Thứ Tư, 11 tháng 7, 2012

Thành nhà Hồ: Phía sau câu chuyện di sản thế giới


9/7/2012 06:30

Có một nghịch lý khi Đàn Nam Giao thuộc di tích Thành nhà Hồ được gấp rút đầu tư 3 tỷ đồng để “xây mới” nhằm phục vụ buổi lễ đón nhận bằng di sản văn hóa thế giới – UNESCO.

TIN BÀI KHÁC


Ngày 16/6, tại khu di tích Thành nhà Hồ - Thanh Hóa đã diễn ra lễ trao bằng UNESCO nhằm chính thức ghi tên Thành nhà Hồ vào danh sách các di sản văn hóa của nhân loại. Tuy nhiên, từ cách thức tổ chức lễ đón nhận cho đến việc phục dựng đàn Nam Giao để phục vụ lễ đón nhận bằng di sản này có rất nhiều điều chưa phù hợp với từ "di sản".
Từ tráo rồng, thay cổng đón bằng UNESCO
Nét đặc sắc trong di tích Thành nhà Hồ nằm ở những bức tường thành và đặc biệt là chiếc cổng thành 3 vòm cửa được xây bằng những phiến đá nặng 10- 20 tấn được ghép vừa khít một cách tự nhiên mà không hề có chất kết dính.
Chính vì kiến trúc mái vòm cong nên việc thiết kế kiến trúc của cổng thành đã đòi hỏi một kĩ thuật cao để đảm bảo các tảng đá lớn như vậy luôn vững bền với thời gian và chống lại được mọi lực tác động từ bên ngoài.
Cổng Thành nhà Hồ với kiến trúc đặc trưng đã tồn tại 600 năm với thời gian.
Tuy nhiên đáng tiếc, tại buổi lễ nhận bằng Di sản thế giới UNESCO, để phục vụ cho mục đích biến 3 cổng vòm thành 3 màn hình, một chiếc cổng vòm giả đã được dựng lên để che đi chính chiếc cổng vòm thật có giá trị 600 năm tuổi. Và điều đáng nói khi chiếc cổng vòm giả được dựng lên không hề giống với chiếc cổng thành thật mà nó đã che mất.
Cổng Thành nhà Hồ tại buổi lễ đón bằng di sản thế giới nhìn từ phía sau sân khấu nhưng cũng là mặt chính nhìn từ ngoài vào nơi nhiều du khách đến tham quan và chiêm ngưỡng. Trong ảnh là lều bạt của đoàn diễn viên và sân khấu cùng nhân viên an ninh được dựng lên trên những nền đá cổ gây rất mất thẩm mỹ với du khách khi mới bước chân đến tham quan Thành nhà Hồ.
Nếu để ý sẽ thấy chiếc cổng vòm thật với kĩ thuật xây dựng ghép đã tạo hình vòm không chất kết dính nên phần chân không hề thẳng đứng vuông góc với mặt đất mà có độ nghiên nhất định cũng là vừa để tạo tính thẩm mỹ. Còn chiếc cổng vòm giả trên sân khấu để khán giả trong và ngoài nước nhìn vào để nghĩ đó là chiếc cổng thành thật có giá trị 600 năm lại có phần chân thẳng đứng. Chưa kể chiếc cổng ở giữa lại có chiều cao đến tận nóc thành!
Chiếc cổng giả trên sân khấu tại buổi lễ trao bằng Di sản thế giới còn để lộ ra phần chân cổng thành thật. Chiếc cổng giữa có chiều cao vượt cả nóc thành.
Nếu là phiên bản mang tính sân khấu dựng ở chỗ khác thì có thể thông cảm, nhưng dựng ngay tại chính địa danh và đặc biệt trong buổi lễ tôn vinh những giá trị của Thành Hồ sẽ ra sao nếu những đồ giả mà lại sai đó được khán giả hiểu rằng là đồ thật, rằng ông cha thiết kế những cổng thành là đúng như đồ giả?
Đôi rồng đá giả trên sân khấu tại buổi lễ trao bằng Di sản thế giới có hình dáng khác và không giống với đôi rồng đá cổ thật cách đó chỉ vài trăm mét.
Đôi rồng đá cổ (đã bị mất đầu) được đặt cách sân khấu chỉ vài trăm mét, gần giữa khu trung tâm  ngay trong Thành Hồ bị quên lãng và không hề có đèn chiếu sáng trong đêm nghi lễ tôn vinh những giá trị của Thành nhà Hồ.
Chưa dừng lại ở cổng Thành, đôi rồng giả cũng được sử dụng làm đạo cụ trên sân khấu. Tuy nhiên nhiều khán giả đã phát hiện đôi rồng giả đó không giống thậm chí là khác hoàn toàn với đôi rồng đã cổ được đặt ngay trong Thành Hồ cách đó vài trăm mét tại trung tâm thành.
... đến đánh tráo khái niệm bảo tồn
