Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Nghề chơi quan họ có tinh mới tường...

Cập nhật 09/04/2012 09:25:04 AM (GMT+7)

Hát quan họ thì dễ, nhưng để chơi quan họ thì không phải ai cũng làm được". Đó là chia sẻ của anh Nguyễn Phú Hiệp, liền anh có chất giọng được khen là"quan họ" nhất vùng bắc sông Cầu.

Nhà của anh Hiệp nằm sâu tít trong một cái ngõ nhỏ ở giữa Thổ Hà, ngôi làng cổ nằm trong không gian bảo tồn di sản quan họ. Từ ngõ nhà anh đâm thẳng một quãng tầm vài chục mét là ra ngay bờ sông Cầu.
Chẳng biết có phải  vì thế hay không, mà những câu hát quê hương đã làm anh say mê ngay lúc còn bé, từ khi nghe các cụ hát quan họ trong những hội hè đình đám thôn quê, "dẫu lúc đó còn chưa hiểu quan họ là gì."
Anh kể, khi lớn lên, anh đi khắp các hội làng vùng Kinh Bắc để nghe hát và học hát các câu quan họ, rồi tìm đến các cụ nghệ nhân xin "học nghề," cho đến khi nhập ngũ lên biên giới phía Bắc vào năm 1978 mới thôi.
"Lúc đầu nhiều cụ không nhận, bởi nhìn mình còn trẻ quá, người ta không tin là mình muốn học thật. Nhưng cứ thành tâm thể hiện tấm lòng của mình, thì dần các cụ cũng hiểu và truyền đạt hết cho," Anh Hiệp nói.
Chính niềm đam mê  và lòng khao khát đó đã giúp anh có được một bộ sưu tập những câu hát quan họ cổ thuộc loại độc nhất vô nhị vùng Kinh Bắc, với hơn 200 câu. Từng đó cũng đủ vốn liếng cho anh đi "chơi quan họ" khắp nơi trong khu vực sông Cầu mà không thua kém ai.
"Trong quan họ người ta gọi mỗi bài hát là một câu, người chơi quan họ giỏi thì càng phải biết được nhiều câu. Bởi đến khi hát đấu với "bọn quan họ" khác, nếu anh không tìm tòi, hát đối lại được với bên bạn, thì thua," Anh Hiệp phân tích.

Anh Nguyễn Phú Hiệp, liền anh có chất giọng được khen là"quan họ" nhất vùng bắc sông Cầu
Quan họ không dễ dãi
Anh Nguyễn Phú Hiệp hiện đang là chủ tịch câu lạc bộ quan họ của làng Thổ Hà, gồm khoảng 30 thành viên. Anh bảo, gọi là câu lạc bộ cho đúng tính Đoàn thể, chứ theo cách gọi của cha ông thì gọi là "bọn quan họ" thôi, "dù cái từ "bọn" bây giờ nghe nó không được lịch sự cho lắm.
Dẫu không được  "PR" hình ảnh mạnh như quan họ ở Bắc Ninh, nhưng quan họ Thổ Hà vẫn tự hào là giữ được những nét đặc trưng nhất của giọng hát cha ông từ ngày xưa.
"Chúng tôi trân trọng, không dễ dãi với câu hát. Khi nào hát cũng phải đảm bảo giữ được 80-90% những gì mà các cụ nghệ nhân truyền dạy. Tức là phải phát triển được đúng chất "e giọng" cho từng người, phải đầy đủ vang-rền-nền-nẩy. Thế mới bảo là nghề chơi thì lắm công phu," Anh Hiệp cười.
Không dễ dãi, cũng có nghĩa là không chiều lòng được tất cả mọi người để biến tấu quan họ sao cho "lọt tai" hơn.
"Chúng tôi yêu quan họ  để quan họ yêu chúng tôi. Những khi nào đi hát phục vụ cho bà con hay các sự kiện văn hóa, có ý nghĩa thì kể cả không có thù lao thì chúng tôi cũng đi. Nhưng những nơi nào mà đặt nặng vấn đề tiền nong để bắt chúng tôi hát khác chất quan họ đi, thì mấy cũng từ chối. Thế nên mới nói người ta vừa yêu vừa ghét bọn quan họ Thổ Hà là thế," Anh Hiệp nói.
Người Thổ Hà  vẫn chỉ chơi quan họ, chứ không phải là  hát. Chơi là hát bằng cả trái tim, hát để thỏa niềm đam mê, để trút hết nỗi lòng của người quan họ, chứ không phải là để kiếm tiền.
Thế nên ngoài  "xuân thu nhị kì," hai đợt lễ hội chính, thì các liền anh, liền chị vẫn ngồi hát cho nhau nghe vào những đêm trăng thanh gió mát hay lúc nông nhàn. "Quan họ ở đây bình thường như hơi thở, chúng tôi hát chẳng theo định kì logic nào cả," Anh Hiệp cho biết.
Anh bảo, quan họ  để chơi mới hay, nhưng nhiều người cứ không nhận ra điều đó, họ lại thấy quan họ như  là một nghề hái ra danh, bóc ra tiền. Thế nên nhiều khi họ làm cho quan họ chẳng còn là quan họ nữa.
Bài hát cổ thì  họ tân trang thành nhạc Pop, đủ trống chiêng xập xènh, gọt dũa cho vừa tai khán giả. Hát quan họ là để giao lưu, giao duyên, thì lại bắt trẻ con đi hát xin tiền. Rồi lại cho quan họ đi hát đồng ca, lập kỉ lục này kỉ lục kia. Những người tự nhận là hiểu quan họ rốt cuộc lại đi ngược lại tất cả những truyền thống của quan họ. (Anh Hiệp đang nhắc đến hội Lim ở Bắc Ninh, tổ chức vào tháng 2/2012 vừa qua-phóng viên).
"Tôi rất mừng khi UNESCO công nhận quan họ là di sản văn hóa thế giới, bởi sau đó thì độ lan tỏa của quan họ là rất lớn. Đến nay đã có tới 52 làng được vào danh sách không gian bảo tồn di sản. Nhưng mừng mà lo. Bởi nếu người ta cứ tiếp tục phổ biến, quần chúng hóa quan họ kiểu này, thì trước sau nó cũng trở thành người khổng lồ không xương. To đấy, nhưng cũng dễ sụp, bởi không gìn giữ được cái gốc cốt lõi," Anh Hiệp chia sẻ.

