Thứ Tư, 12 tháng 1, 2011

Họp Mặt Mừng Chương Trình Chuyên Đề thứ 100

Lm.Luy Nguyễn Anh Tuấn khai mạc buổi họp mặt
mừng Chương Trình Chuyên Đề lần thứ 100,
chiều 08.01.2011
tại Trung Tâm Mục Vụ Saigon

Sr.Maria Nguyễn Thị Hồng Quế,
người trực tiếp phụ trách Chương Trình Chuyên Đề
chiều thứ bảy hằng tuần

Lm.Giuse Lê Quang Uy, DCCT

Lm.FX Nguyễn Minh Thiệu, SDB

Mục sư Dương Quang Vinh

Đại đức Thích Quang Thạnh

Nhạc sĩ Võ Văn Thức và vợ chồng MC Đông Quân-Minh Khoa

Các cộng tác viên đắc lực của CTCĐ

Các cộng tác viên truyền thông của CTCĐ

Thắp nến mừng lần thứ 100

Cắt bánh "sinh nhật" 100
*

Bất ngờ gặp lại anh Vũ Đức Thịnh, người anh em thân mến
đã quá lâu rồi không được gặp


Thứ Ba, 11 tháng 1, 2011

"Như nghe thấy tiếng cười của Hồ Xuân Hương..."

