Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Phụ huynh sửng sốt với món 'canh gà Thọ Xương'


Thứ tư, 10/10/2012, 09:10 GMT+7

Kiểm tra vở Văn, phụ huynh sốc khi thấy con viết "tiếng chuông Trấn Vũ" là nét đẹp tôn trọng thờ kính tổ tiên, còn "canh gà Thọ Xương" là món canh gà ở hồ Tây. Cô không sửa sai sót này mà vẫn cho điểm 8.

Chia sẻ với VnExpress, một phụ huynh có con học lớp 7A10 THCS Lomonoxop (Hà Nội) cho biết, đi học về, con gái kể những câu ca dao được cô dạy trên lớp và đòi bố mẹ đưa đi ăn món "canh gà Thọ Xương". Anh hoảng hốt hỏi "ai nói với con có món này?", thì được trả lời là "cô giáo dạy Văn".

Để khẳng định lời mình nói là đúng, cô bé đem cho bố xem vở tập làm văn có bài cảm nhận về 4 câu ca dao "Gió đưa cành trúc la đà / Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương / Mịt mù khói tỏa ngàn sương / Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ". Kiểm tra vở của con, anh sốc nặng khi thấy bài viết chữ nguệch ngoạc, sai cả chính tả lẫn nội dung nhưng vẫn được cô cho 8 điểm.

"Đầu tiên, cảm giác của tôi là bàng hoàng. Bài văn câu chữ không được uốn nắn. Tôi không làm nghề giáo nhưng cũng biết ý chính của cụm từ "tiếng chuông Trấn Vũ" không nghiêng hẳn về nét đẹp truyền thống của dân tộc, tôn trọng thờ kính tổ tiên. Tôi có bảo với con "nếu đây là đền Hùng" thì ý này sẽ rõ hơn. Còn đọc đến đoạn "món ăn đặc sản là canh gà Thọ Xương thì tôi không thể tin vào mắt mình nữa", vị phụ huynh bức xúc.

Anh kể, sau phút sửng sốt, anh gặng hỏi con và cháu vẫn trả lời "cô dạy thế". Cháu nói "nhiều bạn lớp con làm thế, chẳng lẽ chúng con nghĩ sai giống nhau?". Thực tế, nội dung con viết sai trong bài không được cô gạch chân, trong khi cô vẫn sửa các chữ viết tắt như "4" thành "bốn", "dc" thành "được" và cuối bài còn phê "Có ý thức làm bài...", và cho điểm 8 +.
Bài văn của học sinh lớp 7A10, ghi "canh gà Thọ Xương là món ăn nổi tiếng của Hà Nội", nhưng cô giáo không sửa mà vẫn cho điểm 8. Ảnh: Phụ huynh cung cấp.

Để kiểm tra thông tin, anh gọi điện cho một số bạn học của con gái, hỏi về bài kiểm tra. Một nam sinh kể: "Con được cô dạy như thế. Con viết nguyên vào bài và về nhà bị bố mắng".

Chung nỗi bức xúc, một phụ huynh khác cho hay, khi kiểm tra vở của con, anh cảm thấy lạ khi thấy viết "canh gà Thọ Xương" là món ẩm thực nổi tiếng của hồ Tây. Trước đó, con có nói đến điều này nhưng anh tưởng rằng cháu nói đùa. Anh phân tích rằng "canh gà Thọ Xương" là tiếng gà báo sang canh thì cháu nói "cô giáo dạy như thế".

Phụ huynh này tâm sự, không hiểu tại sao cô giáo lại có thể nhầm lẫn đến mức độ như thế được. Trong bài kiểm tra của con trai anh, cô không gạch chân chỗ cháu viết sai, mà còn cho 7 điểm và khen làm tốt. Theo anh, kể cả khi cô không dạy, đứa trẻ viết như thế thì cô phải sửa và không được cho điểm cao.

"Không phải một mình con tôi mà rất nhiều cháu nhầm lẫn như nhau. Khi chấm bài, cô không phản ứng gì chứng tỏ cô đồng tình với học sinh. Các cháu trong trắng như tờ giấy, làm sao có thể nói khác đi được", anh chia sẻ.

Còn một nữ sinh lớp 7A10 khẳng định: "Cô giáo đã dạy cho bọn con như thế. Cô dạy thế nào, chúng con làm bài tập như vậy. Khi cô chấm cũng không gạch ý này và còn cho con điểm cao".

Trao đổi với VnExpress.net, bà Ngô Thị Hà, Hiệu phó THCS Lomonoxop cho biết, khi nghe thông tin bà cũng rất sốc. Bà đã yêu cầu giáo viên thu toàn bộ vở của học sinh để kiểm tra. Chính bà cũng bất ngờ khi thấy không chỉ một, mà nhiều em đã viết "canh gà Thọ Xương" là món ăn nổi tiếng của Hà Nội.

"Người dạy văn lớp 7A10 hôm đó là cô Hà Thu Thủy. Chúng tôi đã yêu cầu cô viết bản tường trình, nói lại sự việc trước tổ Văn của trường", bà Hà nói.

Trong khi đó, cô Thủy cho hay, buổi học có bài tập cảm nhận về bốn câu thơ nêu trên diễn ra sáng 12/9 và chiều cùng ngày cả lớp ôn tập rồi làm bài kiểm tra một tiết. Cô ra hai đề trong đó có đề cảm nhận về bốn câu ca dao: "Gió đưa cành trúc la đà...".

"Tôi yêu cầu các em tự cảm nhận, cô không gợi ý, sau đó thu vở một số em để chấm. Trong khi chấm, thấy nhiều học sinh hiểu nhầm 'canh gà Thọ Xương' là món canh gà, trong khi hiểu đúng phải là 'tiếng gà báo sang canh'", cô Thủy kể và cho hay, lúc trả bài đã nói lớp có nhiều bạn làm sai, nhưng vì bài tự cảm nhận nên các em tự sửa để cho nhớ.

Cô Thủy cũng giải thích, do lúc ấy cuối giờ, lớp khá ồn và lộn xộn nên học sinh không nhớ để sửa ngay. Cô sơ suất không kiểm tra lại vở các con và không sửa chu đáo vào ngày hôm sau.

"Tôi xin lỗi phụ huynh vì đã không sửa bài thấu đáo cho con và cảm ơn phụ huynh có phản hồi để tôi có thể nhận ra sai sót nghiệp vụ sư phạm của mình. Tôi đã khắc phục bằng cách hướng dẫn học sinh sửa và giảng lại cho các con hiểu. Bài ca dao tôi cho các con làm cũng là bài ca dao ngoài chương trình, tôi muốn các con ôn luyện để hiểu hơn nét đẹp của Hà Nội vì các con là học sinh thủ đô", cô Thủy nói.

Còn thầy Trần Trung, Tổ trưởng tổ Văn cho hay, khi nghe chuyện, thầy đã nghĩ "làm sao có cách dạy ngớ ngẩn như vậy được?". Theo thầy Trung, sai lầm lớn nhất của cô Thủy là không cắt nghĩa một cách tường minh cho học sinh biết rằng, đó là cách hiểu sai, đó là đêm năm canh ngày sáu khắc, chứ không phải món ăn.