Hơn 3000 người đến hát quan họ để xác lập kỷ lục. Ảnh: Huyvme
"Yêu nhau trở lại xuân tình..."
Văn hóa cũng như  tình yêu, có lúc thăng lúc trầm, nhưng tựu trung lại nếu tiếp cận bằng trái tim trong sáng, vô tư, thì nó sẽ được trường tồn. Người ta không thể khiến ai đó thích quan họ bằng cách biến nó thành một loại hình nghệ thuật khác, bởi lúc đó quan họ đâu phải là quan họ nữa. Nó chẳng khác nhau đặt bẫy nhau để mà yêu.
"Riêng tôi, tôi vẫn tin có nhiều người yêu quan họ bởi những nét độc đáo riêng của nó, chứ không phải thành thứ này thứ kia," Anh Hiệp nói.
Anh kể khi còn  ở quân ngũ, với dăm chục câu quan họ dắt lưng làm vốn, tha hồ cho anh đi làm công tác dân vận trong đồng bào dân tộc, bởi họ mê quan họ lắm, đặc biệt là người Tày. Vào bản hát quan họ cho đồng bào nghe, lại nghe đồng bào hát những giai điệu của dân tộc mình, tưởng chẳng có sự giao lưu, đoàn kết nào hữu hiệu như bằng tiếng hát.
Quan họ còn theo anh sang tận trời Tây, trong chuyến lưu diễn của đoàn quan họ Bắc Giang ở Pháp phục vụ kiều bào.
"Tôi không dám nhận là hay, nhưng tôi tin đã đển lại ấn tượng tốt cho kiều bào. Khi hát giã bạn rồi, thì cả hội trường vẫn yêu cầu đi ra để họ chào và vỗ tay một lần nữa. Khi đó chúng tôi rất xúc động, nhiều người khóc, và bản thân chúng tôi là những nghệ sĩ cũng không cầm được nước mắt. Chúng tôi lúc đó đã hát bằng tất cả tấm lòng," Anh Hiệp hồi tưởng về buổi biểu diễn cuối cùng ở Lyon, Pháp.
"Nhiều người bảo với tôi rằng, thanh niên ngày nay chẳng ai còn mê quan họ. Nói thế là không phải. Ở đâu thì tôi không biết, chứ ở Thổ Hà này trai gái tuổi cập kê vẫn còn thích nghe quan họ lắm. Lúc bận đến kì tổ chức hội hát mà chưa thông báo, là tụi nó xúm đến hỏi ngay," Anh Hiệp cười.
"Chúng nó bảo, nghe các chú hát quan họ, chúng cháu lại thấy...yêu nhau. Tôi nghe mà cũng vui, bởi bọn quan họ chúng tôi vẫn thường nói đùa là hát quan họ là để cho hàng xóm yêu nhau mà."
Cắt tóc để nuôi quan họ
Dẫu là một liền anh có tiếng tăm nhất vùng Kinh Bắc, anh Hiệp không giàu lên nhờ quan họ. Gia đình ba người của anh sống trong một ngôi nhà gạch đã cũ, đơn sơ với không gian tương đối chật chội. Trong nhà đẹp nhất là bộ áo tứ thân và mấy tấm bằng khen, còn lại chỉ có một cái ti vi 14 inch và một bộ đầu đĩa nho nhỏ. Khách đến chơi ngồi trải chiếu với chủ nhà để uống trà nói chuyện.
So với tiêu chuẩn những ngôi nhà trong làng Thổ Hà tôi đã vào thăm, phải nói là nhà anh nghèo.
Như các gia đình khác trong làng, nhà  anh cũng làm bánh đa nem. Anh Hiệp ngoài nghề làm bánh đa ra, còn chịu khó ra ngoài cổng làng cắt tóc kiếm thêm đồng ra đồng vào cho gia đình.
"Tôi chả dấu nghề, nghề cắt tóc của tôi làm đẹp cho đời, tôi lấy nghề cắt tóc để chơi quan họ," Anh Hiệp giãi bày.
Anh bảo, dạo gần đây cũng có  nhiều người mới đi hát, như đi hát đám cưới ấy, nhưng anh không chịu. "Người ta chịu trả một triệu một lần diễn đấy, nhưng tôi thà ở nhà cắt tóc cả ngày lấy 100 nghìn còn hơn. Tôi nói có trả 10 triệu tôi cũng không đi. Tôi không muốn làm mất đi cái tính tự tôn của người chơi quan họ."
"Xưa cha ông ta đã dạy thế này:
Nghèo tiền nghèo bạc không lo
Nghèo nhân nghèo nghĩa mới cho là nghèo
Người quan họ vun đắp cho mình nhân nghĩa rất là dày, và cả cách sống với nhau sao cho trọn vẹn nữa. Tôi hát quan họ không sợ ai hay cái gì cả, thích thì hát thôi. Không thể vì vài đồng bạc mà làm hỏng cả mình lẫn di sản của cha ông được."

