Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2013

Sự trăn trở của một kẻ lười biếng


***
27/04/2013 02:00 GMT+7
Hình như chàng trai lớp 12 chân thành hùng biện trong clip tự quay đòi hỏi cuộc sống hành xử Tự do và Dân chủ trong Giáo dục như vậy.

Lịch sử có nhiều hiện tượng lặp lại, song khó có thể tin rằng con người bao giờ cũng có ý thức đúng về những diễn biến giống nhau.
Chẳng hạn như chuyện bạn học sinh lớp 12 tự làm clip phát biểu về nền Giáo dục nước nhà năm 2013. Liệu bạn đó có ý thức mình đang là kẻ nổi loạn hay không? Liệu trong một mức độ nào đó, bạn có thấy là mình đang làm lại hành vi của nhiều học sinh trường Bưởi đầu thế kỷ trước như Đặng Xuân Khu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Khắc Viện ... nay nhắc lại thấy như một thời nào đó đã lùi xa ... quá xa khỏi ký ức người đương thời hôm nay vào năm 2013 này?
Còn xa hơn sâu hơn nữa vào Lịch sử, em học sinh lớp 12 đã tự gọi mình là "kẻ lười biếng". Song sự so sánh đó chắc chắn chỉ là tình cờ. Người học trò Việt Nam của năm 2013 ấy làm sao đủ trình độ, đủ ý thức, đủ can đảm và đủ cả liều lĩnh so sánh mình với "kẻ lười biếng quê vùng biển" là Hải Thượng Lãn ông!
Đơn giản thế này thôi: chàng trai lớp 12 trong clip tự quay chỉ mới có nổi một ý thức phản kháng đủ để anh lên tiếng gửi người lớn, gửi tất cả những người lớn có trách nhiệm trước sự nghiệp giáo dục của đất nước một lời dõng dạc này thôi: "Này, người lớn, các vị hãy nhìn vào chúng tôi đây, hãy nhìn kỹ những sản phẩm ra lò của các vị đây: thế hệ học trò chúng tôi đây, một lũ ngu và lười".
Câu nói ấy gợi cho tất cả chúng ta một liên tưởng: chỉ là "thế hệ chúng tôi" thôi ư? Còn thế hệ các vị, thế hệ đã đúc khuôn thành chúng tôi thì sao? Đã gọi là liên tưởng, thì liên tưởng này nhất thiết sẽ dắt dây sang một liên tưởng khác cho đến một liên tưởng gần như kiệt cùng: các vị đã tổ chức nền giáo dục ra sao, theo hình ảnh nào để chúng tôi đến nông nỗi này - để chúng tôi thành một lũ ngu và lười, liệu các vị có thoát khỏi trách nhiệm trước tình trạng ấy không?
Chàng trai trong clip ấy không nói thẳng hết ý nghĩ "nổi loạn" của thế hệ mình. Chàng trai ấy chỉ tập trung nêu câu hỏi: học biết bao nhiêu những "thứ đó" nhưng học để làm gì? Đây là câu hỏi khó trả lời ngay cả đối với khá nhiều người lớn. Bởi suy cho cùng thì mục đích học của họ cũng chỉ là để có một mảnh bằng "chính chủ" cộng thêm văn bằng hai văn bằng ba văn bằng bốn, cuối cùng cũng chỉ để nhăm nhe một chức quan to nhỏ, và chỉ đến thế thôi.
Và trong suốt quá trình học, thì việc tự tìm đến tri thức bị coi là phụ, mà cả cuộc đời học đường hầu như chỉ là chuyện thi cử, suốt đời thi cử, mươi hai năm đằng đẵng thi cử... để làm gì? Chàng trai trong clip đã nói toạc ra: nếu không có chuyện thi, liệu còn có ai chịu học bài?
Rõ ràng, trong câu hỏi ấy, người học trò "ngu và lười" bộc lộ nguyện vọng của mình rằng anh ta muốn học, học, và học, học khổ đến bao nhiêu cũng được, nhưng không chấp nhận cái khổ của thi cử, không bằng lòng coi thi cử như một kích thích cho việc học.
Lãn Ông, Lịch sử, Tự do, Dân chủ
"Kẻ lười biếng" đang gây xôn xao thế giới mạng
Nguyện vọng ấy nếu được thực thi sẽ bẻ gãy cái roi của những nhà giáo dục các cỡ. Roi từ gia đình, từ họ tộc, từ truyền thống trường, từ những khu phố văn hóa đầy ma túy và bạo lực, và từ những cuộc ganh đua "chăm phần chăm" - áp lực của thói quen tư duy trong một nền văn hóa của số lượng và của sự thô kệch, nơi các "nhà văn hóa" chỉ nhìn thấy sức mạnh giả định trong đám đông, nơi đó tất cả những Einstein những Gandhi và những Charles Chaplin chụm lại cũng chỉ có thể chiếm 1 phần trăm sau nhiều số không đứng sau dấu phẩy!
Dường như ta có nghe thấy em học sinh lớp 12 trong clip đó nói thế này: chúng con kính trọng các thày, nhưng xin thày hãy thoát ra khỏi cách diễn giải vẫn còn thiếu thẳng băng, đòi thế tục hóa nền Giáo dục khỏi mọi chủ thuyết.
Dường như em học sinh lớp 12 vô danh đó đang nói thay các thế hệ tương lai, rằng các thày hãy Tự do trong giảng dạy và trong hành động. Tự do là cái Quyền thiêng liêng nhất mà Tự Nhiên phú cho con người. Có ai cấm các thày tạo ra những bộ sách mới theo chương trình học mới làm hả hê thỏa thuê nguyện vọng chấn hưng đất nước của các thày?  Ngay cả ở bậc đại học là bậc phải dành lấy quyền tự chủ mà các thày cũng cứ bó tay cho sự Tự do trôi tuột đi mất, thế thì lũ trẻ con "ngu và lười" chúng em còn biết trông cậy vào đâu nữa?
Các thầy hãy hành động tự do như trí tuệ tự do của các thày thôi thúc. Còn về phía xã hội, những nhà lãnh đạo phải có sứ mệnh dân chủ hóa cuộc chạy đua tự do vì sự nghiệp chấn hưng văn hóa và giáo dục của dân tộc. (Dân chủ hóa nói ở đây nghĩa là đối xử không phân biệt với mọi khuynh hướng sáng tạo văn hóa và giáo dục khác nhau).
Nhưng giữa hai khuynh hướng Tự do và Dân chủ ấy, thì cần coi trọng khuynh hướng thứ nhất hơn. Dân chủ thì trước sau gì rồi cũng sẽ tới với cuộc sống xã hội. Nhưng Tự do là cái có sẵn trong từng con người sáng tạo. Sản phẩm của Tự do cách tân nền Giáo dục cho cả một Dân tộc sẽ xóa sổ những thứ tự do vờ vịt cốt nuốt trôi lợi nhuận một trường tư thục là cùng.
Trong Tự do có sự thi đua lành mạnh của những tài năng đích thực vì nước vì dân. Hình như chàng trai lớp 12 chân thành hùng biện trong clip tự quay đòi hỏi cuộc sống hành xử Tự do và Dân chủ trong Giáo dục như vậy.
Theo Phạm Toàn/ Tia Sáng


Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013

Phát hiện gạch cổ nghìn năm tại Thành nhà Hồ

Thứ năm, 25/4/2013, 08:48 GMT+7

Gạch hình chữ nhật, bề mặt được khắc chữ Hán nổi, nét chữ to đậm. Phát hiện này giúp các nhà nghiên cứu lý giải về nguồn gốc, xuất xứ của gạch dùng để xây thành nhà Hồ, di sản văn hóa thế giới.