Thứ bảy, 13 Tháng mười một 2004, 18:16 GMT+7


Giáo sư Mỹ John Balaban
Nhu nghe thay tieng cuoi cua Ho Xuan Huong
Giáo sư Balaban
TTCN - Từ ngày 12 đến 14-11, hội nghị chữ Nôm quốc tế 2004 diễn ra tại Hà Nội với sự tham gia của các học giả nghiên cứu chữ Nôm tại VN và các nước trên thế giới.
TTCN trao đổi với GS John Balaban, chủ tịch Hội bảo tồn di sản Nôm (Vietnamese Nôm Preservation Foundation), có trụ sở tại Mỹ, đồng tổ chức sự kiện này cùng Viện Hán Nôm VN tại Hà Nội.
+ Ý tưởng tổ chức một hội nghị về chữ Nôm được hình thành từ khi nào, thưa GS?
- Trong khoảng năm 2000, cùng lúc với việc chuẩn bị cho ra đời tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương, tôi cùng tiến sĩ Đỗ Bá Phước và Đỗ Thanh Nhàn thành lập Hội Bảo tồn di sản Nôm. Trước đó nhiều năm tiến sĩ Phước, tiến sĩ Nhàn (tại Mỹ) đã cùng tiến sĩ Đỗ Trung Việt và giáo sư Nguyễn Quang Hồng tại VN, các chuyên gia ngành máy tính tại Bỉ và Thụy Sĩ nghiên cứu số hóa font chữ Nôm vào hệ thống chữ quốc tế theo chuẩn ISO để đọc được trên máy tính. Hiện nay Huesoft và Hanoisoft tại VN, Viện Việt học tại California, Viện Mojikyo tại Nhật, học giả Alexander Lê tại Pháp, Nguyễn Bá Triệu tại Canada, Lê Văn Đặng tại Mỹ... đều đang quan tâm đến việc thể hiện chữ Nôm thành ngôn ngữ sử dụng được trên máy tính.
Hội nghị chữ Nôm là một phần của những nỗ lực nói trên. Trọng tâm của hội nghị tại Hà Nội lần này sẽ là trao đổi về những khả năng mới trong việc thể hiện, trao đổi và in ấn chữ Nôm cùng với những thành quả trong hoạt động bảo tồn và sưu tầm chữ Nôm trong thời gian qua của Viện Hán - Nôm tại Hà Nội dưới sự chỉ đạo của tiến sĩ Trịnh Khắc Mạnh. Đây là hội nghị quốc tế về chữ Nôm đầu tiên kể từ 25 năm qua.
+ GS nhận định gì về tầm quan trọng của hội nghị về chữ Nôm vào thời điểm này?
- Khi máy tính có thể nhận dạng và trao đổi được font chữ Nôm, chúng ta sẽ tìm hiểu được những tài liệu, văn bản chữ Nôm hiện đang được lưu trữ tại các thư viện và các bộ sưu tập cá nhân tại VN, châu Á, châu Âu và Mỹ. Đây cũng là một vấn đề được đưa vào lịch trình làm việc của hội nghị năm nay. Tôi cho rằng hội nghị có tầm quan trọng rất cao, nhất là khi chúng ta hình dung ra 1.000 năm tồn tại của chữ Nôm mà hiện nay ngoài một số rất nhỏ các học giả đang nắm giữ các bộ sưu tập cá nhân, hầu như chúng ta không chạm đến được. Lịch sử một nền văn hóa, một kho tàng lớn lao của VN gần như bị chìm khuất. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương nghịch ngợm của nền văn học VN lẽ ra đã có thể đóng vai trò lớn trong nỗ lực làm sống lại kho tàng này. Tôi gần như có thể nghe thấy được tiếng cười của bà vọng lại từ kho tàng tiếng Nôm VN...
Nhu nghe thay tieng cuoi cua Ho Xuan Huong
Ca dao Việt Nam (bìa cuốn sách mới nhất của GS John Balaban)
+ Mối quan tâm mà GS dành cho chữ Nôm đã bắt đầu từ cách đây hơn ba thập niên...
- Trước hết, phải thành thật mà nói rằng tôi không đọc được chữ Nôm. Tôi dịch lại các tài liệu tiếng Nôm từ chữ quốc ngữ. Khi bắt đầu dịch thơ Hồ Xuân Hương, tôi thậm chí không biết bà đã từng làm thơ bằng chữ Nôm. Tôi cũng không hề ý thức được nghệ thuật nói lái trong thơ của bà. Khi đi sâu hơn vào quá trình chuyển ngữ thơ Hồ Xuân Hương, tôi bắt đầu đặt ra những câu hỏi. Một trong những người bạn của tôi, giáo sư Ngô Thanh Nhàn, giới thiệu tôi với giáo sư Nguyễn Quang Hồng và một chuyên gia về thơ Hồ Xuân Hương, ông Đào Thái Tôn...
Trao đổi với các học giả VN, tôi cảm thấy rất rõ ràng rằng quá khứ văn hóa được thể hiện qua chữ Nôm – từ những vần thơ đến những ghi chép từ các ngôi làng Tây Sơn ngày xưa – có một nội lực văn hóa độc đáo tương tự như những nền văn học cổ phương Tây mà tôi từng nghiên cứu, đặc biệt là tính chất cổ điển kết hợp với đương đại mà tôi rất say mê. Tôi nhận ra mình có thể làm một điều gì đó để bảo tồn kho tàng văn hóa này. Gần đây, tôi tìm được những bài thơ của Nguyễn Trãi được viết bằng chữ Nôm, được Virginia Jing Yi Shih chuyển ngữ đầy tinh tế. Làm sao chúng ta có thể để mất những điều quí giá như thế được?
+ Có lẽ nhiều người không khỏi ngạc nhiên về niềm say mê của GS. Điều gì khiến một người nước ngoài mong muốn bảo tồn một kho tàng văn hóa của VN?
- Vâng, quả là tôi đã được nghe câu hỏi này nhiều lần, và đây vẫn là câu hỏi làm tôi bị sốc dù tôi hiểu vì sao nhiều người lại ngạc nhiên. Làm sao một nhà thơ, dù là làm thơ bằng ngôn ngữ nào, có thể quay lưng lại trước một nhà thơ như nữ sĩ Hồ Xuân Hương? Làm sao lại có thể yêu mến những tài sản quá khứ và tầm vóc của chúng đối với hiện tại mà lại không hỗ trợ các học giả khác bảo tồn một kho tàng quí giá như chữ Nôm? Tôi là một nhà thơ, từng hai lần được đề cử giải thưởng Sách quốc gia (tại Mỹ) và từng là chủ tịch Hội Biên dịch văn chương nước Mỹ. Làm sao tôi lại không quan tâm đến Nôm được? Trong thời kỳ chiến tranh, năm 1971 và 1972, tôi đi dọc miền quê phía Nam với một cái máy ghi âm, sưu tầm những bài ca dao từ người dân những vùng này. “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” (Balaban nói bằng tiếng Việt câu này).
+ Cách đây vài năm, trong một cuộc phỏng vấn về Hồ Xuân Hương và chữ Nôm, GS có nhắc đến việc hiện trên toàn thế giới chỉ còn vài chục người đọc được chữ Nôm... Chữ Nôm đã được vực dậy như thế nào, thưa GS?
Nhu nghe thay tieng cuoi cua Ho Xuan Huong
- Năm 1919, triều đại phong kiến cuối cùng của VN bị loại bỏ. Năm 1920, chính quyền Pháp cấm việc sử dụng chữ Nôm tại VN. Gần như ngay sau đó không ai còn học chữ Nôm theo cách truyền thống nữa. Hiện không ai thật sự biết rõ còn bao nhiêu học giả biết về chữ Nôm đủ trôi chảy và thấu đáo để làm việc bằng chữ Nôm. Có lẽ trên toàn cầu chỉ còn khoảng 50 học giả chữ Nôm. Đó chính là lý do vì sao chúng tôi mong muốn số hóa chữ Nôm - để bất kỳ ai biết chữ quốc ngữ và biết sử dụng máy tính có thể tìm học chữ Nôm. Chúng tôi cũng tin rằng nên đưa chữ Nôm vào trường phổ thông và đại học. Chúng tôi cũng mong muốn các học giả nước ngoài có thể sử dụng chữ Nôm trong quá trình nghiên cứu. Không lâu nữa chúng ta sẽ có từ điển Nôm - quốc ngữ lưu hành trên Internet để tra cứu, và nhờ vậy sẽ đọc được truyện Kiều nguyên bản, sẽ đọc được thơ Thiền của các triều đại thế kỷ 12 và 13...
+ Hội Bảo tồn chữ Nôm hoạt động ra sao và dựa trên nguồn tài trợ nào, thưa GS?
- Một trong những trọng tâm hoạt động của chúng tôi là thành lập một thư viện điện tử các văn bản chữ Nôm và cấp học bổng cho các sinh viên học và nghiên cứu chữ Nôm. Chúng tôi cũng tham gia làm từ điển chữ Nôm và tài trợ việc in các tài liệu chữ Nôm, cung cấp dịch vụ biên dịch các văn bản chữ Nôm hiện đang được lưu trữ tại thư viện các nước Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Hà Lan và cả ở Vatican. Từ năm 2002 chúng tôi cũng đặt một văn phòng tại Hà Nội để hỗ trợ các hoạt động liên quan đến tìm kiếm và xuất bản các tài liệu chữ Nôm. Chúng tôi nhận tài trợ từ các cá nhân và một số tổ chức nhỏ. Một số người đóng góp tài chính với ý nguyện góp phần bảo tồn văn hóa VN. Một số khác đóng góp cho hoạt động của chúng tôi vì họ yêu mến vẻ đẹp của những vần thơ của Hồ Xuân Hương và mong đợi những tác phẩm Nôm khác được chuyển ngữ.
Với tôi, khó nhất là làm sao có thể tìm được nguồn tài chính cho việc số hóa chữ Nôm. Dạo này những bạn bè giàu có của tôi đều chạy mất khi thấy tôi xuất hiện. Tuy nhiên, công việc số hóa chữ Nôm thật sự thì phải kể đến nỗ lực của giáo sư Nhàn và các cộng sự của ông. Còn về phần bảo tồn văn bản, từ lâu Viện Hán - Nôm tại Hà Nội đã tiến hành việc lưu giữ các văn bản Nôm cổ và mua lại các bộ sưu tập Nôm từ các gia đình VN. Đây là những hoạt động quan trọng cần được đánh giá cao.
+ Công việc hằng ngày của GS có liên quan nhiều đến chữ Nôm?
- Hiện tôi dạy tiếng Anh và là nhà thơ tại Đại học công North Carolina. Tôi dạy các khóa về thơ trong trường. Các đồng nghiệp của tôi vẫn nghĩ những hoạt động về chữ Nôm của tôi là thú vị, nhưng họ không hiểu lắm thật sự tôi đang làm gì. Gần đây tôi đưa cho họ xem một bản của cuốn Giúp đọc Nôm và Hán - Việt, họ ngạc nhiên lắm. Họ cũng đã từng ngạc nhiên như thế về sự táo bạo và tuyệt diệu của những vần thơ Hồ Xuân Hương...
+ Cuối cùng, xin GS chia sẻ cùng độc giả TTCN một đôi điều bằng tiếng Việt...
- Đây là một bài ca dao bằng tiếng Việt tôi viết, xin gửi đến các bạn:
Ở bên trời Mỹ vẫn mơ.
Nguồn sông còn chảy, tình lờ lai rai.
Trăm năm, tiếng khéo ngân dài:
Trên sông, cổ nguyệt nhớ hoài Xuân Hương.
+ Xin cảm ơn GS về cuộc trao đổi thú vị này.
CAM LY thực hiện
Nguồn: http://vietbao.vn/Van-hoa/Nhu-nghe-thay-tieng-cuoi-cua-Ho-Xuan-Huong/40055623/181/