Hoàng Thùy

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

Lụt


Mưa lớn và triều cường sáng 03.10.2012

LỤT

Mở mắt đã thấy nước lên.
Con sâu, con kiến trước thềm ngẩn ngơ.
Biết đâu là bến là bờ?
*

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

Việt Nam trong tác phẩm du ký kinh điển


7/10/2012 06:35
Trên con tàu băng qua đèo Hải Vân, ông ngỡ ngàng nhận ra trong suốt cuộc hành trình, đây là vùng đất của những cảnh tượng thiên nhiên thơ mộng nhất..
Vào năm 1973, khi nhà văn Paul Theroux bắt đầu thực hiện chuyến hành trình bằng xe lửa qua Thổ Nhĩ Kỳ, Afghanistan, Ấn Độ, Việt Nam, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Coley (Sri Lanka cũ), Trung Quốc, Nhật Bản, Siberia... thì cũng là lúc bối cảnh chính trị và kinh tế ở nhiều quốc gia chưa sáng sủa và không khởi sắc. Việt Nam đang trong những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Mỹ. 

Tác phẩm du kí kinh điển của phương Tây này có lẽ sẽ gây hấp dẫn cho độc giả phương Tây hơn là phương Đông bởi sự khơi gợi trí tò mò với một vùng đất vốn xa lạ trong thập niên 70 của thế kỉ trước, thời đại mà cả công nghệ thông tin lẫn phương tiện vận tải đều chưa phát triển như ngày nay. 
Paul Theroux không có sự quan sát nhiều về văn hóa, vốn là đặc sản của xứ sở bí ẩn này. Ông chú mục tỉ mỉ hơn vào lối hành xử của con người cụ thể trong đời sống thường nhật - và lối hành xử đó bị tác động không nhỏ của điều kiện kinh tế eo hẹp nơi đây.

Paul Theroux chẳng lý giải điều gì, cũng không đưa ra kết luận. Trên chuyến hành trình của mình ông giữ một trạng thái độc lập, không chủ động kết thân với ai. Ông chỉ ghi chép và ghi chép, thuật lại những cuộc trò chuyện với người bản xứ, từ đó vẽ nên những mảng tối và sáng của một đất nước trong tâm thế vô tư lự. Ông cũng tỏ ra trung thực với cảm nhận tức thời của bản thân.
Chương cuối cùng của bản dịch tiếng Việt là có lẽ là một trong vài chương xuất sắc nhất, bởi nó mở đầu cho cuốn "Chuyến tàu ma tới ngôi sao phương Đông" được viết 30 năm sau, trong đó tác giả đi lại cuộc hành trình xưa cũ. Lúc này, văn phong của Paul Theroux đã thực sự chín muồi, đậm đà như quả ngọt. Ông cũng bộc lộ bản thân mình nhiều hơn với những ngẫm ngợi của một nhà văn đã trải qua những chuyến đi dài, cả ở thực tế và trong chiêm nghiệm. 
Ông viết: "Khi bạn là người lạ, như bài hát trôi qua, không ai nhớ tên bạn cả. Tuổi tác mà một món quà bạn dành được để đánh giá sự phân rã, sự hiện ra của Wordsworth, sự thông thái của wabi-sabi: không gì hoàn hảo, không gì hoàn thiện, không gì vĩnh viễn".
"Phương Đông lướt ngoài cửa sổ" sẽ là một cuốn sách thú vị với những người ưa đọc chậm và thích nhâm nhi chi tiết, đặc biệt khi có thể so sánh những gì bạn biết và những gì Paul Theroux đã viết. 
* Những trích đoạn dưới đây thuộc về cuốn sách "Phương Đông lướt ngoài cửa sổ" (Nhã Nam phát hành) của tác giả người Mỹ Paul Theroux, do dịch giả Trần Xuân Thủy dịch từ nguyên bản tiếng Anh "The Great Railway Bazaar".
TÀU KHÁCH SÀI GÒN - BIÊN HÒA
Tôi rời toa riêng và di chuyển dọc đoàn tàu. Trên tàu chật ních người chen chúc, những người cụt chân cụt tay mà đốt cụt đã lên da, những binh sĩ mặc quân phục nhàu nhĩ và một ông già có bộ râu xơ xác, đứng chống gậy. Một người đàn ông mù đội mũ cao bồi bằng rơm đang chơi ghi ta và hát những điệu chói tai cho một nhóm lính nghe.
Nhưng đoàn tàu không hoàn toàn chỉ có những người hom hem và bị bỏ rơi. Ấn tượng trong tôi có trên chuyến tàu đến Biên Hòa, ấn tượng đã in trong tôi suốt thời gian tôi ở đây, là khả năng xoay sở của người Việt Nam. Dường như là không thể tin nổi, nhưng ở đây có những em học sinh gái đeo cặp sách, phụ nữ mang những bọc rau to bự, đàn ông xách gia cầm bị trói và những người khác nữa, đứng ở cửa của một thứ về cơ bản là toa vận tải, đi tới làm việc tại Biên Hòa.
Sau rất nhiều năm, người ta tưởng như họ sẽ gục ngã; đáng ngạc nhiên là họ còn hơn cả những người sống sót. Dù có những gián đoạn của cuộc chiến thảm khốc, họ vẫn kiên cường cứu vãn được cuộc sống hàng ngày: trường học, chợ búa, nhà máy. Đoàn tàu bị phục kích ít nhất mỗi tháng một lần, nhưng "vụ tấn công" được người ta nói đến với giọng điệu rằng không thể tránh được, như thể  đấy là gió mùa vậy. Nhưng những hành khách này vẫn thường nhật đi trên hành trình của mình. Đó là một hành trình nguy hiểm. Họ đã quá quen với nguy hiểm. Với họ cuộc sống chẳng bao giờ thay đổi và mối đe dọa từ quân địch cũng như thời tiết, đều có thể dự báo và không biến đối
TÀU KHÁCH HUẾ - ĐÀ NẴNG
"Chúa ơi, thật là một đất nước tươi đẹp", Hổ Mang Hai nói. Chị ta chụp ảnh bên ngoài cửa sổ, nhưng chẳng có bức ảnh nào có thể sao chép được sự đan xen phức tạp của cảnh đẹp đó: ở đằng kia, mặt trời chiếu sáng trên một hố bom trong rừng và cạnh đó khói tỏa khắp lòng thung lũng, cột mưa của một đám mây phù du đang đổ nghiêng xuống sườn núi khác; và màu xanh da trời phải nhạt đi trước màu lá cây xanh sẫm, màu xanh lá mạ trên những cánh đồng lúa non bằng phẳng, và qua một dải cát, màu xanh đó trở thành màu xanh thẳm của đại dương. Những khoảng không gian rộng lớn và phong cảnh mênh mông tới mức phải xem xét từng phần nhỏ một, giống như đứa trẻ ngắm một bức bích họa vậy.
Tôi nói, "Tôi chẳng biết nữa". Trong tất cả những nơi mà tàu hỏa đã đưa tôi đi qua kể từ London, đây là nơi thơ mộng nhất.
Hổ Mang Hai nói: "Không ai biết được. Không ai ở Mỹ có ý niệm dù là nhỏ nhất rằng đất nước này tươi đẹp ra sao. Nhìn kìa - Ôi trời, nhìn kia kìa!"
Chúng tôi đang đi trên viền một vùng màu xanh lá cây lung linh tươi sáng trong ánh nắng. Trên mảng biển nhấp nhô màu ngọc bích, những vách đá nhô ra, và cảnh tượng của một thung lũng rộng lớn tứi mức cùng một lúc chứa đựng được cả ánh mặt trời, khói, mưa và mây - những khối màu độc lập.
Tôi không thể ngờ lại được gặp một cảnh đẹp như thế này; nó làm tôi ngạc nhiên và thấy mình thật nhỏ bé cũng giống như khi tôi nhìn thấy sự trống trải ở vùng nông thôn Ấn Độ. Đã từng có ai nhắc đến một sự thật đơn giản, rằng những điểm cao ở Việt Nam lại chính là nơi có cảnh vật kỳ vĩ không thể tưởng tượng được? Khó mà trách một anh lính quân dịch Mỹ quá hoảng sợ nên không để ý đến vẻ tuyệt diệu này; nhưng ngay từ đầu chúng ta nên hiểu rằng, nếu vẻ đẹp viên mãn này không lôi cuốn những con mắt chiếm đoạt bên ngoài, thì có lẽ người Pháp đã không biến nơi này thành thuộc địa và người Mỹ cũng đã không tham chiến ở đây lâu đến vậy.
Vân Sam

