Thứ Ba, 10 tháng 12, 2024

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 3: Lý do khiến đức tin là đêm tối

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

CHƯƠNG 3
LÝ DO KHIẾN ĐỨC TIN LÀ ĐÊM TỐI *

- Làm sao đức tin lại là đêm dày cho linh hồn?
- Chứng minh bằng những lý lẽ, thế giá và hình ảnh của Thánh Kinh.

1 - Các nhà thần học nói rằng đức tin là một nếp quen [tức là một phần tính thường trực của hữu thể - habitus (DDB)]. của linh hồn, một nền nếp vừa chắc chắn vừa tăm tối. Nó là một nền nếp tăm tối bởi vì nó làm cho chúng ta tin các chân lý được chính Thiên Chúa mạc khải, những chân lý vượt trên mọi ánh sáng tự nhiên và vượt hẳn mọi khả năng trí hiểu của loài người. Do đó mà, đối với linh hồn, ánh sáng đức tin ấy trở nên như một bóng tối mù mịt, bởi lẽ cái hơn hút mất và át mất cái kém. Tựa như ánh sáng mặt trời át hết mọi thứ ánh sáng khác, vì những ánh sáng này bị chìm hẳn khi ánh mặt trời lóa lên chói lọi đập thẳng vào quan năng thị giác của ta. Nó khiến thị giác hóa mù quáng và không còn nhìn thấy gì nữa, bởi lẽ ánh sáng của nó quá chênh lệch, vượt hẳn sức chịu đựng của quan năng thị giác. Về ánh sáng đức tin cũng thế, vì quá sáng nên nó đè bẹp hẳn ánh sáng của trí hiểu, là thứ chỉ dùng được cho những hiểu biết thuần tự nhiên, mặc dù nếu Thiên Chúa muốn nâng lên thì nó cũng có khả năng tiếp thu những điều siêu nhiên.

2 - Nghĩa là, ánh sáng của trí hiểu không thể tự mình biết được điều gì nếu không qua con đường tự nhiên, tức là qua các giác quan. Muốn hiểu, ánh sáng của lý trí cần có những hình ảnh và biểu tượng hoặc những điều tương tự với các đối tượng ấy, nếu không, nó sẽ chẳng thể nào hiểu được. Bởi vì, theo triết học, phải vừa có đối tượng, vừa có quan năng tiếp nhận mới có được sự hiểu biết. Vì thế, nếu ta kể cho ai đó nghe về những vật mà người ấy chưa hề biết, cũng chưa bao giờ thấy điều gì tương tự với chúng, thì người ấy sẽ chẳng làm sao biết được điều gì về chúng hơn là khi chưa nghe nói. Chẳng hạn nếu ta kể cho một người rằng trên đảo nọ có một con thú mà người ấy chưa bao giờ thấy, và nếu ta không nói con thú ấy có điểm nào giống với những con thú người ấy đã biết, thì dù ta có nói gì đi nữa, nghe xong, người ấy vẫn chẳng có được ý niệm và hình ảnh gì về con thú ấy hơn trước khi ta kể. Xin nêu thêm một ví dụ khác để hiểu rõ hơn. Đây là một người mù bẩm sinh, chưa bao giờ thấy một màu sắc nào cả, nếu ta bảo người ấy rằng màu trắng hoặc màu vàng là như thế đó, thì có giải thích mấy đi nữa, người ấy cũng chẳng hiểu gì hơn, bởi vì người ấy chưa bao giờ thấy những màu ấy hoặc thấy một điều gì tương tự để dựa vào đó mà đoán định. Người ấy chỉ giữ lại được nguyên tên gọi các màu mà người ấy đã nghe được qua thính giác thôi, còn hình thức hoặc dáng vẻ của chúng thì không có một ý niệm gì, vì chưa bao giờ được thấy.

3 - Thế mà đó lại là cách đức tin hành động trong linh hồn. Nó nói với ta những điều ta chưa hề thấy, chưa hề nghe, và cũng chẳng có cái gì tương tự với những điều ấy để mà nghe, mà thấy trước. Ta không thể có một chút ánh sáng nào nhờ các tri thức tự nhiên, bởi vì điều đức tin nói với ta vượt hẳn mọi giác quan. Tuy vậy, ta tin những điều người khác dạy cho ta, ta bắt ánh sáng tự nhiên phải mù tối đi và phải khuất phục. Như lời thánh Phaolô nói: "Đức tin là do bởi lời đã được nghe" (Rm 10,17). Dường như Ngài muốn nói: Đức tin không phải là một hiểu biết tiếp thu đuợc do một giác quan nào đó; nó chỉ là một ung thuận của linh hồn đối với điều nó biết đuợc nhờ nghe nói.

4 - Đức tin còn vượt xa điều chúng ta hiểu được qua những ví dụ vừa kể rất nhiều, vì không những nó không đem lại kiến thức hoặc sự hiểu biết, mà như chúng tôi đã nói, nó còn tước đoạt và làm mù lòa cả những kiến thức và hiểu biết mà người ta mong dùng để phê phán chính xác về nó. Những sự hiểu biết khác thì người ta thâu nạp được nhờ ánh sáng của trí hiểu; còn sự hiểu biết đức tin thì không nhờ ánh sáng này, vì ta đã nhân danh đức tin mà chối bỏ nó; nếu cứ bám lấy ánh sáng này, không chịu làm cho nó tối đi thì đức tin sẽ hỏng mất. Vì thế ngôn sứ Isaia mới nói: "Các ngươi mà không tin, các ngươi sẽ không hiểu" (Is 7,9) [Theo bản 70, còn bản Do Thái viết: “Các ngươi mà không vững tin, các ngươi sẽ không vững được.”]. Vậy rõ ràng đức tin là một đêm dày đối với linh hồn, và chính bằng cách ấy mà nó đem lại ánh sáng cho linh hồn. Nó càng khiến linh hồn thành mù tối càng ban cho linh hồn ánh sáng lớn lao hơn về nó. Vì nó ban ánh sáng bằng cách gây mù tối, theo lời ngôn sứ Isaia: “Vì nếu các ngươi không tin, các ngươi sẽ không có ánh sáng”. Cũng vì thế ta có thể biểu thị đức tin bằng đám mây đã chia cách con cái Israel khỏi quân Ai Cập khi họ sắp bước vào biển Đỏ, mà Thánh Kinh nói: "Đám mây ấy vừa là tối tăm vừa làm rạng sáng đêm tối" (Xh 14,20).

5 - Thật là chuyện kỳ diệu: Nó là tối tăm mà lại soi sáng ban đêm. Đức tin, vốn là một đám mây tăm tối và mù mịt đối với linh hồn. Cả linh hồn lúc này cũng đang là đêm, vì khi đức tin xuất hiện, linh hồn bị tước hết ánh sáng tự nhiên và trở thành mù tối. Đám mây đức tin kia lại dùng sự mù mịt của nó mà chiếu soi và ban ánh sáng cho sự mù mịt của linh hồn, khiến cho thầy giáo (là đức tin) hòa hợp với học trò (là linh hồn). Thật vậy, một người đã ở trong tăm tối mù mịt, chỉ có thể được soi sáng cách thích hợp nhờ một sự tăm tối mù mịt khác, như Đavít có dạy "Ngày qua mách bảo cho ngày tới, đêm này kể lại với đêm kia" (Tv 18A/19A,3). Nói rõ ra là thế này: Thiên Chúa là ngày trong sự hạnh phúc vô tận của Ngài, hạnh phúc này là ngày đối với các thiên thần và các linh hồn đã được hưởng phúc, và cả hai nhóm này cũng đã là những ngày. Ngày mách bảo cho ngày tức là Thiên Chúa nói với họ và thông ban cho họ Ngôi Lời, là Con của Ngài, để họ được biết và vui hưởng. Còn đêm tức là đức tin trong Hội thánh chiến đấu, nơi vẫn còn đêm tối. Đức tin bày tỏ sự hiểu biết cho Hội thánh, và cho bất cứ linh hồn nào, chính mỗi linh hồn này lại là đêm, vì chưa được hưởng sự khôn ngoan diễm phúc sáng tỏ, và đang ở trong đức tin nên bị mù tối, mất cả ánh sáng tự nhiên của mình.

6 - Như vậy, nói được rằng: Đức tin là một đêm dày nên mới soi sáng được cho linh hồn đang ở trong tăm tối, đúng như điều mà cũng chính vua Đavít có nói: "Đêm sẽ nên ánh sáng soi tôi trong niềm hoan lạc [24 Nguyên văn: “Tôi có nói: Ít ra tối tăm có thể che khuất tôi đi, ánh sáng quanh tôi trở thành đêm tối.” (Tv 138/139, 11).]. Ông muốn nói: Khi ông được hoan lạc trong sự chiêm niệm tinh trong và sự nên một cùng Thiên Chúa, đêm đức tin sẽ hướng dẫn ông. Thế mới biết linh hồn phải ở trong mịt mù tăm tối (về mặt tự nhiên) để có được ánh sáng mà tiến bước (trên đường nên một với Thiên Chúa).

