Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

'Nhà trường Việt Nam chưa thoát thế kỷ 19'

Cập nhật 20/04/2012 06:22:00 AM (GMT+7)

Sau “Dân chủ và giáo dục”, hai cuốn sách khác của nhà giáo dục Mĩ John Dewey (1859-1952) vừa ra mắt độc giả cũng qua bản dịch của dịch giả Phạm Anh Tuấn. Nhân việc ra mắt hai bản dịch này, dịch giả Phạm Anh Tuấn, người đã nhận hai giải thưởng cho bản dịch "Dân chủ và giáo dục", Giải thưởng Tinh hoa giáo dục quốc tế của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh năm 2009 và giải Sách Hay năm 2011, đã có cuộc trao đổi với VietNamNet về công việc dịch sách giáo dục kinh điển và tình hình nền giáo dục hiện nay. 


Dịch giả Phạm Anh Tuấn, người đã nhận hai giải thưởng cho bản dịch "Dân chủ và giáo dục"

* Không còn thời gian để mà tiếp tục trì hoãn

Anh có thể tóm tắt hai cuốn sách mới ra này một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất?

- Với một cuộc trò chuyện ngắn ngủi như thế này thì quả là như bị "đánh đố"!

Nhưng có thể nói thế này, cuốn Kinh nghiệm và giáo dục gợi nhiều suy nghĩ cho tất cả những người làm giáo dục ở Việt Nam hiện nay.

Đưa học sinh vào vị trí trung tâm không có nghĩa là nhà trường tiến bộ gạt bỏ vai trò của người thầy, của sách giáo khoa, của kỷ luật. Cần từ bỏ lối suy nghĩ "một mất một còn" hay là “hoặc này - hoặc kia”.

Cuốn thứ hai, John Dewey về giáo dục, là một tuyển tập những trước tác  của John Dewey về giáo dục, được phân loại, sắp xếp theo những chủ đề lớn: triết học và giáo dục, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục khoa học, tâm lý học, các nguyên tắc sư phạm, văn hóa, nhà trường và xã hội…Bài viết cuối cùng – Tín điều sư phạm của tôi – được coi như là tuyên ngôn của John Dewey về giáo dục. 

Theo anh, hai cuốn sách này có thể cung cấp bài học gì cho nền giáo dục hiện nay ở nước ta? 

- Bài học sau đây được rút ra từ cuốn thứ nhất nên được lắng nghe bởi tất cả các nhóm quan điểm cải cách khác nhau trong giáo dục Việt Nam tại thời điểm khó khăn chưa từng thấy như hiện nay: Làm ra một điều tích cực, làm ra một mô hình xác thực, và nhất thiết phải nhanh chóng làm ra nó, tức là chống tiêu cực mạnh mẽ nhất. Không có con đường lựa chọn nào khác và đến giờ phút này thì cũng không còn thời gian để mà tiếp tục trì hoãn.

Bài học thứ hai đó là hãy đồng thời nâng cao mặt bằng tri thức cho những người làm giáo dục, bất kể đó là ai.

Đây là một công việc lâu dài, phần nào đòi hỏi sự đóng góp bền bỉ của những người dịch sách giáo dục. Vả chăng, cũng không còn bất cứ cách nào khác.

Tôi muốn nhấn mạnh là phải nâng cao cái mặt bằng, chứ không nâng cao cái đỉnh, không vuốt cho cái chóp đỉnh mỗi ngày một thêm nhọn hơn. Không có lý luận thì thực nghiệm dễ trở thành mò mẫm, thô thiển. Không có thực nghiệm thì lý luận dễ trở thành viển vông. Phải nâng cao mặt bằng trên đồng thời hai phương diện này.

Song, đôi khi đã từng có trường hợp xảy ra ấy là có lý luận hẳn hoi và từ lý luận ấy đã có một thực tiễn chắc chắn hẳn hoi, ấy vậy mà rút cục một sự nghiệp như vậy vẫn có thể thất bại. Tại sao?

- Phàm cái gì không tiếp tục và liên tục tự tạo ra cho chính nó một phiên bản đổi mới, nâng cấp, thì trong hiện tại nó chỉ còn là một hoài niệm.  

Đã 4 năm kể từ “Dân chủ và giáo dục”, được đón nhận bởi giới trí thức, học giả nhưng không có sự phản hồi nào từ những người giữ trọng trách với nền giáo dục. Với việc tiếp tục ra mắt hai cuốn nữa của John Dewey, anh có cho rằng sẽ có sự “tiếp đón” khác hơn? 

