Thứ Tư, 9 tháng 2, 2011

Thứ Hai, 7 tháng 2, 2011

Con Mão Là Con Mâu, Con Bâu


Qua những bài viết trước ta đã thấy một số tên con thú trong 12 con giáp đều là những từ thuần Việt. Dần là con Dằng, con Dằn, con Vằn (xem Dần là Dằng là Vằn); Sửu là Sẩu là Sừng (xem bài viết này). Nhân dịp tết Tân Mão xin viết về con MÃO. Nếu chứng minh được tên gọi, 12 con giáp là nôm na, thuần Việt thì 12 con giáp mới có nhiều triển vọng là của Đại Tộc Việt không phải lấy của Trung Hoa. Nếu 12 con giáp có nguồn gốc Việt thì tên của chúng phải thuần Việt. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc.
Cũng xin nhắc lại là những từ Nôm ở đây chỉ dùng với nghĩa là từ Nam, ngôn ngữ của người Nam (nói chung là của Bách Việt), chứ không phải của người phương Bắc Trung Hoa, không phải là chữ Nôm của riêng Việt Nam, một thứ chữ viết có nguồn gốc từ chữ Hán. Từ nôm hay thuần Việt ở đây phải hiểu là những từ không phải là Hán Việt phát gốc từ Hán ngữ. Từ nôm hay thuần Việt có thể có gốc hay liên hệ với tất cả các ngôn ngữ khác còn lại của loài người.
Việt ngữ có mão, mẹo, mèo, Thái ngữ maew, mèo, Champa ngữ muryao, mèo, Phạn ngữ màrjara-, mèo, Hán Việt mèo là miêu. Miêu tiếng Bắc Kinh và Quảng Đông đều đọc là “Máo ”. Nhưng Mão, Mẹo, trong 12 con giáp viết là , theo người Việt là con mèo và người Trung Hoa là con thỏ.
Mão là một từ hết sức quan trọng trong 12 con giáp, một thứ địa khai ngôn ngữ (language fossil), là một mấu chốt quyết định để xác quyết 12 con giáp của Việt Nam là chính thống hay củaTrung Hoa là chính thống. Mão là ‘dấu tay’ dùng để xác thực xem 12 con giáp có phải có nguồn gốc từ Bách Việt không.
Trong 12 con giáp, Mão là chi duy nhất có hai khuôn mặt thú bốn chân mèo và thỏ. Cùng một tên Mão mà chỉ hai con vật hoàn toàn khác nhau. Một con là mèo mang mầu sắc văn hóa sông nước nông nghiệp Bách Việt thiên về nòng âm, mẫu quyền và một con là thỏ mang mầu sắc văn hóa du mục Trung Hoa thiên về nọc dương phụ quyền. Hai con trái ngược nhau về thể chất cũng như về ý nghĩa biểu tượng. Con mèo lớn, mèo rừng có thể ăn thịt con thỏ được. Một con thuộc loài ăn thịt, một con thuộc loài ăn thực vật khác nhau như trời và trăng. Phải có một bên sai. Ai đúng ai sai? Hay cả hai cùng lấy từ một nguồn thú tổ mão rồi Việt lấy mão-mèo, Trung Hoa lấy mão-thỏ. Con thú tổ đó là con thú gì ? Mão-mèo của Việt còn giữ chính thống, cùng DNA với con mão tổ tức là di duệ ruột thịt với mão tổ hay con thỏ của Trung Hoa? Trong 12 con giáp của Trung Hoa và của Việt Nam, con mão duy nhất có hai khuôn mặt mèo và thỏ còn ở những con giáp khác đều chỉ cùng chung một con vật nên khó thấy rõ ai đúng ai sai trăm phần trăm như ở con mão này. Vì vậy nhận diện được con Mão tổ sẽ cho ta câu trả lời dứt khoát.
Có người cho rằng con mèo được gọi theo âm của tiếng kêu meo meo của nó. Sự thật không phải vậy. Những tên chỉ thú vật trong Việt ngữ cũng như trong phần lớn ngôn ngữ loài người thường được đặt dựa theo một cá tính về thể chất hay cách sinh sống của con vật đó. Con mão-mèo cũng vậy. Họ mèo là họ có mấu nhọn, vuốt sắc hay cấu hay cào, quào:
Tuổi mẹo là con mèo ngao,
Hay cấu hay quào, ăn vụng quá tinh.
(vè động vật).
Con mão, con mèo là con cào, con cấu. Ta cũng thấy rõ qua Anh ngữ cat, Pháp ngữ chat. Con cat, con chat là con scatch (cào, cấu). Trong y học có chứng sốt do mèo cào gọi làscatch fever.
Rõ như ban ngày mão biến âm với mấu. Mấu là cái móc, vật có mũi nhọn cong như móng vuốt. Theo m=v=b như mụ = vú = bu (cả ba từ đều có một nghĩa là mẹ), mấu = vấu = bấu là cào bằng móng nhọn như mèo, cọp, báo, beo… Như thế con mão là con mấu, con bấu. Ta cũng thấy rõ các con thú họ nhà mèo (feline) đều có mấu vuốt để mấu, để bấu. Con báo, con beo cũng có nghĩa liên hệ với tới cào, cấu, bấu. Theo m=b, mèo, mẹo = beo. Con beo là con bẹo, béo, nhéo. Cũng theo m=b, mão = báo. Con báo là con bấu, con béo. Loài báo, beo puma ở Mỹ châu có pu-= bấu = báo. Theo p=b=m, puma có pu- = mấu. Con báo puma là con bấu, con mấu họ nhà mèo, mẹo, mão, mấu.
Bây giờ ta thử đi tìm xem con mão có thật sự là con mèo không hay con mão là một con vật thuộc họ thú có mấu hay cấu hay cào như cọp, báo, beo?
Cổ ngữ Việt mâu là con hổ, con cọp, mũ đầu mâu là mũ đầu cọp. Mã ngữ gọi con cọp là hari mau (Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam tr. 154). Hari là trời, hari mau là con mau trời. Như thế rõ ràng mâu cũng có nghĩa là mấu, mão, mèo. Mâu trời là con cọp, là con mèo trời. Con cọp họ nhà mèo hiển nhiên mâu, mau là một thứ mèo. Điểm này thấy rõ người Mỹ cũng gọi con cọp là big cat tương tự Mã Lai ngữ gọi là hari mau, mèo trời. Con mâu (cọp) và con mão (mèo) cùng một âm, cùng một họ thú mấu, bấu, cấu, cào.
Như thế con mão cũng có thể là con mâu, con (hari) mau (hổ, cọp).
Mặt khác qua thư riêng, anh Đỗ Ngọc Thành (xin lỗi tác giả, tôi có sắp xếp lại một chút cho thích hợp với bài viết) cho biết:
Chữ tượng hình “mèo ” hay “Miêu ” được thấy sớm nhất ở thời Tây Chu: sách “Kinh Thi-Đại Nhã-Hàn Dịch《詩經·大雅·韓奕… trong đó có ghi “Hữu Hùng hữu Bi, hữu Miêu hữu Hổ 熊有羆,有貓有虎。(詩經·大雅·韓奕,當中內容寫到「有熊有羆,有貓有虎」但詩句中將貓與熊、棕熊等並列在一起,似乎不是指家貓
(trích từ
Nhìn theo câu văn nói về Gấu/Hùng ,Bi và Hổ … toàn là thú dữ cho ta thấy chữ Miêu trong câu nầy không phải để nói về con Miêu-mèo !
Theo anh Thành thì:
1/ Chữ Miêu-Mèo / đã có từ thời nhà Thương của Trụ Vương, vì đã có trước, cho nên chúng ta mới thấy được nó ghi trong Kinh Thi thời Tây Chu.
2/ Chữ Miêu-Mèo
của thời nhà Thương, rồi đến đời nhà Chu
không phải nói về con Mèo! Mà là chỉ tên của một loài mãnh thú to lớn và nguy hiểm tương đương với con Gấu To và Cọp, Hổ (Như thấy ở ví dụ đã dẫn chứng phía trên: chứng minh bằng văn trong Kinh Thi).
Theo biến âm m=b thì Mèo/Miêu = Beo và Máo, Mão = Báo cho nên trong kinh Thi viết “Hữu Miêu hữu Hổ 有貓有虎” thì phải hiểu theo diện mãnh thú đi đôi với nhau là Hữu Báo hữu Hổ. Trong 12 chi thì Dần Mão đi liền kề nhau thì Mão có độ cao là Báo … Báo cũng là Beo và “Beo-” sinh ra âm “Mèo/Miêu”. Báo/Beo- đã bị đọc thành “Mèo” và ngày nay người ta cho là con “mèo” nằm trong 12 chi là sai lầm! Người ta đã dùng Báo/Beo trở thành “Mèo” (và lại đặt ra chữ khác để gọi con Báo = )
Theo anh Thành thì phải có một từ nào đó gọi con mèo khác từ miêu:
Thời chiến quốc, Trang Tử có nhắc đến “Con Mèo” và gọi là Ly Sinh-狸狌. Như thế trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất quần hùng thời chiến quốc lập ra nhà Tần (và trước đó…) thì khi đó “Mèo” là “Ly Sinh-狸狌“ và “Beo, Báo là máo nằm trong 12 chi. Các thời sau Trung Hoa đã biến “Máo/Mão-” trở thành Mão- với ý nghĩa Mão- là con Thỏ và Việt Nam biến Mão Beo/Báo-” thành “con Mèo/Miêu/Mão”/ trong 12 địa chi.
