Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

“Phố ông đồ hay chợ buôn chữ”?

Thứ 2, 4/2/2013, 6:0 GMT+7

“Tôi không gọi đó là phố ông đồ, mà là những chợ chữ khiến hình ảnh ông đồ trở nên tầm thường, mất thiêng”, thạc sĩ ngành văn hóa Nguyễn Hiếu Tín.





Sắc màu Tết đã bắt đầu tràn khắp phố phường Sài Gòn, trong đó phố ông đồ là một trong những hình ảnh đặc trưng. Nhìn ở góc độ tích cực, nét văn hóa truyền thống này cho thấy sự bén rễ vào tâm thức của những người trẻ hôm nay. Khi họ tìm thấy ở thư pháp chữ nghĩa một cách riêng cao nhã để bày tỏ những tình cảm, suy nghĩ hay ý chí tu thân lập nghiệp. Nhưng cũng bởi đã làm thành phố xá, ồn ào bán buôn nên cũng lắm chuyện không hay xảy ra.

Hình ảnh phố ông đồ Tết 2013 trước cổng Cung văn hóa Lao Động. 

Nhân dịp này, VietNamNet đã có cuộc trò chuyện với Th.s Nguyễn Hiếu Tín, trưởng bộ môn Việt Nam Học của Đại học Tôn Đức Thắng. Anh cũng là người có nhiều nghiên cứu về thư pháp đã được xuất bản, công bố, bên cạnh các hoạt động thực hành thư pháp và triển lãm. 

Mỗi độ xuân về, người Việt thường đi xin chữ thư pháp từ các thầy đồ. Từ đâu mà dân tộc có phong tục tốt đẹp này, thưa anh?

Dân tộc Việt có nền văn hóa kính chữ, trọng chữ và truyền thống hiếu học. Ông cha xem chữ là của bậc thánh hiền. Những người có văn hay chữ tốt, viết chữ đẹp luôn được cộng đồng quý trọng. Từ đó mà nảy sinh chuyện viết câu đối ngày Tết, đi tìm chữ đem về treo ở phòng khách với tấm lòng thành kính, chứ không chỉ tìm may mắn. 

Khác với một số nước trong khu vực, ông đồ Việt phóng bút cho chữ và người nhận chữ cùng tham gia vào một trò chơi mà cả hai phía tạo cảm hứng cho nhau. Do vậy, thư pháp Việt trọng ở cái tình và thuộc về dân gian. Người Việt cho và tặng chữ để bày tỏ tình cảm. Trong khi ở Nhật hay Trung Quốc, thư pháp chỉ dành cho giới quý tộc và trí thức, mang nặng tính trình diễn và đẩy nghệ thuật lên rất cao, có người cả đời chỉ học viết thư pháp cho đúng một chữ.

Trong cảm nhận của anh, việc thực hành thư pháp chữ Hán Nôm và thư pháp chữ quốc ngữ với ký tự La Tinh có điểm chung và sự khác biệt nào về mặt cảm xúc nghệ thuật và hình thức thể hiện? 

VN với một lịch sử bị đô hộ và đấu tranh giành độc lập đã để lại một hệ quả khá lạ. Ngoài những gì để lại trên trống đồng Đông Sơn hay bãi đá cổ Sapa…khiến giới nghiên cứu đặt giả thiết về một loại văn tự tạm gọi là Hoa Đẩu tồn tại trong lớp văn hóa bản địa, ở VN tồn tại 3 loại văn tự dưới dạng văn bản gồm: chữ Hán thời Bắc Thuộc, sau được sáng tạo ra thành chữ Hán Nôm dưới sức mạnh tinh thần dân tộc của tầng lớp trí thức, cuối cùng là chữ quốc ngữ. 

Thư pháp là sự bày tỏ tinh thần, tình cảm chủ quan từ phía người cho lẫn người nhận, nhưng khái quát hơn, nó thể hiện tinh thần của thời đại. Thư pháp chữ quốc ngữ tương ứng với thời đại ngày nay, vậy nên cũng có sự khác biệt so với thư pháp chữ Hán Nôm. Một bên là chữ tượng hình, một bên là chữ dùng một chuỗi ký tự để ký âm. Chữ tượng hình có lợi thế lớn về nghệ thuật, nên xét về hình thức, thư pháp Hán Nôm chắc chắn đẹp hơn về hình thể. Cả hai chỉ có điểm chung là tinh thần của việc viết thư pháp. 

Khi tôi làm luận văn về thư pháp, có ý kiến phản đối thư pháp chữ quốc ngữ vì cho rằng ký tự La Tinh thì làm gì có thư pháp. Tôi đi tìm hiểu và phát hiện bất cứ dân tộc nào có chữ viết thì đều có thư pháp. Ta phải hiểu thư pháp theo nghĩa phổ quát là nghệ thuật viết chữ đẹp. Có thể nói VN là nước đầu tiên dùng bút lông để viết thư pháp ký tự La Tinh. Bởi trước khi có chữ quốc ngữ, cha ông ta cũng dùng bút lông để viết. 

Tôi không giải thích được về mặt khoa học. Bản thân việc viết thư pháp chữ quốc ngữ cũng do người viết và người nhận đều không còn hiểu chữ Hán Nôm, trong khi công cụ và bút pháp – tức cái hồn của thư pháp như cách gọi của thi sĩ Vũ Đình Liên trong bài “Ông đồ” – vẫn không hề mất đi. Nếu ngoài miền Bắc còn ưa chuộng thư pháp chữ Hán thì ở miền Nam thiên về chữ quốc ngữ. 

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Tín, sinh năm 1980, người có nhiều nghiên cứu và đam mê trong lĩnh vực thư pháp Việt. 