Ngày 24/4, Trung tâm Bảo tồn di sản thành nhà Hồ cho biết, trong đợt khai quật khảo cổ học mới đây tại khuôn viên thành nhà Hồ (xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), các nhà khoa học đã phát hiện nhiều viên gạch cổ cả nghìn năm tuổi. Bề mặt gạch được khắc chữ Hán nổi ghi chú địa danh như: Giang Tây Quân, Giang Tây Chuyên...

Gạch “Giang Tây Quân”, "Giang Tây Chuyên" phát hiện tại thành nhà Hồ có hình chữ nhật, kích thước trung bình 37x17x5,5 cm, nhỏ hơn loại gạch bìa được sử dụng chủ yếu để xây dựng thành nhà Hồ. Chữ được khắc vào khuôn gỗ rồi in vào gạch khi đất còn ướt, nét to đậm, in nổi, viết theo lối chữ chân. Gạch thường có màu xám ghi, được làm từ loại đất sét mịn, tôi luyện kỹ, nung ở nhiệt độ cao nên rất đanh chắc, giữ được màu sắc và không bị thôi bột.

Viên gạch cổ
Viên gạch cổ "Giang Tây quân" phát hiện ở Thành nhà Hồ được cho là có niên đại trên nghìn năm tuổi
Các nhà nghiên cứu nhận định, đây là loại gạch có niên đại từ thời nhà Đường, Trung Quốc (618-907). Điều này được lý giải, thời đó hàng năm cứ vào mùa thu và đông, nhà Đường thường phái nhiều đội quân phòng thủ vùng Lĩnh Nam gọi là “quân phòng thu”, “quân phòng đông” sang. Các đoàn quân được tổ chức và mang phiên hiệu từng tỉnh ở Trung Quốc mà chủ yếu là quân vùng Giang Tây.

Tại đây, chính quyền đô hộ đã bắt quân sĩ phải ngày đêm đóng gạch, nung ngói để xây thành đắp luỹ. Khi làm gạch, sản phẩm của địa phương nào thì khắc tên địa phương ấy lên bề mặt. Gạch “Giang Tây Quân”, “Giang Tây Chuyên” chính là do quân lính của tỉnh Giang Tây sản xuất.

Cuối thời Đường, An Nam đô hộ phủ được đổi thành Tĩnh Hải quân. Từ “quân” ở đây có nghĩa là một đơn vị hành chính cũng giống như các “quân” (đơn vị hành chính) ở Trung Quốc. Tại Hoàng thành Thăng Long, qua các đợt khai quật cũng phát hiện rất nhiều viên gạch tương tự nằm ở lớp cuối dấu tích kiến trúc trong Hoàng thành, nó tồn tại song song với gạch Lý - Trần.

Các nhà khoa học cho rằng các triều đại sau này của Việt Nam đã sử dụng lại loại gạch này để xây dựng cung điện, thành quách. Cuốn Đại việt sử ký toàn thư chép, Hồ Quý Ly đã cho tháo dỡ một số cung điện tại kinh đô Thăng Long đưa về xây dựng thành An Tôn.

Trải qua cả nghìn năm lịch sử nhưng gạch xây Thành nhà Hồ vẫn giữ được màu sắc sáng đẹp, đanh chắc không bị thôi bột
Trải qua cả nghìn năm lịch sử nhưng gạch xây Thành nhà Hồ vẫn giữ được màu sắc sáng đẹp, đanh chắc không bị thôi bột
Ngoài hai loại gạch “Giang Tây Quân” và “Giang Tây Chuyên”, khai quật Nam Giao Tây Đô, các nhà khoa học còn phát hiện loại gạch mang tên “Đại Việt quốc”. Đây là lần đầu tiên tìm thấy loại gạch này tại thành nhà Hồ.

Việc nghiên cứu về niên đại của loại gạch này đang có nhiều giả thuyết, phần lớn học giả cho rằng gạch “Đại Việt Quốc” chính là mang quốc hiệu thời Lý. Tuy nhiên, theo các tài liệu nghiên cứu mới đây thì Đại Việt quốc là tên một quốc gia độc lập do Lưu Cung thành lập vào thời Ngũ Đại Thập Quốc (907-979). Quốc hiệu Đại Việt của triều Lý phải mãi tới thời Lý Thánh Tông (1054) mới có. Kết quả khai quật tại cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) cũng phát hiện được rất nhiều loại gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên” (gạch Đại Việt xây thành).

Ông Nguyễn Xuân Toán, Phó giám đốc Trung tâm bảo tồn di sản thành nhà Hồ nhận xét, việc phát hiện các loại gạch “Giang Tây Quân”, “Giang Tây Chuyên”, “Đại Việt Quốc” tại thành nhà Hồ chứng tỏ việc xây dựng thành đã thu hút nguồn tài lực và trí lực to lớn của nhân dân Đại Việt.
“Gạch thành nhà Hồ là tài liệu quan trọng giúp các nhà nghiên cứu có thêm cơ sở trong quá trình tìm hiểu về thời gian, kỹ thuật xây dựng và những đóng góp của nhân dân các vùng trong nước đối với việc xây dựng kinh thành Tây Đô”, ông Toán nhấn mạnh. Hiện toàn bộ số gạch cổ nói trên đã được Trung tâm chỉnh lý, lập hồ sơ khoa học và đưa vào bảo quản phục vụ công tác nghiên cứu trưng bày.

Lê Hoàng

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

Bài văn về bệnh vô cảm



BÀI VĂN VỀ "BỆNH VÔ CẢM" GÂY XÚC ĐỘNG SÂU SẮC

Những câu văn của em Phan Hoàng Yến, học sinh lớp 9A2 trường trung học Chu Văn An, Hà Nội, đã gây ấn tượng mạnh với người đọc không chỉ bởi đề tài em lựa chọn mà còn bởi cách hành văn rất tinh tế và sắc sảo. Bài văn được cô giáo cho 9,5 điểm với nhận xét : "Em có những phát hiện và suy nghĩ sâu sắc về hiện tượng đáng buồn này. Một người có trái tim nhân hậu, đa cảm và tư duy sắc sảo như em thật đáng quý.”
-----------------------------------------

ĐỀ BÀI :
TRÌNH BÀY SUY NGHĨ CỦA EM VỀ MỘT SỰ VIỆC HOẶC HIỆN TƯỢNG Ở ĐỊA PHƯƠNG HOẶC TRƯỜNG, LỚP (ĐẶT NHAN ĐỀ CHO BÀI VIẾT)

BỆNH VÔ CẢM

Có được một xã hội văn minh, hiện đại ngày nay một phần lớn cũng là do những phát minh vĩ đại của con người. Một trong số đó chính là sự sáng chế ra rô-bốt, và càng ngày, rô-bốt càng được cải tiến cao hơn, tỉ mỉ hơn, làm sao cho thật giống con người để giúp con người được nhiều hơn trong các công việc khó nhọc, bộn bề của cuộc sống. Chỉ lạ một điều: Đó là trong khi các nhà khoa học đang "vò đầu bứt tóc" không biết làm sao có thể tạo ra một con chip "tình cảm" để khiến "những cỗ máy vô tình" biết yêu, biết ghét, biết thương, biết giận thì dường như con người lại đi ngược lại, càng ngày càng vô tình, thờ ơ với mọi sự xung quanh. Đó chính là căn bệnh nan y đang hoành hành rộng lớn không những chỉ dừng lại ở một cá nhân, mà đang len lỏi vào mọi tầng lớp xã hội – bệnh vô cảm.

