Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2023

Đi



Ngày xưa hăm hở đi ra,
Bây giờ cặm cụi đi vào cõi trong.
Đi hoài chưa đến đáy lòng!

*

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

Tứ Mạt Ca

 

  • PHẦN I: TỨ MẠT CA
  • PHẦN II: ĐI TÌM LAI LỊCH BÀI CA TỨ MẠT
  • VẤN ĐỀ TÁC GIẢ
  • AI LÀ TÁC GIẢ CỦA TỨ MẠT CA?
  • III – THỨ NHẬN ĐỊNH

PHẦN I: TỨ MẠT CA


01-

Thong dong ngẫm nghị sự đời
Lấy trong kinh huấn mấy lời mà suy:
Chữ rằng: Sinh kỷ tử quy.
Ở đời là chốn tạm thì mà thôi

Xưa nay danh lợi mấy người,
Nào ai đã sống ở đời mãi đâu!,?
Biển đời bãi cát ngàn dâu
Khác nào như bóng bạch câu qua mành
Thấy rồi tưởng lại tủi mình
10- Lấy câu Tứ Mạt hết tình thở than!
11- Lời trong Kinh Thánh dạy rằng
Một là sự chết hiển nhiên rõ ràng;
Dầu mà những bậc đế vương,
Những người hèn, dại, những phường khôn ngoan,
Đám mây ngọn khói tiếng đàn,
Sương sa bãi cát hoa tàn cội cây:
Trường giang nước những chảy hoài,
Sớm qua tối lại, đưa người cổ kim,
Bóng đưa thấp thoảng quang âm,
20- Người đã qua trước, ta lần theo sau,
Vốn xưa Tạo Hóa nhiệm mầu,
Nào ai đã trốn khỏi cầu tử sinh.
Phải suy sự chết cho rành,
Kìa ngày sau hết, run minh sợ thay!
Thương ôi! nhiều nỗi đắng cay!
Xem trong thân thể khác ngày bình sinh,
Chân tay xem đã khác hình,
Khi ăn khi ngủ khôn tình được yên,
Con mắt thấy đã sưng lên
30- Tứ chi quyết lạnh, sắc nhìn xanh xao,
Thầy hay thuốc đã biết bao,
Kìa phương lục vị, nọ cao thập toàn,
Bệnh cơ đến lúc gian nan,
Tâm thần bất tỉnh, bàng hoàng như say,
Hoặc là những kẻ thơ gây,
Còn trông lâu tháng dài ngày nhởi chơi;

Hoặc là kẻ mới đôi mươi,
Còn đang chuộng sắc tham tài chưa thôi,
Hoặc là những kẻ ăn chơi,
40- Bài tôm, cờ tướng vẽ vời được thua;
Hoặc là những kẻ nông phu,
Cày mây cuốc gió sớm trưa giãi dầu,
Những mong tạu ruộng mua trâu,
Mở vườn lập tước làm giàu làm sang.
Hoặc là những kẻ văn chương,
Sách đèn giong giả khoa trường chăm lênh,
Những mong chiết quế vương đình,
Thám hoa đế diện hiển vinh trong đời.
Hoặc là những kẻ lưới chài,
50- Kinh nghề sú vược liệu bài đón ve.
Hoặc là buôn bán trăm nghề,
Lời mười một vốn tàu bè trẩy trương.
Hoặc người làm thợ làm thùng,
Những mong tạc phượng thêu rồng vẽ lân.
Đều còn tính việc làm ăn,
Ai ngờ sự chết lần lần theo sau,
Kẻ khinh người trọng như nhau,
Trên rừng dưới biển trước sau một đàng,
Mai mê tước lộc vinh quang,
60- Chẳng hay một giấc mơ màng mộng xuân.
Của trần để lại cho trần,
Dầu ai tạc phượng thêu rồng mặc ai,
Đời người đến thế thì thôi,
Đã hết sự đời các việc sạch không.
Hoặc là vợ thác trước chồng,
Than rằng! em hởi, cực lòng anh thay!
Vợ chồng kết tóc giao tay,
Những mong phận đẹp duyên hài bách niên,
Ai ngờ bến lại xa thuyền,
70- Âm dương cách biệt cho nên nỗi này!
Buồng hương lạnh ngắt đông tây,
Lấy ai niu nứng một bầy con thơ!
Tiếc thay tài sắc khôn vừa,
Cười hay mới biết đã vừa khôn ngoan!
Nữa chừng trâm gãy gương tan,
Cũng mang lấy kiếp hồng nhan làm gì?"
Hoặc là chồng thác bây giờ,
Vợ than: "Anh hởi, sao mà bỏ tôi?
Đoạn trường đáo để khúc nôi,
80- Lấy ai lo lắng trong ngoài cho xong?
Ngờ nào được vẹn chữ đồng!
Có sao lại để lạnh lùng phòng loan?
Làm chi khói tắt hương tàn,
Bâng khuâng lá bạc qua ngàn rừng xanh!
Tiếc thay một đấng tài tình,
Văn hay võ giỏi thông minh trong đời,
Nữa chừng lá rụng hệu rơi,
Tiếc công khó nhọc tiếc người tài hoa!"
Hoặc là con khóc mẹ cha,
90- "Cha ôi mẹ hỡi sao mà bỏ con?
Có cha gót đỏ như son,
Bấy giờ cha thác gót con đen sì!
Có mẹ thì mẹ bù chì,
Bây giờ mẹ thác con thì cậy ai?
Từ nay vắng vẻ trong ngoài,
Chẳng ăn, chẳng nói, chẳng cười, chẳng đi,
Chẳng còn dạy nhủ điều chi,
Chẳng còn kẻ nể người vì nữa đâu.
Chẳng còn nếm sự ngót ngào.
100- Chẳng còn thăm viếng đến nhau nữa rồi.
Làm chi vật đổi sao dời?
Long đong nghĩa trước ngẫm ngùi duyên sau,
Nỗi niềm tưởng đến mà đau.
Thấm trong ngan phổi, sương dầu cỏ non,
Thôi đành sinh tử lẽ thường.
Sống đời ví cũng như dường chiêm bao!
Ai ôi! Phải liệu làm sao?
Khách đày quán tạm người nào được lâu?
Vậy nên ta phải lo âu,
110- Chớ còn chuộng quý tham giàu làm chi,
Ở thời thì phải theo thời
Hàng ngày dùng đủ với đời thì thôi.
Nhớ trong Tin kính mấy lời,
Tin có sự sống đời đời chẳng sai.
Bây giờ suy lẽ thứ hai
Người đã chết rồi, hồn phải đi đâu?
Suy lường ý Chúa nhiệm mầu
Dựng nên trời đất mới âu sinh người
Dựng nên muôn vật muôn loài,
120- Để cho người thế hôm mai được dùng;
Dựng nên xuân hạ thu đông,
Tinh thần nhật nguyệt xoay vần sáng soi.
Ban cho trí tuệ hơn loài,
Biết suy sự phải, biết bày sự nên;
Soi cho biết Chúa thượng thiên,
Phượng thờ chân hiếu một niềm chí tôn,
Đời này dự vẹn răn truyền,
Ngày sau hưởng phúc thiên niên đời đời,
Ví không dự được như lời,
130- Sau này phải phạt trong nơi ngục hình,
Nhớ lời thường đọc trong kinh;
Ngày sau phán xét chí bình chí công,
Vậy khi ta đã mệnh chung,
Linh hồn phải đến khiêm cung trình bày,
Than rằng run sợ lắm thay!
Suy đến sự này đáo để lòng tôi,
Vì khi còn sống ở đời,
Những bưng con mắt như ngồi trong hang,
Những mê giấc mộng đêm tràng,
140- Biết đâu địa ngục thiên đàng là đâu;