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

Gia đình Gs. Khê - Shina No Yoru


Shina no yoru yo!
minato no akari
Murasaki no yo: ni
Noboru janku no
Yume no fune Aaaah,
aaaah, wasurarenu
Kokyu no ne
Shina no yoru
yume no yoru
Shina no yoru

Shina no yoru yo!
Yanagi no mado ni
Rantan yurete
Akai torikago
Shina musume
Aa, yarusenai
Ai no uta
Shina no yoru
Yume no yoru
Shina no yoru

Shuna no roru yo
Kimi matsu yoi wa
Obashima no ame ni
Hana mo chiru chiru
Benji mo chiru
Aa, aa,wakarete mo
Wassuraryoka
Shina no yoru
Yume no yoru
What a night in China!
harbor lights
deep purple night
sailing junk
Ship of dreams
Ah Ah, I cannot forget
the sound of the kokyu*
China night
night of dreams
China night

What a night in China
In the willow window
A ramp was shaking
A red bird cage
A Chinese girl
Ah sadly
Singing love songs
China night
Night of dreams
China night

What a night in China!
waiting for you
in the rain at Obashima
Flowers in bloom
like rouge on her cheeks
even after parting
Iwill never forget
China night
night of dreams

Gs.Khê - Hò Đối Đáp

Gs.Khê và Gs.Hải: Ngẫu Hứng Đêm Hội Ngộ

Hội Ngộ Gia Đình Gs.Ts. Trần Văn Khê

Đêm văn nghệ "Hội Ngộ Cuối Năm Gia Đình Trần Văn Khê"
tại tư gia giáo sư, số 32 Huỳnh Đình Hai, P.24, quận Bình Thạnh, Saigon

Vợ chồng Gs.Ts. Trần Quang Hải - Ca sĩ Bạch Yến

Kiến trúc sư Trần Quang Minh
với phong cách của chú ruột là "Quái kiệt" Trần Văn Trạch

Một thi hữu đọc thơ tặng gia đình cụ Khê

*
***

HỘI NGỘ CUỐI NĂM GIA ĐÌNH TRẦN VĂN KHÊ

THIỆP MỜI

Nhóm thân hữu Giáo sư Trần Văn Khê trân trọng kính mời :

……………………………………………………………………

đến tham dự buổi sinh hoạt văn nghệ tại tư gia giáo sư với chủ đề :

HỘI NGỘ CUỐI NĂM GIA ĐÌNH TRẦN VĂN KHÊ

vào lúc 19g30’, ngày thứ Sáu 07-01-2011

tại số 32 Huỳnh Đình Hai – P.24 – Q. Bình Thạnh

Chúng tôi rất vinh dự được đón tiếp

ĐÊM VĂN NGHỆ “HỘI NGỘ CUỐI NĂM GIA ĐÌNH TRẦN VĂN KHÊ”

Có sự góp mặt của các thành viên trong gia đình GSTS Trần Văn Khê gồm :


Giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải :

- Chuyên gia tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học thuộc Bảo tàng Con người (Musée de l'Homme) ở Paris - Pháp từ năm 1968 cho đến nay.

- Đã giới thiệu âm nhạc Việt Nam trên 3.000 buổi tại 65 quốc gia, giảng dạy về nhạc Á châu tại 120 trường đại học trên thế giới và tham dự hơn 130 Liên hoan Âm nhạc Quốc tế.

- Có nhiều công trình nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc Âm nhạc học được thế giới quan tâm như : Hát Đồng song thanh, Phát triển gõ muỗng, Kỹ thuật biểu diễn Đàn Môi.

Ca sĩ Bạch Yến :

- Ca sĩ nổi tiếng tại Sài Gòn từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, được giới yêu nhạc nhớ đến qua ca khúc “Đêm Đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Tên tuổi của Bạch Yến cũng gắn liền với những thành công qua các ca khúc nước ngoài của Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Mêhicô, Ý …

- Từ 1965, Bạch Yến được mời sang Mỹ tham gia chương trình Ed Sullivan Show ăn khách nhất thời đó, tiếp theo là 12 năm lưu diễn khắp Hoa Kỳ cùng với những nghệ sĩ thượng thặng như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone …

- Năm 1978, Bạch Yến định cư tại Paris sau khi thành hôn với Quang Hải và mối lương duyên này đã đưa Bạch Yến trở về với nhạc dân tộc Việt Nam, từ đó sự nghiệp ca hát gắn liền với tên tuổi của Trần Quang Hải với hơn 1.500 buổi trình diễn và tham dự gần 100 Nhạc hội Truyền thống tại 50 quốc gia.

Kiến trúc sư Trần Quang Minh :

Trong lúc học tại Trường Kiến trúc, Trần Quang Minh mỗi năm lãnh trách nhiệm tổ chức chương trình văn nghệ cho Trường và được hoan nghinh nhiệt liệt. Vì thích văn nghệ nên ngoài việc học, còn tổ chức một Ban văn nghệ mang tên “Ba trái dừa khô”, chuyên hát những bài được phổ biến bằng tiếng Pháp, Anh và Tây Ban Nha. Minh có giọng hát trầm, ấm, lại có tài diễn xuất, nên thường được mời tham gia những chương trình văn nghệ trong thành phố.

Sau khi đậu bằng Kiến trúc, định mở văn phòng nhưng thường được mời làm người dẫn chương trình nghệ thuật cho nhiều nơi, đặc biệt ở phòng trà “Văn nghệ” nên bỏ qua việc hành nghề Kiến trúc.

Khi nước nhà thống nhứt, được mời tham gia làm chuyên viên Kiến trúc và nghệ thuật cho Sở Văn hoá thông tin Tp.HCM, nhưng Minh vẫn thích tự do và sinh hoạt trong giới ca nhạc. Minh có biệt tài vẽ hý hoạ và đã được nhiều nơi nhờ vẽ chương trình quảng cáo. Trong đêm nay Minh sẽ biểu diễn những tiết mục theo sở trường của mình.

