đổ mãi. Rùa Vàng đáp: "Đó là do quỷ hại. Phải trừ tinh khí của nó đi thì thành tự nhiên đắp xong" (1).

Thế rồi Tuyền Vương làm theo lời Rùa Vàng, trừ được tinh quỷ (chứ không phải tinh gà trắng như trong chuyện vua Thục sử sách vẫn ghi), quả nhiên, sau nửa tháng thì thành đắp xong. Rùa Vàng bèn từ tạ ra đi. Trước khi đi cũng rút một chiếc móng đưa cho Tuyền Vương để làm lẫy nỏ. "Tuyền Vương bèn sai bề tôi là Cao Lỗ chế nỏ thần, lấy chiếc vuốt thiêng làm máy, đặt tên là "Linh hoa kim trảo thần nỗ". Sau khi có nỏ thần, Hùng Tuyền Vương thu họp tàn quân, tuyển thêm dân binh, rồi sai người đưa thư cho Tản Viên, nói: "Thục Vương đem binh sang đánh, đã chiếm đô thành của ta, khanh mau đem quân đến cứu viện". 

(còn nữa)

Chú thích: (1): Những đoạn để trong ngoặc là nguyên văn Ngọc phả Hùng Vương, bản dịch của GS Ngô Đức Thọ.


“Tôi không phải là người thích những chuyện giật gân gây sốc. Vì vậy, với thông tin này tôi đã phải gác lại, mặc dù tôi đã tiếp xúc với bản dịch Ngọc phả Hùng Vương hơn một năm trời nay. Ngay gần đây, khi viết bài giới thiệu về Ngọc phả Hùng Vương đăng trên Báo KH&ĐS tôi cũng đã gác lại chi tiết này. Và, ngay trước khi gửi bài để đăng, tôi còn đến gặp GS Ngô Đức Thọ, người dịch Ngọc phả để ông xác nhận cho rằng, ông không nhầm lẫn. Tại tư gia của GS Ngô Đức Thọ, ông cầm bản chữ Hán Ngọc phả Hùng Vương dịch trực tiếp, còn tôi thì cầm bản in vi tính để so sánh. Những chỗ cần sửa, ông cầm bút mực màu đỏ, chữa lên bản in của tôi rồi ký tên bên cạnh. Ông bảo: Tôi xác nhận với anh là chính tôi sửa những chữ này, thế là được chứ! Và thế là tôi an tâm. Khi công bố những thông tin này, tôi trích dẫn Ngọc phả Hùng Vương nhiều hơn, cốt để thực sự trung thành với văn bản, không phải qua lăng kính cảm nhận hay suy luận chủ quan của ngườiviết”.


Phan Duy Kha
Nguồn: http://kienthuc.net.vn/di-san/201301/Thuc-Phan-khong-phai-la-nguoi-xay-Loa-Thanh-890254/

TIN LIÊN QUAN

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

Bé mê chụp ảnh



Mê chi cho khổ bé ơi.
Tìm cây, tìm cỏ, tìm người, tìm ta.
Một đời tìm mãi chưa ra!
*


Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Giáo dục 2013 sẽ hết lạc đường


  • 2/1/2013 03:33

"Năm 2013 tôi mong rằng hãy khai phóng một cuộc tranh luận rộng rãi để vạch ra đầy đủ triết lý lạc hậu đang chi phối giáo dục nước nhà; và tranh luận toàn quốc không cần kiêng dè để đi đến đồng thuận..." - GS Nguyễn Ngọc Lanh mong muốn.

Dưới đây là mong ước của đại diện giáo giới, nhà tuyển dụng, sinh viên...về 'bức tranh' giáo dục 2013. Còn đề xuất của bạn để giáo dục 2013 hết lạc đường?. Ý kiến gửi về bangiaoduc@vietnamnet.vn.
GS Nguyễn Ngọc Lanh: "2013 phải thống nhất được triết lí giáo dục..."
Năm 2013 tôi mong rằng hãy khai phóng một cuộc tranh luận rộng rãi nhất từ trước đến nay, để vạch ra đầy đủ thứ triết lý lạc hậu đang chi phối giáo dục nước nhà; và tranh luận toàn quốc không cần kiêng dè để đi đến đồng thuận về một triết lý tiến bộ, phù hợp.
Ảnh Lê Anh Dũng
Điều tôi trăn trở nhất trong 2012 là ta chưa chặn được cái đà xuống dốc của giáo dục nước nhà, giống như một cơ thể suy dinh dưỡng bị xử lý sai, do vậy thể trạng ngày càng suy sụp. Chúng ta có một số biện pháp đối phó với tình thế, thu được một số kết quả, nhưng vẫn chỉ là “rách đâu, vá đấy”, sửa cái ngọn.
Cần đổi mới mọi mặt, nhưng trước hết là đổi mới triết lý và mục tiêu. Đây chính là nguyên nhân khiến GD nước ta lạc hậu, lạc lõng và lạc đường.
PGS.TS – Nhà giáo ưu tú Trần Hữu Tá: "Mong nước mắt nhà giáo không chảy vào trong”
GDVN như một cơ thể mà “lục phủ ngũ tạng” đều có bệnh và môt số bệnh khá trầm trọng. Để phát triển GD, nhà nước cần chọn một vài trọng điểm đột phá, mang tính lan tỏa. Trước hết và chủ yếu cần sớm có kế hoạch cụ thể đổi mới toàn diện và triệt để GD như chỉ thị của Đảng đề ra...
PGS.TS – Nhà giáo ưu tú Trần Hữu Tá (Ảnh Lê Huyền)
Bước sang năm 2013, tôi mong được đọc một bản kế hoạch hoàn chỉnh, tích cực, sâu sắc về đổi mới GD, thấy được một vài hoạt động mang tính đột phá có tác dụng trông thấy được…để nhân dân yên tâm rằng, vấn đề đang triển khai có triển vọng và kết quả, đời sống GV phải thực sự được quan tâm. Cụ thể là GV sẽ được thưởng tết bình đẳng như cán bộ công nhân viên các ngành khác, chứ không phải là một sự chiếu cố trợ giúp.
Thầy Nguyễn Quốc Hùng - Trường THPT Nguyễn Khuyến TP.HCM:"Cần quan tâm hơn đến người thầy...."
Nghề giáo là một công việc rất đặc thù, người thầy dù nghèo khó nhưng trên bục giảng cần phải chỉn chu, tươm tất. Người GV không đòi hỏi có cuộc sống cao sang nhưng làm sao vừa làm tốt nghề mà vẫn duy trì được cuộc sống, do vậy người thầy cần được quan tâm nhiều hơn....
Thầy Nguyễn Quốc Hùng (Ảnh Lê Huyền)
Hiện nay, mức độ tôn trọng của phụ huynh với GV đang thấp dần. Xã hội tôn trọng nghề giáo không được mười phần như ngày xưa thì nên được một phần để người thầy đứng trên bục cảm thấy hạnh phúc vì được tôn trọng. Qua vấn đề này, nhà nước và các cơ quan cũng cần quan tâm vấn đề đạo đức học sinh hơn nữa; ngoài việc cải tiến các môn học chính, cần có cải tiến lại môn giáo dục công dân, giáo dục cho học sinh những điều gần gũi nhất.
Em Vũ Kim Khánh: "Quan tâm tới các học sinh vùng sâu, vùng xa
Là một học sinh ở thành phố, em thấy việc Bộ GD-ĐT cho dùng chung một cuốn SGK trong cả nước là hơi chênh lệch. Đối với những bạn ở thành phố dễ có điều kiện, thời gian và được đầu tư nhiều hơn nên cần được tăng cường học thêm môn chuyên về Toán, tiếng Anh…Trong khi đó ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, nhiều bạn mong muốn được đi học nhưng do không có điều kiện là một thiệt thòi lớn.
Vũ Kim Khánh
Theo Khánh, Việt Nam là một đất nước có nhiều nhân tài, nhưng điều kiện về học tập còn hạn chế, nhiều học sinh không có đủ tiền và điều kiện để theo học. Khánh mong nhà nước sẽ đầu tư cho các bạn miền núi nhiều hơn nữa, dù khó khăn, nhưng em vẫn tin và mong các bạn học tốt.
Mẹ thủ khoa Lê Dức Duẩn"Mong giới trẻ chọn được đường đi đúng đắn..."
Những ngày cuối năm, gọi điện cho Duẩn nhưng cô Thu - mẹ Duẩn cầm máy.Cô Thu phấn khởi cho biết: Duẩn nhờ rèn luyện và ăn uống điều độ trong môi trường quân đội đã lên được 7kg. Cô dù còn ốm cũng đã tăng được 1kg....

