Thứ Hai, 17 tháng 9, 2012

Thắp 3 nén nhang theo giáo lý nhà Phật


17/09/2012 05:01:43
 - Việc thắp nhang (hương) trong gia đình, ở đền, chùa... là tập quán từ lâu đời bởi ai cũng tin rằng nén nhang khi đốt lên như một nhịp cầu nối kết hai thế giới hữu hình và vô hình. Thế nhưng ít người hiểu được việc vì sao thắp và cắm lên bàn thờ 3 nén nhang.
TIN LIÊN QUAN

Xuất phát từ văn hóa dân gian

Thắp nhang được xem là một nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu của người dân Á Đông. Chính vì thế mỗi khi trong nhà có giỗ chạp, ngày tuần rằm hay tết đến xuân về, người chủ gia đình thường thắp nhang lên trên bàn thờ. Những lúc đó, mọi người cảm thấy rất ấm lòng.
 
Việc thắp nhang là một nét đẹp văn hóa của người dân Á Đông để nhớ đến người thân đã khuất hay gửi lên các đấng thần linh
Việc thắp nhang là một nét đẹp văn hóa của người Á Đông.

Việc thắp nhang là để mỗi người khẩn thiết cúi đầu mong tấm lòng thành kính của mình sẽ quyện theo làn khói thơm hướng về cõi thiêng liêng hoặc xông lên tận các vị Thần, tổ tiên hoặc một đấng nào khác.

Theo tài liệu lịch sử, việc đốt nhang bắt nguồn từ khoảng năm 3700 BC (cách đây khoảng 5700 năm), từ nước Ấn Độ. Đến năm 618 AD vào đời nhà Tần mới có một vị Tăng đem hương trầm qua Trung Quốc, từ đó hình thức đốt nhang được phát triển mạnh mẽ và hưng thịnh nhất vào đời nhà Minh, sau đó được phổ biến đến khắp các nước láng giềng.

Nhiều tài liệu cho thấy việc đốt nhang đã có từ thời sơ khai. Trong các đền thờ của vua chúa Ai Cập (Ancient Egypt) có rất nhiều những hình vẽ hoặc hình chạm trên tường mô tả nghi thức này.

Nhà Phật chỉ chú trọng đến tâm hương

Trong các buổi lễ của Phật giáo, nhang là một trong sáu lễ vật dâng cúng, gồm có: Nhang, Bông, Đèn, Trà, Trái, Thức ăn.

Tuy nhiên quan điểm của nhà Phật, việc cúng Phật chỉ nên dùng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi, trái tốt, nước trong là đủ chứ không phải cần mâm cao cổ đầy. Phật không phải ở trên bàn thờ, trong những pho tượng, mà là ở trong tâm của tất cả con người.

Vì thế ngoài những nén nhang dùng ngọn lửa nóng để đốt cháy lên, mỗi người còn có thể dùng đức tin của mình thắp lên những nén Tâm hương (hương từ trong tâm - PV) để dâng lên chư Phật.
 
Nhà Phật chú trọng đến tâm hương là chính chứ không chú ý đến số lượng nhang được thắp lên bàn thờ (ảnh minh họa)
Nhà Phật chú trọng đến tâm hương là chính chứ không chú ý đến
số lượng nhang được thắp lên bàn thờ (ảnh minh họa)

Chính điều này, trong kinh điển mới nhắc tới năm thứ hương chính dùng để cúng dường chư Phật: Giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương. 

Năm loại hương này được Phật giáo gọi là Ngũ phần hương. Trong đó Giới hương tức là trong tự tâm của mỗi người chẳng quấy, chẳng ác, chẳng ganh tỵ, chẳng tham sân, chẳng cướp hại. Còn Định hương tức là thấy những cảnh tướng thiện ác, tự tâm chẳng loạn. 

Tuệ hương là tự tâm vô ngại, thường dùng trí tuệ chiếu soi tự tánh, chẳng tạo điều ác, dù tu nhiều thiện mà tâm chẳng chấp trước, kính trên mến dưới, thương xót kẻ cô đơn nghèo nàn. Giải thoát hương là tự tâm chẳng phan duyên, chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, tự tại vô ngại. 

Cuối cùng là Giải thoát Tri kiến hương tức là tự tâm đã chẳng phan duyên thiện ác, chớ nên trầm không trệ tịch, phải tu học pháp tối thượng thừa, nhận tự bản tâm, thông đạt lý Phật, hạ mình để tiếp người, vô nhơn vô ngã, thẳng đến Bồ đề, chơn tánh chẳng đổi. Những loại hương này chỉ có thể có trong tâm chứ không thể kiếm ở bên ngoài.

Lý giải thêm về điều này, Đại đức Thích Như Bình (chùa Khánh Hỷ, Đạ Huoai, Lâm Đồng) cho rằng: Việc đốt hương của người dân Việt lâu nay xuất phát từ tín ngưỡng dân gian chứ không phải của đạo Phật đưa ra. Đối với đạo Phật việc đốt hương chỉ mang tính biểu tượng là chính chứ không có kinh sách nào nói về việc phải làm điều này trong các buổi lễ.

Còn việc người dân hay quý thầy thường thắp ba nén hương trong mỗi buổi lễ có thể xuất phát từ con số 3 của Tam bảo (Phật - Pháp - Tăng), Tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới), Tam thời (Quá khứ - Hiện tại - Vị lai), Tam vô lậu học (Giới - Định - Tuệ)...

Trong đó Tam vô lậu học là ba môn học rất hệ trọng trong giáo lý đạo Phật. Có thể nói, toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo đều được xây dựng trên ba môn học giải thoát này. 

"Còn việc các chùa hiện nay khuyến khích Phật tử chỉ nên thắp 1 nén nhang đó là nhằm tránh hỏa hoạn và ô nhiễm môi trường với những người xung quanh. Việc thắp nhiều hay ít nhang không quan trọng mà chủ yếu là ở tấm lòng của người hướng đến chư Phật mà thôi", Thầy Thích Như Bình chia sẻ

Minh Thiện

Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012

Nhạc mưa - chữ Nôm



NHẠC MƯA

Đêm mưa giọt xuống máng tôn
Nhịp nhàng rỉ rả theo nguồn mưa rơi.
Bất ngờ, giọt trúng hồn tôi!
*

Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2012

Tiến sĩ giấy ngày nay đã khác nhiều

15/9/2012 06:35

Hàng chục năm tâm huyết với nghề làm tiến sĩ giấy - chị Nguyễn Thị Tuyến (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội) tin rằng việc mình làm vừa là gìn giữ nét văn hóa truyền thống gia đình, vừa là một cách làm gương, dạy dỗ các con nên người.