- Sau khi bản dịch Dân chủ và giáo dục ra mắt năm 2008, trong lần trả lời phỏng vấn đầu tiên, tôi đã bày tỏ sự hoài nghi về khả năng tiếp nhận cuốn sách này từ phía ngành giáo dục.

Với sự kiên trì của một nhà báo phỏng vấn tôi khi đó thì cũng phải tới hai năm sau bài phỏng vấn đó mới được đăng. Nhưng thực tế sau đó đã chứng minh là dường như ngành giáo dục không quan tâm tới cuốn sách rất quan trọng này. 

Với hai cuốn sách mới xuất bản, tín hiệu đáng mừng đầu tiên cho đến lúc này là có một số giảng viên đại học sư phạm khi nghe tin đã gọi điện đến tôi để xin được tặng sách.

Sách có ít độc giả, không được quan tâm bởi những người cần quan tâm và nên quan tâm. Có khi nào anh cảm thấy mình đang làm công việc của… con còng?

- Nhiều lĩnh vực khác, rất nhiều dịch giả nghiêm túc khác cũng rơi vào tình trạng này. Chuyện đang xảy ra với bản dịch kiệt tác văn chương Lolita do nhà thơ Dương Tường thực hiện, là một ví dụ rõ rệt. Nhưng việc dịch sách là một điều gì đó liên quan nhiều đến bản năng, hay gọi là khát vọng cũng được. Đây không hẳn là vấn đề thuần túy lý trí.

Nhưng mặt khác các loại sách thường thường bậc trung, như cách nói quen thuộc của anh, lại đang tràn ngập thị trường và rất ăn khách. 

- Đúng vậy. Riêng trong lĩnh vực giáo dục thì còn tràn ngập cả các trung tâm dạy kĩ năng sống và các sách dạy kĩ năng sống, của cả các tác giả người Việt lẫn các tác giả quốc tế.

Lựa chọn sách gì là quyền của độc giả nhưng hiện tượng những người làm giáo dục chuyên nghiệp chính thống mà lại cổ vũ việc dạy, học kỹ năng sống theo cách như hiện nay thì là vấn đề cần phải xem lại. Tôi nói cần phải nâng cao mặt bằng tri thức cho những người làm giáo dục là trong ý nghĩa như thế.

* Nhà trường Việt Nam hiện nay thậm chí vẫn chưa thoát khỏi kiểu nhà trường của thế kỷ … 19!

Anh cho rằng nên giải tán những khẩu hiệu đang được kẻ vẽ trang trọng trong nhà trường như “tiên học lễ, hậu học văn”, “học để làm người”. Vậy không học những cái này trong trường thì trẻ học gì?

- Không có môn học đạo đức hay môn lối sống tách rời, mà đạo đức hòa vào trong giáo dục, không thể nào dạy riêng rẽ được.

Tôi chưa thấy có nhà trường nào trên thế giới lại có môn học đạo đức xét như là một môn học hẳn hoi nghiêm chỉnh đứng tách rời.

Trường học là một hình thái của đời sống cộng đồng. Do đó, giáo dục là bản thân quá trình sống của trẻ em. Nhà trường là cộng đồng thu nhỏ, nhưng cũng không tất nhiên giống như xã hội bên ngoài ở chỗ nó có bàn tay của nhà giáo dục. Nhà trường phải làm nổi bật những gì mà nó thấy cần thiết. 

Học sinh đánh nhau, học sinh tự tử, học sinh đánh thầy cô… Nhiều cuộc hội thảo tìm nguyên nhân và giải pháp với kết luận trách nhiệm thuộc về 3 bên: gia đình, nhà trường và xã hội. Theo anh, việc “chẩn bệnh” này đã chính xác chưa, và tại sao dù rất nhiều cơ quan đoàn thể vào cuộc nhưng không chấm dứt được tình trạng này?

- Tất cả những điều nói trên không phải là thời nay mới có. Chỉ khác ở mức độ phổ biến và mức độ nghiêm trọng của nhiều trường hợp cụ thể. Cách nào đó, các hiện tượng đó là mang tính "cưỡng chế", tức là không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kì ai. Đó là những "sự kiện xã hội" (fait social), để dùng thuật ngữ của Émile Durkheim, người được coi là cha đẻ của môn xã hội học đích thực. Có thể nhìn một sự kiện xã hội bằng một quan điểm tâm lí học và cũng có thể nhìn bằng một quan điểm xã hội học. 