Hỏi cô mong ước gì cho năm 2013 tới, người mẹ chỉ cười “cô mong Duẩn phải cố gắng học tập để giữ được kết quả, không phụ lòng mọi người. Mong con sẽ luôn khắc cốt việc học để sau giúp người”.
Với các cháu và gia đình cô chỉ hi vọng dù không thi đỗ ĐH,CĐ nhưng các cháu biết chọn cho mình đường đi đúng đắn, học nghề cũng tốt miễn sau sớm có việc làm phù hợp để giúp gia đình.
Cô Thu cũng mong những hoàn cảnh khó khăn nhưng hiếu học sẽ luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ kịp thời của xã hội để sự học không bị đứt đoạn.
Ông Vũ Tuấn Anh, GĐ điều hành Viện nghiên cứu và đào tạo về quản lí:"Mong mỗi SV có khả năng là một lao động tự lập"
Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đào tạo cho doanh nghiệp, các tổ chức lớn trong và ngoài nước về công tác đào tạo SV - trong năm 2013 ông mong muốn giáo dục nước nhà cần cân nhắc khả năng thực hiện các nghiên cứu khoa học có tính chất ứng dụng thực tiễn cao.

Các thầy cô giảng dạy cần phải chủ động tham gia vào nghiên cứu và các hoạt động tại doanh nghiệp. Bản thân các thầy cô cần phải là những đầu tầu kết nối với các đơn vị bên ngoài. 
Các chương trình đào tạo tại đại học tập trung dạy cho các bạn sinh viên về khả năng tư duy hệ thống, phương pháp luận và giải quyết vấn đề, sáng tạo, tư duy độc lập. Dựa trên những điều đó người sinh viên sẽ trở thành chủ thể học tích cực thay vì là chủ thể học bị động như hiện nay...
  • Văn Chung - Lê Huyền (ghi)
  • Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/103342/giao-duc-2013-se-het-lac-duong.html

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Phát lộ chưa từng thấy tại Hoàng Thành Thăng Long


27/12/2012 15:31
“Đường nước bằng gạch “khổng lồ” chưa bao giờ thấy trong bất cứ di tích khảo cổ nào ở Việt Nam kể cả khu vực Hoàng thành Thăng Long”, báo cáo sơ bộ của Viện bảo tồn di tích về các hố thăm dò khảo cổ học mới gần đây tại khu vực Hoàng Thành Thăng Long nhận định. 