Bây giờ mới tỏ âm hao.
Quang mây mới rõ ngôi sao trên trời,
Giấc mê rày đã tỉnh rồi,
Quả nhiên thật có như lời truyền xưa,
Uy nghi phảng phất gần xa,
Nhãn tiền ngự đó thật là Ngôi Hai,
Chung quanh các thánh dẫy đầy,
Có thánh quan thầy có thánh Angiô,
Có cờ Câu Rút sáng lòa,
150- Nghiêm trang chói lói một tòa hiển nhiên,
Linh hồn đến trước điện tiền,
Sách biên tội phúc Chúa liền mở ra
Bây giờ Chúa mới xét tra,
Rằng: khi ở thế đã là làm sao?
Phúc thật tám mối thế nào,
Chừa tội bảy mối, làm sao trình bày:
Mười răn giữ vẹn hay sai,
Sáu điều Hội Thánh một bài xét tra,
Dầu mà bát nước ban ra,
160- Hư từ một tiếng, đều là phải thưa,
Phải là ở thế ngày xưa,
Sớm trưa cần mận phượng thờ Chúa trên.
Bụt thần ma quỉ chẳng tin,
Mười răn vẹn giữ lời truyền Chúa xưa,
Thì Người phán dạy bây giờ,
Rằng: "Con ăn ở đã vừa lòng Cha:
Lỡ thì cho khách đậu nhà,
Khát thì cho uống đói đà cho ăn,
Rày Cha thưởng phúc cho con,
170- Thiên đàng chốn ấy, thanh nhàn thiên niên",
Hoặc là khi ở thế gian,
Những theo xác thịt việc hồn thì không,
Tiếng rằng giữ đạo cha ông,
Cũng có tên thánh, song lòng chẳng tin.
Ngày kiêng thịt đánh kìn kìn,
Luật trong Hội Thánh, chẳng nhìn tới nơi.
Thầy khoa bà bói thì hay,
Lòng tin mến cậy Chúa rày thì không.
Ở ăn cậy thế cậy hùng,
180- Đạo quân sư phụ, sạch không làu làu,
Lòng đầy tích những gươm đao,
Lo tìm chước độc mưu cao hại người.
Điều lành gác để ngoài tai,
Hoa tình tục tĩu là bài học ôn,
Việc người bắt méo bắt tròn,
Bao giờ mình được bạc vàng mới tha,
Lại thêm đốt cửa hại nhà,
Xoi tường khoét vách ghê đà quá thôi,
Chuyện mình giấu giếm đầu đuôi,
190- Chuyện xấu gì người vạch lá tìm sâu,
Kiếm đàng dối trá hại nhau,
Nói hành bỏ vạ làm cao làm càn,
Tóc tai ve vuốt chững chàng,
Trong lòng vốn những mơ màng nguyệt hoa,
Lại thêm cờ bạc rượu trà,
Tham lam của cải người ta quá chừng,
Lâu năm bỏ tội không xưng,
Ai bảo thì rằng: Tôi có tội chi,
Nhà thờ lễ lạy không đi,
200- Nghe có việc gì xôi thịt thì mau,
Bao nhiêu tội ác trước sau,
Bày ra xát xát từ đầu chí đuôi,
Ăn năn thì đã muộn rồi,
Mình làm mình chịu hởi ôi! lẽ gì!
Mùa thương thì đã hết kỳ,
Đến giờ oán phạt còn gì nữa đâu!
Ai ôi! Suy nghĩ làm sao?
Dối trá thế nào, chạy chữa cùng ai?
Sau lưng có quỉ cáo nài,
210- Dầu thánh quan thầy chẳng lẽ chữa bênh,
Bồi hồi bứt rứt trong mình,
Thấy tỏ ngục hình, thảm thiết đắng cay!
Lời nghiêm Chúa mới phán rày:
Ơ loài vô phúc, ơ loài bất nhân!
Mày đã phản Chúa, phụ quân,
Thì giao quỉ dự bắc cân lý hình"
Ai ôi! Thật sợ thật kinh!
Xét lại trong mình tội lỗi lắm thay!
Trần gian là chốn khách đày,
220- Ba thù cám dỗ khi nay thì nhiều,
Mùi ngon, sắc đẹp lòng yêu.
Hãm mình chịu khó phần nhiều chẳng ưa,
Vui chơi dầu mấy cũng vừa,
Hôm mai kinh hạt nữa giờ đã lâu,
Chấp tay quỳ gối nguyện cầu,
Trông ơn Chúa Cả trên đầu đoái thương,
Ban ơn biết cách đo lường,
Ăn năn đời tạm tìm phương hãm mình.
Ghi lòng phán xét công bình,
230- Kẻo trong ngày ấy trách mình, mất công.
Phán xét các việc vừa xong,
Thiên đàng mở cửa trông mong người lành,
Ngục hình rẽ đất mở phành,
Muôn vàn quỉ dự đứng rình tội nhân.
Vậy ta suy chốn ngục hình,
Là nơi những lửa diêm sinh dẫy đầy,
Chúa xưa đã dựng ngục này.
Nghiêm trừng thần dự là loài quỉ ma,
Nó hằng cám dỗ người ta,
240- Ai mà theo nó phải sa ngục này,
Ngục này là ngục đắng cay,
Là chốn dẫy đầy những lửa sinh diêm.
Tội nhiều thì lửa càng thêm,
Trăm năm như mới chẳng êm chút nào.
Mấy người sa xuống vực sâu,
Dễ ai lấp thảm, bớt sầu cho ai,
Máu tuôn nước mắt đượm dài,
Than thôi lại khóc khóc rồi lại than.
Than rằng: Biển lửa mêng mang,
250- Bao giờ cho tắt cho tàn lửa ôi!

Lửa này biết lúc nào thôi,
Lửa này biết lúc nào rồi mà trông!
Lòng ôi! Đáo để chưa lòng,
Lòng mê sắc dục lòng mong rượu trà,
Lòng lo hà hiếp người ta.
Lòng lo cao cửa rộng nhà cho sang.
Lòng lo tích trử bạc vàng,
Lòng lo hút sách hoang đàng say sưa.
Lòng lo phận đẹp duyên ưu,
260- Lòng lo dối trá phỉnh phờ người ta,
Lòng lo trang điểm lụa là,
Trau ăn trau mặc sa đà nhởi chơi,
Rày lòng muốn nữa hay thôi?
Làm chi cho cực thân tôi hởi lòng!
Mấy người trước có lòng chung,
Đêm ngày giảng dạy cho lòng được hay,
Mà lòng chẳng để vào tai,
Thì lòng có được trách ai bây giờ ?
Lòng sao mê muội ngẩn ngơ,
270- Tham vui một chút chóng qua làm vầy ?
Trách ai thổi gió đưa mây,
Đem đàng mở lối cho mày được theo.
Biết thân vui ít khổ nhiều,
Đã đem tiền bạc mà liều cho thân?
Của ôi! Của để cho con,
Nào con có biết nước non nôi này ?
Nghĩ càng thêm nôi đắng cay,
Rưới tuôn biển bạc, lấp dày non cao.
Đêm ngày nóng nảy khát khao.
280- Nhờ ai hạt nước giọt vào đây cho!
Trách mình sao chẳng biết lo.
Xưa rày ơn Chúa ban cho đã nhiều!
Mình ăn mình chẳng kính yêu,
Mình mê xác thịt mình theo sự đời.
Mình không biết Chúa là ai,
Nên mình phải phạt đời đời khốn thân,
Xưa nay tốt áo dài quần,
Trâm gài phấn xức bao chân dép giày,
Rày nên phách lạc hồn bay,
290- Cổ mang hoạn lửa, chân dày bàn chông,
Trăm nghìn rắn độc vào lòng,
Thần kinh quỉ khốc ầm ầm như lôi,
Khổ xưa đến chết thế thôi,
,Khổ này quá khổ muôn đời còn trơ.
Mẹ cha thà chớ sinh ra,
Làm chi mà để xót xa đời đời ?
Bao giờ cho thấy Chúa tôi.
Cho phai ngọn lửa cho nguôi lòng phiền,
Ấy là đầy phúc cửu truyền,
300- Vốn trong Kinh Thánh đã truyền khôn sai.
Phúc cho kẻ Chúa sáng soi:
Soi lòng mở trí biết lời Thánh Kinh,
Biết đàng đền tội sửa mình,

Thưởng công ắt đã để dành có nơi.
Kẻ sa hỏa ngục đã rồi,
Người thăng thiên quốc là người vinh quang,
Vậy ta suy sự thiên đàng,
Thánh Kinh truyền để rõ ràng khôn sai.
Thiên đàng là chốn no đầy,
310- Là nơi vinh phúc khôn tày khôn so;
Là nơi Thượng đế ngự tòa,
Cực sang, cực trọng, gồm no mọi đàng,
Miệng nào kể xiết giàu sang,
Trí nào suy thấu mọi đàng hiển vinh!
Hảy xem trong chốn triều đình,
Đền đài lầu các hữu tình minh quang,
Ấy là việc giả thế gian,
Tài hèn trí mọn còn toan thế này,
Phương chi Vua cả trên trời,
320- Là Vua trên hết các loài làm vua,
Tốt lành phúc đức gồm no,
Thì tòa trọng ấy ai so cho bằng?
Tóm tắt chỉ nói được rằng:
Là nơi vinh phúc muôn phần vẻ vui,
Dầu mà đã hưởng muôn đời,
Khác nào một lát một hồi chán đâu,
Muôn vàn thần thánh quỳ chầu,
Đai vàng áo tía trước sau rõ ràng,
Tháp ngà sân ngọc thành vàng,
330- Dưới trên đàn dạo nhịp nhàng âu ca.
Dầu mà nói mấy cũng là,
Như không như bóng sáng đà vào đâu,
Thánh xưa chỉ chép một câu:
"Mắt chưa hề thấy tai hầu chưa nghe,
Trí khôn bày vẽ chưa hề".
Ấy là Thánh đã xem nghe chép truyền.
Chớ gì ta nhớ liên liên,
Ắt là giữ đạo vững bền chẳng sai,
Nhớ rằng sống ở trần ai,
340- Như hoa sớm nở chiều hoai ra gì,
Nhớ rằng phán xét uy nghi,
Công bình nhiệm nhặt chẳng vì ai đâu.
Nhớ rằng địa ngục thẳm sâu,
Muôn nghìn điều khổ điều sầu điều cay.
Sinh diêm biển lửa dẫy đầy,
Nướng nung kẻ dự đêm ngày chẳng nguôi,
Nhớ rằng có chốn trên trời,
Thanh nhàn vui vẻ đời đời vô chung.
Muôn nghìn phúc trọng lạ lùng,
350- Thưởng người chịu khó lập công ở đời.
Thỉ chung tứ mạt mấy lời,
Ghi lòng tạc dạ muôn đời đừng quên,
Ấy là giữ vẹn răn truyền,
Lập công chịu khó ở miền trần gian.
Mai sau tới nước Thiên Đàng,
356- Lãnh phần phúc lộc thanh nhàn. Amen.

Sưu tầm và biên tập: J.B Antôn Hoàng Cảnh Hồng


PHẦN II: ĐI TÌM LAI LỊCH BÀI CA TỨ MẠT


(Bài đăng Nguyệt san CG&DT, số 107, Tháng 11 năm 2003)


Xin được giới thiệu với bạn đọc báo Công Giáo và Dân tộc và với toàn thể Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, một áng thơ Công Giáo mà chúng tôi thấy có mặt tại Giáo phận Vinh chúng tôi đã thấy từ rất lâu. Đó là TỨ MẠT CA hay BÀI CA TỨ MẠT. Nguyện vọng của chúng tôi là: Đem trình làng cho biết: Ai là tác giả của áng thơ này.