“Tiến sỹ giấy” chuẩn bị cho mùa Trung thu năm nay

Nghề không nỡ dứt

Gian phòng bày chật cứng những ông “tiến sĩ giấy”, chị Nguyễn Thị Tuyến (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội) đang cặm cụi vẽ mặt, vót nan, cắt giấy. Chị tỉ mỉ chọn từng màu sắc của mũ, áo, thắt lưng… để tạo nên những tiến sĩ sao cho thật sống động. Cô cháu gái 4 tuổi quanh quẩn bên bà nội, hồn nhiên chơi giữa những “ông” tiến sĩ nhiều màu sắc.

Gia đình chị là gia đình duy nhất còn duy trì nghề làm tiến sĩ giấy trên đất Hà thành.

Trong ngôi nhà này, hồn vía của món đồ chơi dân gian truyền thống, thật may mắn vẫn được giữ gìn nguyên vẹn: Tiến sĩ giấy có mặt trong mâm cỗ Trung Thu của mỗi lứa trẻ con trong gia đình; Dù chỉ là đồ chơi, song người lớn, trẻ nhỏ đều kính cẩn gọi là “Ông” chứ không bao giờ dùng cách gọi thô tục nào khác; Trên bàn học, trong tủ, “Ông” luôn được bày ở vị trí trang trọng.

“Ngày xưa cuộc sống nghèo khó, không có nhiều đồ chơi như bây giờ. Tiến sĩ giấy, đèn ông sao, đèn con thỏ… là những món đồ chơi không thể thiếu của trẻ con, nhất là vào dịp Tết Trung thu. Bây giờ, người ta dần quên lãng chúng vì đồ chơi nhiều, nhất là hàng Tàu bắt mắt, trẻ con, người lớn đều” – chị Tuyến chia sẻ.

Chị bảo, vì là con “nhà nghề” nên từ nhỏ chị đã gắn bó với tiến sĩ giấy đến mức không nỡ dứt. Nghề cho thu nhập eo hẹp, tuy không tốn sức, nhưng mất rất nhiều thời gian. Có giai đoạn anh chị chỉ dám làm cầm chừng vì còn bận ruộng nương, lo đi làm nuôi 4 con nhỏ (2 trai, 2 gái).

“Tôi chỉ nghĩ đây là nghề tổ thiêng liêng, là nghề gìn giữ những nét văn hóa lành mạnh mà ông bà, cha mẹ đã tin tưởng gửi gắm cho nên vợ chồng tôi nhất quyết không bỏ” – chị bộc bạch.

Đó là lý do vợ chồng chị kiên định bám trụ lấy nghề suốt mấy chục năm trời.

Niềm vui ánh lên trong khóe mắt, chị cho biết: “Sau này được nhà nước quan tâm nên nghề cũng bớt long đong, lận đận. Khoảng chục năm nay, chúng tôi không còn phải lặn lội gồng gánh, chở hàng đi rong ruổi ở các chợ quê nữa. Tôi được mời đi trình diễn cách làm, truyền đạt ý nghĩa của món đồ chơi dân gian cho các du khách, bán sản phẩm trong những gian hàng ở các triển lãm, lễ hội. Nhiều khách hàng cũng tìm đến tận nhà để đặt hàng”

“Tiến sĩ ngày nay đã khác nhiều”

Chỉ vào một "ông tiến sĩ" đang làm dở trên tay, chị Tuyến giảng giải: Tiến sĩ giấy gồm 2 loại: “Ông” to tượng trưng cho ông Cống, ông Nghè, chỉ những nhà giàu có mới mua về bày cho sang. Còn “Ông” nhỏ tượng trưng cho những tiến sĩ đỗ đạt, nhà nghèo thường chuộng hơn vì phù hợp với hoàn cảnh, lại vừa túi tiền. Đi kèm với mỗi “Ông”còn có 2 ông đánh gậy, tượng trưng cho quân, tướng đi theo.

“Tiến sĩ giấy là món đồ chơi gắn với tinh thần hiếu học của cha ông ta. Sau đêm phá cỗ, ông to để trong tủ uy nghi, ông nhỏ bày ở bàn học nhắc nhở các con cháu chăm chỉ học hành, phấn đấu thành tài. Hai ông đánh gậy treo trước gió, tay chân huơ lên rất vui mắt, là món đồ chơi thích thú của trẻ con” – chị nói.

Trong trí nhớ của chị Tuyến, xưa kia tiến sĩ giấy do nhà chị làm ra bao giờ cũng rất đắt hàng. Có những phiên chợ, chị gánh cả bồ ra chợ, bán hàng trăm “Ông” một buổi.

“Tiến sĩ giấy ngoài là đồ chơi, còn thể hiện giấc mơ của người dân, nhất là dân nghèo là học để thoát nghèo, học để vươn lên rạng danh với làng xóm. Ngày nay, tiến sĩ giấy ít nhiều bị lạnh nhạt và mất đi ý nghĩa gốc. Người ta thờ ơ, hoặc chỉ đơn thuần coi đây là món đồ chơi của “quá khứ”, nhiều người hoàn toàn không hiểu gì về tiến sĩ giấy” – chị Tuyến nhận xét.

Nhìn những ông Nghè, ông Cống, những "tiến sĩ" uy nghi xếp trên sập, dưới sàn nhà, chị trâm ngâm bảo: “Tiến sĩ giấy này là tiến sĩ của ngày xưa. Xưa kia tiến sĩ đỗ đạt là để ra làm quan, giúp dân, giúp nước. Họ học hành chân chính và đỗ đạt, trở thành niềm vinh dự của làng xóm, quê hương. Còn ngày nay, tiến sĩ đã khác nhiều. Nhiều ông “tiến sĩ tiền”, làm quan thì nhũng nhiễu dân... Thành ra cũng chẳng trách được người đời”.

Nói là nói vậy, còn trong gia đình, chị vẫn dùng ông Tiến sỹ giấy để răn dạy các con trọng việc học, giữ gìn đạo đức. Các con chị ngoan ngoãn, trưởng thành đều có công ăn việc làm. Cuộc sống có thể còn nhiều khó khăn, nhưng tất cả đều hiếu thuận với cha mẹ, trân quý cái nghề của gia đình.

