Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

Cụ Sáu Trần Lục và Nhà Thờ Phát Diệm


Phương đình (Thánh Cung Bảo Toà)

Một ô cửa đá trong phương đình

Nhà thờ lớn

 Bia mộ Cụ Sáu - Trần Lục

 Mộ Cụ Sáu nằm giữa sân nhà thờ

 Bên trong nhà thờ lớn



 Chặng đường Thánh Giá làm từ năm 1887

 Toà giảng

 Song cửa đá bên ngoài hành lang

 Nhà nguyện nhỏ

 Hang đá phía sau nhà thờ



Xem thêm ảnh trong Album Picasa:
***
*

NHÀ THỜ PHÁT DIỆM
NƠI NIỀM TIN KITÔ GIÁO  GẶP GỠ VĂN HOÁ VIỆT NAM

Posted on  by Xuân Bích Việt Nam

Từ Hà Nội, du khách muốn đến Nhà thờ Phát Diệm có thể đi theo quốc lộ số 1, tới tỉnh lị Ninh Bình rẽ vào quốc lộ số 10 đi tiếp 28 km về phía đông-nam 
phat-diem-3sẽ tới quần thể Nhà thờ Phát Diệm. Quần thể này luôn là địa điểm thu hút khách hành hương, du lịch thập phương do đã kết hợp hài hoà được hai nền kiến trúc rất khác biệt nhau, đồng thời cũng là nơi nền văn hoá Việt Nam đã diễn tả rất thành công niềm tin Kitô giáo. Trong khuôn khổ bài viết này, xin hân hạnh giới thiệu với bạn đọc gần xa đôi nét về Cụ Sáu, về tâm thức Việt Nam toát lên nơi quần thể này, và về việc thích nghi phụng vụ Kitô giáo vào nền kiến trúc dân tộc.
Nhà thờ Phát Diệm và Cụ Sáu
Từ xa xưa, đã lâu lắm rồi, vùng Kim Sơn Phát Diệm là một phần của cửa biển Thần Phù, nơi một nhánh sông Hồng và sông Càn giao nhau ở Biển Đông mênh mông. Thiên nhiên đã biến nơi đây thành một cửa biển mà mức độ nguy hiểm từng đi vào ca dao:
Lênh đênh qua cửa Thần Phù,
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.
Một trong những chứng tích của thời xa xưa còn sót lại là chữ Thần () được tạc vào vách đá mà nét chữ cùng với dấu rêu phong như còn đang lên tiếng nhắc nhở về quá khứ.
Rồi biển sóng nhường chỗ cho đất bồi cứ lấn mãi, lấn mãi để đến năm 1829, Doanh Điền Sứ  Nguyễn Công Trứ  phat-diem-2đến vùng ven biển Ninh Bình khai khẩn đất hoang lập nên huyện Kim Sơn gồm bảy tổng, 60 làng trại với 14 620 mẫu ruộng. Những ngôi làng của vùng đất nhuộm đẫm phù sa được cụ Nguyễn Công Trứ sắp đặt theo chiều Bắc – Nam với những con sông nhỏ chạy song song giống như những con rồng vươn mình ra phía biển khơi. Những tên làng cũng thật đẹp: Trì Chính, Thủ Trung, Lưu Quang, Hướng Đạo, Hoà Lạc…, rồi Phát Diệm, nghĩa là toả ra vẻ đẹp.
Công cuộc doanh điền của cụ Nguyễn Công Trứ đã đặt nền tảng cho sự phát triển của cả miền Kim Sơn sau này.
Gần 40 năm sau, một người khác đã nối chí Nguyễn Công Trứ trong việc khai khẩn đất hoang, đồng thời để lại cho vùng Kim Sơn – Phát Diệm những di sản quí giá, đó là Cha Phêrô Trần Lục.
Cũng nên biết Cha Phêrô Trần Lục vốn tên là Hữu, sinh năm 1825 ở họ Đạo Đức, xứ Kẻ Dừa, nay thuộc giáo phận Thanh Hoá. Năm 15 tuổi, cậu Hữu  vào sống với cha Tiếu tại giáo xứ Bạch Bát, nay là xứ Bạch Liên thuộc giáo phận Phát Diệm. Năm 1845 cậu Hữu được cha Tiếu cho vào học Trường Latinh ở Vĩnh Trị, ở đây, cậu được cải tên thành Trần Triêm. Năm 1858, thày Triêm lãnh tác vụ Phó Tế. Cũng năm này thày bị bắt, bị đi đày vì đạo ở Lạng Sơn. Chính tại nơi lưu đày biệt xứ, thày được mọi người gọi bằng cái tên sau này sẽ trở nên quen thuộc: tên gọi Cụ Sáu. Những thăng trầm thế cuộc đã rèn đúc Cụ Sáu thành một con người có ý chí và nghị lực phi thường để sau này Cụ Sáu có dịp dụng công kiến tạo và lưu lại cho đời sau một công trình bất hủ, cũng là niềm tự hào của nền kiến trúc Việt Nam: quần thể Nhà thờ lớn Phát Diệm.
Năm 1865, sau khi từ chốn lưu đày trở về được ba năm, cha Phêrô Trần Lục tới coi xứ Phát Diệm. Vậy là tâm huyết của cha Phêrô Trần Lục cùng với mồ hôi và lao nhọc của người xưa đã hoá thân thành cái đẹp nơi Nhà thờ lớn Phát Diệm, cái đẹp trầm tư mà lộng lẫy, nhẹ nhàng mà uy nghi, kín đáo mà trang nghiêm, uyển chuyển mà vững vàng, thanh cao mà gần gũi. Dường như nơi đây, cùng với công sức con người, Tạo Hoá đã dùng thời gian và chuyện “thương hải tang điền” mà làm nên một cuộc so sánh ngoạn mục bằng những thái cực đối lập nhất: lâu đài nguy nga trên bãi sa bồi lầy lội; xưa là biển sóng, nay là làng quê; xưa dữ dội, nay hiền hoà; xưa nguy hiểm, nay bình yên; xưa mênh mông hoang vắng, nay trù phú đông vui.
Kể từ khi nhận nhiệm vụ coi sóc xứ Phát Diệm vào năm 1865 cho tới khi qua đời, vào năm 1899, trong vòng 34 năm, với những phương tiện hết sức thô sơ, Cụ Sáu đã lần lượt xây cất các công trình đồ sộ trong quần thể Nhà thờ Phát Diệm:
Năm 1875, Cụ dựng Núi Táng Xác với qui mô rất đồ sộ nhằm mục đích thử độ lún của đất tân bồi. Núi này từ năm 1954 được đổi tên thành Núi Sinh Nhật.
Năm 1883, Cụ cho xây dựng nhà nguyện dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ. Nhà nguyện này hầu như hoàn toàn bằng đá và được coi là viên ngọc trong quần thể Nhà thờ Phát Diệm.
Năm 1889, Cụ cho xây dựng nhà nguyện dâng kính Trái Tim Chúa.
Năm 1891, Cụ tiến hành xây dựng Nhà thờ dâng kính Đức Mẹ Mân Côi, còn gọi là Nhà thờ lớn Phát Diệm. Đây là công trình quan trọng nhất, cũng là công trình đòi hỏi nhiều nhân tài vật lực nhất.
Năm 1895, Cụ cho xây dựng nhà nguyện kính thánh Gioan Tiền Hô. Năm 1923, nhà nguyện này được đổi tên thành nhà nguyện kính thánh Rôcô.
Năm 1896, Cụ tiến hành xây dựng ba công trình: Vườn Giệtsimani, từ năm 1925 đổi thành núi Lộ Đức, nhà nguyện kính thánh Phêrô, và nhà nguyện kính thánh Giuse.
Năm 1898, Cụ dựng Hang Bêlem, sau này đổi tên thành Núi Sọ.
Năm 1899, Cụ tiến hành xây dựng công trình sau cùng là Phương Đình. Theo ý kiến của nhiều người, đây là công trình tinh tế nhất và đẹp nhất trong quần thể này.
Cụ còn có dự định xây một toà tháp cao 60 m. Tiếc thay, Cụ chưa kịp thi hành ý định tốt đẹp này thì đã được Chúa gọi về ngày mùng 6 tháng 7 năm 1891(1).
Như vậy, hầu như trọn vẹn cuộc đời Cụ Sáu đã gắn liền với Phát Diệm. Chẳng vậy mà một người Pháp từng nói: “Phát Diệm tức là cha Sáu”­(2).
Để ghi nhớ công đức Cụ Sáu cũng như công ơn cao dầy của tiền nhân, và cũng để phát huy truyền thống tốt đẹp của Phát Diệm, năm 2001, Đức Cha Giuse Nguyễn Văn Yến đã cho xây dựng Nhà Truyền Thống giáo phận Phát Diệm theo phong cách Á Đông với các đường nét hoa văn mô phỏng phong cách của Nhà thờ lớn. Nơi đây những mốc lịch sử quan trọng của Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt là của giáo phận Phát Diệm được trân trọng lưu giữ, trong đó gương mặt nổi bật nhất là Cụ Sáu.
Nhà thờ Phát Diệm: đường nét kiến trúc mang tâm thức Việt Nam – Bài thơ trên  gỗ đá
Thế nhưng công trình Cụ Sáu để lại không chỉ đồ sộ, không chỉ thêu gấm dệt hoa cho Phát Diệm, công trình ấy còn là phản ảnh trung thực của tâm hồn người Việt Nam và là một bài thơ trên gỗ đá.
Vùng đất màu mỡ Kim Sơn vốn được phù sa sông Hồng nâng niu bồi đắp, lại nằm ở thế đất có thể coi là tuyệt đẹp theo cái nhìn phong thuỷ: “Bối sơn, diện thuỷ hướng dương”(3), tức là lưng dựa vào núi, mặt nhìn ra biển đón ánh mặt trời. Thế đẹp của dải đất gấm vóc này dường như được thu nhỏ, kết tụ lại nơi quần thể Nhà thờ Phát Diệm: vẫn núi ở sau lưng, vẫn mặt nước long lanh soi bóng mái cong cổ kính và ánh mặt trời làm cho tất cả thêm rực rỡ lung linh.
Cả quần thể này như  một tiếng nói sống động phản ánh tâm thức người Việt Nam.
Ta gặp nơi đây bố cục kiến trúc theo phong cách truyền thống.
Nhìn từ xa, toàn bộ công trình là những mái đao cong cong duyên dáng thấp thoáng giữa tán cổ thụ, những nét mái cong đan xen vào nhau dầy đặc nhưng không rối, trùng trùng điệp điệp nhưng vẫn thanh thoát nhẹ nhàng. Đường cong và đường thẳng ở đây dường như là phản ảnh của quan niệm vuông tròn, của triết lý Âm – Dương, hay là vũ trụ quan người Việt.
Toàn bộ công trình không vươn cao, nhưng trải rộng ra, đối xứng với nhau qua trục trung tâm. Từng hạng mục và tổng thể hài hoà với khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, với con người chất phác mộc mạc. Vẫn là bố cục quen thuộc ta từng gặp ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, ở cố đô Huế, đó là bố cục theo triết lý về sự hài hoà của Thiên – Địa – Nhân, sự hài hoà các yếu tố Âm – Dương, theo các nguyên tắc phong thuỷ. Con số được ưa dùng ở đây vẫn là những con số lẻ, tức là số dương, phản ánh khát vọng phát triển, thịnh vượng (4).
Rồi những chi tiết nhỏ hơn trong quần thể cũng tuân thủ tuyệt đối theo những nguyên tắc kiến trúc Việt Nam.
Từng công trình trong quần thể đều được thực hiện theo cấu trúc “thượng thu hạ thách”(5), tức là càng lên cao càng nhỏ lại để tạo độ vững chãi. Mỗi cây cột đều theo kiểu “đầu cán cân, chân quân cờ”(6). Và mái ngói ở đây là ngói vảy rồng, mang nét đặt trưng của phong cách kiến trúc thuộc dòng dõi con Lạc cháu Hồng.
Về đường nét kiến trúc, dẫu có xen lẫn đôi chút đặc tính gô-tích, nét chính yếu, nét rõ nhất, nét đậm nhất vẫn là phong cách Việt Nam.
Đi vào chi tiết, ta thấy tính cách của tâm hồn người Việt Nam hiển hiện nơi mái cong mềm mại mà cao vút, uyển chuyển mà hiên ngang giống thế rồng bay, lại như phượng múa. Tâm hồn ấy bàng bạc trong tiếng chuông trầm ấm, không lảnh lót nhưng sâu lắng ngân vang giữa miền quê thanh bình. Tâm hồn ấy phảng phất trong dáng ngồi ung dung tự tại của các vị Thánh Sử, trong nét mặt các nhân vật nơi các bức phù điêu mang đậm phong cách hội hoạ dân gian. Và tâm hồn ấy hiển hiện trong cách bố trí của vòm tròn úp trên sập vuông, hình ảnh cho thấy vũ trụ quan đặc trưng của người Việt Nam: trời tròn và đất vuông.
Nét tinh tế nơi con người đất Việt được thể hiện qua từng chi tiết chạm trổ công phu và tài hoa, những đường lượn, những lá lật nhẹ nhàng thanh thoát. Dường như  những gì tinh tuý nhất nơi người Việt đã hội tụ nơi đây. Những tính cách đối lập nhất khác biệt nhất lại đứng bên nhau, bổ túc cho nhau: hùng tráng và giản dị, vĩ đại và gần gũi, thanh cao và mộc mạc, mềm mại và vững vàng, rực rỡ và đơn sơ.
Thật đúng như lời nhận xét của nhà nghiên cứu Phạm Đình Khiêm về Cụ Sáu: “Cụ giữ vững tinh thần dân tộc và tìm được ở đó những hướng dẫn công trình xây dựng của Cụ”, và về quần thể kiến trúc: “Du khách đến Phát Diệm, chiêm ngưỡng kỳ công kiến trúc của Cụ Sáu, nếu lòng biết hỏi lòng, tất sẽ rạo rực lên trước cái tinh tuý hiển hiện của tinh thần Việt Nam, cái hào khí của dân tộc Việt Nam như quyện lấy cái linh thiêng của tôn giáo nơi đây”(7).
Còn về chất liệu xây dựng, nơi đây ta gặp lại những chất liệu quen thuộc trong các kiến trúc đình chùa đền miếu Việt Nam: gỗ và đá. Là gỗ đấy, phat-diem-4là đá đấy, trơ như gỗ như đá đấy, nhưng tất cả đã được Cụ Sáu thổi vào cái hồn để chúng cất lên tiếng nói của riêng mình.
Gỗ tham gia vào hầu hết các công trình ở đây. Gỗ uốn lượn, gỗ hoá thân thành thiên hình vạn trạng. Những đường riềm, những đường tầu lá mái, những chiếc bẩy chạm trổ hết sức tinh xảo. Nét chạm có chỗ nhẹ nhàng tinh tế, có chỗ mạnh mẽ uy nghiêm. Tất cả dường như đều đã được tính toán kỹ lưỡng để chúng hài hoà, nương tựa và bổ túc cho nhau tạo thành một tổng thể hài hoà. Dường như tất cả nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc gỗ với lịch sử hàng nghìn năm trên đất Việt đã về đây dự hội. Có nét huy hoàng, uy nghi đường bệ của chốn đế đô; có nét duyên dáng của những Tây Đằng, Thổ Hà, Chu Quyến, Chùa Keo; có phong cách chạm trổ tinh xảo của những Đền Vua Đinh, Vua Lê, những Đình Bảng, Phù Lão, Hương Canh, Ngọc Canh. Ngắm nhìn cửa vào nhà nguyện Trái Tim Chúa ta có cảm tưởng rằng đây là hội tụ của những gì đẹp nhất, tuyệt vời nhất của nghệ thuật chạm khắc Việt Nam. Từng đường nét, từng  chi tiết đều tinh tế khiến ngay cả những người khó tính nhất cũng phải trầm trồ thán phục.
Phải chăng cả công trình là một bản hoà tấu du dương hùng tráng mà mỗi nét chạm trổ chính là những âm ba trầm bổng khác nhau. Thi hào Nguyễn Du có đến đây chắc cũng phải thốt lên:
“Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời.
Tiếng thưa như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”(8).
Không còn nghi ngờ gì nữa, quần thể này chính là một nhạc khúc thiên cung, nơi Thiên Chúa đến với con người và con người có thể “chạm” vào Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa vốn chẳng phải là vẻ đẹp hoàn mỹ đấy sao.
Còn đá, đá ở đây không còn “trơ gan cùng tuế nguyệt”(9), nhưng cất lên tiếng nói. Đá làm cổng, đá xây vòm, đá làm tường, đá làm cột, làm kèo, làm chấn song, đá hiện thân thành “trúc xinh trúc mọc đầu đình”, đá nở thành những chùm hoa, thành cánh bướm, chú chim sẻ tung bay bên tùng cúc trúc mai… Đá cũng mềm mại như tấm màn đang vén lên nhẹ nhàng mà thanh tao.
Những bàn thờ và những bức phù điêu đồ sộ được chạm trổ hết sức công phu. Không còn là những cánh hoa, những nhành lá, mà là cả một rừng hoa, cả từng bụi lá. Tất cả đan xen vào nhau, từng chùm, từng chùm mà vẫn không thô tục tầm thường. Ta như lạc vào giữa chốn thần tiên, thực đấy mà hư, hư đấy mà thực.
Đá cũng cất lên tiếng nói rất riêng: nơi thì là cảnh Chúa Giêsu vác thánh giá, Chúa Giêsu chịu đóng đinh; nơi lại là cuộc thăm viếng của Đức Mẹ tại nhà bà Êlisabét hay Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu tại Bêlem; nơi khác lại là gương mặt tròn đầy của một vị thánh, là ông Philatô đội mũ cánh chuồn. Dường như đá cũng biết vui biết buồn theo từng chặng đường đời của Chúa Giêsu, của Đức Mẹ; đá cũng có khi nghiêm nghị, trầm tĩnh, lúc lại tha thiết tình cảm theo gương mặt của từng vị thánh.
Hoa cỏ ở đây, chim muông ở đây, con người ở đây sinh động cứ như vừa từ đời thực hoá thân vào đá, và rồi biết đâu lúc nào đó tất cả sẽ động đậy bước vào đời thực.
Nơi những bức chạm giới thiệu chim phượng đang múa, chim phượng đang xoè cánh tung bay, đường nét mới đẹp làm sao, mới tinh tế uyển chuyển làm sao.
Những chú sư tử đá cũng biết nhoẻn miệng cười, bờm dài rủ xuống, tấm thân mềm mại tuyệt vời; những chú khác lại tung bờm uy nghi hùng dũng, “lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng”(10) trong một tư thế rất hùng tráng uy nghi.
Nếu để ý hơn ta sẽ thấy bên cánh phượng hoàng là trăm ngàn đám mây rực rỡ muôn màu, dưới chân sư tử là hoa cỏ xanh tươi. Những cảnh này chẳng phải là cảnh thực ư? Là thực đấy, nhưng lại là đá đấy.
Nơi đây,  dường như những gì thô mộc nhất lại trở nên tinh tế nhất, thâm sâu nhất. Và có lẽ cũng chẳng có mấy nơi giống như nơi này, nơi mà đá đồng nghĩa với mềm mại uyển chuyển, với rực rỡ thanh cao.
Nhà điêu khắc Michelangelo nếu có đến đây hẳn cũng phải thốt lên: Hoa ơi, hãy thơm hương khoe sắc đi! Phượng hoàng ơi, hãy tung cánh vẫy vùng đi! Sư tử ơi, hãy sải những bước chân hùng dũng!
Vậy phải chăng nơi đây là chỗ vạn vật gặp nhau, là vũ trụ thu nhỏ lại? Không, nơi đây chính là một bài thơ, bài thơ tuyệt bút được ghi trên đá.
Thì chính Cụ Sáu đã nói đấy thôi:
“Lòng xấu xa nói ra thẹn miệng
Biết lấy gì làm tiếng ngợi khen
Một nhờ tiếng đá tự nhiên
Hát mừng cảm tạ vô biên lòng Người.”(11)
Tiếng “Người” ở đây chính là Thiên Chúa. Thì ra Cụ Sáu tự cảm thấy mình không xứng đáng dâng lời ngợi khen Thiên Chúa. Cụ đã mượn“tiếng đá tự nhiên” chúc tụng thay cho Cụ. Nếu thế thì quả thực Cụ đã rất thành công khi làm thành bài thơ bằng tiếng đá với muôn vạn sắc màu, với trăm ngàn cung bậc, với đủ cả cảnh sắc thiên cung – hạ giới. Những gì Cụ để lại thật đúng là bài thơ trên đá vậy.
Nhà thờ Phát Diệm: một công trình thích nghi phụng vụ về mặt nghệ thuật, một nét hội nhập văn hoá
Nhưng nếu chỉ có những gì kể trên thì quần thể Nhà thờ lớn Phát Diệm bất quá cũng chỉ là một công trình làm vui mắt du khách thập phương. Thực ra, rộng hơn, cao hơn và thâm sâu hơn vẻ đẹp rực rỡ trước mắt du khách và tín hữu hành hương từ khắp miền chính là quan điểm thích nghi phụng vụ về mặt nghệ thuật hội nhập văn hoá.
Nét thích nghi phụng vụ rõ nét nhất ta có thể nhận ra nơi đây là cách bố trí của toàn bộ công trình và của từng hạng mục.
Vẫn không gian thông thoáng, trải rộng của kiến trúc truyền thống Việt Nam, nhưng cách sắp đặt lại có những thay đổi để phù hợp các lễ nghi và phụng vụ Công giáo. Nét trải rộng của kiến trúc Việt Nam đã được lợi dụng triệt để khi Cụ Sáu cho xây dựng đường kiệu bao bọc công trình. Như thế, công trình này vừa đáp ứng được nhu cầu lễ hội đã thấm sâu vào từng đường gân thớ thịt người Việt, vừa phù hợp với phụng vụ của Hội Thánh. Xa hơn nữa Cụ đã khéo léo thích nghi các cuộc rước từ trang phục tới các cỗ kiệu, thứ tự, để vẫn giữ được các nguyên tắc phụng vụ, đồng thời làm cho chúng mang một sắc thái mới đậm đà bản sắc Việt Nam.
Về mặt kiến trúc, đến với Phát Diệm, ta gặp lại cách bố trí quen thuộc của các ngôi thánh đường Công giáo. Vẫn tháp chuông, rồi nhà thờ với lối vào chính theo chiều dọc, giếng rửa tội, toà giảng, gian cung thánh, thế nhưng tất cả đều đã được biến đổi. Kiến trúc truyền thống Việt Nam đã được sắp đặt lại cho phù hợp với các lễ nghi Công giáo, và kiến trúc các ngôi nhà thờ Châu Âu đã được khoác cho một tấm áo Việt Nam.
Vẫn tháp chuông đó, nhưng không cao vút lên như ta thường gặp. Tháp chuông ở đây bề thế uy nghi với mái cong cổ kính. Ngay cả cái tên cũng đã được thích nghi: Phương Đình, chứ không phải tháp chuông. Còn tên chính thức ghi trên toà nhà này là “Thánh Cung Bảo Toà”,là “Capella in Coena Domini”, tức là “Nhà Nguyện Bữa Tiệc Ly của Chúa”. Thì ra hình như Cụ Sáu muốn nói với mọi người rằng: Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài đã ngồi ăn bữa tiệc sau hết trong ngôi nhà này, trên chiếc sập đá trong toà nhà này theo phong cách rất Việt Nam. Và cả tiếng chuông nữa, tiếng chuông không lảnh lót, nhưng chầm chậm, trầm hùng giữa cõi thinh không.
Ở ngôi Nhà thờ Chính Toà, lối vào không theo chiều ngang như ta quen gặp trong các đền chùa đình miếu, nhưng theo chiều dọc. Lòng nhà thờ vút cao nên. Đây có phải chăng là đôi nét gôtích? Nhưng rõ ràng mọi chi tiết cột, kèo, bẩy, mộng, và cả hoa văn nữa là đường nét Việt Nam, nét Việt Nam hiển hiện qua từng chi tiết nhỏ. Gian cung thánh nơi đây thật rực rỡ uy nghi. Nhìn không kỹ, người ta sẽ dễ lầm nơi đây với điện Thái Hoà ở cố đô Huế. Chẳng vậy mà mà một ký giả người Pháp đã từng phải thốt lên: “… có lẽ khắp hoàn cầu không có những nhà thờ nào rực rỡ như trong nhà thờ Phát Diệm, trùng trùng điệp những bức cuốn, càng vào trong càng lộng lẫy”(12).
Bên cạnh việc thích nghi qua cách bố trí tổng thể, nơi quần thể Nhà thờ Phát Diệm, còn có việc thích nghi qua phong cách tạo hình.
Từ ngoài đi vào, ta gặp thấy ở Phương Đình các pho tượng trên bốn đỉnh tháp mà từ đường nét, tư thế đến đường mây nếp áo khiến ta dễ lầm với các pho tượng trong các đền chùa Việt Nam. Thực ra đây là tượng bốn vị Thánh Sử. Theo truyền thống hội hoạ phương Tây, các thánh thường ở tư thế đứng, bởi đây là tư thế diễn tả niềm hy vọng phục sinh(13). Khi đến đây, các ngài đã “nhập gia tuỳ tục”, vì theo người Việt Nam, ngồi là tư thế của người danh giá uy quyền.
Đến đây ta còn gặp muôn vàn bức phù điêu giới thiệu những tích trong Thánh Kinh và lịch sử Giáo Hội với trăm hình ngàn vẻ. Tuy nhiên, điều rõ ràng nhất, đậm nét nhất là khuôn mẫu tạo hình ở đây không phải là phong cách Âu châu mà là phong cách theo truyền thống dân gian Việt Nam. Khuôn mặt Chúa và các vị thánh có những nét tròn và đầy thể hiện sự viên mãn. Ai đó có thể xem vài bức phù điêu rồi nhận xét là các tác phẩm này không được cân đối lắm. Song đó lại chính là đặc tính của tranh tượng dân gian Việt Nam: không tả thực mà thiên về cách điệu.
Nét thích nghi và hội nhập có tính quyết định nhất và táo bạo nhất có lẽ là thích nghi về mặt tư tưởng. Người xưa từng nói: “Văn dĩ tải đạo”. Mọi tác phẩm nghệ thuật ở quần thể này dường như đều hàm chứa những tư tưởng hết sức sâu xa.
Nơi đây ta thấy có những bức chạm đá tuyệt vời giới thiệu mai, trúc, cúc, tùng, bốn thứ cây tượng trưng cho bốn mùa. Truyền thống Việt Nam vẫn coi bốn thứ cây này là hình ảnh người quân tử với tính cách thanh cao, ngay thẳng, can đảm và kiên trì. Dường như Cụ Sáu muốn thông qua thứ biểu tượng thân quen này để trình bày về người công chính theo cái nhìn Thánh Kinh.
Nơi quần thể này còn có vô số những tác phẩm trình bày quan điểm thần học về Đức Mẹ.
Nơi bàn thờ của nhà nguyện Trái Tim Đức Mẹ, có bức phù điêu ở chính giữa giới thiệu trái tim bị đâm thâu qua, tức là biểu tượng Trái Tim vô nhiễm nguyên tội Đức Mẹ. Hai bức phù điêu hai bên, một bức giới thiệu một chiếc giếng phủ kín, trên nắp giếng có đề chữ:“Puteus Signatus”; bức bên kia giới thiệu một khu vườn rào đầy ắp những hoa được khoá kín. Đây chính là hai hình ảnh được lấy từ sách Diễm Ca 4,12 nhằm diễn tả đức đồng trinh vô nhiễm nguyên tội của Đức Mẹ. Ở hai cạnh bên của bàn thờ còn có hai bức phù điêu sinh động về cụm sen nhằm giới thiệu sự trong trắng của Đức Mẹ theo cái nhìn Việt Nam. Nhìn kỹ hơn ta thấy trung tâm bức phù điêu là lá sen được chạm theo hình thánh giá, xung quanh là vòng đời cây sen được chạm theo vòng tròn. Đây phải chăng là tuyên ngôn về lòng bao dung và hoà đồng tôn giáo, về việc đặt ơn cứu độ của Chúa Kitô ở trung tâm của mọi thăng trầm lịch sử?
Ta cũng không thể bỏ qua bức chạm hết sức công phu giới thiệu hình ảnh một chú chim phượng hoàng đang sải cánh bay. Có lẽ chẳng ở nơi nào khác có được hình ảnh chim phượng hoàng trên đá rực rỡ và tinh tế như ở đây. Chim phượng hoàng vốn là biểu tượng của sự trong trắng, trổi vượt, của hạnh phúc và của vị nữ hoàng. Mỏ chim lại mang sợi dây buộc bút và nghiên. Dường như Cha Sáu muốn thông qua hình ảnh này để giới thiệu cho ta vẻ đẹp độc nhất vô nhị của Đức Mẹ cùng với một thông điệp thần học quan trọng: Đức Mẹ đã cưu mang Ngôi Lời Thiên Chúa trên thân xác Ngài.
Nơi nhà nguyện Trái Tim Đức Mẹ, ta còn thấy hai tuyệt tác chạm cả hai mặt. Mặt trong là biểu tượng Lưỡng Nghi với những cuồng mây u tối đặt giữa một hình trái tim. Người Phương Đông vẫn coi Âm – Dương là cội nguồn của tất cả, là nguyên lý chi phối tất cả. Nhìn vào bức chạm này, ta chợt nhớ đến lời đầu tiên trong sách Sáng Thế: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm”(14), và lời đầu tiên trong Tin Mừng theo thánh Gioan: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời”(15).
Mặt ngoài của bức chạm này là chú sư tử đang cười. Phải chăng qua tác phẩm này, Cụ Sáu muốn nói rằng: Chúa Giêsu đã mang niềm vui đến cho thế giới tăm tối, Ngài là trung tâm, là cội nguồn và nguyên lý chi phối vũ trụ.
Quần thể này cũng còn chứa đựng bao tác phẩm nghệ thuật trình bày cái nhìn thần học về Chúa Giêsu. Ở bàn thờ nơi nhà nguyện Trái Tim Chúa những bức phù điêu giới thiệu nơi thì con chiên, nơi thì chim bồ nông lấy máu thịt mình nuôi con, nơi khác lại là con sư tử. Bởi vì truyền thống Kitô giáo vẫn gọi Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, là Đấng đã hy sinh mạng sống để cứu muôn người, là sư tử chiến thắng của nhà Giuđa.
Ta không khỏi trầm trồ thán phục vì một trăm năm sau Cụ Sáu, Công Đồng Vaticanô mới khẳng định hướng đi đúng đắn của Cụ: “Bất cứ những gì trong tập tục, không liên quan mật thiết với dị đoan và lầm lạc, đều được Giáo Hội mến phục với thiện cảm, và nếu có thể, còn được bảo tồn trọn vẹn. Hơn nữa, đôi khi những tập tục đó còn được Giáo Hội nhận vào trong phụng vụ, miễn sao hoà hợp với những nguyên tắc của tinh thần phụng vụ đích thực và chân chính”(16).
Ta đã lướt qua một vòng để  chiêm ngưỡng kỳ công Cụ Sáu để lại. Ấn tượng sâu đậm nhất trong ta là ngỡ ngàng khâm phục tài tổ chức, óc thẩm mỹ, khả năng diễn đạt và chiều sâu tư tưởng Cụ Sáu gửi gắm trong quần thể này. Đứng trước công trình này, mọi ngôn ngữ đành bất lực nhường chỗ cho sự im lặng, im lặng chiêm ngưỡng, im lặng thành kính. Cụ Sáu quả là người có khả năng tổng hợp tất cả để chúc tụng Thiên Chúa. Điều này đã được một người Pháp sống cách chúng ta hơn một thế kỷ  cho biết ý kiến: “Cụ Sáu có óc tưởng tượng thần thánh. Cụ vay mượn tất cả những gì Cụ đã học biết hoặc đã nhìn thấy trong các tranh ảnh. Cụ dung hoà châm chước thành một lối mới, kiểu mới của Cụ, cho nên ta thấy nghệ thuật Trung Hoa phối hợp với Việt Nam trong cách chạm trổ, kiểu gô-tích huy hoàng trên các đầu cột, kiểu thời Phục Hưng ở nước Ý trên những bộ cửa ra vào. Chúng tôi cảm thấy sửng sốt ngạc nhiên. Nhưng nó không có cái gì xấu, cũng không có cái gì chướng mắt. Cụ Sáu đã làm cho tất cả đều hài hoà tốt đẹp. Quả thực Cụ đã sáng tạo một thứ kiểu của riêng Cụ”(17). Một thế kỉ sau, nhà báo Pháp René le Clère khẳng định: “Nếu như ở Pháp, thế kỉ XIII là thế kỉ vĩ đại của các ngôi nhà thờ chính toà, thì dường như vào thời điểm xây cất Nhà Thờ Phát Diệm, con người đã đạt tới tuyệt đỉnh kiến trúc và thẩm mĩ”(18).
Đúng là Cụ Sáu “đã sáng tạo một thứ kiểu của riêng Cụ”. Đó cũng chính là đường hướng hội nhập văn hoá mà Giáo Hội cổ võ.
Để thay cho lời kết, thiết tưởng cũng cần nêu ra đây lời nhận xét của Đức Cha Phaolô Nguyễn Minh Nhật về quần thể này: “Hiền hoà trong nét trầm mặc của các tôn giáo Phương Đông mà diễn tả được Đức Tin nhập thế của Kitô giáo”(19).

