Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Từ nhóm mười hai đến nếp sống mới

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

2. Từ nhóm mười hai đến nếp sống mới

Khi còn rao giảng ở Palestine, Chúa Giêsu đã kêu gọi mọi người hoán cải đón nhận nước Thiên Chúa và thâu nạp nhiều môn đệ. Ngài giáo dục họ về nước Thiên Chúa và thiết lập họ thành Hội thánh để tiếp nối công cuộc thực hiện nước Thiên Chúa trong lòng mọi người. Ngài đặt nhóm Mười Hai tông đồ làm nòng cốt và đặt Phêrô làm đầu. Con số 12 ngụ ý nhắc đến 12 chi tộc Israel. Con số 12 là cầu nối chuyển từ dân tộc Cựu ước sang dân tộc Tân ước là Hội thánh. Chính vì thế, khi bị mất một người là Giuđa, nhóm phải chọn một người khác thay thế, đó là Matthias (x. Cv 1,15-26).

Nhóm Mười Hai này được chọn từ giữa những người đã theo Chúa Giêsu từ những ngày đầu tiên (x. Cv 1,21-22). Suốt ba năm, họ được may mắn chia sẻ với Ngài một kinh nghiệm sống hoàn toàn mới. Được rong ruổi theo Ngài trên các nẻo đường Palestine, trong cảnh "không chỗ gối đầu" (Mt 8,20) nên họ thấm thía bài giảng về sự tin cậy Chúa Quan Phòng (x. Mt 6,25-34). Họ chứng kiến những người có vẻ đầy thiện chí nhưng lại bỏ cuộc trên đường theo Chúa ) vì vướng bận việc đời (x. Lc 9,5 7-62), nhất là vì không dứt được mối lo về của cải (x. Mc 10,17-22). Vì thế, họ xác tín những lời tuyên phúc của Chúa (x. Mt 5,3-12) và xác tín rằng không ai có thể làm tôi hai chủ, rằng ai còn say mê tiền bạc thì chưa thể phục vụ Thiên Chúa (x. Mt 6,24). Họ biết cái giá để theo Chúa Giêsu là phải từ bỏ tất cả (x. Mt 19,27-29; Lc 9,23-26). Họ đã có cơ hội đồng cảm với Chúa Giêsu trước sự chống đối và vu khống của người Do Thái, nhất là những tháng cuối đời Ngài. Họ còn được đích thân dự bữa ăn cuối cùng của Chúa, tận tai nghe lời Ngài nói về luật mới của Ngài: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Hơn thế nữa, chính họ còn được gặp lại Ngài, cùng ăn uống và chuyện vãn với Ngài nhiều lần sau khi Ngài từ cõi chết sống lại. Hơn hết giờ đây họ lại được Chúa Cha và Chúa Giêsu ban đầy tràn Chúa Thánh Thần và Chúa Thánh Thần đang tác động trên họ nơi từng nhịp tim và hơi thở.

Chính vì thế, họ đã khai sinh cho Hội thánh non trẻ của Chúa một nếp sống tuyệt vời:

42Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đò giảng dạy,luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. 43Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ.

44Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm t của chung. 45 Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu.

46 Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. 47Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người ‘được cứu độ. (Cv 2,42-45).

Nếp sống ấy được xây dựng trên tinh thần từ bỏ thanh thoát và hiệp thông vô vụ lợi:

32Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung. (Cv 4,32).

Đó là mẫu mực và là thách đố cho Hội thánh mọi nơi và mọi thời đại.

Từ xa xưa, người Việt đã biết rằng "ở đời muôn sự của chung", có nghĩa là tài nguyên trên trái đất được Thiên Chúa Tạo Hóa ban chung cho nhân loại để cùng san sẻ với nhau mà dùng. Đã có những nhà cải cách xã hội ước mơ xây dựng một cộng đồng nhân loại chan hòa yêu thương hạnh phúc, nơi đó mỗi người đều cống hiến hết khả năng và hưởng dùng tất cả những gì cần thiết, ai cũng hạnh phúc vì cảm nghiệm được cái ấm áp "mọi người vì mình và mình vì mọi người".

Quả là một thiên đàng trên trần gian khi loài người không còn tham sân si chút nào nữa. Cái gay go là làm sao để chẳng còn ai vướng phải tham sân si...

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.


Thứ Năm, 9 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Lễ Ngũ tuần

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

Hai cuộn băng thứ tư và thứ năm bị thất lạc. Nội dung chính của 180 phút này nói về 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo. Độc giả có thể tạm tham khảo những trang dưới đây được trích từ các bài 39-41 trong loạt bài chưa xuất bản của chúng tôi, tựa đề là Tin mừng cho người muốn nghe. Chúng tôi vẫn đang tiếp tục hỏi tìm hai cuộn băng này, bởi lẽ bài chia sẻ của Thầy Thế Tâm luôn đầy những suy tư sâu sắc, độc đáo của một triết gia Kitô giáo, một bậc tôn sư đã hòa hồn Việt vào thần học mới, và để lại cho cộng đồng Dân Chúa Việt Nam những suy tư, cảm nhận và diễn tả nhuần nhuyễn mà không những các trí thức trong và ngoài Công giáo, ngay cả nhiều tu sĩ và linh mục cũng nên biết và cần biết. (Trăng Thập Tự).

1. Lễ Ngũ tuần

Mười ngày sau khi Chúa Giêsu từ giã các môn đệ về trời, tức là 50 ngày sau ngày Chúa phục sinh, cũng nhằm một ngày lễ đặc biệt của Do Thái giáo, gọi là lễ Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần là Đấng Chúa Giêsu đã hứa, đã đến. Sự kiện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên cộng đoàn các môn đệ Chúa Kitô đã đánh dấu một khởi đầu mới. “Bấy giờ, ông Phêrô đứng chung với Nhóm Mười Một lớn tiếng nói với họ” (Cv 2,14). Kết thúc diễn từ, ông Phê rô nói:

“36 Vậy toàn thể nhà Israel phải biết chắc điều này: “ Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô."

