Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

Ngọn Lửa Tình Nồng - Ca khúc thứ ba (tiếp theo)



NGỌN LỬA TÌNH NỒNG
(Phiên bản B)

CA KHÚC THỨ BA (tiếp theo)

70. Trước khi được Thiên Chúa soi dọi và chiếu tỏa, tình trạng của giác quan là thế. Để hiểu điều này cần biết rằng có hai lý do khiến thị giác không nhìn thấy được: hoặc vì nó ở trong tăm tối hoặc vì nó bị mù loà.

Thiên Chúa là ánh sáng và là đối tượng của linh hồn. Khi ánh sáng này không chiếu soi linh hồn, linh hồn phải rơi vào tăm tối mặc dù thị giác vẫn còn rất tỏ. Còn khi linh hồn phạm tội hoặc lòng chứa đầy sự mê thích một thứ gì đó ngoài Thiên Chúa, nó trở nên mù lòa. Dù cho ánh sáng của Thiên Chúa bủa vây, linh hồn đã bị mù thì vẫn không nhìn thấy. Sự tăm tối của linh hồn chính là sự ngu dốt của nó. Trước khi Thiên Chúa soi sáng cho linh hồn bằng sự biến đổi này, linh hồn vẫn nằm trong tăm tối, chẳng biết gì đến bao nhiêu ơn lành của Ngài. Tác giả sách Huấn Ca có nói rằng trước khi Đức Khôn Ngoan tỏa sáng trên ông, ông vốn ở trong tối tăm: Ngài đã chiếu sáng vào những ngu dốt của tôi (Hc 51,19. 26).

71. Hiểu theo nghĩa tâm linh, ở trong tăm tối khác với ở trong mịt mù. Ở trong mịt mù, như chúng tôi đã nói, tức là bị mù lòa trong tội lỗi. Còn ở trong tăm tối không có nghĩa là linh hồn ở trong tội lỗi. Có trường hợp linh hồn bị tăm tối về mặt tự nhiên khi không có được ánh sáng và sự hiểu biết về một số thực tại tự nhiên. Cũng có trường hợp linh hồn bị tăm tối về mặt siêu nhiên khi không có được ánh sáng và sự hiểu biết về những thực tại siêu nhiên. Ở đây linh hồn bảo rằng trước khi đạt đến sự hiệp nhất quí báu này, giác quan của nó nằm trong tăm tối cả về mặt tự nhiên lẫn về mặt siêu nhiên.

Mãi cho đến khi Thiên Chúa phán: Hãy có ánh sáng (St 1,3) sự mù mịt vẫn còn phủ đầy mặt vực những hố thẳm của giác quan linh hồn (x. St 1,2). Vực ấy càng thẳm và những hố nọ càng sâu, sự mù mịt càng sâu càng thẳm trước thực tại tâm linh khi mà Thiên Chúa - ánh sáng của giác quan linh hồn - chưa dọi sáng nó. Và như thế, linh hồn không thể ngước mắt nhìn lên ánh sáng thần linh hay nghĩ đến ánh sáng ấy bởi lẽ chẳng biết ánh sáng ấy thế nào vì chưa bao giờ nhìn thấy nó. Vì thế, giác quan của linh hồn không thể ước muốn ánh sáng này, nhưng lại ước muốn mù mịt bởi nó đã biết thế nào là mù mịt; nó đi từ mù mịt đến mù mịt, được hướng dẫn bởi mù mịt. Thật vậy, mù mịt nào có thể hướng dẫn được gì hơn là hướng dẫn mù mịt, theo như lời vua Đavít: Ngày qua mách bảo cho ngày tới, đêm này kể lại cho với đêm kia (Tv 18,3).

Như thế, vực thẳm kêu gào vực thẳm (Tv 41,8) nghĩa là: vực thẳm ánh sáng kêu gọi một vực thẳm ánh sáng khác, còn vực thẳm mịt mù kêu gọi một vực thẳm mịt mù khác, ngưu tầm ngưu mã tầm mã, rồi truyền thông chia sẻ cho nhau. Do đó, ánh sáng ân sủng trước đây Thiên Chúa đã ban cho linh hồn, nhờ đó Ngài đã chiếu dọi vào con mắt nơi hố thẳm tâm linh của nó, đã mở cho con mắt ấy nhìn thấy ánh sáng thần linh và khiến linh hồn nên đẹp mắt Ngài nhờ con mắt ấy. Ánh sáng ấy đã kêu gọi một vực thẳm ân sủng khác, là sự biến đổi linh hồn nên Thiên Chúa, nhờ đó, con mắt giác quan thành ra hết sức rạng ngời và đẹp lòng Thiên Chúa đến nỗi chúng tôi có thể nói rằng tất cả ánh sáng của Thiên Chúa và ánh sáng của linh hồn đã nên một. Ánh sáng tự nhiên của linh hồn hiệp nhất với ánh sáng siêu nhiên của Thiên Chúa đến nỗi chỉ còn thấy ánh sáng siêu nhiên tỏa chiếu. Tựa như ánh sáng mà lúc đầu Thiên Chúa đã tạo ra hiệp nhất với ánh sáng của mặt trời và rồi chỉ còn ánh sáng mặt trời chiếu tỏa mà vẫn không huỷ diệt mất ánh sáng kia (St 1, 14-18).

- Nguyên tác của Thánh GIOAN THÁNH GIÁ. Bản dịch của NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ.

(Còn tiếp)

0 nhận xét: