Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 26: Loại mạc khải thứ nhất



ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

CHƯƠNG 26
LOẠI MẠC KHẢI THỨ NHẤT *

1 - Để nói cho thích đáng về chủ đề nay, tức là việc nhận thức những sự thật trần trụi, thiết tưởng tôi cần được Thiên Chúa cầm tay giúp viết. Bởi lẽ, thưa quý độc giả mến yêu, bạn nên biết rằng những gì nơi các sự thật ấy có tác dụng đến linh hồn thì vượt quá mọi ngôn từ. Tuy nhiên khi nói đến những điều này tôi chỉ nhằm dẫn đường chỉ lối cho các linh hồn biết nhờ chúng mà đạt đến sự nên một với Thiên Chúa, vì thế tôi xin bàn về chúng cách vắn tắt và chừng mực, đủ đáp ứng cho chủ ý của chúng tôi.

2 - Loại thị kiến này, hay nói đúng hơn, những nhận thức về các sự thật trần trụi này rất khác với loại thị kiến chúng tôi đã đề cập ở chương 24. Nó không như việc xem thấy những điều hữu hình bằng trí hiểu nhưng chủ yếu là trí năng được hiểu và xem thấy những sự thật về Thiên Chúa và những sự thật của nhiều điều thuộc quá khứ, hiện tại và tương lai.

3 - Loại nhận thức này được phân biệt thành hai: Một số liên can tới Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, còn một số khác liên can tới các thụ tạo, như chúng tôi đã nói. Cả hai loại đều đem lại hoan lạc cho linh hồn, nhưng những nhận thức liên can tới Thiên Chúa vẫn gây ra sự hoan lạc không gì sánh được và cũng chẳng lời lẽ nào diễn tả được, bởi lẽ đó là những nhận thức về chính Thiên Chúa và sự hoan lạc vì chính Thiên Chúa, Đấng mà vua Đavít từng nói: "Không một ai sánh được như Ngài" (Tv 39,6). Thiên Chúa là đối tượng trực tiếp của những nhận thức này, trong đó ta cảm nghiệm được một thuộc tính nào đó của Thiên Chúa (hoặc sự toàn năng, hoặc sức mạnh hoặc lòng nhân từ và dịu dàng của Ngài) cách thật cao vời... Mỗi lần người ta cảm nhận được ơn thông hiểu này, nó lại gắn chặt vào linh hồn. Điều này thuộc về sự chiêm niệm thuần túy nên linh hồn thấy rõ là không sao diễn tả được bằng lời. Người ta chỉ có thể bày tỏ qua một vài kiểu nói chung chung đã thốt lên giữa lúc cảm nhận thật dồi dào sự hoan lạc và các ơn lành. Tuy nhiên, qua đó vẫn không thể nào hiểu thấu được những gì linh hồn cảm nếm nơi sự chiêm niệm ấy.

4 - Vua Đavít, sau khi cảm nghiệm đôi chút về điều ấy, cũng chỉ nói lên được những lời chung chung và khái quát rằng: "Quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh, thật quý báu hơn vàng, hơn vàng y muôn lượng, ngọt ngào hơn mật ong, hơn mật ong nguyên chất" (Tv 18,10 -11).

Chúng ta đọc trong sách Xuất Hành, ông Môsê đã được Thiên Chúa tỏ mình khi Ngài lướt qua trước mặt ông. Lúc ấy ông cũng chỉ thốt lên được những tữ ngữ tổng quát và chung chung nói trên. Ông vội phủ phục xuống đất, miệng nói: "Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ" (x. Xh 34,5-8). Vì không thể diễn tả những gì đã nhận biết về Thiên Chúa qua chỉ một lần nhận thức ấy, nên Môsê chỉ thể nói và tỏ bày điều đó bằng tất cả những lời trên đây.

Và mặc dù đôi khi trong các lần nhận thức như thế, người ta có thốt ra những lời nói, linh hồn vẫn thấy rõ là nó đã chẳng nói được gì về những điều mình cảm nhận vì chẳng có danh từ thích hợp nào để diễn tả điều đó. Vì thế, khi có được cảm nhận cao cả này về Thiên Chúa thì thánh Phaolô cũng chẳng quan tâm nói lên câu gì ngoài câu: "Người phàm không được phép nói lại" (2Cr 12,4).

5 - Những nhận thức thần linh này hướng thẳng vào Thiên Chúa, là Nguyên Lý Tối Cao, nên chẳng bao giờ liên quan đến những cái cụ thể. Do đó chúng không thể được diễn tả một cách chính xác, bằng không, một cách nào đó, chúng chẳng khác gì một sự thật nào đó về các vật thấp hèn hơn Thiên Chúa mà người ta cảm nhận cùng lúc. Đã là những nhận thức về Thiên Chúa thì không thể nào chính xác như thế.

Những nhận thức cao vời này là chính sự nên một với Thiên Chúa nên chỉ linh hồn nào đã đạt đến sự nên một mới có được. Nhận được chúng có nghĩa là linh hồn được Thiên Chúa vuốt ve âu yếm và như thế, linh hồn đang nhận biết và cảm nếm được chính Thiên Chúa. Mặc dù không một cách hiển nhiên rõ ràng như trong cõi vinh quang, đây vẫn là cái chạm nhẹ của nhận thức và hương vị cao siêu tới nỗi xuyên thấu bản thể của linh hồn và ma quỷ không thể xen vào hoặc tạo ra một cái gì khác tương tự, bởi vì chẳng có gì giống như thế mà cũng chẳng có gì so sánh được. Ma quỷ cũng không thể trút vào linh hồn một hương vị hay một sự hoan lạc nào giống như thế được, bởi lẽ những nhận thức ấy mang lại một sự hiểu biết về bản tính Thiên Chúa và cuộc sống đời đời và quỷ ma chẳng thể nào ngụy tạo ra một điều cao siêu đến thế.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 25: Các mạc khải

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

CHƯƠNG 25
CÁC MẠC KHẢI *

Bàn về các mạc khải, bản chất của chúng và làm sao để phân biện.