37Nghe thế, họ đau đớn trong lòng, và hỏi ông Phêrô cùng các Tông Đồ khác: "Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” 38Ông Phêrô đáp: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần. 39Thật vậy, đó là điều Thiên Chúa đã hứa cho anh em, cũng như cho con cháu anh em và tất cả những người ở xa, tất cả những người mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi." 40Ông Phêrô còn dùng nhiều lời khác để long trọng làm chứng và khuyên nhủ họ. Ông nói: “Anh em hãy tránh xa thế hệ gian tà này để được cứu độ.” 41 Vậy những ai đã đón nhận lời ông, đều chịu phép rửa. Và hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo."

Số ba ngàn người ấy đến từ nhiều miền khác nhau quanh Địa Trung Hải, "có người là dân Pácthia, Mêđi, Elam, Mêxôpôtamia, Giuđê, Capađôkia, Pontô, và Axia, có người là dân Phygia, Pamphylia, Ai Cập, và những vùng Libya giáp giới Kyrênê; nào là những người từ Rôma đến đây; nào là người Do Thái cũng như người đạo theo; nào là người đảo Cơrêta hay người Ả Rập" (Cv 2,9-11). Họ đại diện cho cả ba châu lục thời ấy: Phi Châu, Âu Châu và Á Châu. Có thế nói, ngay ở bước đầu, Hội thánh Chúa đã nổi rõ tính cách hoàn vũ.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 8 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Thiên Chúa của Abraham - Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM

4. Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

Nói tóm lại, trong bản nhạc du dương dìu dặt đã bị xáo trộn, cuộc Khổ Nạn của Giêsu Kitô đã nhờ sự thuận tình tuân phục và hiếu thảo, mà thiết lập lại cái hòa điệu, sự dìu dặt của bản tình ca vốn có từ muôn thuở trong chính bản thể của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là mẫu mực cho những người nhìn nhận Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu thế. Bất cứ ai muốn đáp lại lời mời gọi thông dự vào thân thế và sự nghiệp của Ngài, chẳng những noi gương Ngài, sống như Ngài, mà còn kết hợp, đồng hóa với chính Ngài, để sự sống của chính Ngài tác động vào sự sống của ta, biến cuộc sống ta thành như một chất liệu trong bàn tay Ngài, thì Ngài đều dùng chính sự sống của Ngài tiếp diễn sứ mạng chữa trị, chữa khỏi căn bệnh tội ác mà hậu quả là đau khổ và sự chết đã len vào trong cái chương trình ban đầu của Thiên Chúa, nguyên chỉ là tình yêu và hạnh phúc. Vì thế, sau cuộc Khổ Nạn, tức là sau khi chứng bệnh nan y đã được chữa trị một cách triệt để, tận căn, thì cái hậu quả tốt lành xảy đến, đó là Ngài được phục sinh; và như thế là phục hồi cái chương trình ban đầu của Thiên Chúa, vốn tạo con ra, chẳng những với linh hồn bất tử mà cả với thân xác cũng bất tử, để được sống hạnh phúc đời đời vớ Ba Ngôi Thiên Chúa. Như vậy, khổ nạn với phục sinh không phải một bên là nguyên nhân và một bên là hậu quả như là một phần thưởng, mà có thể nói, đó là hai mặt của một tờ giấy duy nhất. Hễ có khổ nạn, thì trong khổ nạn đã là phục sinh, và muốn phục sinh thì đương nhiên phải bước qua ngưỡng cửa khổ nạn. Ngưỡng cửa ở đây là một sự thanh lọc như tôi vừa mới trình bày ở trên kia, là chất kim khí đã bị hủy hoại, đã bị mất phẩm tính, có thể ví như vàng đã bị xuống cấp thành chì hoặc là bị hoen ố thì phải chịu nung chảy và tinh luyện để được trở lại đúng với bản chất vàng ròng. Trở lại với bản chất vàng ròng để làm gì? Là để có thể kết hợp được với chính vàng là Thiên Chúa. Đó là một quy luật mà không ai có thể vượt ra ngoài được. Như vậy, cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh mang lại một soi sáng nào đó cho cuộc nhân sinh mà không ai có thể phủ nhận là đầy mồ hôi, nước mắt và máu xương suốt quá trình lịch sử; và, tôi nghĩ rằng, có thể vẫn còn tiếp tục cho đến ngày tận thế. Bởi vì từ nghìn xưa, đọc qua tiểu sử của mỗi người, lịch sử của từng cộng đồng, thì thấy tràn đầy máu, nước mắt và mồ hôi. Không đến nỗi hoàn toàn bi quan để nói trần gian này là bể khổ, thì cũng phải công nhận cái vốn liếng đau khổ của trần gian này là nhiều vô kể, và có lẽ trong giây phút chúng ta đang còn ngồi nói chuyện, trao đổi với nhau ở đây, thì trên trái đất này có bao nhiêu người vẫn đang đổ mồ hôi sôi nước mắt, vẫn đang đổ máu, hoặc đang đắm chìm trong tội lụy ở khắp nơi. Ai là người dám khẳng định bao giờ thì bi kịch ấy được chấm dứt, được xóa tan khỏi mặt địa cầu này? Chính vì thế mà Tông đồ Phaolô đã tuyên bố, tôi không rao giảng điều gì khác ngoài Giêsu Khổ Nạn và Phục Sinh, và đó là Tin vui được đem đến cho nhân loại, xét về một mặt nào đó, đang còn trầm luân trong bóng tối của đau thương và tội lỗi.