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Giải mã những bí ẩn trong văn bia cổ nhất Việt Nam


06/10/2012 10:22:23
 - Sau một thời gian nghiên cứu, phân tích, những bí ẩn ghi chép trong tấm văn bia cổ được phát hiện tại Bắc Ninh (được xem là cổ nhất Việt Nam) đã được “giải mã”…
Bia cổ là minh văn “Nhân Thọ xá lợi tháp”

Đầu tháng 8/2012, Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh đã phát hiện và sưu tầm được hai cổ vật độc đáo ở chùa Thiền Chúng (Thuyền Chúng), huyện Long Biên, xứ Giao Châu xưa, trong đó có một tấm bia đá có từ năm 601, được đánh giá là cổ nhất Việt Nam. Đặc biệt là những văn tự ghi trên bia thuộc loại “khó hiểu” nên nội dung của văn bia viết gì vẫn là điều bí ẩn.

Tuy nhiên, tại một công trình nghiên cứu trình bày tại Hội nghị thông báo khảo cổ học toàn quốc mới đây, Thạc sĩ Phạm Lê Huy, Giảng viên Khoa Đông Phương học, Đại học KHXH&NV (thuộc ĐHQGHN) cho biết đã giải mã được những bí ẩn ghi trên văn bia.
Tấm văn bia cổ nhất được phát hiện tại Bắc Ninh được xác định là
minh văn "Nhân Thọ xá lợi tháp".
Theo Thạc sĩ Phạm Lê Huy, nội dung ghi trong văn bia gồm có tổng cộng 133 chữ, được chia làm 13 dòng. Sau khi giải mã chữ viết, có thể thấy nội dung văn bia trên như sau:

“1. Xá lợi tháp minh văn
2. Duy Đại Tùy Nhân Thọ nguyên niên tuế thứ Tân Dậu thập nguyệt
3. Tân Hợi sóc thập ngũ nhật Ất Sửu
4. Hoàng đế phổ vi nhất thiết pháp giới u hiển sinh linh cẩn
5. ư Giao Châu Long Biên huyện Thiền Chúng tự phụng an xá lợi
6. kính tạo linh pháp nguyện
7. Thái Tổ Vũ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng Hậu, Hoàng đế, Hoàng
8. hậu, Hoàng thái tử, chư vương tử tôn đẳng, tịnh nội ngoại thần
9. quan, viên cập dân thứ, lục đạo, tam đồ nhân, phi nhân đẳng
10. Sinh linh thế thế trị phật văn pháp, vĩnh ly khổ không, đồng
11. thăng diệu quả
12. Sắc tứ Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kỵ úy
13. Khương Huy tống xá lợi ư thử khởi pháp”.

Qua so sánh, có thể nhận thấy văn bia trên có nội dung về cơ bản giống với “Nhân Thọ xá lợi tháp” có niên đại 601 đã được phát hiện tại Trung Quốc.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, văn bia cổ ở Bắc Ninh vẫn có một số điểm khác biệt so với văn bia phát hiện ở Trung Quốc.

Trong văn bia cổ ở Bắc Ninh, dòng đầu tiên ghi chữ “Xá lợi tháp minh”, trong khi đó, một số minh văn phát hiện ở Trung Quốc lại ghi là “Xá lợi tháp hạ minh” hoặc không ghi tiêu đề. Vị trí khắc dòng tiêu đề cũng khác nhau ở từng bia, có cái ghi dòng đầu, có cái ghi dòng cuối.

Ngoài ra, trong khi các minh văn khác chỉ có phần chính văn thì ở văn bia cổ ở Bắc Ninh lại có ghi thêm phần chú thích “sắc sứ” là “Đại đức Tuệ Nhã pháp sư” và “Vũ kỵ úy Khương Huy”. Minh văn Thanh Châu (Trung Quốc), ngoài 2 “sắc sứ” là “Đại đức Trí Năng” và “ Vũ kỵ úy Lý Đức Kham còn ghi thêm tên 2 người tùy tùng (tòng giả) và 2 viên chức Tư mã và Lục sự tham quân của Thanh châu. Đối chiếu với chiếu thư của Tùy Văn Đế, có thể xác định: “Đại đức Tuệ Nhã pháp sư” và “Đại đức Trí Năng” là 2 trong số 30 sa môn được Tùy Văn Đế cử về địa phương, còn Khương Huy và Lý Đức Kham là 2 “tản quan” tháp tùng.

Bên cạnh đó, việc nắp bia và bia được kết dính bằng một chất đặc biệt cũng được phát hiện tại Trung Quốc. Sự thống nhất trong nội dung minh văn với các tấm bia tìm được tại Trung Quốc cũng như sự trùng khớp thông tin (ngày 15 tháng 10 năm 601, xây tháp tại chùa Thiền Chúng ở Giao Châu) với các tư liệu khác như “Quảng hoằng minh tập” và “Cảm ứng lục” có thể khẳng định: Tấm bia vừa được tìm thấy tại Bắc Ninh chính là minh văn “Nhân Thọ xá lợi tháp” được khắc cùng với sự kiện xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng ở Giao Châu năm 601.