Toà Giám Mục Phát Diệm, 31-07-2002
KIM ÂN
———————–
(1) X.  Lịch Sử Cụ Sáu, Imprimerie de Qui Nhon, 1930, tr. 78.
(2) Trích theo Mgr  Olichon, Le Père Six, tr. 131.
(3) Hàn Phong, Những kiến giải mới về phong thuỷ, tập san Khoa học và đời sống, số 174, tr. 91-  96.
(4) X. Trần Ngọc Thêm, Cơ Sở Văn Hoá Việt Nam, in lần thứ hai, trường đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh 1996, tr. 265 – 267.
(5) X. Sđd.
(6) X. Sđd.
(7) X. Phạm Đình Khiêm, Trần Lục: Hai sứ điệp trên đá, in trong Trần Lục, Canada 1996, tr. 117-126.
(8) Nguyễn Du, Truyện Kiều.
(9) Thơ Bà Huyện Thanh Quan.
(10) Thơ Thế Lữ.
(11) Tự tình Cụ Sáu.
(12) Yvonne Schultz, Illustration, 9 novembre 1929.
(13) X. Mục từ Sống lạiĐiển ngữ thần học Thánh Kinh, bản dịch của phân khoa thần học Giáo Hoàng học viện Piô X, Đà lạt, Việt Nam, 1973, tập III, tr. 402 – 414.
(14) St 1, 1-2.
(15) Ga 1,1.
(16) Công đồng Vaticanô II, hiến chế Phụng Vụ, số 37.
(17) Trích theo Mgr Olichon, Le Père Six, tr. 123-124.
(18) René le Clère, L’insolide cathédrale de Phát Diệm de bois de fer, de pierre, de larmes et de prières, le Courrier du Vietnam, 4 juillet 1999, số 1642, tr. 8.
(19) Đức Cha Phaolô Nguyễn Minh Nhật, Lời giới thiệu cuốn Một kỳ quan quốc tế tại Phát Diệm của Hoàng Xuân Việt, bản in Rônêô, 1991.
(Hình ảnh của tác giả)

KIM ÂN
 Nguồn: http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2009/02/09/nha-tho-phat-diem/

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Ba Đợt Văn Minh



Có người cho rằng các cụ xưa thêu thùa khi móc nối tổ tiên Việt vào họ Thần Nông! Đó không phải là thêu thùa mà tất nhiên phải như thế, bởi vì Bách Việt với Tam Miêu là hai ngành lớn của Viêm tộc cũng có thể nói Viêm tộc là tên đầu tiên của Bách Việt thuộc dòng dõi Thần Nông. Chữ Thần Nông đây không nên hiểu là một nhân vật nhưng là một đợt văn minh đã đi vào nghề nông. Thần Nông lấy hiệu là Viêm Đế (chữ hán). Chữ Viêm kép bởi hai chữ hỏa nên Thần Nông cũng là Thần Lửa, vì có thể do hai lý do sau: một là để duy trì kỷ niệm phát minh ra lửa (Toại Nhơn), hai nữa là dùng lửa đốt rẫy phá hoang để cấy lúa. Vì một hoặc cả hai lý do đó mà từ hậu nông nghiệp và lửa gắn liền với Viêm tộc trong rất nhiều danh hiệu như Xích Quỷ (quẻ li), Thái Hạo, Đế Minh, Nhật Nam v.v… Vì thế con cháu Thần Nông hay những người làm nghề nông đầu tiên gọi là Viêm tộc. Và khi sử viết rằng cháu ba đời vua Thần Nông là Đế Minh thì chỉ có ý nói tới mối liên hệ nông nghiệp đó. Có lẽ người xưa đã muốn ghi mối liên hệ này vào dạng tự, vì chữ Việt (chữ hán) ban đầu viết với bộ Mễ là gạo, còn chữ Miêu viết với bộ thảo và chữ điền nói lên rõ tính chất nông nghiệp, nên trong Kinh Thư gọi họ là “Hữu Miêu” (hán) nghĩa là dân có ruộng. Vì mối liên hệ văn minh nông nghiệp này nên việc gì xảy tới cho Thần Nông cho Hữu Miêu thì cũng âm vang sang Bách Việt. Bởi cả hai đều là con cháu Thần Nông cùng là Viêm tộc tức cùng chung một nền văn hóa nông nghiệp và sự kiện lịch sử lớn lao hơn hết trong nền văn hóa này là việc chống lại nền văn minh du mục của Hoa tộc tuy đến sau nhưng lại mạnh hơn. Nhưng mạnh hơn về võ lục mà lại yếu hơn về tinh thần nên cuối cùng mỗi bên đóng góp một khía cạnh để tạo ra nên Nho giáo nguyên thuỷ. Vậy hỏi Viêm tộc đã đóng góp được những gì trong quãng thời gian không thể hạn định mà người sau quen chỉ thị bằng tam hoàng:

Phục Hy: hiệu Thái Hạo

Thần Nông: hiệu Viêm Đế

Nữ Oa: mẫu nghi thiên hạ của Viễn Đông (hoặc đặt Toại Nhơn vào thì rút Nữ Oa ra làm vợ Phục Hy. Nữ Oa chỉ có ý nói lên tính chất Mẹ của giai đoạn này).

Trước hết có Toại Nhơn chỉ giai đoạn phát minh ra lửa (thiên hoàng) trong thời du mục của Viêm tộc. Rồi tới Phục Hy chỉ giai đoạn bước từ săn hái đi vào du mục và có thể là canh mục thuộc nhân hoàng, sau đến Thần Nông là giai đoạn bước hẳn vào nông nghiệp, địa hoàng. Còn Nữ Oa nói lên tính chất thị tộc “âm thịnh” của giai đoạn này. Những sự việc đó xảy ra vào quãng thời đại nào hiện nay các nhà khoa học đang cố thiết lập một hệ thống niên kỷ mới thay cho niên kỷ cũ bị coi là có nhiều sai lầm. Niên kỷ mới thường có khuynh hướng rút vắn thời gian lại: thí dụ Phục Hy theo niên kỷ cũ là 4482 còn nay các học giả hạ xuống năm 2852; chúng ta có thể nhận định mấy điểm như sau:

Hệ thống niên kỷ mới xác định cách khoa học thì thực ra chưa có, nên những niên kỷ đưa ra mới là giả thuyết làm việc dựa vào những niên kỷ vững chắc các thời sau mà tính ngược lên, nhưng ngược lên đến đâu thì khó mà quy định. Vì thế ta cần tuỳ nghi phán đoán và có thể nói như Granet rằng: “niên kỷ” cũ vẫn có thể dùng như dữ kiện của huyền sử, có sai chạy mấy thế kỷ cũng hại đến nền văn hóa. Vì văn hóa bao gồm cả thời kỳ khuyết sử, nhất là khuyết sử khi phải tìm lại bản gốc. Bởi vậy về phương diện huyền sử thì niên kỷ cũ có ý nghĩa hơn. Vì đây không là nhân vật lịch sử mà là những giai đoạn tiến hóa như ba chữ: thiên địa nhân đi với Tam Hoàng nói rõ điều đó. Nhịp tiến của người thái cổ rấtlâu và chậm so với nhịp tiến thời nay. Nó chỉ thị những giai đoạn từ cổ thạch sang tân thạch, từ săn hái sang du mục (Phục Hy) để rồi tiến tới nông nghiệp (Thần Nông) đoạn tiến sang đồ đồng (Si Vưu, Hoàng Đế). Bởi đó giai đoạn trước Hoàng Đế tất phải kéo dài hàng bao ngàn năm, rút lại vắn quá chắc không hợp, vì cổ thạch kéo dài tới 500.000 năm, còn tân thạch cũng đã xuất hiện có cả từng chục ngàn năm. Homo sapiens gọi là Cro-magnon xuất hiện trước đây trên ba chục ngàn năm. Homo sinanthropes lối 500.000 năm. Vì thế trong việc đi tìm nguồn nên ghi cả hai hệ thống niên kỷ cả lưu truyền cũng như “khoa học”.

Theo lưu truyền thì Phục Hy xuất hiện vào lối năm 4480-4369, Thần Nông từ 3320 đến 3080. Huyền sử nước ta cũng đặt họ Hồng Bàng vào giai đoạn đầu này tức là năm 2879, so với Hoàng Đế năm 2697 thì kể là có trước 182 năm, tức ba con giáp (3*60=180). Nội con số đó khiến chúng ta không được hiểu cách xác thiết kiểu lịch sử, nhưng phải hiểu theo lối huyền sử, kiểu 18 đời Hùng Vương. Bởi chưng con số 3 là con số tròn tiên thiên. Có lẽ vì đó mà nói Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông không hiểu con số ba này liên hệ tới đồ gốm tam biên, cũng như tam hoàng, tam tài đến đâu. Dầu sao thì niên kỷ Hồng Bàng 2879 muốn nói lên rằng nước Việt đã được khai quốc trước đời Hoàng Đế, tức trước khi Hoa tộc tràn vào lối ba con giáp, tức là đã hiện diện ngay tự đời Tam Hoàng, và đặt nền móng cho văn hóa, rồi mãi sau Hoa tộc mới lếch thếch kéo tới.

Vậy giai đoạn Tam Hoàng đã đóng góp được những gì? Câu thưa có thể tìm ở một đoạn kinh Dịch mà các học giả quen gọi là bản tóm lịch sử lâu nhất về tiến trình văn hóa của Trung Hoa cổ đại, đó là tiết hai trong hệ từ hạ truyện. Theo bản văn này thì Phục Hy làm được ba việc nền tảng như sau:

- Thứ nhất là đặt ra bát quái, tức móng nền kinh Dịch.

- Thứ đến là phát minh ra phép “kết thằng” để làm chài lưới và cũng là đặt viên đá đầu tiên cho việc thành lập văn tự sau này.

- Thứ ba là phát minh ra cày bừa. “Cổ giả Bào Hy thị chi vương thiên hạ dã:

Ngưỡng tắc quan trong ư thiên.

Phủ tắc pháp ư địa

Quan điểu thú chi văn

Dữ địa chi nghi

Cận thủ chư thân

Viễn thủ chư vật

U thị thuỷ tác bát quái,

Dĩ thông thần minh chi đức.

Dị loại vạn vật chi tình

Tắc, kết thằng nhi vi võng cổ, dĩ điều dĩ ngư,

Cái thủ chư Li.

Bào Hy thị một. Thần Nông thị tác.

Trác mộc vi tị, nhũ mộc vi lỗi.