Nếu như việc viết chữ quốc ngữ có thể nâng lên thành nghệ thuật thư pháp thì hẳn các thầy đồ ở thế kỷ 20 đã làm, nhưng thực tế nó chỉ xuất hiện ở đầu thế kỷ 21…

 Sử liệu ghi lại từ thập niên 30 – 40 của thế kỷ 20, nhà thơ Đông Hồ đã bắt đầu thử nghiệm viết thư pháp chữ quốc ngữ trong bối cảnh giao thời giữa cái mới và cái cũ. Ông am hiểu chữ Hán đồng thời cổ súy cho chữ quốc ngữ. Khi sáng tác thơ bằng chữ Hán, nhân tiện ông dùng cây bút lông viết thử nó ra bên cạnh bằng chữ quốc ngữ. Nhiều người lại thích vì họ không hiểu chữ Hán. Ông viết tặng cho bạn bè và được nhiều người bắt chước. 

Tuy nhiên, những thử nghiệm này vẫn nằm trong cuộc chơi tự phát giữa các nhà thơ, bạn thơ, không thành lập thành phong trào gì hết. Mãi dài cho tới năm 2000, kiến trúc sư Nguyễn Thanh Sơn mới là người đầu tiên lập ra câu lạc bộ thư pháp chữ Việt, mở ra phong trào như đã thấy hiện nay. Có thể khi hội nhập càng nhiều, thì nhu cầu quay về tìm lại bản sắc của con người ta càng lớn.

Mỗi dịp Tết gần đây, Sài Gòn thường có những phố ông đồ mở ra để mua bán thư pháp. Phải chăng chúng ta đang thương mại hóa một di sản tinh thần của cha ông?

Số lượng ông đồ xuống phố ở Sài Gòn là khoảng 200 ông đồ. Nhà văn hóa Thanh Niên và Cung văn hóa Lao Động mỗi nơi 60 người, Galaxy khoảng 30 người, ngoài ra còn có các trung tâm văn hóa quận, huyện. Chưa kể các ông đồ tại gia và tại chùa. Muốn hay không chúng ta cũng phải chấp nhận đó là một nhu cầu để con người bày tỏ tình cảm. 

Tôi là người hơi cổ hủ. Năm 2006, tôi tiên phong đưa ra mô hình phố ông đồ trình lên Ban giám đốc NVH Thanh Niên. Mô hình của tôi hơi lý tưởng: mỗi năm chọn lọc khoảng 15 ông đồ viết chữ thật đẹp, kêu gọi nhà tài trợ dựng không gian cho chữ cổ kính, trả lương cho ông đồ và đặt ống heo kêu gọi ủng hộ. Nhưng họ rất nhạy kinh doanh nên chuyển qua hình thức cho thuê diện tích, mỗi chiếu 2x2m có giá 2,5 triệu một ngày, khoảng 30 người đăng ký trong năm đầu. 

Tôi không gọi đó là phố ông đồ, mà là những chợ chữ khiến hình ảnh ông đồ trở nên tầm thường. Những mua bán mặc cả ở đây cũng giống như chuyện trùng tu di tích, người ta đập bỏ cái cũ đi để làm cái mới. Nhưng không trách được. Những ông đồ ngày xưa tương đối biết chữ, cho dù họ có thi rớt. 

Ông đồ ngày nay rất ít người có học, nhiều người vì thất nghiệp, thi rớt mới đi làm ông đồ. Tôi không nói văn hóa tương đồng với học vấn, nhưng khi học vấn thấp, các ông đồ viết sai chính tả rất nhiều, chủ yếu đánh vào thị hiếu trong bối cảnh nhiều người xem chưa biết phân biệt chữ đẹp – chữ xấu. Chưa kể đến chuyện chuộng hình thức, tạo ra những kỷ lục cho thư pháp. Nhưng dù sao, việc mua thư pháp là một hành động văn hóa, đỡ hơn sa vào những thú vui xấu.

Hoạt động mua bán thư pháp tại một phố ông đồ năm 2013. 

Trong bối cảnh phần lớn người Việt không còn sống trong môi trường làng, xóm cách biệt như thời cha ông, các trường học cũng không đào tạo ai đó trở thành ông đồ. Vậy làm thế nào để gọi một người là ông đồ? 

Gọi ai đó là ông đồ quả thật hơi khó. Hiện chúng ta cứ thấy ai viết chữ thư pháp thì gọi là ông đồ. Nhưng về bản chất, ông đồ chính là người dạy học, một nhà giáo trong làng xã. Nhưng hiện không phải ai là ông đồ cũng là nhà giáo.

Nếu nhìn những nội dung thư pháp bán chạy hoặc được yêu cầu nhiều nhất hiện nay, như tấm gương phản chiếu tâm trạng xã hội, thì tấm gương này đang nói lên điều gì, thưa anh?

Những nội dung thư pháp bán chạy thường tập trung vào những câu về đạo đức, nhân nghĩa và một phần tài lộc. Đối với viên chức, nhà giáo, họ chọn những câu phúc đức, người kinh doanh chọn tài lộc, nhóm thứ ba tạm gọi là có tri thức chọn những câu học làm người như chữ tâm, nhẫn…Đa số chọn những câu tốt đẹp, mang tính giáo dục, răn dạy truyền thống trong gia đình. Đôi khi là những câu thể hiện khát vọng khi xã hội không được lý tưởng như mong muốn.

Anh dự cảm thế nào về con đường sắp tới của thư pháp Việt? 

Chắc chắn là thư pháp Việt vẫn phát triển. Hiện nay người ta vẫn gọi là đã bão hòa, do nó quá nhiều và không còn giá trị thiêng như 5 – 7 năm trước. Tình hình bão hòa này có ưu điểm là nhiều người đã biết và giới truyền thông, giới học thuật khó tính đã chấp nhận nó. Trong tương lai, tôi nghĩ nó vẫn tồn tại và có sự chọn lọc. Bởi xuất phát điểm quá thấp, mới có hơn 10 năm, trong khi thư pháp Trung Quốc có lịch sử hàng ngàn năm, nên thực tế, thư pháp chữ Việt còn đang định hình.