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2024

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 2: Đức tin

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

CHƯƠNG 2
ĐỨC TIN *
(Các tựa đề có đánh dấu hoa thị (*) là của riêng bản Việt ngữ. Người dịch mạn phép thêm vào để bạn đọc dễ theo dõi tư tưởng của tác giả và tiện tra cứu ở mục lục.)

- Bắt đầu bàn về phần thứ hai của đêm, đề cập tới nguyên nhân của đêm này, tức là đức tin.
- Có hai lý do cho thấy phần thứ hai của đêm tối hơn phần thứ nhất và phần thứ ba.

1 - Bây giờ bắt đầu bàn đến phần thứ hai của đêm, tức là bàn về đức tin. Đức tin là phương thế kỳ diệu để đạt đến cùng đích của ta là Thiên Chúa là nguyên nhân thứ ba và là phần thứ ba của đêm này. Đức tin nằm ở giữa nên được so sánh với nửa đêm. Do đó có thể nói, đối với linh hồn, phần này còn tối hơn cả phần thứ nhất, và một cách nào đó cũng tối hơn cả phần thứ ba. Bởi lẽ phần thứ nhất tức là đêm giác quan, được so sánh với phần đầu của đêm, phần trước nửa đêm, lúc người ta không còn nhìn thấy các vật khả giác nhưng lúc ấy chưa xa ánh sáng bằng lúc nửa đêm. Còn phần thứ ba là phần trước rạng đông, nó ở gần ánh sáng ban ngày nên không tối bằng nửa đêm. Nó sát liền, phác họa và báo hiệu ánh sáng ban ngày, và nó được sánh với chính Thiên Chúa. Thật vậy, cứ tự nhiên mà nói, đối với linh hồn thì Thiên Chúa cũng là một đêm dày như đức tin. Tuy nhiên, sau khi linh hồn trải qua cả ba phần của đêm như thế, Thiên Chúa sẽ chiếu sáng linh hồn cách siêu nhiên bằng những tia sáng thần linh của Ngài, là khởi điểm của sự nên một hoàn hảo tiếp liền sau đó, khi đã vượt hết phần thứ ba, nên cũng có thể nói rằng phần đêm thứ ba này ít tăm tối hơn phần thứ hai.

2 - Phần đêm thứ hai tối hơn phần đầu, vì phần đầu chỉ chạm đến phần hạ đẳng của con người là phần cảm giác và do đó cũng là phần nằm ở mặt ngoài; còn phần thứ hai, tức là đêm tối đức tin chạm đến phần thượng đẳng của con người tức là phần lý trí, là phần nằm sâu ở trong và cũng tăm tối hơn, vì nó tước đoạt luôn cả ánh sáng của lý trí, hay nói đúng hơn, nó khiến lý trí bị mù tối. Do đó, đêm đức tin được so sánh rất xác đáng với nửa đêm, là phần thâm sâu nhất của đêm đen.

3 - Giờ đây chúng ta sẽ chứng minh làm thế nào phần thứ hai này, tức đức tin, lại là đêm đối với tâm trí, như phần thứ nhất đã là đêm đối với giác quan. Rồi sẽ nói đến những chướng ngại trong đêm ấy và linh hồn phải làm gì về mặt chủ động để vào được trong đó; còn về mặt thụ động, tức là những điều Thiên Chúa sẽ làm bất chấp phản ứng của linh hồn để đẩy nó vào đó, chúng ta sẽ nói sau, ở nơi thích hợp, tức là cuốn ba (Đêm dày).

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2024

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 2 - Chương 1: Ca khúc thứ hai



ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 2

- MỤC LỤC:

CHƯƠNG 1 Ca khúc thứ hai
CHƯƠNG 2 Đức tin *
CHƯƠNG 3 Lý do khiến đức tin là đêm tối *
CHƯƠNG 4 Cần đi qua đêm đen *
CHƯƠNG 5 Bản chất sự nên một *
CHƯƠNG 6 Ba nhân đức hướng thần và ba quan năng *
CHƯƠNG 7 Đường hẹp của trí hiểu *
CHƯƠNG 8 Không gì trong giới tự nhiên có thể trực tiếp giúp nên một với Thiên Chúa *
CHƯƠNG 9 Đức tin giúp nên một với Thiên Chúa *
CHƯƠNG 10 Đôi điều cần phân biệt *
CHƯƠNG 11 Những khoái cảm tâm linh qua giác quan *
CHƯƠNG 12 Các nhận thức tưởng tượng tự nhiên không thể giúp nên một với Thiên Chúa *
CHƯƠNG 13 Những dấu hiệu phải có *
CHƯƠNG 14 Cần có đủ ba dấu hiệu*
CHƯƠNG 15 Khi mới tiếp cận*
CHƯƠNG 16 Những nhận thức tưởng tượng*
CHƯƠNG 17 Mục đích các ơn ban*
CHƯƠNG 18 Những vị linh hướng bị lầm lạc*
CHƯƠNG 19 Tại sao ta dễ bị gạt*
CHƯƠNG 20 (Vì sao không chắc chắn?*)
CHƯƠNG 21 Sự tò mò không cần thiết*
CHƯƠNG 22 Tại sao không được phép?*
CHƯƠNG 23 Những nhận thức thuần tâm linh*
CHƯƠNG 24 Hai loại thị kiến tâm linh*
CHƯƠNG 25 Các mạc khải*
CHƯƠNG 26 Loại mạc khải thứ nhất*
CHƯƠNG 27 Loại mạc khải thứ hai*
CHƯƠNG 28 Những lời nói nội tâm*
CHƯƠNG 29 Những lời nói “liên tiếp”*
CHƯƠNG 30 Những lời trang trọng*
CHƯƠNG 31 Những lời nói thực thể*
CHƯƠNG 32 Những cảm xúc tâm linh*

***

QUYỂN 2

- Bàn về phương thế gần nhất để vươn tới chỗ nên một với Thiên Chúa, tức là về đức tin.
- Và về phần thứ hai của đêm dày thuộc phần tâm linh, được hàm chứa trong ca khúc thứ hai dưới đây.

CHƯƠNG 1
CA KHÚC THỨ HAI

Trong tăm tối và an toàn,
Cải trang, men theo cầu thang bí mật,
Ôi vận may diễm phúc!
Trong tăm tối và được che khuất,
Mái nhà tôi đã thật yên hàn.


1 - Trong ca khúc thứ hai này, linh hồn ca hát vận may diễm phúc nó có được nhờ lột bỏ khỏi tâm trí hết mọi bất toàn về tâm linh và mọi mê thích muốn chiếm hữu về mặt tâm linh. Vận may diễm phúc ấy thật lớn lao. Linh hồn đã gặp biết bao khó khăn mới giữ cho ngôi nhà được yên tịnh về mặt tâm linh, để tiến vào sự tăm tối bên trong. Có nghĩa là tâm trí được lột bỏ hết mọi sự, cả về khả giác lẫn về tâm linh, chỉ còn lại nguyên đức tin và chỉ nhờ đức tin ấy mà vươn tới Thiên Chúa.

Chính vì thế, ở đây đức tin được gọi là "thang" và "bí mật". Mọi bậc thang, tức là mọi tín điều của đức tin đều kín nhiệm vì bị che giấu với hết mọi giác quan và trí hiểu. Khi linh hồn lìa bỏ mọi giới hạn tự nhiên và hợp lý, để vươn lên nhờ thang đức tin ấy của Thiên Chúa, nó chìm trong tăm tối, không có một chút ánh sáng nào của giác quan và trí hiểu, chỉ còn nhờ đức tin mà leo lên và tiến vào tận những miền sâu thẳm của Thiên Chúa.
Linh hồn nói rằng nó "cải trang" mà ra đi. Có nghĩa là, nhờ đức tin hướng dẫn tiến lên, nó được đổi khác từ tư trang y phục đến dáng dấp hành động tự nhiên, tất cả đều được biến đổi, mang lấy tính cách thần linh. Chính nhờ sự cải trang ấy, linh hồn không bị điều gì của thế tục, của lý trí hoặc của ma quỷ phát hiện và cầm giữ lại. Không một điều gì trong ba thứ ấy có thể làm hại nó khi nó tiến bước trong đức tin.

Không những thế, lúc đó, linh hồn còn được giấu ấn, che chở và giữ xa mọi mưu chước của ma quỷ, đến độ quả đúng là nó tiến bước trong "tăm tối và được che khuất". Đây có ý nói là được che khuất khỏi sự dòm ngó của ma quỷ, vì đối với ma quỷ thì ánh sáng đức tin còn tăm tối hơn cả bóng tối nữa.

Như thế, khi linh hồn đi bằng nẻo ấy, ta có thể nói rằng nó được che giấu và bảo vệ không để cho ma quỷ thấy được.

2 - Vì đó, linh hồn mới nói nó đã ra đi "trong tăm tối" và "an toàn". Thật vậy, ai có cơ may tiến bước qua nẻo tăm tối của đức tin, để cho đức tin dẫn dắt trong cảnh mù lòa, sẽ vượt hết mọi biểu thị tự nhiên và mọi lý lẽ tâm linh, mà tiến bước thật an toàn, như đã nói trên kia.

