Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013

Truy Tìm Gốc Tích Đôi Câu Đối Thiền Tông


Thú chơi hoành phi câu đối với thư pháp chữ Hán trong mấy năm gần đây đã khởi phát ở nhiều nơi  nhất là ở một số tỉnh phía bắc. Một người từ Hà Nội mang về đôi câu đối thư pháp viết mực tàu trên giấy dó. Mấy dòng chữ tuy không sắc sảo nhưng nét bút bay lượn lạ kiểu lại có đóng cả mộc triện son bên dòng lạc khoản khiến người mua không rành chữ Hán cũng lấy làm vừa lòng…

Tờ thư pháp trang trọng lồng trong khung kính treo ở phòng khách: Dưới chữ “trúc” viết thật to là hai câu thơ đối ngẫu viết hàng dọc theo lối xưa, từ phải sang trái:

Trúc ảnh tảo giai trần bất động,
Nguyệt luân xuyên hải thuỷ vô ...

Ở dòng thứ nhì, chữ “xuyên” tuy viết thiếu nét nhưng vẫn nhìn ra được, riêng chữ cuối câu thì không thể đọc. Chữ này gồm 2 phần; phần bên trái nét bút khá táo bạo và rõ là chữ “thực” phần bên phải không biết là chữ gì. Mãi băn khoăn nhìn mặt chữ để cố nhớ xem có chữ gì vần bằng mà lại thuộc bộ thực” đặt vào cho khớp ý của câu thơ ... “nhiêu” ư ? “man” ư?...“tu” ư ?.... tất thảy đều không được. Thật khó quá!…. Bộ chữ bên trái viết khá rõ, phút chốc làm ta quên mất một ngữ quen thuộc: “thủy vô ngân” : nước phẳng lặng mà không vết gợn... nhưng rồi cuối cùng thì cũng nhớ ra : “Nguyệt luân xuyên hải thủy vô ngân” .


Bức thư pháp chữ Hán
với đề tài  « TRÚC »

“Ngân”  là vết nhăn, vết sẹo, thuộc bộ “nạch”   bị viết nhầm thành bộ“thực” ; mà lại vì viết sai, đặt bộ “thực” vào bên trái. Bộ chữ này vốn đã có chữ “cấn” ở trong lòng rồi nên khi viết phần bên phải, đúng là phải viết chữ “cấn” nhưng vì không thể lặp lại lần nữa, người viết đành phải thêm vào một chữ gì đó rất khó đoán.

Định được mặt chữ rồi, cặp thơ đối trở nên hay quá.


Trúc ảnh tảo giai trần bất động,
Nguyệt luân xuyên hải thuỷ vô ngân.

HAI CÂU THƠ VỐN ĐÃ ĐƯỢC PHIÊN
THÀNH ĐÔI CÂU ĐỐI THẬT HAY CHO NHÀ CHÙA

Đọc “Những ngôi chùa Nam bộ - Chùa Hội Khánh” của Trần Kiêm Đạt (1) mới biết là ở thế kỉ XVIII câu thơ trên đã được phiên thành hai câu đốitreo ở phòng khách chùa Hội Khánh, một ngôi chùa ở Bọng Bầu, Phú Cường, Thủ Dầu Một, được lập từ năm 1741 đời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng nhị niên.
Câu đối như sau:


“Nhược thật, nhược hư, trúc ảnh tảo giai trần bất động,
Thị không, thị sắc, nguyệt xuyên hải để thuỷ vô ngân.”

Hai câu này đã được ông Nguyễn Quảng Tuân sưu tập và ghi lại trong“Những ngôi chùa danh tiếng” (2) và đã dẫn lời dịch của cụ Giản Chi: “Như thực như hư, bóng trúc quét thềm, bụi trần vẫn tạnh;

Là không là sắc, ánh trăng xoáy biển, sóng biển không nhồi”.

Rõ ràng người viết tặng đã thêm ý, thêm chữ vào thơ tạo nên cặp câu đối thật hay, làm tăng ý nghĩa, giá trị cho chùa. Người xưa quả là thâm thúy, lời ít ý nhiều, lấy việc nhãn tiền làm phương tiện giúp người đời hiểu đạo.

GỐC TÍCH CỦA HAI CÂU THƠ :
CÂU “NIÊM” MỞ ĐẦU CHO MỘT BÀI KỆ CỦA VUA TRẦN THÁI TÔNG.

Lục tìm thư tịch cũ thì hai câu thơ thư pháp trên cũng như câu đối ở chùa Hội Khánh đều xuất phát từ một bài kệ Thiền Tông trong Khóa hư lục. Đây là bộ sách cổ nhất còn lưu giữ được đến nay của Văn học viết nước ta.Khóa hư lục được viết trước khi lập chùa Hội Khánh đến 500 năm.Tác giả là vua Trần Thái Tông (tức Trần Cảnh). Nhà vua đã viết sách này trong những năm từ 1258 đến 1277, là thời gian sau khi nhường ngôi cho con rồi vào núi tu hành. Tên cuốn sách nói lên nội dung của nó: "Khoá" là học tập theo một khuôn phép, giáo trình đã định; "Hư" là trống rỗng. "Lục" là ghi chép. "Khóa hư lục" là một tài liệu được ghi chép nhằm luyện cho tâm người đọc được rỗng lặng, trong sáng, phá được chấp, hiểu được chân lý.

Nguyên các vua đời nhà Trần vừa trọng Nho học vừa trọng cả Phật và Lão. Đời Trần Thái Tông vua cho mở cả khoa thi Tam giáo. Sách Khóa hư lụcđã thể hiện quan điểm tam giáo đồng nhất thể : “…Hỏi chi đại-ẩn, tiểu-ẩn, chẳng kể tại gia xuất gia. Không nề tăng tục, chỉ cốt biện tâm. Vốn không gái trai, chẳng nên trước tướng. Người chưa tường còn chia tam-giáo. Liễu được thấu đều ngộ nhất tâm…”(3). Mở rộng chủ trương này, đoạn 38; quyển Thượng chép:

Tăng hỏi Tư Hòa thượng (4) về đại ý Phật pháp, Hòa thượng đáp: "Giá gạo ở Lư Lăng ra sao"? .
Đến đây sách nêu câu niêm (đề dẫn) trước khi tụng bài kệ 4 câu.