1 - Theo trình tự đã đề ra, bây giờ xin bàn đến loại nhận thức tâm linh thứ hai mà trên đây đã gọi là các mạc khải; chúng thuộc riêng về tinh thần ngôn sứ.

Về vấn đề này trước tiên phải biết rằng “mạc khải” không gì khác hơn là “vén màn cho thấy” một điều ẩn tàng nào đó hay biểu lộ ra một bí mật, một mầu nhiệm nào đó. Thiên Chúa làm cho linh hồn hiểu ra một điều gì đó tỏ tường bằng cách tỏ rõ sự thật về điều đó cho trí hiểu hoặc hé mở cho linh hồn một số điều Ngài đã, đang hay dự định sẽ làm.

2 - Như thế, có thể phân biệt hai loại mạc khải. Loại thứ nhất chủ yếu là hé mở cho trí hiểu thấy các sự thật, gọi đúng ra là những nhận thức thuộc trí hiểu hay là những hiểu biết. Loại thứ hai là bày tỏ ra các điều bí mật, thích hợp với tên gọi mạc khải hơn loại trên. Thật ra loại thứ nhất mà gọi là mạc khải thì không chính xác bởi, nơi chúng, chủ yếu là Thiên Chúa khiến linh hồn hiểu được các sự thật trần trụi không riêng về lãnh vực trần tục mà cả lãnh vực tâm linh bằng cách bày tỏ chúng ra một cách sáng sủa tỏ tường. Tuy vậy tôi vẫn muốn bàn đến chúng dưới tên gọi là mạc khải, một đàng vì chúng gần gũi và cũng gắn liền với các mạc khải, đàng khác để tránh khỏi phải phân tích quá chi li.

3 - Vậy ta có thể chia các mạc khải thành hai cách nhận thức: chúng tôi sẽ gọi loại thứ nhất là những nhận thức thuộc trí hiểu và loại thứ hai là sự tỏ bày các bí mật và mầu nhiệm tàng ẩn của Thiên Chúa. Chúng tôi sẽ đưa ra kết luận về chúng cách vắn gọn trong hai chương và sau đây là chương bàn về loại thứ nhất.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 24: Hai loại thị kiến tâm linh (tiếp theo)

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

CHƯƠNG 24
HAI LOẠI THỊ KIẾN TÂM LINH * (tiếp theo)

8 - Các thị kiến này chỉ liên quan đến các thụ tạo, không một chút tương xứng hay phù hợp thiết yếu nào cả đối với Thiên Chúa, cho nên không thể là một phương thế trực tiếp giúp trí hiểu được nên một với Thiên Chúa. Vì thế linh hồn nên tỏ ra hoàn toàn lãnh đạm với chúng cũng như đối với những loại nhận thức khác mà chúng tôi đã nói tới, ngõ hầu có thể tiến bộ bằng phương thế trực tiếp là đức tin. Cũng vì thế, linh hồn không được tích chứa hay giữ lại những hình ảnh các thị kiến ấy đã đập vào tâm trí mình và cũng không được dựa vào chúng. Nếu không, linh hồn sẽ bị vướng vào các hình thể, hình ảnh cũng như nhân vật và sẽ không từ bỏ được mọi sự để lên đường đến với Thiên Chúa.

Cho đi là các hình ảnh ấy vẫn cứ sờ sờ ra đó mãi nhưng nếu linh hồn không thèm lưu tâm đến thì chúng cũng chẳng cản trở gì nhiều cho linh hồn. Quả thực việc nhớ đến những thị kiến ấy có thôi thúc linh hồn thêm mến yêu và chiêm ngắm Thiên Chúa được đôi chút, tuy nhiên một đức tin tinh tuyền và trơ trụi, chẳng bận tâm gì tới mọi thứ ấy thì còn thôi thúc và nâng cao linh hồn hơn nhiều, dù rằng linh hồn chẳng biết thôi thúc ấy xảy đến cách nào và từ đâu.

Có thể xảy ra là linh hồn cháy bừng những nỗi khắc khoải vì tình yêu rất tinh tuyền dành Thiên Chúa mà chẳng biết chúng từ đâu đến và dựa trên nền tảng nào. Tựa như đức tin bám rễ ăn sâu hơn vào linh hồn nhờ sự nghèo khó tâm linh, hay nói cách khác là nhờ sự trống rỗng, tăm tối và trơ trụi với hết mọi thứ, thì lòng mến yêu Thiên Chúa cũng nhờ đó mà ăn sâu và bám rễ nhiều hơn nơi linh hồn. Do đó linh hồn càng muốn chịu tăm tối và hủy diệt hẳn mọi sự bên ngoài và bên trong mà nó có thể lãnh nhận, thì càng được đổ thêm đức tin cùng với đức ái và đức cậy bởi vì ba nhân đức hướng thần này luôn đi chung với nhau như một.

9 - Đôi khi linh hồn chẳng hiểu cũng chẳng cảm thấy được thứ tình yêu này bởi vì nó không ở nơi phần giác quan với những cảm xúc dịu dàng mà lại ở nơi phần linh hồn với sự mạnh mẽ, can đảm và bạo dạn hơn trước đó; mặc dù có khi nó cũng tràn ngập giác quan và tạo nên những cảm xúc dịu dàng êm ái. Thành ra, để đạt được tình yêu, niềm vui thỏa mà các thị kiến loại này gây ra cho nó, linh hồn phải có được sức mạnh, sự hy sinh và tình yêu ngõ hầu biết ước muốn ở lại trong tình trạng trống rỗng và tăm tối đối với tất cả những thứ đó, và biết đặt nền tảng cho tình yêu và sự vui thỏa này nơi điều mà linh hồn không thấy và không cảm nghiệm, mà cũng không thể thấy và không thể cảm nghiệm ở đời này, tức là nơi chính Thiên Chúa, Đấng ta không thể hiểu nổi và là Đấng siêu vượt trên tất cả. Vì thế ta hãy đến với Ngài bằng cách từ bỏ hết tất cả. Nếu không, dù cho linh hồn rất khôn khéo, khiêm nhu và mạnh mẽ đến độ ma quỷ không thể lừa gạt được linh hồn bằng các thị kiến ấy cũng không thể xui linh hồn rơi vào một sự tự phụ nào như nó vốn quen làm, thì những thứ đó vẫn khiến linh hồn không tiến được vì thiếu sự trơ trụi tâm linh, thiếu tinh thần nghèo khó và sự trống rỗng trong đức tin là những yếu tố cần phải có đối với sự nên một giữa linh hồn và Thiên Chúa.

