Thứ Hai, 30 tháng 10, 2023

Bậc cầu nguyện thứ nhất (tiếp theo)



- Chương 11

12. Lạy Chúa của con, có việc gì Chúa làm lại không nhằm lợi ích lớn lao hơn cho linh hồn mà Chúa biết rõ đã hoàn toàn thuộc về Chúa, đã tự phó thác cho quyền năng của Chúa, để theo Chúa bất cứ nơi nào, cả đến chết trên thập giá, đã cương quyết vác đỡ Thánh Giá Chúa và không để Chúa phải vác một mình chăng? Ai thấy mình đã cương quyết như vậy thì không phải sợ hãi gì nữa. Không, hỡi những người chuyên chú sống đời sống thiêng liêng, không có lý do nào làm các bạn phải buồn sầu cả. Khi các bạn đã đạt tới trình độ cao này (nghĩa là) các bạn khao khát được ở nơi cô tịch, khao khát hiệp thông với Thiên Chúa và từ bỏ mọi thú tiêu khiển của trần gian, thì các bạn đã thực hiện được phần chính yếu trong công việc của mình rồi. Hãy cảm tạ Chúa về điều đó và hãy tín thác vào lòng nhân hậu của Người. Lòng nhân hậu ấy không bao giờ bỏ rơi các bạn hữu của Mình. Đừng bận tâm thắc mắc “tại sao Chúa ban lòng sốt sắng cho người đó, mới thực tập cầu nguyện trong ít ngày mà chẳng ban cho tôi sau bao năm vất vả?” Hãy xác tín rằng Chúa muốn như thế là để chúng ta được ích lợi lớn lao hơn thôi. Hãy để Chúa hướng dẫn chúng ta tới bất cứ nơi đâu tuỳ ý Người. Chúng ta không còn thuộc về mình nữa, nhưng thuộc quyền sở hữu của Người. Chúng ta làm việc trong vườn của Người, được gần gũi chủ vườn, Đấng chắc chắn là ở với chúng ta thì đó là Người đã ban cho chúng ta một ơn trọng đại rồi. Nếu Người muốn thảo mộc và các thứ hoa này phát triển, một số do được tưới bằng nước giếng, số khác lại không cần phải tưới bằng nước đó thì có hệ gì đến tôi? Lạy Chúa, xin hãy thực hiện điều Chúa muốn. Xin đừng để con xúc phạm đến Chúa và, nếu chỉ bởi lòng nhân hậu Chúa, Chúa đã ban cho con có được nhân đức nào, thì xin đừng để cho nhân đức ấy tàn lụi đi nữa. Lạy Chúa, con muốn chịu đau khổ vì Chúa đã chịu đau khổ. Xin cho ý Chúa được thể hiện nơi con bằng mọi cách. Xin Chúa đừng bao giờ ban một hồng ân quí báu như thế (tức là Tình yêu Chúa) cho những người chỉ phục vụ Chúa để được an ủi.

13. Tôi nói điều này vì tôi biết do kinh nghiệm (tức là) linh hồn nào đã bắt đầu cương quyết bước theo con đường tâm nguyện và không quan tâm tới an ủi hay cảm tình sốt sắng, không hứng khởi hơn khi được an ủi, cũng chẳng buồn phiền khi Chúa rút các ơn ấy lại, thì người ấy đã đi được phần lớn cuộc hành trình rồi, dầu đôi khi còn sa sẩy thì cũng không sợ một cuộc sụp đổ, vì ngôi nhà của họ đã xây trên nền tảng vững chắc. Phải, mến Chúa không hệ tại ở khóc nhiều, không hệ tại ở vui hưởng những ơn an ủi và âu yếm mà phần lớn chúng ta mong muốn và tìm kiếm, nhưng hệ tại việc phụng sự Chúa cách thành tâm và ngay thẳng, với tâm hồn cương quyết và khiêm nhường. Không như thế thì đúng là chúng ta chỉ lãnh nhận mà chẳng hiến dâng gì cả.

14. Còn là nữ giới kém hiểu biết, yếu đuối và thiếu nghị lực như con thì cần phải có các ơn an ủi nâng đỡ. Đấy là cách Chúa đang nâng đỡ và hướng dẫn con bây giờ, thì con mới có thể chịu đựng được đôi ba thử thách Chúa muốn gửi đến cho con. Nhưng khi nghe những tôi tớ Chúa, những người hùng dũng, những người có kiến thức và thông minh lại phàn nàn vì Chúa không ban cho họ được cảm thấy sốt sắng, thì con lấy làm khó chịu, không muốn lắng nghe họ nữa. Con không có ý nói rằng khi Thiên Chúa ban, họ không được đón nhận và không được quí chuộng những cảm xúc đạo đức như vậy, vì trong trường hợp đó, tất nhiên Chúa biết điều ấy là hữu ích cho họ. Con chỉ có ý nói rằng nếu Chúa không ban cho thì họ cũng không được buồn phiền. Họ phải nhận thức rằng Chúa không ban cho ơn ấy là vì không cần thiết. Họ phải biết làm chủ chính mình và vững bước trên đường của mình. Họ hãy tin họ đang lầm về điểm này, con đã kinh nghiệm và đã thấy như thế. Nếu thay vì tiếp tục tiến bước với tinh thần tự do, thì vì yếu đuối và thiếu quảng đại, họ giậm chân tại chỗ. Họ hãy tin đó là một khuyết điểm của họ.

15. Con đã nhấn mạnh điểm này cho những người mới bắt đầu vì điều quan trọng là phải bắt đầu với tâm hồn tự do và cương quyết. Còn bây giờ, con có ý nói với những người đã bắt đầu từ lâu. Có nhiều người đã bắt đầu, rồi đôi khi lại lùi bước và chẳng bao giờ cố gắng cho tới đích cả, và số người đó rất đông. Vì họ không ôm lấy thập giá ngay từ ban đầu nên họ phiền sầu và nghĩ mình chẳng tiến tới gì. Khi không suy luận được là họ không chịu nổi, dù có lẽ chính lúc ấy ý chí được kiên cường mà họ không biết. Chúng ta phải nhận thức rằng Chúa chẳng quan tâm tới những chi tiết này. Chúng ta thì coi đó là những thiếu sót mà thực sự ra không phải. Chúa biết tình trạng khốn nạn và yếu đuối của bản chất chúng ta rõ hơn chính chúng ta biết mình. Người cũng biết các linh hồn này chỉ mong luôn nhớ đến và yêu mến Người. Đó là sự cương quyết mà Người muốn thấy nơi chúng ta. Còn những phiền muộn chúng ta tự tạo ra cho mình thì chỉ thêm xáo trộn cho linh hồn chúng ta và kết quả sẽ là: nếu không lợi dụng lấy chỉ một giờ, chúng ta sẽ mất cả bốn giờ. Con có nhiều kinh nghiệm về điểm này và con biết điều con nói là thật. Vì con đã quan sát rất cẩn thận và sau đó đã bàn luận với những người chuyên nghiền ngẫm về đời sống thiêng liêng. Tình trạng phiền toái này thường phát sinh từ sự bất ổn về thể lý, và chúng ta là những tạo vật khốn nạn đến nỗi linh hồn bị tù đày này phải chia sẻ sự khốn cùng của thân xác, của thời tiết thay đổi và tính tình thay đổi cũng gây trở ngại cho linh hồn không hoàn tất được điều mình muốn và làm nó đau khổ dù cách ngoài ý muốn. Vào những thời kỳ như thế, chúng ta càng thúc bách, linh hồn càng ra tệ và nỗi khổ càng kéo dài hơn. Vậy hãy khôn ngoan nhận xét: nếu lý do này là đúng, thì đừng còn làm nghẹt thở linh hồn đáng thương nữa. Những người lâm vào tình trạng này phải biết rằng mình đang bệnh và hãy thay đổi đôi chút trong các giờ cầu nguyện trong đôi ba ngày.

16. Chúng ta phải chịu đựng cảnh lưu đày này tuỳ sức có thể. Vì linh hồn yêu mến Thiên Chúa luôn mang cái vận mệnh đau yếu lê lết để nhận biết rằng sống như mình đang sống trong tình trạng khốn khổ này, vì cái thân xác đáng thương mà không được điều mình muốn. Con đã nói: chúng ta phải khôn ngoan nhận xét, vì đôi khi ma quỉ cũng gây nên những trạng huống ấy. Bởi vậy, khi tâm trí rất mực lo ra và xáo trộn, hay khi linh hồn phải làm những việc quá sức mà phải khổ cực, thì không nên bỏ cầu nguyện. Có thể làm những công việc khác – như đọc sách, hay những công việc bác ái chẳng hạn – đôi khi linh hồn cũng không còn thể làm dù cả những việc này. Những khi ấy, linh hồn phải phục vụ thân xác vì mến Chúa, để vào những thời gian khác, thân xác có thể phục vụ linh hồn. Hãy tìm cách giải trí chẳng hạn như nói cuyện về những vấn đề thiêng liêng hay đi tản bộ theo như lời khuyên của cha giải tội. Trong tất cả những hoàn cảnh đó điều quan trọng là phải có kinh nghiệm, vì nhờ kinh nghiệm chúng ta biết điều gì thích hợp cho chúng ta. Nhưng trong mọi sự, chúng ta vẫn phải lo phụng sự Thiên Chúa. Ách của Người thì em ái. Điều căn bản là không được bỏ bê linh hồn, như người ta nói; nhưng hãy hướng dẫn nó cách dịu dàng để nó có thể tiến xa hơn.

17. Vậy nhắc lại lời khuyên của tôi (và dù có nhắc lại bao nhiêu lần cũng không thừa, vì là điều rất quan trọng) là đừng bao giờ buồn phiền khổ cực chỉ vì nỗi khô khan, bất an hay chia trí. Nếu muốn có sự tự do thiêng liêng và không liên tục bị xao xuyến, thì hãy bắt đầu bằng cách không sợ Thánh giá, rồi sẽ thấy Chúa giúp chúng ta vác Thánh giá. Bấy giờ chúng ta sẽ sung sướng tiến bước và gặp được lợi ích trong hết mọi sự. Bấy giờ sẽ thấy rõ ràng rằng, nếu giếng khô cạn, thì chính chúng ta cũng chẳng thể đổ vào đó được giọt nào. Nhưng dĩ nhiên, chúng ta không được bất cẩn mà phải canh chừng để khi có phải sử dụng nước ấy để Người có thể gia tăng các nhân đức cho chúng ta.