Linh hồn còn nói rằng nó đã ra đi trong đêm tâm linh ấy đang khi "mái nhà" nó, tức là phần tâm linh và lý trí, "đã thật yên hàn". Thật vậy, khi linh hồn đạt tới sự nên một với Thiên Chúa, thì những khả năng tự nhiên của nó, những mãnh lực và âu lo khả giác về mặt tâm linh, tất cả đều được chế ngự, thật yên tịnh. Vì thế ở đây linh hồn không bảo rằng nó đã ra đi với những âu lo, như trong đêm thứ nhất, đêm giác quan. Bởi vì, để bước đi trong đêm giác quan và tự lột bỏ những gì khả giác, cần phải cảm thấy những âu lo bồn chồn của tình yêu khả giác mới có thể ra đi được. Còn, để chế ngự cho ngôi nhà tâm linh được yên tịnh, chỉ cần chối bỏ hết mọi quan năng, mọi thích thú và mê thích tâm linh, chối bỏ trong một đức tin tinh tuyền. Làm được điều đó rồi, linh hồn được nối kết với Đức Tình Quân trong một sự nên một đơn giản, tinh tuyền, yêu mến và đồng hóa.

3 - Cũng phải ghi nhận thêm rằng trong ca khúc thứ nhất, khi nhắc tới phần giác quan, linh hồn bảo là nó đã ra đi trong đêm dày, còn ở đây khi nhắc tới phần tâm linh, nó lại nói mình ra đi trong tăm tối, bởi lẽ sự mù mịt nơi phần tâm linh lớn hơn và vì sự tăm tối vốn mù mịt hơn đêm. Thật vậy, đêm dù tăm tối tới đâu vẫn còn thấy lờ mờ được một chút gì, nhưng nơi chính sự tăm tối thì không còn xem thấy gì hết. Trong đêm giác quan cũng còn chút ánh sáng, vì trí hiểu và lý trí chưa bị mù. Còn đêm tâm linh, tức là đức tin, thì thiếu hẳn mọi ánh sáng, cả nơi trí hiểu lẫn nơi giác quan. Do đó linh hồn mới bảo rằng nó tiến bước "trong tăm tối và an toàn", điều mà trong đêm giác quan nó không nói. Thật vậy, linh hồn càng ít hoạt động nhờ tài năng riêng, càng tiến bước an toàn, vì càng tiến bước trong đức tin. Đó là điều sẽ được bàn sâu rộng trong cuốn thứ hai này, xin bạn đọc lưu tâm, vì chúng tôi sẽ nói đến điều rất quan trọng trên đường tâm linh đích thật. Hẳn sẽ có những điểm hơi tối, nhưng tất cả đều đan dệt với nhau, nên chúng sẽ soi sáng lẫn cho nhau, và tôi tin rằng, mọi người sẽ hiểu được thấu đáo.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)
 

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2024

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 1 - Chương 15: Giải nghĩa các câu thơ còn lại của ca khúc

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 1

CHƯƠNG 15
GIẢI NGHĨA CÁC CÂU THƠ CÒN LẠI CỦA CA KHÚC *

Ôi vận may diễm phúc!
Tôi đã ra đi không bị để ý,
Mái nhà tôi giờ thật yên hàn.

1 - Linh hồn dùng một ẩn dụ để nêu rõ tình cảnh tù đày đáng thương. Ai trốn được nơi đó mà không bị người cai tù nào ngăn cản đều coi đó là vận may diễm phúc. Quả thật, từ sau tội tổ tông, linh hồn chẳng khác nào bị cầm tù trong cái thân xác hay chết này, phải lụy thuộc các xúc cảm và mê thích tự nhiên. Một khi được thoát khỏi vòng vây, không còn lụy thuộc chúng, linh hồn tự cho mình gặp "vận may diễm phúc" vì đã ra đi mà không bị để ý - tức là không bị một mê thích nào ngăn cản và cầm giữ.

2 - Để được như thế, linh hồn đã tranh thủ ra đi trong "đêm dày", tức là trong sự lột bỏ hết mọi thích thú và giết chết mọi mê thích, theo cách thức chúng tôi đã nói. Còn câu "mái nhà tôi giờ thật yên hàn" nhằm nói rằng phần giác quan, là nhà của mọi mê thích, từ nay được bình an do các mê thích đã bị chế ngự và thiếp ngủ. Thật vậy, bao lâu các mê thích chưa thiếp ngủ nhờ nhục dục bị giết chết, bao lâu nhục dục chưa bị dẹp yên đến độ không còn quấy rầy phần tâm linh nữa, thì linh hồn vẫn chưa đạt được tự do chân chính, để vui hưởng ơn nên một với Đức Tình Quân của mình đâu.

*** Hết cuốn thứ nhất. ***

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2024

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 1 - Chương 14: Giải nghĩa câu thứ hai của ca khúc



ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 1

CHƯƠNG 14
GIẢI NGHĨA CÂU THỨ HAI CỦA CA KHÚC *

“Nồng nàn yêu thương và âu lo”

1 - Chúng tôi đã giải nghĩa câu thứ nhất của ca khúc, câu bàn đến giác quan, giúp hiểu thế nào là đêm giác quan và tại sao lại gọi nó là đêm. Chúng tôi cũng đã nêu rõ phải theo trật tự và phương thế nào để lao vào đó cách chủ động. Bây giờ đến lúc phải bàn về những đặc tính và hậu quả kỳ diệu của nó, là những điều chứa đựng trong các câu kế tiếp của ca khúc. Tôi chỉ xin nói thật giản lược, xoáy thẳng vào trọng tâm để giải nghĩa mấy câu thơ ấy, như tôi đã hứa trong lời tựa. Rồi tôi sẽ đi ngay sang cuốn thứ hai của đêm tối này, tức là đêm tâm linh.

2 - Linh hồn nói rằng "trong khi nồng nàn yêu thương và âu lo", nó vượt qua và lao vào đêm dày của giác quan để nên một với Đức Lang Quân. Bởi vì, nhằm vui hưởng các mê thích, lòng muốn đã thường yêu chuộng chúng và nghiêng chiều về chúng đến độ cháy bừng, cho nên muốn chiến thắng hết mọi mê thích và từ bỏ lòng mê thích mọi sự, nó cần phải có một sự nồng nàn khác lớn hơn, do một tình yêu khác lớn hơn, tức là tình yêu của Đức Tình Quân của nó. Một khi có được sự thích thú và sức mạnh nơi Ngài, lòng muốn sẽ có được nghị lực và sự kiên trì để dễ dàng từ bỏ hết mọi tình yêu khác.

Để chiến thắng sức mạnh của các mê thích thuộc giác quan, không những cần phải có lòng yêu mến Đức Tình Quân, mà còn phải nồng nàn yêu thương và âu lo. Thực vậy, kinh nghiệm cho thấy bản tính khả giác của chúng ta bị đánh động và cuốn hút vào các sự vật khả giác với biết bao âu lo vì mê thích, đến nỗi nếu phần tâm linh không cháy bừng bằng chính yếu tố tâm linh với những âu lo còn lớn hơn nữa, thì sẽ không thể nào lướt thắng cái ách tự nhiên, để tiến vào đêm giác quan, và sẽ không có đủ can đảm tự tước đoạt khỏi lòng mê thích mọi thụ tạo để ở trong tình trạng tăm tối đối với mọi sự.

3 - Tuy nhiên ở đây chúng tôi không nói về bản chất và số lượng những nỗi lo âu của tình yêu mà các linh hồn cảm thấy trong những bước đầu của con đường kết hiệp nên một này; cũng không nói về những sự hối hả và những khám phá linh hồn phải làm để ra khỏi nhà (tức là ý riêng), trong đêm tối (tức là sự giết chết các giác quan). Chúng tôi cũng không nói những âu lo dành cho Đức Tình Quân như thế đã giúp linh hồn vượt qua những lao nhọc và nguy hiểm của đêm ấy dễ dàng biết bao và cảm thấy êm ái ngọt ngào đến ngần nào. Đây không phải chỗ để bàn đến những chuyện ấy, đàng khác, đó cũng là những điều không thể diễn tả. Cảm nghiệm được và chiêm ngắm được những điều ấy thì tốt hơn là viết nó ra. Do đó, chúng tôi xin bước qua giải thích các câu thơ còn lại ở chương tiếp đây.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2024

Lời nguyện của Chị Thánh Tiên-Sa Nhỏ

 


Lời nguyện 20
CẦU XIN ƠN KHIÊM NHƯỜNG (*)
Ôi Giêsu!

16/7/1897

Ôi Giêsu! Khi còn là một Lữ Khách trên trần gian, Chúa đã nói: “Hãy học cùng tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng" (Mt 11,29).