Lỗi lậu chi lợi dĩ giáo thiên hạ. Cái thủ chư Ích”

“ Cổ thời thị tộc Bào Hy trị thiên hạ: ngẫng lên xem tượng trời, cúi xuống xét hình đất. quan sát từng dáng điệu của thú (đất) và chim (trời) để thích nghi vào mọi miền. Gần thì suy trực tiếp nơi mình; xa thì gián tiếp từ sự vật đặng thông với linh đức của thần minh, hầu có thể phân loại tính tình của vạn vật đặng mà điều lý. Kết nút dây để làm lưới làm giỏ đặng đi săn và đánh cá. Khi Bào Hy thị qua thì đến Thần Nông thị lên thay đẽo gỗ làm lưỡi (cày) uốn gỗ làm cày: dạy cho thiên hạ biết nguồn lợi của sự cày bừa. Tất cả đều lấy hứng từ quẻ Ích”.

Sau Phục Hy và Thần Nông thì Dịch kinh chép về Hoàng Đế và Nghiêu Thuấn rằng: nhờ ở việc chú tâm vào đà tiến hóa biến thông nên không làm cho dân phải chán ghét. Buông xóng áo quần (không xăn lên để đi lao tác) mà thiên hạ trị. Tất cả đều lấy hứng từ hai quẻ Kiền và Khôn.

“Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn thông kỳ biến, sử dân bất quyện: Thuỳ y thường nhi thiên hạ trị, cái thủ chư Kiền Khôn”. Sau đó hệ từ kể ra các phát minh của Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn như sau:



- Thuyền chèo

- Phục trâu, cưỡi ngựa,

- Làm cửa nặng và đánh hiệu canh để phòng trộm đạo (trọng môn kích tích)

- Làm chày và cối (xử cữu)

- Cung tên (hồ thỉ)

- Thay hang hốc bằng nhà (cung thất)

- Lập ra quan quách để chôn táng thay lối chôn lấp bằng que củi ở ngoài đồng.

- Lập ra chữ thay phép kết thằng.

Đó là đại để đoạn văn gọi là văn minh sử. Cần chú ý mấy điểm sau: trước hết là nền tảng văn minh nông nghiệp đã được đặt móng ở thời Tam Hoàng: Thần Nông cày bừa, Phục Hy đặt ra bát quái và phép kết thằng, kết thằng để làm lưới, mà cũng là để làm văn tự, vì thế nên nói tất cả lấy hứng từ quẻ Li. Li là lửa chỉ văn minh. Nói lấy từ quẻ Li cũng là nói đã đặt viên đá đầu tiên cho nền văn minh nông nghiệp, hay là lấy của Viêm tộc. Nước ta chú ý đến quẻ Li là vì họ hàng từ đấy.

Sau Phục Hy thì nói đến Hoàng Đế mà không nhắc tới Nữ Oa. Và đây là một chỗ tế nhị cần lưu ý rất nhiều. Hoàng Đế có hai biểu hiệu là Hữu Hùng (thuộc săn bắn) hai là Hiên Viên (thuộc nơi sinh). Ông vừa là tù trưởng của Hoa tộc đã vào chiếm đóng đất đai của Viêm tộc để mở đầu cho giai đoạn hai là Ngũ Đế, sau là Hoa tộc đã tôn phong Hiên Viên lên bậc Hoàng kiêm luôn chức đế và gọi là Hoàng Đế. Xưa rầy các nhà sử không chú ý mấy tới chữ Hoàng và Đế nhưng nó có sự quan trọng giúp chúng ta chứng kiến một sự gặp gỡ giữa hai nền văn minh: Hoàng thuộc văn minh mẹ (Nữ Oa) của Viêm tộc ưa văn, Đế thuộc văn minh cha của Hoa tộc ưa võ. Và như thế thì ban đầu Hiên Viên chỉ là Đế thuộc Hoa tộc. Đế có nghĩa là chinh phục. Đây là chinh phục văn minh Viêm tộc. Và vì thế khi tự xưng là Hoàng Đế thì Hiên Viên đã muốn mở đầu một nền văn minh tổng hợp cả Hoàng lẫn Đế. Trong nên văn minh mới này quyền bính chuyển từ mẹ sang cha. Một lưu truyền nói bà Nữ Oa lập ra phép hôn phối và chế ra một thứ đàn gọi là sinh (sênh). Ta có thể hiểu là thời ấy đã khởi đâu có ước định sơ sài về hôn phối và âm nhạc… một thứ văn minh đầy ắp tình người rất gần với bản năng và tiềm thức nên gọi là Nữ Oa để chỉ cái gì còn oa trữ oa tàng, chưa minh nhiên như về sau. Từ Nữ Oa sang Thần Nông rồi đến Hoàng Đế là cả một khúc quanh lịch sử: từ giai đoạn Tân Thạch chuyển sang giai đoạn đồ đồng; từ quyền mẹ chuyển sang quyền cha. Tuy nhiên sự chuyển mình này không rõ rệt dứt khoát vì hai khuynh hướng còn giằng co lâu dài và thay đổi nhau lên xuống. Nhưng nói chung thì mẹ nhường dần cho cha, tức Viêm tộc nhường bước cho Hoa tộc vì thế nhiều sách không kể đến Nữ Oa nữa, mà chỉ kể đến Hoàng Đế liền sau Phục Hy và phong Hiên Viên lên bậc Hoàng, tức được dự phần nào văn minh của Viêm Việt, Hoàng Việt. Tác giả thiên Hệ từ cũng tham dự tinh thần tổng hợp này nên đã nói cho “ai có tai” thì hiểu rằng: Hiên Viên đã ăn tự nền văn hóa Viêm tộc mà biến đổi đời sống, đó là lấy biến thông làm đầu tức từ võ biền biến thông sang lối ngồi vô vi (Thuỳ y thường) mà thiên hạ tri và đó là nhờ hai quẻ Kiền Khôn tức là hai trụ cột nền văn minh dịch lý của Viêm tộc. Đấy là sáng chế quan trọng bậc nhất của Hiên Viên nó ở tại biết thâu nhận văn minh Dịch Lý của Viêm Việt để làm cách mạng xã hội, từ võ trị chuyển sang văn trị nên nói “thần nhi hóa chi sử dân nghi chi, chữ hán”. Có lẽ đó là điều Viêm tộc đã gởi vào những truyền thuyết nói rằng Hoàng Đế phải đánh Thần Nông bằng khí giới mới được lên làm vua (S.M, t1.13). Nhưng đối với Tam Miêu con cháu Thần Nông thì phải dùng nhạc và vũ, nhất là những bài vũ của Si Vưu của Tam Miêu (Danses 262,214). Có lẽ tinh thần thích nghi với văn minh Việt tộc này được gởi trong những chữ nghi (sử dân nghi chi).

Vậy sáng kiến lớn nhất của Hoàng Đế là thích nghi tức là thâu hóa văn minh Viêm tộc, còn 8 sáng chế nói sau (thuyền chèo…) chỉ là tuỳ phụ có tính cách văn minh hơn là văn hóa, trừ có việc lập ra văn tự. Tuy nhiên ngay trong việc này cũng có thể gọi được là chỉ nối tiếp xây đắp nền văn hóa đức trị đã khởi đầu từ Phục Hy và Thần Nông vì có lưu truyền cho rằng chữ viết khởi đầu do ngắm vết chân chim: nếu vậy thì đời Phục Hy chữ viết đã manh nha vì đã biết “quan điểu thú chi giao” (Civ 47, 48). Và Hoàng Đế cũng chỉ là đứng đầu trong việc hoàn thành. Còn chính người hoàn thành thì huyền sử nói là Thương Hiệt (chữ hán). Rất có thể đây là một Việt nho vì chữ Thương có nghĩa kho lúa hay là xanh (phương đông), còn Hiệt là chim (phương nam) cùng nghĩa với việc ngắm vết chân chim có nghĩa là ngắm nền văn minh Việt đi với chim (Hồng Bàng). Cương vị của kinh Dịch là cương vị văn hóa, chúng ta nên theo vì chỉ có phương diện đó là ơn ích cũng như có nền móng vững chắc hơn rất xa phương diện chủng tộc và chính trị. Tuy nhiên ở đây ta đang tìm hiểu nguồn gốc từng yếu tố văn minh nên đôi khi ta tạm đứng sang cương vị chính trị hay cả chủng tộc để làm sáng tỏ vấn đề. Trong ý hướng đó chúng ta nhìn trở lại giai đoạn giao thời từ Thần Nông sang Hoàng Đế để tìm hiểu thêm. Kinh Dịch chỉ nói “Thần Nông thị một, Hoàng Đế thị tác”… Câu nói quá bao quát đủ cho Văn hóa nhưng chưa đủ cho chính trị và chủng tộc học. Ở trên hai bình diện này ta phải hỏi Thần Nông mệnh một vì bênh hay vì Hoàng Đế sát hại, và tại sao Si Vưu con cháu Thần Nông lại chống đối Hoàng Đế? Lúc đó chúng ta sẽ nhận ra rằng theo Tư Mã Thiên thì Hoàng Đế đã giết Thần Nông để đoạt chính quyền (xem S.M t1.13). Một lưu truyền ghi lại trong tự điển Từ Nguyên nói họ Thần Nông đời thứ 8 là Du Võng bạo ngược bị Hoàng Đế đánh bại ở Bản Tuyền. Rồi vì đó mà Si Vưu là dòng dõi Thần Nông huy động các bộ lạc (cửu lê) đứng lên chống Hiên Viên xâm lăng. Chính sử quen gọi Si Vưu là rợ, chúng ta nên hiểu chữ rợ theo luật “được làm vua thua làm rợ”, và như thế chúng ta sẽ tìm ra được ý nghĩa nhiều câu khác. Thí dụ việc nhiều sách qui công sáng chế mọi ngành kỹ thuyệt như đúc đồng… cho Hoàng Đế thì thực ra là Hoàng Đế đã ăn tự của “rợ” Si Vưu. Vì Hoàng Đế chiến thắng nên làm vua chiếm đất đai cũng như chiếm luôn công khởi sáng của kẻ bại. Tuy nhiên Hoàng Đế có công ở chỗ đã thêm vào gia sản của kẻ bại bằng cách đưa đến độ hoàn bị hơn. Thí dụ Si Vưu mới phát minh ra việc đúc đồng và làm khí giới (Maspéro 26) thì Hoàng Đế ăn tự hai việc đó và tiếp tục cho ngày thêm tinh xảo. Cả về văn hóa cũng phải hiểu theo lối đó mới rọi được ít tia sáng vào những câu nói hàm hồ thí dụ trong sách Quản Tử chương 16 rằng “tích giả Hoàng Đế đắc Si Vưu nhi minh ư thiên đạo, chữ hán”, câu nói hàm hồ vì chữ đắc không có nghĩa là thắng nhưng là được, và chữ “minh ư thiên đạo” có nghĩa là sáng lên về đạo trời, hay là hiểu được đạo trời, cắt nghĩa đàng nào cũng được. Tuy nhiên theo cái nhìn trên kia thì phải hiểu rằng Hoàng Đế vì được tiếp cận với nền văn minh của Si Vưu nên đã hiểu rõ thêm được đạo trời. Bởi vì có truyền thuyết coi Si Vưu như phụ trách lịch, mà lịch thuộc thời gian nên nói Si Vưu coi về trời, Công Công coi về đất. Bởi thế mới nói “đắc Si Vưu nhi minh ư thiên đạo” và nếu Hoàng Đế có công nào đó thì là công đổ khuôn, tức là nhờ thắng về quân sự nên nắm quyển hành, nắm được các phương tiện để đổ khuôn cho nội dung văn hóa nông nghiệp tức là làm cho ý thức được mở thêm về giá trị của văn hóa Viêm tộc mà phần lớn còn nằm trong vùng tiềm thức. Nói khác Viêm tộc mới là đợt sống nhiều chưa ý thức đủ vì quá quen thuộc. Nay nhờ có Hoàng Đế thuộc văn minh du mục nhìn lại nền văn minh nông nghiệp với con mắt lạ lẫm tra xét nên nhận ra được nhiều khía cạnh mới cách rõ hơn và do đấy phát kiến ra dạng thức để lên khuôn cái nội dung lúc trước còn lờ mờ; nhờ đó có thể nâng văn hóa Viêm tộc lên đợt ý thứ cao hơn trước.

Đấy là một diễn biến theo luật tổng quát. Xét về văn hóa người Aryen kém dân bản thổ Dravidien (được chứng tỏ trong di tích đào được ở Mohenzo Daro) nhưng lại hơn về sức mạnh, về văn minh, nên đã đổ khuôn cho văn hóa Dravidien. Nếu chỉ có văn minh Aryen thì tôn giáo Veda chắc đã chết lịm trong mớ dị đoan thần thoại; nhưng nhờ văn hóa Dravidien mà Veda đã đủ sức từ tôn giáo chuyển sang triết lý Vedanta nhờ những khuôn là các kinh Upanisades. Cũng thế phải có văn minh lý trí giàu tình cách xoi mói của Hoàng Đế đại diện văn minh du mục y cứ trên vũ lực, thì văn minh tình cảm nhân trị của nông nghiệp mới nhô thêm lên chân trời ý thức và mặc những hình thái rõ rệt, thí dụ các thể chế mới mở rộng hơn: từ bộ lạc đi lên quốc gia. Xưa nay phần lý vì là minh bạch nên hay thắng phần tình vì quá âm u: đó là văn thắng chất. Hoàng Đế thắng Si Vưu trong hiệp đầu. Đó là giai đoạn lý thắng tình, gọi là văn minh tức có tổ chức chu đáo hơn. Nhưng vì tình mạnh hơn lý nên tình thua để rồi tẩm nhuận lại văn minh Hoa tộc. Hoàng Đế thắng Si Vưu nhưng thắng để rồi bị thua, hay đúng hơn để được tẩm nhuận bởi tinh thần Si Vưu: thắng ở chỗ làm chủ tình hình, ở chỗ đổ khuôn, đưa ra dạng thức nhưng thua ở chỗ phải nhận nội dung của kẻ chiến bại. Nói trúng hơn thì không phải thắng với bại nhưng là hai chủng tộc Hoa Viêm cùng chung sức xây đắp một nền văn hóa mới, trong đó nội dung phần lớn của Viêm tộc nông nghiệp mà ta có thể gọi là giai đoạn “tại thiên thành tượng”. Tượng thì lờ mờ thấp thoáng nên cần tiến một bước nữa là “tại địa thành hình”. Hình là hiện lên hình tích rõ rệt trong những dạng thức công cộng và đó là công của Hoàng Đế, của Hoa tộc du mục, rồi cả hai dân tộc được tô tạo trong nền văn hóa tổng hợp ấy nên lâu ngày trở thành đồng hóa mà đồng hóa có nghĩa là Viêm hóa vì tuy danh xưng thì kêu là Hoa và sau này là Hán đi nữa, nhưng về nội dung thì đã thành Viêm tộc tức thấm nhuần văn hóa nông nghiệp và do lẽ đó sẽ bị những làn sóng Hoa tộc mới chính cống hiệu du mục tràn vào để mở đợt chính phục mới khác. Sau Hoàng Đế du mục thì đến Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương đều nông nghiệp, chính vì thế sẽ bị nhà Chu du mục diệt.