Xin mở một dấu ngoặc ở đây: ta cũng thấy ly (sinh) liên hệ với Anh ngữ lynx, mèo rừng. Mèo nhà là thú thuần hóa từ một tộc mèo hoang, mèo rừng (xin đóng ngoặc lại).
Mặt khác tác giả Nguyễn Cung Thông cũng cho biết:Miêu là từ Hán Việt nghĩa là mèo, nhưng nghĩa Hán cổ đại của miêu là loài hổ ít lông chứ không phải là mèo’ [Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp-Mão/Mẹo/mèo (4B)].
Bây giờ tôi đi tìm sự liên hệ của mão với Ấn Âu ngữ. Như đã biết mão-mèo liên hệ với mèo Phạn ngữ màrjara-, mèo. Ta có mão = mar-. Anh ngữ cũng soi sáng rõ thêm nữa là con mèo, con mẹo, con mão, con mâu, con mấu ruột thịt với Anh ngữ maul (cào, cấu xé bởi loài thú dữ có mấu sắc như cọp, mèo, sư tử, báo, beo….). Con mão, mèo nằm trong họ thú dữ có mấu vuốt là con mấu, con cào, là con maul. Họ nhà mão, mẹo, mèo có đặc tính maul này Anh ngữ gọi là feline. Latin felis catus là con mèo. Theo f=m (fai = mờ, fường = mường, fat = mập), feline, felis fel- = mèo.
Ngoài ra qua Anh ngữ cũng cho thấy con mèo và con cọp trong họ nhà mão cũng có đặc tính bắt mồi bằng cách dùng tay có móng vuốt để chộp, chụp mồi. Anh ngữ cat, Pháp ngữchat, mèo ruột thịt với catch, bắt (như bắt cá), chộp, chụp (như chộp, chụp banh). Con cat, con chat là con catch, con chộp, con chụp (bắt) mồi. Con cọp họ nhà mèo cũng là conchộp, con chụp. Với h câm, chộp = cọp. Con cọp là con chộp, con chụp (mồi). Biến âm này cũng thấy rõ qua từ copy, sao, Xerox, chụp phó bản. Copy phiên âm là cop-pi, cọp-pi. Copy có cọp- là chụp (phó bản). Copy còn chỉ cóp bài, cọp bài, “quay phim” của người khác. “Quay phim” là chụp (hình). Rõ ràng cọp = chộp, chụp giống hệt copi = chụp. Con cọp là con chộp, chụp, con catch họ nhà cat, nhà mèo.
Ở đây một lần nữa ta thấy rất rõ con mão, mèo, con mâu, con mấu, con maul được gọi tên theo một đặc tính của con vật là tính mấu, bấu, cấu, cào, chụp, chộp giống như con chó là con tru (con hound, một loài chó là con howl, hú), con Dần là con Dằng, Dằn, con vằn, con Sửu là con Sẩu, con Sừng…
Tóm lại ta thấy rất rõ
. Mão là con Mấu, con Bấu (Nguyễn Xuân Quang)
. Mão là con maul (Anh ngữ) (Nguyễn Xuân Quang).
. Mão biến âm với Cổ ngữ Mâu là con Cọp.
. Mão biến âm với Mã Lai ngữ hari mau là con cọp (Bình Nguyên Lộc).
. Mão, Mẹo, Hán cổ là con Báo, con Beo (Đỗ Ngọc Thành).
. Mão biến âm với Miêu là con hổ ít lông (Nguyễn Cung Thông).
Như thế qua cổ ngữ Việt (hiện được cho là thuộc gia đình Nam Á ngữ) mâu, qua Việt ngữ hiện kim mèo, qua Đa Đảo Ngữ (‘hari’) mau, qua cổ ngữ Hán Tạng máo, miêu và qua Ấn Âu ngữ maul rõ như ban ngày từ mão chỉ chung một HỌ thú có mấu vuốt hay bấu, cấu, cào trong đó có báo, beo, cọp, mèo thuộc họ nhà mèo (feline) không phải chỉ riêng con mèo.
Như vậy rõ như dưới ánh sáng mặt trời Mão của Việt Nam chỉ con mèo thuộc họ thú có mấu nhọn móng vuốt ruột thịt với báo, cọp rất chí lý trong khi Máo, Mão là con thỏ của Trung Hoa là ngoại tộc. Về DNA con mèo mang chính huyết với mão-bấu trăm phần trăm còn con mão-thỏ của Trung Hoa sai trăm phần trăm. Để nhấn mạnh, xin lặp lại một lần nữa Mão là con thỏ sai trăm phần trăm. Không còn gì để nói nữa Trung Hoa đã lấy Mão của một nền văn hóa khác hay của Bách Việt. Lấy của người khác rồi sửa đổi lại nên mới sai toét.
Bây giờ tới câu hỏi kế tiếp được đặt ra là tại sao Việt Nam đã chọn con mèo hay đã chuyển con mão-bấu (vốn có nguồn gốc là loài thú dữ báo, beo, cọp) của một nền văn hóa gốc nào đó thành con mèo nhà và người Trung Hoa lại biến con mão-bấu thành con thỏ?
Về phía Việt Nam, chúng ta đã biến con mão-bấu thú rừng (báo, beo, cọp) thành con mèo hay đã chọn con mèo? Để trả lời câu hỏi này trước hết hãy tìm xem có dấu tích gì của con báo đã được dùng trong lịch sách, ngày tháng của các tộc người Á châu cổ trong đó có Bách Việt không? Tôi xin đưa ra một chứng tích được bảo đảm bằng DNA, đó là một vài tộc thổ dân Mỹ châu trong đó có Maya, vốn từ Á châu sang Mỹ châu. Họ có vật tổ là một loài báo như các con báo jaguar, puma thuộc họ nhà mão. Xin nhắc lại Maya có DNA giống người Đông Nam Á tức cổ Việt. Họ dùng con báo trong lịch sách, hình ngữ. Một tấm thạch bia ở Quiriguá, Guatemala có khắc hình ngữ ghi lại cho biết thần báo Jaguar ‘fire god lunation’ là thần tuần trăng sáng (tháng âm lịch).
Hình Fig.3.23 Trụ thạch D ở Quiriguá (Guatemala) có hình tự ghi: ”bốn ngày từ khi mặt trăng xuất hiện, thần tuần trăng sáng… (Matthew LooperA Guide to an Ancient Maya City, Editorial Antigua, S.A.,Guatemala, 2007).
Lưu ý hình tự ‘Fire god lunation’ có hình đầu thần báo jaguar.
Điều này chứng tỏ con báo ở châu Á cổ đại được dùng trong lịch sách, thiên văn là chuyện có thể có. Người Maya rời Á châu qua châu Mỹ vẫn giữ báo vì báo vẫn có trong địa bàn sống của họ. Một vài tộc Bách Việt dòng lửa, núi có thể đã dùng báo như Maya trong khi đó một vài tộc sống ở vùng thấp sông nước trong đó có tổ tiên người Việt Nam có thể đã dùng mèo hay chuyển đổi báo qua mèo khi con mèo được thuần hóa hay khi bước vào thời xã hội nông nghiệp. Sự chọn lựa báo và mèo riêng rẽ hay chuyển đổi báo qua mèo này là một chuyện hữu lý, không có gì trật đường rầy vì báo, mèo trong cùng một họ mão-bấu. Hai con vật chỉ khác nhau về tính thú hoang và thú nhà. Điểm này cũng thấy rõ trong các nền văn hóa theo Vũ Trụ giáo. Ví dụ như biểu tượng của mặt trời là một loài chim mang dương tính (chọn loài mỏ to biểu tượng cho dương vật như chim cắt hay loài mãnh cầm như ưng, ó, diều hâu…). Mỗi nền văn hóa chọn một con chim có trong địa bàn sống của mình nhưng vẫn phải nằm trong cùng một loài chim mang dương tính biểu tượng cho mặt trời. Ví dụ Bách Việt có chim cắt, chim Việt, Ai Cập cổ có ưng ó horus… Vì thế sự chuyển đổi báo thành mão mèo rất chính chuyên vì cùng một họ mão-bấu.
Cũng cần nói thêm là sự kiện các tộc thổ dân châu Mỹ như Maya dùng báo trong lịch sách xác thực thêm là Bách Việt dùng báo và mèo họ mão-bấu là chính chuyên, chính thống.
Việt Nam đã chuyển đổi từ một mão-bấu thú hoang (báo) hay chọn mèo như thế có thể là vì:
-Bản chất văn hóa Bách Việt vốn nhu hòa theo duy lý, sông nước và nông nghiệp nên chọn con mèo nhà, một con thú hiền hòa sống gần cận và giúp ích cho con người (con mèo bắt chuột giúp bảo vệ các nông phẩm) thay vì lấy hay giữ con báo, beo, cọp rừng rú tuy cùng họ mèo nhưng là
mãnh thú thích hợp với tính võ biền, du mục, săn bắn hơn. Bằng chứng là Vương quốc Điền (có một gốc Điền Việt) có một nét văn hóa du mục võ biền nên trong đồ đồng có rất nhiều hình tượng cọp, hổ, báo. Trong khi đồ đồng Đông Sơn tìm thấy ở Việt Nam không thấy hay rất hiếm thấy hình tượng hổ, cọp.