10 - Ở các chương 21 và 22 chúng tôi đã trình bày nguyên tắc về các thị kiến và sự nhận thức siêu nhiên thuộc giác quan. Nguyên tắc ấy cũng áp dụng cho các thị kiến loại này, vì thế chúng tôi không muốn mất thời gian bàn đến nữa.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 24: Hai loại thị kiến tâm linh (tiếp theo)

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

CHƯƠNG 24
HAI LOẠI THỊ KIẾN TÂM LINH * (tiếp theo)

5 - Giờ đây ta hãy bàn đến các thị kiến về những điều mang tính thể chất nhận được nơi linh hồn một cách tâm linh. Chúng cũng theo một cách như những thị kiến nhận được qua các giác quan thể chất. Cũng như đôi mắt nhìn thấy các vật hữu hình nhờ vào ánh sáng tự nhiên thì linh hồn thông qua trí hiểu của nó, xét về mặt nội tâm, cũng nhờ vào sánh sáng siêu nhiên từ Thiên Chúa mà nhìn thấy chính những vật tự nhiên này và nhiều vật khác theo ý Thiên Chúa muốn. Chỉ có sự khác biệt về phương thức và cách nhìn các vật tự nhiên ấy mà thôi.

Những điều thuộc tâm linh và trí hiểu thì rõ ràng hơn và tinh tế hơn nhiều so với những điều mang tính thể chất. Một khi Thiên Chúa muốn thể hiện hồng ân này cho linh hồn, Ngài thông ban cho nó thứ ánh sáng siêu nhiên mà chúng ta đang bàn, qua đó, linh hồn được xem thấy thật dễ dàng và rõ đến lạ lùng những sự vật Thiên Chúa muốn tỏ bày cho nó. Dù những sự vật ấy thuộc trên trời hay dưới đất, dù có hay không có trước mắt cũng không ngăn cản gì cả. Chuyện này giống như đôi khi giữa đêm đen, ta vừa mở rộng cửa thì có một tia chớp sáng lòa, đột nhiên người ta nhìn thấy mọi vật thật rõ ràng và biện biệt. Dù liền sau đó những vật ấy lại chìm vào tăm tối, các hình dạng và nhận thức về chúng vẫn còn lưu lại trong óc sáng tạo vẽ vời. Nơi linh hồn điều này diễn ra một cách hoàn hảo hơn nhiều. Những điều linh hồn nhìn thấy bằng tâm linh qua thứ ánh sáng ấy sẽ vẫn in sâu trong nó tới nỗi mỗi lần tưởng nghĩ đến chúng, linh hồn lại thấy chúng nơi mình như đã thấy chúng lần đầu, cũng giống như mỗi lần nhìn vào gương, người ta đều trông thấy các hình thể trong đó. Cùng một cách ấy, những gì linh hồn đã chiêm ngưỡng sẽ không bao giờ bị xóa hoàn toàn khỏi nó mặc dù theo dòng thời gian chúng hơi nhạt mờ đi.

6 - Các hoa quả phát sinh nơi linh hồn từ các thị kiến trên là sự an tĩnh, sáng soi, hân hoan rạng rỡ, dịu dàng, tinh sạch và yêu thương, khiêm nhường và biết hướng lòng lên cùng Thiên Chúa; các hoa quả này lúc nhiều lúc ít, khi thì hoa quả này khi thì hoa quả kia trội hơn, tùy theo cái tâm linh của người ta khi lãnh nhận chúng cũng như tùy theo ý Thiên Chúa muốn.

7 - Ma quỷ cũng có thể ngụy tạo các thị kiến này nơi linh hồn nhờ vào một thứ ánh sáng tự nhiên nào đó. Nơi ánh sáng này và qua những thúc giục nơi tâm linh, nó khiến trí hiểu thấy rõ các sự vật dù chúng có trước mặt hay không. Chẳng hạn như nơi trình thuật của thánh Matthêu về việc "ma quỷ gợi ra cho Chúa Kitô mọi vương quốc trần gian cùng vinh quang của chúng" (Mt 4,8). Một số vị tiến sĩ giải thích rằng ma quỷ đã làm điều đó bằng cách dùng những thúc giục tâm linh để tạo ảo ảnh vì nó không thể nào làm cho Chúa Kitô nhìn thấy bằng đôi mắt trần của Ngài hết mọi vương quốc trần gian cùng sự vinh quang của chúng.

Tuy nhiên có sự khác biệt lớn lao giữa các thị kiến ma quỷ tạo ra và các thị kiến đến từ Thiên Chúa. Những hậu quả của các thị kiến do ma quỷ gây ra không giống những hoa quả của các thị kiến tốt. Chúng khiến tâm linh bị khô khan trong tương giao với Thiên Chúa, dễ nghiêng về sự tự hào, tự mãn, dễ chấp nhận và xem trọng các thị kiến ấy, mất đi sự dịu dàng, khiêm nhường và lòng yêu mến Thiên Chúa. Hình sắc những thị kiến ấy cũng chẳng in sâu nơi linh hồn với sự sáng sủa dịu dàng như vẻ sáng của các thị kiến kia, và chúng cũng không bền, mau bị xóa mờ khỏi linh hồn trừ phi linh hồn quá quý chuộng chúng vì như thế linh hồn sẽ tự nhiên nhớ lại chúng. Tuy nhiên sự nhớ lại này rất khô khan và không đem lại được những hoa quả yêu thương và khiêm nhường như các thị kiến tốt vẫn gây ra mỗi khi người ta nhớ đến chúng.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 24: Hai loại thị kiến tâm linh (tiếp theo)

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

CHƯƠNG 24
HAI LOẠI THỊ KIẾN TÂM LINH * (tiếp theo)

3 - Như thế, bao lâu còn sống ở trần gian ta không chịu nổi những thị kiến loại này ngoại trừ vài trường hợp hiếm hoi và chớp nhoáng, khi chính Thiên Chúa che chở cho sự sống tự nhiên và sự hiện hữu của ta. Khi ấy Thiên Chúa che chở bằng cách rút hẳn phần tâm linh ra và dùng ân sủng Ngài bù đắp vào vai trò tự nhiên của linh hồn đối với thân xác.

Vì thế khi Thánh Phaolô bảo ngài được nhấc lên tầng trời thứ ba, ta vẫn tưởng rằng ngài nhìn thấy những điều vô hình, tách biệt, không mang tính thể chất, thì chính ngài lại nói: "Có ở trong thân xác hay không, tôi không biết, có ở ngoài thân xác hay không, tôi cũng không biết, chỉ có Thiên Chúa biết" (2Cr 12,2). Nghĩa là ngài đã được “bốc đưa đi” đến với những thực tại ấy và những gì ngài thấy thì ngài chẳng biết là mình đang ở trong hay ngoài thân xác mà chỉ Chúa mới biết. Ở đây ta thấy rõ ràng ngài đã ra khỏi những giới hạn của sự sống tự nhiên nhờ một sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa. Cũng thế đang khi ta cứ tưởng rằng Thiên Chúa tỏ cho Môsê thấy yếu tính của Ngài thì Thiên Chúa lại bảo Môsê rằng Ngài sẽ đặt ông vào khe đá rồi dùng cánh tay phải Ngài che phủ và bảo vệ để ông khỏi chết khi vinh quang Ngài lướt qua. Việc lướt qua này cho thấy Thiên Chúa tỏ mình rất chớp nhoáng trên đường Ngài lướt qua và dùng cánh tay phải của Ngài bảo tồn sự sống tự nhiên của Môsê (x. Xh 33,22).

Tuy nhiên, những thị kiến mang tính bản thể rất cao độ như thế, chẳng hạn thị kiến của thánh Phaolô, thị kiến của Môsê và thánh phụ Êlia của chúng ta khi vị này che mặt trước tiếng gió hiu hiu thổi của Thiên Chúa (x. 1V 19,12-13), mặc dù chỉ chớp nhoáng nhưng vẫn rất hiếm và hầu như không xảy ra ngoại trừ cho rất ít người. Thiên Chúa chỉ phú ban ân huệ ấy cho những người rất mạnh mẽ trong tinh thần Hội Thánh và lề luật Thiên Chúa, như ba vị được nêu trên.

4 - Vậy mặc dù ở trần gian các thị kiến thuộc bản thể tâm linh này không thể được bóc trần cho ta thấy rõ bằng trí hiểu, thế nhưng ta vẫn cảm nhận được chúng nơi bản thể của linh hồn qua những cái chạm nhẹ (những vuốt ve âu yếm) và ôm ấp rất dịu dàng. Sự thông giao này thuộc những tình cảm tâm linh mà nhờ ơn Thiên Chúa chúng ta sẽ bàn tới sau. Chính đây là điều ngòi bút chúng tôi nhắm đến, tức sự kết nối thần linh và sự nên một giữa linh hồn với bản thể Thiên Chúa. Chúng tôi sẽ nói đến điều này khi bàn về thứ tri thức huyền giao vừa mù mờ vừa tăm tối. Chúng tôi sẽ nói về cách thức Thiên Chúa thông qua tri thức đầy yêu thương và tăm tối này để kết hiệp nên một với linh hồn ở một cấp độ cao siêu và thần linh. Xét một cách nào đó, tri thức tăm tối và đầy yêu thương này, tức là đức tin, được dùng làm phương thế giúp cho sự nên một với Thiên Chúa ở đời này, phần nào cũng tựa như ánh sáng vinh quang ở đời sau sẽ là phương thế giúp ta có được thị kiến rõ ràng về Thiên Chúa.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 24: Hai loại thị kiến tâm linh

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

CHƯƠNG 24
HAI LOẠI THỊ KIẾN TÂM LINH *

Bàn về hai loại thị kiến tâm linh thông qua nẻo đường siêu nhiên.

1 - Giờ đây xin nói riêng đến các thị kiến tâm linh. Đây là những thị kiến trí hiểu nhận được không qua một giác quan thể xác nào và gồm hai loại: Một số là về những điều hữu hình (mang tính thể chất) và số kia là về những điều vô hình (tách biệt, không mang tính thể chất).

Những thị kiến về những điều hữu hình (mang tính thể chất) liên quan đến tất cả những gì mang tính vật chất ở trên trời và dưới đất mà linh hồn, ngay khi đang còn trong thân xác, có thể xem thấy nhờ một thứ ánh sáng siêu nhiên nào đó phát xuất tự Thiên Chúa. Qua ánh sáng này linh hồn có thể nhìn thấy mọi thứ hiện không có trước mắt ở cả trên trời lẫn dưới đất, như chúng ta đọc ở chương 21 sách Khải Huyền, trong đó thánh Gioan mô tả và tán tụng thành Giêrusalem thiên quốc mà ngài trông thấy ở trên trời. Cũng vậy, hạnh thánh Biển Đức kể rằng thánh nhân từng nhìn thấy toàn thế giới trong một thị kiến tâm linh. Trong cuốn Tạp Luận số I (Quodlibetum I), thánh Tôma bảo rằng thị kiến này đã xảy ra là nhờ vào thứ ánh sáng phát xuất từ trên cao như chúng tôi đã nói trên đây.