Nhà Chu được nhắc nhở tới nhiều vì hai lý do, trước hết là nhờ đã thấm nhuần được văn minh nhà Thương nông nghiệp nên mang dòng máu cả hai nên văn minh du mục lẫn nông nghiệp. Nhờ đó đã lật đổ được nhà Thương để kiến tạo nên đợt khác của văn minh mới cao hơn nhà Thương. Nhà Thương tuy đã nông nghiệp nhưng tính chất tôn giáo (yếu tố Tây Bắc) còn rất sâu đậm. Đến nhà Chu thì đã tiến dần sang lễ nghĩa quy chiếu vào con người. Nhờ đó văn hóa nhà Chu cao hơn nhà Thương. Thế rồi vì định cư lâu ngày nhà Chu dần dần hết sinh khí đâm ra sa đọa ở thời Xuân Thu và tan rã ở thời Chiến Quốc để chấm dứt giai đoạn tam đại. Tam đại gồm nhà Hạ, Thương, Chu là giai đoạn thứ hai mà tính chất là liên bang (chư hầu) đã ổn định: nó khởi đâu từ Hoàng Đế, và thịnh đạt ở thời Hạ, Thương và nhất là Chu. Vì thế nhà Chu được nhắc nhở tới nhiều như lý tưởng của một sự dồn đúc hai nền văn minh Tình Viêm tộc với Lý Hoa tộc, và cũng là nhu tận cùng của giai đoạn Vương phải nhường lại cho nhà Tần du mục danh dự khai mạc đợt văn hóa thứ ba là Đế.

Khi Tần Thuỷ Hoàng tóm thâu được cả 6 nước mạn Đông mà lập thành đế quốc, thì muốn tìm một danh hiệu kiêm được cả tính chất Tam Hoàng lẫn Ngũ Đế và vì thế đã nhận danh hiệu Hoàng Đế (Civ 41) gọi là Tần Thuỷ Hoàng Đế. Chữ Thuỷ là mở đầu nó bao hàm sự chối bỏ tước hiệu Hoàng Đế của Hiên Viên. Sự thực Hiên Viên chưa xứng là Hoàng mà mới là Đế để mở đầu Ngũ Đế. Tần Hoàng rồi cũng chỉ là Tần Đế, nhưng đấy là chuyện về sau, chứ lúc ban đầu khi lựa chọn danh hiệu là vô tình mà Tần Hoàng đã chọn một danh hiệu hay nhất nói lên ý hướng muốn chung đúc hai nền văn minh của Viêm tộc (tam hoàng) và Hoa tộc (ngũ đế). Tôi nói vô tình theo nghĩa từ tiềm thức vì như trên đã nói nước Tần dựng nên do Viêm tộc, nên thuộc văn minh Tam Hoàng, tuy nhiên vì sống trong môi trường du mục nên mang nặng tính chất du mục: thiên về uy lực và hình luật, do đó mà gọi là Đế, và Đế đã thắng Hoàng. Nếu Tần Hoàng đã lấy và theo đúng danh hiệu Hoàng Vương thì có lẽ đã không bị nhà Hán chiếm mất ngôi để sử lại chỗ quá đáng của Tần Hoàng Đế. Tần Hoàng tuy thuộc Viêm tôc nhưng đã đồng hóa với vương triều nên đã đế hóa trọn vẹn, vì thế lại bị Lưu Bang cũng chiêu mộ quân lính từ vùng Giang Tô, Chiết Giang (Cối Kê) khởi lên chống lại xâm lăng lập ra nhà Hán. Nhà Hán gốc từ áo vải mà lên nên nếu không thuộc dòng máu Viêm tộc thì ít ra cũng đại diện cho tiếng nói của Viêm tộc, đáng lẽ phải như thế. Nhưng cho tới đây thì không còn vấn đề chủng tộc giữa Viêm tộc và Hoa tộc nữa mà trái lại nó đã chuyển sang địa hạt khác là giữa vương triều và bàn dân, rồi sau giữa thị dân và thôn dân. Bởi vì quý tộc kế tập dính liền với Hoa tộc đã bị Tần Hoàng phá vỡ bằng đưa các vương công hầu tước về sống ở các thành phố và nhất là kinh đô để coi chừng; còn công chức thì ban trải ra toàn dân nghĩa là được tuyển tuỳ theo công, của, tài, đức. Xét về mặt này Tần Hoàng đã có công hiện thực điều mà Viêm tộc đã cổ võ được thấy rõ nhất qua lời Khổng Tử. Nhưng Tần Hoàng đã phản bội Viêm tộc khi giữ nguyên tính chất Đế của Hoa tộc trước, khác chăng là chuyển sang cho Vương triều, cho thị dân. Vì thế vẫn là phản bội Viêm tộc xét như là dân tộc và do đó đã bị nhà Hán lật đổ.

Nhà Hán lật đổ Tần Hoàng mặc nhiên nhân danh Viêm tộc lúc này đã trở thành dân tộc, nhưng rồi nhà Hán lại phản bội dân tộc bằng cách duy trì tính cách đối chọi giữa thị dân và thôn dân mà không hiện thực được lý tưởng cho toàn dân, và do đó chúng ta gọi giai đoạn mới này là Hán Nho trong đó chất Đế thắng chất Hoàng, nói khác là chất pháp trị nổi trượt vượt hơn chất nhơn trị và từ đây đã thiết lập xong cặp đôi chính trị là pháp trị với nhân trị thay cho cặp đôi chủng tộc là Hoa tộc và Viêm tộc. Vì Tân Hoàng cũng như nhà Hán đã từ Viêm tộc nhảy sang phe Vương triều (từ nay thay hẳn cho ý thức Hoa tộc) sau này chỉ còn ý thức Viêm tộc và Hoa tộc ở các đợt chiếm cứ về sau như đợt Dương Tử rồi tới đợt Việt Giang nhưng không bao giờ trở thành chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc như bên Âu hay Ấn vì yếu tố Viêm tộc quá mạnh cả về văn hóa (đã đặt nền móng) và về nhân số. Một học giả Trung Hoa nói với ông Hoàng Văn Nội rằng người Trung Hoa nay đến quá phân nửa là Viêm tộc, còn Hồi tộc (gồm cả Mãn, Mông, Tạng) lối 30 phần trăm. Tôi cho lời đó rất trúng vì nếu căn cứ trên màu tóc đen (lê dân) mà Hoa tộc gọi Viêm tộc lúc đầu, thì nay “lê dân” đã trán ngập hầu hết. Sở dĩ Viêm tộc đã không quật khởi giành lại quyền độc lập là vì trận tuyến đã chuyển từ chủng tộc sang địa hạt vua và dân nên mỗi lần có cuộc lật đổ một Vương triều là mỗi lần đều do Viêm tộc khởi xướng. Nhà Tần cũng như nhà Hán và sau này nhà Minh v.v… thảy đều do Viêm tộc nhưng đã không còn vấn đề chủng tộc mà chỉ còn là vấn đề hữu đạo với vô đạo. Hữu đạo là đi với dân mà hiểu về xa xưa là đi với Viêm tộc, ngược lại là vô đạo. Cần chú trọng điểm này để tránh sự đồng hóa Nho giáo với Hoa tộc mà quên rằng Nho giáo là công đầu lớn của cả Viêm tộc tức Việt tộc nữa, mà công đầu là căn bản hơn hết. Vì không chú ý điểm này nên nhiều người đã vô ý chuyển lòng oán hận thuộc chính trị sang bình diện văn hóa hay nói đúng hơn chuyển lòng căm phẫn vương triều sang bên Hoa tộc, mà quên rằng Hoa tộc hiện nay phần lớn thuộc dòng máu Viêm tộc. Cho nên khi lẫn lộn cương vị chính trị với văn hóa là chúng ta hờn oán chính nền văn hóa của chúng ta và anh em Viêm tộc chúng ta còn ở lại trong dải đất Trung Hoa. Tuy nhiên đó là điều ít được chú tâm vì lớp sóng Hoa tộ (hiểu là óc đế quốc) lại cứ lâu lâu được canh tân nối tiếp trong các đời sau từ Tây Bắc tràn vào như Hung Nô đời Hán, rợ Tiên Ti, rợ Chi, rợ Khương đời Tần, rợ Đột Quyết đời Tuỳ, rợ Khiết Đan, Hồi Hột, Sa Đà đời Đường, rồi Kim, Nguyên, Thanh…

Đó là bấy nhiêu đợt sóng Bá đạo tràn vào uy hiếp nền Vương Đạo của Viêm tộc. Điều đáng ngạc nhiên là nền Vương đạo đó đã không bị tiêu trầm nhưng vẫn trường tồn cho tới tận nay để đem lại cho nền văn hóa Viễn Đông một nét đặc trưng mà chúng ta sẽ tìm hiểu thêm trong các chương sau.

Bây giờ để tóm tắt ta hãy xác định phần nào khuôn mặt của các đợt sóng văn minh tràn lên rồi để lắng xuống những lớp phù sa ảnh hưởng. Người xưa đã muốn phân bệt bằng những chữ Tam Hoàng, Ngũ Đế, Tam Vương, Ngũ Bá v.v… thì đó chỉ là cách nói co dãn theo huyền sử, nếu hiểu theo lịch sử thì không trúng. Thí dụ: Tam Hoàng có thể là 5 khi kể cả Toại Nhơn, Hữu Sào, Nữ Oa, Ngũ Đế có thể là thất đế khi kể cả Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Chí… Tam Vương cũng không hẳn là tam mà có thể bao gồm Nghiêu Thuấn vào giai đoạn này mới đúng và lúc ấy gọi là thời vương đạo gồm Nghiêu Thuấn là thời lập đức, nhà Hạ nhà Thương là thói lập công, còn nhà Châu là thời lập ngôn ở tại việc giàn hòa hai chiều văn hóa Hoàng trời (tam hoàng) với Đế đất (ngũ đế) làm thành Vương đạo là thời quân bình nhất; rồi sau đó Vương đạo suy dần ở những đời sau mà khởi đầu là ngũ bá. Ngũ bá cũng không hẳn là ngũ vì sau Tề, Tấn, Tống, Tần, Sở còn có Ngô rồi Việt. Vậy những đợt Tam Hoàng, Ngũ Đế, Tam đại… chỉ nên hiểu là những đợt văn hóa mà ta có thể xác định hơn kém bằng thời gian và khu vực như sau. Giai đoạn trước hết là Viêm tộc xuất hiện đầu tiên trên toàn lãnh thổ Trung Hoa lập ra một nền văn minh mà ta có thể gọi là Hoàng Đạo, với thể chế thị tộc (Mẹ làm chủ nên gọi là Thị), rồi bộ lạc và một đôi nơi đã khởi sự bước vào thể chế quốc gia. Thí dụ họ Hồng Bàng lập ra nước Xích Quỷ, Văn Lang.

Giai đoạn thứ hai Hoa tộc từ Tây Bắc vào chiếm 6 tỉnh mạn Bắc thuộc Hoàng Hà rồi nương theo thế liên bang của Viêm tộc mới manh nha để hoàn thành dưới hình thức chư hầu và phong kiến tức một thứ liên bang nhưng kém phần dân chủ và công thể của Viêm tộc chính tông. Bởi đó về triết lý thì giai đoạn này kêu được là Vương đạo, một thứ triết lý mà chất Viêm Việt nổi hơn chất Hoa tộc, và tôi gọi là Việt Nho.

Giai đoạn ba mở rộng ảnh hưởng Hoa tộc xuống mạn nam thuộc vùng Dương Tử giang lập thành nước Kinh Sở. Thời này về triết không có gì đặc sắc mà chỉ là tiếp nốiVương đạo. Nhưng vì đất của Viêm tộc bị rút hẹp thì ảnh hưởng trong triết cũng suy yếu theo.

Giai đoạn thứ ba có thêm đợt hai là Hoa tộc chiếm thêm ba tỉnh cửa sông Dương Tử thuộc hai nước Ngô Việt và cuối cùng chiếm luôn cả Lưỡng Việt (Quảng Đông Quảng Tây), cả Bắc Việt từ đấy trở thành mảnh đất trú chân cuối cùng của Viêm tộc đại diện cho toàn thể gia đình Viêm Việt. Theo đà ấy triết bước vào giai đoạn Đế Đạo cũng gọi được là Bá Đạo hay Hán Nho và truyền lại cho tới nay.

Riêng về nước Việt Nam xét như là mảnh đất nương thân cuối cùng của tinh thần Viêm tộc đã trải qua một quá trình tranh đấu để cuối cùng dành lại được nền độc lập trên một dải đất nhỏ hầu duy trì những đại diện chính thức cho Viêm tộc cũng như cho Bách Việt, nói khác là đại diện nền văn hóa nông nghiệp khi mới manh nha cũng như cho giai đoạn Kinh điển tựu thành tức giai đoạn nòng cốt của nền văn hóa Việt Hoa. Vì thế trong chương sau chúng ta sẽ tìm xem Viêm tộc đã đóng góp những gì vào việc hình thành Kinh điển.

Phụ chú


Có truyền thuyết cho rằng tên hiệu Si Vưu chính trước là Trung Quang nhưng Hiên Viên đã đổi đi bằng thêm chữ Sơn lên đầu và còng chân lại nên Trung hóa ra Si (ngốc) còn Quang bớt nét đi cho ra Vưu là oán hờn. Theo thuyết đó thì vua Nguyễn Huệ đã lấy hiệu là Quang Trung để nhớ lại một tị tổ xưa và lấy cờ của Si Vưu nền đỏ có miếng tròn màu vàng ở giữa. Đó cũng là một giả thuyết có thể ghi để hướng dẫn nghiên cứu. Bởi vì Si Vưu cũng là một là cờ. Ta thấy trong huyền sử cha đẻ ra Tân Lang trong truyện trầu cau tên là Quang Lang cũng như con trai của Lạc hầu gọi là Quang Lang.

Vậy có thể vua Quang Trung cũng đã làm như thế, nhưng cách tích cực hơn. Quang Trung cũng là một người tự dân mà lên, nên đại diện cho Viêm tộc. Vì thế mới có ý đòi lại một ít đất của Viêm tộc là hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây gọi là Lưỡng Quảng mà chính ra là Lưỡng Việt. Cũng như Tây Giang chính ra là Việt Giang.

Tên Si Vưu là Trung Quang cũng có lý. Chúng ta biết lửa được phát minh ra thời kỳ gọi là Toại Nhơn. Đây là một bước tiến vĩ đại nên các vua sau toàn lấy danh hiệu liên hệ với lửa: Phục Hy lấy hiệu là Thái Hạo= sáng lắm. Cháu ba đời kêu là Đế Minh có nghĩa là chúa sáng. Tất cả dòng tộc kêu là Viêm tộc, chữ Viêm là hai lửa chồng lên nhau sáng lắm= Thái Hạo, và Quang Minh. Còn Trung là nói lên di sản của tổ tiên là kinh Dịch. Kinh Dịch thành bởi âm và dương mà lý tưởng là hòa hợp âm dương tức hai yếu tố trái ngược gọi là Trung. Chính chữ Trung trong Trung Dung phải hiểu là nguyên lý hòa giải hai yếu tố trái ngược và nhờ đấy phải dọi tia sáng minh triết (trung) ra tất cả chung quanh. Lá cờ có miếng tròn vàng chỉ Trung (Hoàng cực màu vàng), tia sáng ra chung quanh là màu đỏ chỉ quẻ Li là phương Nam, là văn minh. Vậy nếu quả thật Hoa tộc đã đổi tên Trung Quang ra Si Vưu thì đó là một lối ăn cắp xe về tháo số cũ, gắn bảng số mới cho phi tang bằng cách chài chủ cũ tức làm cho Trung Quang trở nên Si Vưu để con cháu không nhìn nhận ra ông tổ nữa. Phép chài đó như sau: đặt trên đầu chữ Trung một tấm ngang rồi đè bằng trái núi còn chân thì xõ gông. Tôn Ngộ Không cũng bị đè dưới núi Ngũ hành kiểu này 500 năm không dậy nổi, thì con cháu Trung Quang cũng trải qua 5000 năm lịch sử không nhận ra tổ gốc của mình nữa, các cụ xưa viết:

Đọc Ngu thư ghét đảng tứ hung.

Coi Tống sử ghét bày ngũ quỷ.

Còn tân học nay không ai nghiên cứu về Việt Nho mà chỉ còn dăm ba người chú ý tới chữ Hán. Vì thế những suy tư trên tuy mới là giả thuyết nhưng cũng cần ghi lại vì hậu quả có thực

Kim Định

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

Tiếng Việt – Những công lao bị quên lãng

Posted on Tháng Tám 1, 2011 by phiatruoc



Trương Vĩnh Ký (1837-1898)


Ông là một nhà văn hóa sáng chói của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX. Ông là một học giả tiên phong, chuyên tâm nghiên cứu học thuật, sáng lập nền báo chí Việt Nam và đóng vai trò khai sáng đối với văn học nước nhà

Trong quá trình xây dựng ngành việt ngữ học, một quá trình đã có một lịch sử khá dài (hơn mười hai thập niên kỷ – gần đến một thế kỷ rưỡi, ta không thấy có một trình tự phát triển và tiến bộ liên tục, trong đó người đi sau học tập những thành tựu của người đi trước, cố hiểu rõ cội nguồn của những nhận định và những kết luận của họ trong thực tế nói năng của dân tộc, kiểm tra lại xem những nhận định và kết luận này có phù hợp với cách nói năng của nguời bản ngữ hay không, và nếu không thì phê phán, chỉnh lý và bổ sung cho những nhận định ấy được chính xác và khái quát hơn, và mặt khác cố gắng tiếp thu những phát kiến thành công của các trào lưu tiến bộ trong trong lý thuyết ngôn ngữ học thế giới để soi sáng những vấn đề có liên quan đến tiếng mẹ đẻ của mình.


Con đường diễn biến của ngành chúng ta rất quanh co khúc khuỷu, và gồm có nhiều bước lùi rõ rệt, một phần cũng vì người đi sau không mấy người được đào tạo chính quy về nghiệp vụ để đánh giá đúng những thành tựu mà người đi trước đã đạt được cũng như những sai lầm mà họ có thể mắc phải, nhiều khi do những nguyên nhân khách quan của lịch sử hay những nguyên nhân chủ quan của vốn tri thức riêng của từng người.


Nhưng nguyên nhân chính của tình hình này không phải ở đấy. Nó nằm trong một định kiến càng ngày càng ăn sâu vào lòng một số người không nhỏ, cho rằng từ khi được học tiếng Pháp, người Việt đã bắt đầu nói một thứ tiếng y hệt như người Âu châu, cho nên muốn nghiên cứu tiếng Việt, nhà ngôn ngữ học Việt Nam chỉ cần chép lại sách ngữ pháp tiếng Pháp là đủ. Huống chi bây giờ lại đang có phong trào “hội nhập” và “toàn cầu hoá”, khiến cho các ngôn ngữ, cũng như các nền văn hoá, dần dần nhích lại gấn nhau, tiến tới chỗ hợp nhất.


Định kiến này trở thành một chân lý tuyệt đối không còn có cách gì bác bỏ được kể từ khi GS Phan Ngọc (1983) (1) khẳng định:


“Đoản ngữ danh từ là một sản phẩm mới của ngữ pháp Việt Nam, ra đời do sự tiếp xúc với đoản ngữ danh từ của châu Âu (…). Lí do chính của sự ra đời đoản ngữ danh từ là sự đối lập giữa danh từ Việt Nam với danh từ châu Âu (…). Những khái niệm về số có mặt thường xuyên trong danh từ châu Âu cũng thúc đẩy người Việt Nam phải sử dụng những công cụ ngữ pháp tương đối thường xuyên để chỉ số. Do đó, ngày xưa chỉ có một cách nói người, ngày nay nói tám cách: người, con người, một người, một con người, những người, những con người, các con người, các người” [10, 269].


Và nhất là sau khi những ý kiến này được một cuốn sách do Bộ Giáo dục ấn hành (2) xác nhận và hợp pháp hoá.


Từ đó trở đi, một số đông những người nghiên cứu tiếng Việt hoàn toàn yên tâm trong việc sao chép lại các sách ngữ pháp tiếng Pháp. tiếng Anh hay tiếng Nga, dịch thật sát các thí dụ ra tiếng Việt, và đem những bản dịch ấy ra công bố thành hàng trăm bài vở, công trình dưới những tiêu đề khác nhau nhưng đều mang nhãn hiệu “ngữ pháp tiếng Việt”, chứ không còn dành ra một phút nào để lắng nghe xem thử người Việt ngày nay, trong đó có bản thân họ, ăn nói ra làm sao, và cũng không còn chịu khó đọc lại những cuốn sách cũ xem thử những tác giả đi trước đã viết những gì về tiếng Việt, những cuốn sách ấy có còn phản ánh dúng ngữ trạng hiện nay của tiếng Việt nữa hay không, hay là chỉ phản ánh những ngữ trạng đã lùi vào dĩ vãng, như một số không nhỏ tác giả ngày nay quan niệm. Những câu mà dân Việt Nam – trong đó có cả các nhà ngôn ngữ học – dùng mỗi ngày hàng ngàn lần nhưng không giống những kiểu câu của tiếng Pháp (như cách nói “Tôi tên là Nam” chẳng hạn) đều bị coi là sai ngữ pháp hay ít nhất là “vô văn hoá” hay “không chuẩn” (vì người có văn hoá phải nói “Tên của tôi là Nam” như người Pháp “chính cống” mới được).


Quả tình cũng phải công nhận rằng số thành tựu thật đáng tin cậy một cách chắc chắn mười phần mà các tác giả của thời trước đã đạt được cũng không lấy gì làm nhiều, nhưng đó là những thành tựu có thật, rất quan trọng, rất chân xác và cơ bản, và cho đến nay giá trị chân lý của nó, vẫn còn y nguyên, vì đó là kết quả trực tiếp của những công lao nghiên cứu tiếng Việt thật, chứ không phải những bản sao chép từ sách nước ngoài, như ta có thể thấy rõ qua những điều sẽ trình bày sau đây về Trương Vĩnh Ký (1883), L. Cadìère (1900) và Phạm Duy Khiêm (1940). Trái lại, những kiểu sao phỏng ngữ pháp tiếng Pháp hay một thứ tiếng Âu châu nào khác đều dẫn tới những sai lầm thô thiển khiến cho tiếng Việt bị bóp méo đến mức không còn nhận ra được nữa.


Trương Vĩnh Ký là người sống cùng thời với Ferdinand de Saussure, thời mà ngữ học đang đi theo xu hướng của các nhà Tân ngữ pháp vốn quan niệm rằng lịch sử của các ngôn ngữ là đối tượng duy nhất của ngữ học.


Trong những năm mà Saussure, sau khi soạn thảo và bảo vệ luận án bản Luận văn nổi tiếng về các “Nguyên âm thanh hầu của tiếng Ấn – Âu cổ”, đã ngừng công bố các thủ cảo của ông để tập trung vào công việc giảng dạy những nguyên lý mà sau này sẽ làm thành cái cẩm nang của ngữ học hiện đại ở châu Âu (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương), thì Trương Vĩnh Ký lần lượt soạn thảo những công trình khá đa dạng về ngữ học, và nhất là về tiếng Việt, như:


1. Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales.
2. Analyse comparée des principales langues du monde.
3. Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les moeurs de l’Indochine.
4. Combinaisons des systèmes conventionnels d’écritures idéographiques, hiéroglyphiques, phonétiques et alphabétiques.
5. Etude comparée des écritures et des langues des trois branches linguistiques.
6. Cours pratique de langue annamite.
7. Grammaire de la langue annamite.
8. Abrégé de grammaire annamite.


Trong đó chỉ có mấy công trình kể sau cùng là đã được xuất bản thành sách. Nhìn vào năm xuất bản mấy cuốn này, người ta không thể không lấy làm lạ sao vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XIX mà một tác giả không qua quá trình đào tạo chuyên ngành lại có thể cho ta một bức tranh đồng đại cặn kẽ đến như vậy về ngữ pháp của một thứ tiếng hầu như chưa từng được nghiên cứu.


Sau này, kể từ khoảng giữa thế kỷ XX, các nhà ngữ học hiện đại, nếu có nhắc đến ông, thường nói về cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (Grammaire de la langue annamite) của ông xuất bản năm 1883 như về một sự kiện xa xưa trong lịch sử nghiên cứu tiếng Việt, đại diện cho một giai đoạn đã qua; như về một cái gì đã lỗi thời, trong đó người ta gán mô hình ngữ pháp châu Âu, đặc biệt là ngữ pháp tiếng La Tinh, cho tiếng Việt, vì chưa có được những thủ pháp “khách quan” như thủ pháp “phân bố” (distributional analysis) hay thủ pháp “cải biến“ (transformational rules) chẳng hạn như ngữ pháp học hiện đại. Trong khi đọc lại Trương Vĩnh Ký, các tác giả thời nay rất ít khi đọc kỹ để xem thử ông Trương đi theo khuôn mẫu của tiếng La Tinh đến mức nào (chẳng hạn, có đến mức như ông Phan Ngọc nói về việc sao phỏng tiếng Pháp sau 1945, hay có đến mức như những lời dè bỉu của ông Nguyễn Kim Thản khi tìm cách thay thế những nhận định của ông Trương bằng những phát minh tân kỳ về “phạm trù may rủi” chẳng hạn của mình hay không.)


Quả tình, cũng như tất cả các nhà ngữ học đã từng viết về tiếng Việt từ trước tới nay, Trương Vĩnh Ký không thoát khỏi những định kiến “dĩ Âu vi trung”. Nhưng cái trí tuệ sắc sảo và cách làm việc duy lý, thận trọng và thông minh của ông đã giúp ông tránh được những sự lầm lẫn thô bạo mà ở thế kỷ sau rất nhiều đồng nghiệp hậu sinh của ông đã mắc phải. Khuôn khổ của bài này chỉ cho phép tôi minh họa điều vừa nói bằng vài ba dẫn chứng tiêu biểu, trong khi chờ đợi những công trình chi tiết hơn về tư tưởng ngữ học của những bậc tiền bối của chúng ta trong hai thế kỷ trước.


1. Trương Vĩnh Ký là người đầu tiên thấy rõ ý nghĩa “cực cấp” (superlatif) của những từ làm trạng ngữ cho tính từ như: (trắng) bóc, (đen) thui, (đỏ) lòm… và của những kết cấu so sánh mở đầu bằng như (kiểu đỏ như son), và đã lập danh sách tất cả những thành ngữ cấu tạo theo hai mẫu đã nói trên mà ông biết được, gồm 560 đơn vị. Ngày nay đã có một vái tác giả thấy được nghĩa “cực cấp” (hay“tột độ”) của loại thứ nhất, nhưng hình như chưa có ai nói đến nghĩa này của loại thứ hai.


2. Trương Vĩnh Ký cũng là người đầu tiên thấy rõ ý nghĩa chỉ đích (đánh dấu cái danh ngữ chỉ vật làm mục tiêu và/hay điểm kết thúc của sự di chuyển) trong chức năng cấu tạo giới ngữ của những vị từ cập vật chỉ sự di chuyển như đến, tới, ra, vào, về, khi các vị từ này, sau khi mất trọng âm được dùng như những giới từ chỉ đích sau những vị từ chỉ sự vận động như bay, chạy, nhảy, bước hay sau những vị từ chỉ việc gây khiến sự vận động như kéo, đẩy, dắt – một ý nghĩa “cách” được ngữ pháp tiếng Việt thể hiện rất rõ nhưng lại bị rất nhiều tác giả hiện đại lẫn lộn với ý nghĩa “hướng” của các phó từ đồng âm trong chạy ra, chạy vào, chạy lên, chạy xuống (đều mang trọng âm) (như Nguyễn Kim Thản chẳng hạn) của các vị từ lên, xuống, ra, đi, khi các phó từ này được dùng làm trạng ngữ cho các vị từ chỉ sự vận động hay việc gây khiến sự vận động.


Sự phân biệt trên đây có liên quan đến một hiện tượng ngữ pháp khá quan trọng được Trương Vĩnh Ký trình bày một cách đủ minh xác ở phần nói về danh từ trong cuốn ngữ pháp của ông: đó là cách diễn đạt ý nghĩa “cách” (case meaning) trong ngữ pháp tiếng Việt. Những điều ông trình bày trong phần này đã bị các tác giả hiện đại có nhắc đến công trình của ông chê cười rất mực, coi như một trường hợp điển hình của việc gán ghép mô hình ngữ pháp La Tinh cho tiếng Việt. Nội dung của phần này như sau:


3. Theo Trương Vĩnh Ký, các danh từ của tiếng Việt dùng trong câu có thể ở vào một trong 8 cách (cas) sau đây (tr. 69):


Mở đầu thiên nói về cách của danh từ (tr. 68), ông viết: “Tiếng Việt không có Cách hiểu theo nghĩa hẹp như tiếng La Tinh. Vì Cách là sự biến hình trong vĩ tố (désinence) của từ tùy theo cái vai trò mà nó đảm đương trong câu; nhưng trong tiếng Việt, cái mà sự biến hình ấy chỉ rõ lại được thể hiện bằng những tiểu tố tiền vị (particules prépositives): đó dĩ nhiên không phải là Cách thực sự. Nhưng phân chia theo từng Cách là tiện lợi và minh xác; dù danh từ Cách không thích hợp và không đúng hẳn, chúng tôi vẫn xin dùng nó theo phép loại suy cho dễ hiểu, và xin định nghĩa Cách là những vị trí khác nhau của một danh từ tùy theo cái cương vị làm từ chính hay làm bổ ngữ cho một từ khác…” (tr. 68-69).