Tư liệu lịch sử quý giá

Đánh giá về giá trị và ý nghĩa lịch sử của tấm văn bia cổ vừa được phát hiện và giải mã ở Bắc Ninh, Thạc sĩ Phạm Lê Huy khẳng định: Đây là nguồn tư liệu kim thạch quý giá, bên cạnh bia Trường Xuân và tấm bia phát hiện ở khu vực Vạn Xoan trước đây, đã giúp các nhà nghiên cứu rõ hơn về tình hình chính trị, quan hệ ngoại giao, lịch sử Phật giáo tại Việt Nam giai đoạn thời Tiền Lý. Liên quan đến lịch sử Phật giáo, nó còn giúp chúng ta nhận thức hoàn chỉnh hơn về hoạt động xây dựng tháp xá lợi và các tín ngưỡng xung quanh trong thời Tùy - Đường.
Bia cổ và liễn phát hiện ở Bắc Ninh được đánh giá là
nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý giá.
Không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam, tấm bia cổ Bắc Ninh cũng là nguồn tư liệu quý giá giúp nâng cao hiểu biết của giới học giả Trung Quốc và Nhật Bản về hoạt động xây dựng “Nhân Thọ xá lợi tháp” nói riêng cũng như chính sách Phật giáo của nhà Tùy nói chung. Cụ thể: Nó giúp xác định địa điểm xây dựng tháp xá lợi tại Giao Châu (chùa Thiền Chúng), sứ giả hộ tống (Tuệ Nhã pháo sư, Vũ kỵ úy Khương Huy), tái xác nhận cách thực hiện,…

Ngoài ra, tấm văn bia cổ ở Bắc Ninh cũng là tài liệu bổ sung cho nghiên cứu lịch sử giao thông thời Bắc thuộc. Cụ thể: Chiếu thư của Tùy Đế phát ra vào ngày 16 tháng 3, ước hẹn các địa phương cùng hạ thổ xá lợi vào ngày 15 tháng 10. Như vậy, nhà Tùy đã phải cân nhắc quãng thời gian cần thiết để sứ giả di chuyển từ kinh đo Đại Hưng (Trường An) đến các địa phương. Nói cách khác, quãng thời gian từ 124 ngày (kể từ ngày 16 tháng 3 đến 15 tháng 10) là quãng thời gian tối đa để di chuyển từ Trường An đến Giao Châu.

“Trước đây, qua nghiên cứu về trường hợp của khởi nghĩa Dương Thanh, chúng tôi đã tính toán di chuyển từ Trường An đến Giao Châu (An Nam Đô hộ phủ) mất khoảng 59 - 70 ngày nếu di chuyển bằng đường biển và dịch trạm, khoảng 124 ngày nếu di chuyển với tốc độ thông thường”, thạc sĩ Phạm Lê Huy cho biết.

Tuấn Linh

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Học giả Trung Quốc cũng chưa dám nhận Kinh Dịch của mình



Sau khi đọc bài "Kinh dịch là của người Việt" đăng trên Bee.net.vn, dịch giả Nguyễn Trung Thuần, nguyên là nghiên cứu viên ở Hội đồng biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (nay là Viện Từ điển học và Bách khoa thư thuộc Viện KHXH) đã gửi cho tòa soạn bản dịch mới nhất của bà liên quan đến vấn đề này. Đây là một bài đã được in trên "Thế giới những điều chưa biết" (phần lịch sử, khảo cổ), Nhà xuất bản Giang Tô, Trung Quốc, năm 2008. Đọc bài này ta sẽ thấy chính các học giả Trung Quốc hiện giờ cũng chưa dám khẳng định "Kinh dịch" là của đất nước họ. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Trong cổ thư Trung Quốc có nói “Bào Hy họa quái, Thần Nông tác giá, Hoàng Đế dư phục”. Có nghĩa là: Họ Phục Hy (tức Bào Hy) đã sáng tạo ra Bát quái, họ Thần Nông dạy mọi người trồng trọt, Hoàng Đế phát minh ra dư phục (tức thuyền xe và quần áo – ND). Còn có thuyết nói họ Phục Hy dạy cho mọi người cách nấu nướng thức ăn. Trồng trọt, thuyền xe, quần áo..., tất cả những cái đó đều liên quan đến cuộc sống thường ngày của con người, cho nên xưa nay người ta luôn tỏ ra hết sức sùng kính những người như họ Phục Hy... trong truyền thuyết. Vậy thì, Bát quái là cái gì, nó có công dụng gì, vì sao cổ nhân lại xếp nó vào hàng đầu của các loại phát minh sáng tạo?


                                Posted Image                          Bát quái 


Bát quái vốn có 8 loại đồ hình, được cấu thành từ 2 phù hiệu cơ bản âm dương gọi là hào dương và hào âm. Hai phù hiệu này dùng các hình thức khác nhau chồng liền 3 tầng, để cấu thành 8 loại đồ hình  (Càn), (Khôn),  (Chấn),  (Tốn),  (Khảm),  (Li),  (Cấn),  (Đoài), gọi là Bát quái.

Chúng đại diện cho 8 loại hiện tượng của tự nhiên là trời, đất, sấm, gió, nước, lửa, núi, đầm. Bát quái lại chồng tiếp lên thành từng cặp một, có thể tạo thành 64 quẻ. Quái tượng của 64 quẻ có các thuyết từ khác nhau, gọi là lời quẻ. Lời quẻ cộng thêm những lời văn có liên quan khác chính là nội dung cơ bản nhất của “Chu dịch” (hoặc gọi là “Kinh dịch”) trong “Tứ thư ngũ kinh”.

Bát quái được cấu thành từ các hào dương và hào âm cơ bản nhất, có thể đại diện cho trời và đất. Nếu suy diễn thêm nữa, thì lại có thể đại diện cho trong ngoài, nam nữ, cha mẹ, vua và hoàng hậu, cương nhu, lưng bụng, phủ tạng, cơ quan sinh dục của nam và nữ, cùng rất nhiều sự vật đối ứng với nhau khác không chỉ có liên quan đến các hiện tượng tự nhiên, mà còn liên quan đến cả các hiện tượng xã hội nữa. Kiến thức trong đó xem qua có vẻ đơn giản, nhưng kì thực lại hết sức sâu sắc. Trước một bộ “Kinh dịch” lấy lời quẻ làm nội dung cơ bản, có những người giải thích từ phương diện này, có những người phân tích thêm từ phương diện kia, có những người lại phát triển thêm từ một phương diện khác, để viết nên nhiều tác phẩm các dạng, viết thành mười mấy vạn lời, mấy chục vạn lời, thậm chí tới hàng triệu lời muôn màu nghìn sắc, thậm chí còn quái dị, khiến cho độc giả không hiểu nổi, có những chỗ còn đọc không ra, chẳng khác nào một cuốn sách trời.

Qua đây, người ta liền nảy sinh nghi vấn rằng chẳng lẽ một thứ phức tạp như vậy mà lại do một nhân vật trong truyền thuyết là Phục Hy sáng tạo ra?