Giới thiệu nó như một tác phẩm gọi được là cổ, nhưng cũng không thiếu chất hiện đại, mà về văn chương, – theo thiển ý, – mọi người nên biết, vì phải nói đây là một trong những áng thơ tuyệt bút; còn về mặt tôn giáo, phải kể là nó rất có ích cho việc phổ biến những chân lí vĩnh hằng của Giáo lí Công Giáo, những chân lí được coi là không thể không năng được suy niệm, nếu muốn sống đúng lí tưởng Tin Mừng, nhằm góp phần thăng hoa đời sống người Kitô hữu, ngay cả- và nhất là- trong giai đoạn và nếp sống, về mặt đạo đức, đang băng hoại nhanh chóng trước sự lo âu trăn trở của mọi người có tâm huyết tiền đồ của nhân loại, của Đất Nước và của Giáo Hội.

Cũng như với nhiều áng thơ Công Giáo khác, với TỨ MẠT CA này, chúng ta có thêm bằng chứng cụ thể và hùng hồn để tự hào về những gì mag lịc sử Tin Mừng hóa trên đất nước chúng ta đã góp vào kho tàng văn hóa của dân tộc.

VẤN ĐỀ TÁC GIẢ



Một sự thực là TỨ MẠT CA này đã một thời rất được phổ biến rộng rãi và được mến chuộng tại các giáo xứ ở Nghệ Tĩnh Bình. Tứ Mạt Ca là một áng thơ đẹp quá về mặt văn chương mà cùng ý nghĩa quá về mặt tâm linh. Những năm 30 của thế kỷ hai mươi, áng thơ này được rất nhiều người,- đặc biệt là giới nữ, – ở giáo phận Vinh thuộc lòng và năng đọc; đọc chung trong nhà thờ, ngâm nga ở gia đình, mẹ chị ru con ru em với Tứ Mạt Ca, yên ủi kẻ liệt với Tứ Mạt Ca, xay lúa giã gạo với Tứ Mạt Ca, tay cày tay cấy với Tứ Mạt Ca... Nội dung giáo lí của nó về Bốn Sự Sau nhờ đó thấm dễ dàng và thấm sâu vào tâm hồn người tín hữu, sâu đến trở thành một động lực mãnh liệt làm người ta ăn không ngon ngủ không yên trước những câu hỏi lớn nhất về đời người, sâu đến gây xáo trọn lạnh mạnh, đến những cuộc đổi đời theo hướng thiện hảo.

Ai là tác giả của áng thơ Ca Tứ Mạt ?

Chúng ta đều biết: Đạo Công Giáo có mặt trên đất nước Việt nam đã hơn 4 thế kỉ. Ngay những hồi đầu, trong số các nhà truyền giáo người nước ngoài và bên cạnh họ, những nhà nho công giáo hoặc nho sĩ người lương theo đạo Công Giáo, các Thầy Giảng người Việt..., nhiều người rất thông Hán Nôm, rất có tài làm thơ ca, hò vè..., họ đã tích cực vận dụng thơ văn với nhiều thể loại làm phương thứcđưa đạo lí Tin mừng vào tâm hồn và cuộc sống nhân dân ta. Lịch sử nhiều giáo phận cũng thấy nói đến hiện tượng văn hóa tích cực này.

Riêng ở giáo phận Vinh, lịch sử ghi rõ việc các nhà truyền giáo ở đây, cách riêng cha Majorica...đã cổ động và tổ chức thực hiện cách xuất sắc, việc sáng tác thơ, ca, hò, vè, kịch..., và đặt những cung ngắm nguyện, những cung đọc cho mỗi loại sách: Cung nguyện ngắm, cung Ngắm Sự Thương Khó, cung sách Lọn lành, cung Giảng sự Thương Khó, cung Sử ký Hội thánh, linh mục Nguyễn văn Trinh, trong cuốn: Lược Sử Giáo Hội Việt Nam (tài liệu cho giảng viên giáo lí 1990) đã nói về Linh mục Thừa sai Giêrôm Majoroca, hoặt động ở Nghệ An và Thanh Hóa từ 1632, rồi lên thay Linh mục Morelli làm Bề Trên Đàng Ngoài 1649 như thế này: "Một mình cha Majorica kiêm vùng Nghệ An, Thanh Hóa. Cha là người đầu tiên soạn sách bằng chữ nôm: Loại sách minh giáo, sách thiêng liêng đọc chung trong nhà thờ, hạnh các thánh" (sdd t.74). Chúng tôi hoàn toàn tán đồng việc sưu tầm, phục chế những di sản văn hóa Công Giáo quí giá đó. Nào như vậy không phải là các bậc tiền bối đã thực hiện rất thành công một trong những công việc mà chúng ta thời nay đang phàn nàn chưa biết thực hành như thế nào, đó là hội nhập văn hóa đó sao? Trong tinh thần đó, chúng tôi mạnh dạn giới thiệu với tất cả mọi thành phần Dân Thiên Chúa trên đất nước chúng ta, một trong những áng thơ có một không hai này. Mong được ý kiến đóng góp của tất cả.

Đây là nội dung và hình thức tập sách trong đó có TỨ MẠT CA, với những gì chúng tôi biết chắc và những gì chúng tôi chưa rõ:

Tập sách có tựa đề là TỨ CHUNG.

Những trang đầu là thế này:
1
TỨ CHUNG
ĐỨC CHA HẬU

coi sóc địa phận Nam ngoài bắc kỳ

đã dọn



TỨ MẠT CA
HONG KONG

Tứ Chung (từ trang 5 đến trg 129)

Phần văn xuôi của Đức Cha Gauthier Ngô Gia Hậu. Nội dung là suy ngẫm về 4 sự sau cùng đời người: Sự chết, sự phán xét, thiên đàng, hỏa ngục.

Tứ Mạt ca (từ trang 129 đến 141)

Phần văn vần là phần Diễn ca cả phần Tứ Chung ở trên, nhằm giúp giáo hữu dễ thuộc nội dung giáo lí ở phần TỨ CHUNG.

Trang cuối là thế này:

NIHIL OBSTAT

F.MONNIEP
Superior domus Nazareth

26 Novembr 1915

IMPHIMATUR

A.ELOY.EP.TIT.MAGYDENSIS
VICARIUS APOST. TUNNIKI . MEDIRIONALIS

Xã đoài, die 30 augusti 1915

IMPHIMATUR
D. POZZONI. EPISC.TIT.TAV.

VICAR. APOST. HONGKONG

Hongkong du 25 novembr 1915

Và đây là những điểm chúng tôi thấy không rõ ràng, mong được bạn đọc nhất là ở các giáo phận bạn, trong nước hay nước ngoài giúp ý kiến:

Thừa sai VitorBarbier, tên thật là Cố Hòa, nói trong lời tựa rằng: TỨ CHUNG là của "Đức Cha Hậu lối lại cho con cháu người muôn đời". Và nói tiếp: "ta mới tìm được một bản thì ta vội vàng in cho con chiên bổn đạo được nhờ."

Theo một tài liệu mà năm 1995 chúng tôi đọc thấy ở Kho Lưu trữ Hội Truyền Giáo Paris, Rue du Bac... thì một vị thừa sai người Pháp khác đã từng phục vụ tại Vinh, là Nivet-Ninh nói rằng TỨ CHUNG không do Đức Cha Hậu sáng tác, Đức Cha Hậu chỉ dịch một cuốn sách ở Trung Hoa của Cha Ortiz dòng thánh Âutinh thời vua Khang Hy, thư mục Nazaret 1911.. (DH 330-3, Correspondance P.Barbier 1906-1936, trang 18). Vấn đề này, không phải là điều chúng tôi chủ ý đặt ra ở đây. Bởi lẽ ý kiến thừa sai Nivet-Ninh cũng còn phải được phân tích phê phán xem có thật khách quan không...

Điều chúng tôi muốn được sáng tỏ là: Ai là tác giả của phần TỨ MẠT CA in kèm TỨ CHUNG, mà Cố Hòa nói là "Cuối sách này, ta thêm Ca Tứ Mạt cho ai nấy dễ thuộc lòng, hầu được suy ngắm bốn sự cùng sau hết loài người ta cho liên"?

Tại Giáo Phận Vinh trước đây, ai cũng biết Cố Hòa chính là thừa sai Victor Barbier, là tác giả của 2 tập từ điển Pháp – Việt và Từ điển Việt – Pháp, dạng bỏ túi, rất thông dụng vào những năm 1910-1945 ở Giáo phận VINH, cũng như những tập Hồi kí, Nhật kí tự tay Người viết, cho biết nhiều điều lí thú về nội bộ Giáo phận Vinh, quan hệ giữa các Giám Mục đương thời và hàng ngũ thừa sai, việc bỏ phiếu chọn và việc bổ nhiệm các Giám Mục ở VInh thời trước Cách Mạng Tháng Tám..., tất cả hiện lưu giữ tại Kho Lưu trữ Hội Truyền Giáo Paris (MEP). Nhưng khi V.Hòa nói "ta thêm Ca Tứ Mạt cho ai nấy dễ thuộc lòng..." thì rõ ràng là V.Hòa "thêm", nhưng đây là cho in thêm vào Tứ Chung, hay chủ ý nói chính V.Hòa thấy tác phẩm của Đức Cha Hậu bằng văn xuôi khó học thuộc, mà nội dung nó là giáo lí bổn sự sau thì cần thuộc lòng để năng đọc và năng suy, nên chính V.Hòa đã sáng tác TỨ MẠT CA và cho in thêm vào Tứ Chung, hoặc TỨ MẠT CA do một người Công Giáo Việt Nam nào khác, chẳng hạn trong tầng lớp Thầy Giảng xưa có nhiều những bậc thông Hán-Nôm, sáng tác, phiên dịch, những tài liệu sách vở hiện còn lưu truyền.


AI LÀ TÁC GIẢ CỦA TỨ MẠT CA?