-Trong 12 con giáp, Mão nằm sau Dần. Dần đã là hổ, cọp đã là mãnh thú rồi mà lại lấy một con mãnh thú nữa theo sau là Mão với nghĩa chỉ báo, beo, cọp, có thể không hợp với sự chuyển dịch, tuần hoàn của vũ trụ, trời đất. Một năm cọp hung dữ, rừng rú như con Dần rồi thì kế tiếp tới một năm Mão phải là năm hiền hòa an lành hơn (hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai) vì vậy lấy nghĩa là mèo nhà cho thuận lẽ của trời đất. Xin lưu ý trong 12 con giáp chỉ có con hổ Dần là mãnh thú và con rồng Thìn là linh thú còn lại những con khác không phải là mãnh thú. Như thế các con thú dùng trong 12 con giáp có khuynh hướng hiền hòa của một nền văn hóa sông nước, nông nghiệp vì vậy con mèo được chọn thay cho báo là điều hợp lý.
-Chọn mão-mèo vì muốn mão biểu tượng cho tính âm, thái âm, thuần âm theo đúng nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, cốt lõi của văn hóa Chim-Rắn Tiên-Rồng của Việt Nam. Con mèo biểu tượng cho âm, thái âm, nữ, nhiều khi bị coi là âm ma như thấy qua con mèo đen. Mèo đã biểu tượng cho âm, cộng thêm mầu đen là mầu âm nên mèo đen biểu tượng cho “tối âm”, âm thế, âm ma như thấy hình bóng con mèo đen luôn luôn có mặt trong ngày lễ Halloween. Trong khi đó báo, cọp là nòng âm nhưng còn mang tính thú dữ có hai nanh nhọn mang dương tính (trong các hình tượng báo của Maya hai chiếc răng nanh bao giờ cũng được diễn tả một cách cường điệu)
nên có thể không hoàn toàn thích hợp với triết thuyết nòng nọc, âm dương của chu kỳ 12 địa chi của các tộc thái âm sông nước, nông nghiệp Bách Việt.
-Việt Nam chọn hay đổi Mão-báo qua Mão-mèo vì nếu lấy báo thì báo sẽ trùng với cọp Dần của năm trước. Báo và cọp coi như là một.
Còn về phía Trung Hoa, chẳng lẽ họ lại “quá dốt” đã biến Mão-bấu thành con thỏ. Các nhà tư tưởng, các triết gia, học giả bậc thầy của Trung Hoa cổ phải dựa vào một lý do chính đáng nào chứ? Bắt buộc. Họ đâu có dốt.
Họ chọn mão-thỏ có thể là vì:
.Mèo yếu đuối mang âm tính, nữ không hợp với tính “macho”, du mục, võ biền, trọng nam khinh nữ. Mèo, báo không thể là vật tổ của Trung Hoa. Trung Hoa có tứ linh long li qui phượng. Thú biểu bốn chân là con li tức con kì trong cặp kì lân có cốt là con hươu sừng mang dương tính chứ không phải là loài mão (báo, beo, cọp, mèo). Mèo, báo không thích hợp với văn hóa du mục của họ. Trong khi đó, Bách Việt thuộc ngành nòng âm nguyên thủy theo mẫu hệ thích hợp với họ nhà mèo.
.Họ thù ghét mèo, báo, cọp, vì các con thú họ mão này là biểu tượng của những tộc thù nghịch. Trong Tứ Di, có những tộc thù nghịch với Trung Hoa cổ có vật tổ là một loài thú họ nhà mão-bấu… nên họ né tránh không dùng, sửa đổi con thú của Mão-bấu đi. Bách Việt cũng có các tộc có vật tổ là báo, beo hổ như ở miền Bắc Việt Nam có tộc Mường Bi (con thú trong hữu bi hữu hổ… ở trên). Ngoài ra như đã nói sự thờ phượng các loài thú Mão-bấu này của Tứ Di, Bách Việt cũng còn thấy những dấu tích ở các tộc thổ dân Mỹ châu như Maya có cùng DNA với cổ Việt.
Người Trung Hoa cổ thù nghịch với Bách Việt hiển nhiên họ né tránh dùng vật tổ báo của Bách Việt.
Sự né tránh này cũng thấy rất rõ qua chi Thìn, con Rồng. Thìn cũng là một từ nôm na mách qué (khai triển rõ ràng trong bài viết Tên Nôm Ma Mách Qué của Thìn, ở đây chỉ xin tóm lược những điểm cần thiết)…. Thìn biến âm với thằn, thắn, thần, thẩn… có nghĩa liên hệ với rắn, trăn, cá sấu. Mường ngữ thắn là rắn. Người Mường tin rằng vía của con người chia ra làm hai loại: wại thắn (vía rắn) trị được muông thú dữ và wại khang (vía sáng) trị được loài cá dữ dưới nước: “vía rắn bỏ muông, vía sáng bỏ cá” (Trương Sỹ Hùng Bùi Thiện, Vốn Cổ Văn Hóa Việt Nam, Đẻ Đất, Đẻ Nước, nxb VHTT Hà Nội 1995 tập I, tr.73). Hán Việt thẩn: loài giao long (có cốt cá sấu). Thẩn, thằn biến âm với lằn (th = l như thủng = lủng), thằn lằn gồm cả thằn lằn (lizard) và cá sấu (aligator với phụ từ al và ligator, con thằn lằn) cùng họ bò sát với rắn. Theo th=tr như tháng = trăng (một tháng là một trăng, một nguyệt) ta có Thìn, thần, thằn, thắn = trăn. Thìn biến âm với Mường ngữ tlăn, con trăn. Rắn, trăn và cá sấu là vật tổ của ngành nòng âm ứng với Thần Nông của Bách Việt trong lưỡng hợp chim-rắn (Tiên Rồng) Viêm Đế-Thần Nông. Vì vậy người Trung Hoa đã không dùng Thìn là rắn, trăn, cá sấu (Trung Hoa ở miền bắc không có cá sấu) là những vật tổ của Bách Việt mà dùng Thìn chỉ con Rồng. Cái đuôi rắn, trăn, cá sấu Bách Việt của con rồng Thìn Trung Hoa vẫn lòi ra rất rõ là ta thấy con Thìn-rồng Trung Hoa là con thú duy nhất trong 12 con giáp chỉ một linh thú, một con thú thần thoại kiểu văn hóa Trung Hoa. Văn hóa rồng là văn hóa muộn so với văn hóa rắn, trăn, cá sấu Bách Việt. Tên 12 con giáp gọi là 12 địa chi có nghĩa là 12 con giáp phải là những con vật sống ở cõi đất trần gian vậy mà con rồng lại là linh vật lạc loài sống ở trên mây theo văn hóaTrung Hoa. Trong 12 con giáp thủa trước của Việt Nam có thể Thìn là rắn, trăn, cá sấu về sau bị Hán hóa biến thành con rồng. Điểm này giống hệt như vật tổ lưỡng hợp nguyên thủy của Bách Việt là Chim-Rắn còn ghi khắc rành rành trong sử đồng Đông Sơn, sau này bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa biến thành Tiên-Rồng…
Nhưng tại sao họ lại chọn con thỏ mà không chọn một con thú khác?
Trung Hoa chọn con thỏ cho thấy hai con vật mèo và thỏ về thể chất là hai loại thú khác nhau hoàn toàn nhưng về biểu tượng cho triết thuyết, vũ trụ quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng, Dịch lý bắt buộc phải có một điểm nào đó giống nhau. Điểm giống nhau này phải nằm trong ý nghĩa biểu tượng về vũ trụ quan, thiên văn, Dịch lý…
Con thỏ có một nét đặc thù gì? Thỏ có «dấu tay» là hai tai dài. Không có tai dài thì không phải là thỏ. Ngay trong giáp cốt văn, cổ văn và triện văn con thỏ cũng đã được vẽ có tai dài.
Trong giáp cốt văn, cổ văn và triện văn con thỏ được vẽ nhấn mạnh có tai dài (Wang Hongyuan).
Như thế người Trung Hoa cổ đã dùng hai cái “dấu tay” tai dài của thỏ để diễn đạt một ý nghĩa biểu tượng triết thuyết nào đó mà con báo, con mèo không có (vì không có tai dài).
Muốn biết, không gì hơn là tìm xem hình tai thỏ trong các hình tượng, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có mang một ý nghĩa biểu tượng gì? Tìm ở đâu? Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là một bộ từ điển của hình tượng, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Ta hãy vào tra quyển tự điển bằng đồng này. Thật vậy, hình hai tai thỏ đã ghi khắc rõ trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trong sáu chiếc thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, ở thuyền số 3 có người thuyền trưởng ngồi ở đầu mũi thuyền có trang phục đầu có phần ở giữa giống hai tai thỏ.
Thuyền số 3 trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (nguồn Nguyễn Văn Huyên).