Chị Tuyến tin rằng, riêng việc chị thành tâm theo nghề cũng là một cách để làm gương, dạy dỗ các con nên người.
Chị Tuyến miệt mài làm những tiến sĩ giấy phục vụ mùa trung thu năm nay
“Tiến sĩ ngày nay đã khác nhiều” – lời chị Tuyến

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012

Cổ vật trôi nổi ở Bình Châu là quý hiếm


  • 11/9/2012 09:05
  •  

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Quang Thích cho rằng, những hiện vật mà ngư dân phát hiện được theo nhận định của bảo tàng Quảng Ngãi là cổ vật quý hiếm. Hiện tình hình tại khu vực này đang phức tạp.


Tối 10/9, UBND tỉnh Quảng Ngãi có cuộc họp khẩn với các sở, ngành, địa phương để bàn biện pháp công tác quản lý, khai quật cổ vật bị chìm dưới biển tại thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn. 


Các cổ vật bị thu giữ 

Theo Sở VHTT&DL Quảng Ngãi, từ chiều ngày 7/9, tại vùng biển Vùng Tàu, thuộc thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, một số ngư dân trong qua trình lặn hải sản là phát hiện và vớt được một số cổ vật bằng gốm. Không chỉ tìm thấy cổ vật, mà nhiều ngư dân còn phát hiện nơi đây có một chiếc tàu cổ chở số cổ vật trên bị chìm. 

Điều đáng nói, là vị trí chiếc tàu cổ chứa nhiều cổ vật này nằm cách bờ chỉ hơn 100 mét. Ngay ngày hôm sau, thông tin phát hiện cổ vật trên đã nhanh chóng lan truyền, hàng trăm ngư dân trong và ngoài tỉnh đổ về để lặn tìm cổ vật trong một chiếc tàu đắm, khiến cả một vùng biển yên bình bỗng chốc náo nhiệt.

Hiện cơ quan chức năng đã thu giữ được tổng cộng 35 cổ vật. Nhận được thông tin trên, ngày 8/9, Sở VHTT&DL Quảng Ngãi đã ở đã cử cán bộ xuống địa bàn xã Bình Châu, huyện Bình Sơn để thẩm tra số cổ vật trên. Qua thẩm tra thì xác định, số cổ vật trên là cổ vật gốm thời Minh (Trung Quốc) ở thế kỷ XV.

Người dân vui mừng vì lặn tìm thấy cổ vật 

Trước sự việc trên để bảo vệ hiện trường, UBND tỉnh đã chỉ đạo cho lực lượng công an, biên phòng và địa phương vận động tuyên truyền ngư dân không được trục vớt, mua bán cổ vật, đồng thời lập kế hoạch bảo vệ khu vực có tàu cổ và cổ vật bị chìm dưới biển.

Cảnh bơm hút, lặn tìm cổ vật trên biển xã Bình Châu

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Quang Thích cho rằng, những hiện vật mà ngư dân phát hiện được theo nhận định của bảo tàng Quảng Ngãi là cổ vật quý hiếm. Hiện tình hình tại khu vực này đang phức tạp. Đó là tình trạng khai thác trái phép, tranh giành và nguy cơ gây nguy hiểm đến tính mạng khi ngư dân khai quật trái phép, kèm theo đó nếu không kiểm soát tốt sẽ dẫn đến tình trạng mua bán cổ vật trái phép, gây mất an ninh trật tự.

Vì vậy, giải pháp hiện tại là phải tổ chức khai quật khẩn cấp và có phương án bảo vệ cổ vật. UBND tỉnh giao cho Sở VHTT&DL Quảng Ngãi trong sáng 11/9 phải hoàn thành văn bản Fax cho Bộ VHTT&DL cho phép UBND tỉnh khẩn cấp ban hành giấy phép khai thác, khai quật cổ vật, đồng thời đề nghị Bộ cử chuyên gia vào để thẩm định và giúp khai quật. 

Minh Bảo 

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

Cơ cấu Việt Nho - 2


II. CHUNG QUANH CƠ CẤU LUẬN

1. Cơ cấu là gì?

Đó là câu hỏi đầu tiên mà tất nhiên mọi người đặt ra khi nghe nói đến cơ cấu, nhưng đấy cũng là câu hỏi chưa có trả lời, ít ra cách dứt khoát.

Trước hết bởi nó là một ngành mới xuất hiện chưa có xác định, tất cả còn đang hình thành. Sau là vì có rất nhiều môn đề cập đến cơ cấu nên cũng có rất nhiều quan điểm và do đó nhiều dạng thức khác nhau. Sau cùng vì có rất nhiều người bàn về cơ cấu với những chủ trương, đường lối khác nhau (1), nên có bao nhiêu cơ cấu gia là có bấy nhiêu cơ cấu luận. Vậy khi đề cập đến cơ cấu thì không có vấn đề đúng hay sai vì chưa có mẫu nhất định, mà chỉ là vấn đề sắc thái dị biệt. Như thế mục tiêu ở đây không có ý trình bày cơ cấu luận mà chỉ cốt giới thiệu trong ít nét sơ sài với những người không có giờ đi vào rừng sách vở của cơ cấu, và nhân đó nói về cái mà tôi gọi là cơ cấu Việt Nho. Điểm cuối cùng này mới là mục tiêu chính của sách.

(1) Bên Pháp hay nói đến les quatre grands là Levi Strauss, Althusser, Michel Foucault, Lancan.

Nói chung thì cơ cấu là một cố gắng vượt qua những cái dị biệt tạp đa để đạt tới những nét căn bản hơn hết của bất cứ môn học nào. Đã nói tới căn bản là nói tới tổng quát, mà càng tổng quát thì các nét dị biệt càng bị xóa nhòa trước ý thức, cuối cùng muốn vượt thực xa thì phải nhảy qua đợt ý thức là lãnh vực của những dị biệt để vào tiềm thức âm u, nhờ đó sẽ nhìn ra những luật lớn ít thay đổi. Thí dụ về thời trang: thoạt nhìn ai cũng tưởn glà cái gì tạp đa xô bồ khkông thể quy vào luật tắc nào cả, mà chỉ vâng theo thị hiếu bốc đồng mỗi lúc mỗi thay đổi tùy hứng… thế nhưng khi nhìn theo lối cơ cấu thì lại thấy nó vâng theo quy luật nhất định như nhà xã hội học Kroeber đã chứng minh (có thể xem A.S.67).

Hoặc lấy một thí dụ thông thường hơn về môn nhân chủng. Trước kia khoa này chỉ nhằm mô tả các cách ăn ở, giao liên của một sắc dân được học hỏi, rồi liệt kê những gì có tính cách đặc trưng và phân loại những nét ấy… cùng lắm là xác định nguồn gốc những trung tâm truyền bá một loại đồ dùng biểu lộ một sắc thái văn minh nào đó (A.S 388) như giao hình chữ nhật bên Tàu truyền qua Mỹ châu hoặc đồ gốm màu đen Long Sơn lan rộng đến miền Cam Túc.