Ôi Quốc Vương Thiên Đàng Quyền Năng, vâng, linh hồn con tìm được sự nghỉ ngơi khi nhìn thấy Chúa, mặc lấy thân nô lệ (Pl 2,7), hạ mình đến mức rửa chân cho các tông đồ (Ga 13,5). Bây giờ con nhớ lại những lời Chúa nói để dạy cho con biết khiêm nhường: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà... Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em" (Ga 13,15-17). Con hiểu những lời ấy, lạy Chúa, những lời phát xuất từ Tấm Lòng hiền hậu và khiêm nhường của Chúa (Mt 11,29), con muốn đem những lời ấy ra thực hành cùng với sự giúp sức của Chúa.

Con muốn hạ mình khiêm nhường và đặt ý muốn của con vào ý định của các chị em con, không chút phản đối và không tìm hiểu xem các chị em có quyền ra lệnh cho con hay không [Xem sách Gương Chúa Giêsu, III, 49, 7 và CSG, tr. 118]. Ôi lạy Đấng Chí Ái, chẳng ai có quyền gì đối với Chúa nhưng Chúa đã vâng phục, không chỉ với Đức Thánh Trinh Nữ và Thánh Giuse (Lc 2, 51), mà còn cả với những kẻ xử tử Chúa nữa. Giờ đây, chính là trong Bánh Thánh mà con nhìn thấy Chúa hoàn toàn hủy mình ra không [Chữ được sử dụng một lần duy nhất trong các bút tích]. Ôi lạy Đức Vua Thần Linh Vinh Hiến (Tv 23,7-9) thật là khiêm nhường biết bao khi Chúa chịu lụy tất cả các linh mục của Chúa mà không hề phân biệt trong số các ngài ai yêu mến Chúa và ai được Chúa yêu mến! ai hâm hẩm hay nguội lạnh trong việc phục vụ Chúa... Theo tiếng gọi của các ngài mà Chúa từ trời xuống, các ngài có thể cử hành Thánh lễ sớm, muộn, Chúa vẫn luôn sẵn sàng...

Ôi Đấng Chỉ Ái, dưới tấm mạng Bánh Thánh trắng tinh (Mt 11,29) Chúa xuất hiện với con thật đầy lòng hiền hậu và khiêm nhường! Để dạy con đức khiêm nhường. Chúa không thể hạ mình hơn được nữa, vì thế mà con muốn, để đáp lại tình yêu của Chúa, ước ao các chị em con luôn đặt mình vào chỗ rốt hết (Lc 14,10) và tin chắc rằng đó là chỗ của con.

Con nài xin Chúa, Ôi Giêsu Thần Linh, gửi đến cho con nhân đức khiêm nhường mỗi khi con tìm cách nâng mình lên hơn người khác.

Con biết, ôi lạy Chúa, Chúa hạ bệ linh hồn kiêu căng (Lc 14,11) nhưng linh hồn nào hạ mình xuống thì Chúa ban cho vinh quang đời đời, vì thế mà con muốn đặt mình vào nơi cuối hết (Lc 14,10), chia sẻ những hạ mình của Chúa (Ga 13,8) để “thông phần với Chúa" trong vương quốc Thiên Đàng.

Nhưng, lạy Chúa, Chúa biết sự yếu đuối của con; mỗi buổi sáng, con quyết định thực hành đức khiêm nhường 
và đến tối thì con lại nhận ra mình vẫn còn phạm quá nhiều lỗi kiêu ngạo, do đó con bị cám dỗ trở nên ngã lòng nhưng, con biết, sự ngã lòng cũng chính là kiêu ngạo, vậy lạy Chúa, con muốn đặt hết niềm cậy trông của con vào một mình Chúa; bởi vì Chúa có thể làm mọi sự, xin Chúa hãy đoái thương làm cho sinh ra trong linh hồn con nhân đức mà con ao ước. Để nhận được hồng ân từ lòng thương xót bất tận của Chúa, con sẽ luôn lặp lại: “Ôi Giêsu, có lòng hiển hậu và khiêm nhường, xin hãy làm cho trái tim con nên giống trái tim Chúa!" (Mt 11,29).

***
- Chú thích:

CẦU XIN ƠN KHIÊM NHƯỜNG

TƯ LIỆU: CE 11, 181r/183r. - Niên biểu 16/7/1897. - Viết cho chị Mácta Xuất bản: HA 07, tr. 307-308 (đã được hiệu đính); Những Lời Cầu Nguyện 1988, tr. 53.

Lời cầu nguyện này được viết cho chị Mácta Chúa Giêsu, nhân sinh nhật lần thứ 32 của chị này, ngày 16/7/1897 (được khẳng định bởi Thư 256). Bổn phận trợ sĩ quy định chị phải nghe lệnh của bất cứ nữ tu nào trong nhà, và tinh thần phản kháng của chị khiến cho việc vâng lời trở nên khó khăn. Do đó, Têrêxa mời gọi chị hãy nhìn vào "Chúa Giêsu có lòng hiến hậu và khiêm nhường". Cũng trong giai đoạn này, Têrêxa chỉ nói bằng cách ấy với các tập sinh, Marie Chúa Ba Ngôi (LT 264), Marie Thánh Thể (DE) và nhất là với chị Geneviève (LT 243).

Lời này của Chúa, được nhắc lại ba lần trong lời cầu nguyện, đặc biệt làm cho Têrêxa mạnh mẽ trải qua những tuần lễ cuối cùng của đời mình (x. "Cuốn Sổ Màu Vàng" của Mẹ Agnès Giêsu 15.5.3).

***

- Trích trong tác phẩm “Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu Và Thánh Nhan, quyển IV: Những Lời Cầu Nguyện – Những Trò Chuyện Sau Cùng – Các Ghi Chép Khác”. Bản dịch của Nôbertô Thái Văn Hiến, trang 64-67.

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 1 - Chương 13: Cách xử sự

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 1

CHƯƠNG 13
CÁCH XỬ SỰ *

Bàn về cách thế và phương tiện phải sử dụng để tiến vào đêm giác quan.

1 - Bây giờ xin nêu vài ý kiến để bạn biết và có thể tiến vào đêm giác quan. Muốn đạt mục đích này, cần biết rằng linh hồn thường tiến vào đêm giác quan bằng hai cách: hoặc chủ ý hoặc thuận tình. Chủ ý là tất cả những gì linh hồn có thể làm và thực sự đích thân làm để tiến vào đó, mà chúng tôi sẽ bàn trong những ý kiến dưới đây. Còn thuận tình là khi linh hồn không làm gì cả, chỉ có Thiên Chúa hành động trong nó, còn nó chỉ xử sự như người bị động. Về cách này chúng tôi sẽ nói trong cuốn thứ tư (tức Đêm dày) khi bàn về những người mới bắt đầu tiến trên đường tâm linh. Ở đó, với ơn Chúa giúp, tôi sẽ dành cho họ nhiều ý kiến dựa trên những điểm bất toàn đầy dẫy họ thường vấp phải trên con đường ấy, cho nên tôi sẽ không nói rộng ở đây. Lại nữa, đây không phải chỗ thích hợp, vì lúc này chúng ta chỉ bàn về những nguyên nhân khiến cho cuộc vượt qua này được gọi là đêm, về bản chất đêm này ra sao, và nó có mấy phần. Tuy nhiên, để khỏi quá ngắn ngủi và để độc giả không mất nhiều phần lợi ích vì không được cống hiến ngay một phương dược hoặc một lời khuyên giúp vượt qua tăm tối của các mê thích, ở đây cũng xin trình bày tóm tắt phương thế sẽ nói sau này. Tôi cũng sẽ làm như thế ở đoạn kết của cả hai cuốn sau, tức là khi nói về các nguyên nhân khác của đêm này, điều mà khi được ơn Chúa giúp, tôi sẽ bàn ngay.

2 - Những lời khuyên dưới đây về việc chiến thắng các mê thích thật vắn tắt và ít ỏi, nhưng thiết tưởng càng cô đọng lại càng ích lợi và hiệu nghiệm. Do đó, người nào thật tình muốn thực hiện thì không cần các lời khuyên khác nữa, bởi vì các lời khuyên này đã gồm tóm tất cả.

3 - Lời khuyên thứ nhất là hãy thường xuyên khao khát bắt chước Chúa Kitô trong hết mọi sự, tự uốn nắn theo khuôn mẫu cuộc đời Ngài, nghiền ngẫm cuộc đời Ngài thật kỹ để biết mà bắt chước, và trong hết mọi sự sẽ xử sự như chính Ngài xử sự.