Xin cảm ơn anh

Minh Chánh thực hiện
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/108036/-pho-ong-do-hay-cho-buon-chu--.html

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Phát hiện mặt trống đồng Đông Sơn 2000 tuổi


Thứ 6, 1/2/2013, 15:22 GMT+7
Ông Lê Bá Hạnh, PGĐ Bảo tàng Hà Tĩnh cho biết mặt trống đồng Đông Sơn vừa được phát hiện rất độc đáo, có niên đại cách đây khoảng 2000 năm.

Chiếc mặt trống đồng được ông Hồ Hải Nam (ngụ ở xóm Yên, xã Thuần Thiện, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh) phát hiện trong quá trình đào đất tại khu vực vườn nhà. Mặt trống nằm sâu dưới lòng đất gần 1m. 

Mặt trống đồng rộng hơn 40cm, trọng lượng khoảng 3-5kg, nổi bật với nhiều họa tiết chạm khắc tinh xảo đẹp mắt. Từ trong ra ngoài có tất cả 9 vòng hoa văn đồng tâm bao bọc lấy nhau. 

Phần giữa mặt trống là đường tròn rộng hơn 10cm, bên trong chạm nổi hoạ tiết hoa văn ngôi sao hình mặt trời 10 cánh, xen giữa được điểm xuyến bằng những đường vạch chéo có hình tam giác lồng vào nhau, bao xung quanh tâm là vòng tròn chạm khắc hoa văn hình chữ J gãy khúc còn lại là biểu tượng khắc nổi hình 3 con chim Lạc đang bay theo chiều ngược kim đồng hồ. 

Tiếp đến là các đường viền tròn kích cỡ nhỏ, to khác nhau được chạm nổi các họa tiết hoa văn như xoắn ốc hình quả Trám, răng cưa và các vạch ngắn song song đều nhau. 

“Đây là mặt trống đồng Đông Sơn rất độc đáo, quý hiếm lần đầu tiên được phát hiện tại Hà Tĩnh với niên đại cách ngày nay khoảng hơn 2.000 năm”, ông Lê Bá Hạnh, Phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh nói.

Hiện vật này thuộc vào loại trống đồng Đông Sơn Heger II, nhóm B. Tuy nhiên, rất tiếc do nằm dưới lòng đất đã quá lâu khiến một phần bị oxy hoá hoen gỉ không còn nguyên vẹn nữa, nhất là trên mặt trống vẫn còn lại 2 biểu tượng nổi bị nhoè, có thể là hình khối con cóc…

Duy Tuấn
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/108011/phat-hien-mat-trong-dong-dong-son-2000-tuoi.html

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

Than Thân Trách Phận - Hoài Linh

           


Hoài Linh hát giọng Quảng Nam


Đăng bởi: doccosi
thân này, trách thân này,thân tui chớ sao lận đặng này,mình này ,trách mình này,số phận chớ sao hẽm hiu,chớ bởi thân tuj,tuj cực khổ tuj eo nghèo nên vợ tuj nó mới không ở nũa mà nó theo cái nẫu rùi,em ơi chớ bây giờ mà em ở kìa nơi đâu,chớ để cho anh,anh trong đứng nửa,trong ngồi,rầu canh kia chớ hồi nèo,wa phú lỡ en ấu chua chớ xuống Đại Lãnh uống nước mua chớ wa hòn chùa ăn mực gê nan,chớ bây giờ em ko ngó nữa,em ko ngàn đến chồng nghèo nó cực khổ mà gjang nan ,nó cơ hàn,hầu nào chớ e thất nghiệp e d9j làn thang,chớ a thấy e nũa,tội nghiệp,a dj mang a nuôi rầy,chớ hầu nào e bán nước đá,cái rầu a đi may,2 đứa mình này chung sống chứ ko biết ngày,rầu mai sau chứ hầu nào,e béc ốc rầu a hái rau ư,bây giờ e đỡ lại mẫu sầu cho ư hoa,chứ hầu nào trái chuối chìn cũng cén làm 3,chứ trái cam tươi cũng cén làm 4 nữa trái cá cũng cén lam 5,chứ bây giờ e lấy nẫu,chớ e ăn nèm e bỏ hoa,chớ hoa hju quạnh dì nam canh hoa 1 mình, a bây giờ khóe mắt sầu cứ rụng rinh,có giọt lợ giọt lợ than,như nươc trong bình nó tuôn ra,a bây giờ như con cuốc nó kêu tù wa chớ nó lẽ đâu nó lẽ ban wo7 chú cha ơ là buồn.....
*

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Đôi điều về chữ Nôm và giọng Quảng Nam (phần 1)


Giao Duyên xin chân thành cám ơn tác giả Nguyễn Cung Thông 
đã gởi tặng bài này

*

Đôi điều về chữ Nôm và giọng Quảng Nam (phần 1)

Nguyễn Cung Thông* (Melbourne, Úc), Vân Hạc** (Hà Nội, Việt Nam)


Vừa nghe lại các bài ca Mưa Chiều Kỷ Niệm, Nỗi Buồn Hoa Phượng, Tình Bơ Vơ ... bằng giọng Quảng
(Nam), xem trang YouTube này [www.youtube.com] hay
http://www.youtube.com/watch?v=IM6dzrmTx8w  ... càng nghe càng thấy thấm thía, nhân đây cũng ghi lại vài nhận xét và các dữ kiện liên hệ.


1. Tại sao đọc là Nôm thay vì Nam 

Nhắc đến giọng Quảng (Nam) chúng tôi lại nghĩ đến (cách đọc) chữ Nôm 字喃 - tại sao lại đọc là Nôm từ Nam ra Bắc, từ Thừa Thiên đến Rạch Giá .... Đây cũng là giọng Quảng khi phát âm làm thành lồm, Nam thành Nôm ... Không những thế, thời vua Trần Nhân Tôn (khi chữ Nôm khởi sắc như qua Cư Trần Lạc Đạo phú ...) được Chế Mân nhượng cho Châu Ô và Châu Rí thuộc địa bàn Quảng Nam: cũng là khi người Việt định cư ở các khu này (trong tiến trình Nam Tiến). Do đó, cách đọc chữ Nôm (thay vì chữ Nam) là một dấu ấn thời-không-gian (time-space impression) của ngôn ngữ: thời gian là khi chữ Nôm khởi sắc và cho ra các tác phẩm giá trị (cần thiết cho văn học độc lập cũng như truyền thông ở biên giới phía Nam) hay là vào khoảng thế kỷ XII, XIII ; không gian là địa bàn tỉnh Quảng Nam nơi mà phương ngữ vẫn còn đọc Nam là Nôm.
               
Xem bản đồ Nam Tiến của dân tộc Việt   (trích từ trang [vi.wikipedia.org] )


Khi còn nhỏ, lớn lên trong một gia đình di cư từ Bắc vào Sài Gòn – chúng tôi nghe giọng Quảng (Nam) thấy rất lạ và thường nhái theo ... Nhưng sau này, học hỏi và tìm tòi thêm, mình mới nhận ra các giọng 'quê mùa ấy' lại bảo quản một số âm cổ (Việt) và có nhiều dữ kiện rất quý báu cho sự hiểu về quá trình hình thành tiếng Việt1 . Cũng đáng nhắc ở đây là Nồm (gió Nồm) chữ Nôm đều dùng chữ Nam 南 hay chữ Nam hợp với bộ vũ (tự điển Taberd)  𩄑  . Cái nơm (đơm2  bắt cá) chữ Nôm cũng dùng chữ Nam hợp với bộ trúc  䈒  . Nom (chăm nom, nom dõi) có một dạng ngạc cứng hóa (palatalised) là nhòm (ống nhòm, ống dòm) và một dạng chữ Nôm là  𥈶 ...v.v...

箔䈒   bạc nơm
筌䈒   thuyên nơm (Ngũ Thiên Tự - trang 80, 82, 90)
...
筌䈒   thuyên nơm (Tam Thiên Tự - trang 16)

Thả thả chăn chăn ít lại nom 𥈶   (Hồng Đức quốc âm thi tập)
Gã mục dè châm đã tới nom 𥈶   (Hồng Đức quốc âm thi tập)

Phần sau sẽ đi sâu hơn vào vốn từ Hán cổ cho thấy các dạng nơm/nôm và núm/nắm đã từng được các tài liệu Trung Quốc xưa ghi nhận.

2. Nơm/ nôm và nắm/núm

2.1 Nơm, có nơi ghi là nôm3 , là dụng cụ bắt cá từ phương Nam, Nơm còn có thể viết bằng bộ võng hợp với chữ Nam 罱 hiện diện trong vốn từ Hán cổ từ thời Ngọc Thiên 玉篇 (năm 543 SCN) đọc là nữ cảm thiết/nãi cảm thiết/nô cảm thiết hay *nơm/nam; cho đến thời Quảng Vận lại đọc là lỗ cảm thiết  魯敢切 (lãm, lẫn lộn n/l khi đọc *nam thành *lam) và trở thành cách đọc chuẩn!

Ngọc Thiên (543 SCN)

Quảng Vận  (1008)

Tập Vận (1037/1067)
  
Hình ảnh xưa đi ‘nơm’ ở Đông Kinh (Tonkin)  - trích từ chùm ảnh xưa về các nghề mưu sinh ở Đông Dương  http://www.indochine-souvenir.com/metiers/


 < Xách nơm qua đoạn nước sâu. - hiện nay ở Quảng Nam vẫn còn ‘đi nơm;

"Nghề" nơm không phân biệt già trẻ, nam nữ. - trích từ bài báo (22/8/2012)  
http://dulich.blognhanh.com/2012/08/nom-ca-mua-he.html hay bài báo (11/12/2012) viết về cả làng đi nơm cá ở Quảng Namhttp://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/7/24/24/219860/Default.aspx...v.v...

2.2 Nắm/núm/nuốm: cũng từ cách dùng chữ nam 南 để ký âm như trên mà ta có thể thấy cấu trúc chữ hiếm *nớm/nắm 揇 - hiện diện ít nhất vào thời Ngọc Thiên với các dữ kiện sau (xem hình chụp bên dưới)
  
奴感切 nô cảm thiết 搦也 nạch dã

Chữ 揇 đọc là *nớm/nắm nghĩa là nắm lấy (tiếng Việt còn dùng dạng cổ hơn là núm lấy) - một dạng ngạc cứng hóa là nhắm (Việt Bồ La/1651). Các dạng nắm núm nuốm - lúm (má lúm đồng tiền)  và nhóm (nhúm), tóm (túm) so với chòm (chùm, xóm - chòm còn là một đơn vị mường nhỏ), lờm (lùm) cho thấy khả năng nguồn gốc phương Nam (tiếng Việt cổ) của nắm/núm. Do đó chữ 揇 có thể là ký âm của *nớm (núm)/nắm của tiếng Việt nhập vào và làm vốn từ Hán (cổ) trở nên rất phong phú, cùng với chữ *nơm 罱

Ngọc Thiên  (543 SCN)
Quảng  Vận (1008)
Tập Vận (1037/1067) 

 …v.v…

Các dữ kiện trên khiến ta phải suy nghĩ lại về giai đoạn hình thành chữ Nôm4 (hay đóng góp của Quốc Âm vào vốn từ Hán): có thể trước đời Đường (618-907) phù hợp với đề nghị của Phạm Huy Hổ (chữ Nôm có từ thời Hùng Vương)  hay Văn Đa Cư Sĩ Nguyễn Văn San (chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp). Đây là một đề tài rất thú vị nhưng không nằm trong phạm vi bài này.