 “Di sản thể giới” là danh hiệu của UNESCO trao cho các di tích của các quốc gia trên thế giới có giá trị nổi bật toàn cầu theo các tiêu chi nhất định nhằm tôn vinh các di sản văn hóa của nhân loại và kêu gọi, khuyến khích những nỗ lực bảo tồn chúng.
Tuy nhiên việc Đàn Nam Giao thuộc khu di tích Thành nhà Hồ được UBND tỉnh Thanh Hóa tu bổ nhằm mục đích dựng lại quang cảnh Đàn Nam Giao xưa nhưng lại không dựa trên những chứng cứ lịch sử có cơ sở khoa học khiến không ít người cho rằng đó việc làm không phải là bảo tồn.
Bức ảnh chụp Đàn Nam Giao đang trong quá trình xây dựng để chào đón sự kiện nhận bằng UNESCO. Trong ảnh cho thấy phần tường đàn đã được xây thêm, nền gạch được nâng cao và làm thêm cả phần trung tâm của đàn tế gọi là viên đàn. Nhiều người cho rằng viên đàn có hình dạng trụ như bánh gato là do người thiết kế tự ý bịa đặt thêm khi trong lịch sử chưa ai chứng minh được điều này.
Khu di tích Đàn Nam Giao khi chưa được phục dựng.
KTS Lê Thành Vinh – Viện trưởng Viện Bảo tồn di tích đã có cuộc trao đổi bày tỏ nhiều ý kiến quan ngại về cách của nhiều địa phương hiện nay khi đối xử với các di tích văn hóa tuy có ý tốt nhưng do chưa thực sự hiểu đúng về bảo tồn khiến các di sản đang bị xâm hại.
Trước nhiều ý kiến cho rằng việc xây dựng đàn Nam Giao tại Thành nhà Hồ như hiện nay là việc phục dựng hoặc chỉ là "tu bổ cấp thiết" ông Vinh cho rằng đó là cách “đánh tráo khái niệm” khi đề cập tới một công việc trong lĩnh vực bảo tồn.
Trong lý thuyết bảo tồn có một nguyên tắc quan trọng là “Phục hồi chấm dứt ở điểm xuất hiện giả thiết”. Tức là khi không có bằng chứng khoa học về lịch sử thì các hoạt động dựa trên bất kì giả thiết nào đặt ra mang tính ý nghĩ chủ quan của một cá nhân nào đó đều vi phạm những nguyên tắc của bảo tồn.
Còn “tu bổ cấp thiết” là hoạt động sửa chữa nhỏ nhằm gia cố, gia cường các bộ phận di tích để kịp thời ngăn chặn di tích khỏi bị sập đổ trước khi tiến hành công tác tu bổ toàn diện” (quy chế Bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích LS-VH, danh lam thắng cảnh số 05/2003/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa Thông tin, nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch). Việc xây mới bậc lên, bó vỉa nền, “viên đàn” bằng đá tại Đàn Nam Giao không có cơ sở khoa học thuyết phục và hoàn toàn không phải là tu bổ cấp thiết!
Công việc phục dựng hay bảo tồn di sản cần phải có bằng chứng và cơ sở mang tính khoa học lịch sử.
KTS Lê Thành Vinh cũng bày tỏ thêm ý kiến cá nhân rằng: Thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của thế giới là một điều đáng mừng và đáng trân trọng nhưng khi có thêm các tấm bằng thì những giá trị lịch sử, văn hóa bao đời nay của Thành nhà Hồ vẫn không thay đổi. Những danh hiệu có vai trò tôn vinh và quảng bá, nhưng giá trị đích thực của di sản có được lưu truyền và phát huy hay không lại phụ thuộc vào cách chúng ta ứng xử với chúng.
Chính vì vậy đối với những di sản mang tầm cơ quốc gia và bây giờ là thế giới chúng ta cần phải hết sức thận trọng khi can thiệp đến. Vì nếu làm không đúng tức là chúng ta đã làm suy giảm giá trị của di tích, làm sai lệch lịch sử và đặc biệt nếu không biết bảo tồn di sản một cách đúng đắn thì các danh hiệu được trao cũng có thể bị tước đi.
Có nhiều cách để không phải làm giả lịch sử
Không chỉ riêng với Thành nhà Hồ, theo KTS Lê Thành Vinh đã rất nhiều di tích tại Việt Nam đã được phục dựng khá tùy tiện không có cơ sở khoa học và bất chấp các ý kiến góp từ các nhà khoa học.