(Còn tiếp)
- Trích trong tác phẩm “Tiểu Sử Tự Thuật Thánh Teresa thành Avila”

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2023

Thứ Năm, 28 tháng 9, 2023

Bậc cầu nguyện thứ nhất

 



BẬC CẦU NGUYỆN THỨ NHẤT

- Chương 11
Mẹ Thánh nêu lý do tại sao chúng ta không học biết yêu mến Chúa cách hoàn hảo mau chóng được. Người dùng lời so sánh để trình bày bốn bậc cầu nguyện và nói đôi chút về bậc thứ nhất, rất hữu ích cho những người mới bắt đầu bước vào đường cầu nguyện và những người không được an ủi trong việc cầu nguyện.
***
Bây giờ con sẽ nói về những người mới bắt đầu phục vụ tình yêu – nói thế vì con nghĩ khi bước vào đường cầu nguyện tức là chúng ta cương quyết bước theo Đấng đã tha thiết yêu thương chúng ta. Chỉ nghĩ đến tước vị cao sang ấy, con đã tràn ngập sung sướng, vì nếu ngay ở bước đầu mà chúng ta đã hành động cho phải phép thì sự sợ hãi có tính cách tôi đòi sẽ biến tan đi tức khắc. Ôi lạy Chúa của hồn con và là Đấng Thiện Hảo của con! Khi một linh hồn đã quyết định từ bỏ mọi sự, đã thực hiện tất cả những gì mà khả năng cho phép để được yêu mến Chúa và để có thể hiến mình cách hoàn hảo hơn cho tình yêu Chúa, thì tại sao Chúa lại không vui lòng cho nó nếm hưởng ngay niềm vui dành cho những người đã chiếm hữu tình yêu trọn hảo này? Nói thế là con đã nói sai. Lẽ ra con phải buồn lòng mà nói tại sao chính chúng ta không muốn tiến lên chiếm hữu niềm vui ấy? Chỉ tại lỗi chúng ta mà chúng ta không được hưởng ngay cái hạnh phúc khôn sánh ấy thôi. Nếu chúng ta thực sự yêu mến Chúa cách trọn hảo, thì tự trong tình yêu và cùng với tình yêu ấy đến với chúng ta mọi sự lành. Nhưng chúng ta quá lừng khừng và bủn xỉn trong việc tế hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa nên chúng ta không có đủ điều kiện để lãnh nhận ơn cao trọng mà ý Người muốn là chúng ta phải trả một giá rất đắt thì mới được vui hưởng.
2. Con thấy rõ ở thế gian này không có gì có thể mua sắm được ơn trọng đại này. Nhưng nếu chúng ta làm tất cả những gì chúng ta có thể để được ơn ấy; nếu chúng ta không còn luyến ái các vật trần thế; nếu tất cả chú tâm và tất cả những cuộc giao tiếp của chúng ta đều hướng về trời, thì con không hề nghi ngờ rằng Chúa sẽ vội ban ngay ơn trọng này cho chúng ta, miễn là chúng ta dọn mình cách chu đáo và mau mắn như một số vị thánh đã làm. Thế nhưng khi chúng ta tưởng mình đã dâng hiến tất cả cho Thiên Chúa, mà kỳ thực, chúng ta chỉ mới dâng cho Người chút lợi tức hay mớ hoa trái trong vườn ruộng thôi, còn tiền vốn và quyền sở hữu vườn ruộng, chúng ta giữ lại cho chính chúng ta. Chúng ta quyết định sống nghèo và đó là điều dốc quyết rất đáng thưởng công, nhưng chúng ta lại luôn thu tích và liệu làm sao để khỏi phải thiếu thốn, không chỉ những vật cần thiết mà cả những cái dư thừa. Chúng ta cố kết thân với nhiều người để họ cung cấp những thứ này cho chúng ta, thế là chúng ta chẳng thiếu thốn gì cả. Khi đã chiếm hữu làm của riêng rồi, chúng ta coi trọng nó, có khi còn gắn bó với nó hơn trước nữa. Chúng ta còn cho rằng khi đã đi tu, đã bước vào đời sống thiêng liêng và theo đuổi sự hoàn thiện tức là chúng ta đã từ bỏ cái cảm quân tự đại về mình. Thế nhưng nếu có ai vừa làm tổn thương danh dự của chúng ta là tức khắc chúng ta quên bẵng đi rằng chúng ta đã dâng nó cho Thiên Chúa. Rồi chúng ta cố gắng giữ nó lại và như người ta nói, chúng ta giựt nó ra khỏi chính tay của Thiên Chúa, dù bề ngoài có vẻ chúng ta để cho Người làm chủ ý chí chúng ta! Về hết mọi sự khác, chúng ta cũng xử sự giống như vậy.
3. Đó là cách thế kỳ lạ chúng ta sử dụng để tìm kiếm tình yêu Thiên Chúa! Như người ta nói: chúng ta mong chiếm hữu trọn đầy tình yêu ấy, đồng thời chúng ta vẫn duy trì những mối tình cảm riêng chúng ta! Chúng ta không cố gắng thực hành đến tận nơi ước muốn của mình, cũng không muốn nâng những ước muốn ấy lên cao xa khỏi mặt đất. Những người hành động như thế làm sao có thể xứng đáng lãnh nhận những nguồn ơn an ủi thiêng liêng này. Theo con, hai thái độ này không thể dung hoà được. Bởi không thể từ bỏ bản thân hoàn toàn, thì không bao giờ Thiên Chúa cho chúng ta trọn vẹn kho tàng quí báu đó. Nguyện Người được chúc tụng khi ban cho chúng ta từng tí một thôi. Dù chỉ tiếp nhận tí một thôi cũng đòi hỏi chúng ta phải chịu đựng mọi thử thách trên thế gian này.
4. Chúa tỏ lòng thương xót vô hạn cho những ai Người đã ban ân sủng và lòng can đảm để họ cương quyết cố gắng hết sức có thể hầu lãnh nhận được ơn trọng này. Vì chẳng những Chúa không từ khước ban chính mình cho một ai bền vững cố gắng, Chúa còn lần lần thêm nghị lực cho họ để họ đoạt được chiến thắng. Con nói là “nghị lực”, vì cần phải có nghị lực mới vượt qua được muôn ngàn chướng ngại ma quỉ đặt ra chắn ngay những bước đầu trên lối họ đi, để ngăn cản họ chẳng khi nào bước đi trên đó được. Vì ma quỉ biết nếu người ta tiến lên được, nó sẽ bị thiệt hại rất nhiều. Không những nó chỉ mất một linh hồn ấy, mà còn nhiều linh hồn khác nữa. Nếu nhờ ơn trợ giúp của Chúa mà người mới bắt đầu này cố gắng tiến tới đỉnh hoàn thiện, thì con tin rằng người đó sẽ chẳng bao giờ lên thiên đàng một mình, nhưng họ còn đem theo nhiều người khác nữa. Chúa sử dụng họ như một người chỉ huy tài ba, trao cho họ hướng dẫn nhiều chiến sĩ. Bởi vậy ma quỉ đặt ra trước mắt họ rất nhiều nguy hiểm và khó khăn. Vì vậy họ cần phải có nhiều nghị lực để khỏi thối lui, phải can đảm lắm và cần có sự trợ giúp đặc biệt của Thiên Chúa.
5. Về sau con sẽ tiếp tục viết về vấn đề đã nêu lên mà người ta gọi là thần học thần bí. Bây giờ con xin nói đôi điều về những cảm nghiệm của những người đã quyết định theo đuổi để đoạt được ơn cao trọng này. Và để thành công trong quyết định này là ở giai đoạn đầu, chúng ta phải cực nhọc hết sức, vì Chúa thì ban ơn trợ giúp, còn chính chúng ta phải hành động. Trong những bậc cầu nguyện về sau này, thì điều căn bản là cảm mến Thiên Chúa. Nói cho đúng thì bất cứ ở giai đoạn nào: tập sự, đã tiến bước hay đã thành đạt tuy có khác nhau, nhưng tất cả mọi người đều phải vác thánh giá. Vì ai nguyện theo Đức Kitô thì đều phải đi con đường Người đã đi, nếu không sẽ hư mất. diễm phúc thay những lao nhọc của họ, vì ngay trên cõi đời này, những lao nhọc ấy đã được ân thưởng rất hậu.
6. Là nữ giới và chỉ đơn so viết theo như lệnh truyền. Dù không muốn con cũng phải dùng đến lối so sánh, vì một người ít học như con, thật khó tìm ra được những từ ngữ thích hợp để diễn tả những vấn đề thiêng liêng, nên con phải tìm phương tiện để diễn đạt ý tưởng của con. Lối so sánh của con cũng khó khăn mà diễn đạt cách phù hợp được. Cha sẽ tức cười vì thấy con dốt nát đến thế. Bây giờ con chợt nhớ là đã đọc hay đã nghe về lối so sánh này rồi; nhưng vì trí nhớ của con rất kém nên con không nhớ rõ đã biết nó từ đâu hay người ta có ý diễn tả cái gì, nhưng con rất hài lòng vì có thể dùng để giải thích trường hợp của riêng con.
Người mới bắt đầu cầu nguyện phải nghĩ mình như một người bắt tay vào việc chăm sóc một thửa đất (là chính linh hồn mình), đầy những trái cây rừng, cỏ dại và biến nó thành một thửa vườn để Chúa được vui thoả ở đó. Chúa nhổ rễ cỏ dại và trồng thay vào đó những cây tốt. Hãy coi công việc nhổ, trồng đã được thực hiện rồi – nghĩa là linh hồn đã quyết định chuyên cần cầu nguyện và cũng đã bắt đầu. Bây giờ chúng ta muốn như người làm vườn giỏi, nhờ Chúa trợ giúp, làm cho những cây đã trồng này phát triển, và chuyên cần vui tưới để những cây này không bị tàn lụi, nhưng trổ sinh nhiều bông hoa toả hương thơm dịu làm vui lòng Vị Chủ của chúng ta, để Người thường xuyên đến thưởng lãm và hoan hỉ giữa các (bông hoa) nhân đức trong vườn này.
7. Bây giờ thử xét xem chúng ta có thể tưới vườn cách nào, phải làm gì, công việc có đòi phải khó nhọc lắm không, có được lợi nhiều không và phải vất vả như thế bao lâu? Con thấy có thể tưới vườn theo bốn cách:
1. Dùng tay lấy nước từ giếng lên. Làm công việc này phải vất vả rất nhiều.
2. Dùng cái thùng (hay cái gàu) và tay quay kéo nước từ giếng lên, tức là kéo nước lên bằng cái trục. Đôi khi con kéo theo cách này: ít khó nhọc hơn cách trước mà được nhiều nước hơn.
3. Dẫn nước từ một cái lạch hay một con suối vào vườn, đất sẽ được tưới dư dả, đất khắp vườn đều sũng nước và ít cần phải tưới đi tưới lại, công việc của người làm vườn cũng bớt vất vả hơn nhiều.
4. Vườn được tưới bằng nước mưa lai láng: khi đó Chúa tưới vườn, chúng ta không phải làm gì cả. Cách tưới này thật khôn sánh và dư tràn hơn bất cứ cách tưới nào đã được trình bày.
8. Bây giờ con đi vào điểm cốt yếu tức là đem áp dụng bốn phương pháp tưới cho vườn trổ sinh nhiều bông hoa. Vì nếu không có nước, vườn sẽ hoang tàn. Con thấy lối so sánh này rất thích hợp để giải thích đôi điều về bốn bậc cầu nguyện mà Chúa, theo lòng nhân hậu của Người, đã tuỳ cơ, cho con hiểu biết. Nguyện xin Chúa, vì lòng nhân hậu của Người ban cho con biết nói cách nào để nên hữu ích đôi chút cho một trong các vị đã truyền cho con viết sách này. Vị này, chỉ trong bốn tháng, Chúa đã đem tới độ quá cao mà con, sau mười bảy năm mới tới được. Ngài đã dọn mình chu đáo hơn con. Như vậy, ngài chẳng phải vất vả gì mà vườn của ngài được tưới bằng cả bốn phương pháp này, dù lối tưới sau cùng, ngài vẫn chỉ nhận được từng giọt thôi. Nhưng cứ đà ấy mà tiến, thì với ơn Chúa giúp, chẳng bao lâu, vườn của ngài sẽ được tràn ngập. Nếu những lời giải thích của con có ngây ngô, thì cha cứ cười đi, con bằng lòng lắm.
9. Chúng ta có thể nói những người mới bắt đầu cầu nguyện là những người dùng tay kéo nước từ giếng lên. Như con đã nói, đây là lối làm việc rất vất vả vì phải khó nhọc cầm giữ giác quan. Đó là việc rất cực nhọc, vì họ đã có thói quen sống xao lãng. Họ phải tập cho mình có thói quen không quan tâm đến những gì mắt thấy tai nghe, và phải cố gắng như thế trong suốt các giờ cầu nguyện. Họ phải ở nơi cô tịch và trong chốn tịch liêu ấy, họ suy xét, kiểm điểm đời sống quá khứ của mình. Thực sự, tất cả chúng ta, dù mới bắt đầu hay đã tới bậc hoàn hảo, đều phải thường xuyên nghĩ tới quãng đời quá khứ của mình. Tuy nhiên, phải làm theo mức độ khác nhau, như con sẽ nói sau. Vào buổi đầu, việc suy nghĩ đó sẽ gây nên khó chịu, vì những người mới bắt đầu không luôn chắc được là họ đã hối hận các lỗi lầm của mình hay chưa. (dù rõ ràng là họ đã hối hận, vì họ đã rất thành tâm quyết định phục vụ Chúa). Rồi họ phải cố gắng suy niệm về cuộc đời của Đức Kitô và việc suy niệm này làm cho đầu óc họ mệt mỏi. Đó là những gì chúng ta có thể làm được theo sức cố gắng riêng của chúng ta – dĩ nhiên là với sự trợ giúp của Chúa, vì nếu không có sự trợ giúp đó, chúng ta không thể nghĩ được dù chỉ một tư tưởng tốt lành nào. Đó là công việc mà lúc đầu con gọi là dùng tay lấy nước từ giếng lên. Ước gì Thiên Chúa cho có nước trong giếng! Nếu giếng không có nước thì dẫu sao, điều đó cũng không tuỳ thuộc ở chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là kéo nước và làm những gì có thể để tưới hoa (trong vườn). Nếu vì những lý do mà chỉ mình Chúa biết, có lẽ là để chúng ta được ích lợi nhiều hơn mà Chúa muốn giếng khô cạn, thì khi ấy, chúng ta hãy bắt chước những người làm vườn chăm chỉ, làm tất cả những gì có thể, thì không cần phải có nước tưới, Thiên Chúa tốt lành, vẫn duy trì được cho hoa tươi tốt và làm cho các nhân đức phát triển. Nước ở đây, con có ý nói là nước mắt – nếu không là nước mắt, thì là sự âu yếm ngọt ngào và cảm xúc sốt sắng nội tâm.
10. Vậy người đã cầu nguyện lâu năm mà chẳng thấy gì khác ngoài tình trạng khô khan chán nản, buồn bực, cũng chẳng còn mấy hứng khởi muốn đi kéo nước mà chỉ muốn bỏ tất cả, thì họ sẽ làm gì ở đây? Họ hãy nhớ mình đang phục vụ và làm hài lòng ông chủ vườn. Đang lo lắng để tất cả công việc phục dịch của họ khỏi hư luống, ấy là chưa kể đến mối lợi họ hy vọng nhận được vì việc múc nước cực khổ. Thường xuyên thả thùng xuống giếng để rồi kéo thùng không lên? Thường vẫn xảy ra như thế. Có khi họ không còn sức nhắc nổi cánh tay lên mà múc nước nữa – nghĩa là không thể nghĩ ra dù chỉ một tư tưởng tốt. Vì dùng lý trí làm việc cũng vất vả như kéo nước ở giếng lên. Vậy con xin hỏi, người làm vườn sẽ làm gì trong tình trạng này? Ông ta sẽ hoan hỉ, sẽ hài lòng khi nhận ra rằng ơn trọng đại nhất trong các ơn là được làm việc trong khu vườn của một vị hoàng đế cao cả đến thế và vì biết nhờ đó mình làm hài lòng Người (và mục đích của ông không phải là lo làm thoả mãn chính mình, nhưng là làm vui lòng chủ của mình). Vậy họ hãy hân hoan dâng lời chúc tụng Người. Vì khi Người thấy dù chẳng nhận được phần thưởng nào, họ vẫn hết lòng lo lắng chu toàn nhiệm vụ đã được uỷ thác cho họ, thì Người đã tín nhiệm họ. Họ hãy vác đỡ Thánh Giá Người và hãy suy Người đã sống rất đau khổ suốt cuộc đời (trần thế) của Người. Họ đừng mong chiếm được nước trời ở trần gian, và đừng bao giờ bỏ cầu nguyện. Vậy họ hãy cương quyết, cho dù tình trạng khô khan này có kéo dài hết đời họ, họ cũng không bao giờ để Đức Ki tô ngã dưới sức nặng của thập giá.
Đến thời, họ sẽ lãnh tất cả phần thưởng một trật. Đừng sợ công lao nhọc của mình bị hư phí đi. Họ đang phục vụ ông Chủ Vườn nhân lành đang chăm chú nhìn họ. Họ đừng để ý đến những tư tưởng lố lăng, hãy nhớ ma quỉ cũng gợi lên những tư tưởng như thế trong tâm trí thánh Jérôme khi thánh nhân ở trong hoang địa.
11. Tất cả những thử thách này đều có phần thưởng tương xứng. Con đã chịu đựng những thử thách ấy trong nhiều năm, và khi con đã có thể kéo chỉ được một giọt nước từ giếng phúc đức này, thì con coi như Thiên Chúa đã ban cho con một hồng ân. Con biết những thử thách như thế nặng nề lắm nên cần phải có nhiều can đảm hơn là để làm bất cứ công việc nào khác ở trần gian này.
Nhưng con cũng đã thấy rõ, ngay từ đời này, Thiên Chúa đã không quên ân hưởng bội hậu. Con xác tín rằng chỉ một trong các giờ (cầu nguyện) này, Chúa sẽ ban cho con được nếm hưởng chính mình Người, thì dường như phần thưởngnày đền bù được tất cả những đau khổ con đã chịu suốt thời gian lâu dài để kiên trì cầu nguyện. Con tin rằng, trước khi trao ban kho tàng châu báu của Ngài, Chúa thường gửi đến cho những người mới bắt đầu (cầu nguyện), đôi khi cho cả những người đã gần tới đích, những cực hình này và nhiều cám dỗ khác tự nhiên xảy tới để thử thách những kẻ yêu Người, để xem họ có thể uống chén đắng và vác đỡ Thánh Giá cho Người không. Con nghĩ, chính vì lợi ích cho chúng ta mà Chúa dẫn chúng ta qua con đường khô khan, thử thách để chúng ta thấy rõ hơn sự bất xứng, bất lực của mình. Vì những hồng ân Người sẽ ban cho sau này thuộc phạm vi cao siêu nên trước khi ban cho chúng ta, Người muốn chúng ta cảm nghiệm được mình khốn nạn như thế nào, để tránh cho chúng ta sự sa ngã như Lucifer.
(Còn tiếp)
- Trích trong tác phẩm “Tiểu Sử Tự Thuật Thánh Teresa thành Avila”