*Nguyễn Cung Thông: Công Ty Cố Vấn Giáo Dục (Education Consultant)  - email address
**Vân Hạc: nhà văn, tác giả - email address vanhac.yenbai@gmail.com


3. Phụ chú và phê bình thêm

3.1 Phụ chú

Phần này không hoàn toàn theo cách ghi tài liệu (Bibliography) tham khảo APA hay MLA vì bao gồm các phê bình thêm về đề tài, tài liệu và tác giả để người đọc có thể tra cứu thêm chi tiết và chính xác.

1)  ngoài tương quan Nôm Nam như trên, một số biến âm (địa phương) đã thành chuẩn như con *hàm (chữ Nôm 𤞻 : bộ khuyển + chữ hàm 含) bây giờ ai cũng đọc là hùm (hồm - thời tự điển Việt Bồ La/1651). Tương tự ta có cách đọc hòm so với hàm 函 … Một chữ trong truyện Kiều mà chúng tôi rất thích đọc và tìm hiểu thêm là

Một vùng cỏ áy bóng tà (câu 97) - áy viết (chữ Nôm) là ái 愛 (từ Hán Việt là yêu, mến ...) - theo thiển ý nên đọc là úa (một đặc tính của giọng Quảng - quê chua/choa ...) .

Ăn chữ Nôm là 咹 với thanh phù là an 安, tuy nhiên còn có thể đọc là yên (so với giọng Quảng Nam en); yên (ngựa) 鞍 với cách đọc yên đã trở thành chuẩn (không nghe ai đọc là *an ngựa). Khuynh hướng chuyển nguyên âm về phía trước (a thành e, front vowel) là một đặc tính khác của giọng Quảng Nam mà yên là một dạng gần với âm en hơn so với âm an; các trường hợp tương tự  là từ Hán Việt yến (yên) 燕 én, yêu 腰 eo ...v.v...

Không nên xem các giọng địa phương như giọng Quảng Nam, Nghệ An ... là sai chính tả - như hàm ý của một bài báo mới đây của đài VOV trang này   http://vov.vn/Van-hoa/Ngo-ngang-nghe-Anh-Tuyet-hat-giong-Quang-Nam/225996.vov     ... Những giọng địa phương (quê mùa) nhiều khi còn mang 'nhiều chất Việt' hơn nơi nào hết! Xem thêm chi tiết về album mới ra của Ánh Tuyết http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130114/anh-tuyet-ra-mat-album-bang-giong-quang-nam.aspx

2) *nởm 䈒 tiếng Hán là 弱竹 nhược trúc (tre non) , không liên hệ gì đến nơm (dụng cụ bắt cá làm bằng tre) tiếng Việt; thành ra chữ Nôm nơm 䈒 có khả năng rất lớn là loại chữ tự tạo:

Ngọc Thiên 玉篇
Quảng Vận 廣韻 
Tập Vận 集韻

Chánh Tự Thông 正字通
3) nơm ghi là nôm như trong bài viết về các nông cụ Việt Nam vang bóng một thời - xem trang này http://www.phatgiaodaichung.com/Bai2011_04/NPTnongcuvn.pdf

4) cần phân biệt các giai đoạn hình thành chữ Nôm so với giai đoạn chữ Nôm cực thịnh (phản ánh qua các tác phẩm văn chương và thi phú).

3.2 Phê bình thêm

3.2.1  Từ năm 1932, học giả Phan Khôi (gốc Quảng Nam) đã đề nghị tương quan Nôm và nam cũng như (gió) Nồm - trích trang này http://lainguyenan.free.fr/pk1932/TenGio.html

‘TÊN GIÓ BỐN HƯỚNG

Gần đây tôi có được thơ một vị độc giả hỏi một điều hơi cắc cớ mà cũng có ý vị. Vậy sau khi trả lời bằng thơ riêng cho người hỏi, tôi đăng luôn cả cuộc vấn đáp lên báo, vì tưởng là không đến nỗi vô ích vậy.


Bức thơ hỏi như vầy:

« Bạc Liêu, le 8 Novembre 1932

Ông Phan Khôi,

Kính ông,

Từ ngày báo Phụ nữ tân văn thêm mục Hán văn độc tu, thì mỗi tuần tôi đều đọc kỹ. Nhờ vậy học thêm nhiều tiếng, phân biệt được nhiều nghĩa rõ ràng, nên tôi cảm bội vô cùng.

Bấy lâu nay chưa được nghe ai cắt nghĩa chuyện nầy, tuy là không ăn nhập vào những bài dạy của ông, nhưng nhờ ông là người đa văn quảng kiến, xin chỉ giùm câu chuyện sau đây, mà tôi đem hỏi ông, vì có thấy trong báo Phụ nữ số 175 ngày 3.11.1932, bốn chữ đông, tây, nam, bắc.

Tại sao gió hướng tây thổi đến, người ta lại gọi là gió nam? Còn gió hướng nam lại gọi là gió nồm?

Gió chướng bên phía đông thổi qua là tiếng đã thường nghe. Duy có hai tên gió nói trên đây không trùng với tên hướng, bởi vậy mỗi khi nghĩ đến mà cắt nghĩa không xuôi thì trí chẳng toại chút nào.

Muốn hiểu nghĩa cho cùng, vậy xin ông vui lòng giải giùm minh bạch, đặng giúp kiến văn cho người ít học...

Trần Văn Tìa

Conseiller provincial

Canton de Thạnh Hưng Bạc Liêu"


Bức thơ trả lời:

Saigon, le 11 Novembre 1932

Ông Trần Văn Tìa,

Tiếp được thơ ông hỏi tôi về mấy điều, vậy tôi xin trả lời cho ông như sau đây. Điều tôi nói đây chẳng do sách vở nào hết, chỉ đoán phỏng mà nói. Vậy xin ông coi như là một lời giảng giải chưa định, chớ khá tin trọn ở đó mà có khi sai chăng.