Nhưng bất luận thế nào, tôi tuyệt đối tin rằng nhà trường hoàn toàn có thể giải quyết được hoặc chí ít cũng kiểm soát được tất cả những hiện tượng nói trên và chỉ có nhà trường mới giải quyết được tốt hơn cả.

Tôi không dám mơ ước mình được đứng trong hàng ngũ những người mang danh xưng Thầy giáo. Nhưng quả thực, dạy học là một nghệ thuật cao quý nhất trong tất cả các nghệ thuật. "Người thầy mãi mãi là nhà tiên tri của Thượng đế đích thực và là người trợ giáo trong vương quốc đích thực của Thượng đế", để nhắc lại câu cuối cùng trong cuốn John Dewey về giáo dục mà ta đang nói tới.

Ba cuốn sách ra đời cách đây gần 100 năm nhưng, theo anh, vẫn phù hợp với thời sự giáo dục Việt Nam. Vậy điều gì ở những cuốn sách này khiến nó có giá trị với nền giáo dục Việt Nam đến thế? Hay do, dù đang ra sức cải cách, đổi mới, nền giáo dục của chúng ta vẫn lạc hậu đến mức kinh khủng? 


Con gái tôi đang học ở một trường gọi là nổi tiếng về "tiến bộ", ở giữa Thủ đô. Cô giáo khuyên cháu hãy cố gắng chịu đựng 12 năm học phổ thông rồi sau này vào đại học thì muốn làm gì thì làm - tức là cô đang dạy cho trẻ em tâm lý học để chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai mơ hồ nào đó.
- Gần một trăm năm đã trôi qua,Kinh nghiệm và giáo dục của John Dewey, chẳng hạn, vẫn tiếp tục có sức sống, con đường của ông cũ mà không cổ hủ bởi nó như tấm gương để ngày hôm nay chúng ta soi vào thấy hiện ra diện mạo đích thực của mình.
Nhìn theo cách này thì giáo dục Việt Nam thậm chí vẫn là nhà trường ở thế kỷ 19, trước cả thời của John Dewey – người đứng ở bước ngoặt từ nhà trường cổ truyền chuyển sang nhà trường tiến bộ.

Con gái tôi đang học ở một trường gọi là nổi tiếng về "tiến bộ", ở giữa Thủ đô. Cô giáo khuyên cháu hãy cố gắng chịu đựng 12 năm học phổ thông rồi sau này vào đại học thì muốn làm gì thì làm - tức là cô đang dạy cho trẻ em tâm lý học để chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai mơ hồ nào đó. 

Sự du nhập manh mún những thiết bị hiện đại của nước ngoài, điều tưởng như là một sự nghịch lí, cũng vẫn là một biểu hiện của sự lạc hậu.

Chẳng hạn như việc lắp camera cho từng lớp học ở một số trường nằm trong nhóm được coi là dẫn đầu hiện nay. Việc làm này chỉ có thể gọi là sự sỉ nhục trẻ em, sự cảnh sát hóa nhà trường.

Học sinh Trường Tiểu học Đồng Văn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An trong một giờ học. Ảnh: Lê Anh Dũng
Có lý luận, có thực tiễn, song đôi khi những người cần hiểu vẫn không hiểu 

John Dewey Kinh nghiệm và giáo dục và John Dewey về giáo dục thuộc Tủ sách phát triển giáo dục, do Nhà xuất bản Trẻ/DT Books/Viện IRED xuất bản quý I năm 2012

Anh từng nói “người trí thức, về bản chất, là những người lý tưởng chủ nghĩa, ôm ấp nhiều ước mơ, thậm chí ảo tưởng, tất nhiên là ảo tưởng cao đẹp và đáng trân trọng. Nhưng nếu họ thất bại thì chắc chắn không phải lỗi của họ”. “Mơ mộng” như nhóm Cánh Buồm hiện nay – đóng hẳn một con thuyền dong buồm đi khác hướng với sự vận động hiện tại của giáo dục nước nhà. Khách quan mà nhìn nhận, anh thấy Cánh buồm trong tương lai sẽ đi về đâu?