Nhìn thấy cái xấu, cái ác mà không thấy bất bình, không căm tức, không phẫn nộ. Nhìn thấy cái đẹp mà không ngưỡng mộ, không say mê, không thích thú. Thấy cảnh tượng bi thương lại thờ ơ, không động lòng chua xót, không rung động tâm can. Vậy đó còn là con người không hay chỉ là cái xác khô của một cỗ máy?

Trước hết là về cái đẹp, bây giờ ra ngoài đường, hiếm ai có thể bắt gặp một người đàn ông đạp xe ung dung dạo mát, thưởng ngoạn cái không khí trong lành, tươi mát dưới những hàng cây cổ thụ vàm bóng quanh bờ hồ ; một người con gái dịu hiền, yêu kiều trong chiếc váy thanh thoát tản bộ trên những con đường hoa sấu, hoa sữa đầy mộng mơ, mà hầu hết là những dòng người tấp nập, vội vã, chen lấn xô đẩy trên đường, xe buýt. Lúc ấy cũng chính là lúc mà con người ta mất một phần tâm hồn đẹp đẽ đã bị chôn vùi dưới lớp cát. Phải chăng cũng vì như thế mà họ càng lúc càng khép chặt cánh cửa trái tim mình lại, không còn biết hưởng thụ cái đẹp mà chỉ nghĩ đến tiền, đến công việc ngày mai?

Vô cảm với cái đẹp mới chỉ là bước đầu. Một khi người ta đã không biết ngưỡng mộ, không biết say mê, rung động trước những điều đẹp đẽ thì trái tim cũng dần chai sạn rồi đến đóng băng. Khi ấy, không chỉ là cái đẹp mà đứng trước những hành động ác độc, vô lương tâm, người ta cũng cảm thấy bình thường, không oán trách cũng không cảm thông, động lòng với những nạn nhân bị hại. Một tháng trước, tôi đọc được một bài báo trên mạng có đưa tin về vụ một đứa bé Trung Quốc hai tuổi bị xe tải cán. Thương xót, đau lòng làm sao khi nhìn cô bé đau đớn nằm trên vũng máu mà không một người nào qua đường để ý, cuống cuồng gọi cấp cứu. Họ nhìn thấy rồi đấy nhưng họ lại cố tình như không thấy, đi vòng qua cô bé để tiếp tục con đường nhạt thếch, sáo mòn của mình. Càng chua xót, đau lòng, phẫn nộ hơn khi chiếc xe tải tiếp theo nhìn thấy cô bé nằm đó, vẫn thoi thóp thở, bám víu lấy cuộc đời lại vô tình chẹt cả bốn bánh xe nặng trịch đi qua người cô bé, thản nhiên đi tiếp. Người qua đường vẫn thế, vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Cô bé xấu số chỉ được cấp cứu khi một người phụ nữ nhặt rác đi qua, thấy cảm thông, đau lòng nên đã bế cô đi bệnh viện.

Có những con người ích kỷ, vô tâm, tàn nhẫn như vậy đấy! Không những thế, bây giờ ra đường gặp người bị cướp, bị trấn lột, bị đuổi chém nhưng lại không thấy anh hùng nào ra can ngăn, cứu giúp hay chỉ một việc nhỏ nhoi thôi là báo công an. Đó là những con người "không dại gì", và cũng chính "nhờ" những người "không dại gì" đó mà xã hội ngày càng ác độc, hỗn loạn. Chính lẽ đó mà căn bệnh vô cảm càng được thể truyền nhiễm, lây lan.

Vô cảm còn là con đường trực tiếp dẫn đến những cái xấu, cái ác. Nó là một căn bệnh lâm sàng mà trong đó, não của người bệnh vẫn hoạt động nhưng trái tim lại hoàn toàn băng giá. Người ta đã vô cảm thì làm sao có thể thấu hiểu được nỗi đau, tình cảm của người khác? Người ta chỉ nghĩ đến mình và lợi ích của riêng mình mà thôi. Nếu không vô cảm, tại sao các cô giáo ở trường mầm non lại nhẫn tâm giật tóc, đánh đập, bịt miệng các cháu bé còn ngây thơ, nhỏ tuổi? Tại sao một người còn chưa qua tuổi trưởng thành lại vô tư chém giết cả nhà người ta để lấy của cải ? Xa hơn nữa là các công chức bình thản ăn tiền ủng hộ, trợ giúp những số phận đau thương, bất hạnh của người dân để kiếm lợi cho riêng mình. Và còn nhiều, còn nhiều hành động xấu xa hơn nữa… Tất cả những điều vô lương tâm ấy đều xuất phát từ căn bệnh vô cảm mà ra.

Chúng ta biết, bệnh vô cảm vô cùng nguy hiểm nhưng lại đặt ra câu hỏi: Rốt cuộc thì nguyên nhân tại sao? Suy cho cùng, tình cảm là điều chi phối tất cả. Những người vô cảm là những người bị thiếu hụt tình yêu thương. Chính vì không cảm nhận được tình yêu thương mà người ta ngày càng lạnh giá. Một phần nữa cũng là do xã hội hiện đại quá bận rộn và đòi hỏi con người phải làm việc, làm việc và làm việc, mà bỏ quên thời gian để trao nhau hơi ấm của tình thương, để ươm mầm cảm xúc.

Tình cảm như những hạt mưa, hạt mưa càng to, càng nặng thì càng dập tắt được những ngọn lửa của lòng thù hận, ghen ghét, bi ai và nó cũng như một ngọn lửa bùng cháy mãnh liệt trong tâm hồn để nuôi dưỡng tiếp nguồn sống cho chúng ta. Vì vậy, điều duy nhất chúng ta có thể làm để cho căn bệnh vô cảm "không còn đất sống" là hãy biết mở cửa trái tim để biết cảm nhận, biết yêu ghét, thương giận và chia sẻ những điều tinh túy đó cho những người xung quanh mình.

"Con người ta không phải là cái đồng hồ và trái tim ta cũng không phải là cái lò xo" - một giáo sư người Anh đã nói như thế. Tóm lại, ta nhận thấy rằng, căn bệnh vô cảm đang lan tràn ngày càng rộng lớn và trở nên vô cùng nguy hiểm, biến con người thành một cỗ máy vô tri chỉ biệt vận động. Đừng để điều đó xảy ra mà hãy đấu tranh để giành lại phần "người", giành lại "trái tim" mà Thượng Đế, mà tạo hóa đã ban cho chúng ta! Hãy đào thải căn bệnh vô tình quái ác ra khỏi xã hội! ./.