Ví dụ cũng tại Thanh Hóa ông cho biết đó là khu di tích Lam Kinh. Đã một cuộc trao đổi lấy ý kiến của các nhà khoa học và ngay khi đó đã có nhiều nhà khoa học phản đối việc “phỏng dựng” khu chính điện theo phương án của một đơn vị tư vấn đưa ra.
Tại cuộc trao đổi đó, đơn vị tư vấn đưa ra 3 phương án thiết kế để lựa chọn. Bản thân việc đưa ra các phương án khác nhau đã chứng tỏ không dựa trên một cơ sở khoa học nào. Các tác giả trình bày rằng thiết kế được làm theo cách “nội suy” (?). Tôi nghĩ rằng, đối với Chính điện ở khu di tích Lam Kinh, từ dấu vết lịch sử còn lại chỉ có nền móng và các chân tảng (cũng đã bị xáo trộn), không có đủ cơ sở và không thể phục dựng phần trên của kiến trúc này.
Với cách làm đúng quy định như thế thì họ sẽ dám làm bất kỳ điều gì với di tích – KTS Lê Thành Vinh
Đối với ý kiến cho rằng nếu không có bằng chứng khoa học chả lẽ cứ để các di tích như Đàn Nam Giao chỉ là bãi gạch đổ nát như vậy, Ông Vinh trả lời với tư cách của một người làm bảo tồn:
"Có rất nhiều cách làm để truyền tải đến người xem những giá trị đích thực của các di tích. Cùng với việc gia cố, bảo tồn các dấu tích nguyên gốc, sẽ tổ chức trưng bày bổ sung và có những hình thức cung cấp thông tin về di tích một cách đầy đủ nhất có thể đến người xem. Tôi cho rằng, khi được nắm được đầy đủ thông tin về di tích và tiếp cận với các dấu tích lịch sử nguyên gốc, xác thực thì người xem vẫn có được những cảm xúc lịch sử tốt nhất đối với di tích.
Khi có đầy đủ cơ sở khoa học chúng ta có thể phục dựng từng phần hoặc toàn bộ di tích để người xem có thể chiêm ngưỡng một cách trực quan hơn. Mặc dù vậy cách làm này cũng cần hạn chế vì dù rằng hình ảnh của di tích có thể giống với trước đây nhưng chúng vẫn là những thành phần xây mới. Còn việc cố phục dựng nhưng lại không có cơ sở khoa học không chỉ là việc làm tốn kém, không mang lại hiệu quả mà còn phản tác dụng vì có thể làm sai lệch lịch sử"
Một ngôi đền cổ nằm trong khu di sản Ayutthaya (Thái Lan) được bảo tồn nguyên trạng cho dù nhiều pho tượng và các tháp cổ đã bị xâm hại bởi thời gian nhưng vẫn đóng hàng triệu lượt khách mỗi năm.
Nhận danh hiệu UNESCO công nhận là di sản thế giới, tuy nhiên với những thực trạng đang xảy ra tại Thành nhà Hồ ở trên đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại tới vấn đề tư duy và quan điểm bảo tồn di sản. Phải chăng đang có một cuộc chạy đua vì mục đích nào đó còn giá trị văn hóa lịch sử cốt lõi của di sản đang bị bỏ quên?
Người trong cuộc nói gì?
Được biết đơn vị cố vấn cho dự án xây dựng Đàn Nam Giao là Viện Khảo cổ học. Trả lời trên báo Tuổi Trẻ, PGS.TS Tống Trung Tín (viện trưởng Viện Khảo cổ học) :
“Đây không phải phục dựng mà là bảo tồn. Những hàng đá xây thêm nhằm mục đích diễn giải cho người xem hiểu về cấu trúc bức tường này có thể cao như thế, đồng thời bảo vệ phần nguyên gốc bên dưới. Việc này không làm biến dạng di tích đàn tế cổ. Còn viên đá cổ nào chúng tôi đánh số viên đó, đắp giấy Nhật lên rồi mới xây thêm vào. 5-10 năm nữa bỏ lớp xây thêm đi thì phần di tích bên dưới vẫn được duy trì nguyên dạng”.
Tuy nhiên TS Vũ Thế Long – người tham gia khai quật đàn tế Nam Giao cũng thuộc Viện khảo cổ học lại cho rằng: “Việc phục dựng một di tích phải có cơ sở khoa học của nó, không thể bịa tạc lịch sử. Theo tôi, với đàn tế Nam Giao nên giữ ở dạng nguyên bản là tốt nhất. Chỉ nên phục dựng khi có bản vẽ chi tiết. Chứ hiện nay, phần trung tâm của đàn tế họ xây lên trông như cái bánh gatô, tôi hoàn toàn không ủng hộ”.