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

Tại sao người Công Giáo hiểu Sinh Thì là chết mà không phải là sống?


Nguyễn Long Thao3/29/2012

Tuần Thánh: Tại sao người Công Giáo hiểu Sinh Thì là chết mà không phải là sống? 

Kinh sách Công GiáoViệt Nam có một từ ngữ gây nhiều thắc mắc. Đó là từ Sinh Thì. Trong khi người Việt nói chung hiểu Sinh Thì là lúc sống thì người Công Giáo Việt Nam lại hiểu Sinh Thì là lúc chết. Bài viết này nhằm góp phần giải thích tại sao người Công Giáo hiểu Sinh Thì là chết.

Từ Sinh Thì xuất hiện rất sớm trong các văn bản Công Giáo. Các Thánh Truyện là tác phẩm được soạn vào năm 1646 có ít nhất là 30 lần tác giả đã dùng từ Sinh Thì và theo Philipphê Bỉnh trong Truyện Annam Đàng Ngoài Chí Đàng Trong, tác giả sách này là một vị Hòa Thượng theo đạo Công Giáo. Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu được sáng tác từ thời cha Đắc Lộ, cũng có từ Sinh Thì. Ngắm thứ 13 viết: “Đoạn thì gục đầu xuống bên Đức Mẹ đứng, như giã Đức Mẹ vậy mà linh hồn cực trọng ấy ra khỏi xác liền Sinh Thì.” Vậy từ Sinh Thì theo nghĩa thông thường của dân gian khác với ý nghĩa của người Công Giáo thế nào? 

Hầu hết các từ điển tiếng Việt như Việt Nam Tự Điển của hội Khai Trí Tiến Đức, Từ Điển Hán Việt của Đào Duy Anh, Đại Từ Điển Tiếng Việt do Văn Hóa Thông Tin xuất bản năm 1999, không có từ Sinh Thì, chỉ có từ Sinh Thời , Sinh Tiền hay Sênh Tiền. Cả ba từ đó đều có nghĩa là lúc còn sống của một người nay đã qua đời. 

Ngược lại, các từ điển do người Công Giáo viết như Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của, Tự Điển của Pigneau de Béhaine cuối thế kỷ XVIII, Từ điển của Génibrel cuối thế kỷ XIX, Dictionarium Anamitico –Latinum của Đức Giám Mục AJ. L. Taberd xuất bản năm 1838 và trong nhiều văn bản Công giáo khác như Thánh Giáo Yếu Lý, Kinh Cầu Bảo Đàng Cho Kẻ Rình Sinh Thì, Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu, đều có từ Sinh Thì và được hiểu là chết. 

Tại sao lại có sự mâu thuẫn này trong khi Sinh Thời chỉ là tiếng đọc trại của Sinh Thì. Thì đọc trại ra Thời để tránh tên húy vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Thì (阮福蒔). Vậy lý giải làm sao để người Công Giáo hiểu Sinh Thì là lúc chết? 