Bài văn quá tuyệt !
Một tâm hồn cũng rất tuyệt !

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Lỗi trí thức là sản phẩm của nền giáo dục đầy...lỗi


22/04/2013 02:00 GMT+7
Ông Giản Tư Trung, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển Giáo Dục (IRED) nhận định như vậy trước những án giết người dã man gần đây của một số kẻ được gắn mác trí thức. Vì sao những người đó lại độc ác như thế hay vô cảm đến thế? Là vì họ vô minh và vô hồn và điều này có nguồn gốc sâu xa từ giáo dục. 
CÁC TIN LIÊN QUAN
Một môn Đạo đức chưa đủ
- Thưa ông, bạo lực học đường đang rất phổ biến, chẳng hạn, chúng ta thấy rất nhiều video clip học sinh đánh nhau ở nhiều nơi lan tràn trên mạng; nhiều người trẻ đang ngồi trên giảng đường cũng phạm tội ác tày trời, ông có thể lý giải vấn đề này không?
Thực chất chuyện học sinh đánh nhau không có gì lạ khi từ cổ chí kim, từ đông sang tây đều có. Nhưng điều lạ ở đây không chỉ là việc đánh nhau dã man mà là sự vô cảm của nhiều người. Khi sự việc xảy ra, có rất nhiều bạn bè vây quanh, không những không can ngăn mà còn cổ vũ nhiệt tình, rồi còn thích thú quay clip để đưa lên mạng nữa. Thậm chí nhiều người lớn nhìn thấy cũng thờ ơ, không quan tâm…
Giản Tư Trung, giáo dục, trí thức
Ông Giản Tư Trung: "Vì sao những người đó lại độc ác như thế hay vô cảm đến thế? Là vì họ vô minh và vô hồn và điều này có nguồn gốc sâu xa từ giáo dục"
Và nhiều vụ án gần đây khiến chúng ta phải rùng mình với những tội ác tày trời vì những lý do rất vớ vẩn của những kẻ sát thủ máu lạnh tuổi học trò. Vì sao những người đó lại độc ác như thế hay vô cảm đến thế? Theo tôi là vì họ vô minh và vô hồn và điều này có nguồn gốc sâu xa từ giáo dục.
Ai cũng nói thầy cô là kỹ sư tâm hồn, công việc của kỹ sư tâm hồn là tạo hồn và sửa hồn cho con trẻ. Không những thế họ còn là kỹ sư trí tuệ để giúp cho người học tự khai minh, khai sáng chính mình, thử hỏi nền GD hiện nay đã làm được chưa?
- Thưa ông, việc những kẻ ngồi trên giảng đường phạm tội có phải do vấn đề dạy kĩ năng sống và môn đạo đức chưa được quan tâm, chú trọng đúng mức?
Để giải quyết vấn nạn tội ác học đường thì không chỉ dựa vào mấy tiết học của môn đạo đức hay mấy buổi giảng về kỹ năng sống được, đây là mục tiêu của tất cả các môn học và là sứ mệnh của cả nền giáo dục. Một môn Đạo đức duy nhất thì không thể dạy thành một con người được.
Vấn đề đặt ra là học gì, học như thế nào và bao lâu để có thể tạo ra những con người như thế. Từ đó thiết kế lại toàn bộ chương trình học gồm những lớp nào, cấp nào; mỗi lớp, mỗi cấp như thế cần học những môn gì, không nên học môn gì, và mỗi môn như vầy sẽ có mục tiêu, nội dung và cách thức ra sao…Nếu không làm rõ như vậy, mỗi lần xảy ra chuyện gì, đụng đến cái gì thì lại bảo là cần chú trọng dạy cái đó.
Môn đạo đức hay kỹ năng sống cũng chỉ là một trong vô số môn học để đạt được mục tiêu giáo dục mà thôi. Nhưng ngay cả môn đạo đức hay môn kỹ năng sống hiện nay cũng có rất nhiều vấn đề, cả về mục tiêu, nội dung lẫn phương pháp.
Nhiều nơi cứ hô hào dạy kĩ năng sống cho học sinh (cái này cũng tốt) nhưng chỉ là hoa lá cành, còn cái gốc là những giá trị nền tảng thì lại chưa chú trọng. Tôi e rằng nếu chỉ lo học những kỹ năng, kỹ xảo, những thủ thuật, mẹo vặt…mà không học cái căn cơ, nền tảng để tạo nên một con người thì mọi thứ sẽ vẫn như cũ thậm chí sẽ còn tệ hơn.
Nhiều SV là sản phẩm của nền GD đầy lỗi....
- Bản thân những người gây ra tội ác này lại đều là những SV có học thức. Theo ông những chủ nhân tương lai của đất nước cần làm gì để làm chủ bản thân, để không đi đến những lối sống tha hóa, mất nhân cách, cầm thú như vậy?
Ba cỗ máy quan trọng nhất giúp hình thành nên con người là gia đình, nhà trường và xã hội. Nếu những cỗ máy này mà tốt thì sẽ tạo ra vô số sản phẩm tốt, và ngược lại, nếu những cỗ máy này có vấn đề sẽ tạo ra những sản phẩm đầy lỗi cả về trí tuệ lẫn tâm hồn. Nhiều SV hiện nay là sản phẩm của nền GD đầy lỗi. Vì vậy, vấn đề hiện nay là bản thân mỗi sinh viên cần nhìn nhận cho đúng về mình, rằng mình là một sản phẩm đầy lỗi hay là một sản phẩm ngon lành.
Tôi cho rằng, sinh viên là người lớn, nên cho dù thế nào thì những người có chút ý thức sẽ biết đi tìm chính mình và sẽ tìm ra chính mình, và hơn nữa còn biết làm thế nào để làm ra chính mình. Có 2 phương tiện quan trọng nhất để làm điều đó là “túi văn hóa” và “túi chuyên môn” hay nói cách khác đó là năng lực làm người và năng lực làm nghề.
- Vậy nếu có một cuộc cải cách GD toàn diện để tạo ra những con người có cái đầu khai minh và trái tim có hồn như ông nói thì theo ông cần phải làm gì và bắt đầu từ đâu?
Hiện nay cả nước đã thấy nền GD chưa tương xứng và đang chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. Nếu chỉ xét việc cải cách giáo dục theo tôi có 2 vấn đề tiên quyết là cải cách về triết lý GD và cải cách về guồng máy GD.
Để cải cách về triết lý GD thì cần phải định nghĩa lại GD, đó là trả lời đầy đủ, rõ ràng và thuyết phục 3 câu hỏi Thế nào là con người? Chúng ta muốn tạo ra những con người như thế nào? Làm thế nào để tạo những con người như thế? Chúng ta không thể đổi mới GD nếu không làm rõ thứ giáo dục mới đó là gì, và cần hiểu rằng, giáo dục là một công cụ để tạo ra con người tự do, con người khai minh, chứ không phải là công cụ để tạo ra con người công cụ.
Để cải cách về “guồng máy giáo dục” thì phải định nghĩa lại vai trò của 5 chủ thể then chốt trong một hệ thống giáo dục gồm nhà nước - nhà trường - nhà giáo - gia đình và người học.
Hiện tại nhà nước đang không làm nhiều việc vốn dĩ thuộc vai trò của mình, mà lại đi làm thay rất nhiều việc thuộc vai trò của 4 “nhà” còn lại (có nên làm chuyện tuyển sinh không, lo chuyện thi cử không, làm chuyện biên soạn sách không…công việc của nhà nước là giám sát hay làm thay và ai sẽ là người lo cái chuyện 50 năm nữa nền giáo dục của ta sẽ ra sao...)
Nhà trường và nhà giáo cũng tương tự, bỏ qua rất nhiều sứ mệnh cơ bản của mình và làm thay công việc của học sinh và phụ huynh (dạy là để giúp cho học sinh học, là giúp người học tự khai minh, chứ không phải là cố nhét vào đầu học sinh những thứ chỉ để thi…), còn việc vốn dĩ là của mình là giáo trình hay thi cử thì lại không được tự chủ vì nhà nước đã làm thay.
Gia đình thay vì giúp con trở thành chính nó thì lại bắt con trở thành chính mình…Vì vậy mỗi chủ thể then chốt trong guồng máy giáo dục hãy quay về đúng vai trò vốn dĩ của mình và trả lại những vai trò không phải của mình cho các chủ thể khác.
Tất nhiên, để thực hiện được 2 chuyện tiên quyết nói trên thì không chỉ dựa vào ngành giáo dục mà còn phải xuất phát từ tâm nguyện và quyết sách quốc gia của giới lãnh đạo tối cao. Nhưng nếu không giải quyết những chuyện tiên quyết này mà cứ đi vào những chuyện cụ thể như, hôm nay bàn chuyện sách giáo khoa, ngày mai bàn chuyện thi tốt nghiệp, ngày kia bàn chuyện tuyển sinh, chuyện giáo viên… thì chỉ bàn mãi mà không giải quyết được căn cơ vấn đề nào cả, hoặc càng giải quyết càng rối, càng tệ…vì chúng ta đang đi theo “quy trình ngược”.
- Cảm ơn ông!