Kitô hữu chính là những người đón nhận Tin vui đó, đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa Cha, qua trung gian Đức Kitô, thừa hưởng cái thành quả của chiến công Ngài đã thực hiện trong cuộc Khổ Nạn, nhưng đồng thời, các Kitô hữu cũng kết hợp với Ngài, đồng hóa với Ngài, phổ quát điều mà Ngài đã hoàn thành một cách viên mãn khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá để đi vào sự phục sinh, bằng cách tiếp diễn nơi bản thân mình, nơi cộng đoàn mình chính cái thân thế và sự nghiệp của Ngài, mà chủ yếu vẫn là một cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh được tiếp diễn từng giây từng phút ở dưới mọi gầm trời cho đến ngày Cánh chung, khi mọi sự đã hoàn tất.

Như vậy, chúng ta bước sang một giai đoạn khác, đó là giai đoạn dân mới của Thiên Chúa, dòng dõi tinh thần của nhóm đệ tử trung thành đầu tiên của Ngài, mà như tôi nói, căn bản là mười hai Tông đồ, nòng cốt và là hạt nhân của dân Thiên Chúa trong giai đoạn mới, được gọi là thời Tân ước.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Thiên Chúa của Abraham - Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM

4. Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

Trong một vũ trụ, một xã hội đã xuất hiện bóng dáng sự dữ, hay nói đúng hơn là đã sống dưới nanh vuốt của sự dữ, thì sự hiện diện như một con người của Giêsu Nazareth không thể nào thoát khỏi cái kết cục đầy bi thương, nạn nhân của những cái xấu xa do tội lỗi gây nên trong lịch sử nhân loại. Cái chết của Giêsu Nazareth là hậu quả của một sự thuận tình sống trọn vẹn thân phận kiếp người, dựa vào niềm tin rằng, cuối cùng đó là trật tự, đó là quy luật mà Thiên Chúa tình yêu đã thiết lập ra; thuận tình tức là đền bồi lại sự phản loạn của ông bà Nguyên tổ; sự phản loạn đã mở cửa cho sự dữ hai mặt, là đau khổ và tội lỗi xen vào, ngự trị và tung hoành tác oai tác quái, xáo trộn cái chương trình, cái kế đồ tình yêu của Thiên Chúa.

Khi đã hiểu được như vậy, sẽ thấy rằng Giêsu Nazareth hình như khao khát đi cho hết con đường thân phận làm người, có sự nôn nóng sớm đạt tới giây phút cuối cùng, mà bất chấp trăm sự rên siết quằn quại đau thương của mộ con người là nạn nhân của những ô trọc, của những tội lỗi, nói tóm lại là của sự ác ở trần gian này, Ngài vẫn thực hiện thánh ý của Chúa Cha trong sự tự do, trong sự tự nguyện và có thể nói, trong niềm hân hoan phấn khởi; và trước khi trút hơi thở cuối cùng, Ngài đã nói rằng: Mọi sự đã hoàn tất.

Nếu các anh chị có dịp đọc kỹ các trang Kinh thánh tường thuật lại bản án Giêsu kết thúc bằng cuộc Khổ Nạn đầy ô nhục, đầy đau đớn của Ngài, thì có thể ví như dựa theo phương pháp cứu [châm cứu] của Đông Y: mọi cái dạng của sự ác được gom lại hết rồi đổ lên đầu Giêsu Kitô để từ đó vỡ ra và được trừ khử khỏi vũ trụ, khỏi nhân loại này. Cuộc Khổ Nạn của Giêsu Kitô như là một biện pháp hút hết tất cả cái sự ác, cái sự dữ đã len lỏi vào trần gian này, hút vào trong con người của Ngài để Ngài hủy diệt nó đi. Ngài chẳng những như một vị lương y, mà còn như là một phương thần dược tiệt trừ nọc độc của căn bệnh nan y là sự ác đã có mặt ở trần gian này.

Vì thế, cuộc Khổ Nạn đó bề ngoài có vẻ là một thất bại, nhưng bên trong bản chất lại là một chiến thắng lẫy lừng. Bao nhiêu cái ác của vũ trụ đã được thu gồm lại, đã được kết tụ lại đặt lên vai Ngài để Ngài xóa đi, để Ngài mang nó ra khỏi thế gian này. Đúng là hình ảnh Con Chiên, vừa gánh tội thiên hạ vừa là xóa tội thiên hạ. Vì vậy, trăm nghìn bài kinh phụng vụ nhắc đến cuộc Khổ Nạn của Ngài, có khi đã dùng các cụm từ như cuộc Khổ Nạn vinh quang, cuộc Khổ Nạn đầy diễm phúc, bởi vì cuộc Khổ Nạn, như tôi nói, chính là liều thần dược cứu chữa nhân loại và vũ trụ khỏi chứng bệnh thâm căn cố đế, tiếng chuyên môn gọi là tội Tổ Tông, mà chủ yếu là sự phản bội, sự phụ tình đối với Thiên Chúa. Thần dược ấy là gì? Là sự tuân phục, sự trung thành, lòng hiếu thảo của một người Con đối với Thiên Chúa Cha từ ái, Đấng tạo thành mọi sự trong tình yêu, mời gọi loài thụ tạo đi vào tình yêu xuyên qua con đường tình yêu.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Thiên Chúa của Abraham - Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM

4. Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

Có thể nói rằng, bản chất của thờ phượng Thiên Chúa là tin vào sứ điệp tình yêu đó, đón nhận sứ điệp tình yêu đó, và như thế thì có thể nói những hữu thể vốn là loài thụ tạo hư hèn, được dựng nên từ hư không, như hạng dân lê thứ được mời vào cung điện nhà vua để lên ngôi hoàng tử, đồng trị vì với vị Đông cung Thái tử là Ngôi Hai Thiên Chúa