Trước hết hãy giải thích ý nghĩa Sinh Thì theo nghĩa thông thường. Sinh 生 là tiếng Hán Việt như sinh kế, dưỡng sinh, sinh sống. Về mặt chữ Nôm, từ Sinh trong Hán Việt cũng như Sinh trong tiếng Nôm đều viết giống nhau và có nghĩa gần như nhau. Trong tiếng Nôm từ Sinh có các nghĩa (1) Đẻ: mẹ sinh con. (2) Ra đời. (3) Kiếp sống (4) Tạo ra. Như vậy Sinh Thì hay Sinh Thời theo nghĩa Hán Việt có nghĩa là lúc đang sống.

Tuy nhiên, các từ điển do người Công Giáo viết, từ Sinh Thì được định nghĩa như sau? 

1. Tự Điển Việt Bồ La của A. de Rhodes giải thích từ Sinh Thì: 

-sinh: lên (ascendo: is) 

-sinh thì: giờ lên (ascensus hora)

-đã sinh thì: đã chết (iam mortuus est).

2. Từ điển Dictionarium Anamitico Latinum của Đức Giám Mục Taberd xuất bản năm 1838, trang 444, giải thích Sinh Thì là Fato Concedere nghĩa là chết.

3. Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của ấn bản 1895-1896 trang 912 định nghĩa Sinh Thì: chết.

4. Trong các kinh sách của người Công Giáo, từ Sinh Thì nếu được đặt trong ngữ cảnh bản văn, phải hiểu đó là một động từ và có nghĩa là chết. Ví dụ: trong Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu, ngắm thứ 15 có đoạn: “Khi xác Chúa Giêsu còn trên Thánh Giá thì có một người các quan lấy đòng mà đâm cạnh nương long Đức Chúa Giêsu phải trái tim, bấy giờ máu cùng nước chảy ra, song le, khi ấy xác Đức Chúa Giêsu chẳng có đau vì đã sinh thì”.

Tại sao các vị thừa sai đã dùng từ Sinh Thì để chỉ ý nghĩa chết?

Giải thích vấn nạn này, trước hết ta phải trở về với phong tục của người Trung Hoa cũng như Việt Nam. Khi một người chết, người ta tránh nói từ Chết mà dùng từ Qua Đời, Tạ Thế, hay Quá Vãng. Trong Anh ngữ cũng vậy, thay vì từ To Die: chết, người ta dùng từ To Pass Away: chết. 

Đối với các bậc vua chúa, người Trung Hoa cũng như Việt Nam không nói từ Chết, hay Qua Đời mà dùng từ Thăng Hà hay Băng Hà. Sách Lễ Ký có câu: Thiên tử tử viết băng, chư hầu viết hoăng 天子死曰崩, 諸侯曰薨 (Khúc lễ hạ). Dịch nghĩa: Vua chết gọi là "băng", vua chư hầu chết gọi là "hoăng". Trong văn chương Phật Giáo, người ta cũng dùng chữ Thăng để chỉ ý nghĩa chết. Người Phật Giáo thường dùng cụm từ: Cầu cho hương hồn được Siêu Thăng Tịnh Độ hay Siêu Sinh Tịnh Độ có nghĩa là cầu cho linh hồn người chết được thoát khỏi cuộc sống trần thế, tới cõi cực lạc. Như vậy người Việt Nam đã dùng từ Thăng: đi lên, bay lên để chỉ sự chết.

Vậy Thăng Hà và Băng Hà là gì? Thăng 升: từ Hán Việt có nghĩa là lên, đi lên, bay lên. Hà 遐: xa, phương xa. Vậy nguyên nghĩa Thăng Hà là bay lên phương xa. Theo từ điển Hán Việt của cụ Thiều Chửu, Thăng Hà có ba nghĩa: (1) bay lên trời. (2) vua chết. (3) xa lánh trần tục. Còn Băng Hà thì Băng 崩 có 4 nghĩa: (1) Lở, sạt, sụp. (2) Hủy hoại. (3) Mất, diệt vong. (4) Chết. Theo từ điển của cụ Thiều Chửu, hay các từ điển Hán Việt khác, Thăng Hà hay Băng Hà: đều có nghĩa là vua chết. 

Tại sao người Đông Phương lại quan niệm chết là Thăng tức bay lên cao. Người Đông Phương quan niệm Sinh Ký Tử Quy: Sống là tạm bợ, chết là đi về: về Thiên Giới, về Cõi Trên. Do vậy người Việt cũng như người Tàu quan niệm khi chết hồn lìa khỏi xác gọi là hồn Thăng. Trong tín ngưỡng đồng bóng của dân gian, người ta cũng dùng từ Hồn Thăng. Hồn Thăng tức hồn đi ra khỏi xác người lên đồng. Quan niệm này chính cha Alexandre de Rhodes cũng xác nhận khi Ngài chú thích từ Sinh Thì: "Chúng tôi mượn cách nói đó của người bên lương để chỉ ý nghĩa sự chết của người Ki tô hữu như đi lên với Thiên Chúa."