Trong cuộc hội thảo báo cáo sơ bộ kết quả thăm dò khu vực chính điện Kính Thiên năm 2012 sáng 26/12, Viện Khảo cổ học đã bất ngờ tiết lộ một dấu tích kiến trúc thời Lý đích thực ở khu vực bắc Đoan Mô. Đó là đường nước lớn xây hoàn toàn bằng gạch vuông, gạch bìa có hai hàng gỗ đóng sát hai bên phục vụ chống lún với các dấu hiệu kiến trúc thời Lý hứa hẹn một công trình kiến trúc rất hoành tráng chưa từng có tại Việt Nam. 
Đường cống thoát nước khổng lồ thời Lý - phát hiện mới tại Hoàng Thành Thăng Long.
Công trình này được phát lộ và có kích thước lớn chạy dọc suốt theo hướng Bắc – Nam, lại có nhánh chạy về phía Tây đổ nước vào đường nước lớn thời Lý phía dưới nên việc tìm cách khai quật để lý giải quy mô, chức năng của di tích gặp khá nhiều khó khăn.
Một số nhà khoa học đã đưa ra một số giả thiết về chức năng của di tích:
- Đường nước lớn có quan hệ chặt chẽ với móng sành (móng tường) nhằm phục vụ cho việc thoát nước của một khu vực quan trọng thuộc Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long thời Lý.
- Dấu tích tâm linh có quan hệ chặt chẽ đến khoa học phong thủy của khu vực trung tâm Hoàng cung thời Lý.
- Một loại dấu tích có chức năng đặc biệt nào đó có quan hệ trực tiếp tới các vua Lý mà hiện nay chưa thể lý giải ngay được.
- Giả thiết cuối cùng cho rằng đây không phải đường nước vì kích thước lớn quá mà có thể là dấu tích móng nền kiến trúc lớn của khu vực trung tâm thời Lý.
Cống dài chạy suốt theo hướng Bắc – Nam trong Thành với quy mô rất lớn. 
Cho dù còn rất nhiều giả thiết được đưa ra để lý giải phát hiện khảo cổ bất ngờ này tại Hoàng Thành Thăng Long thì những dấu tích, hiện vật trong quá trình khai quật đã cho thấy đây là một công trình kiến trúc có giá trị lớn.
Miệng cống có một viên gạch hoa thời Trần rất đẹp mang phong cách nghệ thuật điển hình của thời Trần. Phía trên đường mòn sành thời Lý có dấu tích dải trang trí “hoa Chanh” thời Trần.
Tuy nhiên sau khi được các nhà khảo cổ học gấp rút chỉnh lý, định vị, toàn bộ phát lộ này sẽ được phủ giấy Mec Nhật Bản rồi lấp lại toàn bộ nhằm bảo vệ toàn vẹn di tích. Song hiện nay đã có rất nhiều nhà khoa học đưa ý kiến là không nên. GS Phan Huy Lê cho rằng: “Phải mở cửa cho người dân được chiêm ngưỡng vì di sản không phải của các nhà khoa học, nhà quản lý mà là của cộng đồng".
Tuy nhiên, do thời tiết mưa ẩm tại miền Bắc nên nhiều nhà khoa học cho rằng cần phải xử lý gấp rút công trình hoặc phải có kế hoạch bảo quản nền gạch trước khi bị rêu mốc xâm lấn và mất đi giá trị hiện vật.
Hình ảnh PV Vietnamnet ghi lại được tại khu vực khảo cổ mới phát hiện này tại Hoàng Thành Thăng Long


Phần khai quật khảo cổ rộng lớn nhưng vẫn chỉ là một điểm trong công trình kiến trúc này.


Các cọc gỗ được đóng ở hai bên thành cống.

Phần nền cống được ốp bằng gạch vuông, hai bên được xây bằng gạch bìa có cọc gỗ đóng chống lún.
Cửa cống thoát nước thời Trần

Miệng cống có một viên gạch hoa lót đáy cống thời Trần với hoa văn đặc trưng hết sức đẹp mắt



Một mảnh gốm hoa văn phát lộ trong quá trình khai quật.

Các tầng địa chất lộ nhiều di vật bằng sành, gốm.
Hoàng Nguyên
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/102850/phat-lo-chua-tung-thay-tai-hoang-thanh-thang-long.html