Thứ Hai, 20 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Hội thánh thâm nhập vào đời sống xã hội

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

6. Hội thánh thâm nhập vào đời sống xã hội

Tới cuối thế kỷ thứ III, Tin mừng đã lan rộng khắp Đế quốc Rôma. Đế quốc này bao quanh vùng Địa Trung Hải. Nhờ có quân đội hùng mạnh giữ an ninh, các xứ thuộc địa đều phát triển. Đường giao thông thuận lợi, việc qua lại giữa các thành phố lớn được dễ dàng, nên các Kitô hữu (người buôn bán, binh lính, nhà giáo, du khách) cũng theo đó mà đưa Tin mừng của Đức Giêsu đi khắp nơi.

Người Rôma thờ nhiều thần và thờ lạy cả hoàng đế. Họ có nhiều nô lệ. Luật của họ chho người chủ có quyền giết nô lệ của mình hoặc bắt nô lệ của mình hoặc bắt nô lệ thi đấu với sư tử, với hổ, để mua vui cho công chúng. Riêng những ai đã thành Kitô hữu thì chỉ thờ phượng một Thiên Chúa chân thật duy nhất mà thôi. Họ coi mọi người đều là anh em, kể cả các nô lệ và những người bị kết án tử hình.

Cách sống của các Kitô hữu có vẻ khác lạ như vậy cho nên họ thường bị bách hại. Cũng có những Kitô hữu bị khủng bố đã từ bỏ đức tin, nhưng đa số họ đều bằng lòng chịu đau khổ và chịu chết vì Danh Chúa Giêsu: Ta gọi họ là các vị tử đạo hoặc các chứng nhân đức tin. Khởi từ một nhóm nhỏ những người đánh cá vùng Biển hố Galilê, các môn đệ Chúa Giêsu đã lan tràn khắp đế quốc Rôma. Thực tế ấy thật đúng với lời dụ ngôn Chúa đã báo trước:

"Nước Trời tựa như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được."(Mt 13,31-32).

Năm 285, hoàng đế Diocletian chia đế quốc thành hai nửa là đế quốc Rôma phía Tây và đế quốc Rôma phía Đông. Phía Đông nói tiếng Hy Lạp, phía Tây nói tiếng Latinh. Đế quốc Tây Rôma sụp đổ vào năm 476, còn đế quốc Đông Rôma tiếp tục tồn tại trong thời Trung cổ và chỉ bị tiêu diệt vào năm 1453 khi Medhed II của đế quốc Ottoman chinh phục thành Constantinople.

Năm 311 hoàng đế Constantinô của đế quốc Rôma gia nhập Kitô giáo. Hội thánh được hưởng thái bình. Nhiều nhà thờ huy hoàng lộng lẫy được thiết lập từ thời ẫy vẫn còn cho tới ngày nay, như đền thờ thánh Phaolô ở ngoại thành Rôma, đền thờ Đức Bà, vương cung thánh đường Giêrusalem… là những chúng tích của nền kiến trúc Kitô giáo thời ấy.

Kinh thánh lúc đầu được viết bằng tiếng Hípri và Hy Lạp, nay được thánh Giêrônimô dịch sang tiếng Latinh, vì lúc đó rất nhiều nước nói tiếng Latinh.

Nhiều bộ óc vĩ đại trình bày sứ điệp Kitô giáo trong những tác phẩm bất hủ. Ta gọi các ngài là những thánh giáo phụ. Các ngài vừa là những nhà tư tưởng vừa là những người lãnh đạo các giáo đoàn.

Tinh thần Tin mừng đã thấm vào xã hội, đem lại một não trạng về công bằng và bác ái. Hội thánh đã thực sự là điều Chúa báo trước: "Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men" (Mt 13,33).

Trong thời này, Hội thánh phải đối đầu với những nhóm ly khai và lạc thuyết. Nhóm ly khai trầm trọng nhất, rộng rãi nhất và kéo dài nhất là lạc thuyết Arianô, do linh mục Ariô khởi xướng. Nhiều công đồng đã được triệu tập để giải quyết các vấn đề hệ trọng. Năm 325, các giám mục họp công đồng Nikêa ở Tiểu Á, long trọng công bố đức tin của Hội thánh. Từ đó ta có các kinh Tin Kính.

Theo gương thánh Antôn, có những Kitô hữu đã quyết tận hiến đời mình cho Thiên Chúa. Họ sống cô tịch trong sa mạc. Nhiều người khác theo chân thánh Baxiliô ở phương Đông và thánh Biển Đức ở phương Tây, sống thành cộng đoàn, cùng nhau cầu nguyện, làm việc và sống thinh lặng: đó là các đan sĩ.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Từ thời các sứ đồ cho đến năm 311: những cuộc bách hại

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

5. Từ thời các sứ đồ cho đến năm 311: những cuộc bách hại

Thế rồi Mùa Xuân của Dân Chúa sớm qua đi và Mùa Hạ nóng bức đã vội đến.