Theo thiển ý chúng tôi,

Tác giả TỨ MẠT CA phải là một ai đó ở tại Giáo Phận Vinh hồi đó, tức phải là một thành phần của Giáo Phận Vinh, không thể là ai đó ở ngoài Giáo phận Vinh. Bởi lẽ, như trên đã nói: Tứ Mạt Ca được viết là để giúp nhớ và thuộc lòng Tứ Chung của Đức Cha Hậu, Giám Mục Giáo Phận Vinh trước đó. (Đức Cha Hậu mất năm 1877, V.Hòa xuất bản TỨ CHUNG kèm TỨ MẠT CA năm 1915). Hai áng văn thơ gắn liền với nhau trong một lần xuất bản, tuy TỨ CHUNG có trước 1877, còn Tứ Mạt Ca có sau: nó được công bố năm 1915 khi xuất bản Tứ Chung, những nó cũng không thể có trước TỨ CHUNG.

Nếu Tứ Mạt Ca cũng là của Đức Cha Hậu, thì V.Barbier – Hòa đã phải nói thể khác, chứ không nói tách biệt hai áng văn như trong lời Tựa.

Còn nếu Tứ Mạt Ca là của ai đó ngoài Giáo Phận Vinh, thì dĩ nhiên Cố Hòa cũng đã phải có phép tác giả và ghi rõ trong lời Tựa, vì một người phương Tây hồi đó không thể biết và tuân thủ luật về bản quyền...

Tuy nhiên, nguyên việc chính vị Đại Diện Tông Tòa của giáo phận Vinh hồi đó (1915) là Giám mục A.ELOY – BẮC ban Imprimatur theo yêu cầu của người định cho xuất bản tập Tứ Chung gồm cả hai phần: phần văn xuôi (Tứ Chung) và phần văn vần (Tứ Mạt Ca) cũng đã là bằng chứng rất mạnh cho phép quả quyết Tứ Mạt Ca (phần văn vần) không thể có tác giả là ai ngoài giáo phận Vinh.

Vậy chỉ còn phải tìm xem ai là ngời ở Giáo phận Vinh hồi đó đã sáng tác nên bài ca bất hủ này?

Theo thiển ý, có hai giả thiết:

Một là chính thừa sai V.Barbier-Hòa là tác giả, mà vì khiêm tốn, đã không nói ra. Ở Giáo Phận Vinh hồi xưa có nhiều vị thừa sai người Pháp rất thông thạo tiếng Việt. Cố V.Hòa đã làm được hai cuốn Từ điển Pháp-Việt và Việt-Pháp, thì cũng có thể rất có khả năng làm thơ lục bát.

Hai là, một người Việt Nam nào đó (một Thầy Giảng chăng?) ở Giáo Phận Vinh, đã sáng tác nên TỨ MẠT CA và Victor Barbier – Cố Hòa đã cho in kèm vào TỨ CHUNG, mà không hiểu vì lí do nào đó mà không nói TỨ MẠT CA là của ai. Điều này dễ hiểu, vì có biết bao áng văn thơ Công Giáo xưa vì e mặt này, ngại mặt nọ mà không kí tên tác giả.

Cũng cần ghi nhận một số điểm đặc thù của Bài Ca Tứ Mạt:

Rải rác có một vài chữ được phát âm và viết theo giọng và cách viết của người phía Nam: chẳng hạn: câu 23: Nào ai đã trốn khỏi cầu tử sanh? Câu 27: Nửa chừng lá rụng huê rơi. Không hiểu lí do gì đã khiến có sự lạc điệu như vậy...

Riêng về mặt thần học, phải nhận là Tứ Mạt Ca chứa khá nhiều điều lỗi thời, chẳng hạn những cách mô tả địa ngục, v.v... Nhưng cần nhớ: thần học của Tứ Mạt Ca là thần học trước Vatican II...

Dù sao, tác giả cả TỨ MẠT CA rất đáng được tôn vinh.

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn mong được quí vị và anh chị em Công Giáo cho ý kiến về điểm này. Chẳng hạn: ở các Giáo phận khác trước đây, TỨ MẠT CA có thời nào được biết đến và được phổ biến, được dùng rộng rãi không?

Nếu có, xin tìm xem và cho biết: ai là tác giả.

Cuối cùng, nếu ngoài Nghệ Tĩnh Bình, trước đây không ở đâu biết đến hoặc dùng rộng rãi TỨ MẠT CA, thì điều duy nhất được xác nhận là nó là sản phẩm văn chương của Giáo Phận Vinh. Và như thế, mọi thành phần của giáo phận Vinh sẽ có thể sung sướng tự hào vì ông cha mình đã có một đóng góp đáng kể vào kho tàng văn học Việt Nam, vì đã sớm biết tài tình vận dụng thơ ca để chuyển tải những giá trị Tin Mừng, đồng thời qua chính phương thức đặc biệt này, đã góp phần đẩy mạnh việc hội nhập văn hóa như một việc làm hoàn toàn có lợi cho công cuộc Tin mừng hóa.

III – THỨ NHẬN ĐỊNH



Tứ Mạt Ca mở đầu bằng mấy dòng thơ bình dị, hẳn đã làm bạn đọc bị thu hút ngay từ đầu:

Thong dong ngẫm nghĩ sự đời,
Lấy trong kinh huấn mấy lời mà suy.
Chữ rằng: sinh kí tử qui,
Ở đời là chốn tạm thì mà thôi...
Xưa nay danh lợi mấy người,
Nào ai đã sống ở đời mãi đâu?
Biển đời bãi cát ngàn dâu
Khác nào như bóng bạch câu qua mành
Thấy rồi tưởng lại tủi mình
Lấy câu Tứ Mạt hết tình thở than.


Chúng ta nghe như âm vang của những câu mở đầu Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:

Trăm năm trong cõi người ta...
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng,
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen...


Chỉ với 10 câu thơ trong sáng, tuy có điển cố nhưng bình dân ai cũng quen thuộc, người đọc đã cảm thấy ngay mình đang đứng trước một cái gì nghiêm chỉnh, hệ trọng... không thể coi thường: đằng sau cuộc sống là cái chết và đằng sau cái chết là cả một loạt câu hỏi sẽ gây sức ép mạnh mẽ, buộc người có lương tri phải tìm câu trả lời và chấp nhận những thay đổi tận căn cội...

Kế đó, tác giả lần lượt vẽ lên 4 bức tranh mô tả 4 màn diễn sinh động sau cùng của tấn kịch đời người.

Bức tranh một là sự chết (cc.1-114).

Lời Kinh Thánh được vận dụng ngay để tái khẳng định chân lý về sự chết. Lời thơ được viết với những hình tượng rất thường tình, nhưng không hiểu sao lúc này lại làm người ta rung động đến thế! Ôi! Con người được coi là lớn như vậy, mà nhỏ bé đến thế này sao? Ngay sau đó là những đường nét với màu sắc rất "họa" mà cũng rất "thơ", vẽ lên những giờ khắc cuối cùng của đời người, của mọi hạng người: sang, hèn, thành thị, nông thôn. Tất cả bị sự chết đánh úp. Tài tình là tác giả gợi cho người sống, – lại là những người có quan hệ gần gũi nhất với người chết, – khóc người chết, bằng cách đó, mô tả đậm nét, hiện thực, sinh động tính mong manh của đời người, tính đau thương định mệnh của sự chết. Trong khi đó, người sống khóc cho người chết, cũng là khóc cho mình. Cái đích mà tác giả muốn người đọc, người nghe, – tức là người còn sống mà rồi có lúc phải chết, – đạt tới, đó là:
"Vậy nên ta phải lo âu" (cc.109-114)...

Bài học sự chết hiện lên một cách rất tự nhiên, nhưng với sức ép vô cùng mãnh liệt.

Bức tranh hai là cảnh phán xét (cc.115-230).

Tác giả bất ngờ đặt người đọc trước một phiên tòa bất đắc dĩ:

Những mê giấc mộng đêm tràng,
Biết đâu địa ngục thiên đàng là đâu.
Bây giờ mới tỏ âm hao,
Quang mây mới tỏ ngôi sao trên trời...
Và chủ tọa phiên tòa đã hiện diện:
Nhãn tiền ngự đó thật là Ngôi Hai
Chung quanh các thánh dẫy đầy,
Có thánh Quan thầy, có thánh Angiô
Có cờ Câu Rút sáng lòa...
Sách biên tội phúc Chúa liền mở ra.
Cuộc thẩm vấn bắt đầu:
Bây giờ Chúa mới xét tra:
Rằng khi ở thế đã là làm sao...


Kết quả phiên tòa là tội phúc rõ ràng, thưởng phạt công minh. Cái đặc sắc là tác giả vận dụng lời thơ rất bình dân, trong sáng, mà không hề thô kệch. Như khi tả anh chàng:

Tiếng rằng giữ đạo cha ông,
Cũng có tên thánh nhưng lòng chẳng tin.
Ngày kiêng thịt đánh kìn kìn...
... Điều lành gác để ngoài tai,
Hoa tình tục tĩu là bài học ôn...
Lâu năm bỏ tội không xưng,
Nhà thờ lễ lạy không đi,
Nghe có việc gì xôi thịt thì mau...


Anh chàng khô đạo nào nghe mà không đỏ mặt?

Bản tuyên dương người lành, cũng như bản luận tội kẻ dữ đều rõ ràng, dứt khoát. Mà tài tình nữa là bài học được chỉ ra ngay lúc đó cho người trong cuộc, cả người ngoài cuộc:

Ai ơi! Thật sợ thật kinh,
Xét lại trong mình tội lỗi lắm thay!
Trần gian là chốn khách dày,
Ba thù cám dỗ khi nay thì nhiều.
Mùi ngon sắc đẹp lòng yêu,
Hãm mình chịu khó phần nhiều chẳng ưa.
Cấp tay quì gối nguyện cầu,
Trông ơn Chúa Cả trên đầu đoái thương,
Ban ơn biết cách đo lường,
Ăn năn đời tạm tìm phương hãm mình.
Ghi lòng phán xét công binh,
Kẻo trong ngày ấy trách mình mất công.