2 - Loại thị kiến về những điều vô hình (tách biệt, không mang tính thể chất) liên quan đến tất cả những gì không thể được nhìn thấy nhờ thứ ánh sáng trên đây nhưng nhờ thứ ánh sáng khác cao vời hơn, gọi là ánh sáng vinh quang. Các thị kiến về những điều vô hình như thế, chẳng hạn về các thiên thần và linh hồn, không thuộc về đời này và ta cũng không thể thấy được chúng trong xác phàm hay chết của ta. Nếu Thiên Chúa muốn thông truyền cho linh hồn biết chúng một cách cốt yếu như bản chất của chúng thì lập tức linh hồn chúng ta sẽ lìa khỏi những gì là xác thịt và thoát khỏi cảnh sống tạm bợ này. Vì thế khi Môsê xin Thiên Chúa tỏ cho ông thấy yếu tính của Ngài thì Ngài đã phán: "Không người nào trông thấy Ta mà vẫn có thể tiếp tục sống" (Xh 33,20). Vì thế, khi con cái Israel nghĩ rằng họ sắp sửa xem thấy hoặc đã xem thấy Thiên Chúa hay một thiên thần nào đó, họ liền sợ mình sẽ phải bị chết, như trường hợp trong sách Xuất Hành, dân đã thốt lên đầy sợ hãi: "Xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất!" (Xh 20,19). Trong sách Thủ Lãnh cũng thế, sau khi cha của Samson là ông Manuê và bà vợ nhìn thấy thiên thần tận mắt khi vị này hiện ra ngỏ lời với ông bà dưới hình dạng một người đàn ông rất đẹp trai, ông Manuê đã bảo vợ: "Chúng ta sẽ chết mất vì chúng ta đã xem thấy Thiên Chúa" (Tl 13,22).

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 23: Những nhận thức thuần tâm linh

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

CHƯƠNG 23
NHỮNG NHẬN THỨC THUẦN TÂM LINH *

Bắt đầu bàn về những điều trí hiểu đã biết được qua nẻo đường thuần túy tâm linh và nói về bản chất của chúng.

1 - Những ý kiến chúng tôi đã cống hiến liên quan tới những điều trí hiểu nhận biết được qua nẻo đường giác quan, so với những gì đã được bàn tới có phần hơi vắn tắt. Thế nhưng tôi chẳng muốn bàn rộng hơn, bởi lẽ để hoàn thành ý định ban đầu là giải tỏa cho trí hiểu khỏi chướng ngại do các chuyện ấy đồng thời dẫn đường cho trí hiểu tiến vào đêm dày đức tin thì tôi tin rằng mình đã quá dài dòng.

Giờ đây chúng tôi sẽ bàn về bốn cách nhận thức thuần túy tâm linh mà trí hiểu có thể nhận được, là các thị kiến [Thị là thấy, kiến là biết - “Thị kiến” nghĩa đơn giản là hình ảnh nhìn thấy, là điều biết được nhờ nhìn thấy, nhưng lại được dùng như một thuật ngữ chuyên môn để chỉ những hiện tượng nhìn thấy mang tính tâm linh, vượt kinh nghiệm giác quan thông thường - Ba cách nhận thức còn lại cũng có thể nói là những cách trí hiểu “nhìn thấy” cho nên ở cuối số 2 chúng được gọi chung là “thị kiến” (DG)], mạc khải, lời nói và cảm xúc tâm linh mà trong chương 10 chúng tôi đã gọi là những nhận thức thuần túy tâm linh. Những cách này được gọi là thuần túy tâm linh vì, không như những cách nhận thức hữu hình do tưởng tượng - những nhận thức này không được truyền đạt cho trí hiểu qua con đường các giác quan thể chất, nhưng được gợi ra nơi trí hiểu một cách sáng sủa và rõ ràng qua con đường siêu nhiên, chẳng cần đến một trung gian thuộc giác quan hữu hình bên ngoài hay bên trong nào cả. Việc truyền đạt này xảy đến một cách thụ động nghĩa linh hồn chẳng có một hành vi hay công việc nào cộng tác vào đó một cách chủ động.

2 - Hiểu rộng ra và nói cách chung, cả bốn loại nhận thức này đều có thể được gọi là các thị kiến của linh hồn vì đối với linh hồn hiểu biết chính là trông thấy. Những loại nhận thức này trí hiểu có thể hiểu được cho nên cũng chẳng khác nào thấy được về mặt tâm linh. Do đó những tri thức được hình thành bởi chúng nơi trí hiểu được gọi là những thị kiến thuộc trí hiểu. Mọi đối tượng của các giác quan - chẳng hạn những gì người ta có thể xem, nghe, ngửi, nếm và sờ mó - cũng đều là đối tượng của trí hiểu bởi vì chúng có thể đúng hay sai. Cũng thế, tựa như tất cả những gì thấy được xét về mặt hữu hình đối với đôi mắt xác thịt đều gây nên cho đôi mắt ấy một hình ảnh thể chất thì tất cả những gì khả tri (hiểu được) đối với đôi mắt của linh hồn - tức là đối với trí hiểu - đều gây nên cho nó một hình ảnh tâm linh - trên đây chúng tôi đã nói hiểu tức là thấy chính là vì vậy. Như thế nói một cách tổng quát, bốn cách nhận thức trên đều có thể được gọi chung là các thị kiến - điều này các giác quan khác không thể có bởi vì mỗi giác quan đều bất lực đối với đối tượng của giác quan khác.