Hình giống hai tai thỏ này trông như hai chiếc sừng cong trong có đánh các dấu (accents, markers) bằng các dấu chấm nọc, dương, lửa và đầu tận cùng có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) Λ cho biết rõ là hai sừng cong lửa, tức sừng âm lửa, đất lửa của ngành âm (ngành âm vì họ là người ở trên thuyền). Người thuyền trưởng với cặp sừng âm lửa đất cho biết thuyền này của tộc lửa âm tức Li ngành âm. Ta cũng thấy rõ người chèo thuyền sau cùng ở đuôi thuyền cầm tay chèo đầu chim mũ sừng mỏ cắt biểu tượng cho ngành nọc lửa, thần mặt trời thái dương Viêm Đế. Phía sau trang phục đầu của người này có hai vật nhọn như sừng hơi cong nhô ra từ khug chữ nhật như diễn tả chiếc đầu hươu trong có chấm nọc lửa, dương cũng chỉ cho biết thuyền này thuộc tộc lửa Li ngành âm. Như thế người thuyền trưởng có cặp sừng âm tai thỏ ở trang phục đầu thuộc tộc lửa đất Li âm thuộc ngành người chèo thuyền dòng thần mặt trời Viêm Đế, Viêm Việt (có tay chèo là chim cắt, chim Việt, chim biểu của Viêm Đế) thuộc đại tộc hươu sừng ngành âm ứng với cặp sừng ở đầu hươu mang ở sau trang phục đầu của người chèo thuyền.
Thuyền số 3 này thuộc tộc Đất Li dòng nước ngành nọc dương Viêm Đế, Viêm Việt trong họ Viêm Đế-Thần Nông. Cũng xin nhắc lại sơ qua là 6 con thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là những con thuyền phán xét linh hồn diễn tả theo Vũ Trụ giáo, không phải là thuyền chiến hay thuyền tế hà bá (người nhỏ bé trần truồng như một đứa trẻ ngồi bệt dưới sàn thuyền bị canh giữ là một linh hồn đang bị phán xét, tuyệt nhiên không phải là tù binh hay người đem hiến tế). Hai con thuyền dẫn đầu (số 5 và 6) biểu tượng cho toàn nhánh nòng nước và hai đại tộc dương âm, nội ngoại ứng với lưỡng nghi ngành âm nước. Bốn con thuyền theo sau biểu tượng cho bốn đại tộc ứng với tứ tượng (nước, gió, đất và lửa) ngành âm nước. Thuyền số 3 này là thuyến Đất Li dòng nước (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).
Như thế con thỏ với hai tai dài dựng đứng như một cặp sừng âm đầu tròn biểu tượng cho lửa mang âm tính và vì là thú bốn chân sống trên mặt đất nên có một khuôn mặt chủ là lửa đất, thiếu dương Li ngành nòng âm trong khi cặp sừng nhọn đầu của hươu biểu tượng cho thái dương lửa ngành nọc dương.
Để giản dị và dễ hiểu hơn (đỡ nhức đầu cho những ai chưa quen nòng nọc, âm dương), ta chỉ cần so sánh con thỏ và con hươu là ta có thể hiểu rõ được ngay ý nghĩa biểu tượng của con thỏ. Cả hai đều là thú bốn chân sống trên mặt đất biểu tượng cho Đất. Hươu có sừng nhọn mang nghĩa hai nọc, lửa ngành nọc, dương. Thỏ có hai tai dài đầu tròn mang hình ảnh cặp sừng âm mang nghĩa hai nọc âm, lửa âm, thái dương âm.
Như vậy người Trung Hoa cổ chọn con thỏ thay cho con mèo vì con thỏ có hai tai biểu tượng cho Li âm. Con thỏ mang tính lửa ngành âm thích hợp với bản tính du mục, võ biền của họ hơn mèo. Ngoài ra, con Cọp-Dần là loài mãnh thú có hai nanh nhọn mang dương tính biểu tượng cho dương của âm tức thiếu âm (khí gió) thì kế tiếp con Mão-thỏ có hai tai sừng âm biểu tượng cho lửa thiếu dương (đất dương) ngành âm. Trong tiểu vũ trụ cõi nhân sinh thiếu dương bắt cặp với thiếu âm (trong khi ở đại vũ trụ cõi tạo hóa thái dương bắt cặp với thái âm). Trong khi đó Việt Nam lại diễn đạt kết hợp theo một chiều hướng khác. Việt Nam có Dần biểu tượng cho thiếu âm (khí gió) và Mão-mèo biểu tượng cho thái âm (nước). Cả hai cùng thuộc về nòng âm. Cọp-Dân và Mão-mèo thuộc văn hóa ngành nòng, âm, Khôn Bách Việt. Khôn có Khôn dương (thiếu âm khí gió) và Khôn âm (thái âm, nước). Cọp Dần và Mão-mèo cùng một ngành nòng Khôn thích hợp với ngành Thần Nông (Thần là nước, Nông là khí gió) có một khuôn mặt thế gian là Lạc Long Quân.
Tiến xa thêm, ta thấy con thỏ Trung Hoa có một khuôn mặt biểu tượng cho trăng. Trên mặt trăng có con thỏ ngọc Ngọc thố. Trăng là âm thuộc ngành nòng âm (trăng nước, gió trăng) và mèo cũng thuộc ngành nòng âm. Như thế về Vũ Trụ Tạo Sinh dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương mèo và thỏ đều được dùng làm biểu tượng cho nòng âm (chỉ khác về tính nòng nọc, âm dương). Điều này giải thích tại sao có sự lẫn lộn, lầm lẫn giữa thỏ rừng và mèo rừng như tác giả Nguyễn Cung Thông đã cho biết: Thố tôn còn được gọi là dương xá lị 洋猞猁…. Xá lị 猞猁 là loài mèo hoang (lynx). Sự lẫn lộn này dĩ nhiên nghiêng nhiều về ý nghĩa biểu tượng chứ không phải là về thể chất.
Trung Hoa lấy Máo-thỏ hoàn toàn sai với tên mão-bấu. Họ chọn thỏ chỉ vì dựa theo tính nòng nọc, âm dương, theo Dịch lý, thích hợp với bản thể văn hóa du mục, võ biền của họ. Điểm này cũng thấy rõ qua con giáp sửu. Như đã biết Sửu tổng quát là con Sẩu-Sừng. Bách Việt nông nghiệp, ruộng nước chọn con Sửu-Sẩu-Sừng là con trâu nước. Trung Hoa chọn con thú Sửu-Sẩu-Sừng là con bò đực (Ox) vì con bò sống trên cạn mang dương tính thích hợp với bản thể văn hóa du mục, võ biền của họ. Con bò thích hợp với văn hóa du mục thấy rất rõ trong văn hóa người Điền. Văn hóa Điền có một khuôn mặt du mục, võ biền nổi trội nên cũng tôn vinh bò chứ không phải là trâu (Sự Tương Quan Giữa Nghệ Thuật Đồ Đồng Điền và Đông Sơn). Điểm khác biệt ở đây là mèo và thỏ không cùng họ mão bấu không giống như trâu bò cùng họ Sửu-Sẩu-Sừng. Trung Hoa đã phạm một lầm lỗi chết người (fetal error) chỉ vì lấy của người khác “biến chế” theo kiểu ”made in China”.
Kết Luận
Mão là con Mấu, con Bấu. Mão chỉ chung một HỌ các con thú có Mấu vuốt nhọn, có tính Maul, bấu, cấu, cào gồm mâu, mau (cọp), bấu (báo), béo (beo), mèo…
Bách Việt chọn mão là mèo trong họ thú có mấu hay bấu, cấu, cào (họ mèo) trong 12 địa chi rất chí lý, rất chính thống và hợp với văn hóa duy lý, sông nước, nông nghiệp. Về DNA mèo chính huyết với mão-bấu một trăm phần trăm. Trung Hoa cổ đã lấy Mão-bấu và cho nó là con thỏ hoàn toàn sai lạc trăm phần trăm với tên Mão. Sở dĩ họ chọn thỏ vì thỏ khác tính nòng nọc, âm dương với mèo. Thỏ diễn tả tính nòng nọc, âm dương ăn khớp, thích hợp với văn hóa Trung Hoa vốn “macho”, du mục, võ biền.
Một lần nữa cho thấy từ mão là thuần Việt. Trường hợp con mão này với hai khuôn mặt thú khác nhau trong 12 con giáp rất đặc biệt và tối quan trọng vì từ mão là một địa khai ngôn ngữ, một thứ dấu tay cho biết rõ là nguồn gốc của 12 con giáp Việt Nam khác Trung Hoa, tuyệt nhiên Việt Nam không lấy 12 con giáp từ Trung Hoa. Nguồn gốc này có thể của Bách Việt hay cũng có thể từ một nguồn gốc Á châu cổ đại nào khác nhưng chúng ta giữ chính huyết, chính thống.
Trung Hoa cho mão-thỏ sai trăm phần trăm, họ có thể đã lấy mão-bấu của Bách Việt và sửa đổi đi.
Nguyễn Xuân Quang

Thứ Tư, 2 tháng 2, 2011

MỪNG XUÂN TÂN MÃO

Con Mèo mà trèo cây cau
Đầu năm mới đến, hỏi đâu là nhà?
Nhà ư? Ở tại lòng ta.
*

Thứ Ba, 1 tháng 2, 2011

Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

Nhuỵ Xuân


Nhuỵ xuân vừa ngọt vừa lành,
Ướp thêm chút nắng trên cành sớm mai.
Hương xuân toả ngát lòng ai.