Ông hỏi tại sao gió hướng tây thổi đến lại gọi là gió nam, còn gió hướng nam lại gọi là gió nồm?

Xứ ta (nhứt là Trung kỳ) kêu bằng gió nam đó không phải là gió hướng tây như ông nói đâu, mà thật ra là gió tây nam. Từ tây nam sang cho nên nó đem hơi nóng sang, thành ra gió nam xứ ta thì nóng. Phía tây nam của xứ ta là một giải lục địa lớn (un grand continent), trong đó có mấy cái sa mạc (désert), cho nên gió đem khí nóng sang là phải; sách địa dư cũng nói gió lục địa là gió nóng. Tây nam mà tục ta lại quen kêu là gió nam, có lẽ là tại lúc đầu người mình không biện biệt phương hướng cho thật rõ, tưởng là gió chánh nam cho nên nói nam mà bỏ tây đi đó thôi.

Còn gió nồm là từ đông nam thổi sang chớ không phải chánh nam như ông nói. Đông nam của xứ ta là biển. Gió biển cho nên hễ nồm thì mát. Kêu bằng "nồm", có lẽ chữ "nồm" ấy do chữ "nam" mà ra. Gió nồm tức là gió nam vậy.

Chữ "nồm" do chữ "nam" ra, tôi lấy chứng cớ ở đây, có điều cái chứng cớ nầy hơi mong manh một chút:

"Tiếng Nam" hay là "chữ Nam", nghĩa là tiếng hoặc chữ của nước Nam, thì tục ta quen kêu bằng "tiếng nôm" hay "chữ nôm". Do chữ "nôm" ấy mà chuyển ra "nồm". Gió hướng nam thì gọi là "gió nồm".

Ai hiểu cái luật "chuyển âm" trong tiếng ta thì có thể tin cái thuyết ấy của tôi được một vài phần. Tiếng ta có nhiều tiếng chuyển như vậy. Như "miệng" (A) là cái miệng thì chuyển ra "miếng", nghĩa là vật gì vừa một miếng bỏ vô miệng. Lại như "mang" vật gì là verbe neutre, chuyển ra "máng" là verbe actif, nghĩa là bắt cái gì mang vật gì, như máng ách cho bò, máng áo trên móc, v.v... Còn nhiều chữ như vậy không kể hết.

Vậy thì "nam" chuyển ra "nôm", chuyển một lần nữa ra "nồm", cũng có lẽ lắm, mà đều nghĩa là cái gì thuộc về phương nam cả.

Gió "chướng" tức là gió đông, song tại sao lại kêu bằng "chướng"? Là vì mỗi khi gió ấy thổi tới (gió nầy từ Trung Bắc kỳ nhằm vào mùa mưa lụt), làm cho nước các sông bị cản lại, bị chướng tắc (nghĩa là ngăn lấp) lại, mà lâu rót ra biển (tục gọi là hàn cửa biển), nên gọi là gió chướng.

Lại gió bắc thì gọi là gió bấc, gió tây thì gọi là gió may, cũng có gọi là gió tây may. Bấc hẳn bởi chữ "bắc" mà ra. Còn tây sao gọi là may thì tôi chưa hiểu. Trong Truyện Kiều có câu "mưa vạy gió may" tức là gió tây.

Tôi nhớ như có người đã dùng chữ "gió vàng" để chỉ gió tây. Ấy là dịch chữ    (kim phong) ra. Theo thuyết ngũ hành, phương tây thuộc "kim", cho nên gọi  西  (tây phong) là    (kim phong). Chữ     (kim) nầy là métal chớ không phải or, thế mà người ta cũng nói bướng là "vàng" đi để cho đẹp lời.

Có mấy điều sau ông không hỏi, song tôi cũng nói luôn thể.

PHAN KHÔI

Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 178 (24. 11. 1932)’  hết trích.

(A) lời chú thêm (Nguyễn Cung Thông): để ý miệng và miếng đều có một dạng chữ Nôm là mãnh 皿 , mãnh là âm Hán Việt (母梗切,音猛 mẫu ngạnh thiết, âm mãnh - Tập Vận) so với âm Hán cổ là *miêng (武永切 vũ vĩnh thiết - Đường Vận). Tiếng Mường (Bi) còn dùng đác mẽnh (nước miếng, đác là nác/nước, mẽnh là miệng) so với các ngôn ngữ khác như Nyah Kur (Chao Bon, liên hệ đến Môn) ta thấy cách dùng dáak páang(nước miếng, dáak là nước, páang là miệng); tiếng Khme có tức mót(nước miếng, tức là nước, mót là miệng); tiếng Chăm còn dùng ia pabah(nước miếng, ia là nước pabah là miệng) ...v.v... Các dữ kiện này cho ta cơ sỡ vững chắc để liên hệ miếng và miệng.

3.2.2  Một bài viết quan trọng và liên hệ trực tiếp đến đề tài bài viết này là"Một giả thuyết về từ nguyên của từ 'Nôm' " của Trần Xuân Ngọc Lan/TXNL đăng trong Tạp Chí Hán Nôm số 1 trang 95-98 (1988). Cho rằng Nôm là âm Nam không đủ thuyết phục, TXNL đề nghị (âm) Nôm có nguồn gốc từ đôm/dom (nghĩa là nói) gần như chung cho các ngôn ngữ Môn Khmer và Mã Lai đa đảo lục địa. Tương quan đôm-nôm có thể giải thích khi so sánh các tiếng Mường và Việt như đak-nác (nước)… Dựa vào giai đoạn xuất hiện của phụ âm mũi đầu lưỡi tắc n trong tiếng Việt (và dựa theo H. Maspéro/1912), TXNL đề nghị từ ‘Nôm’ phải xuất hiện từ giai đoạn Tiền Việt sang giai đoạn Việt Cổ hay vào thế kỷ X.