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

Kỳ bí "kho báu" của quân khăn vàng ở Việt Nam


Cập nhật lúc 06:30 09/04/2013 (GMT+7)

Kỳ bí "kho báu" của quân khăn vàng ở Việt Nam

(Kienthuc.net.vn) - Gần hai tháng nay, dân làng Khỏn Sình, Lạng Sơn thay nhau canh giữ miếu Thổ Công vì họ phát hiện có kẻ đã "bí mật đào trộm kho vàng" của làng.
Huyền thoại của Khỏn Sình

Miếu Thổ Công nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, đoạn qua làng Khỏn Sình, phường Đông Kinh, TP Lạng Sơn. Theo khẳng định của nhiều người dân địa phương thì ở miếu Thổ Công làng Khỏn Sình có "kho vàng" hoặc cổ vật quý. Vì thế mà từ hàng trăm năm nay dân làng Khỏn Sình canh giữ miếu rất nghiêm ngặt không cho ai xâm phạm.
Khi thấy chúng tôi đến miếu Thổ Công, nhiều người dân làng Khỏn Sình đã tập trung đến để phản ánh thông tin về ngôi miếu đã đi vào huyền thoại suốt mấy trăm năm nay.
Theo lời của các bậc cao niên trong làng thì miếu Thổ Công là của dòng họ Trần. Ngày xưa, mỗi dòng họ lớn trong làng đều lập miếu thờ thổ công để thờ cúng thần đất. Riêng ở làng Khỏn Sình có tới 4 cái miếu thổ công, trong đó, miếu của dòng họ Trần là linh thiêng nhất, to đẹp nhất.
Đến nay, người dân làng Khỏn Sình không ai nhớ miếu Thổ Công được xây dựng vào thời gian cụ thể nào. Những người già đã sống gần một thế kỷ nay ở làng Khỏn Sình bảo rằng, khi họ lớn lên đã thấy ngôi miếu. Hồi đó bên ngôi miếu đã có một cây si và một cây gạo cổ thụ 5 người ôm không xuể. Trải qua trăm năm, nhưng dường như cây si và cả cây gạo không lớn hơn trước là mấy.
Trước đây, miếu Thổ Công chỉ bé chưa bằng một gian nhà bếp, vào mỗi dịp lễ, tết hay ngày rằm người dòng họ Trần ra miếu Thổ Công nhang khói. Về sau, người dân thấy miếu linh thiêng nên dân làng ai nấy đều tôn sùng. Vào dịp lễ, tết người dân cả làng đến miếu Thổ Công cầu cúng, cầu mong bình an... và miếu này được tôn thành miếu thờ thần thổ địa của cả làng Khỏn Sình.
Cách đây mấy chục năm, miếu Thổ Công nằm chơ vơ bên bờ sông. Vào mùa mưa lũ, nước sông đánh sát vào tận gốc cây si, cây gạo. Thấy miếu Thổ Công xuống cấp, năm 1948 một ông quan địa phương tên là Vi Đô, tên cúng cơm là Phan Lạng xây dựng lại to hơn. Sau khi xây lại miếu, đất phù sa từ thượng nguồn trôi về và bồi tụ nơi miếu Thổ Công,  tạo thành một bãi bồi có chiều rộng khoảng 100m dài khoảng 1km, đủ để bao bọc miếu Thổ Công khỏi các trận lũ lớn. Vì có dải đất này nên mấy chục năm nay, chưa có trận lũ nào nào vào được đến miếu Thổ Công.
Người dân làng Khỏn Sình tin rằng, dưới miếu Thổ Công
 có kho vàng. 