Một di sản khác ở Pháp là Khu đô thị Trung cổ ở Provins (tỉnh Seine-et-Marne) được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 2001 song đang có nguy cơ bị xóa tên kể từ khi chính quyền ở đây có ý định xây dựng lại một phần của khu vực “mang nhãn UNESCO” này. Tháng 11.2010, Ủy ban Di sản thế giới đã cảnh báo, Pháp phải xem xét lại vụ việc, tránh xây dựng ảnh hưởng đến giá trị của di sản.

Kì tiếp: “Hội chứng” Di sản ở Việt Nam và bài học rút danh hiệu

Nguyễn Hoàng

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012

Phát hiện bảo vật bằng vàng cực hiếm thời Trần


5/7/2012 11:23

Các nhà nghiên cứu vừa xác nhận chiếc hộp vàng thời Trần tìm thấy tại Yên Tử (Quảng Ninh) hôm 21/6 xứng đáng xếp hạng quốc bảo Việt Nam.

Chiếc hộp được phát hiện hôm 21/6, trong quá trình thi công mở rộng đường trên dãy núi Yên Tử. Nhà sư trụ trì Thích Quảng Hiền tình cờ phát hiện một chiếc hộp kim loại màu vàng do máy xúc đào lộ ra từ sườn một quả đồi thấp, thuộc khu vực xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Chiếc hộp được làm hoàn toàn bằng vàng
Hộp được chế tác hoàn toàn bằng vàng ta, chạm khắc vô cùng tinh tế, có trọng lượng tương đương khoảng 15,04 chỉ vàng. Hộp có dáng hình cầu, thân tạo múi dáng 11 cánh sen mềm mại, như bông sen đang độ khai mãn.
Hộp còn nguyên cả nắp. Giữa nắp là một đài sen được tạo tác rất công phu với 4 lớp, diềm cánh xếp vòng tròn đồng tâm. Lớp ngoài cùng có 11 cánh, lớp thứ hai 33 cánh, lớp thứ ba 28 cánh, lớp trong cùng 15 cánh. Chính giữa nắp là núm, được tạo tác như đài sen nhỏ, xen kẽ giữa các lớp cánh sen là đường chỉ nổi và diềm văn chấm tròn như nhụy hoa.
Hộp cao 4,20 cm. Trong đó phần thân cao 2,84-3,20 cm, chân đế cao 0,60 cm; đường kính miệng 4,90 cm, đường kính thân (chỗ lớn nhất) 5,10 cm, đường kính chân đế 3,50 cm.
Tuy nhiên, điểm độc đáo và đặc sắc nhất của hộp là trên tất cả các cánh sen (từ nắp đến thân) đều được chạm khắc chìm hoa chanh 4 cánh. Xung quanh hoa chanh điểm xuyết những cành lá mềm, các vòng tròn nhỏ để tạo kiểu nền gấm. Bao quanh các đường diềm của từng cánh sen cũng được trang trí hoa văn dây lá mềm rất công phu, đẹp mắt.
Tiến sĩ Bùi Minh Trí, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện KHXH Việt Nam, đơn vị được mời giám định chiếc hộp, cho biết: "Tất cả các hoa văn trang trí trên nắp và thân hộp nói trên đều mang đậm dấu ấn đặc trưng của văn hóa thời Trần, nửa đầu thế kỷ 14". Cũng theo Tiến sĩ Trí, nhiều khả năng chiếc hộp là đồ ngự dụng và xứng đáng xếp hàng bảo vật quốc gia.
Theo các chuyên gia, những đồ vật làm bằng vàng, bạc phát hiện được tại các di tích khảo cổ học lịch sử ở Bắc Việt Nam không nhiều, thậm chí rất hiếm hoi.
TS Vũ Quốc Hiền, Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia, cho biết ngay ở bảo tàng của ông hiện cũng chưa có hiện vật bằng vàng nào thời Trần. "Có thể nói hiện vật bằng vàng thời Trần vô cùng hiếm", ông khẳng định.
Các nhà nghiên cứu nhận định, đây là một phát hiện khảo cổ học hết sức quan trọng - lần đầu tiên một hiện vật khảo cổ học bằng vàng giá trị được tìm thấy tại quê gốc của nhà Trần. Được biết, tới đây UBND huyện Đông Triều sẽ đề xuất xếp hạng Bảo vật quốc gia cho cổ vật quý giá này.
Một số hình ảnh cận cảnh chiếc hộp:
Hộp còn đầy đủ cả thân và nắp
Nắp hộp được chế tác tinh xảo
Cận cảnh hoa văn nắp hộp
Chân đế hộp cao 0,60 cm
Cận cảnh hoa văn phần thân hộp
Dự kiến chiếc hộp vàng hình hoa sen sẽ được trưng bày tại khu di tích đền An Sinh
Hải Tâm (tổng hợp). Ảnh: Trung tâm nghiên cứu kinh thành