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2023

Làm sao phân biệt để viết “dòng” và “giòng”?


 Chúng ta cùng biết các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn viết “giòng sông, giòng nước”:

Nhất Linh: Giòng Sông Thanh Thủy
Tú Mỡ: Giòng Nước Ngược
Thạch Lam: Theo Giòng
Các nhà văn, trí thức lớp sau viết “dòng sông, dòng nước”:
Doãn Quốc Sỹ: Dòng Sông Định Mệnh (1959)
Nhật Tiến: Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972)
Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: Dòng Nước Sông Hồng (viết 1945, in vào thi tập 1985)Ngô Thế Vinh: Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007)
Vậy chúng ta nên theo các nhà văn lớp trước hay lớp sau?

1) Trước hết, ba cuốn tự điển Việt ngữ có thẩm quyền nhất của Việt Nam cho tới hiện nay: Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (trang 155), Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (quyển Thượng, trang 376), Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của (quyển I, trang 243) cùng viết là “dòng”. Cuốn Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị do nhà ngữ học Lê Ngọc Trụ biên soạn cũng viết “dòng” (trang 141).

2) Các tự điển do những học giả có uy tín khác biên soạn như Vietnamese-English Dictionary của giáo sư Nguyễn Đình Hòa cũng viết “dòng” (trang126). Giúp đọc Nôm và Hán Việt của linh mục Trần Văn Kiệm (trang 388) cũng viết như thế. Hầu hết tự điển Việt ngữ xuất bản ở trong nước hiện nay và tự điển chữ Nôm (ở trong nước cũng như ở hải ngoại) cùng viết “dòng”:
Tự điển chữ Nôm trích dẫn (Westminster, CA, 2009): Trang 299.
Tự điển chữ Nôm dẫn giải (Hà Nội, 2012): Trang 452.