3 - Tuy nhiên, bởi vì những nhận thức này xuất hiện nơi linh hồn theo cùng cách thức với các giác quan khác, cho nên nói một cách thích đáng và cụ thể, điều gì trí hiểu lĩnh nhận theo cách của thị giác (vì trí hiểu có thể thấy sự vật theo cách tâm linh giống như mắt phàm chúng ta nhìn thấy các sự vật cách hữu hình) chúng ta gọi là “thị kiến”; còn những gì trí hiểu nhận được như thế nhờ hiểu và nghe thấy các điều mới mẻ - giống như thính giác nghe được những sự việc trước đó chưa từng nghe được - chúng ta gọi là “mạc khải”; còn những gì trí hiểu nhận được nhờ thính giác chúng ta gọi là “lời nói”; và những gì trí hiểu nhận được theo các giác quan khác chẳng hạn như hiểu biết một hương tâm linh dịu dàng, một vị tâm linh, hay những hoan lạc mà linh hồn có cảm nếm về phương diện siêu nhiên, chúng ta gọi là những “cảm xúc tâm linh”. Từ tất cả những thứ ấy, trí hiểu rút ra được sự hiểu biết hay còn gọi là thị kiến tâm linh mà không cần nhờ qua bất cứ hình hài vóc dáng nào theo trí tưởng tượng hay óc sáng tạo vẽ vời tự nhiên, bởi chúng được truyền đạt trực tiếp cho linh hồn bằng hoạt động siêu nhiên và phương thế siêu nhiên.

4 - Trong những chương trước [Xem lại các chương 4, 8 và 12 (DG)], ta đã thấy cần thoát khỏi những nhận thức hữu hình qua trí tưởng tượng. Ở đây cũng thế, chúng ta cần phải gỡ cho trí hiểu khỏi vướng vào những nhận thức thuần tâm linh này, cần chỉ lối dẫn đường cho trí hiểu vượt qua chúng mà đạt đến đêm tâm linh của đức tin để được nên một với Thiên Chúa trong bản thể Ngài. Thật vậy, nếu bị lúng túng và bị kẹt vào những điều ấy, trí hiểu sẽ bị cản trở khó đạt được sự cô tịch và trần trụi đối với mọi sự, điều mà sự nên một đòi buộc phải có. Đành rằng những nhận thức tâm linh này cao quý hơn, hữu ích hơn và chắc chắn hơn nhiều so với những hiểu biết tưởng tượng qua các giác quan thể chất, đành rằng chúng sẵn tính cách nội tâm hơn, thuần túy tâm linh hơn, và khó bị ma quỷ xâm phạm vào hơn, đành rằng chúng đã được thông ban cho linh hồn một cách tinh tuyền và tinh tế hơn, mà không đòi linh hồn phải hoạt động hay phải vận dụng trí tưởng tượng, ít là xét về mặt chủ động, thế nhưng trên con đường này, nếu thiếu khôn ngoan cẩn trọng, trí hiểu vẫn có thể bị lúng túng, và hơn nữa, vẫn có thể bị sai lầm lớn.

5 - Chúng ta đã có thể kết luận chung cho tất cả bốn cách nhận thức này bằng lời khuyên mà chúng tôi đã đưa ra cho tất cả những cách hiểu biết khác, đó là đừng ước ao cũng đừng tìm kiếm chúng. Tuy nhiên, để giải thích thêm một số điểm cho từng cách, đồng thời để dọi thêm ánh sáng và chỉ dẫn thực hành, tưởng cũng cần bàn riêng đến những cách một. Do đó, chúng tôi sẽ đề cập đến cách nhận thức đầu tiên, tức là các thị kiến tâm linh hay còn gọi là thị kiến thuộc trí hiểu.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Ba, 28 tháng 1, 2025

CHÚC MỪNG NĂM MỚI ẤT TỴ 2025

 


Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 22: Tại sao không được phép? (tiếp theo)

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

CHƯƠNG 22
TẠI SAO KHÔNG ĐƯỢC PHÉP? * (tiếp theo)

16 - Vậy để kết luận phần này, tôi xin nói và đúc kết từ những gì đã được nói như sau: Tất cả những gì linh hồn lãnh nhận được bằng bất cứ cách nào qua con đường siêu nhiên cần phải thông báo ngay cho cha linh hướng của mình cách rõ ràng, chân thành, toàn vẹn và đơn sơ. Có lẽ linh hồn thấy việc tường trình này không cần thiết, phí thời giờ và nếu muốn an toàn thì, như chúng tôi đã nói, linh hồn chỉ cần khước từ, đừng bận tâm hay mong muốn những chuyện ấy. Điều ấy có vẻ càng đúng hơn nữa khi đó là những thị kiến, mạc khải hay những thông tri siêu nhiên khác, vì chúng đã rất rõ hoặc nếu không rõ thì cũng ít quan trọng. Tôi xin nói rằng, ngay cả trong trường hợp ấy, và mặc dù linh hồn chẳng thấy cần thiết gì, vẫn luôn luôn cần phải trình bày toàn bộ sự việc cho cha linh hướng. Điều này có ba lý do:

Thứ nhất, như chúng tôi đã nói, nhiều khi Thiên Chúa ban ơn trong linh hồn mà những hậu quả cũng như sức mạnh, ánh sáng và sự đảm bảo về chúng không được xác định rõ. Thiên Chúa đợi cho tới khi - như chúng tôi đã nói - linh hồn này đem ra bàn bạc với người đã được Ngài chỉ định làm vị thẩm phán tâm linh cho nó, là người có quyền tháo, buộc, chấp thuận và phi bác đối với nó. Đó là điều chúng tôi đã chứng minh qua những trích dẫn trên đây cũng như qua các cảm nghiệm thường ngày. Nhìn kỹ sẽ thấy điều vẫn diễn ra nơi các linh hồn khiêm nhường là sau khi đã bàn bạc những chuyện ấy với người có thẩm quyền, các linh hồn ấy liền cảm nghiệm được sự thỏa mãn, sức mạnh, ánh sáng và sự vững tâm hoàn toàn mới mẻ. Đến nỗi đối với một số người, dường như mãi đến lúc đã trao đổi xong với vị linh hướng, chuyện ấy mới bén rễ và thuộc về họ, như thể là bấy giờ chuyện ấy lại được ban cho họ một lần nữa.