Có người cho rằng, hình thức ban đầu là 8 loại đồ hình của Bát quái, rất có thể là các đồ hình văn tự thời thượng cổ, nó được diễn biến từ cách ghi chép kết thừng của người xưa. Vì thế Bát quái còn được gọi là Bát sách, “sách” nghĩa là “thừng sách” (dây thừng), tạo thành văn tự thì có thể ghi lại những sự vật đã gặp phải.


Như  (Càn) biểu thị trời, trời là che phủ khắp bên trên liền một dải, cho nên là 3 hào dương hoàn chỉnh; (Khôn) biểu thị đất, đất bị các con sông chia cắt thành từng mảnh, cho nên là 3 hào âm đứt đoạn;  (Khảm) biểu thị nước, tượng trưng cho sông chảy dưới lòng đất từ những khoảng đứt đoạn, chữ “thủy ()” trong văn tự tượng hình cổ đại đã được diễn tiến từ đó. 

Văn tự đồ họa là hình thức ở thời kì xa xưa nhất của văn tự Trung Quốc.. vì thế mà sáng tạo ra Bát quái chính là đã sáng tạo ra văn tự sớm nhất của Trung Quốc, mới đầu nó chỉ có 8 loại đồ hình, nhưng lại rất quan trọng, cho nên đã được xếp vào hàng đầu của các loại sáng chế phát minh thời thượng cổ.

Có những người không đồng ý với giải thuyết trên, họ cho rằng Bát quái có khả năng là do người triều Thương dùng giáp cốt để chiêm bốc, đã suy diễn từ các đường vân nứt do bị cháy trên mai rùa mà thành, đó là sáng tạo vào đời nhà Thương, chứ không phải là do Phục Hy sáng tạo ra vào thời thượng cổ theo truyền thuyết. 


                    Posted Image
                      Trong lòng bàn tay có bát quái thập nhị cung, còn gọi là chưởng bát quái 

Còn “Kinh dịch” thì rất có thể là tác phẩm của thời nhà Chu, rất khó hiểu, cho nên Khổng Tử thời Xuân Thu đọc “Dịch”, vi biên tam tuyệt, tức ban đầu đến cả Khổng Tử đọc cũng không hiểu, đọc đi đọc lại, khiến cho dây da trâu buộc thẻ tre bị đứt tới 3 lần. Cuối cùng khi đã đọc hiểu rồi, Khổng Tử đã chỉnh sửa thêm, và như thế, “Kinh dịch” liền trở thành kinh điển của Nho gia. Vì thế mà nói Khổng Tử đã có công sáng tạo lại “Kinh dịch”.

Cũng có những người cho rằng, Bát quái và “Kinh dịch” đại diện cho quá trình diễn tiến nhận thức của người Trung Quốc cổ đại đối với các hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội.. Đầu tiên có các hào dương và hào âm với phù hiệu đơn giản nhất, có thể nhờ vào đó để thuyết minh cho cái căn bản của mọi vấn đề trong trời đất. Sau đó phát triển thành 8 quẻ (Bát quái) có thể đại diện được cho 8 loại hiện tượng của thế giới tự nhiên. Rồi lại phát triển tiếp tám tám sáu mươi tư quẻ, có thể thuyết minh cho nhiều hiện tượng tự nhiên và hiện tượng xã hội hơn. Cuối cùng mới có “Kinh dịch” với các lời quẻ là chính, cấu thành một tác phẩm triết học có thể đại diện cho vũ trụ quan, nhân sinh quan... của người Trung Quốc cổ đại. Mỗi một giai đoạn phát triển đều không thể chỉ là sự sáng tạo phát minh của một người nào đó, mà là một quá trình diễn tiến có sự kế thừa và phát triển trước sau, liên tục không ngừng. Nói họ Phục Hy sáng tạo ra Bát quái kì thực là đã quá đơn giản hóa vấn đề này rồi.

Giải thuyết cuối cùng trong số 3 giải thuyết trên tuy khá hợp lí, nhưng nó đã phủ định giải thuyết “Bào Hy họa quái” đã được lưu truyền từ mấy ngàn năm nay ở Trung Quốc, nên lại rất khó lòng được mọi người tiếp nhận.

Rút cục Bát quái là do ai sáng tạo? Khi còn chưa tìm ra được lời giải đáp tốt hơn, thì vẫn đành phải dựa theo lời trong sách xưa mà qui công về cho họ Phục Hy theo truyền thuyết thôi.

Nguyễn Trung Thuần Dịch  

***

CHUYỆN NGUỒN GỐC KINH DỊCH NGƯỜI VIỆT NAM NÊN ĐỐI XỬ CÔNG BẰNG VỚI TỔ TIÊN

Người Trung Hoa đã có 2000 năm để nói Kinh Dịch là của họ,có hơn vài ngàn tác giả với hơn mấy ngàn đầu sách luôn luôn khẳng định điều này khiến nó đã thành một sự thật hiển nhiên khó ai cãi lại được.Nhưng ngày nay đã có những chứng cứ cho chúng ta thấy rằng nguồn gốc Kinh Dịch không thể tìm thấy ở Trung Hoa,mà Việt Nam mới chính là nơi khai sinh Kinh Dịch,mặc dầu những người bày tỏ quan điểm này chỉ đếm được trên đầu ngón tay,quả là “mãnh hổ nan địch quần hồ”nhưng chân lý không phải là dựa vào số đông.

Một người làm khoa học chân chính chỉ nên đưa ý kiến phản bác sau khi đã đọc kỹ quan điểm đối lập ,cân nhắc chính xác những bằng chứng họ đề ra xem chỗ nào mình đống ý ,chỗ nào không đồng ý,rồi chính mình phải trưng cho được những chứng cứ ngược lại để làm sáng tỏ vấn đề,không nên nói chung chung,nói theo cảm tính.Cho rằng Kinh Dịch là của Trung Quốc hay là của Việt nam là quyền của mỗi người,nhưng muốn bảo vệ niềm tin này phải dựa vào chứng lý.
Người Trung Hoa nói về nguồn gốc Kinh Dịch dựa trên những chứng lý nào?

1-Trước hết họ cho Phục Hy nhìn những đồ hình trên con long mã vẽ nên bát quái. Đây là sự bịa đặt chỉ hợp với những người mê tín, ưa sự huyền hoặc,thế mà cũng được vô số người tin như thật.Nhưng Phục Hy không phải là thủy tổ chính thống của người Hoa hạ,Phục Hy là tổ của một tộc trong đại chủng Bách Việt phía nam Trung Quốc, người Hoa mượn làm tổ của mình ,Tư Mã Thiên không đồng ý nên đặt Hoàng Đế ở đầu Sử Ký,vậy nếu Phục Hy có làm ra Bát quái cũng không thể nói là của Trung nguyên.Thừa nhận Phục Hy chế ra Kinh Dịch là người Hoa đã nhận Kinh Dịch là của dân Bách Việt,vậy sao cứ nói mãi Kinh Dịch của Trung Hoa và gọi đó là niềm tin chính thống.