Ngược lại khi đi theo lối cơ cấu thì phải nghĩ tới cái gì uyên nguyên hơn, tế vi hơn, vô hình hơn do đó có sức bao quát rộng hơn nhiều. Thí dụ mấy sắc dân Caudveo ở mạn Tây Bắc Canada có rất nhiều yếu tố giống với người Trung Hoa cổ đại như vai trò quan trọng của phụ nữ, hay là việc chú ý đến sự quân bình giữa các nguyên lý khác nhau (xem Tristes tropiques 196). Cũng như dân mạn nam nước Tàu lại có những nét giống lạ với mấy sắc dân bên Mỹ (T.T 267). Cơ cấu chú ý nhiều đến những mối tương quan ấy…

Do đó các nhà cơ cấu nuôi hy vọng có thể đem cả hàng trăm loại văn hóa khác nhau xếp vào một số mẫu chung nào đó. Như vậy cơ cấu là một cố gắng đạt cái gì tổng quát hơn hết trong mọi ngành như trên tôi đã đồng hóa cơ cấu với tổng hợp. Thế mà tổng hợp đã có lâu trước nên cơ cấu không hẳn là cái chi mới lạ. Tuy nhiên vẫn có thể gọi là một khoa học mới ở chỗ được áp dụng một cách triệt để và có hệ thống, lại bao trùm những địa hạt hết sức lớn lao mà người xưa chưa có đủ phương tiện thâu lượm được như đời nay. Vì thế cơ cấu sẽ là một lối tổng hợp rốt ráo vượt không thời gian để áp dụng cho toàn thể con người bất cứ xưa hay nay, văn minh hay rợ mọi. Và như thế ta thấy ngay nét đặc trưng của nó là tỷ giáo đối chiếu. Lịch sử theo cơ cấu phải là lịch sử tỉ giáo tức đối chiều nhiều nền văn minh với nhau. Vì thế muốn bước vào cơ cấu cần phải có kiến thức rộng hợn xưa rất nhiều. Đó là điều kiện tất nhiên.

Bây giờ chúng ta hãy xem về mấy nét đặc trưng của cơ cấu luận theo Levi Strauss trong quyển sách chính của ông là “Dân tộc học cơ cấu”

2. Bốn nét đặc trưng của cơ cấu

Vậy trong quyển đó (A.S 40) Levi Strauss có đưa ra 4 điểm sau đây:

-        Một là cơ cấu vượt lý trí để đi sang bình diện tiềm thức: “de conscient à l’inconscient”.
-        Hai là không học về từng hạn từ nhưng học về liên hệ giữa các hạn từ (non termes mais relations entre les termes, non causalité mais corrélation fonctionnelle).
-        Ba là đặt nổi cơ cấu của nó lên để đạt điều.
-        Bốn là tìm ra những luật tắc phổ biến.

Giải rộng

Cơ cấu như vậy không là tổ chức xã hội, tuy cũng hay gọi thế, nhưng nội dung khác vì tổ chức xã hội thuộc phạm vi rõ rệt với mục tiêu xác định, tất cả nổi trên mặt ý thức, dễ nhìn thấy còn cơ cấu là cái gì nằm ngầm bên ngoài sức nhận xét của ý thức nó thuộc mối liên hệ là cái không hiện hình. Có thể nói cơ cấu là thế quân bình giữa những yếu tố trái ngược làm nên thực thể xã hội, và biểu lộ ra bằng những dấu hiệu, những bậc thang giá trị, những ý tưởng của xã hội. Như vậy cơ cấu là cái gì nằm ngầm bên dưới tổ chức. Có tổ chức tất phải có cơ cấu, nhưng có cơ cấu chưa hẳn đã có tổ chứ. Cơ cấu thuộc tiềm thức tức phạm vi rộng hơn nhiều nên có sự lặp lại một mô dạng dưới những hình thái khác nhau. Thí dụ truyện lụt cả đều có ở nhiều nơi với hình dạng dị biệt.

Không học về hạn từ nhưng học về liên hệ. Nói như Simomis (167) cho tới nay chúng ta mới học có văn hóa bản thể: culture-substances; tự nay mới học về văn hóa liên hệ giữa các biểu tượng (relation entre les symboles). Nếu học theo lối bản thể (hay hạn từ) thì sẽ nghiên cứu xem thí dụ nước Tàu đóng góp được những gì (thuốc súng, bàn la kinh hay chép in rời) Phénicie đóng góp phần abc, Aán Độ con số zéro v.v… Tức là những gì đặt trờ ra đó, ai cũng có thể nhìn ra… Và cứ như thế mà lên sổ các yếu tố của một nền văn minh kể từ tôn giáo, chính trị, văn chương, thể chế thói tục cho tới ngôn ngữ chữ viết, đồ dùng… Cơ cấu không chú trọng đến từng hạn từ lẻ tẻ như vậy, nhưng xemmột nền văn minh chú trọng đến điểm nào, bỏ lơ điểm nào, và sắp xếp các hạn từ đó với nhau ra sao để tìm ra phẩm tính của mối liên hệ. Thí dụ khi gọi cha mẹ là nghiêm đường hay song thân thì với lối xưa không bao hàm chi cả, nhưng theo lối cơ cấu ta sẽ chú ý đến phẩm chất của mối tương quan biểu lộ ra trong hai chữ nghiêm đường và song thân. Khi nói song thân là nói lên tình thân mật giữa cha con, như vậy là di sản của mẫu hệ: quyền cai trị nằm trong tay cậu (về đàng mẹ) nên tương quan cậu cháu là nghiêm khắc (đại biểu cho du mục) còn tương quan cha con là thân mật. Ngược lại trong phụ hệ thì quyền cai trị nằm trong tay cha, nên tương quan cha con là nghiêm khắc. Một thí dụ khác về cách nấu ăn, cơ cấu không chú ý ăn cái gì cho bằng ăn kiểu nào: ăn sống hay ăn nướng (le cru et le cuit). Vì những cách đó có tương quan khác nhau. Aên sống không văn minh bằng ăn chín. Aên chín như nướng, rán liên hệ với đàn ông, ăn chín luộc sào liên hệ với đàn bà. Nấu giữ được cả nước nên thông dụng ở những dân nghèo, nướng làm mất nước biểu lộ hoang phí nên được dùng nhiều hơn ở nơi quyền quý v.v…