Nhưng tại sao các Linh Mục thừa sai lại không dùng từ Thăng mà lại dùng từ Sinh để chỉ sự chết, khiến gây ra rắc rối về ý nghĩa? Nếu xét về cách đọc của người Việt, tức giọng Hán Việt, thì từ Sinh 生 và Thăng 升 hoàn toàn đọc khác nhau. Nhưng nếu theo cách đọc của người Tàu, tức giọng Bắc Kinh, hai từ này đọc giống nhau. Từ Sinh 生và Thăng 升 đều được đọc là Sheng tức Sinh trong tiếng Việt. Hai từ này, nói theo kiểu xưa, là đồng âm dị nghĩa. Như vậy, ta có thể kết luận rằng Thăng Thì = Sinh Thì = Giờ Chết = Hồn ra khỏi xác.

Vấn nạn đặt ra là tại sao trong kinh sách viết cho người Công Giáo Việt, các nhà truyền giáo không dùng từ Thăng mà lại lắt léo mượn cách đọc của người Tàu đọc chữ Thăng là Sheng tức Sinh để chỉ sự chết? 

Chưa có tài liệu nào trả lời cho vấn đề này mà chỉ có những suy luận: Có thể trong thời gian đầu, các giáo sĩ trước khi đến Việt Nam truyền giáo thường phải kinh qua Trung Quốc nên họ đã có thói quen đọc Thăng thành "sheng" tức Sinh. Do vậy, khi đến Việt Nam và khi phải sáng tác kinh sách cho người Việt, các ngài đã dùng từ Sinh Thì để chỉ giờ chết của chúa Kitô. Về phía giáo dân, hay các linh mục bản xứ, chắc hẳn thời đó cũng có nhiều vị uyên thông chữ nghĩa, thấy từ Sinh Thì không được ổn cho lắm, nhưng vì vốn có có tâm lý tôn trọng bề trên nên họ đã không phản đối. Do vậy, ngày nay người Công Giáo Việt Nam có riêng từ Sinh Thì để chỉ lúc linh hồn lìa khỏi xác, tức là chết.

Một câu hỏi khác cũng được đặt ra là tại sao khi diễn tả sự chết của Chúa Kitô trên Thánh Giá các nhà thừa sai không dùng các từ ngữ đơn giản và dễ hiểu như Viên Tịch, Tử, Qua Đời, Chết mà lại dùng từ Thăng. Câu trả lời là các Ngài đã triệt để áp dụng tinh thần hội nhập văn hóa trong vấn đề diễn tả sự chết. Như đã nói trên, người Tàu cũng như người Việt dùng từ Thăng Hà hay Băng Hà để chỉ vua Chúa chết. Đối với Chúa Kitô, người Công Giáo coi Ngài là Chúa Cả, là Vua Trên Hết Các Vua, nên các nhà truyền giáo đã gọi việc Chúa chết là Thăng. Và có lẽ các Ngài đã phải quanh co đọc Thăng là Sheng tức Sinh để tránh việc bắt chước tín ngưỡng đồng bóng đã dùng chữ Hồn Thăng. Thời xưa, những gì có dính líu đến các tín ngưỡng không phải của Công Giáo đều không được chấp nhận. Cụ thể như việc thờ cúng tổ tiên.

Cũng có lối giải thích khác cho rằng chết đúng là thời gian sống, là Sinh Thì vì hiểu theo nghĩa thần học Công Giáo: chết là khởi đầu cho cuộc sống mới mà ngôn ngữ thần học gọi cách lạc quan ngày chết là ngày giờ sinh ra: Dies Natalis để được sống trên cõi trường sinh. Tư tưởng đó được diễn tả trong bài hát Kinh Hòa Bình của Linh Mục nhạc sĩ Kim Long "Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời", hoặc câu Kinh Thánh: "Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác".(Gioan 12,24)

Nguyễn Long Thao

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Vừa được UNESCO công nhận, Hát Xoan đã bị “cải biên”


Cập nhật 04/04/2012 09:29:00 AM (GMT+7)

“Cấy nhạc vào điệu xoan cổ để có giai điệu dễ nghe, múa hát xoan lại có tay múa như hát chèo là điều không thể chấp nhận được”, nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Khắc Xương, người nghiên cứu hát xoan, con trai của nhà văn Tản Đà sống trên chính mảnh đất của Hát Xoan bức xúc. 