Niêm:

Trúc ảnh tảo giai trần bất động,
Nguyệt luân xuyên hải thuỷ vô ngân”

Dịch thơ :

Bóng trúc quét thềm - không vẩn bụi,
Vầng trăng xuyên bể - nước lồng gương.
(Nguyễn Cẩm Xuyên dịch)

Cố gò theo vần, câu thơ dịch quốc ngữ chưa thể làm rõ được hết ý thơ song đọc kĩ dòng thơ nguyên tác, suy gẫm ta thấy được chủ ý của hai câu thơ là nêu một thực tế cụ thể, vẽ nên một bức họa phong cảnh dùng làm đề dẫn “Bóng trúc quét qua thềm (mà) chẳng làm vẩn lên chút bụi nào – Vầng trăng xuyên xuống biển (nhưng) mặt biển vẫn phẳng phiu không mảy gợn”.

Tả để gợi: Bóng trúc, vẩn bụi trên thềm, vầng trăng, làn nước biển… đều rất sống động. Cảnh ngầm gợi một ý sâu xa về “sắc” và “không”. Bóng trúc lay động trên thềm…vầng trăng xuyên xuống nước là “sắc” - tưởng là hiện hữu đấy nhưng rồi chỉ là hư ảo, là “không”.

“Sắc tức thị không”…Ngộ được “sắc  không” thì tâm chẳng động. Tâm không động thì “không vẩn bụi” và “phẳng như nước lồng gương”. /.
CHÚ THÍCH:
(1) http://vn.360plus.yahoo.com/kienthuc-vanhoa.
(2) Nhà xb Trẻ ; 1990, tr 228 - Đào Nguyên; http://www.thuvienhoasen.org
(3) Khóa Hư Lục; quyển Thượng; văn Khuyên phát tâm Bồ-Đề.
(4) Tư Hòa-Thượng : Hòa thượng Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思; 660-740) là môn đệ hàng đầu của Lục tổ Huệ Năng. Sư họ Lưu, quê ở Cát Châu, An Thành. Nhân nghe Lục tổ dạy chúng ở Tào Khê, sư đến học; sau được Lục tổ cho về trụ trì chùa Tĩnh-Cư ở núi Thanh-nguyên thuộc Cát-Châu, nên có tên là Thanh-Nguyên. Sau khi viên tịch sư được vua Đường Hiến Tông ban hiệu là Hoằng Tế Thiền sư.
(Tạp chí KIẾN THỨC NGÀY NAY ngày 30/5/2010)

 


Nguyễn Cẩm Xuyên
Ngày đăng: 21.09.2012

Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19341

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013

Làm cách nào khơi dậy nền âm nhạc dân tộc Việt Nam?


Phỏng Vấn Gs. Trần Văn Khê

Âm nhạc dân tộc Việt Nam đang bị đẩy vào bóng tối để nhừơng chỗ cho các loại nhạc trẻ hiện đại mang âm hưởng Tây phương. Vì sao dòng nhạc truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc và chất chứa nhiều giá trị nghệ thuật đặc sắc, nay lại bị rơi vào quên lãng? Và làm cách nào khơi dậy nền âm nhạc dân tộc Việt Nam trong lòng thế hệ trẻ?

Mời quý vị cùng Trà Mi tìm hiểu trong loạt bài phỏng vấn với giáo sư - tiến sĩ Trần Văn Khê, một chuyên gia có rất nhiều công trình nghiên cứu về âm nhạc dân tộc truyền thống Việt Nam. Ông cũng là thành viên danh dự của Hội đồng Âm nhạc Quốc tế thuộc UNESCO.

Với vốn kiến thức sâu rộng và tấm lòng yêu âm nhạc dân tộc Việt Nam, sau hơn 50 năm định cư tại Pháp, Giáo sư Khê dự định sẽ trở về nước để truyền thụ sự am hiểu về âm nhạc và góp phần bảo tồn âm nhạc truyền thống.

Buổi nói chuyện hôm nay sẽ bàn về những giá trị độc đáo của âm nhạc dân tộc Việt Nam. Trước tiên, giáo sư Trần Văn Khê cho biết đánh giá của mình về nền âm nhạc cổ truyền:

GS Trần Văn Khê: Âm nhạc dân tộc Việt Nam đối với tôi có một giá trị thật lớn về chủ quan và khách quan. Bởi vì âm nhạc Việt Nam có những cá tính mà có thể không tìm ra đưọc ở những nền âm nhạc khác.

Mặc dù ở trong Á Châu, cạnh các nước Đông Á và Đông Nam Á, nhưng âm nhạc dân tộc Việt Nam không thể bị lầm lẫn với âm nhạc của Trung Quốc hay của Triều Tiên, Nhật Bản, hay Thái Lan, mà nó có 1 cá tính. Vì thế đối với tôi âm nhạc dân tộc Việt Nam có giá trị về khoa học-nghệ thuật rất cao....

Trà Mi: Những nét cá tính mà giáo sư vừa đề cập là gì thưa giáo sư?

GS Trần Văn Khê: Thứ nhất là những nhạc cụ nhạc khí dùng tuy phần lớn là từ bên Trung Quốc mang sang, nhưng đã từ 6-7 trăm năm nay đã được thích nghi theo thẩm mỹ của dân tộc Việt Nam. Cho nên đã biến thành nhạc cụ nhạc khí Việt Nam với các thủ pháp riêng biệt của Việt Nam.......

Trà Mi: Thưa, xin phép hỏi giáo sư âm nhạc dân tộc Việt Nam mình có những nhạc cụ nào được coi là độc đáo, đặc biệt đối với thế giới, và vì sao được đánh giá là đặc biệt. Xin giáo sư giới thiệu thêm. 

GS Trần Văn Khê: Nước Việt Nam có rất nhiều nhạc cụ đặc biệt mà trên thế giới không bao giờ có được, điển hình như Trống Đồng....

Ngoài ra có những cái đàn rất độc đáo như đàn bầu, mà đặc biệt nhất có lẽ là cây đàn đáy chuyên phụ hoạ cho ca trù...

Những nét đặc biệt của âm nhạc dân tộc không chỉ trong nhạc cụ, nhạc khí mà còn cả trong những thủ pháp dùng để đánh những nhạc khí đó....