- Từ năm 2004 đến năm 2009, trong vòng mấy năm thôi mà đã có tới sáu đề án cải cách giáo dục của giới trí thức Việt Nam cả trong và ngoài nước được gửi tới Bộ GDĐT. Nhưng cho đến tận bây giờ, tịnh không có một hồi âm nào từ cấp cao nhất lẫn Bộ GDĐT, dù chỉ là “cảm ơn vì đã góp ý nhưng xin lỗi không dùng được”. 

Đề án của Cánh buồm cũng nằm trong số đó. Tuy có thể không hẳn là cái gì đó to tát và dứt khoát, song Cánh Buồm là “điểm sáng” hiện nay bởi Cánh Buồm vừa có lý luận lại vừa có thực tiễn. Nếu Bộ GDĐT quan tâm, thì tại sao không hỗ trợ kinh phí, hay chỉ định Cánh Buồm dạy thí điểm ở, chẳng hạn, trường A, trường B?

Còn nếu cứ tiếp tục như hiện nay, những cố gắng của nhóm Cánh Buồm trong những năm gần đây sẽ mãi mãi là những thử nghiệm, những tài liệu để tham khảo mà thôi.

Anh nhìn nhận thế nào về hiện tượng những góp ý của các nhà khoa học, nghiên cứu giáo dục không nhận được sự phản hồi của Bộ GDĐT?

- Theo tôi, có 3 nguyên nhân. Thứ nhất là dường như có một sự cản trở nào đó khiến lãnh đạo Bộ GDĐT không tiếp cận với các nhóm cải cách nằm ngoài Bộ GDĐT.

Thứ hai là do các nhóm cải cách vẫn làm việc trên cơ sở tư biện, không có thực nghiệm, có lẽ trừ nhóm Cánh buồm.

Và nguyên nhân thứ ba, những người cần hiểu những ý tưởng cải cách (không xuất phát từ Bộ GDĐT) lại không hiểu chính những gì họ nhận được và được đề nghị đọc.

Nhân đây, tôi những muốn nhắc tới một trường hợp rất đặc biệt ấy là cuốn sách “Triết lý giáo dục Việt Nam và thế giới” của một vị giáo sư do Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đặt viết. Một đề án đụng chạm đến một vấn đề cốt tử của giáo dục (triết lý giáo dục) và được chính tác giả cuốn sách thổ lộ là một "công trình mang tầm thực tiễn", ấy vậy mà cuốn sách chỉ được in với số lượng rất hạn chế và chỉ được lưu hành nội bộ. Cái gì không công khai thì không phải là khoa học.

Khoan hãy nói tới những thông tin về cuốn sách được trích đăng rời rạc trên các báo cho thấy cuốn sách khó lòng được gọi là một nghiên cứu triết lí giáo dục nghiêm túc, thì chỉ nguyên việc tác giả cuốn sách từng gọi John Dewey là "một nhà triết học duy tâm", đã cho thấy dứt khoát một điều là sự đòi hỏi nâng cao mặt bằng tri thức cho nhiều nhà giáo dục là một đòi hỏi có thật và cấp bách hiện nay.

Xin cảm ơn anh.

Chi Mai (Thực hiện)

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2012

Sưu tập thơ Công giáo kỷ niệm 100 năm Hàn Mặc Tử

Vào tháng 9 năm nay, Việt Nam sẽ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22.9.1912, tại Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Ông mắc bệnh phong từ năm 1937, và mất tại bệnh viện Qui Hòa, Qui Nhơn ngày 11/11/1940, khi mới 29 tuổi.



Nhà thơ Hàn Mặc Tử.
 

Hàn Mặc Tử đã làm thơ từ năm 16 tuổi, ban đầu với những bút khác, mà trong đó có những bút hiệu báo trước cuộc đời lận đận của anh : Phong Trần, Lệ Thanh...Ngay cả bút danh Hàn Mặc Tử cũng đủ nói lên thân phận cô đơn, lạnh lẽo cuối đời của một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh.

Hàn Mặc Tử, nhà thơ tiên phong của dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, người đã khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Nhưng có lẽ một số người không biết hoặc không để ý rằng Hàn Mặc Tử sinh trưởng trong một gia đình Công giáo và anh là một tín hữu rất nhiệt thành. Anh đã viết cả một tập “Thơ Đạo”. Nhất là từ khi mắc bệnh phong, bắt đầu đối diện với cái chết, thơ của anh càng mang đậm nét tâm linh.