Việc biểu diễn và truyền bá hát xoan đang có hiện tượng bị sai lệch.

Hát Xoan đang bị “chèo hóa”


Trong một chương trình truyền hình quảng bá về hát xoan ngày 28/2 âm lịch, một đoàn hát chèo đã biểu diễn hát xoan với trang phục, điệu múa và thậm chí là “cấy” cả nhạc khi biểu diễn khiến những ai nghiên cứu và yêu hát xoan rất bức xúc.

“Vừa rồi, vào dịp chuẩn bị cho hội đền Hùng ngày 28/2 âm lịch, tôi có thấy đoàn chèo biểu diễn hát xoan và đã múa hát hát xoan theo phong cách của chèo. Đặc biệt với y phục chèo, và cầm quạt để biểu diễn, tay múa của chèo lại ngửa lên khác hoàn toàn với xoan”, ông Nguyễn Khắc Xương chia sẻ.

Bà Nguyễn Thị Lịch – nghệ nhân hát xoan phường An Thái – Phú Thọ cũng khẳng định điều trên là có thật. Thậm chí bà còn cho biết trong một lớp dạy xoan, có cô giáo từng học hát xoan của bà trong khóa học ngắn 10 ngày đã “cấy” cả nhạc vào điệu hát xoan để cho dễ nghe!

Bà Lịch nói: “Hát và biểu diễn hát xoan bị “chế” nhạc, “chèo” hóa có thể sẽ dễ nghe và có những điệu múa có phần dí dỏm nhưng tôi cho rẳng cần phải tôn trọng và bảo tồn nguyên cách hát và biểu diễn khi hát xoan. Ông cha ta đã để lại từ xa xưa không có lí do gì để chúng ta không tôn trọng một di sản đã được công nhận là di sản của thế giới”.
  “Hát xoan cổ cần phải được tôn trọng!” – Nghệ nhân hát xoan Nguyễn Thị Lịch

Cùng chung ý kiến ông Nguyễn Khắc Xương cho rẳng: “Hát xoan động tác tay khác với các dân ca khác, nếu làm như vậy thì hát xoan sẽ không hề có nét độc đáo riêng !”.

Ông cũng cho biết thêm: “Trong khi bảo tồn hát xoan nếu “chèo” hóa hay có bất kì sự biến đổi gì khác so với hát xoan cổ sẽ không còn là hát xoan nữa. Hát xoan là loại hình nghệ thuật bình minh của dân tộc. Vì vậy nếu muốn quảng bá hát xoan không cần thiết phải chế lời, thêm nhạc mà cần phải giữ nguyên được hát xoan cổ như đúng giá trị mà nó đã được công nhận”.
 “Bất kì có sự biến đổi gì khác với hát xoan cổ sẽ không còn là hát xoan nữa” - Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Khắc Xương
Bất cập trong việc bảo tồn

Theo như tìm hiểu của PV Vietnamnet, việc bảo tồn hát xoan hiện nay còn gặp rất nhiều vấn đề. Đó là hiện nay chưa có một đội hát xoan mang tính chuyên nghiệp và hình mẫu để có thể biểu diễn trong các sự kiện quan trọng.

Việc đãi ngộ với các nghệ nhân hát xoan trong việc truyền dạy và bảo tồn hát xoan cũng là điều đáng để bàn. Bà Nguyễn Thị Lịch cho biết từ khi được công nhận là nghệ nhân hát xoan đến nay, bà không hề nhận một đồng lương từ nhà nước mà đi dạy hát xoan chỉ vì yêu hát xoan.

Còn ông Nguyễn Khắc Xương lo lắng trước thực trạng việc nghiên cứu hát xoan sau khi được UNESCO công nhận đã tạm dừng lại: “Việc nghiên cứu để tìm ra lề lối và làn điệu hát xoan cổ chính gốc vẫn còn thiếu và rất cần được nghiên cứu tiếp”, ông nói.
Tay múa của hát xoan không giống như chèo mà cần phải tuân thủ các quy tắc riêng để đảm bảo tính tín ngưỡng bởi loại hình hát thường được phục vụ tại của đình mỗi dịp quan trọng.

Việc công nhận hát xoan hiện nay một tín hiệu tích cực từ sự hứng khởi của nhân dân khi hồ hởi tham gia các lớp học về hát xoan. Hát xoan đã đi vào trường học như một môn học tại tỉnh Phú Thọ nhưng lại bất cập trong việc đưa ra mô hình phù hợp với lứa tuổi học sinh khi tiếp cận với xoan”.