3) Các nhà biên soạn tự điển có lý do để viết “dòng” (với D). Trong chữ Nôm, chữ ấy được viết như sau:
Phía trước là bộ Thủy 氵(nước) để cho biết có liên quan đến nước.
Phía sau là chữ Dụng 用 (dùng) để chỉ cách phát âm.
Vậy đó là một chữ “có liên quan đến nước” và phát âm giống chữ “dụng” (trong chữ Nôm đọc là “dùng”). Vì phát âm giống “dụng” và “dùng”, chúng ta cùng thấy âm “dòng” gần và tự nhiên hơn. Khi phát âm là “dòng” thì viết với D là đúng.
Vì lẽ đó, những ai năng tra cứu tự điển hoặc biết qua chữ Nôm (các giáo sư Doãn Quốc Sỹ, Trần Trọng San… và những người tốt nghiệp Văn khoa sau các ông) có khuynh hướng viết là “dòng”.
Giáo sư/nhà văn Doãn Quốc Sỹ là con rể nhà thơ Tú Mỡ. Là một giáo sư Quốc văn, dạy về Tự Lực Văn Đoàn, ông biết rất rõ nhạc phụ đã viết Giòng Nước Ngược (cũng như Nhất Linh, Thạch Lam đã viết Giòng Sông Thanh Thủy, Theo Giòng) nhưng ông không theo. Trong cương vị một nhà giáo, ông viết Dòng Sông Định Mệnh, vì nghĩ rằng như thế đúng hơn. Nhà văn Nhật Tiến có giao tình thân với văn hào Nhất Linh. Ông là người đọc lời vĩnh biệt khi hạ huyệt trong tang lễ Nhất Linh ở Sài Gòn ngày 13-7-1963. Tuy biết rất rõ Nhất Linh đặt tên cho tác phẩm cuối đời của mình là Giòng Sông Thanh Thủy, năm 1972 Nhật Tiến vẫn đặt tên cho một tập truyện của ông là Tặng Phẩm của Dòng Sông.
Trong Việt Nam thi văn hợp tuyển, khi cho in các tác phẩm văn học, giáo sư Dương Quảng Hàm cũng viết “dòng”:
– Sông Lục đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng (Ca dao)
– Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước (bản dịch Tỳ bà hành)
Khi phiên âm Truyện Kiều, các học giả Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh cũng đều viết “dòng”:
– Nao nao dòng nước uốn quanh (câu 55)
– Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang (câu 2636)
Các học giả của miền Nam trước 1975 như gtiáo sư Trần Trọng San trong cuốn Văn Học Trung Quốc Đời Chu Tần, cũng luôn luôn viết: “ngược dòng, xuôi dòng, dòng dõi…”.

4) Tại sao các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn viết “giòng”?
Khi các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn viết Giòng Nước Ngược và Theo Giòng, tuy Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ; cùng Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị của Lê Ngọc Trụ chưa ra đời, nhưng hai bộ tự điển của Huỳnh Tịnh Của và Hội Khai Trí Tiến Đức đã xuất hiện (1895 và 1931). Rất có thể các vị không lưu tâm đúng mức đến bộ tự điển của Huỳnh Tịnh Của (xuất bản ở trong Nam), nhưng nhiều phần vì các vị có thành kiến với Hội Khai Trí Tiến Đức. Báo Phong Hóa đã đăng rất nhiều thơ văn giễu cợt, châm biếm Hội này. Trong khung cảnh ấy, việc theo những đề nghị về phương diện chính tả do tự điển Khai Trí Tiến Đức đưa ra là điều khó xảy ra.

5) Tự Lực Văn Đoàn cũng có những sai lầm khác về phương diện chính tả.
Khi xuất bản lần đầu năm 1936, tập truyện ngắn của Khái Hưng mà nay chúng ta gọi là “Dọc Đường Gió Bụi” được in với nhan đề Giọc Đường Gió Bụi. Thời nay chúng ta cùng biết rằng viết như thế là sai. Câu đầu bài “Chí Làm Trai” của Nguyễn Công Trứ vẫn được phiên âm là: Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc.
Tự Lực Văn Đoàn có những đóng góp rất quý giá về phương diện văn học và xã hội. Về văn học, đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn cho nền văn xuôi Việt Nam (và cho cả Thơ Mới) rất đáng kể. Nhưng cách viết chữ quốc ngữ ở thời Tự Lực Văn Đoàn chưa hoàn hảo về phương diện chính tả. Đọc lại báo Phong Hóa, chúng ta thấy lỗi chính tả khá nhiều. Vì những lẽ ấy, tuy vẫn nên viết tên các tác phẩm của Nhất Linh, Tú Mỡ, Thạch Lam là Giòng Sông Thanh Thủy, Giòng Nước Ngược, Theo Giòng (đó là những danh từ riêng, tên các tác phẩm đã có địa vị trong văn học sử), chúng ta vẫn nên viết “dòng” (dòng nước, dòng dõi, dòng tu …) trong những trường hợp khác.

+ Góp ý của nhà văn Nhật Tiến, California:
Dĩ nhiên ta tôn trọng các tác phẩm đã in thành sách như của Nhất Linh (Giòng Sông Thanh Thủy), Tú Mỡ (Giòng Nước Ngược)…, và biết ơn công trình làm mới văn chương của Tự Lực Văn Đoàn từ giữa thế kỷ trước, nhưng phải nói rằng trong hai cơ quan ngôn luận của văn đoàn này, tờ Phong Hóa và tờ Ngày Nay hãy còn chứa đầy rẫy lời văn thô sơ hay lỗi chính tả. Như một số mục chính trên tờ Phong Hóa đã dùng những từ mà cho đến nay không còn ai dùng nữa như “Chuyện Ngắn” thay vì “Truyện Ngắn”, “Từ Nhỏ Đến Nhớn” thay vì “Từ Nhỏ Đến Lớn”, “Hạt Đậu Dọn” thay vì “Hạt Đậu Nhọn”, tòa soạn quảng cáo: “Xem Phong Hóa số Tết, 20 trang. In mùi, có bìa giấy trắng” thay vì “Xem Phong Hóa số Tết, 20 trang. In mầu, có bìa giấy trắng”… Cho nên tôi hoàn toàn đồng ý với những nhận định xác đáng của anh Trần Huy Bích về việc viết chữ “dòng sông,” thay vì viết “giòng sông”.

+ Góp ý của bác sĩ Hà Ngọc Thuần, Brisbane, Úc:
Bài viết của Anh Trần Huy Bích có thể gọi là “tường-tận”: Tường là nói rõ ràng, và tận là đã nói tới cùng. Có hai hệ-luận như sau: một là trong tương-lai chúng ta nên cùng đồng ý viết “dòng”, nhưng vì Việt Nam không có Hàn Lâm Viện để quy định chính tả nên việc này tuy dễ mà khó. Vả lại trong văn chương chẳng nên có sự bức bách, bắt người viết phải theo ý kiến mình, dù đó là ý kiến của số đông. Cũng không nên có sự chê trách vội vã đối với một bài văn vì một vài “lỗi” chính tả mà quên đi ý tưởng của toàn thể bài viết. Việc này thường đưa đến những mối bất hòa không cần thiết. Hai là sau này khi tái bản chúng ta có dám, hay có nên, thay đổi tựa đề của tác giả mà in là “Dòng Sông Thanh Thủy” (Nhất Linh), “Theo Dòng” (Thạch Lam) và “Dòng Nước Ngược” (Tú Mỡ), hay là chúng ta bắt buộc phải tôn trọng các tác giả và giữ nguyên tựa đề như đã viết trong quá khứ.

+ Góp ý của nha sĩ Nguyễn Thị Mỹ Ngọc, Columbus, Ohio:
Bản thân tôi nhiều khi cũng lúng túng vì chữ “dòng sông” và “giòng sông”. Cám ơn anh Huy Bích đã tra cứu và giảng giải rất cặn kẽ. Từ nay tôi sẽ dùng chữ “dòng” mà không còn phải lưỡng lự gì nữa. Còn chữ “giòng” coi như chữ cổ, vì ngôn ngữ theo thời gian có thể đọc khác đi một chút, như “ông trời” ngày trước ta gọi là “ông giời” vậy.

+ Góp ý của nhà văn Huy Văn Trương, Bellflower, California:
Tôi thường viết “dòng sông, dòng dõi, dòng họ” vì tôi dựa theo tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ do nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn. Trong cuốn tự điển này không có chữ “giòng” nào hết. Tôi dùng cuốn tự điển này vì tôi thấy nó tạm đủ so với nhiều cuốn khác. Tuy vậy trong đó cũng có nhiều chữ, theo tôi nghĩ vẫn còn trong vòng tranh cãi, như người ta thường viết là “chia sẻ” thì trong Tự Điển Lê Văn Đức viết là “chia xẻ”… Từ trước tới giờ tôi viết “dòng sông” vì theo tự điển nhưng vẫn thấy lấn cấn thế nào đó. Đọc bài viết của anh xong, tôi không còn thấy lấn cấn nữa, mọi thắc mắc đã được giải tỏa. Đề nghị anh đăng bài này lên nhiều tờ báo để mọi người cùng được đọc.

+ Góp ý của cô Nguyễn Thị Ngọc Dung, cựu giáo sư Trung Học Võ Tánh, Nha Trang:
Xin cảm ơn anh đã gửi một câu chuyện thú vị về văn chương, ngôn ngữ Việt Nam, cách viết chữ “Giòng” hay “Dòng”. Ngọc Dung cũng xin mạo muội chen vào, bày tỏ một vài ý kiến riêng, nho nhỏ: Ngọc Dung cũng quen với chữ “Dòng” để chỉ “dòng sông” hay “dòng đời,” và chữ “giòng” để chỉ “giòng dõi”. Tuy nhiên, theo thiển ý, dù viết “giòng đời” hay “dòng dõi” cũng vẫn được. Điều quan trọng là KHÔNG SAI về ý nghĩa. Riêng về chữ “dòng” hay “giòng,” nếu suy từ chữ Nôm (dùng chữ “Dụng” thêm bộ “Thủy”) thì “dòng” nghe có lý hơn là “giòng”.

* GS Trần Huy Bích
Jun 12, 2021

Nguồn: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=837533434606894&id=100050507365439

Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2023

Đi



Ngày xưa hăm hở đi ra,
Bây giờ cặm cụi đi vào cõi trong.
Đi hoài chưa đến đáy lòng!