Như vậy, quá trình lịch sử của dân tộc Do Thái là một sự duy trì lời giao ước, duy trì lời hứa hẹn của Thiên Chúa và chuẩn bị cho điều Chúa đã hứa, là thực hiện một kỳ công tuyệt diệu, đó là cho xuất hiện một người, Giêsu Nazareth, con bà Maria, vừa là con người trọn vẹn, vừa đích thực là Con Thiên Chúa, và qua trung gian của con người tột đỉnh ấy mà mời gọi bất cứ con người nào thuận tình đón nhận và thông dự vào chính cái vị thế tôn quý ấy. Đó là ý nghĩa cuối cùng, mục đích cuối cùng của dân tộc Do Thái được gọi là Cựu Ước, tức là giao ước cũ, và giao ước cũ ấy đã được thực hiện nơi Giêsu Nazareth. Nói cách khác, khi Đức Giêsu Nazareth xuất hiện trong vũ trụ này thì kế đồ, hay chương trình tình yêu của Thiên Chúa đã được thực hiện, đã hoàn thành.

Thế nhưng, như ta đã thấy ở trên kia, cái kế đồ, cái chương trình tình yêu đó đã bị xáo trộn vì sự cám dỗ, mê hoặc của Ác thần, cho nên, thay vì được tiến triển trong một quy trình hài hòa tốt đẹp, thì đã gặp phải những bất ổn, trải qua những giai đoạn bi thương thống thiết; do đó, thân thế và sự nghiệp của Đức Giêsu người Nazareth, là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, phải trải qua một giai đoạn cam go, là cuộc Khổ Nạn. Cuộc Khổ Nạn này có một giá trị cứu chuộc. Thật ra, chữ cứu chuộc có hơi nặng nề và hơi có tính cách tiêu cực, thiên về một cách nhìn duy luật thế nào đó khiến chúng ta có cảm tưởng Chúa Cha như một chủ nợ mà loài người mắc nợ, và Giêsu Nazareth phải trả cho đến đồng xu cuối cùng, tức là nhỏ đến giọt máu cuối cùng, khi đó mới được tha nợ.

Nhưng đó chẳng qua chỉ là một cách nhìn, một cách hiểu nào đó, không phải là sai, nhưng không được hoàn chỉnh. Riêng tôi nghĩ, chúng ta có thể hiểu như thế này, tội mà chúng ta gọi là Tội Nguyên tổ, nguyên nhân của mọi đau khổ và mọi tội lỗi lan tràn khắp cả nhân loại, cả vũ trụ này chính là hậu quả của một sự bất tuân, một sự phản loạn, một sự bội ước của loài thụ tạo đối với Đấng Tạo thành, mà đáng lẽ thụ tạo phải biết ơn, cảm tạ, yêu mến và thuận tình. Bởi lẽ, bản chất toàn hảo của Thiên Chúa không thể nào kết hợp được với những cái gì là ô trọc, là tiêu cực; tựa như không thể nào làm cho vàng kết hợp nhuần nhuyễn với chì được, phải biến chì thành vàng, lúc ấy mới kết hợp nhuần nhuyễn được. Vậy, nếu Thiên Chúa là Đấng chí thánh chí thiện toàn hảo, và nhân loại cứ đắm chìm trong tội lỗi, thì chuyện kết hợp là không thể được; nếu muốn kết hợp được, đương nhiên phải có một sự thanh luyện nào đó.

Sự thanh luyện cần có là gì, nếu không phải là sống thánh ý của Thiên Chúa vốn đầy từ ái? Cho nên cuộc Khổ Nạn của Giêsu Nazareth không phải là một cuộc trả nợ cho đến đồng xu cuối cùng, mà là một thái độ tâm tình của người con hiếu thảo thuận tình với Thiên Chúa Cha, vì tin rằng ý muốn của Chúa Cha là ý muốn của một Đấng toàn hảo chỉ đem lại sự thánh thiện tốt lành mà thôi. Vì vậy, khi xuống thế làm người, Giêsu Nazareth thuận tình đi vào cái trật tự, cái quy luật đương nhiên của một vũ trụ, của một xã hội đã xuất hiện bóng dáng của sự dữ. Ngài không đòi hỏi Thiên Chúa phải miễn trừ cho Ngài, dành cho Ngài một quy chế đặc biệt nào đó tách biệt khỏi anh em, nhưng Ngài vui lòng sống thân phận con người, bị mọi quy luật của vũ trụ, của xã hội chi phối, và thuận tình chấp nhận đến tận hậu quả cuối cùng.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Thiên Chúa của Abraham - Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM

4. Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

Như vậy, nhìn qua thì thấy rằng, thờ phượng Thiên Chúa giống như một kiểu nô lệ hóa, nhưng đào sâu thì sẽ thấy rằng, thờ phượng Thiên Chúa là phương thế duy nhất giải thoát con người khỏi sự thờ phượng lệch lạc đối với các ngẫu tượng là những thụ tạo ở cấp hạ đẳng hơn con người.

Cái xã hội được tổ chức chung quanh Đền Thánh luôn luôn có những hy tế ngày đêm được toàn thiêu trên bàn thờ Thiên Chúa, chính là phương thế giải thoát con người khỏi bất cứ ách nô lệ, bẩt cứ giá trị tương đối, bất cứ quyền lực nào ở trần gian này.