Bức tranh 3: ngục hình (cc. 231-304)

Đến đây hai ngả mở ra:
Thiên đàng mở cửa trông mong người lành
Ngục hình rẽ đất mở phành.
Muôn vàn quỉ dữ đứng rình tội nhân


Ở cảnh này, phải nói là nhà thơ tỏ hết tài nghệ, nhất là vận dụng bút pháp điệp ngữ... vừa cuốn hút, vừa minh bạch:

Bao giờ cho tắt cho tàn, lửa ôi!
Lửa này biết lúc nào thôi.
Lòng ôi! Đáo để chưa lòng!
Lòng mê sắc dục, lòng mong rượu trà,
Lòng lo hà hiếp người ta,
Lòng lo cao cửa rộng nhà cho sang.
Lòng lo tích trữ bạc vàng...


Thật là tuyệt bút! Cực kỳ đạo, mà cũng hết sức văn chương. Tiếp theo là gợi lại những lời khuyên dạy điều lành khi trước, mà người chịu xét xử lúc này đã từng bỏ ngoài tai... để nhấn mạnh ở tính công minh của hình phạt và lời giục bảo người nghe sửa mình...

Bức tranh cuối cùng là thiên đàng (cc. 305-356).

Chúng ta có được những câu những ý rất cô đúc mà văn vẻ: tác giả mượn cảnh triều đình vua chúa trần gian là cái người ta đã có thể trông thấy, để ví cảnh huy hoàng thiên quốc:

Hãy xem trong chốn triều đình,
Đền đài lầu các hữu tình minh quang,
ấy là việc giả thế gian..
Tài hèn trí mọn còn toan thế vầy.
Phương chi vua cả trên trời...
... Tóm tắt chỉ nói được rằng:
Là nơi vinh phúc muôn phần vẻ vui...


Và cuối cùng tác giả cũng vận dụng câu nói của thánh Phaolô để tạo cho mình một lối thoát an toàn, khi không thể dài lời hơn nữa:

Thánh xưa chỉ chép một câu:

"Mắt chưa hề thấy, tai hầu chưa nghe,
Trí khôn bày vẽ chưa hề".

Sau cùng, đã mở đầu bằng 10 câu khái quát, lại kết thục bằng 14 câu gói gém nội dung một cách đặc sắc:

Chớ gì ta nhớ liên liên,
Ắt là giữ đạo vững bền chẳng sai.
Nhớ rằng sống ở trần ai,
Như hoa sớm nở chiều hoai ra gì...
Nhớ rằng phán xét uy nghi,
Công bình nhiệm nhặt chẳng vì ai đâu!
Nhớ rằng địa ngục thẳm sâu,
Muôn nghìn điều khổ, điều buồn, điều cay;
Sinh diêm biển lửa dẫy đầy,
Nướng nung kẻ dữ đêm ngày chẳng nguôi.
Nhớ rằng có chốn trên trời,
Thanh nhàn vui vẻ đời đời vô chung.
Muôn nghìn phúc trọng lạ lùng,
Thưởng người chịu khó lập công ở đời.


Và rồi chỉ bằng 6 câu, như một lời nhắn nhẹ nhàng, tác giả gửi theo hành trang bạn đọc, người nghe tất cả ý tưởng và tình cảm của bài ca, với hi vọng có thể tiếp tục lần này lần khác lại chất vấn lương tâm con người và chỉ ra con đường duy nhất dẫn tới hạnh phúc chân thật và vĩnh cửu:

Thủy chung tứ mạt mấy lời,
Ghi lòng tạc dạ muôn đời đừng quên
Âu là giữ vẹn răn truyền;
Lập công chịu khó ở miền trần gian;
Mai sau tới nước thiên đàng,
Lãnh phần phúc lộc thanh nhàn. Amen
.

Rất mong được quý bạn đọc góp ý.
Nguồn: https://www.vanthoconggiao.net/2023/07/bai-tho-tu-mat-ca-mot-ang-tho-cong-giao-dac-sac-j-b-hoang-canh-hong-suu-tam-va-bien-tap.html?m=1&fbclid=IwAR0HohzQ9ewdAiXC3FdbyEy2T-meZfaNFYClF1BauWr0j8WMvthEjR3yMIk