Công ước của UNESCO khi vinh danh một di sản đã khẳng định rõ di sản đó phải được bảo tồn nguyên hiện trạng khi được công nhận. Như vậy nếu như hiện tượng Hát Xoan bị “chèo” hóa hay “chế” thêm nhạc điệu còn tiếp tục xảy ra sẽ có ảnh hưởng không tốt đến danh hiệu mà UNESCO đã trao tặng cho hát xoan. Một bài học rất lớn là UNESCO đã từng tước đi sự công nhận đối với một số những di sản văn hóa phi vật thể ở một số nước dù trước đó họ đã từng công nhận.
Ông Nguyễn Đắc Thủy – Phó ban Tuyên giáo tỉnh Phú Thọ: “Năm nay có hiện tượng thêm nhạc hay biểu diễn sai tại một số chương trình chúng tôi xin rút kinh nghiệm và sẽ tiếp thu mọi ý kiến. Tuy nhiên cũng cần phải biết rẳng tại một số nơi biểu diễn là các CLB yêu xoan nhưng chưa hiểu rõ các quy tắc khi hát xoan, chúng tôi đã cử những nghệ nhân đến rút kinh nghiệm.
Việc đãi ngộ với các nghệ nhân hát xoan sắp tới tỉnh cũng sẽ có những đề án để hỗ trợ phù hợp hơn với các nghệ nhân trong việc bảo tồn hát xoan”.


Vĩ Lam

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Tại sao bằng cấp cao hơn, văn hoá lại 'lùn' đi?

Cập nhật 02/04/2012 06:14:00 AM (GMT+7)
Vì sao xã hội hôm nay được xem là có bằng cấp cao hơn một xã hội Việt Nam chỉ có 5% biết chữ trước kia, nhưng lại có văn hoá “lùn đi” (tỉ lệ phạm tội, số vụ trọng án trong giới trẻ ngày một cao hơn …), và lớp trẻ bị xem là đang sống vô hồn hơn? 

Đội Thiếu niên Tiền phong Cuba vẫn hoạt động tốt khi chuyển đổi nền kinh tế.
Khi uy tín là…

Những nhà giàu chiều con vô độ, bé thì đánh osin, lớn lên dùng vũ lực để đạt mục tiêu, đều được cha mẹ xử êm bằng tiền, nếu có hệ lụy. Lớn lên, có cậu ấm thuê côn đồ giải quyết tranh chấp ngay trong trường.


Cũng có con nhà nghèo muốn lấp khoảng cách giàu nghèo ngày một sâu thẳm hôm nay bằng bạo lực, hoặc gặp cảnh cùng quẫn phải phạm pháp. 
Lảng vảng những bầy đàn ma giáo, ma cô tìm mọi cách xô đẩy đầu xanh vào vòng nghiện ngập, sa đọa. Các đầu gấu như có sức “cuốn hút” hơn, nhiều kẻ theo đóm ăn tàn đang lao vào vòng xoáy một lối sống không làm ra bao nhiêu, nhưng ăn tàn phá hại. Thói quen ăn nhậu giúp tạo ra các “hội”, trước mắt bênh vực nhau trong các va chạm trong sinh hoạt cộng đồng, rồi đến các tranh chấp dân sự…. Về lâu dài, hình thành một thứ lực lượng hậu bị cho các băng nhóm “giang hồ đời mới”.