*

Thứ Năm, 6 tháng 1, 2011

Chữ Nôm


Khoa Cử Việt Nam - THI HƯƠNG
-
Phần Thứ Nhất - Dùi Mài Kinh Sử
-
Chương Bốn
CHỮ VIẾT

-
Nguyễn Thị Chân Quỳnh



Chữ viết biểu thị cho nền văn minh của một nước. Ở Việt-Nam, chữ Hán chiếm địa vị chính thức suốt thời Bắc thuộc và tự trị, là thứ chữ hầu như duy nhất dùng trong Khoa cử, chữ Nôm chỉ xuất hiện đôi ba lần trong các kỳ thi, và phải đến thời cải cách (1909) mới có những bài thi bằng quốc ngữ. Vì chữ Hán ai cũng biết nên trong bài này tôi chỉ sơ lược về chữ Nôm và chữ quốc ngữ.

Nhưng trước khi học chữ Hán và chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung quốc, nước ta có văn minh, văn tự riêng hay không ?


I - CHỮ VIỆT CỔ ?

A - VĂN MINH CỔ


Trước kia, dựa vào sách sử của Trung quốc, các sử gia đều chép rằng thời "tiền đô hộ", nước ta ở trong tình trạng bán khai. Hậu Hán Thư viết :"Dân Giao-chỉ không biết đạo cha con (cha con cùng tắm một sông), không biết đạo vợ chồng (trai gái tự do kết hôn), không biết lễ giáo (của Trung quốc)". Hán Vũ Ðế thấy thế mới sai các quan Thái thú sang cai trị phải dậy cho dân ta biết lễ nghĩa, nước ta bắt đầu có văn minh từ đấy. Ngô Thì Sĩ cũng viết rằng Tích Quang dậy ta lễ nghĩa, Nhâm Diên dậy luân lý, làm cho nước ta thành một nước văn hiến (1).

Mặt khác,Việt Sử Lược chép về nước Văn-lang thời Hùng Vương có "phong tục thuần lương, chính sự dùng lối thắt gút". Trong Hậu Hán Thư, "Mã Viện truyện", thì Mã Viện đã tâu với vua nhà Hán rằng "Luật nước An-Nam khác luật Trung quốc hơn mười điều", có thể có nghĩa là khác rất nhiều, không nhất thiết chỉ khác "hơn mười điều" (2). Như vậy là nước ta trước kia đã có phong tục, luật pháp riêng biệt, tuy có thể là luật chưa ghi chép thành văn.

Ngày nay, bằng vào những hiện vật được khai quật như trống đồng, lưỡi cầy, đồ nữ trang vv. thì rõ ràng ở địa bàn nước Văn-lang xưa đã có một nền văn minh không chịu ảnh hưởng của Trung quốc, gọi là Văn minh sông Hồng, chia làm 4 giai đoạn bắt đầu từ thời đồ đá (văn minh Phùng-nguyên) đến thời đồng thau (văn minh Ðông-sơn), rực rỡ nhất vào cuối thời các vua Hùng (thế kỷ thứ IX tr. TL) với cao điểm là mỹ thuật trống đồng, nhiều và đẹp nhất ở trung tâm vùng sông Hồng. Tuy Trung quốc (Vân-nam, Quảng-tây) cũng tìm thấy loại trống Ðông-sơn nhưng căn cứ vào mật độ tập trung thì ở Bắc Việt có nhiều hơn. Kỹ thuật phát xuất sớm nhất từ Thanh-hóa, sau mới lan ra các nước chung quanh như Trung quốc, Lào, Căm-bốt, Thái-lan, Mã-lai vv. (3).

B - VĂN TỰ CỔ
Kỹ thuật luyện kim và những hình khắc trên trống đồng minh chứng một trình độ văn minh khá tiến bộ nhưng vấn đề chữ Việt cổ có hay không thì vẫn còn trong vòng phỏng đoán.

TheoViệt Sử Lược thì thời xưa ông cha ta ghi nhớ bằng lối văn tự thắt gút, tức là chưa có văn tự. Nhưng theo một số "chứng tích" khác thì có thể ta đã có chữ viết, dẫu chỉ là thời kỳ mới tìm cách ghi âm. Tiền Hán Thư chép :"Ðời Ðào Ðường có họ Việt Thường ở phương Nam cử sứ bộ đến triều kiến thiên tử Trung quốc, biếu con rùa có lẽ sống tới 1 000 năm, trên lưng có khắc chữ như con nòng nọc, ghi việc Trời Ðất mở mang, vua Nghiêu sai chép gọi là Quy Dịch ".

Tạp chí Khảo Cổ Học H 1974 cũng viết :"Trên trống đồng Lũng-củ (Ðồng-văn, Hà-Tuyên) có một số hoa văn có thể là dấu tích của chữ viết" (4).

Năm 1903, Vương Duy Trinh, tổng đốc Thanh-hóa, ghi chép những bài ca dao ở Thanh-hóa trong Thanh-Hóa Quan Phong, đã tìm ra một hệ thống chữ cái và một bài ca viết bằng thứ chữ ấy ở huyện Quan-phong, thuộc Thanh-hóa, nơi nhiều người Mường, người Thái cư ngụ. Có lẽ đây là dấu tích chữ Việt cổ, thông dụng thời Hai Bà Trưng rồi bị chính sách đồng hóa của Trung quốc hủy diệt ? Tuy nhiên, thứ chữ ấy vẫn tồn tại ở vùng cao nguyên vì khi Hai Bà bị thua quân Hán, một số người Việt có tinh thần bất khuất chính sách thống trị của nhà Hán đã ẩn lánh ở miền thượng du, nay là nơi cư ngụ của người Mường, người Thái. Những người này có thể là hậu duệ của tổ tiên ta, đặc biệt là người Mường có một số phong tục giống người Việt cổ : giã gạo như đâm xuống, giống hình khắc trên trống đồng ; chuyện "Chim Ây cái Ưá" (5) của họ tựa như sự tích bà Âu Cơ đẻ ra một trăm cái trứng, nở ra một trăm người con của ta ; họ lại có một số từ ngữ giống những từ ngữ cổ của ta như "blời" (trời), "Bua" (vua) vv. cho nên chữ viết của họ rất có thể là chữ Việt cổ.