4 - Lời khuyên thứ hai là, để thực hiện điều trên đây cho tốt, bất cứ sự thích thú nào mời mọc giác quan, nếu không nguyên vì danh dự và vinh quang Thiên Chúa, thì hãy từ bỏ và khai trừ vì lòng yêu mến Chúa Giêsu Kitô, là Đấng khi sống ở trần gian này đã không có cũng chẳng muốn có một sở thích hoặc ước muốn nào khác hơn là thi hành ý muốn của Cha Ngài, ý muốn mà Ngài gọi là của ăn, là lương thực của Ngài (x. Ga 4,34). Xin nêu một ví dụ. Tôi có một dịp được nghe thật thích thú về những điều chẳng quan hệ gì tới việc phục vụ Thiên Chúa, tôi sẽ không màng thích thú cũng không màng nghe. Hoặc nếu tôi thấy khoái cảm khi nhìn xem những điều không giúp tôi nghĩ đến Thiên Chúa hơn, tôi sẽ không màng sự thích thú ấy và sẽ không nhìn những điều ấy. Hoặc nếu có dịp được thích thú trong lời nói hay trong bất luận chuyện gì khác, tôi cũng xử sự tương tự như thế. Hãy làm cho mọi giác quan đều bị thất nghiệp mỗi khi có thể làm được như thế; còn nếu không thể được thì ít ra đừng ước ao thưởng thức những điều ấy, dù chúng cứ tuôn đến trong ta. Và như thế, ta cần sớm cố gắng giết chết các giác quan và khiến chúng nên vô cảm đối với sở thích ấy, tựa như chúng đã chìm trong tăm tối. Nếu biết chăm lo như vậy, chẳng bao lâu ta sẽ tiến bộ nhiều.

5 - Vậy, muốn giết chết và bình định bốn mối xúc cảm tự nhiên - là vui thỏa, hy vọng, sợ hãi và đau đớn - để cho sự bình lặng của chúng phát sinh những ơn lành khác nữa, cần áp dụng phương dược toàn diện sau đây, là nguyên nhân của công trạng đích thực và những nhân đức lớn:

6 - Ước gì linh hồn luôn chăm chú quay hướng về:
- Không phải cái dễ hơn, nhưng là cái khó hơn,
- Không phải cái ngon ngọt hơn, nhưng là cái nhạt nhẽo hơn;
- Không phải cái thích thú hơn, nhưng là cái không thích thú mấy;
- Không phải sự an nghỉ, nhưng là sự nặng nhọc;
- Không phải niềm an ủi, nhưng là sự phiền muộn;
- Không phải cái hơn, nhưng là cái kém;
- Không phải cái cao hơn, quý hơn, nhưng là cái thấp hơn và bị khinh chê hơn;
- Không phải phía muốn đôi điều, nhưng là về phía không muốn gì cả;
- Không nhằm cái khá hơn trong các sự vật trần gian, nhưng nhằm cái tệ hơn, và khao khát vì Đức Kitô mà lao vào sự hoàn toàn trần trụi, trống không và nghèo khó đối với hết mọi sự ở trần gian.

7 - Cần phải ôm lấy những việc ấy với cả tấm lòng và phải cố gắng ép lòng muốn theo đó. Nếu biết tận tình thực hiện các điều ấy, thì chỉ trong ít lâu người ta sẽ tìm thấy nơi chúng một niềm hoan lạc và an ủi lớn lao, khi người ta thực hiện cách trật tự và khôn ngoan.

8 - Những điều nêu trên, nếu được thực hiện cẩn thận, đã đủ để đi vào đêm giác quan. Tuy nhiên, để dồi dào hơn, chúng tôi xin nói thêm một cách thao luyện dạy cho ta biết giết chết đam mê của xác thịt, đam mê của con mắt và sự kiêu hãnh về sức sống [Nguyên văn “. . . và sự kiêu hãnh về của cải” (1Ga 2,16)], là những điểm thánh Gioan nói là hiện đang thống trị trong thế gian, và tự chúng, phát sinh hết mọi mê thích khác.

9 - Thứ nhất, khi hành động, hãy cố gắng sao để tự khinh chê mình và ao ước cho hết mọi người làm như thế.
      Thứ hai, khi nói, hãy cố gắng sao để tự khinh chê mình và ao ước hết mọi người làm như thế.
      Thứ ba, khi suy nghĩ, hãy cố gắng sao để tự khinh chê mình và ao ước hết mọi người làm như thế.

10 - Để kết luận về những ý kiến và quy luật này, thiết tưởng nên ghi lại đây những lời đã ghi nơi hình vẽ Đường Lên Núi Cát Minh ở đầu sách này. Những lời này chỉ dẫn về việc lên đỉnh núi là cao điểm của ơn nên một. Một đàng, chúng bàn đến những điều thuộc tâm linh và bên trong, nhưng một đàng cũng nói về phần tâm linh còn bất toàn theo cảm giác và bên ngoài, như đã có chỉ rõ trên hai con đường ở bên cạnh đường hoàn thiện. Và do đó, ở đây chúng ta hiểu theo bình diện khả giác; rồi trong phần thứ hai của đêm này, chúng ta sẽ hiểu theo bình diện tâm linh.

11 - Những ý kiến ấy như sau:
- Để đạt tới chỗ thỏa mãn trong mọi sự, đừng tìm thích riêng một điều gì.
- Để đạt tới chỗ chiếm hữu tất cả, đừng muốn chiếm hữu một chút gì của bất cứ điều chi.
- Để đạt tới chỗ là tất cả, đừng muốn được là một chút gì trong bất cứ điều chi.
- Để đạt tới chỗ biết tất cả, đừng tìm biết một chút gì trong bất cứ điều chi.
- Để đạt tới chỗ không còn cảm nếm, hãy đi qua nơi bạn không nếm.
- Để đạt tới chỗ không còn biết, hãy đi qua nơi bạn không biết.
- Để đạt tới chỗ không còn chiếm hữu, hãy đi qua nơi bạn không chiếm hữu.
- Để đạt tới chỗ bạn không là, hãy đi qua nơi bạn không là.

12 - Phương thế để khỏi ngăn cản cái tất cả:
- Khi bạn dừng lại ở một điều gì đó, là bạn không còn lao mình vào tất cả.
- Bởi vì, để đi từ tất cả đến tất cả, bạn phải bỏ mình về tất cả trong tất cả.
- Và một khi bạn đạt tới chỗ có tất cả, phải làm sao để có mà chẳng muốn gì.
- Và nếu bạn muốn có một điều gì trong tất cả, thì bạn không còn hoàn toàn có được kho tàng của bạn trong Thiên Chúa.

Chính trong sự trần trụi ấy, linh hồn tiến trên đường tâm linh tìm được sự an tĩnh và nghỉ ngơi. Thật vậy, khi nó không ao ước gì, thì từ bên trên không có gì làm nó mệt và từ bên dưới không có gì áp bức nó, vì nó ở ngay tại tâm điểm sự khiêm nhường của nó; còn khi nó ao ước một điều gì thì nó sẽ mệt mỏi nơi chính điều ấy.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2024

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 1 - Chương 12: Tác hại dây chuyền và đồng bộ

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 1

CHƯƠNG 12
TÁC HẠI DÂY CHUYỀN VÀ ĐỒNG BỘ *

Chương này giải thích rõ đâu là những mê thích đủ sức gây cho linh hồn những thiệt hại đã nêu.

1 - Thiết tưởng còn có thể nói rộng nói dài về vấn đề đêm giác quan này, vì còn lắm điều phải nói về những tác hại mà các mê thích gây ra, không những theo mấy cách thế đã trình bày, mà còn theo nhiều cách thế khác nữa. Tuy nhiên, theo mục đích chúng tôi tự đề ra, những điều nói trên đây đã tạm đủ. Có lẽ bấy nhiêu cũng đủ giúp hiểu tại sao lại gọi việc giết chết các mê thích là đêm tối, và tại sao cần phải lao vào đêm ấy để đến với Thiên Chúa. Nhưng trước khi nêu rõ linh hồn phải lao vào đó cách nào, và cũng để kết thúc phần này, còn phải làm sáng tỏ vấn nạn mà độc giả có thể gặp phải về những gì đã nói.

2 - Vấn nạn ấy gồm hai điểm: Một là, phải chăng bất cứ mê thích nào cũng đủ tạo nên trong linh hồn hai tác hại đã bàn đến: Một tác hại ngăn cản, tức là khiến linh hồn mất ơn thánh Chúa, và một tác hại gây rối, gây cho linh hồn năm thiệt hại chính đã nêu trên. Điểm thứ hai là, phải chăng bất cứ mê thích nào, dù hết sức nhỏ bé, thuộc bất cứ loại nào, cũng đủ sức gây ra hết mọi thiệt hại ấy cùng một trật, hay chỉ là, một số mê thích gây nên những thiệt hại này và những mê thích gây những thiệt hại khác, chẳng hạn một số mê thích gây dằn vặt, một số khác gây mệt mỏi, và một số khác lại gây tăm tối v. v...

3 - Về điểm thứ nhất, xin thưa, nếu nói tới tác hại ngăn cản, khiến linh hồn mất ơn Chúa, thì chỉ những mê thích tự ý và mang tính chất tội trọng mới có thể gây nên tác hại ấy cách dứt khoát, cướp mất ơn thánh ở đời này và cướp mất vinh quang ở đời sau, không cho ta được chiếm hữu Thiên Chúa.

Còn về điểm thứ hai, xin thưa: Cả những mê thích đưa đến tội trọng, những mê thích hữu ý đưa đến tội nhẹ, cho tới những mê thích chỉ mang tính chất là những điều bất toàn, mỗi một mê thích đều đủ sức cùng một lúc tạo nên hết mọi thiệt hại gây rối trong linh hồn. Những thiệt hại này càng lúc càng đẩy linh hồn hướng về thụ tạo, cũng y như tác hại ngăn cản hỗ trợ cho việc quay lưng với Thiên Chúa.