Đó là vài thí dụ nói lên sự tế vi của cơ cấu: nó không chú ý đến hạn từ cụ thể hiện hình ra nhưng chú ý đến mối tương quan, cách bố cục các hạn từ các chức năng của chúng là cái chi vô hình trừu tượng, và đó mới là điều làm nên nét đặc trưng của một nền văn minh: mỗi văn minh bỏ nhẹ một số yếu tố để có thể đặt nổi một số yếu tố khác, văn minh La Hy chú trọng ngữ luật, văn minh Việt Nho chú trọng thi ca v.v… những sự chú trọng đó có thể phân ra ba điểm then chốt như chúng tôi đã nói về ba khởi điểm thiên, địa, nhơn (xem đầu quyển Nhân Bản). Đọc kỹ sẽ nhận ra sự quan trọng nằm trong mối liên hệ, nói cụ thể là sự sắp xếp. Chính sự xếp đặt làm nên mối liên hệ và chính mối liên hệ mới nói lên nét đặc trưng sâu xa của một nền văn hóa. Nét đặc trưnng này sẽ rất khó tìm ra khi học theo lối xưa (từng hạn từ lẻ tẻ). Bởi vì nền văn hóa nào cũng xuýt xoát có bấy nhiêu yếu tố: ngôn ngữ, kỹ thuật, khoa học, tín ngưỡng, tổ chức xã hội, kinh tế v.v… nhưng nếu xem vào liều lượng và vị trí của mỗi yếu tố: đặt nặng cái này bỏ nhẹ cái kia… thì sẽ nhận ra nét đặc trưng. Thí dụ trong nền giáo dục Việt Nho coi trọng chữ tình ngược với La Hy coi trọng chữ lý. Từ những sự lựa chọn và đặt nỗi đó cơ cấu luận có thể đi tìm lý do thầm kín của những sự lựa chọn này, rồi từ đó phân ra vài loại lớn như chúng tôi đã làm khi phân ra hai loại nguồn gốc văn minh là du mục và nông nghiệp. Như thế ta thấy cái học theo cơ cấu tế vi hơn trước nhiều.

Nhờ sự tế vi đó nên có thể đi vào sâu, và nhờ đi sâu unên có thể đẩy xa hơn việc dùng công thức toán kiểu đại số vào những cái tế vi khiến cho sự suy diễn trở nên xát thiết hơn, rõ ràng hơn. Thí dụ thay vì con số 3 thì cơ cấu có thể biến ra 2+1, hoặc như chúng tôi quen làm theo n ngũ hành với con số 5 thì có thể chia ra 3+2 hoặc là 4+1 dùng để đúc kế những nét đặc trưng của một nền văn hóa; cũng có thể đưa ra những ký hiệu khác như Levi Strauss đã dùng để phân ra 4 lọai giao liên như:

Giao liên có tính chất tương liên (mutualité)
Giao liên đảo lại (réciprocité)
Giao liên xây trên quyền lợi (droit)
Giao liên chú ý đến nhiệm vụ (obligation) (A.S 60).

Theo đó ta c1o thể nói xã hội La Hi đi theo liên hệ hàng ngang chủ nô là + - - chủ có mọi quyền, nô có mọi nghĩa vụ thiếu sự Tương liên đảo ngược phần nào có thể nói như thế về Hán nho là quân thần… còn xã hội Việt Nho đi theo lối hàng dọc như ngũ luân hay song thân có đi có lại. Rồi từ đó đi đến những nhận định tổng quát hơn như lối thân tộc hóa xã hội của ta: gặp người xa lạ ta vẫn dùng những lối xưng hô thân mật trong gia đình: thưa ông, thưa bà, thưa cô, dì, chú, bác, anh, em, chị… ngược với lối vô ngã hóa của Tây khi với bất cứ ai trên hay dưới, thân hay sơ cũng chỉ xưng hô bằng một kiểu duy nhất vô sắc thái là you, vous, il. Như thế muốn đi vào cơ cấu không cần tài liệu mới hay dữ kiện mới cho bằng thay đổi hẳn lối nhìn: lối nhìn này phần lớn hệ tại biết đứng ở toàn cảnh nhìn vào từng phần và tìm giải nghĩa từng phần bằng đặt chúng vào tương quan với toàn bộ. Chính mối tương quan vô hình định tính các loại văn hóa.

Điểm cuối cùng là nhằm tìm ra luật chung bằng cách quy nạp hay suy diễn từ những mẫu mực tự mình kiến tạo ra hầu giúp đem lại cho sự vật quan sát (I xã hội)  tính chất xác định kiểu luật tắc. Như vậy không cần tìm biết xem những mẫu mực kia có thực y như vậy chăng, nhưng là tìm cách phác họa ra được những mẫu mực gần với thực tại để dùng làm tiêu điểm trong việc so đo, xếp loại. Nói khác mẫu mực kiến tạo (modèle construit) là một ý niệm khí dụng chứ không là ý niệm hữu thể (Race 108) không cần biết mẫu mực đưa ra có thực cho bằng biết đó chỉ là dụng cụ giúp nhìn tỏ hơn. Thí dụ khi tôi đưa ra hai dạng thức du mục và nông nghiệp thì không có ý bảo rằng xã hội Việt Nho là hoàn toàn nông nghiệp, còn xã hội La Hy hoàn toàn du mục, nhưng đó là những tiêu điểm giúp cho dễ phân ra những yếu tố nào là nông nghiệp hay du mục, thời nào thì du mục nổi hơn v.v… (sẽ bàn thêm về mẫu kiến tạo này).

Đó là vài ý niệm khái quát về cơ cấu. Bây giờ chúng ta đi thêmmột bước nữa bằng xem đến vai trò ngữ học trong cơ cấu.