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

Trăng 16



Trăng mười sáu tháng năm, Nhâm Thìn
chụp từ Vườn An Hạ.
*

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

Âu Cơ Tuý


Chừng hơn bốn ngàn năm trước đây nhân loại đi vào một khúc quanh lịch sử. Khúc quanh đó đựơc các nhà khảo cổ ghi dấu bằng sự xuất hiện của đồ đồng, còn sử gia thì bằng những cuộc xâm lăng của các đoàn người từ phía Tây Bắc tràn xuống. Về phía triết lý chúng ta sẽ ghi bằng sự lấn át quyền cha trên quyền mẹ, nôm na ta gọi lệnh lấn át cồng, hoặc nói theo kiểu chữ nghĩa là Dương lấn át Âm. Sở dĩ chúng ta ghi nhận bằng sự lấn át bố trên mẹ, vì nó nói lên chiều kích thâm sâu hơn hết trong nền triết lý nhân sinh, một nền triết khởi đầu trong việc vợ chồng: “quân tử chi đạo tạo đoan hồ phu phụ”: phu phụ lẽ ra phải hòa hợp nhưn gkhông may đã có sự kiện là phu lấn át phụ. Sự lấn át nà đã trở thành quyết liệt đến nỗi bên Tây Âu có thể gọi là phụ hệ đánh bạt hẳn mẫu hệ. Còn bên Viễn Đông không hẳn nên dùng hai cặp danh từ đó vì sự thực không có lúc nào duy âm hay duy dương, mà chính ngay thời văn minh Viêm tộc chưa bị sức tấn công của Hoa tộc thì các bà mặc dầu chiếm giữ những vị trí quan trọng đến nỗi có thể gọi xã hội là theo nền mẹ: Âu Cơ thị (Âu là mẹ Cơ là nền) nhưng cũng không nắm quyền cai trị mà thường để vào tay những người có tuổi tác kinh nghiệm. Và do đó có được sự hòa hợp Âu cơ và Phụ cơ ngay từ đầu. Nét đặc trưng của nền văn hóa Viễn Đông là sự hòa hợp phụ và mẫu ấy vẫn còn duy trì được xuyên qua bao đợt uy hiếp của quyền cha từ phương Bắc xuất hiện cùng với sự thiết lập vương chế và chư hầu. Như vậy vương chế và chư hầu là dấu hiệu của dương thịnh và đã trở thành màng lưới lần lượt phủ lên mảnh đất của Viêm tộc vốn mang sắc thái âm dương tương thôi. Cái nét đặc trưng bền bỉ là ở đây âm đã không tuyệt trước sức lấn át của dương như các nơi khác ít ra bên Âu Châu, nhưng đã trường tồn để cùng với dương song song tiến triển (évolution symétrique).

Đây là nét đặc trưng trong nền văn hóa của chúng ta, nó không phải chỉ có tính cách trang trí nhưng chính là hồn linh, là nền móng thiết yếu cho sự sống còn của một nền văn minh. Muốn thấy sự cần thiết đó ta hãy xem vào những nền văn minh duy dương thì liền nhận ra. Văn minh Tây phương gọi là duy dương vì nó là duy trí (intellectuel pur). Ta quen nói độc âm bất sinh, duy dương bất thành, thì câu đó áp dụng cho nền văn minh Tây Âu cũng vẫn đúng. Câu ấy mới nghe qua tưởng là bâng qươ vì ai mà chối đước sự rực rỡ huy hoàng của văn minh cơ khí khoa học Tây Âu. Tuy nhiên chính vì chỗ rực rỡ đó mà chúng ta nhận ra là nó thiếu chiều sâu, nó có sáng mà thiếu tối, có ngày mà không có đêm, nói theo tâm phân là có ý thức mà thiếu vô thức; phần này mới được khám phá nhưng chưa khai thác đủ để trở nên nét văn minh như yếu tố tâm linh Viễn Đông. Nói theo tiếng của Otto thì Tây Âu mới có lumen (ánh sáng) mà chưa có numen (sự nhảy cảm thấy cái u linh man mác) và do đó nó là một nền văn hóa thiếu đường hướng lý tưởng nằm ngầm để nối kết tất cả lại, cho nên những người thở hút bầu khí đó dễ bị bệnh thần kinh hay ít ra thì số lớn lâm vào tình trạng tâm lý tán loạn. Đó là hậu quả xa xôi do một cuộc li dị sơ nguyên giữa hai yếu tố âm dương cũng đã xảy ra ở khúc quanh lịch sử đầu tiên được ghi nhận. Vì là sơ nguyên nên nó để ẩn tích sâu đậm lại trên nền văn hóa Tây Âu như một tội tổ truyền, và thường xuất hiện trong triết dưới hình thức nhị nguyên tức bắt chọn một bỏ một: chọn lý bỏ tình… để thành ra các thứ duy. Chính những duy này đã là nguyên uỷ sâu xa nhất cho cuộc khủng hoảng hiện nay đang lay tận gốc rễ hết mọi giá trị cũ.