3.2.3  Vấn đề trở nên thú vị khi ta ngẫm nghĩ thêm về nguồn gốc giọng Quảng Nam. Trích từ Chương Dẫn Nhập của cuốn "Có 500 năm như thế"tác giả Hồ Trung Tú/HTT (Nhà Sách Phương Nam, 2011)

'... Nhiều người không hiểu cái giọng nói của người Quảng Nam nó xuất phát từ đâu trong khi tất cả các gia phả của các dòng họ đều ghi rõ rằng thủy tổ của họ là người Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Dương... vào đây. Giáo Sư Trần Quốc Vượng bảo: “Thì các cụ vào đây đâu có đem vợ con đi được nên lấy vợ Chàm rồi sinh con đẻ cái là cái chuyện hết sức bình thường. Vấn đề là các bà mẹ Chàm nói tiếng Việt ấy đã truyền lại cho con cái mình cái giọng của người Chàm nói tiếng Việt. Cái giọng đó chính là giọng Quảng Nôm nhà cậu” ...' (hết trích). Tác giả HTT còn đề nghị là '... người Quảng Nam nói tiếng Việt bằng giọng Chăm ...'. Đây không nằm trong phạm vi bài viết nhỏ này nhưng cần được khai triển trong tương lai, để cho thấy những đóng góp không nhỏ của phương ngữ trong quá trình hình thành tiếng Việt.

3.2.4  Thêm vài chi tiết về âm Hán cổ của Nam 南 là nôm. Nam giọng Bắc Kinh (theo pinyin) bây giờ đọc là nán, so với nam4 (giọng Quảng Đông) hay nam2 hay lam2 (giọng Triều Châu).
  
Phục nguyên âm thượng cổ của chữ Nam 南 theo:

Karlgren: nu ̆m
Lí Phương Quế: nəm
Vương Lực: niuəm
Baxter: nom
Trịnh Trương Thượng Phương: nuum
Phan Ngộ Vân: noom

Âm cổ của nam 南 theo Axel Schuessler là *nôm (chúng tôi đã ghi gần đúng theo cách đọc tiếng Việt thay vì theo IPA) trang 396, trong cuốn "ABC Etymological Dictionary of Old Chinese" NXB University of Hawai'i Press (Honolulu, 2007). Học giả Lê Ngọc Trụ cũng liên hệ Nôm, Nồm đến Nam 南 - trang 356 trong cuốn "Tầm Nguyên Tự Điển Việt Nam" (NXB Thành Phố HCM, 1993). Học giả Paul Schneider cũng ghi Nôm là âm cổ của Nam trong cuốn Dictionnaire Historique Des Idéogrammes Vietnamiens / (licencié en droit Nice, France : Université de Nice-Sophia Antipolis, R.I.A.S.E.M.) - trang 553; Học giả Bernhard Karlgren trong cuốn "Grammata serica recensa" (số thứ tự là GSR 650a, 1957, Stockholm) cũng ghi quá trình biến âm của 南 là nôm > nậm > nán (theo pinyin, nán là âm Bắc Kinh hiện đại, để ý phụ âm cuối -m trở thành -n). Học giả E. G. Pulleyblank cũng ghi nhận dạng nôm là âm cổ của nam 南 trong cuốn "Lexicon of reconstructed pronunciation in Early Middle Chinese, Late MC and Early Mandarin" (1991, Vancouver B. C.) trang 221.

Đây là vài dữ kiện từ một từ điển trên mạng Trung Quốc về âm cổ của 南 - xem trang này [ytenx.org]

Lại một mạng tự điển Trung Quốc cũng cho thấy dạng âm cổ của Nam là nơm - trích lại từ trang này [tool.httpcn.com]

[ 上古音 ]:侵部泥母,n?m
[ 广 韵 ]:那含切,下平22覃,nán,咸開一平覃泥
[ 平水韵 ]:下平十三覃
[ 唐 音 ]:*nom
[ 国 语 ]:nán,nā
[ 粤 语 ]:naam4
[ 闽南语 ]:lam5 


Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

Phở Hà Nội qua con mắt của phóng viên nước ngoài



(Nguồn: AFP)

Không ít người coi phở là món ăn đặc trưng nhất của người Việt Nam. Nhưng trong bài viết mới đây, phóng viên Cat Barton của AFP đã mô tả “món ăn này được bán ở những cửa hàng không sạch sẽ, với những người bán hàng thô lỗ, những dòng người xếp hàng dài và trong môi trường tồi tàn nhất.” 

Phở, một món súp đơn giản với nước xương, gia vị, thảo mộc và sợi mỳ gạo, đã xuất hiện từ khoảng 100 năm trước tại miền Bắc Việt Nam và kể từ đó đã thu hút được sự chú ý của toàn cầu, được các đầu bếp nổi tiếng người Pháp và những sinh viên người Mỹ không dư dả tiền mặt ưa thích.

Nhưng tại Việt Nam, ăn phở gần như là một nghi lễ tôn giáo – như nhà văn Nguyễn Tuân từng nói – và những bát phở trông thật bình thường đó, mà ta có thể tìm được ở mọi góc phố tại Hà Nội, trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống hàng ngày.

“Tôi đã ăn ở dây trong vòng hơn 20 năm,” Trần Văn Hưng cho AFP biết khi đang ngồi run rẩy trong cái lạnh buốt của mùa đông Hà Nội trong hàng người tại quán phở Thìn.

“Những người bán hàng ở đây luôn cục cằn với tôi. Tôi quen rồi. Tôi không quan tâm,” người đàn ông 39 tuổi nói, cho biết thêm anh đã ăn món phở từ khi danh tiếng của quán phở trên phố Lò Đúc này vẫn còn khiếm tốn.