*

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

Tứ Mạt Ca

 

  • PHẦN I: TỨ MẠT CA
  • PHẦN II: ĐI TÌM LAI LỊCH BÀI CA TỨ MẠT
  • VẤN ĐỀ TÁC GIẢ
  • AI LÀ TÁC GIẢ CỦA TỨ MẠT CA?
  • III – THỨ NHẬN ĐỊNH

PHẦN I: TỨ MẠT CA


01-

Thong dong ngẫm nghị sự đời
Lấy trong kinh huấn mấy lời mà suy:
Chữ rằng: Sinh kỷ tử quy.
Ở đời là chốn tạm thì mà thôi

Xưa nay danh lợi mấy người,
Nào ai đã sống ở đời mãi đâu!,?
Biển đời bãi cát ngàn dâu
Khác nào như bóng bạch câu qua mành
Thấy rồi tưởng lại tủi mình
10- Lấy câu Tứ Mạt hết tình thở than!
11- Lời trong Kinh Thánh dạy rằng
Một là sự chết hiển nhiên rõ ràng;
Dầu mà những bậc đế vương,
Những người hèn, dại, những phường khôn ngoan,
Đám mây ngọn khói tiếng đàn,
Sương sa bãi cát hoa tàn cội cây:
Trường giang nước những chảy hoài,
Sớm qua tối lại, đưa người cổ kim,
Bóng đưa thấp thoảng quang âm,
20- Người đã qua trước, ta lần theo sau,
Vốn xưa Tạo Hóa nhiệm mầu,
Nào ai đã trốn khỏi cầu tử sinh.
Phải suy sự chết cho rành,
Kìa ngày sau hết, run minh sợ thay!
Thương ôi! nhiều nỗi đắng cay!
Xem trong thân thể khác ngày bình sinh,
Chân tay xem đã khác hình,
Khi ăn khi ngủ khôn tình được yên,
Con mắt thấy đã sưng lên
30- Tứ chi quyết lạnh, sắc nhìn xanh xao,
Thầy hay thuốc đã biết bao,
Kìa phương lục vị, nọ cao thập toàn,
Bệnh cơ đến lúc gian nan,
Tâm thần bất tỉnh, bàng hoàng như say,
Hoặc là những kẻ thơ gây,
Còn trông lâu tháng dài ngày nhởi chơi;

Hoặc là kẻ mới đôi mươi,
Còn đang chuộng sắc tham tài chưa thôi,
Hoặc là những kẻ ăn chơi,
40- Bài tôm, cờ tướng vẽ vời được thua;
Hoặc là những kẻ nông phu,
Cày mây cuốc gió sớm trưa giãi dầu,
Những mong tạu ruộng mua trâu,
Mở vườn lập tước làm giàu làm sang.
Hoặc là những kẻ văn chương,
Sách đèn giong giả khoa trường chăm lênh,
Những mong chiết quế vương đình,
Thám hoa đế diện hiển vinh trong đời.
Hoặc là những kẻ lưới chài,
50- Kinh nghề sú vược liệu bài đón ve.
Hoặc là buôn bán trăm nghề,
Lời mười một vốn tàu bè trẩy trương.
Hoặc người làm thợ làm thùng,
Những mong tạc phượng thêu rồng vẽ lân.
Đều còn tính việc làm ăn,
Ai ngờ sự chết lần lần theo sau,
Kẻ khinh người trọng như nhau,
Trên rừng dưới biển trước sau một đàng,
Mai mê tước lộc vinh quang,
60- Chẳng hay một giấc mơ màng mộng xuân.
Của trần để lại cho trần,
Dầu ai tạc phượng thêu rồng mặc ai,
Đời người đến thế thì thôi,
Đã hết sự đời các việc sạch không.
Hoặc là vợ thác trước chồng,
Than rằng! em hởi, cực lòng anh thay!
Vợ chồng kết tóc giao tay,
Những mong phận đẹp duyên hài bách niên,
Ai ngờ bến lại xa thuyền,
70- Âm dương cách biệt cho nên nỗi này!
Buồng hương lạnh ngắt đông tây,
Lấy ai niu nứng một bầy con thơ!
Tiếc thay tài sắc khôn vừa,
Cười hay mới biết đã vừa khôn ngoan!
Nữa chừng trâm gãy gương tan,
Cũng mang lấy kiếp hồng nhan làm gì?"
Hoặc là chồng thác bây giờ,
Vợ than: "Anh hởi, sao mà bỏ tôi?
Đoạn trường đáo để khúc nôi,
80- Lấy ai lo lắng trong ngoài cho xong?
Ngờ nào được vẹn chữ đồng!
Có sao lại để lạnh lùng phòng loan?
Làm chi khói tắt hương tàn,
Bâng khuâng lá bạc qua ngàn rừng xanh!
Tiếc thay một đấng tài tình,
Văn hay võ giỏi thông minh trong đời,
Nữa chừng lá rụng hệu rơi,
Tiếc công khó nhọc tiếc người tài hoa!"
Hoặc là con khóc mẹ cha,
90- "Cha ôi mẹ hỡi sao mà bỏ con?
Có cha gót đỏ như son,
Bấy giờ cha thác gót con đen sì!
Có mẹ thì mẹ bù chì,
Bây giờ mẹ thác con thì cậy ai?
Từ nay vắng vẻ trong ngoài,
Chẳng ăn, chẳng nói, chẳng cười, chẳng đi,
Chẳng còn dạy nhủ điều chi,
Chẳng còn kẻ nể người vì nữa đâu.
Chẳng còn nếm sự ngót ngào.
100- Chẳng còn thăm viếng đến nhau nữa rồi.
Làm chi vật đổi sao dời?
Long đong nghĩa trước ngẫm ngùi duyên sau,
Nỗi niềm tưởng đến mà đau.
Thấm trong ngan phổi, sương dầu cỏ non,
Thôi đành sinh tử lẽ thường.
Sống đời ví cũng như dường chiêm bao!
Ai ôi! Phải liệu làm sao?
Khách đày quán tạm người nào được lâu?
Vậy nên ta phải lo âu,
110- Chớ còn chuộng quý tham giàu làm chi,
Ở thời thì phải theo thời
Hàng ngày dùng đủ với đời thì thôi.
Nhớ trong Tin kính mấy lời,
Tin có sự sống đời đời chẳng sai.
Bây giờ suy lẽ thứ hai
Người đã chết rồi, hồn phải đi đâu?
Suy lường ý Chúa nhiệm mầu
Dựng nên trời đất mới âu sinh người
Dựng nên muôn vật muôn loài,
120- Để cho người thế hôm mai được dùng;
Dựng nên xuân hạ thu đông,
Tinh thần nhật nguyệt xoay vần sáng soi.
Ban cho trí tuệ hơn loài,
Biết suy sự phải, biết bày sự nên;
Soi cho biết Chúa thượng thiên,
Phượng thờ chân hiếu một niềm chí tôn,
Đời này dự vẹn răn truyền,
Ngày sau hưởng phúc thiên niên đời đời,
Ví không dự được như lời,
130- Sau này phải phạt trong nơi ngục hình,
Nhớ lời thường đọc trong kinh;
Ngày sau phán xét chí bình chí công,
Vậy khi ta đã mệnh chung,
Linh hồn phải đến khiêm cung trình bày,
Than rằng run sợ lắm thay!
Suy đến sự này đáo để lòng tôi,
Vì khi còn sống ở đời,
Những bưng con mắt như ngồi trong hang,
Những mê giấc mộng đêm tràng,
140- Biết đâu địa ngục thiên đàng là đâu;

Bây giờ mới tỏ âm hao.
Quang mây mới rõ ngôi sao trên trời,
Giấc mê rày đã tỉnh rồi,
Quả nhiên thật có như lời truyền xưa,
Uy nghi phảng phất gần xa,
Nhãn tiền ngự đó thật là Ngôi Hai,
Chung quanh các thánh dẫy đầy,
Có thánh quan thầy có thánh Angiô,
Có cờ Câu Rút sáng lòa,
150- Nghiêm trang chói lói một tòa hiển nhiên,
Linh hồn đến trước điện tiền,
Sách biên tội phúc Chúa liền mở ra
Bây giờ Chúa mới xét tra,
Rằng: khi ở thế đã là làm sao?
Phúc thật tám mối thế nào,
Chừa tội bảy mối, làm sao trình bày:
Mười răn giữ vẹn hay sai,
Sáu điều Hội Thánh một bài xét tra,
Dầu mà bát nước ban ra,
160- Hư từ một tiếng, đều là phải thưa,
Phải là ở thế ngày xưa,
Sớm trưa cần mận phượng thờ Chúa trên.
Bụt thần ma quỉ chẳng tin,
Mười răn vẹn giữ lời truyền Chúa xưa,
Thì Người phán dạy bây giờ,
Rằng: "Con ăn ở đã vừa lòng Cha:
Lỡ thì cho khách đậu nhà,
Khát thì cho uống đói đà cho ăn,
Rày Cha thưởng phúc cho con,
170- Thiên đàng chốn ấy, thanh nhàn thiên niên",
Hoặc là khi ở thế gian,
Những theo xác thịt việc hồn thì không,
Tiếng rằng giữ đạo cha ông,
Cũng có tên thánh, song lòng chẳng tin.
Ngày kiêng thịt đánh kìn kìn,
Luật trong Hội Thánh, chẳng nhìn tới nơi.
Thầy khoa bà bói thì hay,
Lòng tin mến cậy Chúa rày thì không.
Ở ăn cậy thế cậy hùng,
180- Đạo quân sư phụ, sạch không làu làu,
Lòng đầy tích những gươm đao,
Lo tìm chước độc mưu cao hại người.
Điều lành gác để ngoài tai,
Hoa tình tục tĩu là bài học ôn,
Việc người bắt méo bắt tròn,
Bao giờ mình được bạc vàng mới tha,
Lại thêm đốt cửa hại nhà,
Xoi tường khoét vách ghê đà quá thôi,
Chuyện mình giấu giếm đầu đuôi,
190- Chuyện xấu gì người vạch lá tìm sâu,
Kiếm đàng dối trá hại nhau,
Nói hành bỏ vạ làm cao làm càn,
Tóc tai ve vuốt chững chàng,
Trong lòng vốn những mơ màng nguyệt hoa,
Lại thêm cờ bạc rượu trà,
Tham lam của cải người ta quá chừng,
Lâu năm bỏ tội không xưng,
Ai bảo thì rằng: Tôi có tội chi,
Nhà thờ lễ lạy không đi,
200- Nghe có việc gì xôi thịt thì mau,
Bao nhiêu tội ác trước sau,
Bày ra xát xát từ đầu chí đuôi,
Ăn năn thì đã muộn rồi,
Mình làm mình chịu hởi ôi! lẽ gì!
Mùa thương thì đã hết kỳ,
Đến giờ oán phạt còn gì nữa đâu!
Ai ôi! Suy nghĩ làm sao?
Dối trá thế nào, chạy chữa cùng ai?
Sau lưng có quỉ cáo nài,
210- Dầu thánh quan thầy chẳng lẽ chữa bênh,
Bồi hồi bứt rứt trong mình,
Thấy tỏ ngục hình, thảm thiết đắng cay!
Lời nghiêm Chúa mới phán rày:
Ơ loài vô phúc, ơ loài bất nhân!
Mày đã phản Chúa, phụ quân,
Thì giao quỉ dự bắc cân lý hình"
Ai ôi! Thật sợ thật kinh!
Xét lại trong mình tội lỗi lắm thay!
Trần gian là chốn khách đày,
220- Ba thù cám dỗ khi nay thì nhiều,
Mùi ngon, sắc đẹp lòng yêu.
Hãm mình chịu khó phần nhiều chẳng ưa,
Vui chơi dầu mấy cũng vừa,
Hôm mai kinh hạt nữa giờ đã lâu,
Chấp tay quỳ gối nguyện cầu,
Trông ơn Chúa Cả trên đầu đoái thương,
Ban ơn biết cách đo lường,
Ăn năn đời tạm tìm phương hãm mình.
Ghi lòng phán xét công bình,
230- Kẻo trong ngày ấy trách mình, mất công.
Phán xét các việc vừa xong,
Thiên đàng mở cửa trông mong người lành,
Ngục hình rẽ đất mở phành,
Muôn vàn quỉ dự đứng rình tội nhân.
Vậy ta suy chốn ngục hình,
Là nơi những lửa diêm sinh dẫy đầy,
Chúa xưa đã dựng ngục này.
Nghiêm trừng thần dự là loài quỉ ma,
Nó hằng cám dỗ người ta,
240- Ai mà theo nó phải sa ngục này,
Ngục này là ngục đắng cay,
Là chốn dẫy đầy những lửa sinh diêm.
Tội nhiều thì lửa càng thêm,
Trăm năm như mới chẳng êm chút nào.
Mấy người sa xuống vực sâu,
Dễ ai lấp thảm, bớt sầu cho ai,
Máu tuôn nước mắt đượm dài,
Than thôi lại khóc khóc rồi lại than.
Than rằng: Biển lửa mêng mang,
250- Bao giờ cho tắt cho tàn lửa ôi!