Sách Công vụ tông đồ cho ta thấy cái khó khăn đặc biệt của Giáo hội sơ khai mà khung cảnh Do Thái tạo nên. Một đàng, ai nấy rất đau lòng vì đa số người Do Thái không chấp nhận Tin mừng và tệ hơn nữa, họ còn tìm đủ cách để phá hoại, bôi nhọ, tẩy chay, khủng bố. Đàng khác, một số tín hữu gốc Do Thái đã muốn Hội thánh phải duy trì các luật lệ Do Thái cho tất cả các Kitô hữu khác, như việc cắt bì và các quy luật về việc ăn uống. Từ việc đó đã nảy ra nhiều vụ ly khai đau lòng xâu xé Hội thánh. Các thư trong Tân ước để lại bằng chứng là ngay trong Hội thánh sơ khai đã có nhiều người vấp phải những sai lạc về giáo lý, dựng nên những tà thuyết tai hại, nhưng cũng ngay từ đầu, Hội thánh đã đặt nặng vấn đề duy trì nguyên vẹn đức tin do các tông đồ để lại và loại trừ những nguyên nhân hủy hoại, cắt xén hoặc sửa đổi giáo lý mạc khải. Việc xác định danh sách các sách Kinh thánh hồi năm 150 nói lên ý chí đó.

Bên cạnh đó, Tin mừng được rao giảng và lúc đế quốc Rôma cực thịnh. Đế quốc này nguyên thủy là một nước Cộng hòa khởi đầu hơn 500 năm trước Công nguyên. Đến nửa sau thế kỷ I TCN, nó đã chuyển thành một Đế quốc, với các lãnh tụ Julius Caesar (100 TCN - 44 TCN) và Caesar Augustus (63 TCN - 14 SCN). Sự mở rộng cương thổ của Rôma đã đạt tới cực đỉnh vào thời hoàng đế Trajan (trị vì 98 -117), kiểm soát gần 6,5 triệu km2.

Hoàn cảnh chính trị thống nhất và kinh tế phồn thịnh làm cho việc đi lại rao giảng được thuận lợi, số người đón nhận Tin mừng tăng nhanh. Nhưng đế quốc Rôma đã sớm tỏ thái độ, họ ý thức được rằng có một cái gì đó đang bành trướng, rằng có một nhóm người cho dù rất trung thành với nhà nước, nhưng không chấp nhận uy quyền tuyệt đối của đế quốc. Rồi những lời vu khống và dư luận quanh co đã khơi mào cho những cuộc bách hại (chẳng hạn người Kitô hữu bị vu cáo đã gây ra vụ cháy thành Rôma dưới triều hoàng đế Néron năm 64).

Suốt ba thế kỷ, những cuộc bách hại đẫm máu phát sinh từ lý do này, nguyên cớ kia, đã không ngừng đàn áp các tín hữu. Tuy nhiên nguyên nhân cuối cùng thật ra chỉ vì họ là người Kitô giáo, tín đồ của một "tôn giáo mới", thành ra nhiều người trong giới cầm quyền đã rùng mình trước cái vô lý của sự bách hại, nhưng họ không có quyền chấm dứt sự bách hại đó, trong khi các tín hữu thì cứ khăng khăng giữ đức tin của mình. Trong một lá thư viết lối năm 111 – 113 của hoàng đế Trajan gửi cho Pline le Jeune, Tổng trấn Tiểu Á, ta đọc thấy rõ sự bối rối đó: "Sêconđiô thân mến, nhà ngươi đã theo đúng đường lối trong những chỉ thị về vụ xử án những người bị tố cáo là Kitô hữu. Đừng tìm cách để phát giác họ. Nhưng nếu có ai tố cáo họ cho nhà ngươi, và lời tố cáo đó có nền tảng, thì hãy phạt họ cho tới khi nào họ chịu chối không nhận mình là Kitô hữu, nếu kẻ nào chịu chối mình không là Kitô hữu (và chịu nhân danh các thần minh của chúng ta để làm chứng lời chối bỏ đó) thì dù trước đó nó có đáng bị tình nghi đến đâu đi nữa, nó cũng có thể được tha nhờ lời chối thề đó. Nhà ngươi đừng để ý gì đến những lời tố cáo nặc danh, bởi đó là chuyện rất phiền toái, và cũng không còn hợp với thời này nữa". Những lời đó là câu trả lời cho một lá thư của Pline viết đại lược như sau: "Tôi đã không tìm thấy họ có lỗi gì cả”. Nhưng dù thế nào, người ta vẫn phạt các Kitô hữu, vì họ "cố chấp" và vì những "dị đoan" của họ.