Việc thờ phượng Thiên Chúa bao hàm một quan niệm cho rằng, trong vũ trụ này, ngoài Thiên Chúa ra, con người là trên hết. Nếu con người có xu hướng phụng thờ, hiến dâng, thì chỉ phụng thờ, hiến dâng Thiên Chúa mà thôi, chứ không có một thụ tạo nào có quyền tiếm vị Thiên Chúa, bắt con người phải phụng thờ, phải hiến tế cho nó, vì nó chẳng qua chỉ là ngẫu tượng, chỉ là loài thụ tạo. Do đó, xét về một mặt, thờ phượng Thiên Chúa là nâng cao phẩm giá con người lên trên tất cả mọi giá trị ở trần gian này.

Đương nhiên điều đó bao hàm một điểm là Thiên Chúa không phải là một bạo chúa, sinh ra loài thụ tạo để bóc lột loài thụ tạo phục vụ cho mình, bởi vì, nếu Thiên Chúa có thật, là Đấng toàn năng, Đấng viên mãn, thì sự thờ phượng, sự hiến tế của con người chẳng đem lại gì cho Ngài cả, mà chẳng qua là đặt con người vào đúng vị trí, vào đúng nhân phẩm của họ, nghĩa là trên bất cứ thụ tạo nào, và chỉ dưới quyền Thiên Chúa mà thôi. Và Thiên Chúa không phải là một Thượng đế tác oai tác quái, nhưng là Thiên Chúa Cha từ ái, ban tất cả mọi ân sủng cho con người đã được Ngài thương yêu, thương yêu đến mức sai chính Ngôi Hai Thiên Chúa mang lấy thân phận làm người, để nâng cao con người lên vị trí của một Ngôi Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, làm chủ toàn thể vũ trụ này. Như tôi đã nói ở trên kia, trong trùng dương tình yêu bát ngát dìu dặt muôn thuở là chính Thiên Chúa Ba Ngôi.

Do đó, giữa sinh hoạt tôn giáo, khát vọng của con người muốn được trở nên như chính Thiên Chúa chỉ thực hiện được trong sự thờ phượng Thiên Chúa, qua trung gian của Giêsu Nazareth vừa là con người như bất cứ con người nào, vừa là một Ngôi Vị Thiên Chúa. Đức Giêsu là Con, nên cùng bản tính với Thiên Chúa, có một sự đồng đẳng, có một sự ngang hàng với chính Thiên Chúa. Bởi vì, nói theo lối loại suy, tuy tương quan Cha - Con là tương quan phẩm trật, có trên có dưới, nhưng đồng thời là tương quan ngang hàng trên bình diện hữu thể. Cha là người thì Con cũng là người.

Chính cái điều, như tôi nói, Thiên Chúa mạc khải, bày tỏ nỗi niềm tâm sự với nhân loại, không có gì khác là nói với nhân loại rằng, dù là thụ tạo hư hèn được dựng nên từ hư không, con người không phải là tôi đòi của Thiên Chúa, và hơn nữa ngay cả khi con người phạm tội, phản nghịch cùng Thiên Chúa, thì Thiên Chúa vẫn một mực yêu thương, ban Con Một của Ngài cho nhân loại, để tất cả những ai tin vào Người Con Một đó thì cũng được trở nên những người con yêu dấu của Thiên Chúa.

Như thế, mạc khải ấy cũng có thể hiểu rằng, trở về với Thiên Chúa không phải như kẻ nô lệ đào tẩu bị đuổi bắt, bị gông cùm và phải trở lại với thân phận nô lệ tôi đòi, mà là trở về với vị Cha già đang đứng trước cửa trông đợi đứa con thân yêu trở về để hưởng phần gia nghiệp, để cùng với Cha và với anh em xây dựng cơ đồ, mà cơ đồ ở đây không gì khác hơn là trở thành thân thích vương đế với chính một Ngôi Vị Thiên Chúa, là Thiên Chúa Ngôi Hai đã xuống thế làm người trong Giêsu Nazareth.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.


Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Thiên Chúa của Abraham - Tội lỗi và ơn cứu chuộc



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM

4. Tội lỗi và ơn cứu chuộc

Đối với quan niệm của dân Do Thái về thần quyền, tiếng Pháp gọi là Théocratie, thì những lỗi lầm về chính trị, xã hội, đạo đức, nhân bản đều là hậu quả của một điều sâu xa hơn, đó chính là việc tôn thờ ngẫu tượng, tức là sự bội ước của con người không chịu chấp nhận sự hướng dẫn, sự dẫn đạo của Thiên Chúa, nghĩa là trong xã hội Do Thái có một cái nhìn về đạo đức luân lý cho rằng đạo đức luân lý tự nó không thể tồn tại được, nếu không được xây dựng trên một nền tảng vững chắc là chính sự nhìn nhận, tôn thờ, tuân phục Thiên Chúa là Đấng, chẳng những toàn năng mà còn là Đấng chí thánh, chí thiện, là mẫu mực tuyệt đối, là nền tảng của mọi giá trị trần gian, mà cao nhất là những giá trị đạo đức. Bất cứ xã hội nào cũng phải thấm nhuần điều đó đối với những mối giềng của mình trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống cộng đồng.

Chính vì vậy, có thể nói rằng dân Do Thái là một cộng đồng được Thiên Chúa tách riêng ra, bảo vệ, gìn giữ một cách đặc biệt, để vừa làm như phát ngôn nhân của Ngài, vừa làm như nơi bảo vệ chính điều mà Ngài muốn nhắn gửi đến toàn thể nhân loại, đó là:

- Thứ nhất, con người chỉ sống xứng đáng với nhân phẩm của mình, ngay cả trong những sinh hoạt trần thế, với điều kiện là thờ phượng, tôn kính Ngài, tuân phục những giới răn của Ngài.