3. Vai trò ngữ học

Ngữ học được đưa ra làm thí dụ đặc biệt vì đây là thực thể riêng biệt nhất của con người cũng như là ngã ba mà mọi ngành học phải đi qua. Ngoài ra có một điểm may mắn là ngữ học đã trở thành khoa học xác thiết đến độ có thể dùng làm mẫu cho các khoa khác và được sự đồng ý của nhiều người nghiên cứu hơn hết, hơn cả khoa kinh tế chẳng hạn vì những kế hoạch kinh tế đã thành công ở nơi này không hẳn dùng được cho nơi khác. Ngược lại ngữ học có thể dùng cho mọi ngôn ngữ. Thế mà ai cũng phải công nhận rằng ngôn ngữ là di sản tối quan trọng làm nên một dân tộc, một tổ quốc và được mọi người mặc nhiên chấp nhận không cần lý luận. Nhưng cho tới nay không ai ngờ tới điều đó, cứ tưởng rằng tiếng nói nằm trong quyền lực mình, mình có thể nhận hay không là tùy ý. Nhưng đó là một lầm tưởng vì nó nằm ngoài quyền lực cá nhân, bên ngoài lý trí ý thức tức là nó nằm hầu hết trong miền tiềm thức và được biểu lộ ra ngoài toàn bằng những ước định. Thí dụ cái nhà có thể kêu là ốc là thất là house chẳng hạn có lý nào bắt phải gọi như thế cả: gọi nhà chỉ là một ước định công cộng. Vì là ước định ngoại lý nên không thuộc phạm vi ý thức (của lý trí) mà thuộc phạm vi nằm ngầm của tiềm thức. Đó là điều trước kia không được nhận thức nên khoa ngữ học dừng lại ở đợt ý thức hàng ngang như học về từ ngữ riêng lẻ, tìm giải lý bằng lịch sử v.v… còn cơ cấu sẽ chú ý đến tương quan giữa nghĩa và hình (signifíe et signifiant) chú ý về nghĩa vị học (sémantique) hoặc là về âm vị học… toàn là những cái nằm ngoài ý thức, nên Levi Strauss kêu là cuộc cách mạng âm vị học (révolution phonologique). Oâng Troubetzkoi chia phương pháp âm vị học ra 4 giai đoạn:

- Aâm vị từ bỏ sự nghiên cứu hiện tượng ngôn ngữ có thể ý thức được, để khảo sát hạ tầng tiềm thức của những hiện tượng ấy.
- Đối tượng âm vị học không phải là những đơn vị riêng lẻ mà là những mối liên hệ giữa những đơn vị ấy.
- Aâm vị học đi xa hơn nữa bằng phát hiện những hệ thống âm vị cụ thể và cơ cấu của chúng.
- Sau cùng âm vị học cố tìm ra những định luật tổng quát bằng quy nạp hay diễn dịch.

Sau này nhà ngữ học trứ danh Ferdinand de Saussure nhận ra một chiều kích khác gọi được là hàng dọc thì tự đấy nảy sinh ra cơ cấu trong ngữ lý học (linguistique). Gọi là ngữ lý học vì nó tìm ra những tương quan hoặc thuộc tâm lý hoặc thuộc xã học hay cả lý luận giữa những từ đi đôi, làm nên một hệ thống. Nó cố gắng lặn sâu xuống tiềm thức để đạt độ cơ cấu nằm bên ngoài quyền lực cá nhân. Chính vì thể mà nhiều nhà cơ cấu chối bỏ vai trò cá nhân. Với họ cá nhân chỉ còn như một bộ phân một khí cụ của một cơ cấu lớn lao điều động. Câu thơ của Alain Bosquet nói theo ý đó rằng:

Pour être, moi j’écris
C’est aux mots de comprendre.

Muốn có tôi phải viết (tôi có là do chữ viết ra, thiếu nó tôi hầu không có) chính chữ viết nó hiểu (chứ không phải tôi hiểu). Tôi chỉ là dụng cụ mà cơ cấu chữ nghĩa dùng từng lúc.

Đó là vài ý niệm rất sơ sài về ngữ lý học. Bây giờ chúng ta xem về sử để thấy sự khác biệt giữa lịch sử khoa học và lịch sử theo cơ cấu, cũng gọi là sử hàng dọc.

4. Sử hàng dọc

Khác với sử hàng ngang hay sử khoa học mà tôi quen gọi là duy sử. Duy sử xuất hiện dưới quyền lực của duy lý chú ý đến những biến cố (événementielle) nghĩa là những sự kiện có thực đã xảy ra nên có thể ghi ngày tháng và địa điểm với những nhân vật có thực. Nhưng với cơ cấu thì lại nảy ra một loại sử gọi là hàng dọc (histoire synchronique) vận hành với tiềm thức, không cần thể hiện vào một cá thể vì vậy không thể ghi thời điểm và không điểm, nhưng vẫn gọi được là sử vì có thật tuy không thực (vraie mais irréelle). Nói theo “Chữ Thời” là “hữu thực (vraie) nhi hồ xứ giả” (irréelle). Aùp dụng vào sử thì “hữu thực” là có những tác động, hay nguyên lý chỉ dẫn hoặc lý tưởng được cưu mang… nhưng “vô hồ xứ giả” nghĩa là không cần kết tinh vào cá nhân này hay cá nhân kia. Nhờ đó nó có thể là sơ nguyên tượng hay điển loại tức là một dạng thức phổ biến, còn nằm trong cõi thiên thai (mong muốn) nhưng chưa gặp bước trần ai nghĩa là chưa hẳn có ai hiện thực được như vậy. Nói thế có nghĩa là trong thực tế không cần có những người mang tên là Đế Minh, nhưng có nguyên lý hướng về ánh sáng (tuần thú phương Nam) có những tác động tháo lui trước quân xâm lăng, rồi lấy vợ ở miền Nam, và gọi đó là gặp Vụ Tiên trên núi Ngũ Lĩnh tức là trong miền đất có nền văn hóa đi theo thuyết ngũ hành. Nói tóm có tác động điển hình mà không cần phải có người nào cả. Đó gọi là huyền sử. Huyền sử không nhằm đem tin hay kể lại sự kiện (apprendre) nhưng nhằm nói lên ý nghĩa sâu xa (expliquer). Vì thế cơ cấu nói sử hàng ngang đem tin hay cho biết biến cố nhiều hơn là giải nghĩa còn sử hàng dọc giải nghĩa nhiều hơn đem tin. Histoire synchronique explique plus et apprend moins (142 Simomis). Muốn nghe truyện thì dõi theo sử hàng ngang của các sự kiện. Nhưng muốn hiểu truyện thật sâu thì phải theo sử  hàng dọc đâm thẳng xuống, có vậy mới khám phá ra những yếu tố nằm ngầm. Thí dụ giá gạo tăng vọt tại đâu, lối hàng dọc sẽ không tìm ra giá gạo các năm trước nhưng tìm ở sự tác động hỗ tương giũa các ảnh hưởng kinh tế xã hội ở hiện tại. Trái lại sử hàng ngang chú ý đến dĩ vãng, nhìn về trước nên duy sử có họ với phái duy vãng (xem Chữ Thời). Ngược lại cơ cấu chú ý đến hiện tại nhưng không phải duy hiện tại vì đây là thứ hiện tại được đào sâu để tìm ra cơ cấu đặng khám phá ra cái định luật cấu tạo ra cơ cấu. Vì thế Michel Foucault gọi cơ cấu là khoa khai quật cổ vật (archéologie).