Đang ngấm ngầm một quan niệm, kể cả trong một số người có tuổi, rằng để sống được hôm nay, cần biết cả cách vi phạm “nhẹ” một số chuẩn mực về pháp lý, đạo đức và các giá trị dân sự, và tuân thủ luật chơi “phường hội”?
Nỗi oan Thị Kính đang bước ra ngoài trang văn học. Những Năm Sài Gònđời mới cấu kết với “ông cò”. Để loại bỏ doanh nghiệp cạnh tranh, chuyện ai đó thuê côn đồ đánh người chồng thành thương, rồi đâm xe cướp mạng sống người vợ sẽ không gây quá ngạc nhiên hay căm phẫn (?).
Nhiều lúc thấy những tình cảnh đã “hình sự” lắm, nhưng rồi các cơ quan chức năng chỉ vào cuộc khi đã có … tử thi. Người dân vẫn e rằng cách xử án của các vụ Lê Văn Luyện, vụ đốt nhà báo… đã xử đúng, xử hết tội phạm? Ở hiền liệu có gặp lành, xử thế độc ác có bị xử án đích đáng? Những hồi chuông báo động sẽ chẳng thấu tai ai?
Tham khảo
Năm vừa rồi, chúng ta đã kinh ngạc vì người dân Nhật, chịu không biết bao nhiêu tai ách dồn dập, cả khách quan lẫn chủ quan, vẫn không hề oán hận, nổi khùng.
Tấm gương đùm bọc, tôn trọng đạo lý và pháp luật trong đại nạn của người Nhật làm cả thế giới khâm phục. Một đồng nghiệp của tôi có cơ hội được hỏi một người Nhật là dân xứ hoa đào được giáo dục bởi những giá trị nào?
Câu trả lời không hề chứa những khái niệm sành điệu như “kỹ năng sống”, mà chỉ là: kính già, nhường trẻ, làm điều thiện, tránh điều ác, trung thực, dũng cảm… Không lẽ các thế hệ người Việt không từng được giáo dục như thế?
Nhưng Nhật Bản và cả Hàn quốc hẳn vẫn là những tấm gương gìn giữ gia phong, truyền thống trong trào lưu Tây hóa. Vậy hẳn là họ vẫn không ngừng thay đổi, và kiến tạo trên nền truyền thống những giá trị mới để phát triển.
Sự khác biệt của bộ máy tam quyền phân lập với cách hình thái xã hội khác là hệ thống chấp pháp -  tòa án hoạt động độc lập.
Vì thế với các nước phương tây, pháp luật gần như là sự công bằng. Còn với người dân của xã hội truyền thống Khổng giáo, và cả với hình thái xã hội cận xô viết, xét xử vẫn phải có tình, có lý. Công lý không thể xa vời khỏi luân thường, đạo lý. Xử lý va chạm về giao thông ở phương Tây hoàn toàn là việc của cảnh sát, còn ở Việt Nam, vẫn có thể khuyến khích hai bên hoà giải, tự dàn xếp.
Để song hành đạo lý Á Đông và hệ thống pháp lý kiểu phương Tây, “trái tim nóng, đầu lạnh, tay sạch” hẳn vẫn giúp kiến tạo hệ thống giá trị mới cho một xã hội thuần nông trên đường chuyển đổi nền kinh tế, khó hội đủ đức – tài đối phó với mặt trái của xã hội tiêu thụ.
Các kỹ năng sống của cậu bé mũi dài Buratinô chống Mèo mù, Cáo thọt hôm nay vẫn có thể nhập khẩu để tham khảo. Nhưng sự phúc hậu, và tinh thần khắc phục khó khăn, thấm đẫm huyết quản Việt bao đời, chẳng hạn, không thể để cho mai một, bởi tâm lý hưởng lạc và một lối sống ma giáo, thói làm luật…
Hiền dữ đâu phải vì tính sẵn
Từ xưa có lệ họp đại gia đình “đóng cửa bảo nhau”. Thời bao cấp, mỗi người đều thuộc một đoàn thể xã hội nào đó, và đều có thể được Hội, Đoàn, Đội… của mình nhắc nhở, thường không đao to búa lớn, về những lệch lạc mới chớm, trong mắt cộng đồng. Hôm nay, đã vang dội hơn những phàn nàn rằng sự tắc trách kiểu “trọng cung hơn trọng chứng”, và những tiêu cực, đang làm một số kẻ sát nhân thoát tội, và đẩy cả những người lương thiện vào tù.
Trong định hướng tiền xanh, bạc tệ, ông bà vẫn thủ thỉ, “đừng xanh như lá, bạc như vôi”… Cha anh nhắc lại vai trò Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên một thời hoa lửa.
Mỗi lần đi qua những toà Học viện thanh niên, Trường Đội… hoành tráng, tôi cảm thấy chúng như thứ “thảm bay” bồng bềnh, chỉ giúp ai đó thượng đài danh vọng.
Dính lấy “nền cũ lâu đài” về phương pháp, mất sinh khí, chúng không kiếm được chỗ đứng trong lòng thanh thiều niên, nhi đồng, không còn là người hướng dẫn, người bảo vệ cho tuổi đầu xanh. (Phản) văn hoá “băng nhóm” đang lấn át văn hoá của đoàn thể quần chúng.
Khăn quàng thắm vai em…
Công nghệ giáo dục Việt không thể chỉ là những điều răn kiểu: “không được đánh bạn”, “không được đánh học trò”. Mà phải làm sao để trẻ em (sẽ thành người lớn về sau) không nghĩ đến việc dùng bạo lực như một công cụ để giải quyết tranh chấp, càng không phải là công cụ để “thể hiện mình”, hay tệ hơn, để (đánh học trò, đánh bạn) để xả stress.
Muốn vậy không nên chỉ hô hào: “dùng sức mạnh của hệ thống chính trị”, mà, ít nhất, cần không để các tổ chức đoàn thanh niên, đội thiếu niên biến thành những “thánh đường” chỉ thu hút được những ai ưa “bề nổi”, và cả những “sư hổ mang”… Cần khởi động lại những cơ chế một thời đã khiến các đội viên thiếu niên, đoàn viên thanh niên thực sự, không chỉ không đánh nhau, mà còn biết đoàn kết các bạn. Để gương mẫu, chứ không phải là “đầu gấu”, mới là uy tín trong thanh thiếu niên.

Lê Đỗ Huy