Nhiều người cho rằng hiện nay nền văn minh nào cũng đang bị khủng hoảng. Cái đó đúng nhưng cần phải phân biệt giữa khủng hoảng về dạng thức, hay điều hành và về gốc rễ. Nếu là từ gốc rễ thì bệnh trạng trầm trọng nhiều hơn, và đó là trường hợp của văn hóa Tây Âu, vì thế các phần tử ý thức hơn hết của họ hiện đang phải nghĩ đến thiết lập một nền móng khác bằng sự từ bỏ duy lý để thêm tình cảm, thêm tiềm thức vào, đang cố bỏ ý hệ để đi sang đợt tình lý tương tham… tóm lại là đang có một cuộc xô đổ toàn bộ những nguyên lý đã chống đỡ tòa nhà của họ. Tại đâu? Phải chăng đó là một quả báo của hồn bà Pandore đang chỗi dậy để báo thù cho sự đẩy lui đàn bà ra khỏi cơ cấu văn minh con người, vì sự đẩy lui ấy chính là sự bỏ ruột để ôm vỏ.

Ngược lại bên Viễn Đông những phần tử sáng suốt hơn hết lại đang cố vận động làm phục hoạt lại những nguyên lý cổ truyền. Lý do của sự đi ngược chiều ấy ở đâu? Phần nhất ta đã định luận rằng cần phải gần thiên nhiên mới đạt chân lý. Thế mà nền minh triết của vạn dân đều công nhận đàn bà gần thiên nhiên hơn đàn ông và vì lý do đó trong nhân loại vẫn dùng đàn bà để biểu thị minh triết. Trong Kitô giáo, đức nữ Maria cùng với minh triết là một. Đức Avalokitesvara ở bên Ấn Độ là một thần ông đến khi sang Viễn Đông đã mặc xác đàn bà để trở thành “Quan Thế Âm Bồ Tát” và được sùng bái hơn vô cùng vì tính chất thân dân, được biểu thị bằng ngàn tai để nghe những lời câu, ngàn tay để giơ ra cứu chữa… Khi Nietzsche nói chân lý là đàn bà = Vérite est femme, thì chính là quảng diễn sự thật trên. Điều đáng nói là cái chân lý có tầm phổ biến đó tuy được mọi nơi truy nhận, nhưng không được mọi nơi nắm giữ và vì thế triết hầu hết chỉ là triết học để mà nói, tức là duy lý mà không sao ngoi qua sông tình để đạt bờ minh triết.

Minh triết là gì nếu không là sự chăm lo cho con người, cho những nhu yếu nền tảng của con người. Triết lý phải là “Quan Thế Âm bồ tát” với “thiên nhĩ thiên thủ, thiên túc” để chăm lo cho con người. Chẳng thế thì không phải là triết lý chân thực. Nói khác bao lâu chưa đạt tới nền minh triết thì con người cứ sống trong trạng huống li tình, triết học cứ mải bàn về những ý niệm đủ loại bên ngoài đời sống, còn chính bản thân gia đình, quốc gia mình thì quên bặt. Nói khác con người bị xoay như chong chóng trong các thứ lốc của vu tưởng, của ý tượng mà không sao nhìn ra hướng tiến vào “nhà”, tiến vào nhân tính cho được. Bởi chưng con người là vật lưỡng thê có hai đời sống: một là sinh lý hạn hẹp trong xác thân, một nữa là tâm linh tỏa ra rộng như vũ trụ. Bao lâu con người còn bị cầm tù trong các thứ cũi duy thì bấy lâu chưa đạt được giai đoạn lưỡng nghi mà chỉ có một chiều đực rựa là duy dương mà duy dương thì bất thành. Sở dĩ nền văn hóa Viễn Đông đã có lần thành công vì đã duy trì được yếu tố âm, yếu tố mẹ mà tôi gọi là Âu Cơ Tuý, nhơ đó tiên tổ chúng ta đã đọc thấy lưỡng nghi tính của con người và đã thể hiện vào mọi phạm vi sinh hoạt mà trước hết phải kể đến cặp uyên ương nguyên thuỷ là Nữ Oa và Phục Hy. Oa là một thứ ốc có hai ngà, tức chỉ thị hai cực của cùng một thực thể, một thực thể vô hình biểu lộ ra bằng hai cực như:

giữa quy với củ
giữa vuông với tròn
giữa bố với cái
giữa lệnh với cồng
giữa làng với nước
giữa hiếu với trung
giữa non với nước v.v…