- Thứ hai, bất cứ giá trị trần gian nào, dù cao quý đến đâu, cuối cùng cũng chỉ là tương đối, bởi vì chỉ là loài thụ tạo, vì vậy, không nên tuyệt đối hóa nó. Một khi những giá trị tương đối được tuyệt đối hóa tiếm vị của Thiên Chúa, bấy giờ sẽ kéo theo những hậu quả tai hại ngay cả trên phương diện trần gian. Nó sẽ dần dần phá vỡ, hủy hoại tất cả mọi mối giềng trần thế, không chỉ những mối giềng giữa con người với nhau, mà kể cả tương quan của con người với vũ trụ.

- Thứ ba là, không được hy sinh con người cho bất cứ giá trị trần gian nào, bởi vì chỉ có Thiên Chúa mới là giá trị tuyệt đối xứng đáng cho con người hiến tế.

Vì vậy, trong sinh hoạt của xã hội Do Thái, việc thờ phụng Thiên Chúa dưới dạng hiến tế những phẩm vật chiếm một vị trí quan trọng. Thoạt nhìn có thể hiểu đó như là một thứ thuế mà con người là những tá điền, những công nhân phải đóng cho Thiên Chúa như là địa chủ, hoặc chủ tư bản; nhưng ý nghĩa sâu xa có lẽ là con người, trong thâm tâm, bao giờ cũng có một nhu cầu, có một kêu gọi thờ phượng, tôn kính, hiến dâng, mà cái nhu cầu thờ phượng, tôn kính hiến dâng đó chỉ được đáp ứng một cách thỏa đáng khi được hướng đến một đối tượng đích thực tuyệt đối, chí thánh, chí thiện, toàn hảo, nhược bằng không thì sẽ bị lệch đường và biến con người, hạ thấp con người xuống vị trí những kẻ làm tôi đòi cho những ngẫu tượng, và những ngẫu tượng đó xét ra thì ở cấp thấp hơn con người vốn có ngã vị, có chủ thể tính, có tự do tính.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Thiên Chúa của Abraham - Lịch sử thánh (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM

3. Lịch sử thánh (tiếp theo)

Nếu quả thực vạn vật này do Thiên Chúa tạo thành, và nếu quả thực chỉ có Thiên Chúa mới đúng là Đấng chí thánh, chí thiện, chí tôn, nói tóm lại là toàn hảo và tuyệt đối, thì con người chỉ nên thờ phượng, chỉ tuân phục Ngài mà thôi, chứ không nên thờ phượng bất cứ cái gì, không tuân phục bất cứ cái gì, dù cái gì đó có đem lại cho con người những lợi lộc này nọ.

Dân Do Thái luôn bị cám dỗ bởi những lợi lộc trần gian, cũng như thường bị uy hiếp bởi những quyền lực thế gian, nên họ đi đến chỗ phản bội Thiên Chúa, vi phạm giao ước, đánh mất niềm tin tưởng vào cái giá vô cùng cao quý của lời Thiên Chúa đã hứa, để rồi phụ bạc đối với Ngài, chạy theo các ngẫu tượng.

Hình như đó là điểm độc đáo của dân Do Thái và sứ sứ mạng của họ chính là ở chỗ làm chứng tá cho sự hiện hữu của Thiên Chúa chí tôn, Đấng tạo thành trời đất và muôn vật.

Dân Do Thái đại diện cho nhân loại đón nhận giao ước, trung thành với giao ước, tin tưởng chờ đợi ngày sự hứa hẹn của Thiên Chúa được thực hiện, cụ thể là hứa gửi Đấng Thiên sai cứu thế đến để thiết lập lại cái trật tự ban đầu đã bị Ác thần xen vào quấy nhiễu bằng cách dụ dỗ hai ông bà Nguvên tổ phạm tội, lôi kéo nhân loại và vũ trụ đi vào cái trần gian đầy đau thương và tội lỗi này. Đấng Thiên sai cứu thế đến không những để đưa về lại tình trạng nguyên sơ mà còn đẩy cao lên đến chỗ thành tựu viên mãn, theo đúng như kế đồ, như chương trình sáng tạo của tình yêu Thiên Chúa.

Đương nhiên, xã hội dân Do Thái, cũng như bất cứ xã hội nào, cũng đầy rẫy những tội ác về mặt tương quan con người với nhau, phạm đến công bằng và bác ái. Việc vi phạm các tương quan xã hội, thì đối với xã hội nào cũng đều là tội ác cần phải tránh xa, ai yếu hèn sa ngã ắt phải bị trừng trị theo luật pháp. Nhưng điểm độc đáo nơi lịch sử dân Do Thái, đó là những vi phạm về tương quan xã hội như vậy cũng cách nào đó mang tính cách tôn giáo, được xem như gián tiếp xúc phạm đến Thiên Chúa. Bởi lẽ, như tôi đã nói ở trên, những quy tắc chi phối các tương quan xã hội là do chính Thiên Chúa thiết lập, nếu vi phạm thì, một mặt, là xúc phạm đến công bằng xã hội, nhưng mặt khác, sâu xa hơn, là xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Như vậy, trong dân tộc Do Thái, những lỗi phạm, tuy không thuộc về việc thờ phượng Thiên Chúa, mà chỉ là những lỗi lầm đối với loài người, thì cũng bị xem như là xúc phạm đến chính Thiên Chúa.

Trong những lúc dân Do Thái sa đọa, nhất là dưới ảnh hưởng cửa những hôn quân, bạo chúa và ngay cả những vị Thượng tế đã bị hủ hóa, thì Thiên Chúa lại sai phái những vị Ngôn sứ nhắc lại những lời giáo huấn, những điều luật của Thiên Chúa và thường thì các vị Ngôn sứ ấy là những tấm gương sáng chói về mặt nhân bản, các ngài là những nhà có thể nói là cách mạng xã hội và đôi khi, một cách gián tiếp, cách mạng chính trị, bởi vì, do ảnh hường của các vị Ngôn sứ ấy, một mặt dân Do Thái trở về với Thiên Chúa, tuân thủ những điều luật do Thiên Chúa thiết lập, một mặt là chấn hưng đạo đức, giúp dân sống đúng tinh thần công bằng, bác ái.