*

Thứ Năm, 27 tháng 1, 2011

Nguồn Gốc Việt Nam Của "Mão/Mẹo/Mèo"


Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp ‘Mão/Mẹo/mèo’ (phần 4)


Các bài viết trước (phần 1, 2, 3) cho tóm tắt các liên hệ của tên 12 con giáp đến tên gọi các con vật trong tiếng Việt - sự tương đồng này rất dễ nhận ra từ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa cho đến những tiếng Việt Cổ hơn như Dần-kễnh, Thân-khôn/khọn … mà ta phải dựa trên cách thành lập chữ Hán để tìm ra. Từ bài này (phần 4 trở đi) sẽ đi vào chi tiết từng tên mỗi chi một, hi vọng sẽ cởi bỏ các lớp bụi thời gian và không gian sau bao ngàn năm để chứng tỏ rằng 12 tên con giáp rất gần với tiếng Việt chúng ta, nếu không là chủ nhân các tên con giáp. Người viết sẽ tránh dùng thuật ngữ để người đọc dễ cảm nhận các bài viết này hơn, thanh điệu của một chữ được ghi bằng số và đứng sau chữ đó, khác với cách ghi thanh điệu tiếng Việt hay phiên âm (pinyin) giọng Bắc Kinh.
1. Giới thiệu tổng quát
Mười hai con giáp cho thấy khuynh hướng xa lìa dần thiên nhiên của con người : từ 12 con thú tiêu biểu khi xưa cho đến chỉ vài con vật nuôi trong nhà (pets) hiện tại như mèo và chó mà thôi. Có những con đã ‘mất dạng’ ngay từ lúc 12 con giáp ra đời như rồng, và có những con đang từ từ ít đi như trâu, cọp … Mão hay Mẹo là từ Hán Việt (HV) chỉ chi thứ 4 trong 12 chi (thập nhị chi) - giọng Bắc Kinh (BK) bây giờ là mǎo theo pinyin (phiên âm phổ thông) viết bằng bộ tiết (bộ thủ thứ 26). Mão dùng để chỉ thời gian, từ 5 giờ đến 7 giờ sáng hay tháng hai, và chỉ phương đông trong không gian. Theo thiên văn cổ Trung Hoa (TH) và ngay đến bây giờ, biểu tượng của Mão là con thỏ so với con mèo của văn hoá Việt Nam. Một cách giải thích sự khác biệt này là sự cố tình đổi chữ và âm của người TH thời tiền Hán như đã nói trong phần 2 đã được đăng (phần nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp, lưu trữ vào tháng 6, 8 năm 2006 trên khoahoc.net). Ngoài ra, mèo rất gần với đời sống dân ta qua những thành ngữ hay ca dao tục ngữ như ‘ăn như mèo ngửi’, ‘mèo già hoá cáo’, ‘khỉ vẫn là khỉ, mèo vẫn hoàn mèo’, ‘mèo cào không sẻ vách vôi’, ‘mèo mù vớ được cá rán’, ‘mèo vật đống rơm’, ‘mèo hay ỉa bếp’, ‘mèo uống nước bể chẳng bao giờ cạn’, ‘mèo nhỏ bắt chuột con’, ‘mèo nhỏ bắt chuột to’ hay ‘mèo con bắt chuột cống’ - ‘mèo vật đống rơm’, ‘mèo nào cắn mỉu nào’…và …‘con mèo mà trèo cây cau, hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà…’
‘Con mèo con mẻo con meo
Muốn ăn thịt chuột phải leo xà nhà’
Hay ‘Mèo khen mèo dài đuôi
Chuột khen chuột nhỏ dễ chui dễ trèo’
Hay ‘Mèo lành ai nỡ cắt tai
Gái kia chồng rẫy khoe tài chi em’
Và ‘Mèo hoang lại gặp chó hoang
Anh đi ăn trộm gặp nàng bứt khoai’
‘Mèo lành ở mả bao giờ
Của yêu ai có bày ra ở ngoài’
Và ‘Mèo tha miếng thịt xôn xao
Kễnh tha con lợn thì nào thấy chi’
Các câu này được người viết nhắc đi nhắc lại nhiều lần
trong các bài viết vì trong đó có hình ảnh 3 con vật cũng
là biểu tượng cho 3 chi thuộc 12 con giáp, ngoài ra các câu
này rất sâu sắc cho thấy tim đen con người (trích từ cuốn
‘Tục Ngữ Phong Dao’ tác giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc
và ‘Từ điển thành ngữ ca dao’ Viện Ngôn Ngữ Học 1994)
Mèo được nuôi ở khắp nơi trong nước, và cũng có nhiều loại mèo hoang. Ở nông thôn, người ta thường chôn mèo chết dưới gốc cây khế chua, cho rằng như vậy sẽ làm cho khế ngọt. Từ mèo được dùng một lần trong truyện Kiều
‘Ra tuồng mèo mả gà đồng’ (câu 1731)
Cách dùng ‘mèo’ để chỉ người tình, cũng như ‘mèo mỡ’, ‘mèo thấy mỡ’… không thấy dùng trong ngôn ngữ TH, cho thấy sự rất gần gũi của loài mèo với con người Việt Nam. So với cách dùng mèo trong văn hoá TH, ta thấy trong vốn từ bây giờ có chữ miêu HV, māo/máo BK - giọng Quảng Đông là miu4, mau4, mau1, giọng Hẹ là miu2, miu5 … viết bằng bộ trỉ (loài bó sát không có chân, bộ thủ thứ 153) hợp với chữ miêu (mầm mống) hài thanh (HT) hay bộ khuyển hợp với chữ miêu HT. Tương phản với văn hoá Việt, miêu ít thấy dùng trong các thành ngữ hay ca dao tục ngữ TH - chỉ vài ba câu như
‘Miêu thử đồng miên’
(mèo chuột ngủ chung, ý nói sự a dua làm chuyện xấu)
‘Miêu khốc lão thử giả từ bi’
(mèo khóc khi chuột chết, ý nói sự đạo đức giả)
Các thành ngữ ca dao dính líu đến mèo thường mang tính cách tiêu cực trong cả hai nền văn hoá VN hay TH, như một điển tích đời Đường cho thấy
‘Lý Miêu tên là Lý Nghĩa Phú, tính nham hiểm mà
ngoài mặt vẫn giữ vẽ hiền lành nên người đương thời
gọi là Lý Miêu’ (Tầm Nguyên Tự Điển, Bửu Kế)
Nếu hình ảnh con mèo rất hiếm thấy trong văn hoá TH thì ngược lại, chúng ta thường gặp hình ảnh con thỏ hơn - một loài vật hình dạng giống như mèo như hai tai rất lớn, khối lượng (mass) cũng gần nhau … – chúng ta sẽ trở lại vấn đề này khi phân tách chữ viết/khắc cổ của chữ mèo và thỏ vì chữ viết (Hán Cổ, như Giáp Cốt Văn, Chung Đỉnh Văn) thường tượng hình. Lông thỏ thường dài hơn lông mèo và dùng làm bút để viết chữ Hán. Loài thỏ chịu được nhiệt độ cao nhất khoảng 32oC so với loài mèo chịu được tối đa 52oC, phản ánh loài vật sống ở miền lạnh cùng với dân du mục1 ở phương Bắc so với loài vật sống ở phương Nam ấm hơn với khuynh hướng sống về nông nghiệp.