I - CHỮ NÔM

A - NGUỒN GỐC

Nôm có lẽ là do chữ "Nam" đọc chệch đi, "chữ Nôm" có nghĩa là "chữ của người phương Nam", đối với "chữ Hán" của người phương Bắc, tức Trung Hoa (6).

Chữ Hán chiếm địa vị chính thức ở nước ta suốt thời Bắc thuộc qua thời tự trị, song vì chữ Hán chỉ có 4 thanh âm (bình, thương, khứ, nhập) trong khi tiếng Việt có tới sáu thanh âm nên Hán tự không ghi được hết các từ ngữ Việt (7).

Thêm vào đấy, chỉ có từng lớp trí thức đọc được Hán tự nên các chiếu chỉ vua ban bằng chữ Hán phải có người dịch thì dân mới hiểu. Sử chép :"Năm 1288, phàm có tuyên lời nói của vua thì viện Hàn-lâm phải đưa bản thảo cho Ty Hành-khiển đọc trước, đến khi tuyên đọc thì giảng luôn cả nghĩa cho dân đều hiểu" (8).

Vì những lý do như trên, bởi nhu cầu của xã hội, chữ Nôm đã tự phát để ghi chép một cách chính xác và bằng thứ ngôn ngữ thông dụng hàng ngày mọi người đều hiểu.

B - THỜI KỲ XUẤT HIỆN
Chưa rõ chữ Nôm do ai khởi xướng, theo lẽ mà suy chắc có sự đóng góp của nhiều người. Cũng không ai biết đích xác chữ Nôm xuất hiện từ bao giờ. Có nhiều giả thuyết :

Thời Hồng-Bàng : Phạm Huy Hổ cho rằng "hiệu nước, hiệu vua đều dùng chữ Hán nhưng bài vị các thần đời vua Hùng có những vị tên "nôm na" như : ông Cổng, ông Chấn... những tên ấy dịch ra Hán tự không khó nhưng người ta vẫn để nguyên vì kính cẩn tên thần nên không dám thay đổi. Nhân thế ta biết chữ Nôm sinh ra từ bấy giờ". Luận cứ này ít thuyết phục vì bài vị có thể do các đời sau lập (9).

Thời Bắc thuộc : Vì lý do hành chánh, cần kê khai tên các làng xã ; vì lý do tôn giáo, các sư tăng làm sớ cúng phải biên rõ tên tín chủ, nơi trú sở... và bởi Hán tự không ghi được đủ mọi âm Việt một cách chính xác nên chữ Nôm đã được đặt ra ngay từ thế kỷ I.

Vả lại Sĩ Nhiếp làm Thái thú Giao-châu (187-226), mở trường dậy chữ Hán (được tôn là Nam bang học tổ ) tất phải có thứ chữ ghi quốc âm để thích nghĩa thì học trò mới hiểu, thế thì chữ Nôm xuất hiện từ thế kỷ II. Song theo Trần văn Giáp thì ngoài Chỉ Nam Quốc Âm Giải Nghĩa của Hương Chân Pháp Tính, không thấy có sách nào chép như thế.

Bố Cái Ðại Vương : Nhiều người tin rằng Phùng Hưng đánh đuổi được quân Tầu, giành lại chủ quyền cho đất nước nên được tôn là "Bố Cái Ðại Vương ", hai chữ "Bố Cái " là tiếng Việt thuần túy, nếu được dùng để đặt danh hiệu tất có chữ viết ra được và thứ chữ ấy là chữ Nôm. Vậy thì chữ Nôm ắt có vào cuối thế kỷ VII, đầu thế kỷ VIII.

Ðào Duy Anh, Nguyễn Ðình Hòa lại vạch ra rằng : năm 1479 mới thấy Sử Ký Toàn Thư chép danh hiệu "Bố Cái Ðại Vương". Tấm bia ở đền Phùng Hưng, dựng năm 1390, không thấy chép danh hiệu ấy (10) nên chưa chắc chữ Nôm xuất hiện ở thế kỷ VII, hay VIII.

Thế kỷ IX, X : Theo Ðào Duy Anh thì chữ Nôm được đặt ra trên cơ sở chữ Hán đọc theo âm Việt (gọi là chữ Hán-Việt). Cách phát âm chữ Hán biến đổi từng thời, theo quy luật một sinh ngữ, và hệ thống âm vận của Hán-Việt dậy ở trường học cũng thay đổi theo. Ðến thời tự chủ, sau cuộc giải phóng đất nước của họ Khúc (905-7) âm Hán-Việt mới bắt đầu ổn định, không thay đổi nữa bởi nước ta thoát khỏi sự đô hộ của Trung quốc, không học thầy Tầu nữa thì ngôn ngữ ở trường học cũng tách rời khỏi tiếng nói của người Tầu, tức là không biến đổi từng thời theo ngữ âm Trung quốc như khi còn bị Bắc thuộc. Thời Bắc thuộc, ngôn ngữ dậy ở các trường là ngôn ngữ đời Ðường, căn bản là tiếng nói miền Bắc Trung quốc, đặc biệt của kinh đô Tràng-an. Học giả Maspéro đã làm bản đối chiếu âm Trung hoa ở cuối đời Ðường với âm Hán-Việt thấy khá giống nhau (11).

Hàn Thuyên : Nguyễn Thuyên là người Hải-dương, đỗ Tiến-sĩ. Năm 1282, có con cá sấu vào sông Phú-lương (Nhị hà) quấy nhiễu, Trần Nhân Tông sai Nguyễn Thuyên làm bài văn đuổi cá sấu ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua thấy giống chuyện Hàn Dũ (năm 819 cũng làm bài văn đuổi cá sấu) cho đổi họ Nguyễn thành họ Hàn, tỏ ý khen ngợi. Bài văn đuổi cá sấu của Hàn Thuyên là bài văn Nôm đầu tiên được nhắc đến trong sách sử, nay đã thất truyền. Hàn Thuyên còn đặt ra Hàn luật, loại thơ 8 câu 7 chữ, có niêm luật phỏng theo thơ Ðường, nên được tôn là Ông tổ thơ Nôm, người đời sau có khi lầm gọi Hàn Thuyên là "ông tổ chữ Nôm" (12).