Thứ Hai, 31 tháng 7, 2023

INÊ TỬ ĐẠO VÃN


Tự Điển La-Việt (Dictionarium Latino-Anamiticum) của Giám mục Jean Louis Taberd, phần phụ lục trang 110 đến 135 có in một bài thơ (vãn) tên Inê Tử đạo vãn về một vị tử đạo có tên thánh là Inê. Bài vãn gồm 562 câu, in song song với bản dịch tiếng Latinh, Anh và Pháp.
Vị tử đạo trong bài thơ này cũng là một người phụ nữ, cũng bị bắt vào tù, bị đánh đập tra tấn, chồng con cũng vào thăm khuyên bỏ đạo nhưng vẫn kiên quyết theo Chúa tới cùng. Vì lẽ đó cho nên có người cho rằng vị tử đạo này chính là Thánh Anê Lê Thị Thành. Tuy nhiên điều này không hợp lý vì Tự Điển La-Việt được in năm 1838, trong khi Thánh Anê Thành tử đạo năm 1841. Về tác giả của bài vãn thì được gán cho linh mục Phan Văn Minh, cộng tác viên của Đức Cha Taberd trong việc biên soạn tự điển.
Linh mục Đỗ Quang Chính, dựa trên sách Histoire de la mission de Cochinchine, kết luận thực ra bài thơ này đã được viết sớm hơn nhiều, vào khoảng năm 1700, và về một nhân vật có thực hoàn toàn khác: bà Inê Huỳnh Thị Thành, tử đạo ngày 25-12-1700 tại Nha Trang; tác giả viết bài thơ là Loren Huỳnh Lâu (1656-1712).
Nội dung bài vãn tóm tắt như sau:
Ông Côrôlô Lam, ở Lâm Tuyền, Phủ Diên Ninh (Khánh Hòa), có vợ là Sa-ve (Elizabeth), sinh 12 con: bảy trai, năm gái hiếu hòa. Loren (Laurent) là trưởng nam, dâng mình cho Chúa, đang chức thầy, coi sóc giáo dân. Inê (Hùinh Thị) là con thứ 8, trọn bề thảo ngay, khiêm nhường nhân từ. Năm Inê 16 tuổi, mẹ chết. Năm Inê 19 tuổi, cha định việc hôn nhân. Inê kết hôn với Mác cô Hiền (Mark) sinh hai con trai là Nabê (Barnabas) và Phaolô. Năm Inê 28 tuổi, cha chết (ông Côrôlô).
Năm Canh Thìn thời Chúa Nguyễn, ba người: Inê, Mắt ta (Mattha) và Duminh (Dominique) có cáo trạng theo “đạo thiên sinh”. Họ bị bắt. Bị giam cầm, bỏ đói. Inê chết trong ngục.
Trong quyển Histoire de la mission de Cochinchine, có nhắc đến câu chuyện tử đạo của Bà Inê do cha Sennemand kể cho các các Giám mục Pháp làm Đại diện Tông tòa bằng một thư đề ngày 01.08.1702:
“Con sẽ kể lại với quý Đức cha một vài tình tiết đặc biệt trong câu chuyện về bà Inê, em của cha Laurent. Người phụ nữ trẻ trạc 30 tuổi ấy có hai đứa con : một đứa 7 tuổi và một đứa 10 tuổi, chị ấy đang ở nhà một mình với hai con. Khi chị bị bắt, chồng chị đang có việc phải đi xa. Hai người con thấy mẹ bị bắt thì cứ đi theo mẹ khắp nơi, việc này khiến chị bối rối hơn cả lo cho bản thân và không biết phải làm sao. Cuối cùng, sau khi đến nhà tù, chị quyết định cho chúng tiền để ra chợ mua trái cây, và trong lúc đó, chị đi vào nhà tù. Hai đứa trẻ, sau khi ra chợ và sử dụng hết số tiền mẹ cho, liền quay về tìm mẹ ở chỗ chúng đã rời đi, và không tìm thấy nên chúng bắt đầu khóc la khiến mọi người thương cảm, và đánh động đến lòng dạ của chính những người lính, cho đến khi những người họ hàng với hai đứa trẻ, được thông báo, đã tìm và dắt chúng ra Dinh.
Mấy hôm sau, người chồng trên đường trở về, lòng đau như cắt và không thể chịu đựng được hơn nữa, nên cùng hai con đi gặp vợ; anh vừa nói chuyện vừa khóc nấc lên, đồng thời chỉ cho vợ thấy hai đứa con. Vợ anh, nhẫn nại chờ cho chồng nói hết, mới trả lời một cách quả cảm: “Chồng em ơi, em xin anh thôi đừng phiền não nữa. Anh hỏi em tại sao em lại ở đây. Đó chỉ là nhờ ơn Chúa mà thôi, và là hạnh phúc lớn nhất, vinh dự cao cả nhất có thể xảy đến cho em, cho anh và cho các con nữa. Vậy sao anh lại run sợ ? Em xin anh một lần nữa hãy ngừng khóc lóc và chỉ chăm lo cho hai con của chúng ta mà thôi, nuôi dạy chúng biết kính sợ Chúa, tin rằng em sẽ nhớ đến anh và các con trên thiên đàng, nơi mà em hy vọng sớm nhận được triều thiên tử vì đạo.” Câu trả lời hết sức lạ lùng ấy đã an ủi và khích lệ người chồng rất nhiều, đến nỗi anh không còn buồn sầu và làm cho vợ đổi ý nữa, anh còn động viên chị hơn nữa, bằng cách nói với chị là vì chị đã đến đấy rồi, và anh đã thấy chị rất quyết tâm và hoàn toàn phó thác vào Chúa, nên ngày nào anh cũng sẽ cầu nguyện để chị bền vững đến cùng, còn anh thì lo chăm sóc các con và không nói năng gì thêm nữa, vì sợ làm chị đau lòng hoặc sao nhãng việc cầu nguyện và nói chuyện với Chúa”... [sđd, tr. 468]
—-
Văn bản:
(Bản chữ Quốc ngữ trong tự điển Việt-La (Dictionarium Anamitico Latinum) của Taberd in năm 1838)
Tượng điềm lành từ Canh thân Hán,
Chúa ra đời giáng đãn chưng dân.
Cõi nam Chúa thành hiền thần,
Đức nhơn giáo hóa oai ân mựa làm.
5. Có người đức hạnh danh Lam,
Dòng truyền giữ đạo nước nam nên tài.
Ca-rô-lô hiệu là người.
Diên Ninh ấy phủ, nhà nơi Lâm Tuyền.
Vợ hiệu Sa-ve là tên
10. Giai lão kết nguyền, đạo đức kính tin.
Sinh đặng mười hai con hiền,
Bảy trai, năm gái đã nên phước nhà!
Trọn bề trung hiếu thảo hòa.
Lo-ren thứ nhứt thật là trưởng nam,
15. Phú dâng cho Chúa mặc làm.
Học hành thông suốt, chức đang nên thầy;
Vào ra xem sóc nước vầy,
Lòng cha mừng phỉ lo tây chẳng hề.
Gái thì đặng một I-nê,
20. Là con thứ tám trọn bề thảo ngay.
Vốn hiền từ bé nhẫn nay.
Nết na khiệm nhượng tính hay nhơn từ.
Tuổi vừa mười sáu thu dư,
Sa-ve Chúa rước mẫu từ lìa con.
25. I-nê nước mắt bằng non:
Mẹ thác chẳng còn, em dại mồ côi,
Ba em để lại chị nuôi.
Cha già phượng dưỡng em tôi giữ gìn.
I-nê tuổi mười chín niên,
30. Cha mới toan nguyền định chốn sàng dòng.
Bèn lo áy náy tấc lòng,
Than rằng: phận gái, uổng công chăng là.
Sự nầy thì mặc lòng cha.
Đội ơn Chúa định lẽ nào dám toan.
35. Kể từ định chốn nhơn doan,
Mat-cô là hiệu phụng loan kết nghì
Sắt cầm hội hiệp phu thê.
Mới sinh nam tử đặng thì hai trai.
Ước nên tuấn tú hiền tài.
40. Na-bê là hiệu, thứ hai Phao-lồ.
I-nê hai mươi tám thu,
Cha tới cõi cù viếng cảnh xa quê.
Những trông báo bổ ơn nghì,
Hay đâu cha đã kíp về thượng thiên.
45. I-nê lòng những lo phiền,
Kính cha thương mẹ, cầu nguyền chẳng khuây.
Anh thì chịu chức làm thầy,
Tôi thì xuất nghiệp, em rày cậy ai?
Mới toan thơ gửi cho thầy.
50. “Lo-ren cha hỡi về đây toan cùng.”
Lo-ren từ hiểu tin thông,
Hai hàng châu lụy ròng ròng nhỏ sa,
Tôi đã lỗi đạo cùng cha!
Đặt bàn làm lễ misa nguyện cầu;
55. Lễ thôi từ giã đền chầu,
Trở về bổn quán, dạ âu lo lường.
Lòng thương cha mẹ võ vàng,
Phải về lo liệu toan đương em cùng.
I-nê xem thấy lòng mừng;
60. Cha đã về cùng toan liệu làm sao?
Mười năm cha ở phương nao?
Lòng em trông nhớ rày sao mới về?
Lo-ren an ủi mọi bề:
Các em chớ dại lỗi nghì chẳng nên.
65. Mới phân gia nghiệp điền viên.
Phần anh phú để cầu nguyền cho cha,
Các phần anh đã chia ra,
Em thì gìn giữ cửa nhà làm ăn,
Thìn lòng giữ đạo cho cần.
70. I-nê em hỡi giữ phần phước em.
Sáu người huinh đệ mới toan,
Đồng Nai tới rước tài quan đam về.
Dần dà cõi nọ xứ kia,
Rước đặng đam về nơi phủ Diên Ninh.
75. Táng cha thôi mới khởi trình.
Mọi nỗi tâm tình dặn bảo Inê:
Trong dòng nam nữ hai phe,
Lòng anh thương một I-nê hơn nhiều,
Em thì giữ vẹn mười điều,
80. Chớ hề sai chạy, chước nghèo phải sa.
I-nê than hỏi chường cha:
Phép trong lẽ đạo người ta ở đời,
Đến khi mình có đổi dời,
Phép nào xác khỏi hồn bay thẳng về?
85.Lo-ren an ủi mọi bề:
Dầu đồng trinh thánh cũng đi chẳng tuyền,
Dầu mà khổ hạnh tu truyền,
Hãy còn đôi chối chưa yên một bề,
Hơn chăng hơn thánh đồng nhi,
90. Hồn ngay thẳng ruổi tiên kì tợ sao.
Cùng hồn tử đạo tù lao,
Hoặc là chết thác cũng cao một bề.
I-nê thưa thốt ngồi kề,
Trình cha than hỏi, chẳng khi nào rời,
95. Thấy cha dặn bảo mọi lời,
Công lòng bát ngát ước nơi cõi lành,
Xin cho gặp hội cầu danh,
Ta sẽ liệu mình họa đặng cùng chăng?
I-nê bịn rịn dùng dằng,
100. Lo-ren từ giã phăng phăng lại dời.
Bình Khương vừa đến nghỉ ngơi.