Trà Mi: Vâng, thưa giáo sư nói rõ hơn về những nét đặc biệt trong thủ pháp như thế nào ạ?

GS Trần Văn Khê: Chẳng hạn cách đánh phách của ca trù là trên thế giới không bao giờ có ai có : một tiếng cao tiếng thấp, tiếng trong tiếng đục, tiếng tròn tiếng dẹp, tiếng dương tiếng âm.....

Trà Mi: Bàn về thang âm điệu thức thì âm nhạc Việt Nam có những bản sắc gì riêng biệt thưa giáo sư?

GS Trần Văn Khê: Những chữ nhạc không phải tĩnh và đóng như phương Tây, mà nó động mà mở.....

Tôi cho đó là ưu điểm trong tiếng nhạc của Việt Nam nghĩa là tiếng nhạc nó biến chuyển, nó hạp với nguyên tắc về triết học tức nguyên tắc dịch lý....

Trà Mi: Rất cảm ơn giáo sư đã cho biết những kiến thức khái quát về âm nhạc dân tộc và những nét đặc sắc trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Nguồn: vietcatholic

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2013

Giải bí ẩn về "Nỏ thần Liên Châu"


Cập nhật lúc 11:47 17/01/2013 (GMT+7)

Để tạo nên sức thần của nỏ Liên Châu, tướng Cao Lỗ đã chế ra lẫy nỏ có chốt giữ liên hoàn, một lần bóp cò bắn ra nhiều mũi tên, khiến địch khiếp sợ. 
Sáng 16/1, Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, UBND tỉnh Bắc Ninh và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học "Danh tướng Cao Lỗ thời dựng nước". PGS Lê Đình Sỹ, nguyên Viện phó Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam giới thiệu với hội nghị tham luận "Danh tướng Cao Lỗ với việc chế tạo, sử dụng vũ khí cung nỏ thời An Dương Vương".

PGS cho biết, theo sử cũ, nhân lúc nhà Tần suy yếu, Triệu Đà chiếm cứ ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận lập nước Nam Việt. Vào năm Tân Mão (210 TCN), khi Tần Thủy Hoàng mất, Triệu Đà phát binh xâm lược Âu Lạc. Quân xâm lược xuất phát từ Phiên Ngung (Quảng Châu) tiến vào nước ta theo đường sông Bạch Đằng và hành lang Đông Triều - Chí Linh. Hướng tiến công đúng theo dự đoán của tướng Cao Lỗ. Quân Triệu tràn ngập cả vùng lãnh thổ phía Bắc Cổ Loa, từ ven sông Cầu, vùng Tiên Sơn, núi Vũ Ninh (Bắc Ninh).

Tướng Cao Lỗ là người tổng chỉ huy toàn bộ quân đội Âu Lạc. Ông bố trí quân đội, trong đó có đội quân cung nỏ lợi hại ở những nơi hiểm yếu bảo vệ kinh thành Cổ Loa. Khai thác điểm yếu của giặc, quân dân Âu Lạc đã chủ động tiến công trên vùng đồi Tiên Du, khiến quân Triệu Đà khốn đốn.

 Lẫy nỏ thần. Ảnh tư liệu.

Cao Lỗ huấn luyện một vạn quân lính, lại làm được nỏ liễu, mỗi lần giương nỏ bắn ra được mười phát tên. Thứ vũ khí thần diệu này được sách Lĩnh Nam chích quái ghi: Sau khi giúp An Dương Vương xây Loa thành, rùa vàng từ biệt ra về. Trước khi chia tay, nhà vua cảm tạ nói "Nhờ ơn thần, thành đã xây xong. Nay nếu có giặc ngoài đến thì lấy gì mà chống?". Rùa vàng đã tháo chiếc vuốt của mình đưa cho nhà vua và nói "Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa". Vua sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt làm lẫy.

"Chuyện rùa vàng cho vuốt tất nhiên là hư cấu, thần thoại hóa, nhưng chuyện nỏ thần thì lại có thật", PGS Sỹ nói và cho hay, khảo cổ học đã cung cấp bằng chứng về sự tồn tại của "máy nỏ" thời Đông Sơn. Những chiếc lẫy nỏ Làng Vạc gồm bốn bộ phận đúc rời được liên kết lại bằng hai chốt hình trụ đã được phát hiện.

Lẫy nỏ là bộ phận quan trọng nhất của nỏ Liên Châu. Trong truyền thuyết, lẫy nỏ làm bằng móng rùa thần, nhưng theo các nhà nghiên cứu thì có thể rùa là con vật linh thiêng được cư dân Việt tôn thờ nên đã gắn sức mạnh của vị thần cho loại vũ khí "bảo bối" của mình nhằm làm tăng thêm sức mạnh thần kì của thứ vũ khí ấy.

Thực tế, lẫy có thể được chế bằng đồng, bằng sừng hoặc gỗ cứng, hình dáng của nó gần như móng rùa. Nó được cấu tạo với nhiều chi tiết lắp vào nhau nên chiếc nỏ còn được gọi là "liên cơ". Bình thường, dây nỏ được căng lên, cài lại, khi bắn thì dùng ngón tay kéo lùi nút lẫy để dây bật, đẩy tung những cánh tên lao như gió cuốn.

Theo người Cổ Loa kể, người ta đã đào được ở chân thành khu vực chợ Sa một ống đồng dài chừng nửa mét, hai đầu bịt kín, dọc thân trổ lỗ như cây sáo. Đây được đoán là bộ phận cài tên của chiếc nỏ bởi trước Cách mạng tháng Tám, ở Cổ Loa có tục rước nỏ thần, chiếc nỏ được làm bằng giấy, giữa thân nỏ để một cái ngáng bằng gỗ trên thân dùi nhiều lỗ, mỗi lỗ để một mũi tên. Cái ngáng tượng trưng bằng gỗ này có nét tương đồng với ống đồng đào được ở chợ Sa.