Thỏ hay thố HV viết bằng bộ nhân cho thấy sự quan trọng của chữ này trong ngôn ngữ TH, giọng BK bây giờ là tù so với giọng QĐ tou3, Hẹ là tu5, Ngô là thu5 … Xem lại các truyền thuyết trong văn hoá dân gian ta thấy bóng đen2 trên mặt trăng ‘giống hình’ chú cuội ngồi gốc cây đa… khác hẳn với truyền thuyết TH về con thỏ trên mặt trăng nên mặt trăng3 còn được gọi là ngọc thố, thỏ bạc, thỏ ngọc, bóng thỏ (bóng trăng), thỏ phách, bạch thố (con thỏ trắng giã thuốc, ý chỉ mặt trăng) … hay thành ngữ ‘thỏ giỡn trăng’, ‘thỏ thoát’ (thoát đi như thỏ) … cũng như một số thành ngữ cổ điển HV như
‘Thỏ tử cẩu phanh’
(hễ thỏ chết thì đến lượt chó bị làm thịt, hết dùng được thì ăn đi)
‘Thổ tử hồ bi’
(thỏ chết thì ngay cả cáo/chồn cũng buồn thương)
‘Thỏ dinh tam quật’
(thỏ khôn có ba hang, có nhiều cách tính và lối thoát)
Cũng như ‘Giảo thố tam quật’
(thỏ khôn có ba hang, khôn có nhiều lối thoát)
‘Thỏ khởi phù cử’
(nhanh như thỏ và vịt trời khi khởi động)
‘Thỏ khởi ban cưu lạc’
(nhanh như thỏ chạy hay chim ban cưu đáp)
‘Thỏ ti yến mạch’
(chỉ có hư danh thôi, ‘có tiếng mà không có miếng’)
‘Thỏ tử bất ngật oa biên thảo’
(thỏ không ăn cỏ ở gần ổ, ý nói kẻ gian không lương lẹo với hàng xóm)
‘Thổ tử vi ba trường bất liễu’
(đuôi thỏ không dài ra được, ý nói một sự kiện rõ ràng ‘như ban ngày’)
‘Thủ chu đãi thố’
(khư khư chờ thỏ đến, như ‘há miệng chờ sung rụng’ việc khó đến)
Thật ra, thỏ đã hiện diện ngay trong Kinh Thi4 qua tựa một thiên là Thố Thủ (đầu thỏ),
‘Hữu thố tư thủ, bào chi táo chi’
(có đầu thỏ để quay để nướng, ý nói vật nhỏ cũng có công dụng …)
Các thí dụ trên cho thấy hai nền văn hoá VN và TH phát triển rất khác nhau qua hình ảnh mèo và thỏ. Ngay trong tiếng nói hàng ngày, tiếng Việt chỉ dùng nhóm từ sứt môi (hare lip, cleft lip) so với tiếng TH là tùchún (giọng BK hay thố thần HV, môi thỏ ý nói sứt môi giống loài thỏ)5 và chúnliè (thần liệt, môi sứt) … Tuy rất xa lạ với tộc Việt, ảnh hưởng về sau của thỏ còn thấy trong truyện Kiều, chữ thỏ được dùng hai lần so với mèo chỉ được một lần mà thôi
‘Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương’ (câu 1370)
‘Lần lần thỏ bạc ác vàng’ (câu 1269)
2. Các liên hệ hay lẫn lộn giữa mèo và thỏ
2.1 Như đã viết ở bài 2 phần ‘Nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp’, mãn (Việt Cổ) là mèo chỉ hiện diện trong tiếng Việt mà các dạng biến âm khác có thể là miễn, mãn, wan mà tàn tích rất hiếm trong tiếng TH như miễn (thỏ con), man (mèo hoang). Biến âm từ oan (hay môi hoá thành man) ra mãn hay miễn có thể giải thích được, nhưng từ chữ miễn trở thành thố như trong cách viết cổ thời Xuân Thu thì khó giải thích hơn – có thể các giọng địa phương bị ‘thanh lọc’ bởi nhóm nắm quyền hành thời đó, hay vì cố tình thay đổi. Trường hợp này vẫn thấy trong tiếng Việt qua cách gọi chợ Đông Ba (trước là Đông Hoa) hay cầu Bông (trước là cầu Hoa) vì kỵ huý bà Hồ Thị Hoa - mẹ vua Thiệu Trị - giọng địa phương trong trường hợp này là Thừa Thiên. Tương quan Mão-Thố còn có thể liên hệ đến cách dùng tương đương của mạo-thù (oán), mão-thủ (đều nghĩa là đầu), mạo-thụ/thọ (sống già)… Điều này còn thấy trong một cách đọc (thủ/thỏ HV)6 rất khác với âm miáo (mão, miêu HV) của thành phần HT của chữ miêu (mèo).
2.2 Ngoài ra, một chữ hiếm thấy là nâu/nậu6, viết bằng bộ thanh hợp với chữ thố, giọng BK bây giờ là nóu, nau4 QĐ, neu2 Hẹ cũng như một giọng đọc Hẹ nữa là wan5 – theo người viết chính là một dạng của âm mãn phương Nam (mèo). Chữ này có nghĩa là một tên cũ của thỏ. Xem cách viết/khắc cổ của chữ thố và miễn, ta thấy rất giống nhau (hai lỗ tai rất rõ nét) trừ một dấu phẩy ở bên phải chỉ đuôi con thỏ.
Các chữ hiếm khác như lưu, liễu HV (líu, lĭu BK) viết bằng bộ thử (chuột) hợp với chữ mão HT hay lưu HT đều có nghĩa là một loài thú có kích thước như con thỏ - điều này cho thấy cách phân loại xưa kia rất mơ hồ và rất dễ lẫn lộn. Thành ra mèo và thỏ rất dễ thay đổi cho nhau mà ít ai có thể nhận ra được !
2.3 Ta hãy xem vài tiếng vẫn còn dùng trong vốn từ TH hiện nay : thố tôn HV (tùsūn BK hay sá-lị tôn shēlìsūn BK) là một loại mèo hoang hay mèo rừng dù rằng dùng chữ thố/thỏ. Loài mèo này có lông dày làm áo lạnh rất tốt (theo Từ Nguyên). Dã miêu HV hay yĕmāo BK có nghĩa là thỏ rừng hay mèo rừng!
2.4 Ngay cả nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đều diễn giải chi thứ tư Mão bằng con thỏ, so với tự điển Việt-Bồ-La (1651) của giám mục Alexandre de Rhodes – ghi nhận giờ Mẹo (mèo) bằng con mèo trước ‘Vân Đài Loại Ngữ’ hơn cả trăm năm ! Điều này cho thấy tình trạng hỗn loạn của văn chương ‘bác học’ lệ thuộc vào tiếng TH hay HV (nâng cấp mèo thành ra thỏ), tương phản với văn chương bình dân vẫn khư khư giữ nguyên dạng cũ (mèo). Nhờ các sự sai biệt này mà ta có cơ hội để truy nguyên các chữ.
2.5 Trong khi tra cứu thêm về dữ kiện khảo cổ để viết bài này, người viết có dịp đọc qua một bản tin từ Tân Hoa (Xinhua News Agency, ngày 22 tháng Tám, 2006) trên mạng7 về các xương thú tìm thấy sau khi bị chôn sống cách đây khoảng 1700 năm. Các xương thú vật tìm thấy gồm có mèo, chó, heo, dê, trâu và trừu… Đây là lần thứ hai xương các con mèo được tìm thấy trong những mộ cổ khai quật bên Trung Hoa. Những khám phá về khảo cổ ở TH và Việt Nam rất quan trọng để kiểm nghiệm lại nguồn gốc chính xác của 12 con giáp, hỗ trợ cho kết quả từ ngôn ngữ học - tại sao không có xương thỏ ? Mèo là loài động vật ăn thịt (carnivore) và săn đuổi chuột, mà lại không ăn hại thóc lúa nên rất thích hợp cho xã hội nông nghiệp – khác với loài thỏ. Năm 2004, xương mèo và người đã được tìm thấy ở Cyprus (xem thêm http://en.wikipedia ) và tuổi ngôi mộ cổ này ước lượng cách đây khoảng 9500 năm cho thấy thời kỳ thuần hoá mèo xẩy ra khá lâu.
Tóm lại, mèo và thỏ rất dễ bị lẫn lộn mà tàn tích còn thấy trong các cách dùng trên. Có tác giả cho rằng nước Việt xưa không có thỏ, nên đổi thỏ qua mèo - người viết không đồng ý vì không phù hợp với các dữ kiện ngôn ngữ trên và sự thay đổi chữ miễn/mãn thành chữ thố. Các điều này cho thấy nguyên thuỷ chi thứ tư có thể là Mão/Mẹo/mèo và bị đổi thành thỏ, cũng phù hợp với ảnh hưởng văn hoá Cổ Đại của phương Nam (lên phương Bắc TH) trước khi TH thống nhất, thời kỳ Tần Hán và sau đó văn học Đường Tống khởi sắc và chiều ảnh hưởng lại từ phương Bắc lan ra khắp nơi.
3. Phụ âm đầu m- của Mão/Mẹo/mèo
Chữ Mão thường được dùng làm thành phần HT để tạo ra các chữ Hán khác như sao Mão (bộ nhật hợp với chữ Mão), sông Mão (bộ thuỷ hợp với chữ Mão), như liễu (cây liễu, bộ mộc hợp với Mão), mậu (mua bán, bộ bối hợp với chữ Mão) - mậu HV còn là mù, loà - để ý các âm đầu m và l … Nhưng cũng có khi đọc khác hơn như chữ lưu (ở lại, bộ điền hợp với chữ Mão), kiếu/giáo (hầm hố, bộ huyệt hợp với chữ Mão, có thể đọc là liêu/lưu) … Các dạng trên cùng với các phương ngữ TH như BK, QĐ, Hẹ, Ngô (Thượng Hải) và Hán Việt… cung cấp cho ta một số dữ kiện để có thể phục hồi một dạng âm Thượng Cổ của Mão là *mru? Phù hợp với dạng phục hồi của William Baxter trong cuốn ‘A Handbook of Old Chinese Phonology’ (1992), để ý phụ âm l có thể hoán chuyển với r , nhưng theo Bernhard Karlgren thì hơi khác với dạng *mlôg trong cuốn ‘Grammata serica recensa’ (1957). Có những tác giả khác đề nghị dạng lm- thay vì ml- như Andrew Miller chẳng hạn (1951) dựa vào các cách viết và phát âm tiếng Hán Thượng Cổ …v.v… Dù dạng gì đi nữa, ta dễ nhận ra tàn tích của âm liu- và lau- như đã ghi lại trong phần 2.2 ở trên, cũng như âm miêu của HV. Nhìn rộng ra các tiếng phương Nam chỉ con mèo như mèu (Kơho), maau (Thái), maau (Lào), chmaa (Kampuchia), maau (QĐ), māo BK … so với tiếng mèo kêu là miu, meo (Việt), miāo BK, miu (Thái) … cho thấy một tương quan khá rõ nét giữa tiếng mèo kêu và tiếng chỉ con mèo8, và đương nhiên là tiếng gọi chi thứ tư Mão/Mẹo/mèo. Vậy mà tài liệu TH từ thời tác giả Vương Sung (27-97, trong ‘Thiên Sinh luận’ cuốn “Luận Hành’ thời Hán) cho đến tận ngày hôm nay vẫn cho rằng thỏ là con vật biểu thị cho chi Mão/Mẹo/mèo !