Hoàng Tông Viêm (1616-1686) người ở cuối đời nhà Minh, đầu đời nhà Thanh đã cực lực phủ nhận vai trò của Phục Hy trong Kinh Dịch,sao người Việt Nam vẫn cứ tin!

2.Sau Phục Hy người Hoa cho là Văn Vương khi bị Trụ Vương cầm tù ở Dữu Lý đã nâng cấp 8 quẻ thành 64 quẻ và viết quái từ ,hào từ Kinh Dịch.

Người bịa ra thuyết này là Tư Mã Thiên, sử gia hàng đầu và uy tín của Trung Quốc.

Chính vì Tư Mã Thiên có uy tín nên lời nói của ông rất có trọng lượng và người ta đã theo đó mà tin không cần kiểm chứng.

Từ Văn Vương đến Tư Mã Thiên cách nhau hơn nghìn năm,trung gian có Khổng Tử cách mỗi ông chừng 500 năm.Khổng Tử rất tôn sùng Văn Vương từng ca tụng nhà Chu : “Ngô tùng Chu” (ta theo nhà Chu),thế mà Khổng Tử chưa bao giờ nói Văn Vương soạn Kinh Dịch,làm sao Tư Mã Thiên lấy chứng cứ đâu mà nói Văn Vương diễn Dịch nếu không bịa đặt. Ở đầu quyển Sử Ký,lương tri Tư Mã Thiên còn ray rứt nên ngần ngại chỉ đưa ra giả thuyết “có lẽ Văn Vương diễn Dịch”,nhưng gần cuối sách thì lại xác định hẵn là Văn Vương diễn Dịch,và nhiều người hùa theo đó mà tin.(Xin xem Khổng Tử học Dịch hay học Diệc-Anviettoancau.net,Kinh Diệc Văn lang-Dunglac.net).

Từ Tư Mã Thiên về trước trong sách vở thời tiên Tần chưa ai tìm thấy một lời ghi nào nói Văn Vương soạn Dịch,thuyết này chỉ có sau Văn Vương một nghìn năm làm sao tin được.

Kinh Thi là sách đại tụng Văn Vương, kể rất nhiều công tích của Văn Vương nhưng không hề đá động đến kinh Dịch,các con Văn Vương như Võ Vương,Chu Công dùng bói toán để cúng lễ Văn Vương nhưng chưa bao giờ nói Văn Vương bói Dịch chứ đừng nói đến chuyện Văn Vương soạn Dịch.

Bản thân Văn Vương là nhà chính trị,nhà quân sự không phải là nhà triết học,VănVương là người Hoa Bắc,nhưng Kinh Dịch có nhiều phương ngữ Hoa Nam không thể kết luận Văn Vương soạn Kinh Dịch.

Chính nhóm Ngô Bá Côn đã xác định điều này: “từ thời cận đại đến nay,cách nhìn nhận này đã bị các học giả phủ nhận”(Dịch học,nxb Văn Hóa –Thông Tin,HN 2003,tr.99)

Sách Tả Truyện dẫn nhiều câu chuyện bói Dịch nhưng không hề nói Văn Vương soạn Dịch.

Các nhà Dịch học Trung Quốc đầu thế kỷ XX đã có người muốn dứt bỏ Văn Vương khỏi vương quốc Kinh Dịch,nhưng có một số người nhiễu sự ưa chuyện huyễn hoặc cứ cố níu kéo Văn Vương,nhất là một số Dịch giả người Việt,cứ khư khư ôm chân Văn Vương chẳng rời một bước,tặng không cho ông cái ngai ngất ngưỡng không công mà hưởng.

3.Sau khi loại bỏ Phục Hy và Văn Vương,một số nhà Dịch học Trung Quốc lại cho rằng Kinh Dịch có nguồn gốc từ các nhà Vu Hịch là các quan coi việc bói toán (Cố Hiệt Cương,Lý Kính Trì),Kinh Dịch có các từ phán đoán giống các từ bói toán:cát,hung,hối lận,cữu, vô cữu ,nhiều lời Hào trùng hợp với lời bói,nhưng quan điểm này không mấy thuyết phục vì hai cơ cấu Dịch và bói khác nhau,bốc từ là những câu hỏi sẵn đưa ra để hỏi về một vấn đề mà người hỏi thắc mắc,câu trả lời là nhận hoặc phủ nhận,có hay không,còn hào từ phải tùy thuộc vị trí của hào,bản chất của hào,thời của quẻ.

4.Phát hiện mới nhất là quan điểm của Trương Chính Lương khi cho rằng nguồn gốc của quẻ Dịch đến từ quẻ số khắc trên Giáp cốt văn và Kim văn.Nhóm Chu Bá Côn cũng đã có ý kến về vấn đề này “Song dùng các chữ số trong phép bói cỏ như 1,5,6,7,8 v.v…không đủ chứng cứ để chứng minh tại sao trong kinh Dịch lại chỉ có 8 kinh quái và 64 biệt quái” (Dịch học,tr 63).

Sau cùng nhóm Chu Bá Côn kết luận : “Tóm lại, đối với việc tìm hiểu nguồn gốc của quái, hào tượng tuy đã có một số ý kiến có ảnh hưởng nhất định trong mấy năm gần đây,nhưng những điều được đề cập tới đều không ngoài hai loại tượng và số,vẫn chưa thể nói là đã có một đáp án được gọi là công nhận.Có lẽ trong tương lai gần,theo đà phát hiện tư liệu ngày càng nhiều,chúng ta sẽ có được một đáp án xác đáng”(Dịch Học,tr 63).Còn Vương Ngọc Đức thì bi quan hơn : “Cuộc tranh luận kéo dài hai ngàn năm vẫn không có câu giải đáp chính xác.Nếu vẫn theo phương thức tư duy của các học giả thời xưa,thì hai ngàn năm nữa vẫn chưa làm rõ được vấn đề.
(Bí ẩn của Bát quái-nxb Văn Hóa –Thông Tin,HN 1996,tr 27).

Như vậy, đối với vấn nạn nguồn gốc Kinh Dịch,các học giả Trung Quốc đành chịu “bó tay” không truy vấn được .Vậy thì người Việt Nam hà cớ gì cứ đi theo họ để xác nhận một điều họ đã phủ nhận,cứ trân trọng mãi cái họ đã ném đi.

Vậy để xác định Kinh Dịch có nguôn gốc từ Việt Nam chúng ta có những chứng cớ gì?