Sau đó, ông cho biết rằng việc dùng các “tiểu tố tiền vị” chỉ là bắt buộc khi nào có khả năng hiểu sai, chứ khi nào ý nghĩa Cách đã rõ nhờ ngôn cảnh thì đều có thể miễn (so sánh: Sách của thầy và Sách thầy; Đánh bằng roi sắt và Đánh roi sắt – tr. 69). Ngoài ra đối với từng Cách ông lại cho biết có thể diễn đạt ý nghĩa của Cách ấy bằng những phương tiện gì khác với phương tiện chủ yếu. Chẳng hạn ở đoạn nói về Công cụ cách, bên cạnh Cột bằng dây, ông còn cho Dùng dây mà cột, Lấy dây mà cột (tr. 76).


Điều này cho thấy rằng khi dùng khái niệm Cách, ông hiểu nó như một ý nghĩa ngữ pháp và ngữ nghĩa nhiều hơn là một hình thức ngữ pháp. Cái ý nghĩa ngữ pháp ấy chính là “Case meaning” của các nhà ngữ học của thập niên 70 của thế kỷ sau (đối lập với “Case form”). Như vậy ta thấy rõ không những Trương Vĩnh Ký không hề “gán” mô hình ngữ pháp tiếng La Tinh cho tiếng Việt (4), mà còn hiểu rõ khả năng và cách thức sử dụng khái niệm Cách cho những thứ tiếng không biến hình, điều mà gần một thế kỷ sau các nhà ngữ học phương Tây mới nghĩ đến (cf. Fillmore 1968).


Dù sao, nhiều tác giả viết về tiếng Việt trong khoảng những năm 50 – 70 ở nước ta có nặng lời chê trách Trương Vĩnh Ký cũng là điều có thể hiểu được: Vào những năm ấy người ta chưa biết chú ý đến nghĩa của câu, và chưa biết rằng Cách (hay nói cho minh xác hơn, ý nghĩa “Vai” trong câu) là một ý nghĩa phổ quát trong ngôn ngữ nhân loại, mà mọi thứ tiếng trên trái đất đều phải có cách diễn đạt và phân biệt (5)


Vậy Trương Vĩnh Ký là người đi trước các nhà ngôn ngữ học trong việc miêu tả các phương tiện diễn đạt ý nghĩa Cách trong một ngôn ngữ không biến hình xuất phát từ mặt sở biểu (6) và đáng được coi là người đi tiên phong trong việc xây dựng nền ngữ pháp cách (case grammar), một trong những thành phần chủ yếu của ngữ pháp chức năng hiện đại (7), mà mãi gần một thế kỷ sau (1968) mới được C. Fillmore gọi đúng tên và miêu tả khá kỹ lưỡng như một phổ niệm của ngôn ngữ nhân loại.


Có lẽ điểm đáng chú ý nhất trong việc phân xuất tám “cách” của Trương Vĩnh Ký là sự khu biệt minh bạch giữ ý nghĩa “đích” và ý nghĩa “hướng” trong khi miêu tả hệ thống cách của tiếng Việt. Có lẽ ông hơn một số khá đông các tác giả khác không biết đến sự phân biệt này (trong đó có cả Ch.Fillmore) chính là nhờ sự mách bảo của hệ thống biến cách của danh ngữ tiếng La Tinh. Trong tiếng La Tinh cổ điển, ý nghĩa “định vị” được biểu hiện bằng cách ablativus (in Roma “ở La-Mã”) dùng cho trạng ngữ chỉ nơi chốn, trong khi ý nghĩa “đích” đựợc biểu hiện bằng cách accusativus (eo Roman“tôi đi La-Mã” ) dùng cho bổữ. Còn ý nghĩa “hướng” thì được tiếng La tinh biểu hiện bằng những phó từ.


Vào khoảng thời gian từ 1958 đến 1959, trong những buổi sinh hoạt khoa học của Tổ Ngôn ngữ thuộc Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã diễn ra nhiều cuộc thảo luận về cách phân tích các loại bổ ngữ (hay trạng ngữ) có liên quan đến các động từ di chuyển (không rõ hướng) như đi, chạy, bước, nhảy, xông, ùa, phi, lao, bổ, nhào, đâm, về, qua, ghé, tiến, sang, lại, lăn, lần, chuyển, chảy, tràn, lấn, bơi, lội, lặn, trôi, trèo, leo, bò, trườn, chui, len, lẻn, chen, lấn v.v… đi trước một từ có nghĩa chỉ hướng như lên, xuống, ra, vào, tới, lui, đến, qua, sang… làm thành những tổ hợp hai động từ như chạy vào, đi ra, nhảy tới, lăn xuống v.v… Những buổi thảo luận này lôi cuốn mọi người trong tổ, những ý kiến được phát biểu khá phong phú, cho nên ai nấy đều thấy là bổ ích cho việc tìm hiểu ngữ pháp và ngữ nghĩa tiếng Việt.


Hối ấy, những ý kiến được phát biểu có thể chia làm ba khuynh hướng:


1. Cho rằng từ chủ yếu hay trung tâm của tổ hợp là từ thứ hai (từ đứng sau), được coi là làm thành nội dung của sự di chuyển, trong khi từ thứ nhất (từ đi trước) là một thứ trạng ngữ nói rõ cách thức hay phương thức của sự di chuyển. Chẳng hạn chạy vào có thể được phân tích thành “vào bằng cách chạy” (entrer en courant). Đại diện cho xu hướng này là GS Phan Ngọc, người sau này đã sáng lập ra “giả thuyết Phan Ngọc” nổi tiếng, được hoan nghênh nhiệt liệt khắp nước ta.


2. Cho rằng từ trung tâm của tổ hợp là từ đi trước. Chính từ đó (thường gọi là”động từ”) biểu thị sự di chuyển, còn từ kế theo chỉ là một trạng ngữ chỉ hướng của động từ di chuyển. Đại diện cho phái này là ông Nguyễn Kim Thản, sau này là Quyền Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam. Trong những buổi họp nói trên cũng như trong những sách vở được viết và xuất bản sau đó, ông đưa ra một luận cứ sắc bén, có nhiều sức thuyết phục, nói rằng nếu phân tích chạy vào là “vào bằng cách chạy”, thì chẳng lẽ nhìn vào buồng là “vào buồng bằng cách nhìn”, và gửi thư đi Huế là “đi Huế bằng cách gửi thư”? Tuy phần phủ định của luận chứng này đã thuyết phục được phần lớn các thành viên của Tổ, nó vẫn còn một chỗ yếu, là các vị từ được ông sử dụng làm thí dụ (nhìn, gửi) để bác bỏ ý kiến của ông Phan Ngọc không có nghĩa ”di chuyển”, nên không ứng với những trường hợp được GS Phan Ngọc dẫn chứng. Giá ông dẫn những vị từ không chủ động (không chỉ hành động cố ý) như rơi, rụng, ngã, lạc… thì luận chứng của ông sẽ có trọng lượng hơn, vì khó có thể tưởng tượng ra những kết cấu như vào bằng cách ngã, đến bằng cách lạc, xuống bằng cách rụng, chủ yếu là do hai chữ bằng cách chỉ có thể kết hợp với những hành động có sử dụng (một cách có chủ ý) một phương tiện nhất định. (8)


3. Cho rằng trung tâm của tổ hợp là từ đi trước (động từ di chuyển), nhưng từ kế theo không nhất thiết là một trạng ngữ chỉ hướng. Nó có thể là một giới từ chỉ đích nếu sau đó có một bổ ngữ chỉ đích như trong câu Nó đi ra đồng. Ý kiến này, do các thành viên còn lại trong tổ chủ trương, có phần giống với ý kiến của Trương Vĩnh Ký khi ông phác hoạ lý thuyết về “ý nghĩa cách” của ông. Nguyễn Kim Thản cũng biết rõ ý kiến của Trương Vĩnh Ký và đã từng chế riễu ông Trương là “vẽ chuyện” để phân biệt đi ra với đi ra đồng, vì hướng và đích chỉ là một: trong hai trường hợp vừa dẫn, ta chỉ thấy có một hướng: hướng đi ra (di chuyển từ một chỗ hẹp tới một chỗ rộng hơn). Hồi ấy, xu hướng thứ hai tỏ ra thắng thế hơn hẳn hai xu hướng kia.


Gần bốn mười năm sau, năm 1995, mới có một nghiên cứu sinh, Nguyễn Thị Quy, nguyên là giảng viên trường đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, tìm được cách chứng minh quan điểm “ngữ pháp cách” cũa Trương Vĩnh Ký trong vấn đề trên, đặc biệt là sự phân biệt giữa trạng ngữ chỉ hướng và giới từ chỉ đích mà Nguyễn Kim Thản phủ nhận và chê cười một cách thoả đáng. (9)


Cô nghiên cứu sinh này dẫn ra một loại vị từ di chuyển mà ý nghĩa “hướng” đã chứa sẵn trong nghĩa gốc của nó. Chẳng hạn có những vị từ mà hướng di chuyển được bao hàm một cách tất yếu trong nghĩa từ vựng của nó là hướng đi xuống, như rơi, rụng, ngã, chúi, cúi, gục, đổ, rót, dẫm, gieo, chảy, trút, tụt. chìm, ngập, lặn, chôn, vùi v.v... Thành thử trạng ngữ chỉ hướng duy nhất có thể kết hợp với các vị từ ấy là xuống: rơi xuống, rụng xuống, ngã xuống, cúi xuống, đổ xuống v.v... chứ không bao giờ có thể có rơi lên, rụng lên, cúi lên… đó đều là những kiểu kết hợp chứa đựng những mâu thuẫn bất khả dung. Thế nhưng trong thực tế của tiếng Việt ta thấy những kết cấu như: rơi lên đầu, rụng lên thềm, gục đầu lên cuốn sách, gục đầu lên vai bạn, đổ hết trách nhiệm lên đầu nó, trút hết công việc lên vai tôi, rót mực lên trang giấy, rót dầu lên đống lửa, dẫm lên đầu con rắn, dẫm lên chân cô vũ nữ… là những cách nói hết sức bình thường và thông dụng. Nếu coi đó là những trạng ngữ chỉ hướng, ta sẽ rơi vào tình trạng mâu thuẫn đã nói trên. Từ lên trong những kết cấu dẫn trên không hề, và không thể nào, chỉ hướng di chuyển. Nó hoàn toàn tương đương với những giới từ có tác dụng làm cho danh ngữ đi sau đảm đương được vai nghĩa “đích” (target) của sự di chuyển (10) như vào, đến, tới, sang, qua, về v.v… (11)


Vả chăng nếu quan sát những thành ngữ có hình thức đối xứng như chạy lên chạy xuống, chạy ra chạy vào, ta đều thấy hai vế đối xứng của nó đều có mô hình trọng âm [0101], trong đó hai từ chỉ hướng di chuyển bao giờ cũng mang trọng âm rât rõ. Nếu so sánh với những kết cấu có giới từ đứng trước danh ngữ, bao giờ ta cũng có mô hình [ 01], trong đó giới từ thường xuyên mất trọng âm như trong bất cứ kết cấu giới ngữ (Giới từ+Danh ngữ) nào.


Dĩ nhiên, mô hình trọng âm của một kết cấu [vị từ + trạng ngữ chỉ hướng] trong một câu như:


Nghe tiếng gõ cửa, Nam vội vàng chạy ra mở


Có thể là [111] hay [101] chứ không phải [ 01], nhưng đó là do tác dụng của những quy tắc khác của trọng âm trong câu (xem cước chú 4)


Những điều nói trên cho ta thấy rõ thêm quan niệm của Trương Vĩnh Ký về cú pháp “cách” cho phép ông tìm ra những giải pháp hữu hiệu như thế nào.


4. Trương Vĩnh Ký là người đầu tiên xác định được rằng những từ như cái, con, cây, chiếc, bức, tấm, viên, là những danh từ “chỉ đơn vị” bên cạnh 200 từ chỉ đơn vị khác (trong đó có bộ, buổi, chặng, chuyến, đoạn, bản v.v…) (12) chứ không phải là một thứ “hư từ” như nhiều tác giả hiện đại tưởng lầm do sự loại suy với các quán từ (articles) của tiếng Pháp, tiếng Anh hay tiếng Đức. Sở dĩ như vậy một phần là nhờ ông đã khổ công lập một danh sách của tất cả các từ mà ông thấy cùng có những đặc trưng ngữ pháp y như cái, con v.v… gồm có 210 từ, trong khi các tác giả hiện đại (trừ Nguyễn Tài Cẩn) (2) không hề nghĩ đến việc lập một danh sách căn cứ trên những thuộc tính ngữ pháp của tất cả các từ được họ gọi là “loại từ” (classificateurs), coi đó như một từ loại (word class hay part of speech) riêng được quan niệm như một thứ hư từ hoàn toàn rỗng nghĩa gồm có 4,8, 12,16, hoặc 40 từ tùy từng tác giả (các tác giả này không nói cho ta biết 4,8, 12, 16 hay 40 từ đó là những từ nào; họ kể ra bốn năm thí dụ kèm theo hai chữ vân vân, đại khái như: “loại từ là những hư từ dùng để cho biết rõ thêm chủng loại của danh từ như cái, con, cây, cục, tấm, v.v” mà thôi). (Trong khi thực ra đó là một chức năng cú pháp – ngữ nghĩa mà hơn một ngàn danh từ có thể đảm nhiệm). (3)


Bản thân Trương Vĩnh Ký không liệt kê các thuộc tính ngữ pháp ấy ra một cách hiển ngôn: hồi ấy sách ngữ pháp không làm như thế. Và cũng có thể ông không hình dung được thật rõ đó là những thuộc tính gì. Mấy từ bị ông đưa nhầm vào danh sách có thể xác nhận điều đó. Nhưng bản thân cái danh sách khá dài và gần như không có chỗ nào nhầm lẫn của ông cho ta biết chắc rằng ông đã thực hiện việc lựa chọn một cách có suy nghĩ kỹ lưỡng. Vả chăng, cho dù ông không suy nghĩ gì bao nhiêu đến những tiêu chuẩn cần có để lập nên bản danh sách ấy, thì chính cái công việc thu thập và liệt kê ngần ấy từ cũng đã cực kỳ bổ ích cho ông, vì thế nào nó cũng mở ra trước mắt ông một toàn cảnh rõ nét với những chi tiết có sức mách bảo nhiều điều quan trọng về bản chất và công năng của những từ này. Ông khước từ dứt khoát cái thuật ngữ “loại từ” hồi ấy đã khá phổ biến trong giới ngôn ngữ học phương Tây, vì một cái danh sách hơn hai trăm từ hoàn toàn đủ cho ông thấy rằng trong đó may ra chỉ có bốn năm từ có thể nói một cách gượng gạo là chỉ chủng loại (cái, con, người, cây, quả) nếu tách hẳn nó ra khỏi cách sử dụng nó trong danh ngữ và trong câu. Trương Vĩnh Ký cũng là người đầu tiên hiểu rằng danh từ hay vị từ đi sau cái, con v.v… là bổ ngữ của nó chứ không phải là trung tâm của ngữ đoạn như hầu hết các tác giả hiện đại (trừ Nguyễn Tài Cẩn) lầm tưởng.