Phụ âm đầu m có thể là tàn tích của nhóm phụ âm ml- mà ta thấy trong tự điển Việt-Bồ-La như mlầm mlở là lầm lở, mlạt là lạt, mlẽ là lẽ…với âm đầu (tiền tố) m mất đi. Mlầm còn bị ngạc hoá (palatalisation) để cho ra nhầm, mlạt > nhạt, mlẽ > nhẽ, mlớn > lớn và nhớn … Alexandre de Rhodes cũng nhận ra điều này khi ông ghi mnhầm, mnhẽ là lầm, lẽ. Khuynh hướng ml- ngạc hoá cho ra nh- giải thích được sự hiện diện của chữ nheo : mi > *nhi > nheo , lông mi chính là lông nheo. Người viết nhớ lại trong thập niên 1960, khi ảnh hưởng người Mỹ bắt đầu gia tăng ở miền Nam, trong khẩu ngữ từng dùng âm Mẽo để chỉ Mỹ/Mĩ cho thấy biến âm i-eo còn có thể xẩy ra gần đây hơn
4. Nguyên âm a và e của Mão/Mẹo/mèo
Mẹo và mèo là âm cổ hơn của Mão, các nguyên âm chính ở trước (front vowels) như e
thường là dạng âm cổ hơn của các nguyên âm sau (back vowels) như a. Thí dụ :
Xa (Hán Việt) xe (Việt) Giao HV keo V
Hoá Huế Giao kèo
Trà chè Giáo kéo
Hoạ vẽ Giáp kép, kẹp
Ma mè (vừng) Tham ken, chen
Khoa khoe Giảm kém
Báo beo Giả kẻ
Xảo khéo Trản chén
Trạo chèo Trảm chém
…v.v…
Để ý một số nguyên âm e BK bây giờ đã từng có âm cổ a, hay nguyên âm a BK bây giờ có các dạng âm cổ hơn là o, ô và u – và cũng tuỳ các phụ âm đứng trước cùng thanh điệu chứ không thống nhất như chuỗi biến âm mèo-Mẹo-Mão9. Một điểm đáng chú ý là từ mẹo còn có nghĩa là phương thức (mưu mẹo) khi viết chữ Nôm thì mượn trực tiếp chữ Mão HV. Mưu HV viết bằng bộ ngôn hợp với chữ mỗ HT, giọng BK móu so với mau4 QĐ, meu2, meu3, miu2, miau3 Hẹ và âm mẹo cũng là âm cổ của mưu HV vẫn hiện diện trong tiếng Việt. Điều này phù hợp với khuynh hướng tương đồng của nguyên âm sau so với các nguyên âm trước (o/u ~ e) cũng như a ~ e đã nói phần trên. Ngoài ra yêu10 HV viết bằng bộ nhục hợp với chữ yêu HT, yāo BK là giọng bây giờ so với jiu1 QĐ, jau1, jeu1, rau1 Hẹ, io1 (Ngô), iau1 (Minnan/Đài Loan) mà eo là một dạng âm cổ hơn được duy trì trong tiếng Việt.
5. Thanh điệu và kết luận phần 4
Nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt vẫn gây nhiều tranh luận9, tuy nhiên liên hệ mèo-Mẹo và Mão cho thấy những thanh điệu còn lại qua một thời gian giao lưu văn hoá rất lâu. Vài nhận xét sơ khởi là mả-mồ-mộ so với mô, mu, mồng, mộng và giọng BK bây giờ mù, mú (viết bằng bộ thổ hợp với chữ mô HT) mou6 QĐ, mu5, mu6 Hẹ, mo6 (Ngô) và bong7 (Minnan/Đài Loan - để ý dạng bong7 tương ứng với bùng, bồng, bung, bổng…). Các thanh huyền, nặng và ngang đều thuộc thanh (âm) vực trầm (trọc), nhưng thanh hỏi mả cho thấy sự khác biệt do thời gian trong tiếng Việt lâu hơn nên có nhiều biến dạng hơn. So sánh các thanh điệu sau đây
Mẹo HV Mão HV đợi đãi
hoạ vẽ lợi/lời lãi
ngựa mã dị dễ
cựu cũ dụ dỗ, rũ
mạo mũ từ chữ
sợ hãi tu sửa, chữa …v.v…
Thâm HV hay shēn, shèn BK, sam1 QĐ, chim1, cim1, cihm1 Hẹ, chhim1 (Minnan/Đài Loan), sơng1 (Ngô/Thượng Hải) có các dạng khác nhau như sâm, xâm (xâm xẩm), thẳm (thăm thẳm), đậm, thầm (tối tăm)11… cho thấy tương quan thanh điệu như mả-mồ-mộ-mô trên, cũng như một liên hệ có từ rất lâu - trước thời Đường Tống khi các biến âm sh-th, s-t xẩy ra một cách hệ thống hơn và khi hệ thống âm thanh Hán Việt bắt đầu hoàn chỉnh hơn. Liên hệ mèo-Mẹo-Mão và meo cũng phù hợp với những biến đổi thanh điệu như trên : các thanh huyền (mèo), nặng (Mẹo), ngang (meo) và ngã (Mão) đều thuộc thanh vực trầm.
Một hiện tượng nên được ghi nhận nơi đây là sự rút ngắn âm cuối12 (apocope). Tác giả Lê Hữu Mục trong cuốn ‘Truyện Kiều và tuổi trẻ’ (Toronto, Canada 1998) có nhận xét về ‘…luật n/i rất nổi tiếng và tôi học được từ thầy tôi..’ (trang 93), được trích ra như sau
chui chun ngườt viết bể biển
lụi lụn xin thêm vào chả chẳng
mai khôi mân khôi tí tiểu
bí bôn mèo-mãn mơ mộng
mì miến tử/tý-tím vua vương
tươi tiên mào-mồng đã/đá đánh
tỏi toản vô-vong tệ tiền
…v.v… vu-võng mạ mắng
Hiện tượng rút gọn âm cuối cũng xẩy ra trong tiếng TH hiện nay như wú-wáng BK (vô-võng HV), nán-ná BK (nam HV), màn-mù-mò BK (mành), xìng-sōu (tân HV, đỏ) … hay khi mượn từ tiếng TH vào tiếng Nhật như hōng (hồng) thành ko-, wăng thành mo- ..
Một số tác giả cho rằng khi rút gọn âm cuối thì tạo ra thanh điệu, điển hình và đầu tiên hết là nhận xét của học giả André Haudricourt trong các bài viết từ năm 1954, sau đó Edwin Pulleyblank bổ túc thêm về nguồn gốc thanh điệu qua các dữ kiện về tiếng Hán Cổ. Thí dụ như vào đầu công nguyên, tiếng Việt không có thanh điệu và quá trính các biến âm ghi lại trong bảng sau
Đầu công nguyên Thế kỷ VI Thế kỷ XII Ngày nay
(không thanh) (ba thanh) (sáu thanh)
sla, hla hla la la
la la là là
las, lah là lã lã
pax, pa? pá pá bá
bax, ba? pá pạ bạ
…v.v…
Tóm lại, liên hệ của Mão-Mẹo-mèo có thể giải thích qua các dạng âm cổ phục hồi như trên, từ âm tiết đến thanh điệu. Để giải thích sự thay đổi từ mèo qua thỏ/thố, ta cần có liên hệ của mãn-mèo qua hiện tượng rút gọn âm và vết tích từ các văn tự cổ : chữ thố và miễn (hay mãn HV wăn BK) viết cùng một chữ trên bia khắc thời Hán và nhà thờ Vũ Lương thời Đông Hán13. Thành ra ta có cơ sở để cho rằng Mão-Mẹo đã từng là mèo, nhưng có sự thay đổi chữ viết, có thể vì cách dùng địa phương (nên triều đại đương quyền muốn chỉnh đốn lại) hay là cố tình bôi xoá nguồn gốc ‘Nam man’ của chi thứ tư chăng ? Hay có thể là đổi loài vật cho hợp với gốc du mục của nhóm cầm quyền ? Nhớ rằng chỉ có tộc Việt14 mới dùng con mèo cho chi thứ tư mà thôi, các ngôn ngữ khác bị ảnh hưởng văn hoá TH đều dùng thỏ (xem bảng so sánh – bài viết phần 2).
6. Phụ chú và tài liệu tham khảo chính
(1) Bằng cách khôi phục lại môi trường sinh sống của 12 loài vật khi đi ngược dòng thời gian, ta có thể tìm ra được phần nào địa lý (vùng không gian) mà chủ nhân của 12 con giáp đã từng cư ngụ - do đó tăng mức chính xác về nguồn gốc tên 12 con giáp từ lăng kính thời gian và không gian. Đây là một trong những vấn đề còn mở ngõ. Một thí dụ gần đây hơn là loại thỏ sống trên núi bên Mỹ, gọi là pika, vì khí hậu thay đổi và nhiệt độ tăng dần làm cho chúng phải lên miền cao hơn để sống và có hiểm hoạ diệt chủng !