Lửa này biết lúc nào thôi,
Lửa này biết lúc nào rồi mà trông!
Lòng ôi! Đáo để chưa lòng,
Lòng mê sắc dục lòng mong rượu trà,
Lòng lo hà hiếp người ta.
Lòng lo cao cửa rộng nhà cho sang.
Lòng lo tích trử bạc vàng,
Lòng lo hút sách hoang đàng say sưa.
Lòng lo phận đẹp duyên ưu,
260- Lòng lo dối trá phỉnh phờ người ta,
Lòng lo trang điểm lụa là,
Trau ăn trau mặc sa đà nhởi chơi,
Rày lòng muốn nữa hay thôi?
Làm chi cho cực thân tôi hởi lòng!
Mấy người trước có lòng chung,
Đêm ngày giảng dạy cho lòng được hay,
Mà lòng chẳng để vào tai,
Thì lòng có được trách ai bây giờ ?
Lòng sao mê muội ngẩn ngơ,
270- Tham vui một chút chóng qua làm vầy ?
Trách ai thổi gió đưa mây,
Đem đàng mở lối cho mày được theo.
Biết thân vui ít khổ nhiều,
Đã đem tiền bạc mà liều cho thân?
Của ôi! Của để cho con,
Nào con có biết nước non nôi này ?
Nghĩ càng thêm nôi đắng cay,
Rưới tuôn biển bạc, lấp dày non cao.
Đêm ngày nóng nảy khát khao.
280- Nhờ ai hạt nước giọt vào đây cho!
Trách mình sao chẳng biết lo.
Xưa rày ơn Chúa ban cho đã nhiều!
Mình ăn mình chẳng kính yêu,
Mình mê xác thịt mình theo sự đời.
Mình không biết Chúa là ai,
Nên mình phải phạt đời đời khốn thân,
Xưa nay tốt áo dài quần,
Trâm gài phấn xức bao chân dép giày,
Rày nên phách lạc hồn bay,
290- Cổ mang hoạn lửa, chân dày bàn chông,
Trăm nghìn rắn độc vào lòng,
Thần kinh quỉ khốc ầm ầm như lôi,
Khổ xưa đến chết thế thôi,
,Khổ này quá khổ muôn đời còn trơ.
Mẹ cha thà chớ sinh ra,
Làm chi mà để xót xa đời đời ?
Bao giờ cho thấy Chúa tôi.
Cho phai ngọn lửa cho nguôi lòng phiền,
Ấy là đầy phúc cửu truyền,
300- Vốn trong Kinh Thánh đã truyền khôn sai.
Phúc cho kẻ Chúa sáng soi:
Soi lòng mở trí biết lời Thánh Kinh,
Biết đàng đền tội sửa mình,

Thưởng công ắt đã để dành có nơi.
Kẻ sa hỏa ngục đã rồi,
Người thăng thiên quốc là người vinh quang,
Vậy ta suy sự thiên đàng,
Thánh Kinh truyền để rõ ràng khôn sai.
Thiên đàng là chốn no đầy,
310- Là nơi vinh phúc khôn tày khôn so;
Là nơi Thượng đế ngự tòa,
Cực sang, cực trọng, gồm no mọi đàng,
Miệng nào kể xiết giàu sang,
Trí nào suy thấu mọi đàng hiển vinh!
Hảy xem trong chốn triều đình,
Đền đài lầu các hữu tình minh quang,
Ấy là việc giả thế gian,
Tài hèn trí mọn còn toan thế này,
Phương chi Vua cả trên trời,
320- Là Vua trên hết các loài làm vua,
Tốt lành phúc đức gồm no,
Thì tòa trọng ấy ai so cho bằng?
Tóm tắt chỉ nói được rằng:
Là nơi vinh phúc muôn phần vẻ vui,
Dầu mà đã hưởng muôn đời,
Khác nào một lát một hồi chán đâu,
Muôn vàn thần thánh quỳ chầu,
Đai vàng áo tía trước sau rõ ràng,
Tháp ngà sân ngọc thành vàng,
330- Dưới trên đàn dạo nhịp nhàng âu ca.
Dầu mà nói mấy cũng là,
Như không như bóng sáng đà vào đâu,
Thánh xưa chỉ chép một câu:
"Mắt chưa hề thấy tai hầu chưa nghe,
Trí khôn bày vẽ chưa hề".
Ấy là Thánh đã xem nghe chép truyền.
Chớ gì ta nhớ liên liên,
Ắt là giữ đạo vững bền chẳng sai,
Nhớ rằng sống ở trần ai,
340- Như hoa sớm nở chiều hoai ra gì,
Nhớ rằng phán xét uy nghi,
Công bình nhiệm nhặt chẳng vì ai đâu.
Nhớ rằng địa ngục thẳm sâu,
Muôn nghìn điều khổ điều sầu điều cay.
Sinh diêm biển lửa dẫy đầy,
Nướng nung kẻ dự đêm ngày chẳng nguôi,
Nhớ rằng có chốn trên trời,
Thanh nhàn vui vẻ đời đời vô chung.
Muôn nghìn phúc trọng lạ lùng,
350- Thưởng người chịu khó lập công ở đời.
Thỉ chung tứ mạt mấy lời,
Ghi lòng tạc dạ muôn đời đừng quên,
Ấy là giữ vẹn răn truyền,
Lập công chịu khó ở miền trần gian.
Mai sau tới nước Thiên Đàng,
356- Lãnh phần phúc lộc thanh nhàn. Amen.

Sưu tầm và biên tập: J.B Antôn Hoàng Cảnh Hồng


PHẦN II: ĐI TÌM LAI LỊCH BÀI CA TỨ MẠT


(Bài đăng Nguyệt san CG&DT, số 107, Tháng 11 năm 2003)


Xin được giới thiệu với bạn đọc báo Công Giáo và Dân tộc và với toàn thể Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, một áng thơ Công Giáo mà chúng tôi thấy có mặt tại Giáo phận Vinh chúng tôi đã thấy từ rất lâu. Đó là TỨ MẠT CA hay BÀI CA TỨ MẠT. Nguyện vọng của chúng tôi là: Đem trình làng cho biết: Ai là tác giả của áng thơ này.

Giới thiệu nó như một tác phẩm gọi được là cổ, nhưng cũng không thiếu chất hiện đại, mà về văn chương, – theo thiển ý, – mọi người nên biết, vì phải nói đây là một trong những áng thơ tuyệt bút; còn về mặt tôn giáo, phải kể là nó rất có ích cho việc phổ biến những chân lí vĩnh hằng của Giáo lí Công Giáo, những chân lí được coi là không thể không năng được suy niệm, nếu muốn sống đúng lí tưởng Tin Mừng, nhằm góp phần thăng hoa đời sống người Kitô hữu, ngay cả- và nhất là- trong giai đoạn và nếp sống, về mặt đạo đức, đang băng hoại nhanh chóng trước sự lo âu trăn trở của mọi người có tâm huyết tiền đồ của nhân loại, của Đất Nước và của Giáo Hội.

Cũng như với nhiều áng thơ Công Giáo khác, với TỨ MẠT CA này, chúng ta có thêm bằng chứng cụ thể và hùng hồn để tự hào về những gì mag lịc sử Tin Mừng hóa trên đất nước chúng ta đã góp vào kho tàng văn hóa của dân tộc.

VẤN ĐỀ TÁC GIẢ



Một sự thực là TỨ MẠT CA này đã một thời rất được phổ biến rộng rãi và được mến chuộng tại các giáo xứ ở Nghệ Tĩnh Bình. Tứ Mạt Ca là một áng thơ đẹp quá về mặt văn chương mà cùng ý nghĩa quá về mặt tâm linh. Những năm 30 của thế kỷ hai mươi, áng thơ này được rất nhiều người,- đặc biệt là giới nữ, – ở giáo phận Vinh thuộc lòng và năng đọc; đọc chung trong nhà thờ, ngâm nga ở gia đình, mẹ chị ru con ru em với Tứ Mạt Ca, yên ủi kẻ liệt với Tứ Mạt Ca, xay lúa giã gạo với Tứ Mạt Ca, tay cày tay cấy với Tứ Mạt Ca... Nội dung giáo lí của nó về Bốn Sự Sau nhờ đó thấm dễ dàng và thấm sâu vào tâm hồn người tín hữu, sâu đến trở thành một động lực mãnh liệt làm người ta ăn không ngon ngủ không yên trước những câu hỏi lớn nhất về đời người, sâu đến gây xáo trọn lạnh mạnh, đến những cuộc đổi đời theo hướng thiện hảo.

Ai là tác giả của áng thơ Ca Tứ Mạt ?