Ta hãy xem hai danh sách danh từ sau dây của Trương Vĩnh Ký.


1. Các Danh Từ Số (Noms numériques) (13)


an ang áng ánh ánh bản bàn bận bậng bánh bao bầy bát bè bị bịch bịn bình bó bộ bọc bốc bọn bông bụi bụm buổi bữa bức bước cáp cặp cây cấp câu chày chấm chàng chặng chặp chén chìa chiều chình chòm chục chuyến chùm chúm chúng chuỗi cọc cối con cong cơn củ cục cung cung cuốn cuồng cữ dãy dây dĩa dỏ doi dội dùi đá đạc đài đãy đàm đám đấm đàng đảng đạo đạp đấu đém điều đọi độ đoàn đoạn đôi đời đồng đống đũa đứa đùi đùm đượng gã gánh gáo gàu giuộc gói hạt hèo hiệp hoa hoàn hồi hơi hòn hớp hột khạp kháp khi khoanh khúc lón lớp lũ lúc luồng lứa lượt lá lần lát lang liều lò lọ lối mâm manh mạng mặt mắt miếng miễng món mớ mối múi mũi muỗng mụt nãi nạm nắm nậm náng nghỉn ngoai người ngòi ngọn ngữ nháy nhắm nố nòi nùi nuộc nút ô ổ ôm ông ống phẩm phát phe phen phiên pho phồn phong phương phường quả quày quảy quan quận que quẻ rổ roi sãi sợi tạ tấc tay tấm táu thang thang tháng thằng thòng thùng tỉn tô tờ trái trang tụi túi vác về viên vò vốc vòng xách xấp xâu.


2. Những từ tổng quát và loại biệt để biểu thị một số thực thể trừu tượng (termes généraux et spécifiques pour exprimer certains substantifs abstraits)


bề bụng cách chứng điều lòng lời nết
nghề phép sự tiếng tình việc vụ (14)


Dĩ nhiên những cuốn sách của Trương Vĩnh Ký viết về tiếng Việt không phải không có những nhược điểm, trong đó có cả những sự lầm lẫn do những định kiến “dĩ Âu vi trung” gây ra (15). Tuy ông biết khá nhiều ngôn ngữ phương Đông (tiếng Hán, tiếng Thái, tiếng Mã Lai, tiếng Hy Bá Lai, tiếng Ả rập v.v..) nhưng ông vẫn thông thạo các ngôn ngữ Rôman và German nhiều hơn, và lẽ tự nhiên ông chia sẻ với các học giả đương thời cái định kiến coi ngữ pháp La Tinh như một thứ ngữ pháp phổ quát. Ông không được trang bị những tri thức và phương pháp mà ngày nay đã trở thành quen thuộc đối với đông đảo sinh viên ngữ văn ở các nước phương Tây. Khi ông qua đời khá lâu người ta mới được học Saussure, Sapir và Shcherba.


Điều đáng ngạc nhiên hơn nhiều là trong hoàn cảnh đó mà ông vẫn có được những nhận định đúng đắn và tinh tế đến như vậy về ngữ pháp tiếng Việt. Trong lịch sử của ngành Việt ngữ học, ông là một trong những tác giả ít bị những định kiến “dĩ Âu vi trung” chi phối hơn cả, nhất là khi đem so với sách học tiếng Việt ngày nay. Kể cho đến bây giờ, ít có cuốn sách nào cung cấp cho ta nhiều thông tin về ngữ pháp tiếng Việt như mấy cuốn sách không lấy gì làm dày của ông. Trong mấy cuốn này không thiếu những phát hiện quan trọng mà ngày nay chẳng mấy ai nhắc đến, trong khi lẽ ra nó phải được những người đi sau tiếp thu và khai triển, đào sâu hơn nữa.


C.X.H.


Chú thích:


(1) Phan Ngọc. Ảnh hưởng của ngữ pháp châu Âu tới ngữ pháp tiếng Việt. Sự tiếp xúc về ngữ pháp, trong cuốn “Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á”, Viện Đông Nam Á, Hà Nôi 1983. tr. 220 ss.,269


(2) Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan, Cơ sở tiếng Việt., Hà Nội,:NXB Giáo Dục, 1998 tr. 5-31:”Về ngữ pháp, tiếng Việt đã “sao phỏng ngữ pháp châu Âu”, mà cụ thể là ngữ pháp tiếng Pháp như cách nói của giáo sư Phan Ngọc. Và cái diện mạo mà chúng ta có được ngày nay của tiếng Việt là có một sự đóng góp hữu hiệu của hiện tượng sao phỏng này”


(4) Tiếng La Tinh có sáu Cách: nominativus, vocativus, génitivus, dativus, ablativus accusativius, chứ không phải tám Cách như trong cách chia mà Trương Vĩnh Ký dùng cho tiếng Việt. Hình thái Cách ablativus của tiếng La Tinh tương ứng với sáu ý nghĩa Cách khác nhau: 1. Vai tác thể (nhân/vật tác động): dominõ (bởi chúa); 2. Nguồn (xuất xứ): ex urbe (từ thành phố); 3. Công cụ: lege (bằng luật); 4. Liên đới: cum reginà (với nữ hoàng); 5. Nơi chốn: in urbe (ở thành phố); 6. Đề tài: de interpretatione (về cách thuyết minh). Chính vì vậy mà Trương Vĩnh Ký, vốn xuất phát từ nghĩa, thấy cần chia thành ba cách khác nhau.


(5) Những công trình nghiên cứu về ngữ pháp phổ quát (Universal Grammar) ngày nay đã xác minh được rằng tất cả các ngôn ngữ đã được biết đến đều có phương tiện ngữ pháp để phân biệt ít nhất các ý nghĩa Cách sau đây: 1. Vai hành độïng; 2. Vai tác động; 3. Vai bị tác động; 3. Vai tiếp nhận; 4. Vai vị trí; 5. Vai mục tiêu; 6. Vai nguồn; 7. Vai công cụï; 8. Vai chủ thể mang trạng thái.


(6) Kể từ những năm 1970 đã có khá nhiều công trình lớn nhỏ nói về Cách trong tiếng Việt được xuất bản ở nước ngoài.


(7) Quan điểm chức năng không hiển ngôn của Trương Vĩnh Ký lộ rõ nhất ở chỗ ông không xếp các từ vào những ô từ loại cứng nhắc. Những thuật ngữ của ông như particule, prepositif, adverbe, appellatif v.v. chủ yếu đều dùng cho những chức năng cú pháp, chứ không phải những từ loại, vì vậy có nhiều từ được ông xếp vào nhiều mục khác nhau tùy theo cách dùng. Cũng giống nhiều nhà ngữ pháp chức năng hiện đại, ông không quan tâm đến vấn đề các từ đó có còn là một hay đã thành hai ba từ thuộc hai ba loại (ô) khác nhau, một trong những ngụy vấn đề làm nảy sinh những cuộc tranh luận kéo dài sặc mùi kinh viện mà các nhà ngữ học hình thức chủ nghĩa lao vào một cách hăng say nhưng lại hoàn toàn vô bổ đối với việc tìm hiểu bản chất và cách hành chức của ngôn ngữ: tìm xem ngôn ngữ dùng những phương tiện hình thức gì, ngữ pháp hay từ vựng, để biểu đạt những nội dung ý nghĩa gì.


(8) Trong tiếng Pháp, những ngữ đoạn như chạy vào, nhảy ra đều có thể được diễn đạt bằng những kiều nói mà Phan Ngọc dùng (lấy phân từ hiện tại làm trạng ngữ chỉ phương tiện hay cách thức cho vị từ trung tâm); nhưng đây là một chiến lược rất hãn hữu. Phần lớn các thứ tiếng châu Âu đều không dùng (cf tiếng Anh run in/run out (cũng dùng trạng ngữ chỉ hướng như tiếng Việt; trong khi tiếng Nga diễn đạt ý nghĩa hướng bằng một tiền tố (vxodit’/vyxodit’)


(9) cf. Nguyễn Thị Quy. Ngữ pháp chức năng tiếng Việt. Vị từ hành động và các tham tố của nó.TP. Hồ Chí Minh: XB Khoa học xã hội.1995.


(10) Ta biết rằng số giới từ “bẩm sinh” của tiếng Việt rất ít ỏi : chỉ có bốn từ: từ, với, bởi và bằng. Tất cả những giới từ còn lại đều vốn là những danh từ “khiếm khuyết” (defective) – như trên. dưới, trong, ngoài, – hay những vị từ (verbs) ngoại động như cho, hộ, giùm, ra, vào, lên, xuống, qua, lại, về, sang, đến, tới,những danh từ và vị từ này, khi được dùng làm giới từ, đều thường xuyên mất trọng âm, và đó chính là nét đặc trưng làm cho các giới từ (cũng như các tiểu từ tình thái như à, ư, đấy, đây, không, chứ, khu biệt rõ ràng với các thực từ tương ứng. Sở dĩ cụ Phan Khôi (Việt ngữ nghiên cứu. Hà Nội 1954) cho rằng người Việt toàn dùng sai giới từ chính là vị cụ không tính đến nét đặc trưng này (x. Tiếng Việt. Mấy vần đề Ngữ âm, ngữ pháp,ngữ nghĩa. tr . …)


(11) Trong những ngôn cảnh như thế này, tiếng Anh phải dùng đến cả trạng ngữ chỉ hướng lẫn giới từ chỉ đích (run out into the court hay leap up into the window)


(12) Ông gọi các từ này là “numéraux” hay “noms numériques” và định nghĩa là “từ dùng để chỉ và kê đơn vị” (mots qui servent à indiquer et à énumérer l’unité) (tr. 30).


(13) Trong danh sách này có một số danh từ chỉ có thể tính đến nếu xét cách dùng nó theo nghĩa phái sinh chứ không phải theo nghĩa gốc, vì nếu dùng theo nghĩa gốc, những từ như bao, bàn, bát, bè, bịch, bình, chén, chỉn, chình, chĩnh, đọi, đũa, gáo, gàu, kháp, lò, lọ, mâm. muỗng, ổ, ống,rổ, roi, thùng, tô. túi, đều là những danh từ khối (không đếm được, không thể lượng hoá). Dùng theo nghĩa gốc, đó thường là những từ chỉ đồ đựng, mà khi muốn lượng hoá hay đánh dấu [±xác định] người nói phải dùng đến những danh từ đơn vị làm trung tâm cho toàn danh ngữ (SS. Bán cho tôi hai cái chén và Bán cho tôi hai chén (rượu/chè))


(14) Đây là những danh từ “trừu tượng” thường dùng để “danh hoá” (nominali-ze – như ta thường nói ngày nay) những ngữ đoạn hay những câu, cải biến nó thành những danh ngữ (thường có nghĩa trùu tượng). Dĩ nhiên danh sách thứ hai nay chưa kể đủ những danh từ có công dụng danh hoá thường dùng ngày nay, có lẽ vì thời ấy những từ này chưa trở thành thông dụng.


(15) Có lẽ sai lầm nặng nề và có hại nhất của Trương Vĩnh Ký là tưởng rằng tiếng Việt có thì với tính cách là một phạm trù ngữ pháp. Vào thời của ông, tất cả các nhà ngữ học đều sai lầm như vậy, nhất là đối với tiếng Hán, vì người châu Âu đếu nghĩ rằng phân biệt quá khứ, hiện tại và tương lai là chuyện hoàn toàn tự nhiên, ngôn ngữ nào cũng phải có. Mãi đến những năm 1980 giới ngữ học mới bắt đầu biết rằng những thứ tiếng phân biệt ba thì hết sức hiếm hoi, và những tác giả như Ch. Li và S. Thompson mới phải viết những chương dài đến 53 trang để chứng minh rằng tiếng Hán không hề có thì, và chữ le (“liễu”) không bao giờ có nghĩa là “thì quá khứ”: đó chẳng qua là một kết quả hết sức khó tưởng tượng của một sự lầm lẫn thô bạo bắt nguồn từ những người châu Âu không được trang bị một vốn tri thức tối thiểu về ngôn ngữ học mà ra.


Cao Xuân Hạo

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Phát hiện ấn đồng cổ ở Hà Tĩnh

07:26 | 04/08/2011
TP - Bảo tàng Hà Tĩnh cho biết, vừa phát hiện một chiếc ấn đồng cổ thuộc loại độc đáo và đặc sắc nhất từ trước đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Trên chiếc ấn đồng có chạm nổi một con rồng lớn.

Chiếc ấn đồng cao 18cm, nặng 1,3kg được chia làm hai phần: Phần đầu ấn (núm ấn) chạm nổi một con rồng lớn, đầu rồng cao 3cm, lưỡi dài 5 cm, mắt rồng lộ to, mũi kiểu sư tử. Mặt trước ấn chạm nổi hai con rồng nhỏ hơn ở tư thế “lưỡng long triều nhật”.
Phần thân ấn hình vuông, kích thước mỗi cạnh dài 6cm, các mặt đều được khắc chữ Hán theo lối chữ Triện, mặt trước khắc chữ “Long”, mặt sau khắc chữ “Hổ”.
Mặt bên trái có 4 dòng khắc nổi 16 chữ, hiện mới đọc được một số chữ như “Ngọc ấn”, “Thăng quan phát tài”, “Kim ngọc mạn đường” (vàng ngọc đầy nhà)...
Theo một số nhà nghiên cứu, chiếc ấn có phong cách tạo tác, chất liệu và kỹ thuật chạm trổ theo thể thức của ấn triện thời Nguyễn. Chiếc ấn cổ là một kiệt tác nghệ thuật hàm chứa giá trị lịch sử, văn hóa độc nhất vô nhị từ trước đến nay được tìm thấy ở Hà Tĩnh.
Võ Đình Thi - Minh Thùy