(2) Các bóng đen trên mặt trăng thật ra là các thung lũng do chất lỏng nóng (lava) từ các núi lửa xưa chảy xuống. Vì có nhiều chất sắc (iron) nên trở thành màu đen nếu quan sát bằng mắt trần hay viễn vọng kính (telescope) từ trái đất. Các bóng đen này gọi là maria (tiếng La Tinh nghĩa là biển) vì các nhà thiên văn xưa kia tưởng chúng là những hố lớn chứa nước … Chính các nhà khoa học từng lầm nữa huống chi những người bình thường dùng mắt trần. Các hình ảnh trên mặt trăng không rõ ràng như trên đã tạo ra không biết bao nhiêu huyền thoại tìm thấy qua bao nhiêu nền văn hoá con người.
(3) Hằng Nga hay Thường Nga, vợ Hậu Nghệ, lấy trộm thuốc trường sinh của Tây Vương Mẫu và bay lên cung trăng ở và sống mãi không chết (chuyện Thường Nga bôn nguyệt). Tương truyền Hằng Nga là cô gái rất đẹp.
(4) Kinh Thi là một trong Ngũ Kinh nổi tiếng của TH gồm có 305 bài thơ, có bài viết từ 1000 TCN (Trước Công Nguyên) – tương truyền Khổng Tử (551-479 TCN) có đóng góp trong việc soạn lại Kinh Thi.
(5) Hiện tượng (bệnh) sứt môi ít thấy trong các loài chó, và rất là hiếm thấy trong các loài mèo. Năm 2004, một loại gen đặc biêt đã được tìm thấy làm tăng gấp 3 lần khả năng bệnh này. Thổ dân Mỹ và người Á Châu bị nhiều nhất so với dân Mỹ gốc Phi.
(8) phải cẩn thận khi so sánh những tiếng nói khi có thể chúng là tiếng tượng thanh (nhái lại tiếng động của đối tượng, sound symbolism) - rất có thể chúng không có liên hệ họ hàng (họ ngôn ngữ, language family) và các tính chất giống nhau là do sự nhái lại của cùng một âm thanh (cùng nguồn) mà thôi, hay sự trùng hợp có tính cách ngẫu nhiên (accidental). Đây là mục đích của các khảo cứu về nguồn gốc ngôn ngữ con người rất lí thú nhưng không nằm trong phạm trù các bài viết này. Để ý tiếng mèo kêu (thường lắp láy) là miaau (tiếng Afrikaans), mjau (Albani), miaou (Ả Rập), mijau (Croatia), miauw (Hà Lan), miaou (Pháp), miau (Đức), miau (Hungari), miyau (Do Thái), mya:u (tiếng Ấn Độ/Hindi), miao (Ý/Itali), meow (Thái), miyauv (Thổ Nhĩ Kỳ), miau (Ba Lan), mjau (Thuỵ Điển), myau (Nga) … so với nyaa (Nhật), ngeong (Inđônêsia), (n)ya-ong (Đại Hàn), ngoeo (Việt) …v.v… Nhưng khi xét các từ chỉ động vật như voi, chuồn chuồn, bướm, ong, mèo, cóc, vịt …cũng như tên 12 con giáp thì còn các vết tích trên trong vốn từ TH hiện nay, dù rằng rất hiếm và đã biến dạng nhiều từ âm thanh đến phạm trù nghĩa. Điều này cho thấy một kết quả của một ‘nước TH rời rạc’ đã từng tiếp xúc với các dân tộc phương Nam thời Thượng Cổ, trước khi TH thống nhất và ngôn ngữ phản ánh dân tộc cầm quyền phương Bắc mà hệ thống âm thanh rất khác so với phương Nam.
(9) xem thêm các tác giả William Baxter (sđd), Bernhard Karlgren (sđd) và Edwin G. Pulleyblank qua cuốn ‘Lexicon of reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, late Middle Chinese and early Mandarin’ (1991), ‘Middle Chinese : a study in historical phonology’ (Vancouver, Canada 1984). Tác giả Nguyễn Tài Cẩn qua cuốn ‘Một số vấn đề về chữ Nôm’ (Hà Nội, 1985) và ‘Lịch sử ngữ âm tiếng Việt’ (Hà Nội, 1995) cũng phân tách các khuynh hướng biến âm trên như Lê Văn Quán qua cuốn ‘Nghiên cứu về chữ Nôm’ (Hà Nội, 1981)
(10) yêu HV có phạm trù nghĩa không rõ ràng : có thể là cái lưng, thận hay thường dùng hơn là cái eo. Các từ chỉ bộ phận con người như bàng (bả vai, cánh tay trên, bong bóng..), đỗ (bụng, dạ dày..), cổ (bắp vế, hông..) có nghĩa không chính xác vì quá rộng hay mơ hồ, và trải qua một thời gian rất lâu - tương ứng với hiện tượng đặt tên các loài thú như mèo-thỏ, rồng (không có định nghĩa rõ ràng), rắn (trăn, lươn ?) … Khuynh hướng phương Tây đi vào chi tiết các tên gọi như trong tiếng Anh, thỏ là rabbit, hare, pika, cottontail, bunny (hay bunny rabbit), coney (hay cony), buck (thỏ đực), doe (thỏ cái); Mèo tiếng Anh là cat, tom (mèo đực, hay tomcat), queen (mèo cái), một đàn mèo gọi là clowder …v.v… so sánh với hai chữ thỏ/thố và mèo trong vốn từ tiếng Việt. Các loài vật được phân loại theo họ, chi … theo hệ thống rõ ràng như sau (rất tóm tắt)
Phân loại Thỏ Mèo
Kingdom Animalia Animalia
Phylum Chordata Chordata
Class Mammalia Mammalia
Order Lagomorpha Carnivora
Family Leporidae Felidae
….. …. ….
Các chi được chia thành những chi động vật phụ (genus) như mèo (nhà) thuộc chi Felis, và nhánh phụ (species) là F. Silvestris …v.v… Những cách phân loại rõ ràng và dữ kiện về giải phẫu (anatomy), quá trình tiến hoá (evolution) làm cho ta dễ phân biệt hơn.
(11) thâm HV có thể liên hệ đến đêm, đen …là các tiếng thường gặp trong ngôn ngữ họ Nam Á (Austroasiatic) hay nhánh Môn-Khme. Tại sao như vậy ? Ta hãy nhìn từ đen của tiếng Mường là têm hay zơm (phụ âm t- và z- đầu, liên hệ đến t/đ- và sh-), bêtăm (tiếng Môn), tam/yong (Kơtu), đăm (Thái), đơm (Li), hitam (Mã Lai, Chăm) … so với từ đêm của tiếng Mường là lêm, têm và mlăm, pđăm (Chăm), rêm, mlăm (Thái), đăm (Nùng), đêm (Aslian), têm/tăm/đum, htêm, btêm (Môn) … cho thấy có thể các dạng trên đều cùng một gốc (phương Nam) mà ra. Trong vốn từ tiếng TH hiện nay có chữ đàm HV ít dùng với giọng BK bây giờ là tán, tam4 QĐ, tam2 Hẹ so với tham5 Ngô viết bằng bộ á nghĩa là sâu đậm. Đàm HV viết bằng bộ thuỷ hợp với chữ đàm HT nghĩa là cái đầm (sâu), đàm HV viết bằng bộ mã hợp với chữ đàm HT nghĩa là con ngựa đen... cho thấy tàn tích của *đam (đậm, đen) của phương Nam trong tiếng TH.
(12) hiện tượng rút ngắn âm cuối thường xẩy ra trong họ Ấn-Âu như trong tiếng Anh chữ morning trở thành morn, photograph trở thành photo, tên riêng Alexander trở thành Alex, Thomas thành Tom … Cinéma (tiếng Pháp) trở thành xi nê … Không những là một cách tạo ‘chữ’ mới, khuynh hướng rút gọn trên cũng là luật ngữ pháp căn bản cho một số ngôn ngữ như tiếng Tây Ban Nha : thí dụ như uno (một) nhưng khi viết thành un mundo (một thế giới) thì âm cuối –o của uno mất đi…v.v…
(13) chữ thố/thỏ và miễn viết giống nhau thời Xuân Thu theo các tác giả Triệu Bá Bình và Thời Học Tường, chủ biên cuốn “Lâm Ngữ Thú Thoại” - bản dịch ra tiếng Việt – NXB Văn Hoá Thông Tin – Hà Nội (2005)…’ âm đọc của thố và miễn rất gần nhau, do đó người xưa đã dùng âm đọc của miễn để biểu thị chữ oan…’ (trang 489)
(14) theo từ điển ‘Việt-Mông’ tác giả Thào Seo Sình, Phan Xuân Thành và Phan Thanh – NXB Giáo Dục – Hà Nội (1999) : chi thứ tư Mão đọc là mir (mèo) hay luôr (thỏ). Dân tộc Hmông (hay Mông, Mèo, Miêu) có những đặc tính giống tộc Việt như truyền thống con rồng cháu tiên, rất thích âm nhạc (nhảy múa), dùng trống đồng trong âm nhạc cổ truyền, cũng thuộc về bộ lạc Si Vưu …v.v… Người viết chưa đọc được một văn bản hay dữ kiện khảo cổ nào liên hệ tên 12 con giáp đến văn hoá cổ đại của dân tộc Mông, cũng như dân tộc Lê (ở đảo Hải Nam, thuộc nhóm Bách Việt) vẫn còn tập tục xăm mình và gọi tên ngày theo tên 12 con giáp. Đây là những vấn đề cần phải khảo cứu thêm để soi sáng rõ nguồn gốc tên 12 con giáp thời Thượng Cổ.
Nguyễn Cung Thông