Năm 1970 Giáo Sư Kim Định đã dõng dạc tuyên bố “Kinh Dịch là của Việt Nam” trong tác phẩm “Dịch Kinh linh thể”,tiếp sau đã có nhiều người mạnh dạn đề xuất những chứng cứ như Nguyễn Xuân Quang,Nguyễn Vũ Tuấn Anh ,Trần Quang Bình ,Hà Văn Thùy,Nguyễn Quang Nhật,Nguyễn Việt Nho,Trúc Lâm…

Riêng cá nhân tôi từ năm 1999 đến nay tôi đã trình với công luận những chứng cứ khả dĩ chứng minh được Kinh Dịch là di sản của tổ tiên Việt Nam qua mấy điểm sau:
  1. Căn cứ vào những hoa văn trên đồ gốm Phùng Nguyên và đồ đồng Đông Sơn thì Việt Nam đã ghi khắc những quẻ Dịch trước Trung Quốc và sớm hơn chứng liệu của Trung Quốc (xin xem Phát hiện Kinh Dịch thời đại Hùng Vương-Thanhnienonline)
  2. Chứng liệu của Việt Nam trực tiếp từ tượng quẻ không phải qua suy luận từ số đến tượng như Trung Quốc.Có đầy đủ 8 quẻ đơn và một số quẻ kép trên đồ đồng Đông Sơn.Những quẻ này có thể đọc thành văn bản phản ánh tư tưởng quốc gia Văn Lang (Sứ giả Văn lang-Anviettoancau.net)
  3. Quẻ Dịch trên đồ Phùng Nguyên và Đông Sơn chứng tỏ hào dương vạch liền và hào âm vạch đứt của Trung Quốc là biến thể của Hào dương vạch liền và hào âm vạch chấm chấm của Việt nam,Trung Quốc đã nối những chấm âm lại thành vạch đứt để vạch cho nhanh (cải biên) (Chiếc gậy thần-dạng thức nguyên thủy của hào âm hào dương-Thanhnienonline).
  4. Các từ Dịch/Diệc,Hào,Càn,Khôn,Cấn, Chấn ,Khảm ,Ly,Tốn,Đoài chỉ là từ ký âm tiếng Việt(Bàn về tên gọi tám quẻ cơ bản của Kinh Dịch-Dunglac.net)
  5. Quan trọng nhất theo tiêu chuẩn tam tài Trung Quốc chỉ sử dụng Tiên Thiên đồ,Hậu Thiên Đồ mà không có Trung Thiên Đồ,một đồ cốt yếu đã được tổ tiên Việt Nam sử dụng để viết quái ,hào từ Kinh Dịch cũng như phân bố vị trí các quẻ . Đồ này được tổ tiên Việt nam dấu trong truyền thuyết,trên trống đồng nên có thể khẳng định Trung Quốc không thể nào là người khai sinh kinh Dịch (Trung Quốc đã công bố hơn 4000 Dịch đồ nhưng không có đồ nào phù hợp với Trung Thiên Đồ)(Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam-Thanhnienonline)
  6. Truyền thuyết Việt Nam một phần là những câu chuyện liên hệ với Kinh Dịch,như chuyện con Rồng cháu Tiên là chuyện của Trung Thiên Đồ,chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh là chuyện kể lại từ những lời hào quẻ Mông,người Trung Hoa chỉ cần thay đổi bộ thủy trong hai chữ “chất cốc” thành bộ mộc là đổi câu chuyện nói về lũ lụt thành chuyện dạy trẻ mông muội là xóa được gốc tích của Kinh.Truyền thuyết được lưu giữ chính là để bảo tồn Kinh Dịch.(Các bài trên Anviettoancau.net- cùng tác giả)
Trong một bài báo ngắn chúng tôi không thể trình bày hết mọi chứng cứ nhưng thiết tưởng bấy nhiêu đó cũng đủ để hy vọng các bậc thức giả Việt Nam nên xét lại vấn đề, cân nhắc phân minh trả lại sự công bằng cho Tổ Tiên ,thái độ “mackeno” của quí vị chỉ làm tăng thêm nỗi đắng cay chua xót của liệt tổ ở chốn u linh.Xin hãy chung tay làm sáng tỏ huyền án này.

Hởi ai có thấu lòng tiên tổ!
Xin giải oan cho “Giọt máu Rồng

Bị chú:
Bài này tôi viết để kỷ niệm 10 năm công bố chứng cứ chứng minh “Kinh Dịch là di sản sáng tạo của Việt nam”,xin trân trọng cám ơn các cơ quan truyền thông và quý độc giả đã hưởng ứng truyền đạt thông tin này (Nguyễn Thiếu Dũng).

Nguyễn Thiếu Dũng

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đón nhận bằng Di sản ký ức thế giới

2/10/2012 14:44

Lễ đón nhận bằng công nhận Di sản ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cho Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm sẽ diễn ra vào ngày 7/10 tới tại Bắc Giang.
Mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm (xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương hồi tháng 5 vừa qua.


Chùa Vĩnh Nghiêm hiện còn lưu giữ hơn 3.000 mộc bản kinh Phật, được khắc từ thế kỷ 16-19 để phục vụ đào tạo tăng ni phật tử thiền phái Trúc Lâm và cả nước. Mỗi bản có hai mặt, khắc chữ Hán Nôm âm bản (khắc ngược) gồm nhiều nội dung: y học, văn học, bùa chú, luật giới nhà Phật... Bản khắc lớn nhất có chiều dài hơn 1m, rộng 40-50cm với những chạm khắc hoa văn độc đáo.

Chùa Vĩnh Nghiêm được mệnh danh là “Đại danh lam cổ tự”, một trung tâm Phật giáo lớn nhất của thời Trần, một chốn tổ quan trọng của 3 vị Trúc lâm tam tổ (Trần Nhân Tông – Pháp Loa – Huyền Quang) từng trụ trì và mở trường thuyết pháp.
Mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm


Trong chuỗi hoạt động chào mừng sự kiện ý nghĩa này, tỉnh Bắc Giang cũng tổ chức lễ đón nhận Bằng Di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt cho cụm di tích lịch sử văn hóa gắn với cuộc khởi nghĩa Yên Thế.

Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế là nơi đã diễn ra cuộc khởi nghĩa nông dân chống Thực dân Pháp xâm lược kéo dài suốt 30 năm vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (1884 – 1913) do vị anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám lãnh đạo.

Cùng với đó, Bắc Giang cũng đón nhận Quyết định công nhận 16 xã thuộc huyện Hiệp Hòa là ATK II và tổ chức Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc tỉnh Bắc Giang lần thứ V với nhiều hoạt động phong phú kéo dài từ nay đến 8/10.
T.L

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Tính nhân văn trong ứng xử tôn giáo của người Việt