Giữ gìn xem sóc mọi nơi linh hồn,
Chẳng ngờ tượng bởi càn khôn,
Thiên đàng mở hội võ môn khoe tài.
105. Canh thìn vừa thuở thiên khai,
Nguyễn chúa trị đời hiệu lịnh cả ra:
Truyền cho thiên hạ gần xa,
Ai thờ đạo Phật thì ta dong tình,
Bằng ai giữ đạo thiên sinh,
110. Chẳng chừa thì bắt tội tình chớ tha.
Chẳng ngờ có đứa gian tà,
Lòng hềm độc dữ cáo bà Inê.
Lịnh nghiêm phép kín nhiều bề,
Chị em sao có lòng mê chẳng chừa?
115. Lên Dinh trấn thủ chường thưa,
Trạng bày sau trước, trình thưa cáo rằng:
“Có trạng rằng:
Trạng tố thân tường
Khi quân mạn pháp sự kim tam tử,
120. Danh hiệu I-nê Mắt-ta tinh kỳ Du minh đẳng chúng
Phi kỳ Phật môn lăng túng chánh lịnh,
Ngu đẳng nan y tam giả,
Vị kỳ đồng tâm hiệp lực,
Bất luận quốc pháp, bất kính điều chương,
125. Tùng đồng thiên Chúa đạo.
Phất cố như lai Phật tổ,
Thả thử đạo lễ bất tuân kim cổ pháp,
Bất luận thỉ chung.
Như thử hà y đẳng phân loạn hoành tùng giả?
130. Phả bất nặc văn thư chỉ tự,
Tâm vô hải hà kỳ minh đại sự.
Khẩn khất mặc quan đồng luận.
Tiểu sinh ngưỡng vọng cao minh.
Trạng điều”.
135. Trạng bày sau trước căn do.
Lịnh quan cắt khiến đình pho giục đòi,
Bắt I-nê lại với hai người,
Chị em hai đứa vào nơi công đàng.
Mắt-ta lòng chịu không đang
140. Liều mình trốn trước lên đàng ra đi.
Ông nghè mới hỏi vân vi:
Nàng cùng nam tử toan nghi một lời,
Bay mà bỏ đạo Chúa trời,
Trở về đạo Phật, giày nơi ảnh nầy,
145. Thì tao thứ tội cho bay;
Chẳng thì tao giết bỏ thây oan mình.
Nước nầy Chúa thánh thần minh.
Nào ai giữ đạo thiên sinh bao giờ,
Chúa trời bay thật đạo vơ,
150. Bỏ đi tao đặng thứ tha dong tình,
Chẳng thì tao giết bỏ mình,
Phước đâu chẳng thấy, tội tình nhuốc nha
I-nê đặt gối trình qua:
Chúng tôi giữ đạo Chúa cha nhơn từ,
155. Thật đàng công chính chẳng tư.
Tôi đâu dám bỏ công phu ngãi người?
Mặc ông tha giết hai lời;
Tôi thà chịu chết, cõi trời nên công.
Giết tha thì mặc lượng ông,
160. Kim thạch là lòng chẳng chạy mỗ phân
Ông nghè chẳng muốn giết dân,
Vật chi phụ nữ nhọc nhằn quân ta?
Hãy giam tạm nó một nhà,
Ngày sau sẽ nộp lượng hòa một khi.
165. Cầm Du-minh với I-nê.
Ngày sau chưa nộp ủ ê lo buồn,
Cầu xin cùng Chúa giúp con,
Giúp tôi cho đặng kẻo còn để lâu.
Lại dặn Du-minh chớ âu:
170. Chị em cốt nhục đồng bào mẹ cha,
Đồng sinh đồng tử hai ta,
Trả công ơn Chúa một nhà hiệp nhau.
Nầy đoạn Lo-ren về sau
Nghe tin em đã chịu âu tử hình,
175. Viếng em an ủi tâm tình,
Mới toan liều mình chịu với cùng em.
Đồng sinh đồng tử cho êm!
Tôi xin trọn ngãi Chúa thêm sức cùng.
Anh em dốc chí một lòng.
180. Sinh tử đạo đồng em hỡi I-nê!
Từ rày ta một đặng về,
Anh sao em vậy chớ hề tới lui.
I-nê lòng lại ngùi ngùi,
Khuyên cha, cha hãy nghe tôi kẻo lầm,
185. Nước nầy đạo Chúa ngăn cầm
Ngày sau giáo hữu mê tâm nguôi lòng,
Cha mà toan chịu tử đồng,
Ắt là bổn đạo lạt lòng ngãi nhơn,
Chẳng bằng ở lại thì hơn,
190. Giữ gìn xem sóc mọi nơi linh hồn;
Trước là dạy dỗ cháu con,
Anh em thơ dại thì còn có cha:
Cho nên ý Chúa nhiệm xa,
Dong thầy chẳng bắt, sao cha chẳng bàn?
195. Vậy nên Chúa mở lòng quan,
Tha cha chẳng bắt mà toan đặng nào.
Tôi mà dựa nguyệt ngồi sao,
Thì tôi cũng nguyện cha vào cõi vui.
Thầy bèn lã chã châu rơi:
200. I-nê em hỡi, anh ngồi sao an?
Một mai mặc lịnh nhà quan,
Em chớ phản nàn, anh lại buồn thêm,
Em về anh ở sao an?
Khoa này chẳng liệu, mà toan khoa nào.
205. Nầy lời cha cả khuyên sao.
“Các thầy ngoại quốc tiêu hao nói rằng:
Từ rày con cái mằng tăng,
Cha khôn gìn giữ ủi an mọi lời,
Đòi phương man mác mồ côi .
210. Cha là ngoại quốc khôn noi thế tình.
Lo-ren dốc chí liều mình!
Lịnh quan chẳng bắt tư tình ý tham.
Thầy là người nước An nam,
Để khi nghèo hiểm giúp làm cho dân.
215. Nhơn sao thầy lại dành phần?
Lấy ai gìn giữ con dân nước nầy?
Ai hầu xem sóc đỡ thầy
Làm thơ một bức gửi rày thông tin”.
Nầy lời thầy cả gởi khuyên,
220. Mọi lời sau trước căn nguyên đọc rằng:
“Chúa cả công bình cầm quờn thưởng phạt,
Pha pha chính tước, thầy cả Vít vồ,
Ơn Chúa giúp cho Lo-ren đặng tỏ
Chúa chuộc tội dạy dỗ muôn dân.
225. Ba năm ân cần mới toan chịu chết.
Thầy rày dốc quyết muốn chịu tử nghì,
Bỏ bổn đạo đi, ai hầu an ủi?
Các thầy khác thói ẩn yếng đòi phương.
Nấy cho thầy gìn giữ dân lương,
230. Nỡ nào thầy lại toan về cùng Chúa?
Ai hầu dạy dỗ bổn đạo linh hồn?
Phú cho thầy Nam việt các con.
Bằng chẳng chịu đài vàng mặc phán,
Lời lành diệu toán đến vận thần cơ.
235.Khuyên thầy ở lại sớm khuya,
Cùng bổn đạo khỏi thì nguy hiểm,
Giúp hạn mưa dào trợ hiểm,
Khỏi chưng thì hoạn nạn bốn dân.
Ơn Chúa đượm nhuần sáng soi phù hộ.
240. Nay thơ”.
Lo-ren bèn đọc thơ rồi,
Đượm ngừng nước mắt nhuốm sôi hai hàng.
Khoa nầy chẳng gập bảng vàng,
Ngày nào cho đặng hiển vang nước trời?
245. I-nê thưa thốt chường lời:
Xin cha nghe lịnh Đức thầy bề trên.
Nầy lời bổn đạo lại khuyên.
“Cha chớ xa miền bỏ chúng mồ côi,
Xin cha ở lại cùng tôi,
250. Cầu xin Chúa để cha tôi lại cùng”.
I-nê can gián hết lòng.
Thương em cha thác uổng công chăng là,
Ấy lời thế luận gần xa;
Em quỳ trăm lạy xin cha nhậm lời.
255. Lo-ren lòng động ngùi ngùi,
Thảm thương mọi nỗi em ôi anh về.
Anh giã Du-minh I-nê,
Rày em ở lại anh về cho an,
Đêm ngày cầu nguyện dưới bàn,
260. Xin hai em đặng làm quan cõi trời.
Nầy đoạn Mat-cô càng thương
Tìm lên viếng vợ tư lương thảm sầu,
I-nê em hỡi cầm đâu?
Rày anh đến viếng bạn hầu kẻo thương.
265. Vợ chồng đạo ngãi tào khương,
Con thơ nỡ bỏ lo lường làm sao?
Lìa nhau anh dám cãi nào.
Làm chi lên nỗi tù lao rạc hình.
I-nê lẵng lặng làm thinh.
270. Chồng càng than khóc vợ mình kể khuyên:
Sắt cầm từ thuở ấu niên,
Nỡ nào ly biệt cho an tấc lòng.
Dẫu chẳng nên đạo vợ chồng,
Con thơ ai kể quan phòng dưỡng nuôi,
275. Má hồng mặt bạc mày môi,
Mình vàng vóc ngọc bỏ tôi chẳng nhìn?
Em hỡi nghe lời anh khuyên,
Sắt cầm giai lão nên duyên hiệp hòa.
I-nê rằng: chước quỷ ma,
280. Nó toan làm hại hồn ta phen nầy.
Mát-cô anh đã tới đây,
Công linh nghĩa Chúa tôi rày trả ơn.
Anh thì ở lại chớ sờn,
Thìn lòng giữ đạo chẳng hơn cũng tày,
285. Ngày sau ta lại hiệp vầy.
Thương thì cầu nguyện hồn ngay thẳng về,
Ấy là ngãi đạo phu thê,
Chớ ra lòng mọn lỗi nghì chẳng nên.
Nghe lời em cứng khôn khuyên,
290. Giã em còn ở anh về cùng con.
Ròng ròng nước mắt bằng non.
Thương em anh phải ruột don héo sầu,
Từ rày chếch bạn phải âu,
Lìa tâm lìa đức lìa nhau khôn tìm,
295. Gần ngày đam nộp chị em,
I-nê mới gửi thơ đem cho chồng,
Cùng thăm huinh đệ đạo đồng,
Họ hàng trên dưới tổ tông hai đàng.
“Thơ rằng.
300. Chúa cả cao quang phù trì tiểu tử;
Thiếp nay nhi nữ cám đức phu quân.
Ngãi sắt cầm những ước thiên xuân,
Doan kim cải trọn bề tứ đức.
Đạo chính giúp tôi bền sức,
305. Ơn trên Chúa cả mở lòng.
Xảy gặp hội mây rồng,
Phải lìa doan cá nước .
Thiếp dầu lỗi tam tùng tứ đức,
Dốc trọn nguyền vạn thọ cõi xa.
310. Xin lang quân chớ chấp ngãi hòa,
Thương ấu tử mồ côi mất mẹ.
Chàng thì chớ nại, giữ đạo cho bền,
Đến cõi trường miên hai ta lại hiệp
Sau dầu cải nghiệp làm bạn nơi nào,
315. Phải chọn bề nhân đức đạo cao ,
Gởi ấu tử cho con nương cậy.
Chàng thì giữ lấy lời thiếp chớ quên:
Mặc dầu đã cách nhơn duyên,
Hồn nọ phút giây chẳng khỏi.
320. Xin lang quân thế tình chớ đoái,
Áng nguyệt hoa, tửu sắc thìn mình.
Sau con dầu khôn lớn thành hình,
Xin dạy dỗ ủi an chớ bỏ.
Kính thăm nhạc phụ từ mẫu song thân,
325. Nữ tử vọng ân trăm đàng miễn chấp.
Xin thương tiểu điệt thơ dại mồ côi,
Chớ nỡ nặng lời, con thơ tất tưởi.
Sau thăm trên dưới huinh đệ họ hàng,
Gửi cô tôn ấu tử gia đàng,
330. Giã hết cựu bang từ rày ly biệt.
Nay thơ”
Thơ thôi lại nói cùng em:
Đồng sinh đồng tử cho êm chớ nài,