Hai cực ấy phải liên hệ với một thực thể vượt tầm giác quan nên có khả năng hòa hợp hai cực đối chọi. Tinh hoa triết Đông nằm ở đó. Học giả Needham (II 276-277) đã có con mắt tinh đời để nhận ra rằng trong văn hóa Viễn Đông không có ý niệm tội lỗi mà chỉ có sự cố gắng đạt đến hòa hợp, bình quân thái hòa. Bởi thế cái tết cao cả hơn hết của Viễn Đông xưa là ngày mồng năm tháng năm cũng gọi là trùng ngũ, đoan ngũ, đoan ngọ, nhưng ngày nay con cháu đã mất hết ý thức về ý nghĩa uyên nguyên nên bảo đó là để kỷ niệm sự trầm mình của Khuất Nguyên, hoặc Ngô Tử Tư hoặc những suy luận tai dị như ăn nuớc sáo ngọc thỏ, một vật ở cung trăng nên rất âm để chữa cái quá dương là hai lần năm. Thực ra thì những chuyện đó (Danses 82, 528) cũng có thể có một phần nào nghĩa lý, miền biết móc nối vào ý uyên nguyên của nó là “Thái Hòa”. Thái Hòa là hòa thời với không, trời với đất, mà theo vị trí Viêm tộc thì trời ba đất hai (tham thiên lưỡng địa), ba với hai vị chi ngũ, do đó số 5 trở thành con số lý tưởng của nền văn minh Viêm Việt, và nó phải là chìa khóa mở vào ý nghĩa của nhiều huyền thoại chẳng hạn khi nói Thần Nông hay Nữ Oa chế ra đàn huyền 5 dây thì phải hiểu về đó chứ không thiết yếu là chế ra đàn thực. Lấy một thí dụ khác là số 5 thường đi với chim; chúng ta biết chim vốn đi với vật tổ tiên của họ Hồng Bàng thì ta phải dùng biểu tượng đó để hiểu nhiều trang huyền sử. Thí dụ khi sách Trúc Thư Kỷ Niên viết rằng Hoàng Đế đã bị Viêm tộc đồng hóa, nói bóng là theo số 5. Vì thế nên ngày trùng ngũ được đón tiếp như một cái tết để ăn mừng, để chào đón phút uy linh cao cả của một buổi trưa Sơ nguyên Đoan ngọ mà cũng là cùng cực. Lịch nhà Hạ cũng chính là Việt lịch khởi đầu nằm ở cung dần nên tháng năm nhằm vào cung ngọ. Ngọ là lửa đối với tí là thuỷ làm nên cái trục tiên thiên cao cả, cho nên khi mặt trời đạt đến cung ngọ thì những dân có liên hệ thâm sâu với lửa như Viêm tộc phải ăn mừng phải chào đón phút uy linh trọng đại của Đoan ngọ. Đó cũng chính là cái midi originel mà Nietzsche đã mơ ước trong quyển Zarathoustra và đã không tìm ra tăm dạng. Phải chi Nietzsche đã được ăn một cái tết Đoan ngọ có lẽ ông đã tìm ra đuợc buổi trưa có ánh dương nguyên thuỷ khi chưa lìa âm.