Cho nên, bên cạnh những nghiên cứu, những sinh hoạt chuẩn bị cho kỷ niệm 100 ngày sinh của Hàn Mặc Tử, một nhóm ở Qui Nhơn, do linh mục Võ Tá Khánh, Tòa Giám mục Qui Nhơn, đứng đầu, hiện đang tuyển chọn các bài thơ cho một bộ sưu tập thơ Công giáo để phát hành trong dịp kỷ niệm này. Từ Qui Nhơn, linh mục Võ Tá Khánh trả lời phỏng vấn RFI về sinh hoạt này:


Tác giả bài viết: Thanh Phương 

Nguồn tin: www.viet.rfi.fr

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Tiếng Việt đang méo mó

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Không Chỉ Là 5.000 Năm!


(Trao đổi với học giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh về sử Việt)
Hà Văn Thùy

Sau khi được công bố trên anviettoancau.net, bài Có cần viết lại tên Bách Việt?” được nhiều trang mạng đăng lại. Học giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đưa lên diễn đàn Lý học phương Đông của ông với lời phê bình công phu. Cảm mối thịnh tình của ông, tôi xin thưa lại đôi điều.

1. Về con số 5000 lịch sử

Là người sớm đứng ra đòi lại bản quyền kinh Dịch cho tộc Việt, ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh cũng là học giả kiên trì quan điểm “5000 năm sử Việt.” Trong bối cảnh giới sử học chính thống dùng những phát hiện mới về thời Đông Sơn-Hùng Vương để khẳng định “2800 năm sử Việt” thì việc bảo thủ quan điểm “thiếu cơ sở khoa học” như vậy dễ bị cho là lạc hậu!
Có thể vì vậy, ông níu bám cái “cọc khoa học” duy nhất có thể ủng hộ ông là Tiêu chí lịch sử xác định rằng: Lịch sử của một dân tộc chỉ được coi là bắt đầu từ khi dân tộc đó lập quốc.”

Quả là đã có một tiêu chí như vậy, do học giả phương Tây đưa ra từ thế kỷ trước. Thời đó, khoa học chưa biết tổ tiên Homo sapiens là ai, lại càng mù mờ hơn khi nói đến cội nguồn của mỗi tộc người. Vì vậy, thời điểm lập quốc được dùng làm mốc son ghi sự trưởng thành của một dân tộc. Do tính hợp lý và hữu dụng nên nó nhận được sự đồng thuận của giới khoa học. Và lịch sử loài người đã định hình chính trên tiêu chí đó.

Nhưng sang thế kỷ này, tình hình đã khác. Không những biết tổ tiên duy nhất châu Phi 160.000 năm trước của nhân loại mà nhờ di truyền học, nhiều dân tộc còn biết đích xác nguồn cội của mình.
Riêng với người Việt, may mắn hơn, nhờ khám phá của nhân loại, chúng ta biết rằng, 70.000 năm trước, người tiền sử từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ đặt chân lên vùng đất nay là thềm Biển Đông, sinh ra tổ tiên chúng ta. Từ cái nôi này, người Việt đã lan tỏa ra khắp thế giới. Từ 40.000 năm trước, đã chiếm lĩnh đất Trung Hoa và sau đó sang khai phá châu Mỹ.
Nhờ khảo cổ học, chúng ta cũng biết rằng, khoảng 20.000 năm trước, tại Hòa Bình, tổ tiên ta đã chế tác rìu đá mài, công cụ lao động tiên tiến của nhân loại. Khoảng 15.000 năm trước, tại nơi nào đó ở thềm Biển Đông, tổ tiên ta thuần hóa được cây lúa nước, thực hiện phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử loài người.

Những trí tuệ hàng đầu thế giới đã ghi nhận: “khoảng 4000 năm TCN, người Việt xây dựng nền văn minh nông nghiệp sớm và rực rỡ nhất hành tinh.”