17 - Lý do thứ hai là, theo lẽ thường, linh hồn thấy cần có được lời khuyên về những ơn siêu nhiên này, cần được giúp đỡ để ngang qua những ơn này lần bước tìm đến sự trơ trụi và nghèo khó tâm linh tức là đêm tăm tối. Thiếu sự hướng dẫn đó, có thể linh hồn sẽ không sẵn lòng đón nhận những ơn ấy, sẽ không hiểu được mình và vô tình trở nên chai sạn trên đường tâm linh rồi sẽ chiều theo nẻo đường giác quan mà qua đó phần nào các chuyện cụ thể ấy đã diễn ra.

18 - Lý do thứ ba là, về phía linh hồn, đức khiêm nhường, đức tuân phục và sự khổ hạnh đòi hỏi nó phải tường trình cho linh hướng dù vị này chẳng quan tâm và quý chuộng gì những chuyện siêu nhiên ấy. Quả thật, một số linh hồn rất ngại nói ra chuyện ấy, chính họ nghĩ rằng chúng chẳng đáng gì cả, nên cũng sợ khó được người nghe đón nhận câu chuyện. Sự sợ hãi ấy là do thiếu đức khiêm nhường. Vì vậy, các linh hồn này cần phải bắt ép mình nói chuyện ấy ra. Còn một số khác lại thấy quá xấu hổ khi phải nói lên các chuyện ấy vì tưởng chừng đây là những chuyện thuộc về các thánh nhân; rồi lại còn thêm những khó khăn khác nữa. Thành ra họ đành im lặng, vì tự thâm sâu họ chẳng quý chuộng gì những chuyện ấy. Tuy nhiên chính vì thế mà họ cần phải ép mình và phải thổ lộ cho linh hướng. Họ cần khiêm nhường, đơn sơ, dịu dàng và sẵn sàng nói ra những chuyện ấy, cho đến khi có thể bộc lộ cách thật dễ dàng.

19 - Xin lưu ý, chúng tôi đã cứng rắn đòi phải gạt bỏ những chuyện này và các vị linh hướng không được gợi cho các linh hồn kể lể dài dòng về chuyện này, thế nhưng các vị linh hướng không được tỏ ra chán ngán, ngăn cản họ về những chuyện ấy hoặc khinh bỉ họ đến nỗi khiến họ co rúm lại và chẳng dám bày tỏ nữa và như vậy sẽ đóng mất cánh cửa, khiến họ gặp phải nhiều điều khó khăn. Bởi lẽ, như chúng tôi nói, những ơn ấy cũng là một phương thế. Vì nó là một phương thế, một con đường Thiên Chúa dùng để hướng dẫn các linh hồn, thì ta không nên chê khinh, cũng không nên ngạc nhiên hoặc lấy làm chướng về chuyện này. Tốt hơn là nên hành sự một cách rất dịu dàng và trân trọng, nên khích lệ và giúp họ mạnh dạn bộc lộ ra, và nếu cần, hãy truyền cho họ phải nói. Do cái khó khăn nhiều linh hồn gặp phải, đôi khi phải sử dụng hết mọi phương cách.

Tiếp đến, cần dẫn dắt họ theo con đường đức tin bằng cách tế nhị dạy họ biết ngoảnh mặt khỏi tất cả những chuyện siêu nhiên ấy, biết làm cho dục vọng và tâm linh họ thành trơ trụi, không còn dính bén gì tới những chuyện ấy thì họ mới có thể tiến bộ được. cũng phải giúp họ hiểu rằng một công việc hay một hành vi của lòng muốn được thực hiện trong đức ái thì làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn tất cả thị kiến, mạc khải và truyền đạt họ có thể có được tự trời cao, vì những thứ ơn này chỉ là vô thưởng vô phạt. Nhiều linh hồn chẳng hề có được những thứ ấy thế mà lại tiến xa hơn vượt hẳn những linh hồn khác từng được nhiều thị kiến và mạc khải.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2025

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 22: Tại sao không được phép? (tiếp theo)

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

CHƯƠNG 22
TẠI SAO KHÔNG ĐƯỢC PHÉP? * (tiếp theo)

12 - Vì thế sách Giảng Viên đã nói rộng ra: "Khi chỉ có một mình mà bị ngã thì thật là khốn, vì chẳng có ai nâng dậy cả! Cũng vậy, hai người nằm chung thì ấm; một mình làm sao mà ấm được? Một mình dễ bị tấn công, có hai người, ắt sẽ đương đầu nổi; dây chập ba đâu dễ gì đứt?" Người này sẽ sưởi ấm cho người kia (nghĩa là có hơi ấm của Thiên Chúa ngự giữa họ); một người mà thôi thì làm sao tự sưởi ấm được? (nghĩa là làm sao y không lạnh lùng đối với những chuyện thuộc về Thiên Chúa). Nếu một kẻ nào đó mạnh hơn và lướt thắng một người (ý nói ma quỷ, nó biết lướt thắng những kẻ muốn đơn độc trong những chuyện thuộc về Thiên Chúa) thì hai người cùng chung nhau sẽ chống cự nổi nó (nghĩa là người môn đệ và tôn sư hợp nhau để nhận biết và thực thi chân lý). Như thế, người đơn độc sẽ cảm thấy nguội lạnh và yếu đuối trong sự thật, không đủ sức hành động, mặc dù người ấy có nghe sự thật từ Chúa bao nhiêu lần cũng vậy. Ta hãy xem Thánh Phaolô. Mặc dù thánh nhân đã rao giảng Tin Mừng trong một thời gian lâu dài, Tin Mừng mà ngài đã học được từ Thiên Chúa chứ không phải từ loài người (x. Gl 1,12), ngài vẫn không an tâm với mình cho đến khi đã đi bàn bạc với thánh Phêrô và các vị tông đồ. Ngài nói: "Vì sợ rằng tôi ngược xuôi, và đã ngược xuôi vô ích" (Gl 2,2); vì ngài vẫn không vững dạ cho tới khi người khác mang lại cho ngài sự an lòng. Như thế nghĩa là gì, thưa thánh Phaolô! Phải chăng Đấng mạc khải Tin Mừng cho ngài lại không thể nhắc cho ngài tránh khỏi sai lầm khi ngài rao giảng sự thật của Đấng ấy sao?