Tuy nhiên giữa các mê thích vẫn có điểm khác biệt: Những mê thích thuộc tội trọng gây nên sự mù tối, khổ hình, nhơ nhớp, yếu nhược toàn diện... Còn những mê thích khác thuộc tội nhẹ hoặc chỉ là những điều bất toàn thì không gây những tác hại ấy cách toàn diện và dứt điểm, vì chúng không tước đoạt được ơn thánh (nếu tước đoạt được thì chúng đã bắt linh hồn phải nằm dưới sự thống trị của chúng, bởi lẽ cái chết của ơn thánh đem lại sự sống cho chúng). Tuy nhiên chúng vẫn đẻ ra được đôi điều trong các tác hại ấy, dù ở mức độ yếu ớt hơn và tùy sự suy yếu của ơn thánh mà chúng tạo ra trong linh hồn. Theo đó, mê thích nào càng khiến ơn thánh nguội đi, càng gây nên nhiều khổ hình, mù tối và nhơ nhớp hơn.

4 - Cần lưu ý rằng mặc dầu mỗi mê thích đều gây ra những tác hại gây rối trên đây, nhưng trong đó, một số thì chủ yếu và trực tiếp gây những tác hại này, một số gây các tác hại khác; và những mê thích khác cũng vậy. Mê thích nhục dục cũng gây ra tất cả các tác hại ấy, nhưng cốt yếu và đặc thù của nó là làm nhơ nhớp cả linh hồn và thân xác. Mê thích thuộc tính hà tiện cũng gây ra tất cả các tác hại ấy, nhưng chính yếu và trực tiếp, nó gây nên sầu muộn. Mê thích hư danh cũng gây ra hết mọi tác hại, nhưng chính yếu và trực tiếp, nó gây ra tăm tối và mù quáng. Sự mê ăn uống cũng gây ra hết mọi tác hại nhưng chính yếu là nó khiến người ta lãnh đạm với đường nhân đức. Về các mê thích khác cũng tương tự như thế...

5 - Sở dĩ bất cứ tác động nào của một mê thích hữu ý đều cùng một lúc gây ra trong linh hồn hết mọi hậu quả ấy, chính là vì nó trực tiếp đối nghịch với hết mọi tác động nhân đức đang làm phát sinh trong linh hồn những hậu quả trái ngược. Một tác động nhân đức làm phát khởi và sinh ra trong linh hồn cùng một lúc vừa sự dịu dàng, bình an, an ủi, ánh sáng, sự trong suốt và sức mạnh, còn một mê thích vô trật tự gây ra dằn vặt, khổ não, mệt mỏi, mù tối và yếu nhược. Việc thực hành một nhân đức làm cho mọi nhân đức được lớn lên, ngược lại, việc chiều theo chỉ một nết xấu thôi cũng đủ làm lớn mạnh hết mọi nết xấu khác và các hậu quả của chúng trong linh hồn. Ngay khi chiều theo sự mê thích người ta không thấy được tất cả mọi tác hại ấy - vì lúc ấy người ta đang mải mê với sự thích thú nó đem lại, nhưng sớm muộn người ta sẽ cảm thấy rõ các tác hại nó để lại. Điều ấy được biểu thị nơi cuốn sách thiên thần đã ra lệnh cho thánh Gioan phải ăn (x. Kh 19,9): Mới ngậm vào miệng thì thấy ngon ngọt nhưng nuốt vào bụng rồi lại gây cay đắng. Cũng vậy, các mê thích khi vừa mới chiều theo thì dịu ngọt và có vẻ tốt lành, nhưng sau đó người ta sẽ cảm thấy cay đắng. Những ai đã từng buông mình theo mê thích có thể nhận thấy rõ điều ấy. Dĩ nhiên cũng có một số người bị mù tối và vô cảm đến độ không còn cảm thấy được chuyện ấy; họ không nghĩ tới chuyện tiến bước trong Thiên Chúa, nên không thấy được những gì ngăn cản họ đạt tới Ngài.

6 - Ở đây tôi không nhắm nói về những mê thích tự nhiên khác không mang tính hữu ý, cũng không nhắm nói về những tư tưởng không vượt qua những rung động sơ khởi, và không nhắm nói về nhiều cám dỗ mà người ta không chiều theo, bởi vì tất cả những điều ấy không gây nên trong linh hồn một tác hại nào trong những tác hại kể trên. Thật vậy, mặc dầu sự náo loạn và đam mê chúng quấy lên trong lúc ấy khiến cho người bị thử thách có cảm tưởng chúng đã làm họ bị nhơ nhớp và mù quáng, nhưng thật ra không phải vậy, mà đúng hơn, chúng còn nên cớ cho họ được những lợi ích ngược hẳn. Tùy theo sức chiến đấu chống cự của họ nhiều hay ít, mà họ được thêm sức mạnh, sự tinh ròng, ánh sáng và niềm an ủi, cùng với nhiều ơn lành khác, như lời Chúa đã phán với thánh Phaolô: Quyền năng được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối (2Cr 12,9).

Trong khi đó, những mê thích hữu ý sẽ sinh ra hết mọi tác hại chúng tôi đã nói tới, và còn nhiều hơn nữa. Vì thế, bận tâm chính yếu của các bậc thầy tâm linh là đòi hỏi các môn đệ phải giết chết ngay bất cứ một mê thích nào, và ở lại trong sự “rỗng không” đối với những điều họ mong ước, ngõ hầu được giải thoát khỏi tình trạng khốn nạn kinh khủng ấy.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2024

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 1 - Chương 11: Diệt hẳn mê thích



ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 1

CHƯƠNG 11
DIỆT HẲN MÊ THÍCH *

Chương này chứng minh rằng muốn đạt tới sự nên một với Thiên Chúa, linh hồn cần phải lột bỏ hết mọi mê thích, cả những mê thích hết sức nhỏ nhặt.

1 - Có lẽ từ lâu độc giả đã muốn hỏi xem: Để đạt tới bậc hoàn thiện cao ấy, có cần phải giết chết hoàn toàn mọi mê thích cả lớn lẫn nhỏ chăng? Hay chỉ cần giết một số mê thích nào đó và bỏ qua một số khác, ít là những mê thích không mấy quan trọng? Bởi thật là gay go và hết sức khó khăn để linh hồn có thể đạt được sự tinh tuyền và trần trụi, đến độ chẳng còn tha thiết và nghiêng chiều về bất cứ một điều gì!

2 - Về vấn đề này, xin trả lời như sau: Trước hết, không phải mọi mê thích đều gây hại như nhau, và cản trở linh hồn ngang nhau, vì có những mê thích hữu ý và những mê thích theo phản ứng tự nhiên. về những mê thích theo phản ứng tự nhiên (vốn là chuyện ngoài ý muốn), ta không thể nào tẩy trừ chúng, tức là không thể nào hoàn toàn giết sạch chúng ngay ở đời này, nên bao lâu ta không ưng theo chúng và chúng không vượt quá những rung động tự nhiên (tức là tất cả những rung động mà trong đó lòng muốn tự do không hề dự phần chút nào, cả trước lẫn sau), thì chúng ít ngăn cản hoặc không ngăn cản linh hồn trên đường nên một. Đàng khác những mê thích ấy, dù không hoàn toàn bị giết chết vẫn không ngăn cản được ta đến nỗi không thể nào vươn tới sự nên một với Chúa, vì ngay cả khí chúng cứ bám chặt lấy bản tính tự nhiên, thì về mặt tâm linh hữu trí, linh hồn vẫn có thể rất tự do. Lắm khi còn có thể xảy ra tình trạng: Linh hồn đã vận dụng lòng muốn để nên một sâu xa trong nguyện gẫm an tĩnh rồi, mà những mê thích ấy vẫn cứ cựa quậy trong phần cảm giác của con người, dù ở phần thượng tầng, linh hồn đang mải mê cầu nguyện, chẳng can dự gì với chúng.

Còn đối với tất cả những mê thích có tính cách hữu ý, nếu ta muốn đạt tới sự nên một toàn diện, thì nhất thiết phải diệt sạch, phải khử sạch khỏi linh hồn từ những điều trầm trọng đưa đến tội nặng cho tới những điều ít trầm trọng hơn chỉ đưa tới tội nhẹ, và cả đến những điều nhỏ mọn chỉ đưa tới những bất toàn, dù là những bất toàn nhỏ bé nhất. Lý do là vì bậc nên một với Thiên Chúa cốt ở chỗ linh hồn giữ cho ý muốn mình được hoàn toàn biến đổi sang ý muốn Thiên Chúa, đến nỗi không còn điều gì trái nghịch với ý muốn này, nhưng trong hết mọi sự và đối với mọi vấn đề, nó chỉ còn chuyển động theo ý Thiên Chúa muốn mà thôi.