Chúng ta đều biết: Đạo Công Giáo có mặt trên đất nước Việt nam đã hơn 4 thế kỉ. Ngay những hồi đầu, trong số các nhà truyền giáo người nước ngoài và bên cạnh họ, những nhà nho công giáo hoặc nho sĩ người lương theo đạo Công Giáo, các Thầy Giảng người Việt..., nhiều người rất thông Hán Nôm, rất có tài làm thơ ca, hò vè..., họ đã tích cực vận dụng thơ văn với nhiều thể loại làm phương thứcđưa đạo lí Tin mừng vào tâm hồn và cuộc sống nhân dân ta. Lịch sử nhiều giáo phận cũng thấy nói đến hiện tượng văn hóa tích cực này.

Riêng ở giáo phận Vinh, lịch sử ghi rõ việc các nhà truyền giáo ở đây, cách riêng cha Majorica...đã cổ động và tổ chức thực hiện cách xuất sắc, việc sáng tác thơ, ca, hò, vè, kịch..., và đặt những cung ngắm nguyện, những cung đọc cho mỗi loại sách: Cung nguyện ngắm, cung Ngắm Sự Thương Khó, cung sách Lọn lành, cung Giảng sự Thương Khó, cung Sử ký Hội thánh, linh mục Nguyễn văn Trinh, trong cuốn: Lược Sử Giáo Hội Việt Nam (tài liệu cho giảng viên giáo lí 1990) đã nói về Linh mục Thừa sai Giêrôm Majoroca, hoặt động ở Nghệ An và Thanh Hóa từ 1632, rồi lên thay Linh mục Morelli làm Bề Trên Đàng Ngoài 1649 như thế này: "Một mình cha Majorica kiêm vùng Nghệ An, Thanh Hóa. Cha là người đầu tiên soạn sách bằng chữ nôm: Loại sách minh giáo, sách thiêng liêng đọc chung trong nhà thờ, hạnh các thánh" (sdd t.74). Chúng tôi hoàn toàn tán đồng việc sưu tầm, phục chế những di sản văn hóa Công Giáo quí giá đó. Nào như vậy không phải là các bậc tiền bối đã thực hiện rất thành công một trong những công việc mà chúng ta thời nay đang phàn nàn chưa biết thực hành như thế nào, đó là hội nhập văn hóa đó sao? Trong tinh thần đó, chúng tôi mạnh dạn giới thiệu với tất cả mọi thành phần Dân Thiên Chúa trên đất nước chúng ta, một trong những áng thơ có một không hai này. Mong được ý kiến đóng góp của tất cả.

Đây là nội dung và hình thức tập sách trong đó có TỨ MẠT CA, với những gì chúng tôi biết chắc và những gì chúng tôi chưa rõ:

Tập sách có tựa đề là TỨ CHUNG.

Những trang đầu là thế này:
1
TỨ CHUNG
ĐỨC CHA HẬU

coi sóc địa phận Nam ngoài bắc kỳ

đã dọn



TỨ MẠT CA
HONG KONG

Tứ Chung (từ trang 5 đến trg 129)

Phần văn xuôi của Đức Cha Gauthier Ngô Gia Hậu. Nội dung là suy ngẫm về 4 sự sau cùng đời người: Sự chết, sự phán xét, thiên đàng, hỏa ngục.

Tứ Mạt ca (từ trang 129 đến 141)

Phần văn vần là phần Diễn ca cả phần Tứ Chung ở trên, nhằm giúp giáo hữu dễ thuộc nội dung giáo lí ở phần TỨ CHUNG.

Trang cuối là thế này:

NIHIL OBSTAT

F.MONNIEP
Superior domus Nazareth

26 Novembr 1915

IMPHIMATUR

A.ELOY.EP.TIT.MAGYDENSIS
VICARIUS APOST. TUNNIKI . MEDIRIONALIS

Xã đoài, die 30 augusti 1915

IMPHIMATUR
D. POZZONI. EPISC.TIT.TAV.

VICAR. APOST. HONGKONG

Hongkong du 25 novembr 1915

Và đây là những điểm chúng tôi thấy không rõ ràng, mong được bạn đọc nhất là ở các giáo phận bạn, trong nước hay nước ngoài giúp ý kiến:

Thừa sai VitorBarbier, tên thật là Cố Hòa, nói trong lời tựa rằng: TỨ CHUNG là của "Đức Cha Hậu lối lại cho con cháu người muôn đời". Và nói tiếp: "ta mới tìm được một bản thì ta vội vàng in cho con chiên bổn đạo được nhờ."

Theo một tài liệu mà năm 1995 chúng tôi đọc thấy ở Kho Lưu trữ Hội Truyền Giáo Paris, Rue du Bac... thì một vị thừa sai người Pháp khác đã từng phục vụ tại Vinh, là Nivet-Ninh nói rằng TỨ CHUNG không do Đức Cha Hậu sáng tác, Đức Cha Hậu chỉ dịch một cuốn sách ở Trung Hoa của Cha Ortiz dòng thánh Âutinh thời vua Khang Hy, thư mục Nazaret 1911.. (DH 330-3, Correspondance P.Barbier 1906-1936, trang 18). Vấn đề này, không phải là điều chúng tôi chủ ý đặt ra ở đây. Bởi lẽ ý kiến thừa sai Nivet-Ninh cũng còn phải được phân tích phê phán xem có thật khách quan không...

Điều chúng tôi muốn được sáng tỏ là: Ai là tác giả của phần TỨ MẠT CA in kèm TỨ CHUNG, mà Cố Hòa nói là "Cuối sách này, ta thêm Ca Tứ Mạt cho ai nấy dễ thuộc lòng, hầu được suy ngắm bốn sự cùng sau hết loài người ta cho liên"?

Tại Giáo Phận Vinh trước đây, ai cũng biết Cố Hòa chính là thừa sai Victor Barbier, là tác giả của 2 tập từ điển Pháp – Việt và Từ điển Việt – Pháp, dạng bỏ túi, rất thông dụng vào những năm 1910-1945 ở Giáo phận VINH, cũng như những tập Hồi kí, Nhật kí tự tay Người viết, cho biết nhiều điều lí thú về nội bộ Giáo phận Vinh, quan hệ giữa các Giám Mục đương thời và hàng ngũ thừa sai, việc bỏ phiếu chọn và việc bổ nhiệm các Giám Mục ở VInh thời trước Cách Mạng Tháng Tám..., tất cả hiện lưu giữ tại Kho Lưu trữ Hội Truyền Giáo Paris (MEP). Nhưng khi V.Hòa nói "ta thêm Ca Tứ Mạt cho ai nấy dễ thuộc lòng..." thì rõ ràng là V.Hòa "thêm", nhưng đây là cho in thêm vào Tứ Chung, hay chủ ý nói chính V.Hòa thấy tác phẩm của Đức Cha Hậu bằng văn xuôi khó học thuộc, mà nội dung nó là giáo lí bổn sự sau thì cần thuộc lòng để năng đọc và năng suy, nên chính V.Hòa đã sáng tác TỨ MẠT CA và cho in thêm vào Tứ Chung, hoặc TỨ MẠT CA do một người Công Giáo Việt Nam nào khác, chẳng hạn trong tầng lớp Thầy Giảng xưa có nhiều những bậc thông Hán-Nôm, sáng tác, phiên dịch, những tài liệu sách vở hiện còn lưu truyền.


AI LÀ TÁC GIẢ CỦA TỨ MẠT CA?



Theo thiển ý chúng tôi,

Tác giả TỨ MẠT CA phải là một ai đó ở tại Giáo Phận Vinh hồi đó, tức phải là một thành phần của Giáo Phận Vinh, không thể là ai đó ở ngoài Giáo phận Vinh. Bởi lẽ, như trên đã nói: Tứ Mạt Ca được viết là để giúp nhớ và thuộc lòng Tứ Chung của Đức Cha Hậu, Giám Mục Giáo Phận Vinh trước đó. (Đức Cha Hậu mất năm 1877, V.Hòa xuất bản TỨ CHUNG kèm TỨ MẠT CA năm 1915). Hai áng văn thơ gắn liền với nhau trong một lần xuất bản, tuy TỨ CHUNG có trước 1877, còn Tứ Mạt Ca có sau: nó được công bố năm 1915 khi xuất bản Tứ Chung, những nó cũng không thể có trước TỨ CHUNG.

Nếu Tứ Mạt Ca cũng là của Đức Cha Hậu, thì V.Barbier – Hòa đã phải nói thể khác, chứ không nói tách biệt hai áng văn như trong lời Tựa.

Còn nếu Tứ Mạt Ca là của ai đó ngoài Giáo Phận Vinh, thì dĩ nhiên Cố Hòa cũng đã phải có phép tác giả và ghi rõ trong lời Tựa, vì một người phương Tây hồi đó không thể biết và tuân thủ luật về bản quyền...

Tuy nhiên, nguyên việc chính vị Đại Diện Tông Tòa của giáo phận Vinh hồi đó (1915) là Giám mục A.ELOY – BẮC ban Imprimatur theo yêu cầu của người định cho xuất bản tập Tứ Chung gồm cả hai phần: phần văn xuôi (Tứ Chung) và phần văn vần (Tứ Mạt Ca) cũng đã là bằng chứng rất mạnh cho phép quả quyết Tứ Mạt Ca (phần văn vần) không thể có tác giả là ai ngoài giáo phận Vinh.

Vậy chỉ còn phải tìm xem ai là ngời ở Giáo phận Vinh hồi đó đã sáng tác nên bài ca bất hủ này?

Theo thiển ý, có hai giả thiết:

Một là chính thừa sai V.Barbier-Hòa là tác giả, mà vì khiêm tốn, đã không nói ra. Ở Giáo Phận Vinh hồi xưa có nhiều vị thừa sai người Pháp rất thông thạo tiếng Việt. Cố V.Hòa đã làm được hai cuốn Từ điển Pháp-Việt và Việt-Pháp, thì cũng có thể rất có khả năng làm thơ lục bát.

Hai là, một người Việt Nam nào đó (một Thầy Giảng chăng?) ở Giáo Phận Vinh, đã sáng tác nên TỨ MẠT CA và Victor Barbier – Cố Hòa đã cho in kèm vào TỨ CHUNG, mà không hiểu vì lí do nào đó mà không nói TỨ MẠT CA là của ai. Điều này dễ hiểu, vì có biết bao áng văn thơ Công Giáo xưa vì e mặt này, ngại mặt nọ mà không kí tên tác giả.

Cũng cần ghi nhận một số điểm đặc thù của Bài Ca Tứ Mạt:

Rải rác có một vài chữ được phát âm và viết theo giọng và cách viết của người phía Nam: chẳng hạn: câu 23: Nào ai đã trốn khỏi cầu tử sanh? Câu 27: Nửa chừng lá rụng huê rơi. Không hiểu lí do gì đã khiến có sự lạc điệu như vậy...