Thật lạ là, không hiểu sao, tuy biết những điều trên nhưng ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh lại bỏ qua để chỉ chăm bẵm vào “6000 năm trở lại”?
Nếu dừng lại ở thời gian 5000 năm thì chúng ta vô hình trung chỉ nhận phần ngọn mà bỏ đi cái gốc. Một việc làm phi khoa học vì cắt đứt sự liên tục của dòng chảy lịch sử. Không những thế, lại còn chối bỏ những thành tựu vĩ đại nhất của tổ tiên. Điều đó cũng không ổn về tâm linh vì chúng ta mắc tội vong ơn, quên những vị tổ khai dòng cho nòi giống! Cũng phải nói rằng, chính vì chuyện này mà ông tự mâu thuẫn với mình. Theo truyền thuyếtPhục Hy làm Dịch, sách Dịch ra đời trước 4000 năm TCN. Vậy, chấp nhận lịch sử 5000 năm thì mặc nhiên,ông đã bỏ cái cội nguồn kinh Dịch ra ngoài sử Việt!

Hiểu biết mới, cần định nghĩa mới. Khi đã biết đầy đủ hơn lịch sử loài người cũng như lịch sử nòi giống, cố nhiên cần có định nghĩa mới về lịch sử. Lịch sử tộc Việt không chỉ được ghi trong sách sử, trong huyền thoại, trong những vật chứng khảo cổ mà còn được ghi ngay trong máu huyết chúng ta: DNA. Vì vậy, theo thiển ý, lịch sử của tộc Việt phải được tính từ ngày Người Khôn ngoan (Homo sapiens) đặt chân tới thềm Biển Đông, 70.000 năm trước!

2. Học giả nguyễn Vũ Tuấn Anh viết:

 Cổ thư ghi lại dưới dạng truyền thuyết và huyền thoại về trận Hoàng Đế chiến Xuy Vưu và chiến thắng ở Trác Lộc. Ông ta dừng vó ngựa ở Bắc Dương Tử và phát biểu: "Phương Nam khó đánh"... Câu nói này của ông Hoàng Đế đã xác nhận ở Nam Dương tử có một xã hội hùng mạnh ở đây từ khoảng 6000 năm trước ngày nay.”

Huyền thoại trên đời nhiều vô kể. Không tin huyền thoại là người nông cạn nhưng quá tin dễ sa vào vô minh, giống như “tận tín thư” vậy!

Sau khi diệt triều Thương của tộc Việt, người Hoa Hạ xây dựng vương triều Chu của mình. Để phủ định những triều Việt trước đó, nhà Chu chỉ chép sử từ ông tổ của họ là Hậu Tắc rồi bái vọng ông thủy tổ Hoàng Đế. Công quy vu trưởng, người ta gán cho Hoàng Đế quá nhiều công tích. Có thể lừa được nhiều người, nhiều thời nhưng làm sao lừa được mãi mãi? Liệu còn mấy người dám tin rằng dân lùa cừu chăn bò trên đồng cỏ lại làm ra thuyền, ra buồm? Dân uống sữa ngựa, mặc áo cừu lại phát minh nghề dệt vải? Thật khôi hài, cả đến nghề thuốc của dân nông nghiệp cũng được trao cho Hoàng Đế thành Hoàng Đế nội kinh!

Có một định kiến dai dẳng trong tâm thức loài người, nhất là người Việt, đó là ý tưởng cho rằng, người Việt chỉ làm chủ nam Dương Tử. Lầm to! Từ 40.000 năm trước, người Việt đã làm chủ toàn bộ đất Trung Hoa. Vào Trung Nguyên, Hiên Viên chỉ chiếm được phần đất hoàng thổ phía nam Hoàng Hà rồi tự xưng Hoàng Đế với nghĩa vua của vùng đất vàng. Cái đế quốc hạt cải này bị kẹp giữa các quốc gia Việt hùng mạnh: Ba Thục phía Tây, nước của Đế Lai ở phía đông và Văn Lang phía nam. Có lần tôi nói với bác sỹ Trần Đại Sỹ: “Khi cho rằng biên giới của người Việt chỉ tới nam Dương Tử, có nghĩa là ông đã “cho không” người Hoa vương quốc mênh mông của Đế Lai?” Bác sỹ rất vui nhận ra sai lầm của mình!

Cần làm rõ điều này: “Đây là thời điểm trước khi quốc gia Văn Lang thành lập ở Nam Dương tử mà chính những học giả Trung Hoa hiện đại gọi là: Một nền văn minh biến mất một cách bí ẩn vào thế kỷ thứ ba BC; hoặc những học giả Trung Hoa và quốc tế nói về nền văn minh thứ V tồn tại ở Nam Dương tử”

Lại một sự bé cái lầm! Hoàn toàn không có nền văn minh nào biến mất vào thế kỷ III TCN và cũng chẳng hề có cái gọi là “nền văn minh thứ V” nào cả(!) Đó là văn minh Việt rực rỡ của Ba Thục, Ngô, Việt, Sở và Văn Lang, bị nhà Tần thôn tính rồi sáp nhập đế chế Trung Hoa!