Phở là một món ăn chính tại Việt Nam. Dù đó là một món ăn sáng truyền thống, thì phở vẫn được phục vụ tất cả mọi thời gian trong ngày và được cả người nghèo lẫn người giàu ưa thích, ăn ở cùng cửa hiệu, với giá khoảng 1 USD một bát.

“Phở rất thuần Việt, là món ăn độc đáo và đặc trưng của ẩm thực Việt Nam,” đầu bếp Phạm Ánh Tuyết nói.
Bánh phở phải được làm bằng tay, sợi được thái đều tăm tắp và không được để lâu quá 4 giờ, gừng phải được nướng, nước xương bò và các loại gia vị phải được ninh sủi bọt từ từ trong vòng ít nhất 8 tiếng trên bếp than, bà nói.


Hình ảnh như thế này có thể gặp ở bất kỳ phố phường nào ở Hà Nội (Nguồn: AFP)

“Mùi thơm của phở là một phần của vẻ đẹp của món ăn này,” bà Tuyết, người nổi tiếng với nghê thuật nấu nướng truyền thống, cho AFP biết.

“Không đất nước nào khác có thể làm được những món như phở - một trong những bí mật chính là nước xương phải trong và thơm,” bà cho nói với phóng viên tại cửa hàng bé nhỏ của mình, nằm ở tầng trên cùng của một ngôi nhà gỗ tại phố cổ Hà Nội.

Nguồn gốc của phở là từ Pháp hay từ Nam Định?

Nguồn gốc chính xác của phở không rõ ràng và vẫn còn đang gây tranh cãi lớn tại Việt Nam.

Nó được làm một cách truyền thống với thịt bò, nhưng gà cũng đã được sử dụng kể từ những năm 1940 khi sự đô hộ phát xít Nhật gây ra tình trạng khan hiếm thịt bò.

Thịt bò không phổ biến tại Việt Nam thời đó – bò thường được sử dụng như công cụ lao động – nhưng dưới ách đô hộ của thực dân Pháp với truyền thống ăn thịt bò, xương và những mẩu bạc nhạc được dùng để nấu xúp.

Một vài chuyên gia, như Didier Corlou, cựu bếp trưởng tại Metropole Hà Nội, người đã giới thiệu về phở với các thực khách sành ăn quốc tế trong hàng thập kỷ, lý luận rằng phở là “món ăn Việt với ảnh hưởng từ Pháp.”
“Cái tên ‘phở’ có thể bắt nguồn từ ‘pot au feu’ – một món ăn Pháp,” Corlou cho AFP biết, chỉ vảo sự tương đồng giữa các món ăn này, bao gồm hành nướng ở món ăn Pháp và hẹ nướng ở phở.

Một lý thuyết khác, Corlou nói, là phở đầu tiên được bán bởi những người hàng rong gánh một cái nồi và một cái bếp lò đất – “coffre-feu” trong tiếng Pháp – cái tên này đến từ cách tiếng kêu “feu?” “feu” khi món ăn này đã sẵn sàng.

Một số ý kiến khác cho rằng phở có nguồn gốc từ một người nấu ăn lành nghề tại Nam Định – từng là trung tâm dệt may lớn nhất Việt nam, nơi cả công nhân người Pháp và người Việt làm việc – và đầu bếp này đã nghĩ ra một món ăn có thể làm vừa lòng công nhân của cả hai quốc tịch.

Nhiều người Việt Nam mạnh mẽ phản đối bất cứ ảnh hưởng nào của Pháp trên các món ăn dân tộc của mình, lý luận rằng món ăn này ở thời tiền thực dân và mang vẻ độc đáo của miền Bắc Việt Nam.

Nhưng bất kể câu chuyện thực sự là như nào, “phở là một trong những món súp ngon nhất,” Corlou nói. “Đối với tôi ẩm thực Việt Nam là ngon nhất thế giới.”

Phở cá hồi hay gan ngỗng? 

Corlou nói rằng trong khi những nguyên liệu chính của phở vẫn được giữ nguyên, thì món ăn này đã biến đổi.

Tại ba nhà hàng của ông ở Hà Nội, lấy ví dụ, ông đưa ra món phở cá hồi hay phở gan ngỗng với giá 10 USD một bát – “bạn không thể đặt phở vào bảo tàng,” ông nói.

Trong thập kỷ cuối cùng, nhiều phiên bản của món ăn này – bao gồm phở cuốn được làm từ những bánh phở chưa được cắt – cũng đã xuất hiện.

Bởi người Việt Nam đã trở nên giàu hơn, những loại phở đắt tiền hơn – bao gồm phở bò Kobe với giá 40USD – cũng đã xuất hiện.


Phở vẫn đang biến đổi? (Nguồn: AFP)

Nhưng ngoài việc cho thêm nhiều thịt, không có nhiều cách bạn có thể làm để cái tiến món phở, Tracey Lister, một đầu bếp tại Hà Nội và là một chuyên gia ẩm thực, người nghĩ rằng Việt Nam xứng đáng có danh tiếng với món phở nổi tiếng của mình, cho biết.

“Đây là món ăn tuyệt vời, nổi tiếng, và tôi nghĩ rằng đây là món ăn chỉ của Việt Nam,” Lister, giám đốc trung tâm nấu ăn Hà Nội, cho biết.

“Phở thực sự đại diện cho ẩm thực Việt Nam. Đó là một món ăn đơn giản nhưng tinh tế. Đây là một món ăn rất thanh lịch, và rất cổ điển”./.

S.N (Vietnam+)
Nguồn: http://www.vietnamplus.vn/Home/Pho-Ha-Noi-qua-con-mat-cua-phong-vien-nuoc-ngoai/20131/180527.vnplus