Ngày đăng bài Thứ Năm, ngày 05-01-2012

Chữ NHÂN: theo nghĩa sinh vật, nhân [] là loài người (= một loài động vật); theo nghĩa đạo đức, nhân [] là lòng thương người. Tại ý nghĩa này, chữ nhân sở hữu thêm nội hàm là lòng khoan dung, mềm dẻo và thái độ tôn trọng nhân vị người khác, gọi nôm na đó là thế ứng xử nhân văn!
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến thái độ nhân văn của chủ thể tư tưởng Việt Nam đối với các tôn giáo được du nhập vào nước ta.
Từ ban đầu, do điều kiện địa lý và phương thức sản xuất, dân tộc Việt đã hình thành cho mình một loại hình tín ngưỡng nông nghiệp, đó là thờ các thần thiên nhiên liên quan đến NƯỚC: thần Mây, thần Mưa, thần Sấm, thần Chớp. Đó là các hiện tượng tự nhiên biểu trưng cho NƯỚC - yếu tố quan trọng đứng đầu trong sản xuất nông nghiệp lúa nước (khác với lúa cạn): Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
Khi Phật giáo du nhập Việt Nam, ban đầu là từ Ấn Độ, tôn giáo này đã khoác lên mình các vị thần nông nghiệp kia bộ áo cà sa của Phật giáo, và bốn vị có “tên khai sanh” mới là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Rồi do những điều kiện khách quan của nghề trồng lúa nước: cậy dựa nhiều vào thiên nhiên, trông trời - trông đất - trông mây, trông mưa - trông nắng - trông ngày - trông đêm… hơn là chinh phục thiên nhiên, chất nhân văn đã trở thành một tính cách quan trọng trong ứng xử của người Việt Nam. Và vì đặc trưng cơ bản của tính nhân văn là lòng khoan dung, nên Phật giáo đã được dung hoà với tín ngưỡng bản địa để cho ra đời hệ thống Tứ Pháp như trên.
Do vị trí địa lý đặc biệt của Việt Nam là nằm ở ngã ba đường của các nền văn minh và đường giao thương quốc tế, nên các tôn giáo lớn đều có mặt ở Việt Nam. Sự gia tăng số lượng của các tôn giáo đã tạo nên một bức tranh tâm linh phong phú, nhiều sắc màu; nhưng một tình trạng khác cũng rất phổ biến trong lịch sử là các cuộc chiến tranh tôn giáo. Tuy nhiên, khả năng thứ hai này đã không xảy ra ở Việt Nam. Người đóng vai trò gìn giữ hoà bình ở đây là tính cách nhân văn Việt Nam, mà biểu hiện cụ thể của nó là lòng khoan dung tôn giáo. Đó là lý do tại sao các tôn giáo ngoại lai khi vào Việt Nam đều được bản địa hoá chứ không hề có chiến tranh tôn giáo.
Phật giáo, như nói trên, tuy đã khoác chiếc áo của mình lên tín ngưỡng bản địa để tạo nên hệ thống Tứ Pháp, nhưng thực chất những ngôi chùa thờ Tứ Pháp vẫn mang hình hài của những đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên của người bản địa với lối bài trí đặc trưng Việt Nam là “tiền Phật, hậu Thần”.
Tín ngưỡng cổ truyền đã mở rộng cửa cho Phật giáo bước vào như thế nào, thì đến lượt mình, Phật giáo cũng tiếp nhận Đạo giáo một cách vui vẻ như thế. Sau đó, tất cả đã cùng tiếp nhận Nho giáo, tạo thành quan niệm Tam giáo đồng nguyên và Tam giáo đồng quy[1].

Điển hình của tư tưởng dung hợp này được thấy ở vua Lý Nhân Tông (1066/1072-1127): đi đâu nhà vua cũng hay kề cận thiền sư Giác Hải và đạo sĩ Thông Huyền. Có lần vua thử tài hai vị, rất khâm phục nên làm thơ khen tặng rằng:
Giác Hải tâm như hải,
Thông Huyền đạo hựu huyền.
Thần thông kiêm biến hóa,
Nhất Phật, nhất Thần Tiên.

[Giác Hải lòng như biển,
Thông Huyền đạo pháp lại càng huyền diệu.
Đều giỏi thần thông cùng biến hóa,
    Một là Phật, một là Thần Tiên.][2]

Như thế, điều cần ghi nhận là vai trò của khoan dung tôn giáo, được chi phối bởi tính chất nhân văn. Chính nhờ chất nhân văn này, người Việt Nam đã tạo cho mình một nhãn quan tích cực để nhìn thấy những giá trị không thể phủ nhận trong các tôn giáo. Và như một hệ quả tất yếu, tinh thần nhân văn ấy đã trở thành “dung môi” cho một tổng mới mang đậm tính cách Việt: Tam giáo Việt Nam.
Đó chính là khả năng bản địa hoá của tinh thần nhân văn Việt Nam. Phật giáo đi vào Việt Nam đã không còn là Phật giáo nguyên thuỷ nữa, Đạo giáo và Nho giáo cũng thế. Ba trường phái tâm linh này đã mang thêm dòng máu Việt để trở thành một bộ phận gắn kết trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Muộn màng hơn, duy lý hơn, và cũng nhiều đoạn trường hơn, khi bước vào ngôi nhà tâm linh Việt với muôn sắc màu tôn giáo, Công giáo cuối cùng cũng mặc lấy một phần tâm hồn Việt với những ngôi thánh đường mái cong cong, những làn điệu thánh ca mượt mà cung điệu dân ca, và nhất là thánh tượng Đức Mẹ La Vang đầu đội khăn đóng tóc bỏ đuôi gà... Công giáo một thời tách biệt làng giáo - làng lương, nay đã thật sự bước vào lộ trình nhân văn Việt với quyết tâm mạnh mẽ: trở nên Giáo Hội Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt Nam[3].
Ở đỉnh cao của tinh thần nhân văn ấy là đạo Cao Đài. Nòng cốt của tôn giáo này là Tam giáo (Phật-Lão-Nho), nhưng đạo Cao Đài còn có ý muốn kết hợp “vạn giáo nhất lý và Thiên nhân hợp nhất”, hướng tới dung hợp tâm linh con người với tâm linh vũ trụ, dựa trên nền tảng là các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Tất cả những điều ấy đã làm cho Cao Đài trở thành một tôn giáo giàu chất nhân văn Việt Nam nhất. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Cao Đài được quốc tế nhìn nhận là tôn giáo khoan dung (tolerant) nhất thế giới[4].
Thật sự, ứng xử với lòng khoan dung là một lối ứng xử đầy chất nhân văn và trọng vị. Nhà tư tưởng Pháp Voltaire (1694-1778) đã từng cho rằng chia rẽ, bất hoà là những tai hoạ lớn nhất của loài người, và lòng khoan dung là liều thuốc để chữa tai vạ đó. Một tác giả khác cũng thế kỷ XVIII là Denis Diderot (1713-1784) đồng quan điểm: Thiếu khoan dung tôn giáo sẽ dẫn tới chém giết lẫn nhau…
Nhân văn Việt Nam đi vào các tôn giáo đã tạo nên những thế ứng xử khoan dung, hoà bình, mềm mỏng; đặc biệt với Phật giáo:NHÂN là cứu vớt trầm luân mọi loài.
Người Công giáo được mời gọi sống khoan dung, nhưng đồng thời cũng vẫn không ngừng tuyên xưng đức tin của mình vào Đức Kitô là Đấng cứu độ duy nhất của loài người!

Lm. Stêphanô Nguyễn Xuân Dinh
Nhịp Cầu Tâm Giao 4, NXB Phương Đông (3/2011), tr. 73-77

Nguồn: http://www.nhipcautamgiao.net/tintuc/285-tinh-nhan-van-trong-ung-xu-ton-giao-cua-nguoi-viet.html