3. Học giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh viết:

“Tôi cho rằng sau chiến thắng của Hoàng Đế với Xuy Vưu về căn bản người Hoa Hạ ở Bắc Dương tử chưa bị đồng hóa về văn hóa của Việt tộc. Hoặc sự đồng hóa không đáng kể. Bằng chứng: Vào thế kỷ thứ V BC Khổng từ viết trong sách Luận Ngữ: "Nếu không có Quản trọng thì người Hán mặc áo cài vạt bên trái như người Man rồi!". Như vậy - gần 2500 năm sau tính từ thời Hoàng Đế - sự giao lưu văn hóa của người Hoa Hạ với Việt tộc ở Nam Dương tử gần như rất không đáng kể.”

Xin thưa, cố nhiên, sự đồng hóa không xảy ra một sớm một chiều nhưng có lẽ còn nhanh hơn so với vài trăm năm của người Mông Cổ sau đời Nguyên, người Mãn sau đời Thanh! Tuy giỏi xâm chiếm, cướp bóc nhưng với số người không đông và chưa có văn hóa, lọt vào giữa cái bể người bản địa vừa đông vừa văn minh gấp bội, sự đồng hóa xảy ra mau lẹ là cái chắc! Chả thế mà chỉ vài đời sau Hoàng Đế, vương vị đã vào tay người Việt!

Câu nói của Khổng Tử, theo thiển ý, phải chăng nên hiểu thế này: Trong các nước chư hầu nhà Chu, người Hoa và người Việt ăn chung ở lộn. Lúc này cả Việt cả Hoa cùng mang bộ gen Mongoloid phương Nam, nghĩa là cùng một “giống” và thêm nữa, cùng nói tiếng Việt theo cách nói Mông Cổ (Mongoloid parlance) phụ trước chính sau, do sự áp đặt của nhà cầm quyền. Cái khác nhau chỉ là cài khuy áo bên trái hay phải.
Vương triều Chu lại bị vây quanh bởi những quốc gia “man, di” nhưng hùng mạnh và đông đúc, cài khuy bên trái. Để tôn “quốc thống”,  Quản Trọng nước Tề lệnh cho toàn dân cài khuy bên phải, một bước đồng hóa về văn hóa. Vậy là Việt biến thành Hoa, nhẹ nhàng như khi người Mãn cắt bỏ đuôi sam là trở thành người Hán!

Sự hiểu lầm vẫn dai dẳng đeo bám học giả đáng kính nên ông không thấy rằng, “cải cách” của Quản Trọng là nhằm đồng hóa khối dân Việt đang sống ngay trong lòng vương triều Chu chứ không phải do tiếp xúc với phương nam!

4. Với câu hỏi hỏi:
“Vậy người Việt Bắc Dương tử từ 4600 năm trước mà người Hán vượt sông Hoàng Hà tấn công chiếm Trung Nguyên từ đâu lại,” tôi xin thưa như sau:

Người Việt từ 40.000 đến 30.000 năm trước đã làm chủ Trung Hoa, từ lưu vực Hoàng Hà tới lưu vực Dương Tử. Đấy là điều được khẳng định về mặt khảo cổ học: cái sọ cổ nhất 18.000 năm trước, phát hiện ở hang Chu Khẩu Điếm là của người Việt. Văn hóa Ngưỡng Thiều có tuổi 8000 năm, trước đây được cho là cội nguồn văn hóa Hán thì thực sự cũng từ văn hóa Hòa Bình đưa lên!

Còn người Mông Cổ từ đâu ra, tôi đã trình bày vấn đề này trong bài Sự hình thành dân cư Đông Á công bố trên mạng, sau đó in trong cuốn Hành trình tìm lại cội nguồn (NXB Văn học, 2008). Bằng nhiều chứng cứ khảo cổ học, cổ nhân học kết nối với những tài liệu di truyền học mới nhất (những tài liệu mà ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh bỏ qua), tôi đã chứng minh:

Người Mông Cổ phương Bắc cũng từ Việt Nam theo con đường Ba Thục đi lên tây bắc Trung Quốc và đất Mông Cổ khoảng 40.000 năm trước. Khảo cổ học phát hiện di cốt 40.000 năm của họ trên đất Mông Cổ minh chứng cho điều này. Lúc đầu họ sống bằng săn hái, tới 10.000 năm trước, khi băng hà tan, do địa hình đồng cỏ, họ chuyển sang sống du mục. Mùa đông khô lạnh, nhiều bộ lạc tập trung về nguồn nước bên Hoàng Hà. Cố nhiên, họ luôn nhòm ngó dân trồng kê có cuộc sống sung túc ở bờ nam và hàng ngàn năm, chuyện vượt sông cướp bóc luôn diễn ra mà trận Trác Lộc là cuộc xâm lăng quy mô nhất.