Để một lúc bật lẫy nỏ cho nhiều mũi tên cùng bay ra, có ý kiến cho rằng Cao Lỗ đã nghĩ cách làm rộng thân nỏ, xẻ chéo nhiều rãnh, đặt những mũi tên chụm lại để khi bật lẫy, mũi tên theo rãnh bay đi. "Những cứ liệu trên chưa đủ để người ta phục dựng được chính xác "nỏ thần" ngày xưa khiến cho giặc ngoại xâm khiếp vía, nhưng cũng đủ để khẳng định sự tồn tại thực sự của loại vũ khí đánh xa lợi hại do Cao Lỗ chế tạo", PGS Sỹ cho hay.

 Sơ đồ Cổ Loa. 

Bên cạnh phát hiện lẫy nỏ, hàng vạn mũi tên đồng cũng đã đào được ở Cầu Vực, sát chân thành ngoại Cổ Loa. Kho mũi tên đồng với hàng vạn chiếc, trọng lượng gần 110 kg. Đây là loại mũi tên ba cạnh, ba cánh đều nhau, có trụ thân, có chuôi, có họng tra cán và kích thước lớn, được chế tạo hoàn hảo, sắc nhọn. Mỗi mũi tên còn được cắm thêm chuôi bằng tre dài khoảng 1m, làm cân đối trọng lượng để tên bay xa và khả năng sát thương lớn.

Có chiếc lẫy nỏ được phát hiện gồm nhiều bộ phận như hộp cò, lẫy cò, hai chốt và thước ngắm. Gần đây, nhóm nghiên cứu của Bảo tàng lịch sử Quân sự và Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á cùng với nghệ nhân ở Hòa Bình đã phục dựng thành công chiếc nỏ Cao Lỗ sáng chế, tuy chưa được hoàn hảo như nỏ thần ngày xưa.

"Điều quan trọng nhất để tạo nên sức thần của nỏ Liên Châu là Cao Lỗ đã biết kỹ thuật chế ra những chiếc lẫy nỏ có chốt giữ liên hoàn để một lần bóp cò bắn ra nhiều mũi tên có sức xuyên tốt, vừa giết giặc vừa làm chúng khiếp sợ, đội ngũ rối loạn, tan rã. Đó là điều kỳ diệu bí mật của thứ binh khí thần diệu này", PGS Sỹ khẳng định.

Tham dự hội thảo, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tóm lược, Cao Lỗ Vương là danh tướng đã giúp vua Thục Phán An Dương Vương dựng nên nhà nước Âu Lạc, hiến kế dời đô xuống đồng bằng và giúp vua xây dựng thành Cổ Loa, chế nỏ liên châu một lần bắn ra nhiều mũi tên. Đây được xem là nỏ thần, thứ vũ khí thần dũng, vô địch để giữ nước với lời nói được truyền tụng "giữ được nỏ thần sẽ giữ được thiên hạ, mất nỏ thần sẽ mất cả thiên hạ".

"Cao Lỗ có tầm nhìn xa, tỉnh táo và đầy cảnh giác, đầy bản lĩnh để can ngăn nhà vua không sa vào quỷ kế của kẻ thù, dù rằng vì điều đó mà bị vua xa lánh. Nhưng khi đất nước bị xâm lược, Tổ quốc lâm nguy, Người lại ra phò vua, cứu nước, tử tiết để lại danh thơm muôn thuở cho hậu thế", Chủ tịch nước nói và khẳng định, danh tướng Cao Lỗ là một vị tướng, biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trong thời đầu giữ nước, được nhân dân sùng kính, thờ phụng ở nhiều nơi trong suốt hàng nghìn năm lịch sử.

Theo VNE
Nguồn: http://kienthuc.net.vn/di-san/201301/Giai-bi-an-ve-No-than-Lien-Chau-892005/

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

Khám phá lịch đoi của người Mường


Cập nhật lúc 11:01 11/01/2013 (GMT+7)
(Kienthuc.net.vn) - Theo lời của những thầy mo ở huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình thì đây là bộ lịch cổ xưa nhất của người Mường. Hiện nay, người Mường vẫn dùng song song 2 loại lịch là lịch tây và lịch thẻ tre.

Lịch đoi được làm từ 12 thẻ tre tượng trưng cho 12 tháng trong năm, trên mỗi thẻ tre được khắc 30 khấc tượng trưng cho 30 ngày. 

Bộ lịch cổ xưa nhất của người Mường

Mới sáng sớm mà thầy mo Bùi Văn Ểu ở xóm Lầm, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc đã chếnh choáng hơi men, lảo đảo bước đi trong màn sương mù bàng bạc. Ông khoe: "Theo lịch đoi, hôm nay là ngày đẹp, đứa cháu tao nó đi lấy chồng. Tao đến nhà nó cúng, báo cáo với tổ tiên để vợ chồng nó sống hạnh phúc với nhau đến già như mấy dãy núi Mường bi, như trái núi Cột Cờ".

Gặp chúng tôi, ông trách yêu: "Sư chúng mày! Sao không báo trước cho tao để còn chuẩn bị, giờ còn phải đi cúng mấy cái đám cưới sao có nhiều thời gian mà cà kê với chúng mày. Mà kể chuyện về lịch đoi thì cả ngày không hết". Nói rồi ông cất giọng ca mấy câu trong bộ sử thi "Đẻ đất đẻ nước" của người Mường và giải thích: "Lịch đoi có từ thuở đất còn bạc lạc, đá thì mới đẻ, con dân Mường Bi nhìn trăng đoán nắng, nhìn sao đoán gió, qua hàng trăm đời người mới làm ra được lịch đoi. Từ đó về sau, người Mường Bi đi cày đi cuốc, bắt tôm mò cá, dựng vợ gả chồng, ngày lành tháng tốt... cứ theo lịch đoi mà làm". 

Nói là cái thuở đất còn bạc lạc chắc chắn phải xa xưa lắm rồi! Người Mường Bi không ai còn nhớ nổi cái thuở đó cách ngày nay bao lâu... Chỉ có điều từ ngàn đời nay, người Mường bi vẫn cứ ca vang câu ca đẻ đất đẻ trời, trong đó có nói đến lịch đoi.

Sau khi cúng xong đám cưới, ông Ểu trở về nhà gặp chúng tôi và lấy trên ban thờ xuống một bộ lịch đoi trên 100 năm tuổi làm bằng cây tre già, thanh tre đen bóng như gỗ lim, rắn chắc như gỗ nghiến. Cầm trên tay 12 thẻ tre, mỗi thẻ dài 20cm, ông Ểu tự hào: "Đây là tinh hoa của đất Mường Bi" rồi giải thích cách mà thủy tổ người Mường Bi sáng tạo ra lịch đoi. 