13 - Điều này rõ ràng cho thấy rằng ta chỉ có thể gắn bó an toàn vào một điều Thiên Chúa mạc khải trừ phi theo sát trật tự chúng tôi vừa chỉ vẽ. Một người đã ưa chuộng loại mạc khải ấy, thì dù có biết chắc mạc khải ấy đến từ Thiên Chúa, như thánh Phaolô chắc chắn về Tin Mừng của ngài vì ngài đã khởi sự rao giảng nó, họ vẫn có thể lầm lẫn về chuyện ấy hoặc về những gì liên quan tới chuyện ấy. Thật thế, không phải lúc nào Thiên Chúa mạc khải toàn diện. Ngài có thể tỏ cho thấy đó là việc phải làm nhưng lại không nói phải làm cách nào. Bởi vì thông thường tất cả những gì có thể làm được cho linh hồn nhờ nỗ lực và lời khuyên của con người thì Thiên Chúa chẳng hành động cũng chẳng nói năng đến, mặc dù có thể Ngài vẫn thường xuyên và thân mật tiếp xúc với linh hồn ấy. Thánh Phaolô dù đã hiểu rõ điều này, dù chắc chắn rằng Thiên Chúa đã mạc khải Tin Mừng cho ngài, ngài vẫn bàn bạc với các tông đồ khác.

Sách Xuất Hành còn cho một ví dụ rất rõ (x. Xh 18,21¬22). Thiên Chúa luôn cư xử rất thân tình với Môsê, thế nhưng Ngài không đích thân ban cho ông lời khuyên rất hữu ích mà nhạc phụ ông là Giêtrô khuyên ông, là chọn những thẩm phán khác để giúp đỡ ông và để cho dân chúng khỏi phải chờ đợi từ sáng cho tới đêm. Thiên Chúa đã chuẩn thuận lời khuyên ấy. Ngài chẳng đưa ra lời khuyên ấy vì đó là điều mà lý trí và phán đoán của con người có thể nắm bắt được. Thiên Chúa thường chẳng bày tỏ những chuyện ấy qua các thị kiến, mạc khải cũng như những lời nói của Ngài, vì Ngài luôn muốn người ta dùng đến lý trí và phán đoán tối đa, đồng thời mọi thứ phải được điều chỉnh bởi chúng trừ những gì thuộc về đức tin là những điều siêu vượt mọi phán đoán và lý trí, dù không ngược với lý trí.

14 - Giả thử có người chắc chắn rằng Thiên Chúa và các thánh vẫn trò chuyện thân tình về nhiều chuyện. Người này không nên vì đó mà tưởng rằng các vị ấy cũng phải nói cho biết những lầm lỗi cụ thể nơi một chuyện gì đó, khi mà mình vẫn có thể biết được những lầm lỗi ấy qua một con đường khác. Thế nên, đừng tưởng lầm. Trong sách Công Vụ Tông Đồ, ta thấy mặc dù là thủ lĩnh Hội Thánh và đã từng được Thiên Chúa trực tiếp giáo huấn, Thánh Phêrô vẫn mắc phải sai sót khi ứng xử với dân ngoại. Thiên Chúa vẫn lặng thinh, không nói cho biết. Thế nhưng rồi đã có thánh Phaolô lên tiếng, như về sau ngài kể lại: “Khi tôi thấy các ông ấy không đi đúng theo sự thật của Tin Mừng, thì tôi đã nói với ông Kêpha trước mặt mọi người: 'Nếu ông là người Do Thái mà còn sống như người dân ngoại, chứ không như người Do Thái, thì làm sao ông lại ép người dân ngoại phải xử sự như người Do Thái?' " (Gl 2,14). Như thế Thiên Chúa đã không đích thân cảnh báo thánh Phêrô về sai sót ấy, bởi vì sự giả vờ ấy của ông là chuyện thuộc phạm vi lý trí mà ông có thể nhận biết nó qua con đường suy lý.

15 - Nhiều người đã từng được Thiên Chúa trò chuyện thân tình cũng như ban cho nhiều ánh sáng và sức mạnh nhưng lại dựa vào đó để bỏ bê phận vụ. Trong ngày phán xét, Thiên Chúa sẽ phạt những sai sót và tội lỗi của họ. Như Chúa Kitô đã nói trong Tin Mừng, lúc bấy giờ họ bàng hoàng lên tiếng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?" (Mt 7,22). Và Chúa bảo Ngài sẽ trả lời họ rằng: "Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!" (Mt 7,23). Trong số những kẻ làm điều gian ác ấy có ngôn sứ Balaam và những kẻ khác tương tự ông ta. Dù trước đó Thiên Chúa từng nói chuyện thân tình và ban cho họ các ân sủng, họ vẫn là những kẻ có tội. Cả nhiều bạn bè và những kẻ được Chúa chọn dù Chúa đã từng trò chuyện thân mật với họ trên cõi đời này, một ngày kia Chúa cũng sẽ khiển trách về lầm lỗi và bê trễ của họ, những lỗi mà Ngài không cần phải đích thân cảnh báo họ vì qua lề luật và lý trí tự nhiên Ngài đã cảnh báo họ rồi.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)