Như thế thì sử học có tính cách đứt đoạn: nghiên cứu về những nhân vật, về những biến cố không bao giờ sẽ thấy được lần thứ hai, với thời gian bất khả phục hồi. Còn sử hàng dọc thì lại cố tìm ra những hình thức tiềm ẩn dưới những định chế của loài người; tiềm ẩn là thoát khỏi ý thức của tác nhân, nhưng lại chi phối tác nhân. Thí dụ những xã hội không chịu giải phóng nô lệ thì lại hướng nhiều về nuôi dưỡng những tin tưởng về thiên thai, âm phủ… để xoa dịu những nạn nhân của chế độ. Vì thế nếu biết đọc sử theo lối hàng dọc sẽ có thể xâu tất cả dòng lịch sử lại một gọi là sử mệnh hay sử hàng dọc nói về  những sơ nguyên tượng sẵn sàng phục hồi. Ngược với sử hàng ngang ghi lại những biến cố cá biệt với những nhân vật có thực, nên bất khả phục hồi.

Trở lên là mấy nét lớn để nhận diện sơ sài cơ cấu. Nói tổng quát thì cơ cấu là một bước cố gắng tổng hợp được đẩy xa hơn trước trong mọi khoa học nhân văn. Với cơ cấu chúng ta sẽ đi vào sâu hơn, mà sâu hơn cũng có nghĩa là đơn giản hơn, tế vi hơn, và từ đó may ra có thể nhận ra mối tương quan nền tảng (di luân du tự) kết hợp tất cả lại thành một toàn bộ đem lại cho các yếu tố rời rạc lẻ tẻ trước kia một sức sống động. Cơ cấu như vậy có thể sẽ giúp chúng ta quét sạch được rất nhiều ý niệm của triết học bản thể (cổ điển) tất cả đều nằm trong tình trạng vì thiếu mất chữ tương. Nếu hiện thực được như thế thì cơ cấu có thể mở ra một giai đoạn mới cho loài người trong việc tìm hiểu nhau hơn. Chương sau chúng ta sẽ tìm hiểu thêm bằng chú ý đến Levi Strauss.

Lm. Kim Định

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

Chim nhỏ vườn nhà



Xóm tôi may hãy còn trăng,
Còn trời, còn đất, còn hàng rào cây.
Ngó lên còn thấy chim bay.
*

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

Phát hiện cổ vật lạ tại Thánh địa Mỹ Sơn


7/9/2012 09:38
Khai quật tại khu vực tường bao quanh khu tháp E7 của quần thể tháp Chăm tại Thánh địa Mỹ Sơn, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều hiện vật lạ lần đầu tiên tìm thấy tại khu đền tháp này…
Khu đền tháp còn nguyên vẹn tại khu đền tháp Mỹ Sơn.
Sáng hôm nay (7/9) Ban Quản lý di tích Mỹ Sơn cho biết nhiều hiện vật lạ và bất ngờ được tìm thấy sau khi tổ chức khai quật tại khu đền tháp Mỹ Sơn. Tiêu biểu nhất là đầu ngói chạm hình mặt Kala- hình mặt thần thời gian lần đầu tiên tìm thấy tại khu đền tháp Mỹ Sơn nói riêng và các tháp Chăm trên địa bàn nói chung.
Theo các nhà khảo cổ, trong quá trình đào thám sát và tổ chức khai quật từ tháng 11/2011 đến nay tại khu vực tường bao phía đông tháp E7, các nhà khảo cổ đã ghi nhận, đo vẽ cẩn thận, tỉ mỉ 5 tầng văn hóa mỏng nằm chồng lớp lên nhau có độ sâu hơn 1m tính từ nền đất gốc.
Qua khai quật một cách khoa học và hết sức cẩn thận, các nhà khảo cổ  đã phát hiện tại lớp thứ 4 của hố khai quật 10 trang trí đầu ngói bằng có đường kính khoảng 12cm.
Viên ngói vừa phát hiện có hình mặt thần thời gian Kala được cho lần đầu tiên phát hiện tại Mỹ Sơn (Ảnh Nguyễn Thượng Hỷ)

Sau khi làm sạch bề mặt, 10 viên đầu ngói đã lộ hình ảnh hoa văn lạ chạm khắc trên bề mặt viên ngói. Qua xác định của các nhà khảo cổ học, hình khắc chạm trên bề mặt viên ngói là hình mặt thần thời gian Kala.

Các nhà khảo cổ học đang khai quật tại đây khẳng định, đây là điều hết sức mới lạ được phát hiện sau hơn 20 năm tổ chức khai quật và trùng tu tại khu đền tháp lớn nhất nước đã được công nhận là Di sản Thế giới này.
Hiện các nhà khảo cổ đang tiếp tục tổ chức khai quật thêm hiện vật để nghiên cứu nhằm tìm kiếm một phương pháp hữu hiệu và khoa học cho việc tiến hành trùng tu cho nhóm tháp này.
Việc khai quật và trùng tu tôn tạo khu đền tháp Mỹ Sơn diễn ra hơn 20 năm nay và các nhà khoa học rất thận trọng trong quá trình xử lý hiện vật, tìm kiếm tư liệu lịch sử cùng như chất liệu để trùng tu. Tuy nhiên, theo các nhà khảo cổ học đến từ nhiều nước trên thế giới và Việt Nam, những phát hiện mới phát hiện cho thấy quần thể kiến trúc tháp Chăm tại Thánh địa Mỹ Sơn cần được nghiên cứu kỹ hơn và thận trọng hơn mới có thể tìm ra phương pháp trùng tu hữu hiệu.
Vũ Trung

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2012

Trường Ca Ave Maria - đoạn 1&2




Uploaded by  on Nov 25, 2010
Thơ Hàn Mạc Tử, nhạc Hải Linh , do ca đoàn Trùng Dương
và các tu sinh Dòng Chúa Cứu Thế trình diễn
dưới sự điều khiển của ca trưởng Hoàng Hương, 
trong đêm tưởng niệm 70 năm thi sĩ Hàn Mạc Tử qua đời
 (11.11.1940 - 2010)
được tổ chức tại hội trường An Phong, Dòng Chúa Cứu Thế, Saigon
*

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Có một vườn thơ Đạo


 Buổi họp mặt và tặng sách cho các tác giả trong sưu tập
"CÓ MỘT VƯỜN THƠ ĐẠO"
hiện đang sống tại Sài gòn
được tổ chức tại Trung Tâm Mục Vụ Sài gòn, sáng 01.09.2012
***
Xin bấm vào các đường dẫn để tải các file pdf từ thanhlinh.net