Người Mường Bi cũng chia một năm ra thành 12 tháng. Hằng năm, các thầy mo có tài chiêm tinh thường lên ngọn núi Cột Cờ, hay ra khoảnh đất rộng, thoáng đãng... để nhìn sao đoi (sao tua rua). Tính từ đông sang tây, vào lúc trăng lên, nếu sao đoi vào trước mặt trăng thì năm tới sẽ nóng, hạn hán. Nếu sao đoi vào sau mặt trăng thì năm tới sẽ có nhiều mưa bão. Nếu sao đoi vào cùng với mặt trăng thì năm tới thời tiết ôn hòa, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu.


Lịch đoi thể hiện tài chiêm tinh, sự sáng tạo của người 
Việt cổ. 

Cách tính lạ

Dựa vào việc nhìn sao đoi, người Mường Bi có cách tính ngày tháng rất độc đáo. Trên mỗi thẻ tre được khắc 30 vạch, mỗi vạch tượng trưng cho một ngày. Tuy nhiên, trong số 30 gạch đó có vạch ngắn, vạch dài, vạch hình mũi tên, vạch có một hoặc hai dấu chấm ở trên...

Ông Ểu giải thích: "Trên lịch đoi, nếu thấy vạch nào hình chữ vê (V) thì gọi là ngày cá, vạch nào có một chấm ở trên thì gọi là ngày tiểu hao, hai chấm thì gọi là ngày hao, vạch hình mũi tên là ngày mưa bão. Số lượng và mật độ của các ngày này thay đổi theo từng tháng. Tháng nào thấy có nhiều vạch hình mũi tên thì tháng đó rất nhiều mưa bão, nếu gieo mạ, cấy lúa... vào những ngày mưa bão thì sẽ bị hư hỏng hết. Nếu vào ngày cá thì người dân đi đánh cá, mò cua bắt ốc sẽ được nhiều. Trong lịch đoi, tháng 1 là tháng có nhiều ngày cá nhất vì đó là thời điểm mùa cá đẻ. Nếu vào ngày hao thì người dân dù có buôn bán bốn phương, lắm của nhiều tiền thì cũng bị thua lỗ... Khi dựng vợ, gả chồng, người Mường Bi phải nhằm vào những ngày vạch ngắn, đó là ký hiệu của ngày bình thường có thể làm đủ mọi công việc mà không sợ bị thua lỗ, nhưng cũng không phát tài phát lộc được".

Bộ lịch đoi được gia đình ông Ểu lưu giữ đã hơn 
một trăm năm nay. 

Việc tính toán các ngày xấu, tốt trong tháng cũng được dựa trên việc quan sát sao đoi và trăng. Trong mỗi tháng được chia thành 4 tuần là tuần đoi, tuần cối, tuần cây, tuần lồm. Trong mỗi tuần, ngày nào sao đoi đứng ở phía trước mặt trăng là ngày nóng, đứng sau mặt trăng là ngày mưa, có ngày trăng lặn, ngày sao mờ... đó là những ngày xấu. Khi sao đoi đứng ở vị trí sát bên mặt trăng, ánh sao sáng rõ, nền trời trong thì đó là dấu hiệu của ngày tốt.

Ông Ểu  cho biết: "Đã là người Mường Bi thì nhà nào cũng theo lịch đoi. Hơn nửa đời làm thầy mo, tôi sử dụng lịch đoi như một thứ bảo bối để giúp dân làng biết được ngày lành tháng tốt để làm ăn, ma chay, cưới hỏi... Bên cạnh lịch đoi, người dân xứ Mường còn sử dụng lịch Tây, nhưng việc này chỉ để biết ngày tháng hành chính theo qui định của Nhà nước".

"Lịch đoi còn có tên gọi khác là lịch Mường, lịch đá. Đây là loại lịch của người Việt cổ, có lẽ xuất hiện từ thời kỳ Văn hóa Đông Sơn cách đây khoảng 4.000 năm. Lịch đoi không chỉ có ở xứ Mường Bi mà có cả ở Mường Vang, Mường Thàng, Mường động. Tuy nhiên đến nay chỉ còn đất Mường Bi giữ được phong tục cổ xưa này vì ở Mường Bi còn duy trì được một lực lượng đông đảo các thầy mo, thầy cúng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của cộng đồng. Lịch đoi chậm hơn lịch âm khoảng 15 ngày. Chính vì thế mà hiện nay người Mường ăn tết hai lần, một lần Tết Nguyên đán theo lịch âm, và một lần ăn tết theo lịch đoi. Đợt ăn tết thứ hai sau đợt Tết Nguyên đán khoảng 15 ngày gọi là ăn tết lại, tết đoi. Lịch đoi có ý nghĩa rất quan trọng đối với văn hóa Việt, nó thể hiện tài chiêm tinh của người Việt cổ thông qua việc quan sát sao, trăng để đoán ngày lành tháng tốt, thời thế, vận mệnh. Lịch đoi cho con người chỗ dựa niềm tin tạo thành sức mạnh giúp con người vượt qua mọi khó khăn, rủi ro".
TS Nguyễn Thị Ánh Hồng (Khoa Văn hóa Phát triển, Học viện Báo chí & Tuyên truyền)

Nguồn: http://kienthuc.net.vn/di-san/201301/Kham-pha-lich-doi-cua-nguoi-Muong-890719/

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

Phát hiện di cốt 3.500 năm ở Vĩnh Phúc


Cập nhật 11/01/2013 04:16:05 PM (GMT+7)
Phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Lân Cường, Phó Tổng thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam cho biết trong khi tiến hành khai quật tại Khu di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu, thị trấn Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, các nhà khảo cổ đã phát hiện được nhiều hiện vật có giá tri, đặc biệt là một ngôi mộ có di cốt người dưới độ sâu khoảng hơn 3m.
Nhận định ban đầu của các nhà khảo cổ học, di cốt này là một người đàn ông, chiều cao trên dưới 1,6m.
Cuộc khai quật do Hội Khảo cổ học Việt Nam phối hợp với Khoa Sử trường Đại học Khoa học xã hội Nhân văn cùng Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch Vĩnh Phúc thực hiện từ 10/12/2012 đến nay.
Bộ rìu đá thuộc văn hóa Phùng Nguyên. 