Miếu Thổ Công có đồng đen
Anh Trần Đức Nguyên người dân làng Khỏn Sình khoe rằng: Cách đây mấy chục năm, bố anh tên là Trần Văn Bắc đã hai lần nhặt được tượng đồng đen, một lần bố anh nhặt được ở đoạn trước cửa miếu Thổ Công tiếp giáp với sông Kỳ Cùng. Tượng đồng đen chỉ cao hơn chai bia, nặng trên 3kg. 
Sau khi nhặt được tượng đồng đen, bố anh Nguyên đã dùng dao đẽo vào xem đó là gỗ hay là đồng. Sau khi đẽo tượng bố anh bảo đó là tượng đồng đen. Khi nghe tin ấy, gia đình anh hoảng hốt vì sợ cả gia đình sẽ gặp phải điều rủi vì người dân làng Khỏn Sình rất sợ nhặt được đồng đen, nếu nhặt được đồng đen thì đó là điều rủi cho cả gia đình, nó có thể ám cả nhà ốm đau, bệnh tật mà chết... Chính vì thế nên sau khi biết bức tượng nhặt được là đồng đen, bố anh đã đem ra bờ sông Kỳ Cùng vứt.
Một thời gian ngắn sau, ông Bắc đi ra sông Kỳ Cùng bắt cá tiếp tục mò được một tượng đồng đen khác, nhưng ông đã vứt luôn và không đem về nhà.
Khi chúng tôi đang trò chuyện cùng anh Nguyên thì ông Lục Quốc Khanh, người dân làng Khỏn Sình bước vào tiếp chuyện: "Ngày còn trẻ bố nó (ông Bắc bố của anh Nguyên - PV) với mấy thằng bạn ra sông Kỳ Cùng tắm, khi vớt được tượng đồng đen còn chơi trò "mò tượng", tức là ném tượng đồng đen xuống sông, sau đó cả lũ thi nhau mò, ai mò được trước thì người ấy thắng. Tôi cũng là người được chứng kiến chuyện đó. Về sau trò nghịch dại này của lũ trẻ bị các cụ trong làng cấm đoán vì sợ bọn trẻ sẽ rước họa cho cả gia đình, dòng họ...".
Theo lời của nhiều người dân địa phương kể lại, cách đây khoảng 20 năm (1990), đã có vài người lạ mặt đến miếu Thổ Công đào bới. Địa điểm đào nằm ngay dưới gốc cây si và cây gạo để tìm cổ vật. Không rõ những người lạ mặt đó có đào được thứ gì hay không, nhưng chỉ sau hai đêm đào bới, nhóm người lạ mặt lững thững bỏ đi. Kể từ đó đến nay, xung quanh miếu Thổ Công đã diễn ra một số đợt đào bới lẻ tẻ do dân làng tự tổ chức để tìm kiếm đồ cổ nhưng không được. Tuy vậy, người dân vẫn hàng ngày canh giữ miếu để “kho báu” không lọt vào tay của những cánh thợ chuyên đào bới, săn lùng đồ cổ.
Một cửa địa đạo khai quật cổ vật
ngay trước cửa miếu Thổ Công. 

"Kho vàng" của quân khăn vàng?
Ngôi miếu Thổ Công nằm sâu trong ngõ 5 Đường Phai Vệ, TP Lạng Sơn. Miếu nằm trên một gò đất cao, bằng phẳng cách sông Kỳ Cùng khoảng 100m và ngay sát khu dân cư.
Khi chúng tôi đến miếu Thổ Công để tìm hiểu thông tin. Những người dân làng Khỏn Sình không ngần ngại kể về một kho báu của quân khăn vàng thời Thái Bình Thiên Quốc chạy loạn xuống phương Nam.
Sỡ dĩ người dân biết được thông tin này là do trong làng có một gia đình giữ được cuốn gia phả của dòng họ. Trong cuốn gia phả đó có nói đến các địa điểm ở các tỉnh Thanh Hóa, Lạng Sơn và Quảng Ninh chôn giấu vàng. Tuy nhiên, khối lượng vàng, bạc được chôn giấu nhiều hay ít thì cuốn gia phả không nói đến. Hiện nay không ai biết cuốn gia phả quí giá này do ai sở hữu, có điều, trước đây đã có nhiều người nhìn thấy cuốn gia phả, vì thế càng khiến cho người dân củng cố niềm tin rằng quanh miếu Thổ Công có "kho vàng" và ra sức bảo vệ.
Ông Lục Quốc Khanh cho biết: "Mấy chục năm nay, xung quanh miếu Thổ Công thường xuất hiện những nhóm dò tìm cổ vật. Có cánh thì đem theo chiếc máy dò hiện đại đến dò từng thước đất, đoàn này đi rồi đoàn khác lại đến khiến dân làng Khỏn Sình giận giữ".
Mặc dù cho rằng thần thổ công của làng Khỏn Sình rất linh thiêng nên sẽ ngăn cản kẻ xấu đột nhập vào “kho báu”, nhưng dân làng vẫn rất cảnh giác. Mỗi khi có đoàn người lạ mặt nào vác máy lảng vảng đến gần miếu Thổ Công người dân liền tập trung  đến để xua đuổi.
(còn tiếp)
"Miếu Thổ Công không phải là di tích cấp tỉnh, cũng không phải là di tích cấp Quốc gia. Từ xưa tới nay, việc xây dựng, chăm sóc và bảo vệ miếu đều do dân làng Khỏn Sình đóng góp công sức để làm. Năm 1990 người dân đã góp tài sản, tiền bạc để xây lại miếu cao ráo, sạch đẹp như hiện nay".
Ông Lục Ninh Hóong (người trông giữ miếu Thổ Công làng Khỏn Sình) 

Cập nhật lúc 06:35 11/04/2013 (GMT+7)
(Kienthuc.net.vn) - Từ trước Tết đến nay, người dân Khỏn Sình chưa nguôi giận trước việc một công ty bí mật đào một hố sâu hơn 5m để đánh cắp kho báu của làng. 
Đã có người đào được vàng

Ông Lục Minh Hóong, người trông coi miếu Thổ Công kể lại: "Khoảng năm 1952 - 1953 có một người bộ đội đào được một chum vàng trong lúc đào hầm trú ẩn ở bờ sông Kỳ Cùng, ngay trước miếu Thổ Công. Khi đào được, anh bộ đội này đã không đem theo người mà đem cả chum vàng chôn lại gần một bụi tre để đánh dấu cho dễ nhớ. Sau đó ít lâu, đơn vị của người bộ đội được điều động vào miền Nam đánh Mỹ. Trước lúc hi sinh, người bộ đội này đã viết một bức thư về cho gia đình, trong thư anh đã vẽ sơ đồ nơi anh chôn chum vàng, dấu hiệu nhận biết... Khi hòa bình lập lại, gia đình của người chiến binh này đã tìm đến miếu Thổ Công và đào được chum vàng mà anh bộ đội chôn giấu".
Ngoài ông Hóong, ông Khanh cũng là người đã chứng kiến sự việc gia đình người bộ đội đào được vàng cách đây mấy chục năm. Ông Khanh bảo: "Lúc đó chúng tôi thấy trong chum có những vật trang sức bằng vàng như vòng tay, dây chuyền vàng... Ngoài vàng ra còn có cả những đồng tiền bằng bạc được để trong chum. Khi đào được chum vàng, gia đình người bộ đội đó đã đem cả chum vàng về mà không biếu lại cho làng tí của cải nào".
Mặc dù đã có người đào được một chum vàng, nhưng người dân làng Khỏn Sình tin rằng, đó chỉ là phần rơi vãi của kho báu xung quanh miếu Thổ Công và dân làng không ngừng bảo vệ, tìm kiếm kho báu suốt mấy chục năm ròng.
Bãi đất trồng cây của Công ty Phương Trưởng. 