Học giả Cadière đoán chữ Nôm được đặt ra từ thời Hàn Thuyên, song Ngô Thì Nhậm, Ðào Duy Anh chủ trương chữ Nôm đã có từ trước, thời Hàn Thuyên bắt đầu được dùng nhiều.

C - PHÉP CẤU TẠO CHỮ NÔM

Chữ Nôm thoát thai từ chữ Hán, đại khái có ba phép cấu tạo chính :

1 - Phép hội ý :

Phép hội ý góp ý nghĩa của hai chữ Hán để ghi một chữ Nôm. Thí dụ : chữ trùm (= người ở trên những người khác) do ghép hai chữ : nhân = người, và thượng = ở trên .

Loại này rất hiếm, các nhà nghiên cứu chỉ tìm thấy có 6 chữ là : trời, trùm, sẹo, sánh, rằm, mấy (13).

2 - Phép giả tá :

Phép này có nhiều lối :

a - Mượn một chữ Hán đã được đại chúng hiểu, không cần giải nghĩa, như : thành thị, an nhàn...

b - Mượn một chữ Hán có âm tương tự âm Việt rồi thêm một dấu nháy " < ", thường đặt ở bên phải, để nhắc người đọc rằng chữ này phải đọc chệch đi mới đúng âm Việt cần ghi. Thí dụ chữ ni thêm dấu nháy đọc thành này. c - Mượn chữ Hán đọc theo âm đời Ðường nghe na ná như âm Việt. Thí dụ chữ tuế (= tuổi) đọc theo âm đời Ðường nghe cũng tựa như "tuổi". Ngày nay ta viết "tuế" cứ tưởng là mượn "ý" của chữ Hán, thực ra là mượn "âm", xưa kia đọc là "tuổi" rồi dần dần "tuổi" biến âm mới đọc thành "tuế", khiến chính người Hoa nghe cũng không hiểu.

3 - Phép hình thanh :

Phép hình thanh cũng có mấy lối : Thường thì do hai chữ Hán ghép thành một, chữ bên tả chỉ nghĩa, chữ bên hữu ghi âm. Thí dụ : chữ đá do ghép hai chữ :thạch (= đá) ghi nghĩa, và đa (= nhiều) ghi âm. Có khi ghép tới 3, 4 yếu tố, số nét nhiều, rậm quá, phải viết tắt cho gọn.

Trên tấm bia Báo ân thiền tự bi ký (dựng năm 1210) người ta thấy cả hai loại "giả tá" và "hình thanh". Ta có thể kết luận rằng từ đời Lý Cao Tông, chữ Nôm đã được cấu tạo có quy cách đầy đủ, suốt các triều đại sau quy cách ấy không hề thay đổi.

Theo Ðào Duy Anh thì sự biến chuyển của chữ Nôm trên đại cương là : ban đầu, khi âm Hán-Việt gần với tiếng nói thì người ta dùng phép giả tá, khi âm Hán-Việt xa tiếng nói, người ta dùng phép hình thanh để nhờ sự hướng dẫn của nghĩa phù, song vì chữ "hình thanh" đôi khi quá rậm nét, người ta trở lại dùng phép "giả tá", rồi vì ghi âm lối này không chính xác, người ta lại quay lại với phép "hình thanh".

D - NHỮNG THÀNH QUẢ VÀ CHỨNG TÍCH
1 - Những thành quả :

Ðến đời Trần, thế kỷ XIII, chữ Nôm mới phát triển rộng rãi với Hàn Thuyên, Chu văn An, Nguyễn Sĩ Cố vv. và đi đến chỗ hoàn mỹ vào thế kỷ XVIII, XIX với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều... Xin lược kê một số tác giả danh tiếng về Nôm mà thơ văn nay còn lưu truyền :

Nguyễn Trãi (1380-1442), tác giả Quốc Âm Thi Tập, gồm 254 bài thơ Nôm.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1515), tác giả Bạch Vân Thi Tập.

Lê Thánh Tông (1442-79) : Một số bài trong Hồng-Ðức Quốc Âm Thi Tập.

Ðoàn thị Ðiểm (1705-48) : Chinh Phụ Ngâm Diễn Nôm (nguyên tác chữ Hán của Ðặng Trần Côn (14).

Nguyễn Hữu Chỉnh (1741-87) : Ngôn Ẩn Thi Tập.

Nguyễn Gia Thiều (1741-98) : Cung Oán Ngâm Khúc.

Nguyễn Du (1765-1820) : Truyện Kiều,Văn tế thập loại chúng sinh vv.

Hồ Xuân Hương (có lẽ sống khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX) tác giả những bài thơ Nôm nổi tiếng như : Cái quạt, Hang cắc cớ, Ðộng Hương tích, Ðề tranh tố nữ vv. (15).

Ngoài ra còn rất nhiều người làm thơ Nôm nổi danh như : Nguyễn Công Trứ (1778-1858), Nguyễn Khuyến (1835-1909), Dương Khuê (1839-1902), Tú Xương (1870-1907) vv...

2 - Những chứng tích:
- Bia Hộ Thành Sơn. Năm 1912, học giả H. Maspéro công bố trong Tập san Nghiên cứu BEFEO của Trường Viễn Ðông Bác Cổ rằng chứng tích xưa nhất về chữ Nôm mà ông tìm thấy là một tấm bia đời Trần, tạo năm 1343, ở núi Hộ Thành (Ninh-bình), trên bia có khoảng 20 chữ Nôm tên các làng xóm. Tiếc rằng ông không nói rõ những tên ấy ra. Tuy nhiên, ta có thể luận rằng chỉ có 20 chữ Nôm thì chắc là văn bia không dài. Theo Ðào Duy Anh thì bia đã mất tích vì sau đó những người đi tìm bia không ai thấy tấm bia ấy.

Lạ ở chỗ bia dựng từ đời Trần, trải qua bao nhiêu chinh chiến mà còn giữ được đến đầu thế kỷ XX, rồi bỗng đột nhiên "mất tích" sau khi H. Maspéro công bố trên báo.