Đặc điểm của di cốt là có hốc mắt to, sọ và xương cánh tay, xương bả vai... còn nguyên. Răng cửa không còn nhưng theo giới khoa học thì người Phùng Nguyên trước đây, đàn ông tuổi trưởng thành có tục nhổ răng cửa.
Đó là một trong những cơ sở để có thể nhận định người đàn ông được khai quật vừa qua thuộc thời Phùng Nguyên, cách đây khoảng 3.500 năm.
Hiện các nhà khoa học phối hợp với ngành chức năng tỉnh đã vệ sinh hài cốt, bó gỗ và thạch cao bộ hài cốt, sẽ đưa về bảo tàng của tỉnh Vĩnh Phúc. Bên cạnh đó, tiếp tục mời các Viện nghiên cứu, giới khoa học và chuyên môn đo chỉ số, dựa trên các căn cứ khoa học để xác định rõ ràng, chuẩn xác hơn hài cốt nêu trên, tiến hành xử lý và bảo quản thật khoa học để giữ gìn lâu dài, phục vụ khách tham quan, nghiên cứu...
Nhiều hiện vật điển hình khác như rìu đá, bàn mài đá, vòng trang sức, chuỗi hạt bằng gốm, mũi tên đồng, đồ gốm, rũa đồng, các loại trang sức làm bằng sừng và xương các động vật... cũng được phát hiện trong đợt khai quật này và theo giới khoa học, các hiện vật thuộc tầng văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun và Phùng Nguyên.
Bước đầu giới chuyên môn phân tích và có nhận định trên cơ sở những hiện vật khai quật được, có thể nói Đồng Đậu không chỉ là một di tích có diện tích lớn mà còn là di chỉ có tầng văn hóa dày, hiện vật phong phú xếp hàng đầu ở Việt Nam, bao hàm cả 4 giai đoạn văn hóa thời Hùng Vương dựng nước, lớp dưới cùng thuộc văn hóa Phùng Nguyên, lớp giữa thuộc văn hóa Đồng Đậu, lớp trên thuộc văn hóa Gò Mun, lớp trên của ba tầng văn hóa này đã tìm thấy nhiều loại hình công cụ thuộc văn hóa Đông Sơn.
Di chỉ Đồng Đậu được phân chia rất rõ ràng. Phía Đông là nơi sinh sống, còn phía Tây Nam là nơi chôn cất của người Việt cổ thời kỳ Phùng Nguyên. Công việc khai quật ở đây sẽ được tiếp tục triển khai.
Theo Vietnamplus
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/104626/phat-hien-di-cot-3-500-nam-o-vinh-phuc.html

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2013

Thục Phán không phải là người xây Loa Thành?


Cập nhật lúc 13:30 07/01/2013 (GMT+7)

(Kienthuc.net.vn) - Theo chính sử từ xưa đến nay, người xây dựng Loa Thành và chế tạo nỏ thần là Thục Phán An Dương Vương. Tuy nhiên, theo cuốn cổ sử “Ngọc phả Hùng Vương” thì người xây dựng Loa Thành và chế tạo nỏ thần là Hùng Tuyền Vương. 


Tòa soạn xin giới thiệu bài viết này của nhà nghiên cứu Phan Duy Kha như một kênh tham khảo để các nhà khảo cổ, sử học, văn hóa học, dân tộc học… cùng có thêm ý kiến để làm sáng tỏ vấn đề.

Cổ truyền Ngọc Phả về các đời Vua Hùng

Ngọc phả Hùng Vương tên đầy đủ của nó là “Cổ Việt Hùng thị nhất thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyện” . Nghĩa là: Ngọc phả cổ truyền về 18 đời vua Thánh triều Hùng nước Việt cổ. Ngọc phả gồm 21 tờ, 42 trang chữ Hán tổng cộng gần 10.000 chữ. Do Nguyễn Cố, Hàn lâm viện trực học sĩ phụng soạn năm Hồng Đức nguyên niên (1470), Hàn lâm thị độc Nguyễn Trọng trùng đính vào ngày tốt tháng 10 mùa đông Canh Tý, Hoằng Định nguyên niên (1600). Lễ phiên Lê Đình Hoan thừa sao. Bản sao lưu tại nhà quan lang phụ đạo con cháu Hùng Vương cha truyền con nối là dân tạo lệ xã Nghĩa Cương và là Giám thôn Trung Nghĩa. Bàn này hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ.

Ngọc phả Hùng Vương từ xưa đến nay chưa ai dịch toàn bộ, mà chỉ dịch từng đoạn để sử dụng trong các bài viết. Gần đây, GS Ngô Đức Thọ, chuyên gia Hán Nôm mới dịch trọn vẹn.

GS Ngô Đức Thọ, người dịch trọn vẹn Ngọc Phả Hùng Vương. 

Chuyện tưởng chừng không phải bàn cãi

Xưa nay, sử sách của ta đều ghi rằng vua Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Đại Việt sử ký toàn thư và Lĩnh Nam chích quái đều ghi như thế. Đại Việt sử lược tuy không ghi cụ thể nhưng có câu: "Phán đắp thành ở Việt Thường, hiệu là An Dương Vương", thì người ta cũng hiểu, thành ở Việt Thường cũng là thành Cổ Loa. Những chi tiết như Rùa Vàng hiện lên bày cho vua cách xây thành, Rùa Vàng rút móng cho vua để chế tạo nỏ thần... đều được cho là xảy ra dưới thời vua An Dương Vương. Tuy nhiên, có một tài liệu không cho là như thế. Đó chính là Ngọc phả Hùng Vương. 

Theo Ngọc phả Hùng Vương thì việc xây thành Cổ Loa, chuyện Rùa Vàng bày cho vua cách xây thành, Rùa Vàng rút móng tặng vua làm lẫy nỏ đều xảy ra dưới thời Hùng Vương thứ 18, Hùng Tuyền Vương (sử sách của ta thường chép là Hùng Duệ Vương). Sau khi vua Hùng nhường ngôi cho vua Thục thì cũng tặng vua Thục chiếc nỏ thần, có lẫy làm bằng móng rùa, một  loại trang bị kỹ thuật hiện đại nhất, thứ vũ khí cực kỳ lợi hại thời bấy giờ.