Đào miếu, đánh cắp kho báu?
Khi tiếp xúc với chúng tôi, những người dân làng Khỏn Sình bày tỏ sự giận giữ trước việc Công ty Cổ phần Phương Trưởng đã đào một cái hố sâu chừng 5m bán kính khoảng 2m vào chân miếu Thổ Công. 
Anh Trần Đức Nguyên, người dân làng Khỏn Sình dẫn chúng tôi đến cái hố mà nhiều người cho rằng, đó chính là nơi chứa cổ vật quý. Hố nằm ở vị trí phía dưới so với miếu Thổ Công, cạnh một bụi tre rậm rạp. Cửa hố cao bằng vai người, ăn sâu xuống lòng đất, hướng về phía miếu Thổ Công. 
Được sự chỉ dẫn của anh Nguyên, chúng tôi tìm đường chui xuống dưới. Một bên sườn hố được đào những bậc thang để lên xuống được dễ dàng. Ở vị trí cách mặt đất khoảng 1m có một nhánh hầm nhỏ hướng ra phía sông Kỳ Cùng, đi sâu xuống vài mét nữa tiếp tục có một nhánh hầm khác sâu gần 2m chạy dọc theo bờ rào miếu Thổ Công, phía đáy của hố là một phiến đá lớn.
Theo người dân làng Khỏn Sình thì năm ngoái, Công ty Phương Trưởng đã thuê đất của người dân ở khu vực bãi bồi ven sông Kỳ Cùng đoạn xung quanh miếu Thổ Công để trồng cây. Đến tháng 11/2012, công ty này bắt đầu đem máy móc và công nhân đến để đào hố trồng cây. Tuy nhiên, việc trồng cây chỉ là phụ, còn đào cổ vật mới là chính. Sau khi đào xong cổ vật người của Công ty Phương Trưởng cũng "bặt vô âm tín" để lại bãi đất với vài cây trồng dở.
Anh Nguyên kể lại: "Lúc Công ty Phương Trưởng đến trồng cây người dân không có phản ứng gì cả. Nhưng rồi một số hành động của công ty này khiến dân làng nghi ngờ. Đó là việc công ty đã làm một cái lán tạm nép vào bụi tre cạnh miếu Thổ Công. Miếu được che đậy cực kỳ kín đáo bằng lưới thép B40, cọc cốp pha và bảo vệ cẩn mật cả ngày lẫn đêm. Người của công ty này nói lán dùng để xơ dừa với thuốc để bón cây nên rất độc hại vì thế không cho bất kỳ ai vào".
Mâu thuẫn giữa dân làng Khỏn Sình với Công ty Phương Trưởng ngày càng gay gắt khi người dân thấy xuất hiện 3 nhà sư đến miếu Thổ Công để cúng bái. Việc này khiến người dân càng trở nên tức giận vì đi ngược lại với truyền thống của làng từ xưa tới nay, vì thế dân làng đã xua đuổi đám thầy sư và không cho tổ chức cúng bái ở miếu Thổ Công. 
Hố khai quật do Công ty Cổ phần Phương Trưởng đào. 

Phát hiện ra thì đã quá muộn?
Khi phát hiện Công ty Phương Trưởng cho người đào hố cạnh miếu Thổ Công thì người dân quá bức xúc. Dân làng cho rằng họ đang đào bới để đánh cắp kho báu của làng. Để ngăn cản, dân làng Khỏn Sình đã phá lán trại của Công ty Phương Trưởng, ngăn chặn việc đào bới, bảo vệ kho báu dưới miếu Thổ Công. Thế nhưng thực tế thì không ai biết Công ty Phương Trưởng đã đào bởi ở miếu Thổ Công chính xác vào thời gian nào và đã đào được gì chưa?
Theo anh Trần Đức Nguyên thì có lẽ Công ty Phương Trưởng đã đào hố khai quật từ khi mới bắt đầu triển khai việc trồng cây ở bãi đất thuê của người dân nằm trước cửa miếu Thổ Công, sát bờ sông Kỳ Cùng. Ban đầu công ty này dựng lán nép vào bụi tre sát với bờ rào miếu Thổ Công nên người dân tưởng đó là lán trại để bảo vệ tài sản. Ngay cả những hộ dân ở cách lán chỉ khoảng 10m cũng bất ngờ trước việc đào hố khai quật của Công ty Phương Trưởng. Thế nhưng, những hành động kỳ quặc là công ty trồng cây mà lại làm việc vào cả ban đêm đã khiến người dân nghi ngờ.
Nhiều người đã liên tưởng đến những sự việc diễn ra trước đó, đó là việc Công ty Phương Trưởng đã đem một loại máy mà nhiều người cho rằng đó là máy dò cổ vật, dò vàng đến miếu Thổ Công dò tìm. Chính vì thế người dân mới quyết định xua đuổi Công ty Phương Trưởng khỏi miếu Thổ Công.
Khi chúng tôi có mặt tại hiện trường thì thấy miệng hố được đào rất trơn tru, gọn gàng đến nỗi không một rổ đất nào bị rơi vãi ra miệng hố. Anh Nguyên phỏng đoán: "Rất có thể người của Công ty Phương Trưởng đã đào đất chôn xuống những hố trồng cây và vùi đất phù sa lại để ngụy trang, hoặc có thể đất được đổ xuống sông Kỳ Cùng để xóa dấu vết cho đến khi khai quật xong. Điều này chứng tỏ Công ty Phương Trưởng đã lên kế hoạch và có sự chuẩn bị rất kỹ càng từ trước đó nên mới hành động bất ngờ qua mặt hàng trăm người làng Khỏn Sình, đến khi người dân phát hiện ra thì đã quá muộn".

 "Sở Văn hóa đã có quyết định cho Công ty Cổ phần Phương Trưởng
 khai quật khảo cổ khẩn cấp vì nghi là có cổ vật quý. Tuy nhiên,
 khi Sở ra quyết định đồng ý khai quật thì phía Công ty Phương Trưởng
 đã khai quật xong theo kiểu "tiền trảm hậu tấu". Chính Sở cũng
 không biết Công ty Phương Trưởng đã đào được những cổ vật gì,
 số lượng bao nhiêu...".
Bà Ấu Thị Nga Sơn (Phó Giám đốc sở Văn hóa - Thể thao & Du lịch 
tỉnh Lạng Sơn) 


Lợi Dương

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

Khám phá “thuyền chiến” cơ động đầu tiên của người Việt

Cập nhật lúc 14:01 19/03/2013 (GMT+7)
(Kienthuc.net.vn) – Thời Hùng Vương, thuyền bè là trang bị quân sự quan trọng bậc nhất, làm nhiệm vụ chuyển quân, chuyên chở vũ khí lương thảo và tham gia những trận thuỷ chiến. 
Từ xa xưa, người Việt cổ đã sống gần sông nước, có tiếng giỏi bơi lặn, giỏi chèo thuyền. Sử sách Trung Quốc cổ có ghi lại, miền đất Văn Lang là “xứ sở của những người sống được dưới mặt nước”; hay, ở đất Việt cổ “việc trên cạn ít, việc dưới nước nhiều”… Các tư liệu lịch sử cũng ghi chép lại những chiến thắng oai hùng của quân ta trong các trận chiến trên sông nước. 


Trong giai đoạn từ Hùng Vương - An Dương Vương đến thế kỷ X, trang bị quân sự các chiến binh còn rất đơn giản, về cơ bản, chưa phân biệt rạch ròi với các trang bị, đồ dùng sinh hoạt thường ngày của nhân dân. Khi đó, thuyền bè là trang bị quân sự quan trọng và đáng chú ý hơn cả đối với các chiến binh. 


Thuyền chiến được khắc trên các trống đồng thời Hùng Vương cũng là hình tượng tiêu biểu cho thủy quân thời sơ khai. Những chiến binh cầm vũ khí, đứng trên thuyền được khắc trên tang trống hay thân thạp đồng Đông Sơn chứng tỏ vai trò của thuyền bè trong chiến đấu của người Việt từ thời Đông Sơn cho tới sau này. 


Đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều công trình, tác phẩm đề cập tới hình ảnh và sức mạnh những chiếc thuyền chiến thời Hùng Vương-An Dương Vương. Dựa vào hình ảnh hàng trăm chiến thuyền được khắc họa trên các trống, thạp và trên một số chiếc rìu “nghi trượng”, kết hợp với những tài liệu về chính con thuyền đào được ở Ngũ Thái (Bắc Ninh) và mộ quan tài hình thuyền ở Việt Khê (Hải Phòng)… các nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã phân chia sơ bộ thuyền bè thời Hùng Vương-An Dương Vương thành ba loại dựa theo hình dạng và quy mô.


 Trống Ngọc Lũ. Ảnh: Internet.
Thuyền độc mộc và thuyền thúng


Thuyền độc mộc và thuyền thúng là loại nhỏ và đơn giản hơn cả. Những chiếc quan tài hình thuyền thuộc Văn hoá Đông Sơn phát hiện được phổ biến ở vùng trũng đồng bằng sông Hồng cho biết phần nào hình dạng những chiếc thuyền độc mộc. 


Chiếc quan tài hình thuyền ở Việt Khê là một ví dụ. Quan tài được làm từ một thân cây gỗ rất lớn, đường kính tới gần 1m, được khoét rỗng hình lòng máng, sâu từ 0,24-0,34m, bên ngoài chỉ đẽo vạt sơ qua, hai đầu bịt bằng hai tấm ván dày có rãnh và chốt hãm, đầu lớn rộng 0,77m, đầu nhỏ rộng 0,57 m. Quan tài có hình dáng như một chiếc thuyền độc mộc dài 4,76m. 

Ngoài mộ thuyền Việt Khê, phần lớn quan tài hình thuyền Đông Sơn có chiều dài trên dưới 2m, đường kính khoảng 0,5m, nhưng chắc những chiếc thuyền độc mộc được các chủ nhân ở những mộ này sử dụng lúc sinh thời phải có quy mô lớn hơn. Tính theo luật tương quan những chiếc thuyền độc mộc khắc trên trống Đồi Ro, làng Vạc, các nhà nghiên cứu cho rằng những thuyền đó có chiều dài ít nhất là 3m, dài nhất tới 10m. 


Loại thuyền độc mộc đơn giản này hiện vẫn còn được đồng bào miền núi sử dụng để đi lại trong phạm vi hẹp, chở được chừng vài ba người và hàng hoá nhẹ.


Những chiếc thuyền khắc hoạ trên vài chiếc rìu phát hiện được ở vùng sông Mã được một số nhà nghiên cứu cho rằng đó là loại thuyền thúng. Thuyền thúng được đan bằng tre, sơn, trít nhựa cây, sơn ta để chống thấm nước. Thuyền có hình bầu dục, chở được tối đa ba người. Tuy nhiên khảo cổ học chưa phát hiện được một chiếc thuyền nào kiểu này.


Nếu thuyền độc mộc được sử dụng nhiều ở vùng núi độ dốc cao, nhiều thác thì thuyền thúng chủ yếu được dùng ở các vùng sông nước có dòng chảy êm đềm hơn và phạm vi hoạt động hạn hẹp hơn. Tuy nhiên, trong chiến đấu, khi cần thì cả thuyền độc mộc, cả thuyền thúng đều có thể tham gia đánh trận được. Đó là chưa kể có những trường hợp, đặc biệt là với lối đánh du kích, thì những loại thuyền nhỏ có tính cơ động, gọn nhẹ và đảm bảo yếu tố bí mật bất ngờ, lại đắc dụng hơn.


Thuyền ghép ván


Trên những trống, thạp Đông Sơn có niên đại tương đối sớm như Cổ Loa, Miếu Môn, sông Đà… khắc hoạ những chiếc thuyền thuộc loại lớn hơn. Đây không còn là những chiếc thuyền độc mộc nữa mà đã là những chiếc thuyền ghép ván có cấu tạo phức tạp, bao gồm cả chèo lái ở đuôi thuyền, một số trường hợp ở đáy thuyền có một hoặc hai tấm ván để giữ thăng bằng. Chiều dài của thuyền loại này có thể từ 10-15m.


 Các loại chiến thuyền thời Hùng Vương. (Ảnh Internet).
Thuyền chiến 


Loại thuyền lớn nhất, có thể gọi là thuyền chiến được khắc họa trên những chiếc trống Đông Sơn đẹp nhất như trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, thạp đồng Việt Khê, Hợp Minh… Điểm nổi bật của loại thuyền chiến này là bộ phận vọng lâu - có thể là nơi dành cho người chỉ huy hoặc là đài quan sát và chắc chắn nhất là vị trí chiến đấu của những lính cung nỏ. 


Tính theo luật tương quan, thuyền ghép ván có thể có chiều dài tới trên 20m. Đầu và đuôi thuyền có cấu tạo phức tạp. Mái chèo lái đằng đuôi rất lớn, rộng bản, người đứng hoặc ngồi chèo trong tư thế gắng sức. Sạp vọng lâu bố trí ở phần nửa sau thân thuyền, có khi gần giữa, có khi lui về phía đuôi thuyền. Vọng lâu cao chừng trên 1,5m. Trên sạp vọng lâu có từ 1-2 người đứng trong đó và bao giờ cũng có một người sử dụng cung tên hoặc nỏ. Dưới sạp cất giữ đồ đồng quý như trống, bình đồng. 


Ở giữa thuyền hoặc lui về phía mũi là vị trí của người đứng đánh trống. Chiếc trống da được đặt nằm ngang trên một hệ thống cọc, đỡ cao ngang ngực hoặc ngang mặt người đánh. Tay trái của người này đặt trên mặt trống, tay phải giơ ra sau nắm đầu một tù binh bị trói ngồi bệt trên sàn thuyền. 


Ở sát mũi thuyền là một chiến binh ngồi, hai tay cầm rìu xéo giơ lên phía trước. Sau anh ta có chiến binh đứng tay cầm giáo. Cũng như vậy, phía sau người đánh trống da, có khi có thêm một chiến binh cầm giáo, lao áp chế tù binh.


Thuyền trên trống Hoàng Hạ có thân ghép ván tương tự thuyền Ngọc Lũ, chỉ có một vài điểm khác rất nhỏ. Như vậy, trên các thuyền chiến, trừ người ngồi cuối thuyền bẻ lái, những người còn lại đều là chiến binh cầm vũ khí hoặc người chỉ huy đánh trống thúc trận. Tính chất thuyền chiến của loại thuyền lớn này là rõ ràng. 


Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, không loại trừ khả năng những chiếc thuyền chiến thể hiện trên các trống, thạp này đang tham gia vào một ngày lễ hội lớn nào đó. Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì các thuyền chiến này đang tham gia “duyệt binh”, phô diễn sức mạnh và tinh thần sẵn sàng chiến đấu của mình 

Phạm Thủy
Nguồn: http://kienthuc.net.vn/di-san/201303/Kham-pha-thuyen-chien-co-dong-dau-tien-cua-nguoi-Viet-899749/