(Còn tiếp)

- Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Thiên Chúa của Abraham - Lịch sử thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM

3. Lịch sử thánh (tiếp theo)

Ngoài ra, nếu dân Chúa trung thành với giao ước được tiến hành qua các nghi thức tế tự và các giềng mối xã hội, thì Thiên Chúa sẽ ban ơn lành cho cuộc sống được phồn vinh, thịnh vượng; còn nếu dân Thiên Chúa không trung thành với giao ước, qua nghi thức phụng vụ và qua bộ luật quy định về các mối giềng xã hội, thì Thiên Chúa sẽ bỏ rơi và dân Do Thái sẽ bị trầm luân, sẽ bị chiến bại, trở thành nạn nhân của những cuộc xâm lăng, những cuộc thống trị do các đế quốc hùng cường tiếp tục thay nhau thống trị trên vùng Cận Đông, từ Lưỡng Hà cho đến Ai Cập.

Như vậy, lịch sử dân tộc Do Thái là một lịch sử tiếp diễn của những sự kiện, trong đó một nét rõ ràng nhất, đó là Thiên Chúa bao giờ cũng vẫn trung thành với giao ước của Ngài, trong khi đó dân Do Thái, mà Thiên Chúa gọi là dân cứng đầu cứng cổ, lại thường hay phản bội; và hễ mỗi lần phản bội như vậy, thì sẽ có những thiên tai, địch họa xảy đến giáng xuống trên đầu dân Do Thái.

Sở dĩ như vậy là để dân Do Thái ý thức sự phản bội của mình, để ăn năn hối cải, lặp lại quyết tâm trung thành tuân giữ những giới răn của Thiên Chúa mà trước hết là bản Thập Điều, sau nữa là cả một mạng lưới quy định về phụng tự, về mối giềng xã hội. Bấy giờ Thiên Chúa sẽ lại đoái thương, can thiệp trực tiếp để cứu thoát dân Do Thái khỏi những thiên tai, địch họa. Những địch họa ấy có lúc trầm trọng, đẩy dân Do Thái đến bờ vực của sự, chẳng những là mất nước, mà còn là bị tiêu diệt hoàn toàn, nhất là hai lần bị ách thống trị của các đế quốc lân cận, đến mức đưa những lớp dân ưu tiển đi lưu đày nhằm xóa nhòa sự hiện hữu của dân Do Thái trên mặt đất này. Thế nhưng rồi, qua thời gian thử thách, dân Do Thái ăn năn hối cải và lại được Thiên Chúa trực tiếp cứu thoát khỏi những tai họa đã ập xuống trên đầu họ.

Có một điểm độc đáo, đó là sự trung thành của dân Do Thái bị một thử thách, cám dỗ rất trầm trọng bởi việc, thay vì nhìn nhận Thiên Chúa như là Đấng mà mình phải tuyệt đối tôn thờ, vâng phục, thì trước sự hấp dẫn của những nền văn hóa ngoại bang có thể nói là cao hơn, tinh vi hơn, dân Do Thái đã đua đòi thờ phượng các vị thần ngoại bang ấy, thay vì thờ phượng Thiên Chúa là chủ tể đích thật của đất trời. Cơn cám dỗ, có thể nói là tội nặng nề nhất mà dân Do Thái vấp phạm, đó là rời bỏ Thiên Chúa để đi theo các vị thần ngoại giáo, tiếng Pháp gọi là Idolâtrie, đôi khi dịch là thờ ngẫu tượng, hoặc nói nôm na là thờ bụt thần, dưới một cái dạng có thể nói là thô sơ và được hình dung bằng những thần tượng dưới dạng các thụ tạo, ví dụ con bò vàng.

Dân Do Thái thường xuyên để mình bị rơi vào cám dỗ thờ phượng ngẫu tượng. Ý nghĩa sâu xa của bi kịch ấy là hình như Thiên Chúa dùng dân Do Thái đế khẳng định chỉ có Thiên Chúa thật, Đấng tạo thành trời đất, Đấng chí tôn tuyệt đối, còn bất cứ thứ gì ở trần gian này đều phải đặt dưới Ngài. Và con người chỉ được phép thờ phượng Thiên Chúa thật mà thôi, chứ không có quyền, và cũng không nên tôn thờ, sùng bái những ngẫu tượng, bởi vì cuối cùng, những những ngẫu tượng dù có đem lại gì cho con người chăng nữa, thì cũng chỉ là những thụ tạo hư hèn, mong manh… nếu không muốn nói là ô trọc. Thật ra, hình như chức năng của dân Do Thái là duy trì trong nhân loại cái chân lý ấy.

Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Thiên Chúa của Abraham - Lịch sử thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM

3. Lịch sử thánh (tiếp theo)

Như tôi đã nói, vì giới hạn thời giờ của những buổi trao đổi giữa chúng ta, và cũng vì tinh thần nhấn mạnh đến khía cạnh lịch sử tư tưởng nhân loại cho nên tôi không tập trung nhiều vào chiều kích thuần túy lịch sử; vả lại, lịch sử dân Do Thái từ khi Môsê lập quốc cho đến bây giờ, các bạn có thể tìm đọc ở bất cứ pho lịch sử nào của thế giới, tôi chỉ rút tỉa ra những ý nghĩa về phương diện có liên hệ mật thiết với nội dung đức tin Kitô giáo.