Trang 19 trong cuốn cổ sử về Ngọc phả Hùng Vương.
 
"Linh hoa kim trảo thần nỗ"

Sau đây là câu chuyện xảy ra dưới thời Hùng Tuyền Vương, ghi theo Ngọc phả:

"Hùng Tuyền Vương hưởng nước 115 năm rồi nhường ngôi cho rể là Sơn Tinh Tản Viên. Sơn Tinh cố từ không dám nhận. Tuyền Vương nói:

-  Cơ đồ họ Hùng đã hết, khanh có thể lên thay. 

Tản Viên còn do dự chưa quyết thì Thục Vương (là chúa phụ đạo nước Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương) từ xa nghe tin Tuyền Vương nhường ngôi cho Tản Viên, bèn đem quân sang đánh Tuyền Vương để xâm chiếm nước Nam. 

Vua binh hùng tướng mạnh, Thục Vương mấy lần bị đánh bại. Vương bảo với Thục Vương: "Ta có sức thần, Thục Vương không sợ sao?".

Từ đó Tuyền Vương bỏ bễ, không chăm sửa sang võ bị, chỉ đam mê tửu sắc làm vui. Đến khi quân Thục kéo đến tận nơi, vua vẫn say mềm chưa tỉnh. Quân lính trở giáo đầu hàng quân Thục. 

Hùng Vương bèn đắp thành ở Việt Thường rộng nghìn trượng, khoanh tròn như hình con ốc, gọi là Loa Thành. Mới đầu thành đắp đến đâu đổ đến đấy. Bỗng thấy một con Rùa Vàng trên sông từ phía đông bơi đến, xưng là Giang Sứ. Hùng Vương lấy mâm vàng đặt rùa lên đấy rồi hỏi rùa vì cớ gì mà thành đắp cứ đổ mãi. Rùa Vàng đáp: "Đó là do quỷ hại. Phải trừ tinh khí của nó đi thì thành tự nhiên đắp xong" (1).

Thế rồi Tuyền Vương làm theo lời Rùa Vàng, trừ được tinh quỷ (chứ không phải tinh gà trắng như trong chuyện vua Thục sử sách vẫn ghi), quả nhiên, sau nửa tháng thì thành đắp xong. Rùa Vàng bèn từ tạ ra đi. Trước khi đi cũng rút một chiếc móng đưa cho Tuyền Vương để làm lẫy nỏ. "Tuyền Vương bèn sai bề tôi là Cao Lỗ chế nỏ thần, lấy chiếc vuốt thiêng làm máy, đặt tên là "Linh hoa kim trảo thần nỗ". Sau khi có nỏ thần, Hùng Tuyền Vương thu họp tàn quân, tuyển thêm dân binh, rồi sai người đưa thư cho Tản Viên, nói: "Thục Vương đem binh sang đánh, đã chiếm đô thành của ta, khanh mau đem quân đến cứu viện". 

(còn nữa)

Chú thích: (1): Những đoạn để trong ngoặc là nguyên văn Ngọc phả Hùng Vương, bản dịch của GS Ngô Đức Thọ.


“Tôi không phải là người thích những chuyện giật gân gây sốc. Vì vậy, với thông tin này tôi đã phải gác lại, mặc dù tôi đã tiếp xúc với bản dịch Ngọc phả Hùng Vương hơn một năm trời nay. Ngay gần đây, khi viết bài giới thiệu về Ngọc phả Hùng Vương đăng trên Báo KH&ĐS tôi cũng đã gác lại chi tiết này. Và, ngay trước khi gửi bài để đăng, tôi còn đến gặp GS Ngô Đức Thọ, người dịch Ngọc phả để ông xác nhận cho rằng, ông không nhầm lẫn. Tại tư gia của GS Ngô Đức Thọ, ông cầm bản chữ Hán Ngọc phả Hùng Vương dịch trực tiếp, còn tôi thì cầm bản in vi tính để so sánh. Những chỗ cần sửa, ông cầm bút mực màu đỏ, chữa lên bản in của tôi rồi ký tên bên cạnh. Ông bảo: Tôi xác nhận với anh là chính tôi sửa những chữ này, thế là được chứ! Và thế là tôi an tâm. Khi công bố những thông tin này, tôi trích dẫn Ngọc phả Hùng Vương nhiều hơn, cốt để thực sự trung thành với văn bản, không phải qua lăng kính cảm nhận hay suy luận chủ quan của ngườiviết”.


Phan Duy Kha
Nguồn: http://kienthuc.net.vn/di-san/201301/Thuc-Phan-khong-phai-la-nguoi-xay-Loa-Thanh-890254/

TIN LIÊN QUAN

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

Bé mê chụp ảnh



Mê chi cho khổ bé ơi.
Tìm cây, tìm cỏ, tìm người, tìm ta.
Một đời tìm mãi chưa ra!
*


Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Giáo dục 2013 sẽ hết lạc đường


  • 2/1/2013 03:33

"Năm 2013 tôi mong rằng hãy khai phóng một cuộc tranh luận rộng rãi để vạch ra đầy đủ triết lý lạc hậu đang chi phối giáo dục nước nhà; và tranh luận toàn quốc không cần kiêng dè để đi đến đồng thuận..." - GS Nguyễn Ngọc Lanh mong muốn.