Riêng về mặt thần học, phải nhận là Tứ Mạt Ca chứa khá nhiều điều lỗi thời, chẳng hạn những cách mô tả địa ngục, v.v... Nhưng cần nhớ: thần học của Tứ Mạt Ca là thần học trước Vatican II...

Dù sao, tác giả cả TỨ MẠT CA rất đáng được tôn vinh.

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn mong được quí vị và anh chị em Công Giáo cho ý kiến về điểm này. Chẳng hạn: ở các Giáo phận khác trước đây, TỨ MẠT CA có thời nào được biết đến và được phổ biến, được dùng rộng rãi không?

Nếu có, xin tìm xem và cho biết: ai là tác giả.

Cuối cùng, nếu ngoài Nghệ Tĩnh Bình, trước đây không ở đâu biết đến hoặc dùng rộng rãi TỨ MẠT CA, thì điều duy nhất được xác nhận là nó là sản phẩm văn chương của Giáo Phận Vinh. Và như thế, mọi thành phần của giáo phận Vinh sẽ có thể sung sướng tự hào vì ông cha mình đã có một đóng góp đáng kể vào kho tàng văn học Việt Nam, vì đã sớm biết tài tình vận dụng thơ ca để chuyển tải những giá trị Tin Mừng, đồng thời qua chính phương thức đặc biệt này, đã góp phần đẩy mạnh việc hội nhập văn hóa như một việc làm hoàn toàn có lợi cho công cuộc Tin mừng hóa.

III – THỨ NHẬN ĐỊNH



Tứ Mạt Ca mở đầu bằng mấy dòng thơ bình dị, hẳn đã làm bạn đọc bị thu hút ngay từ đầu:

Thong dong ngẫm nghĩ sự đời,
Lấy trong kinh huấn mấy lời mà suy.
Chữ rằng: sinh kí tử qui,
Ở đời là chốn tạm thì mà thôi...
Xưa nay danh lợi mấy người,
Nào ai đã sống ở đời mãi đâu?
Biển đời bãi cát ngàn dâu
Khác nào như bóng bạch câu qua mành
Thấy rồi tưởng lại tủi mình
Lấy câu Tứ Mạt hết tình thở than.


Chúng ta nghe như âm vang của những câu mở đầu Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:

Trăm năm trong cõi người ta...
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng,
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen...


Chỉ với 10 câu thơ trong sáng, tuy có điển cố nhưng bình dân ai cũng quen thuộc, người đọc đã cảm thấy ngay mình đang đứng trước một cái gì nghiêm chỉnh, hệ trọng... không thể coi thường: đằng sau cuộc sống là cái chết và đằng sau cái chết là cả một loạt câu hỏi sẽ gây sức ép mạnh mẽ, buộc người có lương tri phải tìm câu trả lời và chấp nhận những thay đổi tận căn cội...

Kế đó, tác giả lần lượt vẽ lên 4 bức tranh mô tả 4 màn diễn sinh động sau cùng của tấn kịch đời người.

Bức tranh một là sự chết (cc.1-114).

Lời Kinh Thánh được vận dụng ngay để tái khẳng định chân lý về sự chết. Lời thơ được viết với những hình tượng rất thường tình, nhưng không hiểu sao lúc này lại làm người ta rung động đến thế! Ôi! Con người được coi là lớn như vậy, mà nhỏ bé đến thế này sao? Ngay sau đó là những đường nét với màu sắc rất "họa" mà cũng rất "thơ", vẽ lên những giờ khắc cuối cùng của đời người, của mọi hạng người: sang, hèn, thành thị, nông thôn. Tất cả bị sự chết đánh úp. Tài tình là tác giả gợi cho người sống, – lại là những người có quan hệ gần gũi nhất với người chết, – khóc người chết, bằng cách đó, mô tả đậm nét, hiện thực, sinh động tính mong manh của đời người, tính đau thương định mệnh của sự chết. Trong khi đó, người sống khóc cho người chết, cũng là khóc cho mình. Cái đích mà tác giả muốn người đọc, người nghe, – tức là người còn sống mà rồi có lúc phải chết, – đạt tới, đó là:
"Vậy nên ta phải lo âu" (cc.109-114)...

Bài học sự chết hiện lên một cách rất tự nhiên, nhưng với sức ép vô cùng mãnh liệt.

Bức tranh hai là cảnh phán xét (cc.115-230).

Tác giả bất ngờ đặt người đọc trước một phiên tòa bất đắc dĩ:

Những mê giấc mộng đêm tràng,
Biết đâu địa ngục thiên đàng là đâu.
Bây giờ mới tỏ âm hao,
Quang mây mới tỏ ngôi sao trên trời...
Và chủ tọa phiên tòa đã hiện diện:
Nhãn tiền ngự đó thật là Ngôi Hai
Chung quanh các thánh dẫy đầy,
Có thánh Quan thầy, có thánh Angiô
Có cờ Câu Rút sáng lòa...
Sách biên tội phúc Chúa liền mở ra.
Cuộc thẩm vấn bắt đầu:
Bây giờ Chúa mới xét tra:
Rằng khi ở thế đã là làm sao...


Kết quả phiên tòa là tội phúc rõ ràng, thưởng phạt công minh. Cái đặc sắc là tác giả vận dụng lời thơ rất bình dân, trong sáng, mà không hề thô kệch. Như khi tả anh chàng:

Tiếng rằng giữ đạo cha ông,
Cũng có tên thánh nhưng lòng chẳng tin.
Ngày kiêng thịt đánh kìn kìn...
... Điều lành gác để ngoài tai,
Hoa tình tục tĩu là bài học ôn...
Lâu năm bỏ tội không xưng,
Nhà thờ lễ lạy không đi,
Nghe có việc gì xôi thịt thì mau...


Anh chàng khô đạo nào nghe mà không đỏ mặt?

Bản tuyên dương người lành, cũng như bản luận tội kẻ dữ đều rõ ràng, dứt khoát. Mà tài tình nữa là bài học được chỉ ra ngay lúc đó cho người trong cuộc, cả người ngoài cuộc:

Ai ơi! Thật sợ thật kinh,
Xét lại trong mình tội lỗi lắm thay!
Trần gian là chốn khách dày,
Ba thù cám dỗ khi nay thì nhiều.
Mùi ngon sắc đẹp lòng yêu,
Hãm mình chịu khó phần nhiều chẳng ưa.
Cấp tay quì gối nguyện cầu,
Trông ơn Chúa Cả trên đầu đoái thương,
Ban ơn biết cách đo lường,
Ăn năn đời tạm tìm phương hãm mình.
Ghi lòng phán xét công binh,
Kẻo trong ngày ấy trách mình mất công.


Bức tranh 3: ngục hình (cc. 231-304)

Đến đây hai ngả mở ra:
Thiên đàng mở cửa trông mong người lành
Ngục hình rẽ đất mở phành.
Muôn vàn quỉ dữ đứng rình tội nhân


Ở cảnh này, phải nói là nhà thơ tỏ hết tài nghệ, nhất là vận dụng bút pháp điệp ngữ... vừa cuốn hút, vừa minh bạch:

Bao giờ cho tắt cho tàn, lửa ôi!
Lửa này biết lúc nào thôi.
Lòng ôi! Đáo để chưa lòng!
Lòng mê sắc dục, lòng mong rượu trà,
Lòng lo hà hiếp người ta,
Lòng lo cao cửa rộng nhà cho sang.
Lòng lo tích trữ bạc vàng...


Thật là tuyệt bút! Cực kỳ đạo, mà cũng hết sức văn chương. Tiếp theo là gợi lại những lời khuyên dạy điều lành khi trước, mà người chịu xét xử lúc này đã từng bỏ ngoài tai... để nhấn mạnh ở tính công minh của hình phạt và lời giục bảo người nghe sửa mình...

Bức tranh cuối cùng là thiên đàng (cc. 305-356).

Chúng ta có được những câu những ý rất cô đúc mà văn vẻ: tác giả mượn cảnh triều đình vua chúa trần gian là cái người ta đã có thể trông thấy, để ví cảnh huy hoàng thiên quốc:

Hãy xem trong chốn triều đình,
Đền đài lầu các hữu tình minh quang,
ấy là việc giả thế gian..
Tài hèn trí mọn còn toan thế vầy.
Phương chi vua cả trên trời...
... Tóm tắt chỉ nói được rằng:
Là nơi vinh phúc muôn phần vẻ vui...


Và cuối cùng tác giả cũng vận dụng câu nói của thánh Phaolô để tạo cho mình một lối thoát an toàn, khi không thể dài lời hơn nữa:

Thánh xưa chỉ chép một câu:

"Mắt chưa hề thấy, tai hầu chưa nghe,
Trí khôn bày vẽ chưa hề".

Sau cùng, đã mở đầu bằng 10 câu khái quát, lại kết thục bằng 14 câu gói gém nội dung một cách đặc sắc:

Chớ gì ta nhớ liên liên,
Ắt là giữ đạo vững bền chẳng sai.
Nhớ rằng sống ở trần ai,
Như hoa sớm nở chiều hoai ra gì...
Nhớ rằng phán xét uy nghi,
Công bình nhiệm nhặt chẳng vì ai đâu!
Nhớ rằng địa ngục thẳm sâu,
Muôn nghìn điều khổ, điều buồn, điều cay;
Sinh diêm biển lửa dẫy đầy,
Nướng nung kẻ dữ đêm ngày chẳng nguôi.
Nhớ rằng có chốn trên trời,
Thanh nhàn vui vẻ đời đời vô chung.
Muôn nghìn phúc trọng lạ lùng,
Thưởng người chịu khó lập công ở đời.


Và rồi chỉ bằng 6 câu, như một lời nhắn nhẹ nhàng, tác giả gửi theo hành trang bạn đọc, người nghe tất cả ý tưởng và tình cảm của bài ca, với hi vọng có thể tiếp tục lần này lần khác lại chất vấn lương tâm con người và chỉ ra con đường duy nhất dẫn tới hạnh phúc chân thật và vĩnh cửu:

Thủy chung tứ mạt mấy lời,
Ghi lòng tạc dạ muôn đời đừng quên
Âu là giữ vẹn răn truyền;
Lập công chịu khó ở miền trần gian;
Mai sau tới nước thiên đàng,
Lãnh phần phúc lộc thanh nhàn. Amen
.

Rất mong được quý bạn đọc góp ý.
Nguồn: https://www.vanthoconggiao.net/2023/07/bai-tho-tu-mat-ca-mot-ang-tho-cong-giao-dac-sac-j-b-hoang-canh-hong-suu-tam-va-bien-tap.html?m=1&fbclid=IwAR0HohzQ9ewdAiXC3FdbyEy2T-meZfaNFYClF1BauWr0j8WMvthEjR3yMIk