3 - Trong tình trạng nên một ấy, hai ý muốn biến thành một, thành ý muốn Thiên Chúa, đến nỗi ý muốn Thiên Chúa cũng là ý muốn của linh hồn. Nếu linh hồn này còn tha thiết với một điều bất toàn nào đó, là điều Thiên Chúa không muốn, thì chưa đạt tới chỗ có cùng một ý muốn với Thiên Chúa, vì còn muốn điều Thiên Chúa không muốn. Do đó, nếu linh hồn muốn hoàn toàn nên một với Thiên Chúa bằng tình yêu và lòng muốn, trước tiên phải khử trừ hết mọi mê thích trong ý muốn, ngay cả những mê thích nhỏ bé nhất. Tức là, khi đã nhận biết rồi thì không được cố ý thuận tình muốn bất cứ một điều bất toàn nào, nhưng phải hết sức tự chủ và vận dụng tự do để cự tuyệt ngay khi vừa thoáng thấy nó. Tôi nói: “Khi đã nhận biết”, bởi lẽ thường thì do lơ đãng, do vô tình hoặc do thiếu năng lực, linh hồn vẫn rất dễ rơi vào những điều bất toàn, vào tội nhẹ và những mê thích tự nhiên. Những tội như vậy không do cố ý, tựa như là những điều lén lút đột nhập, nên có lời viết: "Người công chính ngã bảy lần còn chỗi dậy được" (Cn 24,16). Thế nhưng còn các mê thích có tính cách hữu ý, đưa đến những tội nhẹ cố ý, dù chỉ là những điều hết sức nhỏ, nếu người ta không lướt thắng thì cũng đủ gây ngăn trở (cho sự nên một với Thiên Chúa). Còn về những thói quen đã bị giết chết, dù lắm lúc một số tác động thuộc những mê thích khác nhau còn xuất hiện nhưng chúng không gây tác hại nhiều. Dĩ nhiên, ta vẫn phải quyết khai trừ chúng, bởi lẽ chúng còn phát sinh được cũng là do một một điểm bất toàn đã thành thói quen. Còn những thói quen về những điều bất toàn hữu ý, mà người ta không bao giờ chịu chiến thắng cho dứt khoát thì không những chúng ngăn trở việc nên một với Thiên Chúa mà còn cản trở cả bước đường hoàn thiện nữa.

4 - Có những bất toàn đã thành thói quen thường gặp như: thói nói nhiều, để lòng quyến luyến một điều nào đó không bao giờ muốn thắng vượt, chẳng hạn đối với một người, một bộ quần áo, một quyển vở, một căn phòng, một loại đồ ăn, một kiểu chuyện gẫu, sở thích thưởng thức điều này, điều nọ, muốn biết, muốn nghe và nhiều chuyện khác tương tự... Bất cứ điều gì trong những bất toàn ấy, mà linh hồn quyến luyến thành quen đi, cũng đều gây biết bao thiệt hại cho khả năng tăng trưởng và tiến bộ về nhân đức. Có thể nói nếu mỗi ngày người ta vấp phải nhiều bất toàn khác và nhiều tội nhẹ riêng rẽ, nhưng là những điều không phát sinh từ một thói quen thường xuyên của một tính xấu thường xuyên nào đó, thì có lẽ vẫn không bị ngăn trở cho bằng trường hợp linh hồn tha thiết với một vật nào đó. Bao lâu còn bị ràng buộc vào đó, dù sự bất toàn ấy chỉ là một chuyện không đâu, linh hồn vẫn không thể tiến tới trên con đường hoàn thiện. Một con chim đã bị cột thì cột bằng một sợi chỉ mảnh mai hay bằng một sợi dây lớn có khác gì mấy? Dù sợi chỉ có mảnh mai đến đâu, bao lâu con chim chưa giựt đứt được để bay đi thì vẫn còn mất tự do như bị cột bằng sợi dây lớn. Thực ra, sợi chỉ thì dễ bứt đứt hơn, nhưng dù dễ dàng đến đâu, nếu không chịu giựt đứt, vẫn không thể nào cất cánh. Đó cũng chính là tình trạng của một linh hồn còn dính bén với một thụ tạo. Dù có nhiều nhân đức, nó vẫn sẽ không đạt được sự tự do của ơn nên một với Thiên Chúa. Mê thích và sự dính bén nơi linh hồn có đặc tính giống như đặc tính mà người ta gán cho loại “cá ép” đối với chiếc tàu. Dù chỉ là một con cá bé tí, một khi đã ép mình vào chiếc tàu nào, nó làm cho chiếc tàu ấy phải đứng yên không thể nào tới bến hoặc chạy thêm được [Theo một huyền thoại hàng hải thời xưa ở bên Tây (ND - chú thích của người dịch)]. Thật vậy, quả là đáng thương hại cho nhiều linh hồn, chẳng khác nào những chiếc tàu giàu có, chất đầy mọi thứ phong phú, các công trình, các cuộc linh thao, các nhân đức và các hồng ân Thiên Chúa ban cho họ, vậy mà vì không có can đảm dứt bỏ một sở thích nhỏ, một điều tha thiết hay một nghiêng chiều nào đó (thật ra những thứ ấy chỉ là một), họ chẳng bao giờ tiến lên được, cũng không cập được bến hoàn thiện, dù họ chỉ cần vỗ cánh một cái cho đứt hẳn sợi dây ràng buộc, chỉ cần gỡ bỏ con cá ép tí teo của mê thích đang phá rầy là xong.

5 - Thiên Chúa đã làm cho họ cắt đứt được nhiều sợi dây thật lớn trói buộc vào những điều tội lỗi và những chuyện hão huyền, thế nhưng thật đáng tiếc, chỉ vì không chịu từ bỏ một chuyện trẻ con mà Thiên Chúa dạy họ phải thắng vượt để tỏ lòng yêu mến Ngài — một sự ràng buộc không lớn hơn sợi chỉ hay sợi tóc — nên họ đã bỏ cuộc, không đạt tới được ơn lành lớn lao dường ấy. Tệ hơn nữa, vì chút quyến luyến ấy, chẳng những họ không tiến bước mà còn thụt lùi, bỏ mất cả những bước đã tiến và đạt được từ bao lâu nay với bao công lao khó nhọc. Vì ai cũng biết rõ rằng trên con đường này không tiến là lùi, không được là thua. Chính Chúa đã muốn dạy chúng ta điều ấy khi Ngài nói: "Ai không đi với Ta tức là chống lại Ta, và kẻ không cùng Ta thu họp tức là làm tan tác" (Mt 12,30). Ai không để ý trám lại vết nứt nhỏ trên chiếc bình, sẽ mất hết thứ chất lỏng chứa bên trong. Sách Huấn ca dạy chúng ta rằng: "Ai khinh lợi nhỏ sẽ khánh kiệt" (Hc 19,1), tức là ai khinh chê những điều nhỏ mọn sẽ dần dần sa ngã. Sách còn nói thêm: "Một tia lửa nhen cả lò than" (Hc 11,32), tức là tự một tia lửa thôi, ngọn lửa sẽ bùng lên. Một điểm bất toàn đủ để kéo theo một điểm bất toàn khác và những điểm này lại kéo theo nhiều điểm khác nữa. Thành thử không bao giờ có chuyện một linh hồn lơ là trong việc lướt thắng một mê thích mà lại không mắc phải nhiều mê thích khác, phát sinh từ chính sự yếu đuối và bất toàn của linh hồn đối với mê thích mà nó cần thắng vượt. Và do đó, nó luôn đi đến chỗ sa ngã. Chúng ta cũng đã từng thấy nhiều người vốn được Thiên Chúa ban ơn tiến mau trong việc từ bỏ triệt để và sống tự do tâm linh; thế rồi, chỉ vì họ lại để mình dính bén với một nghiêng chiều nào đó, dưới một danh nghĩa việc lành, trao đổi chuyện trò hoặc tình bạn, mà mất dần tinh thần nhiệt thành, sự cảm nếm Thiên Chúa, cũng như sự cô tịch thánh thiện và rồi mất hẳn niềm vui thỏa và sự bền bỉ tập luyện linh thao. Họ đi đến chỗ mất hết tất cả, bởi lẽ ngay từ đầu không chịu khai trừ chút sở thích và mê thích thuộc giác quan để giữ cho mình được cô tịch mà đến với Thiên Chúa.

6 - Trên con đường này, muốn đạt đích thì phải luôn luôn bước đi. Muốn vậy, phải luôn luôn giết chết các ao ước, không được duy trì chúng. Nếu không tẩy sạch hết, sẽ không thể nào đạt đích. Củi sẽ không biến thành lửa nếu còn thiếu độ nóng cần thiết, dù chỉ một độ hết sức nhỏ. Cũng thế, linh hồn sẽ không biến hóa nên Thiên Chúa, nếu còn bất toàn ở một điểm, dù chỉ là một bất toàn không đáng gì so với một mê thích hữu ý. Như chúng ta sẽ bàn tới sau này trong đêm tối đức tin, linh hồn chỉ có một lòng muốn thôi. Nếu lòng muốn này bị vướng mắc hoặc bị đầu tư vào một thụ tạo nào đó, nó sẽ không còn tự do, đơn nhất và tinh ròng, là những điều kiện mà cuộc biến đổi thần linh đòi phải có.