Có lẽ trong buổi tết lý tưởng đó người xưa đã nhân tiện kỷ niệm những nhân sĩ của nền văn hóa Viêm Việt: nên không những Khuất Nguyên, Ngũ Tử Tư mà cả Phục Phi, Trưng Vương, Ngọc Hân công chúa… là những đại diện khác nhau cho muôn thế hệ chiến sĩ đã dốc trọn một đời tinh anh ra để phục vụ nền văn hóa Viêm Việt cũng là nền minh triết phụng sự con người. Nhờ các tiên tổ đó mà văn hóa Viễn Đông đã không phải chứng kiến cái cảnh ly dị đầy bi thảm giữa lệnh và cồng, giữa pháp và lễ… Và lễ trị đã nhiều lần nổi lên được là dấu tỏ minh triết đã lớn mạnh. Vì phải có minh triết mới đủ uyển chuyển theo được lễ. Thiếu triết tức thiếu óc tế vi thì chỉ có thể theo pháp trị, ngang bằng sổ ngay mà thôi. Trong dĩ vãng ta thấy nhà Thương Aân đã theo được lễ, nên đề cao số 5: và các vua nhà Aân lấy hiệu theo thiên căn (P.C 157) 5 cặp: giáp ất, bính đinh, mậu kỷ, canh tân, nhâm quý… Trái lại nhà Tần vì trọng pháp nên chỉ có thể trọng số 6, thí dụ chia dân ra 6 bậc riêng biệt thành 6 giai cấp. Ngược lại vua Thuấn chia quan tước ra 5 phẩm. Khi ta quen với nội dung các số thì mỗi con số đã có thể là một chìa khóa giúp ta ước đoán ra tính chất của một triều đại hay có thể dùng được như chìa khóa để đi tìm về với những nguyên tố của nền văn hóa tổ tiên. Tuy nhiên đó là một việc làm cần rất nhiều óc tế nhị, bởi vì đây là một cuộc giao thoa rất uyển chuyển, trong âm có dương, trong dương có âm… Lại còn trải qua nhiều đời nên rất dễ lầm lẫn có khi ngoài ý muốn người xưa, hoặc cũng có thể đi với hậu ý xuyên tạc thí dụ những lời lên án tục kết hôn không mai mối (gọi là Bôn) được đặt vào miệng Nữ Oa (Cordier 65) thì phải kể là do cây bút đực rựa hoặc thêu thùa xuyên tạc hoặc chẳng hiểu gì ý nghĩa của huyền sử rồi viết bậy. Huyền sử nói rằng bà Nữ Oa lập ra phép hôn phối thì không cần hiểu vào thể chế xã hội, nhưng trước hết phải nghĩ đến việc linh phối giữa âm với dương, giữa quy với củ, là móng gốc cho một nền minh triết thâm sâu tròn trịa.

Bởi vậy thiết yếu phải tra hòi tinh vi môi khi đi vào rừng rậm của huyền sử cổ học. Trong mỗi trường hợp cần phải bám sát vào những mấu chốt to lớn đại để như sau. Trước hết trong nền văn hóa Viêm Việt đàn bà đã đóng một vai trò tối quan trọng. Thứ đến vì đã không có cuộc li dị mà trái lại chỗ nào cũng thấy đi đôi: cồng với lệnh, bố với cái, nước với làng… Thứ ba cho nên đã đào tạo ra được những “Hà Lạc chi anh” tức những người đã vượt qua được gọng kìm nhị nguyên của Vu tưởng hoặc ý hệ để nhìn ra và lo cho những nhu yếu thâm sâu của con người. Đó là mấy nét lớn lao không nên quên lãng trong việc suy tầm lý luận, thì dẫu tiểu tiết có không đi sát nhưng đại cương cũng hầu nắm vững. Những nét chính đó giúp cho nền quốc học nước ta trở thành một đạo làm người đáng cho hết thảy phải học hỏi tu luyện. Đấy là một nền minh triết rất cân đối luôn luôn nấp dưới bóng mẹ hiền và được nảy mầm ở vùng cư ngụ đầu tiên của giống Lạc Việt, nhưng đã biết bao lần bị chèn ép có khi đốn tỏa lâu ngày, cần con cháu phải vun tưới. Có lẽ tác giả bài thơ “khải phong tự nam” trong Kinh Thi đã kêu gọi như thế khi viết:

Từ phương Nam… gió hòa đưa lại…
Đàn con có đến bảy người
Bảy con mà để mẹ thời nhọc thân
Đàn con có đến bảy người
Chẳng làm cho mẹ yên vui tấm lòng
Véo von kia cái chim vàng
Nó kêu những tiếng dịp dàng êm tai
Đàn con có đến bảy người
Chẳng làm cho mẹ yên vui tấm lòng.

“Khải phong tự Nam
Hữu tử thất nhơn
Mẫu thị lao khổ
Hữu tử thất nhơn
Mạc uý mẫu tâm
Chữ hán”
(Bội phong bài số 7)

Phải chăng thất tử là “Trường giang thất tỉnh” hay là “tam thiên tứ địa” đã bao đời phải chiến đấu cho “Nam Phong” tức cho nền minh triết của hiền mẫu phương Nam. Rồi bỗng hôm và đã chưa bao giờ dành lại cho mẹ địa vị xứng đáng nay luồng gió đầy chất ôn dịch từ Tây Bắc thổi vào đốn tỏa làn gió dịu hiền phương Nam. Và lũ con lại ngơ ngác nhìn nhau trước luồng gió nhẹ từ phương Nam thổi vào tiềm thức mấy câu:

“hữu tử thất nhơn
mẫu thị lao khổ”.

Chẳng biết có còn tìm ra được những tâm hồn biết rung động trước tiếng thở dài của Âu Cơ nghi mẫu nữa chăng?

Lm. Kim Định