Trong Văn Khắc Hán Nôm, có "Bia Ma Nhai" (số 1858) ở núi Non Nước (cũng gọi là núi Dục-Thúy hay Hộ Thành Sơn), tạo năm 1349, chỉ vỏn vẹn có bốn dòng sắc chỉ của vua Trần Hiến Tông cho chùa Thủy Sơn (Non Nước) sở hữu các ruộng đất, cây cối vv., cuối bia ghi rõ số ruộng đất ở hai bên bờ sông thuộc chùa. Rất tiếcVăn Khắc Hán Nôm chỉ lược lại chứ không dịch đầy đủ chi tiết của văn bia Ma Nhai nên không rõ bia có mang tên những làng xóm bằng Nôm mà H. Maspéro đã thấy không ? Rất có thể tấm bia H. Maspéro trông thấy chính là tấm bia này, và ông đã chép lầm 1349 thành 1343 nên không ai tìm thấy nó ? Còn cái tên "Bia Hộ Thành Sơn" có lẽ do ông Ðào duy Anh đặt ra để gọi cho tiện chứ không phải tên một tấm bia tạo dựng từ đời Trần bởi mãi đến năm 1842 vua Thiệu-Trị mới đặt tên núi là "Hộ Thành Sơn" vì thấy hình thế núi Dục-Thúy/Non Nước giống như một tòa thành lũy bảo vệ thành phố Ninh-bình (16).

Thật ra "Bia Hộ Thành Sơn" cũng không phải là chứng tích chữ Nôm xưa nhất.

- Chuông đồng chùa Vân-bản, vớt được ở bờ biển Ðồ-sơn năm 1958. Trần Huy Bá đoán chuông đúc năm 1076, đời Lý Nhân Tông. Mặt chuông có ba chữ Xứ Ông Hà là tên một sở đất.

Ðào Duy Anh không được thấy chuông tận mắt nhưng xem phó bản của nó ở Viện Bảo Tàng Lịch Sử thì chỉ thấy có hai chữ Ông Hà, thiếu chữ Xứ.

- Báo-ân thiền tự bi ký (bia chùa Báo-ân xã Tháp-miếu, Vĩnh phú), đề năm 1210, đời Lý Cao Tông. Theo một bản vỗ tấm bia chùa, ca tụng công đức những người đóng góp công của vào chùa, thì mặt trước ghi các địa danh như Ðồng Chài, Ðồng Nhe..., mặt sau khắc tên những người cúng ruộng, mỗi tên đều có chữ thằng ở đầu. Tất cả có 24 chữ, viết với cả hai cách giả tá và hình thanh, nhưng phần lớn theo phép giả tá.

- Thơ văn đời Trần, còn 4 bài :

Cư trần lạc đạo (= ở chốn bụi bậm mà vui với đạo Phật), phú của Trần Nhân Tông ;

Ðắc thú lâm tuyền thành đạo (= được hưởng thú suối rừng mà thành đạo) là một bài ca, cũng của Trần Nhân Tông ;

Dậy con, của Mạc Ðĩnh Chi ;

Vịnh Hoa-yên tự (chùa Hoa-yên trên núi Yến-tử, tỉnh Quảng-ninh, xây từ đời Lý), của Trúc-lâm đệ tam tổ Huyền Quang.

- Ngoài ra, trong Thư viện Khoa Học Xã Hội ở Hà-nội còn giữ được 1186 quyển chữ Nôm, chưa kể các Thư viện khác ở trong nước, ở ngoại quốc hoặc của các tư gia.

Nhà nước phong kiến chỉ trọng chữ Hán, dùng làm chữ chính thức để "chở đạo", bàn những chuyện nghiêm chỉnh "quốc gia đại sự", hoặc để ban sắc lệnh vv. Chữ Nôm ai cũng hiểu, đáp ứng nhu cầu của đám đông, ghi được chính xác các thanh âm Việt thì lại bị các nhà Nho khinh là "nôm na mách qué", chỉ dùng để sáng tác "chơi" những khi muốn tiêu khiển. Phạm Ðình Hổ viết trong Vũ Trung Tùy Bút " :"Có người đem những sách truyện Nôm và những trò thanh sắc, nghề cờ bạc, rủ rê chơi đùa (...) ta bịt tai lại không muốn nghe. Ta đã học được ít kinh sử thế mà chữ Nôm ta không biết hết" (17).

Vì là thứ chữ không được nhà nước phong kiến công nhận là chữ chính thức nên không có quy luật nhất định, ai muốn viết sao thì viết, mỗi người một ý cho nên cùng một chữ có thể có nhiều cách viết khác nhau, hoặc cùng một chữ viết ra có thể có nhiều cách đọc khác nhau. Muốn hiểu một bài chữ Nôm thường phải đọc toàn bài trước rồi mới dựa theo nghĩa mà đoán.

Chữ Nôm được trọng có lẽ từ nhà Hồ. Hồ Quý Ly có thể là người đầu tiên muốn đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức. Sau nhà Hồ, đến thời Mạc Mậu Hợp, đề mục kỳ đệ tứ khoa Tiến-sĩ năm 1565 là một bài phú Nôm, một sự kiện chưa từng có trong lịch sử Khoa cử nước ta (18). Năm 1760, Lê Quý Ðôn làm Phó sứ sang Trung quốc đã gửi bản khải đầu tiên bằng Nôm dâng chúa Trịnh, tường thuật cuộc hành trình. Cuối cùng là vua Quang-Trung đã cho tổ chức khoa thi đầu tiên toàn dùng Nôm, tuy rằng đề mục vẫn còn bằng chữ Hán, vào năm 1789 (19).

Từ khi nhà Tây Sơn mất, chữ Nôm bị nhà Nguyễn gạt sang một bên mặc dầu khi Nguyễn Ánh chưa lên ngôi vẫn dùng chữ Nôm để ban sắc lệnh cho các tướng tá (ít chữ) dễ hiểu. Nguyễn Trường Tộ (1830-71) đã dâng điều trần lên Tự-Ðức, viện dẫn thống thiết đầy đủ lý lẽ nên trọng dụng chữ Nôm, song vô hiệu : "Nước ta là một nước có tên tuổi hàng nhì ở phương Ðông mà chỉ một mình nước ta không có chữ viết (...). Ta không dùng chữ viết riêng lại dùng chữ Nho, về phát âm đã không theo đúng giọng Trung quốc, cũng không phải tiếng phổ thông của nước ta, phải học thuộc lòng mặt chữ, phải vận dụng trí nhớ để nhớ những phát âm lạ tai (...) không học thì như vịt nghe sấm, thế có phải là phí hơn nửa công phu trí óc không ? Nếu học sách quốc âm, học sinh học ở nhà, đàn bà con trẻ nghe cũng hiểu, như vậy tuy không đi học mà cũng học được (...). Ở nước ta những kẻ lanh lợi đều đua nhau học chữ Hán, vùi đầu đèn sách hết năm này qua năm khác, phải chăng họ muốn trở thành người Trung quốc ? Thế mà đem nói với người Tầu, người Tầu chẳng nghe ra, nói với dân ngu, dân ngu chẳng hiểu (...). "Nói" là để cho người ta hiểu, nay mở miệng nói mà không ai nghe hiểu cả thì đó không phải là tiếng người nữa rồi (...). Thường tình ai lại không yêu quý cái vốn có của mình. Nước ta coi khinh cái vốn có của mình mà quý cái hiếm lạ của người, bỏ quốc âm của ta mà đem một nửa công phu cầu cái ngoắt ngoéo, thật mỉa mai thay !" (20).