BỘ SƯU TẬP THƠ CÔNG GIÁO
KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH NHÀ THƠ HÀN MẠC TỬ
Ngày 22-9-2012 tới đây sẽ là kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Hàn Mạc Tử. Đây là một niềm vui cho giới Công giáo vì nhà thơ được công chúng biết đến rộng rãi nhất và được thương mến nhiều nhất này là một tín hữu Công giáo trẻ, chết lúc mới 28 tuổi. Sự kiện này đồng thời cũng khiến chúng ta nhớ đến những khó khăn rất lớn mà Giáo hội Công giáo Việt Nam đang gặp phải trên lãnh vực văn hóa.
Những trì trệ và khó khăn lớn Giáo hội Công giáo Việt Nam đang gặp phải trên lãnh vực văn hóa:
- Chữ Quốc ngữ do các thừa sai Công giáo sáng tạo hơn 400 năm qua và giờ đây đã trở nên công cụ cho mọi sinh hoạt thường ngày của dân Việt, thế nhưng trên diễn đàn văn học chỉ có duy nhất một tác giả Công giáo được công chúng biết đến là nhà thơ Hàn Mạc Tử;
- Giới Công giáo bị coi như vắng mặt trên văn đàn vừa do những hoàn cảnh cụ thể bên ngoài, vừa do Giáo hội Việt Nam chưa quan tâm đào tạo;
- Không có các nhà văn, nhà thơ thì cũng không có những người viết kịch bản và làm phim để chuyển tải Tin mừng qua nghệ thuật;
- Những người được ơn cầm bút đã quá ít, rời rạc, lại không được khích lệ cho nên không quan tâm phát triển tài năng;
- “Tiếng Việt là gia tài cha ông để để lại cho con cháu luyện tập để chuyển tải Tin Mừng cứu độ cho thiên hạ lại bị bỏ quên hoặc coi thường, trong khi thiên hạ biết tôi luyện và tận dụng tiếng Việt để chuyển đạt các tư tưởng chống Chúa, chống Giáo hội” (ĐGM Micae Hoàng Đức Oanh, lời tựa bộ sưu tập thơ Có Một Vườn Thơ Đạo);
- “Tình trạng viết văn tiếng Việt của các bạn trẻ ngày nay thật đáng suy nghĩ! Mấy chục năm thời chiến, vừa học vừa nấp bom tránh đạn, thì thước đo trí thức lấy cộng trừ nhân chia làm chính. Hòa bình lập lại, cả thầy lẫn trò bị hút vào vi tính và ngoại ngữ, tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ bị bỏ quên, chẳng còn mấy ai chuyên chăm luyện văn, tập viết” (ĐGM Micae Hoàng Đức Oanh, sđd). Khả năng viết tiếng Việt của sinh viên học sinh trong nước xuống thấp không tưởng tượng nổi, trở ngại rất lớn cho việc đào tạo các ơn gọi trẻ trong Hội Thánh – nơi tất cả các Giáo phận và các Dòng tu quốc nội. “Trên thương trường và các mặt khác của xã hội, tình trạng yếu kém tiếng Việt chẳng trở ngại gì lắm, nhưng trên cánh đồng của Chúa mà cứ thế, thì người của Chúa lấy đâu văn chương chữ nghĩa mà rao giảng Tin Mừng?” (ĐGM Micae Hoàng Đức Oanh, sđd).

Bộ sưu tập thơ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hàn Mạc Tử

Để khơi dậy sinh hoạt sáng tác văn thơ nơi giới Công giáo, từ hơn 20 năm qua, một vài anh em chúng tôi (linh mục và giáo dân) đã tìm liên lạc, gặp gỡ và nối kết những người cầm bút. Chúng tôi đã thực hiện những sưu tập (1) để gom góp những tác phẩm sẵn có và những cuộc thi sáng tác (2) để phát hiện và vun trồng những tài năng mới. Dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hàn Mạc Tử, là một cột mốc để chúng tôi đúc kết một giai đoạn làm việc với bộ sưu tập thơ Công giáo mang tên CÓ MỘT VƯỜN THƠ ĐẠO, gồm 4 quyển:
+ Quyển 1: nói riêng về Hàn Mạc Tử, tập trung vào mảng thơ đạo của anh.
+ Quyển 2: 45 tác giả thơ Công giáo, có năm sinh từ 1912 đến 1940
+ Quyển 3: 51 tác giả thơ Công giáo, có năm sinh từ 1941 đến 1955
+ Quyển 4: 44 tác giả thơ Công giáo, có năm sinh từ 1956 đến 1990
Hiện nay giới văn học vẫn còn ngộ nhận trầm trọng về thơ đạo của Hàn Mạc Tử. Với những bài viết của một số tác giả Công giáo sắp xếp có hệ thống, quyển I của bộ sách mong sẽ giúp độc giả có được cái nhìn chính xác và sâu xa hơn, tiếp cận với tinh thần đạo hạnh và cả kinh nghiệm tâm linh sâu thẳm đáng kinh ngạc của nhà thơ trẻ tuổi.
140 tác giả ở ba quyển sau gồm 03 giám mục, 32 linh mục, 05 tu sĩ , 03 chủng sinh, 59 giáo dân nam, 01 nam cảm tình viên, 25 giáo dân nữ và 12 nữ tu.
Thế nhưng bài toán cộng rất đáng suy nghĩ. 1 + 140 mà kết quả hình như vẫn chỉ mới là = 1. Sau hơn 400 năm cống hiến chữ Quốc ngữ cho Dân tộc, giới Công giáo chỉ mới có được một ngôi sao duy nhất trên nền trời văn học. Ước mong của nhóm biên tập là bộ sưu tập sẽ tạo điều kiện để sớm xuất hiện những tác giả văn thơ Công giáo sáng giá có chỗ đứng trên diễn đàn văn học nước nhà.
Linh mục TRĂNG THẬP TỰ
Ghi chú:
(1) Cụ thể là: quyển GÓP NHẶT THƠ CÔNG GIÁO VIỆT NAM với 40 tác giả (Nxb Thuận Hóa 1998), quyển KINH TRONG SƯƠNG với 15 tác giả (Nxb Phương Đong, 2007) và bộ sách Ở THƯỢNG NGUỒN THI CA CÔNG GIÁO (6 quyển, Nxb Tôn giáo, 2009)
(2) Ngoài hai cuộc thi chung SEN GIỮA LẦY (2010) và NHÁNH HUỆ NƯỚC TRỜI (2011), còn có những cuộc thi ở cấp giáo phận tại Qui Nhơn, Phan Thiết và Xuân Lộc