Chị em cốt nhục hình hài,
335. Chị sao em vậy làm trai cho bền.
Lịnh quan đam nộp lại nguyền:
Xin em chịu đặng Chúa thêm sức cùng,
Chị em dốc chí một lòng,
Ông nghè mới hỏi lẽ công một lời,
340. Bay mà bỏ đạo Chúa trời,
Trở về đạo Phật đạp nơi ảnh nầy,
Thì tao thứ tội dong bay,
Chẳng thì tao giết bỏ thây oan mình.
I-nê thưa thốt phân minh:
345. Đạo nầy thờ Chúa thiên sinh tạo đời,
Có công sinh đất dựng trời,
Tạo thành nhơn vật, mọi nơi thế nầy.
Chúng ta phải giữ đạo ngay.
Phật người Thiên trước cõi tây chẳng thờ.
350. Ảnh nầy hình Chúa tôi xưa,
Khi nào thờ phượng bây giờ đạp đi;
Tôi xin chịu chết chẳng nề,
Trả công ơn Chúa công kia ngãi nầy,
Ơn ông lượng rộng xét suy,
355. Đỗi nào tôi chịu, làm chi nữa là.
Quan trên trấn thủ truyền ra.
Ông nghè mới dạy chớ tha loài nầy.
Bắt vào cầm ngục chớ chầy
Cấm cho ăn uống, truyền vây giữ gìn,
360. Đứa nào nhịn đói chẳng đang.
Đam ra phạm ảnh xử xong cho về.
Đứa nào lòng cứng chẳng nghe,
Thì cầm cho chết bỏ thây ra ngoài.
Bắt đam vào ngục hòa hai.
365. Chị em ren rén vào nơi ngục hình.
Rạc nầy chỉn thật u minh.
Mới toan ngồi xuống phân minh nói rằng:
Lòng mừng chơn bước thung thăng.
Mặt vui hớn hở nói năng vui cười.
370. Làm thơ một bức ba lời,
Dặn con sau trước ở đời cho an.
“Vậy có thơ rằng:
Chúa cả xây vần càn khôn phúc ái,
Sở sinh là ngãi, dưỡng dục bào thai.
375. Trước kính tin một Chúa chớ nài,
Sau thảo kính hai bên cha mẹ.
Mẫu thân Huình Thị mẹ là I-nê:
Sinh hai con châu báu sánh kề.
Mẹ những ước đá vàng trượng mạo.
380. Mát-cô danh ấy hiệu thật Nghiêm Hiền.
Cậu là Lo-ren cha linh hồn thật.
Một nhà hiệp mặt kế hiệu thiên thu,
Trên chín tầng mở hội thiên cù,
Mẹ liều thác trả công ơn Chúa.
385. Con thì thơ bé mẹ thác chẳng còn.
Bức thơ này để lại cho con,
Sau khôn lớn mọi lời cho biết.
Con thì giữ nết đức hạnh khiêm nhường.
Bé thờ cha vâng giữ gia nương,
390. Lớn theo cậu ủi an dạy dỗ.
Cù lao báo bổ ơn ấy chớ nài,
Miễn là con giữ đạo thành tài.
Cho mẹ đặng ngày sau thấy mặt.
Dầu cha cải nghiệp kế mẫu quy đàng.
395. Hai con thìn khiêm nhượng kính đang.
Chớ khá ở bạc tình kiêu ngạo.
Lời lành dặn bảo thương mẹ thì nghe:
Áng vui chơi tửu sắc rượi chè,
Lời độc dữ gian tà lánh rẹn.
400. Mẹ rày đà đến cõi thọ diệu quang,
Mọi lời sau trước rõ ràng.
Mẹ giã con còn ở thế.
Nay thơ”.
Thơ đam về đến gia đàng,
405. Mát-cô xem thấy xót xa đoạn trường
Thơ chồng mọi nỗi đà tường,
Thơ con lại gởi làm thương trăm đàng
I-nê Em chịu sao đang!
Ruột loan vấn vít dạ gan đeo sầu.
410. Khóc than thôi lại lo âu,
Con ôi mẹ cứng làm rầu càng thêm.
Mặt hoa mày liễu mất êm,
Bỏ con kêu khóc sao nên chẳng về?
Than rằng: bậu hỡi I-nê,
415. Nào khi loan phụng sánh kề hỏi han?
Bây giờ quạnh quẽ phòng loan.
Hai hàng nước mắt lụy chan chẳng đừng.
Em thì danh tiết lẫy lừng,
Anh thì hứng chịu vì chưng doan hài.
420. Con ôi! con hỡi! kêu ai?
Mẹ bây đi chợ một mai sẽ về.
Một giây con lại quên đi.
Kêu rằng ớ mẹ, mẹ đi phương nào!
Động lòng cha lại thương sao.
425. Ẵm con tìm tới tù lao lại rằng:
Con đi với mẹ con chăng?
Gặp rày kẻo nhớ xa chừng biết đâu,
Nầy con em đã thương sao?
Ra cho con thấy nỡ nào từ con.
430. Thốt thôi bước xuống thềm môn.
Con rằng cha hỡi thì nào mẹ tôi?
I-nê lòng động thương ôi!
Thấy con kêu khóc nhuốm sôi hai hàng.
Muốn làm thinh vậy cho an,
435. Lại e thất ý phu lang chăng là,
Cầu xin cùng Chúa nói ra,
Giúp tôi bề vững khỏi qua nạn nầy.
Mát-cô anh đã tới đây,
Thiếp giã ơn rày đã có lòng thương.
440. Bồng con trở lại gia đường
Làm chi bịn rịn áp lòng dạ tôi?
Con nghe tiếng mẹ thốt thôi,
Kêu rằng: ớ mẹ, mẹ ôi chẳng về.
Mẹ càng chuyển động ngã kề,
445. Cầu xin cùng Chúa khỏi bề gian nan,
Nín hơi chẳng dám thở than.
Khác nào như kẻ làm quan xa miền.
Chẳng ngờ tượng bỡi đông thiên,
Trời làm bão lụt Trường An dẫy đầy,
450. Nước tràn khắp hết đông tây.
Ngục cầm ở đó ướt nay phải dời.
Lập làm chốn khác cao khơi.
I-nê rén rén lại dời chân ra,
Hai con thấy mẹ kêu la:
455. Kêu rằng: Ớ mẹ về nhà cùng con.
Mát-cô ruột thắt héo don.
Xin em nhịn đã phen này kẻo âu
I-nê lòng chẳng chuyển đâu:
Nói rằng sự ấy mặc dầu thiên cơ.
460. Chờ cho ngục đoạn đến giờ,
Trao tiền kíp dỗ con thơ mua hàng.
Hai con vừa bước ra đàng,
I-nê kíp lại toan đang vào tù.
Ngục nầy là chốn âm u,
465. Quân canh gìn giữ hai đàng vào ra.
Hai con trở lại khóc la,
Kêu rằng: ớ mẹ về nhà cùng con.
I-nê nín lặng làm thinh,
Cầu xin cùng Chúa xui con ra về.
470. Mát-cô thảm thiết nhiều bề,
Bồng con chở dậy ra đi nói rằng:
Từ rày anh chịu mằng tăng ,
Phải về cho kẻo chẳng bằng lòng em.
Tay bồng tay dắc lui thềm
475. Hai hàng nước mắt lụy tuôn lại ngồi.
Con rằng: thì nào mẹ tôi?
Bồng tôi trở lại, mẹ ôi chẳng về.
Mát-cô than thở nhiều bề,
Dối rằng con hỡi, mẹ đi mua hàng.
480. Trở về vừa đến gia đàng,
Tới nhà nghỉ mát, thở than đêm ngày.
Nầy đoạn trong ngục đã chầy,
Mình gầy mặt võ, xương bầy, da nhăn.
Dặn dò sau trước ủi an,
485. Du-minh em hỡi làm quan phen nầy,
Trả công ơn Chúa phải vầy,
Em chớ phiền rày chị lại buồn thêm.
Đói lòng khát nước càng êm.
Mình khô càng nhẹ Chúa thêm sức cùng.
490. Thấy đà mỏi mệt nhọc công.
Tôi xin cho kíp chớ dong lâu ngày.
Hay tôi tội lỗi còn dày,
Cho nên Chúa để lâu ngày cùng chăng?
Kể đà một tháng răng răng,
495. Bốn tuần có lẻ mình chẳng thấy gì?
Quân canh thấy sự dị kỳ,
Lòng thương chẳng nỡ vân vi lời gì.
Lo-ren vừa bước chơn đi,
Thấy hai em đã gầy mòn thảm thương,
500. Thưa quân thăm thử thác. còn,
Một giây tôi sẽ dời chơn ra về.
Cho thầy vào viếng I-nê,
Mừng nhau bơ bải vỗ về hỏi han.
Hết lòng an ủi ủi an,
505. Lại ngồi giải tội khuyên can dặn dò.
Cầu xin cùng Chúa giúp cho,
Kẻo mà đói khát nhỏ to thay là,
Giã hai em ở anh ra.
Quân canh gìn giữ chẳng tha chẳng lìa.
510. Tứ tuần lục nhựt đến kỳ,
Du-minh còn khỏe I-nê gầy mòn,
Gượng mà kêu Chúa hơi don,
Mượn em kêu giúp kẻo non hơi rày,
Làm thinh thôi mới chấp tay,
515. Để qua trên ngực Chúa rày rước đi.
Giữa ngày bảo lụt đang thì,
Bỗng liền tạnh nắng tứ vi như tờ.
Tin cho dòng họ thân sơ,
Ai ai đều đến táng đưa xác người,
520. Hay tin bổn đạo tới nơi.
Lo-ren đi trước các người đi sau,
Xin quân mở cửa cho mau,
Quân quan xem thấy mọi nơi chói lòa,
Tức thì đam xác người ra.
525. Du-minh yếu đạo Chúa cha chẳng nhìn,
Trốn ra khi ấy ban đêm.
Ra khỏi cửa thềm lộn lạo đều đi,
Đam về đất thánh một khi.
Thầy bèn cầu nguyện vân vi nói rằng:
530. Hơi thơm hơn nữa hương lang,
Ra mùi phức phức dường bằng hoa dâu.
Anh em lòng chẳng dám sầu,
Song le ngãi trọng dạ âu khôn cầm.
Thầy bèn an ủi âm thầm.
535. Lịnh quan phép nhặt nhẫn tâm cho bền.
Thốt thôi thầy lại cầu nguyền:
Xin cho em khỏi tiền khiên ở đời,
Hạnh nầy công đã nên người.
Nguyệt in dường nguyệt tốt tươi khôn bì,
540. Linh hồn tới chốn lưu li,
Thanh nhàn tự tại oai nghi rỡ ràng.
Công danh ghi tạc bia vàng,
Trong đời có một nên gương trong trời.
Chép làm một bổn để đời,
545. Truyền cho thiên hạ người người học theo.
Thấy thì hầu đã cheo leo,
Đội ơn Chúa cả giúp nghèo cho an.
Chẳng qua thiên vận tuần hoàn,
Bỉ thôi lại thới, vui hơn khắp nhà.
550. Cầu xin cùng Chúa giúp ta,
Giữ gìn mười giái kẻo sa địa hình..
Hạnh nầy thì đã phân minh,
Xem cho tường tận dâng kinh nguyện cầu.
Phép trong lẽ đạo nhiệm mầu,
555. Ai mà học đặng mới hầu thơm danh.
Bia vàng tạc chữ chí linh,
Để truyền sách ấy nối dòng đời sau,
I-nê là hiệu làm đầu.
Hiền kia thánh nọ xem làu bổn căn,
560. Giáo nhơn học lấy làm lòng,
Giữ trong mười giái thì thông lẽ mầu.
Cùng vãn
***
Bài vãn do Bùi Công Thuấn đánh máy lại và chia số câu.

Nguồn: https://www.facebook.com/anhq.tran.5680