Dưới đây là mong ước của đại diện giáo giới, nhà tuyển dụng, sinh viên...về 'bức tranh' giáo dục 2013. Còn đề xuất của bạn để giáo dục 2013 hết lạc đường?. Ý kiến gửi về bangiaoduc@vietnamnet.vn.
GS Nguyễn Ngọc Lanh: "2013 phải thống nhất được triết lí giáo dục..."
Năm 2013 tôi mong rằng hãy khai phóng một cuộc tranh luận rộng rãi nhất từ trước đến nay, để vạch ra đầy đủ thứ triết lý lạc hậu đang chi phối giáo dục nước nhà; và tranh luận toàn quốc không cần kiêng dè để đi đến đồng thuận về một triết lý tiến bộ, phù hợp.
Ảnh Lê Anh Dũng
Điều tôi trăn trở nhất trong 2012 là ta chưa chặn được cái đà xuống dốc của giáo dục nước nhà, giống như một cơ thể suy dinh dưỡng bị xử lý sai, do vậy thể trạng ngày càng suy sụp. Chúng ta có một số biện pháp đối phó với tình thế, thu được một số kết quả, nhưng vẫn chỉ là “rách đâu, vá đấy”, sửa cái ngọn.
Cần đổi mới mọi mặt, nhưng trước hết là đổi mới triết lý và mục tiêu. Đây chính là nguyên nhân khiến GD nước ta lạc hậu, lạc lõng và lạc đường.
PGS.TS – Nhà giáo ưu tú Trần Hữu Tá: "Mong nước mắt nhà giáo không chảy vào trong”
GDVN như một cơ thể mà “lục phủ ngũ tạng” đều có bệnh và môt số bệnh khá trầm trọng. Để phát triển GD, nhà nước cần chọn một vài trọng điểm đột phá, mang tính lan tỏa. Trước hết và chủ yếu cần sớm có kế hoạch cụ thể đổi mới toàn diện và triệt để GD như chỉ thị của Đảng đề ra...
PGS.TS – Nhà giáo ưu tú Trần Hữu Tá (Ảnh Lê Huyền)
Bước sang năm 2013, tôi mong được đọc một bản kế hoạch hoàn chỉnh, tích cực, sâu sắc về đổi mới GD, thấy được một vài hoạt động mang tính đột phá có tác dụng trông thấy được…để nhân dân yên tâm rằng, vấn đề đang triển khai có triển vọng và kết quả, đời sống GV phải thực sự được quan tâm. Cụ thể là GV sẽ được thưởng tết bình đẳng như cán bộ công nhân viên các ngành khác, chứ không phải là một sự chiếu cố trợ giúp.
Thầy Nguyễn Quốc Hùng - Trường THPT Nguyễn Khuyến TP.HCM:"Cần quan tâm hơn đến người thầy...."
Nghề giáo là một công việc rất đặc thù, người thầy dù nghèo khó nhưng trên bục giảng cần phải chỉn chu, tươm tất. Người GV không đòi hỏi có cuộc sống cao sang nhưng làm sao vừa làm tốt nghề mà vẫn duy trì được cuộc sống, do vậy người thầy cần được quan tâm nhiều hơn....
Thầy Nguyễn Quốc Hùng (Ảnh Lê Huyền)
Hiện nay, mức độ tôn trọng của phụ huynh với GV đang thấp dần. Xã hội tôn trọng nghề giáo không được mười phần như ngày xưa thì nên được một phần để người thầy đứng trên bục cảm thấy hạnh phúc vì được tôn trọng. Qua vấn đề này, nhà nước và các cơ quan cũng cần quan tâm vấn đề đạo đức học sinh hơn nữa; ngoài việc cải tiến các môn học chính, cần có cải tiến lại môn giáo dục công dân, giáo dục cho học sinh những điều gần gũi nhất.
Em Vũ Kim Khánh: "Quan tâm tới các học sinh vùng sâu, vùng xa
Là một học sinh ở thành phố, em thấy việc Bộ GD-ĐT cho dùng chung một cuốn SGK trong cả nước là hơi chênh lệch. Đối với những bạn ở thành phố dễ có điều kiện, thời gian và được đầu tư nhiều hơn nên cần được tăng cường học thêm môn chuyên về Toán, tiếng Anh…Trong khi đó ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, nhiều bạn mong muốn được đi học nhưng do không có điều kiện là một thiệt thòi lớn.
Vũ Kim Khánh
Theo Khánh, Việt Nam là một đất nước có nhiều nhân tài, nhưng điều kiện về học tập còn hạn chế, nhiều học sinh không có đủ tiền và điều kiện để theo học. Khánh mong nhà nước sẽ đầu tư cho các bạn miền núi nhiều hơn nữa, dù khó khăn, nhưng em vẫn tin và mong các bạn học tốt.
Mẹ thủ khoa Lê Dức Duẩn"Mong giới trẻ chọn được đường đi đúng đắn..."
Những ngày cuối năm, gọi điện cho Duẩn nhưng cô Thu - mẹ Duẩn cầm máy.Cô Thu phấn khởi cho biết: Duẩn nhờ rèn luyện và ăn uống điều độ trong môi trường quân đội đã lên được 7kg. Cô dù còn ốm cũng đã tăng được 1kg....

Hỏi cô mong ước gì cho năm 2013 tới, người mẹ chỉ cười “cô mong Duẩn phải cố gắng học tập để giữ được kết quả, không phụ lòng mọi người. Mong con sẽ luôn khắc cốt việc học để sau giúp người”.
Với các cháu và gia đình cô chỉ hi vọng dù không thi đỗ ĐH,CĐ nhưng các cháu biết chọn cho mình đường đi đúng đắn, học nghề cũng tốt miễn sau sớm có việc làm phù hợp để giúp gia đình.
Cô Thu cũng mong những hoàn cảnh khó khăn nhưng hiếu học sẽ luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ kịp thời của xã hội để sự học không bị đứt đoạn.
Ông Vũ Tuấn Anh, GĐ điều hành Viện nghiên cứu và đào tạo về quản lí:"Mong mỗi SV có khả năng là một lao động tự lập"
Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đào tạo cho doanh nghiệp, các tổ chức lớn trong và ngoài nước về công tác đào tạo SV - trong năm 2013 ông mong muốn giáo dục nước nhà cần cân nhắc khả năng thực hiện các nghiên cứu khoa học có tính chất ứng dụng thực tiễn cao.

Các thầy cô giảng dạy cần phải chủ động tham gia vào nghiên cứu và các hoạt động tại doanh nghiệp. Bản thân các thầy cô cần phải là những đầu tầu kết nối với các đơn vị bên ngoài. 
Các chương trình đào tạo tại đại học tập trung dạy cho các bạn sinh viên về khả năng tư duy hệ thống, phương pháp luận và giải quyết vấn đề, sáng tạo, tư duy độc lập. Dựa trên những điều đó người sinh viên sẽ trở thành chủ thể học tích cực thay vì là chủ thể học bị động như hiện nay...
  • Văn Chung - Lê Huyền (ghi)
  • Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/103342/giao-duc-2013-se-het-lac-duong.html