Những điều trên không ai có thể bịa ra được mà phải dựa vào nhiều nguồn tài liệu, trong đó mũi tên chỉ đường là di truyền học. Không đi xa nên khó hiểu được gần. Rõ ràng, nếu chỉ chăm bẵm vào thời điểm 6.000 năm thì không thể nào hiểu được những điều vô cùng quan trọng trên. Do vậy, sự hiểu về “lịch sử 5000 năm” cũng khó đầy đủ.

Đã từng “đơn thương độc mã” vì kiên định lập trường “5000 năm sử Việt”, rất có thể, học giả của chúng ta một lần nữa lại “độc mã đơn thương” vì không theo kịp những tri thức mới!
                                                         
    Đường Lê Lư, tháng Ba, 2012
Hà Văn Thùy

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Thạp Đồng Đào Thịnh (Yên Bái)



THẠP ĐỒNG ĐÀO THỊNH (YÊN BÁI) VÀ THÔNG ĐIỆP CỦA NỀN VĂN HÓA ĐÔNG SƠN


Thạp đồng Đào Thịnh


Thạp là loại hình di vật được phát hiện khá nhiều và khá tiêu biểu trong văn hoá Đông Sơn. Thạp là một trong những đồ đựng của cư dân Đông Sơn, ngoài ra nó còn dược dùng trong nghi thức chôn cất người chết. Thạp đồng Đào Thịnh được phát hiện vào năm 1961 tại xã Đào Thịnh huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái, thạp có đầy đủ cả thân và nắp. Đây là chiếc thạp có kích thước lớn nhất phát hiện từ trước cho đến nay. 


Thạp được trang trí từ nắp cho tới chân với hai mô típ chủ đạo: hình người, động vật và hình học. Nắp thạp trang trí bốn khối tượng người gồm bốn cặp trai gái đang giao phối. Trai thì tóc xoã, ngang hông đeo dao găm, đóng khố, gái thì bận váy ngắn. Bộ phận sinh dục nam giới được nhấn mạnh rõ nét. Có thể người xưa có ý đồ khi đặt các khối tượng ở vị trí trang trọng, trung tâm để nói lên khát vọng sinh sôi, sự phồn thịnh của con người và vạn vật. Ngoài ra, trên nắp thạp còn trang trí 8 hình chim mỏ dài chia thành bốn đôi bay ngược chiều kim đồng hồ và một số hoa văn dạng hình học. Thân thạp có hình khắc sâu chiếc thuyền mũi cong có nhiều người mặc y phục cài lông chim đứng trên sàn thuyền. Giữa lòng thuyền dựng một pháo đài, trên có một người đang cầm cung trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Những người còn lại đều đứng trên sàn thuyền với các loại vũ khí: cung, giáo, lao, rìu chiến, dao găm theo thứ tự ai sử dụng vũ khí đánh xa thì đứng đằng trước, vũ khí đánh gần đứng giữa và vũ khí phòng vệ đứng sau cùng, ngoài hoa văn trang trí người và thuyền, thân thạp còn trang trí một số hoa văn động vật như: chim đang bay, cá sấu cặp đôi và nhiều băng hoa văn hình học... hình dáng, cấu trúc con thuyền cũng như sức chở và sự bố trí binh lực trên thuyền đã phản ánh cho chúng ta thấy kỹ thuật đóng thuyền ở thời kỳ này rất phát triển và có lẽ ở thời kỳ này, chiến tranh cũng đã trở thành một hiện tượng phổ biến.


Thạp đồng Đào Thịnh đã cho thấy cư dân Đông Sơn đã tỏ rõ bản lĩnh quân sự vững vàng, tài năng chiến đấu không chỉ trên bộ mà còn thạo cả thuỷ chiến.