Nhà Hồ, nhà Mạc, nhà Tây Sơn đều ý thức được tinh thần tự chủ, muốn trọng dụng chữ Nôm, bỏ chữ Hán, tách ra khỏi ảnh hưởng Trung quốc, tiếc rằng cả ba đều bị các sử gia xưa liệt vào hạng "ngụy" !


CHÚ THÍCH
1 - Trần Quốc Vượng, Lịch Sử Việt-Nam, I, tr. 388. Trích Hậu Hán Thư.
Ngô Thì sĩ, Việt Sử Tiêu Án, tr. 38.
2 - Phạm văn Sơn, Lịch Sử Toàn Thư, tr. 145 - Biên Niên, tr. 24.
3 - Phạm Minh Huyền vv., Trống Ðông-Sơn, tr. 35-8.
4 - Thái Kim Ðỉnh, Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ, tr. 13-4.
5 - Trương Sỹ Hùng, Sử thi thần thoại Mường, tr. 159-60.
6 - Phạm Ðình Hổ viết trong Vũ Trung Tùy Bút, tr. 38 :"Ðời Lê Trung Hưng về sau, giấy tờ chốn cửa công thường dùng riêng một lối chữ nam, lúc đầu là phòng dân làm giả mạo mới theo Hoa văn đặt ra một lối chữ việc quan", mặt khác, trang 18, ông chê "chữ Nôm" khó học vv., như vậy là Phạm Ðình Hổ có phân biệt chữ Nôm khác "chữ nam" ?
Chữ Nho ta không gọi là "chữ Bắc", lại gọi "chữ Hán", phải chăng vì thời Hán nước ta đặc biệt mở nhiều trường dậy học ?
7 - Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ, tr. 78.
Nguyễn Ðình Hòa,Văn Học Nghệ Thuật bộ mới (Hoa-kỳ), số 7, 11/1985 : Theo A. Haudricourt thì tiếng Việt lúc đầu không có thanh điệu, tới thế kỷ thứ VI chỉ có 3, mãi đến thế kỷ XII mới có đủ 6 âm như hiện nay.
8 - Thực Lục, II, tr. 62.
9 - Nguyễn Ðình Hòa,Văn Học Nghệ Thuật bộ mới, số 7 : thuyết của Phạm Huy Hổ.
10 - Văb Học Nghệ Thuật, số 7 - Ðào Duy Anh, Chữ Nôm, tr. 42.
11 - Văn Học Nghệ Thuật, số 7, tr. 58.
12 - Trần văn Giáp, Lược truyện các tác gia Việt-Nam, tập I : Bài thơ đuổi cá sấu in trên Tứ Dân Văn Uyển hồi đầu thế kỷ XX nói là của Hàn Thuyên và được một số sách báo in lại, đúng ra là của Phó bảng Nguyễn Can Mộng ngụy tạo để đùa chơi, tiếc rằng lời cải chính in trên một số báo sau đó ít người được đọc nên nhiều người vẫn tưởng là của Hàn Thuyên thực. Song nếu đọc kỹ sẽ thấy toàn bài không có lấy một từ ngữ cổ, thơ cũng không viết theo thể Hàn luật, khó có thể tin là của Hàn Thuyên.
13 - Ðào Duy Anh, Chữ Nôm, tr. 64.
14 - Một số người chủ trương là bản dịch xưa nay được coi là của Ðoàn thị Ðiểm chính thực là của Phan Huy Ích, song không ai đưa ra được những bằng chứng đích xác, tất cả vẫn chỉ là phỏng đoán.
15 - Khoảng năm 1962, Trần Thanh Mại tìm ra được một Hồ Xuân Hương, tác giả tập Lưu Hương Ký (gồm cả thơ chữ Hán lẫn chữ Nôm), sống ở Thăng-long đầu thế kỷ 19, nguyên quán ở Nghệ-an. Tuy nhiên, văn phong, khí phách của tác giả Lưu Hương Ký khác xa tác gíả những bài thơ Nôm truyền tụng nên trong hiện tình chưa thể xác quyết hai người là một.
16 - Nguyễn Quang Hồng, Văn Khắc Hán Nôm, tr. 1023.
17 - Phạm Ðình Hổ, Vũ Trung Tùy Bút, tr. 18.
18 - Trần Lê Sáng, Phùng Khắc Khoan, tr. 30.
19 - Nguyễn Trọng Thuật, Nam Phong, số 182, 3/1933.
20 - Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ, tr. 255-7.

Nguyễn Thị Chân Quỳnh
Nguồn: http://chimviet.free.fr/vanhoc/chquynh/thihuong/PH1%20CH%204%20CHU%20VIET.htm

Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

Múa Nơm Campuchia


Trích đoạn tiết mục biểu diễn cuối năm 2010
tại nhà hàng Tonle Mekong, Phnom Penh
*

Thứ Hai, 3 tháng 1, 2011

2010-2011 Trên Đất Chùa Tháp


Ảnh lưu niệm do người dân Siem Reap chụp ghép để bán cho du khách


Chiều cuối năm 2010 trên đỉnh tháp Angkor Thom


Ánh hoàng hôn trên tượng Phật Bayon


Vạt nắng cuối cùng trên khu Angkor Thom


Hoàng hôn nhìn từ sườn núi Bakheng


Một du khách ghi lại khoảng khắc quý giá


Rất đông du khách leo lên ngôi đền trên đỉnh Pnom Bakheng
để ngắm và chụp ảnh hoàng hôn cuối năm 2010





Hoàng hôn cuối cùng của năm 2010,
chiều tối 31.12.2010,
nhìn từ đền Bakheng
*