Như chúng ta đều biết, bất cứ một dân tộc nào, khởi đầu từ giai đoạn bộ tộc rồi lên đến chỗ hình thành một quốc gia tương đối có kỷ cương, có cơ chế, cũng đều mang một tính chất thần thoại nào đó. Dân Do Thái cũng vậy, nhưng có điều đặc biệt ở chỗ này: nơi các dân tộc khác, sau một thời gian, với sự tiến bộ, người ta không còn tin vào tính chất truyền thuyết thần thoại nữa, thế nhưng, riêng dân Do Thái thì luôn giữ mãi tính chất có thể nói là thần thoại ấy và tin chắc rằng đó là sự thật, có sự can thiệp đích thực của Thiên Chúa vào lịch sử của dân tộc mình, và sự can thiệp trổi trang nhất, quyết định nhất chính là cuộc giải thoát chủng tộc miêu duệ của Abraham khỏi ách nô lệ của dân Ai Cập, bằng một phép lạ lẫy lừng là vượt qua Biển Đỏ. Khi thấy Môsê đã đưa dân thoát ra khỏi lãnh địa Ai Cập, vua Pharaoh tiếc nuối, cho chiến mã và kỵ binh đuổi theo định bắt lại. Thế nhưng Thiên Chúa đã vạch ra một con đường khô cạn giữa lòng biển, để dân Do Thái toát khọi sự truy kích của họ.

Sở dĩ dân Do Thái xác tín vững vàng mình là dân đượcc Thiên Chúa tuyển chọn là vì họ căn cứ vào phép lạ lẫy lừng hiển hách ấy của Thiên Chúa. Và trong cách hiểu siêu nhiên, thì không riêng dân Do Thái, tất cả các hệ Kitô giáo cũng đều tin tưởng rằng, việc bộ tộc miêu duệ của Abraham thoát khỏi ách nô lệ trên đất Ai Cập, đi về Đất Hứa, được xem như là dân riêng của Thiên Chúa, quả thực là chứng cứ nền tảng của lòng tin sắt đá vào sự can thiệp của Thiên Chúa để giải thoát dân Do Thái mà Ngài tuyển chọn, và sau nữa là can thiệp vào lịch sử của nhân loại và của diễn trình vũ trụ.

Điểm đặc biệt thứ hai là, thường đối với các bộ tộc trong thời sơ khai, thì yếu tố thần linh, yếu tố tôn giáo, tính cách thần kỳ nào đó chỉ xuất hiện trong một giai đoạn nhất định rồi dần dần về sau được tục hóa theo những quy luật của bất cứ xã hội nào về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa.

Chỉ có riêng dân tộc Do Thái, suốt hàng chục thế kỷ, tính cách thần quyền, thần trị chẳng những không giảm bớt, mà có thế nói ngày càng chặt chẽ, càng gia tăng. Đương nhiên vẫn có song song hai quyền lực: một quyền lực thế trần do các vị thủ lãnh mà khởi đầu là những vị phán quan, về sau dân chúng mới yêu cầu thiết lập một vương triều; nhưng cái vương triều phàm tục đó vẫn phần nào, không phải là đặt dưới quyền lãnh đạo trực tiếp, nhưng là bị chi phối bởi một giáo quyền song hành được lãnh đạo bởi vị Thượng tế và lập ra một cộng đoàn tư tế tiếp tục củng cố, khai diễn viêc thờ phượng Thiên Chúa, tức là bảo tồn cái giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài đã chọn, chờ đợi lời hứa của Thiên Chúa sẽ gửi Đấng Thiên sai, Đấng Cứu thế đến với dân tộc mình và, qua dân tộc mình, đến với toàn thể nhân loại. Vì vậy, cơ chế của dân tộc Do Thái là một cơ chế rất đặc biệt. Pháp luật của dân tộc Do Thái, của Nhà nước Do Thái đặt trên một bộ khung được xem như là những Lề luật do chính Thiên Chúa đặt ra, trước hết là qua bản Thập Điều mà Môsê được mô tả là đã lên đỉnh núi Sinai lãnh nhận từ tay Thiên Chúa viết vào tảng đá. Kế đến là cả một hệ thống luật lệ vô cùng chặt chẽ, chi phối đến từng chi tiết nhỏ, trước hết là những nghi thức phụng vụ được cử hành nhằm kỷ niệm lại cuộc giải thoát khỏi ách nô lệ của Ai Cập bằng phép lạ vượt qua Biển Đỏ, được gọi là Lễ Vượt Qua. Sau nữa là từng chi tiết tế tự, từ quy mô của Đền Thánh cho đến các ngày Lễ, rồi đến các nghi thức, quy định chọn tế vật, xông hương, v.v... Và do đó, gắn liền rất chặt chẽ với cả bộ Luật nghi thức phụng vụ đó là những mối giềng, từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội, và trên các bình diện kinh tế, tư pháp, văn hóa, chính trị, v.v... Có thể nói, dân Do Thái cảm thấy mình bị ràng buộc vô cùng chặt chẽ bởi một mạng lưới nghi thức tôn giáo và giềng mối xã hội. Nhưng, cái độc đáo ở chỗ, ngoài các nghi thức tế tự ra, ngay cả những mối giềng xã hội đến từng chi tiết, chẳng hạn cách cho súc vật ăn uống, cách ăn mặc, đi đứng, mướn người, thuê người, vay nợ, trả nợ, v.v… đều mang tính chất thiêng liêng như là mệnh lệnh của Thiên Chúa mà sự tuân thủ, không phải chỉ nhằm mục đích an toàn xã hội, bảo đảm an ninh trật tự, mà còn là để bày tỏ lòng trung thành với giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài tuyển chọn, và đó là điều kiện để Thiên Chúa thực hiện lời hứa hẹn. Đỉnh cao của hứa hẹn đó chính là sự giáng sinh của Đấng cứu chuộc nhân loại.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.