7 - Trong sách Thủ Lãnh có một hình ảnh về vấn đề này: Thiên thần đến với con cái Israel và bảo họ rằng, vì họ đã không tận diệt đám dân thù nghịch, trái lại còn giao kết với một số người trong bọn chúng, cho nên Thiên Chúa sẽ để chúng ở lại giữa họ như địch thù, để chúng làm cớ cho họ vấp phạm và hư mất [Nguyên văn: “Nên Ta đã nói: Ta sẽ không đuổi chúng trước mặt ngươi, chúng sẽ ở bên sườn các ngươi, và các thần của chúng sẽ là bẫy hại các ngươi” (Tp 2, 3)]. Thiên Chúa cũng xử sự y như thế đối với một số linh hồn: Ngài đã lôi kéo họ ra khỏi thế gian và giết chết những tên khổng lồ trong số các tội lỗi của họ và tận diệt phần đa số các kẻ thù của họ - tức là những dịp vấp phạm mà họ gặp phải trong thế gian, cốt để họ được tự do hơn mà đi vào đất hứa, tức là nên một với Thiên Chúa. Thế nhưng họ lại kéo bè kết cánh, thỏa hiệp với đám dân bé nhỏ ấy, tức là những bất toàn mà họ không chịu diệt hẳn đi. Vì thế, Thiên Chúa chán ngán và để họ gục ngã trong các mê thích của họ càng lúc càng tệ hơn.

8 - Sách Giôsua cũng cho ta một hình ảnh về vấn đề này: Khi dân Israel khởi sự chiếm đất hứa, Thiên Chúa truyền cho họ phải tàn sát hết tất cả mọi thứ trong thành Giêricô, không được để sót một sinh vật nào, cả đàn ông lẫn đàn bà, từ trẻ con tới người già cả, và tất cả mọi thú vật; họ cũng không được lấy hoặc ao ước một chút gì trong toàn bộ các chiến lợi phẩm. Ấy là để chúng ta hiểu rằng, muốn được nên một với Thiên Chúa cũng thế, phải giết sạch những gì còn lẩn lút trong linh hồn, cả cái ít và cái nhiều, cái bé và cái lớn, linh hồn không được khao khát gì nơi tất cả những thứ đó, và phải từ bỏ triệt để như thể linh hồn không hề có đối với chúng và chúng không hề có đối với linh hồn vậy. Đó là điều thánh Phaolô đã dạy chúng ta trong thư gửi giáo đoàn Côrintô: Anh em thân mến, tôi xin cảnh giác anh em điều này: "Thời buổi đã co rút lại! Cho nên từ nay, những kẻ có vợ thì hãy ở như không có, những kẻ khóc (đối với sự vật thế gian này) hãy như không khóc; những kẻ vui hãy như không vui, những kẻ mua hãy như không cầm giữ, và hưởng thế gian như không tận hưởng" (1Cr 7,29-31). Nói thế, thánh Tông đồ muốn dạy chúng ta biết cần phải giữ cho linh hồn được thanh thoát đối với hết mọi sự để tiến đến với Thiên Chúa.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2024

Đường Lên Núi Cát Minh - Quyển 1 - Chương 10: Mê thích đưa tới nguội lạnh và suy yếu

 


ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH
QUYỂN 1

CHƯƠNG 10
MÊ THÍCH ĐƯA TỚI NGUỘI LẠNH VÀ SUY YẾU*

Bàn về việc các mê thích khiến linh hồn thành nguội lạnh và bị suy yếu trên đường nhân đức.

1 - Tác hại thứ năm do các mê thích gây cho linh hồn, là chúng khiến linh hồn hóa thành nguội lạnh và bị suy yếu, không đủ sức theo đuổi đường nhân đức và kiên trì trên đường ấy. Sức mạnh của mê thích bị chia chẻ làm nhiều phần, khiến nó bị yếu hơn là khi nó chỉ hoàn toàn gắn bó với một vật nào đó thôi. Mê thích ấy càng bị chia chẻ cho nhiều vật, sức mạnh nó dành cho mỗi vật càng yếu đi. Các triết gia nói rằng dũng lực mà quy về một mối thì mạnh hơn là khi bị chia chẻ. Do đó, rõ ràng là nếu mê thích của lòng muốn tràn đổ vào điều gì khác ngoài nhân đức, thì đối với nhân đức nó sẽ rất yếu ớt. Một linh hồn chia chẻ lòng muốn vào những chuyện không đâu, thì giống như nước đã gặp chỗ chảy xuống rồi thì không thể ngoi lên được và không còn tiện dụng được nữa. Vì vậy tổ phụ Giacóp đã so sánh Ruben con ông với thứ nước tràn ra ngoài, bởi lẽ về một tội nào đó, chàng đã buông cương cho các mê thích của chàng. Ông nói: "Con chảy tràn ra như nước, con sẽ không lớn mạnh"(x. St 49,4). Dường như ông muốn nói: Vì con đã buông mình theo các mê thích như nước chảy xuôi, con sẽ chẳng tiến được trên đường nhân đức.

Nước nóng không đậy vung sẽ dễ mất hết sức nóng. Các loại thuốc thơm không đóng kín sẽ mau mất hương vị và cường độ mùi thơm của chúng. Cũng vậy, linh hồn nào không tập trung vào một mê thích duy nhất là mê thích Thiên Chúa sẽ mất sức nóng và nghị lực trên đường nhân đức. Vua Đavít biết rõ điều ấy nên đã thưa với Chúa: "Con sẽ giữ sức mạnh con cho Chúa" [Nguyên văn lời thánh vịnh: “Lạy Thiên Chúa là sức mạnh con, con ngước mắt nhìn Ngài” (Tv 58/59, 10)], tức là con sẽ tập trung sức mạnh các mê thích của con vào một mình Chúa mà thôi.

2 - Các mê thích còn làm suy yếu dũng lực (và cũng là nhân đức) của linh hồn vì chúng hút mất sinh lực của linh hồn, tựa như những chồi nhỏ quanh thân cây, rút tỉa hết nhựa sống khiến cây không sinh được hoa trái. Ta cũng có thể đem áp dụng lời sau đây của Chúa cho các linh hồn ấy: "Khốn cho những kẻ mang thai hay nuôi con dại trong những ngày ấy" (Mt 24, 19). Như việc mang thai và nuôi nấng làm hao mòn sức lực người mẹ, các mê thích cũng vậy, nếu không bị loại trừ, sẽ ngày càng thu hút sức mạnh của linh hồn. Chúng càng lớn mạnh, linh hồn càng kiệt quệ, tựa như những chồi non làm kiệt quệ thân cây vậy. Về điểm này Chúa đã khuyên ta "Hãy thắt lưng" (Lc 12,35), tức là hãy giết chết các mê thích của ta. Thật vậy, chúng chẳng khác nào những con đỉa hút máu. Như sách Châm ngôn có nói: "Những con đỉa (tức là các mê thích) là những đứa con nói luôn miệng: Cho xin! Cho xin!" [Nguyên văn: “Con đỉa có hai con gái: Cho xin! Cho xin!”] (Cn 30, 15).

3 - Như vậy đã rõ, các mê thích chẳng gây được cho linh hồn sự lành nào, mà trái lại chỉ lấy mất những sự lành chúng gặp trong đó. Bao lâu chưa giết chết chúng, chúng vẫn không ngừng làm điều mà người ta nói về những con rắn lục con, rằng chúng lớn dần trong dạ mẹ, ăn ruột mẹ và giết chết mẹ, để sống ngay bên xác mẹ. Nếu ta không chịu giết chết các mê thích thì rồi chúng cũng sẽ làm như vậy: Cuối cùng, chúng sẽ giết chết sự sống trong Thiên Chúa của linh hồn, chỉ vì linh hồn đã không chịu bóp nghẹt chúng trước. Bởi đó, sách Huấn ca có nói: "Đam mê xác thịt đừng chiếm lòng con, xin đừng phó con cho tình dục thao túng" (Hc 23,6).

4 - Ngay cả khi chúng không đến nỗi quá quắt như vậy, cũng thật hết sức đau lòng cho tình cảnh khốn cùng của một linh hồn bị các mê thích ấy khống chế, khiến không còn chịu đựng nổi chính mình, vô dụng với những người chung quanh, uể oải và lười biếng trước những gì thuộc về Thiên Chúa. Lắm thứ khí huyết bệnh hoạn khiến bệnh nhân bị nặng nề mệt mỏi không bước nổi, lắm thứ cảm giác chán ngấy khiến người ấy chán ăn, nhưng không có thứ nào sánh được với tình trạng các mê thích đối với thụ tạo gây ra cho linh hồn, khiến nó hóa nặng nề và buồn nản trong việc theo đường nhân đức. Như thế, thông thường, nguyên nhân khiến nhiều linh hồn không còn nhiệt tình háo hức trên con đường nhân đức, chính là vì họ còn giữ những mê thích và quyến luyến không hoàn toàn dành cho Thiên Chúa.

Nguyên tác: Subida al Monte Carmelo của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.
(Còn tiếp)