Nhiều bản tường thuật còn giữ được cho chúng ta thấy những cảnh dữ tợn đáng kinh hãi, và những cảnh anh hùng không hề biết tới khiếp sợ. Trong thời kinh hoàng đó, các Kitô hữu đã phải lén lút cử hành thánh lễ và các buổi cầu nguyện trong các đường hầm nghĩa địa (nay được gọi là các hang toại đạo), nhưng ngày nay trên vách hầm, lời còn đập vào mắt chúng ta nhiều nhất lại là: "PAX" - BÌNH AN!

Các Kitô hữu coi việc đổ máu làm chứng cho đức tin là một điều may mắn. Người ta khao khát số phận của các vị tử đạo. Người ta kính mến họ, không coi họ như những nhân vật quá khứ, trái lại, như những người hiện sống trên thiên đàng. Người ta xin họ chuvển cầu cùng Chúa cho những người còn ở trần gian. Ngày họ chết được gọi là ngày sinh nhật. Ta thấy việc tôn kính các thánh bắt đầu xuất hiện, vì vững tin vào cuộc sống mới ở bên kia cái chết?

Cũng trong ba thế kỷ này, xuất hiện những nhà tư tưởng thật lớn, khởi đầu cho dòng suy tư Kitô giáo về sứ điệp Tin mừng.

Về việc cai quản Hội thánh, theo lá thư của thánh Ignatiô thành Antiôkia gửi cho dân thành Smyrna vào năm 100, ta thấy lúc đó đã có một tổ chức thật rõ: mỗi giáo đoàn địa phương có một "giám mục”, các "niên trưởng”, (linh mục) và phó tế. Trong tác phẩm Chống các tà thuyết viết lối năm 190, thánh Irênê cũng ghi lại danh sách các giám mục kế tiếp nhau tại Rôma (tức là Giáo hoàng).

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Công cuộc của Thiên Chúa và là mầu nhiệm (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

4. Công cuộc của Thiên Chúa và là mầu nhiệm (tiếp theo)

k. Hiền thê Đức Kitô

Khi Chúa Giêsu chịu khổ nạn, cộng đoàn Ngài thiết lập tưởng chừng tan rã. Nhưng không, lúc Ngài chết cũng chính là lúc Ngài ban sinh khí cho Hội thánh. Cái chết của Ngài là chết để "thâu nạp con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về lại làm một" (Ga 11,52). Tin mừng Gioan còn ghi thêm một đoạn thật cảm động: Khi Đức Giêsu đã chết, một người lính lấy lưỡi đòng đâm thủng cạnh sườn Ngài, máu và nước chảy ra. Sách Sáng thế diễn tả tình vợ chồng của Ađam và Eva bằng hình ảnh cạnh sườn: Thiên Chúa cho Ađam ngủ yên và rút xương sườn của ông để tạo nên Eva. Đức Kitô là Ađam mới. Khi yên nghỉ trên thập giá, cạnh sường Ngài đã bị đâm thấu qua. Các giáo phụ coi việc máu và nước từ cạnh sườn chảy ra ấy như việc Đức Kitô sinh ra Hội thánh là bạn trăm năm của Ngài. Trước đó, chính Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh vợ chồng để nói về tình nghĩa của Ngài và Hội thánh (xem Mt 9,14-15; Ga 3,26).

Chắc bạn ngạc nhiên, làm sao Hội thánh có thể vừa là hiền thê của Đức Kitô vừa là thân thể Đức Kitô, vừa ở ngoài Ngài, vừa là chính thân Ngài? Kinh nghiệm tình yêu của người Việt cũng có một cái tương tự. Trong tiếng Việt, vợ chồng gọi nhau là "mình”. "Mình ơi" nghĩa là "thân thể của tôi ơi”, vì lẽ vợ chồng đã nên một thân thể. Nơi tình nghĩa giữa Chúa Kitô và Hội thánh, những kiểu nói ấy không còn là ví von, nhưng là sự thật. Chúa Kitô yêu mến Hội thánh còn hơn vợ chồng yêu mến nhau, và hơn cả chúng ta yêu bản thân:

"Chồng hãy yêu mến vợ, cũng như Đức Kitô đã yêu mến Hội thánh, và đã phó nộp mình đi, ngõ hầu tác thánh, tẩy sạch, là tắm rửa cho bằng nước và lời, hầu tự tặng cho mình một Hội thánh quang vinh, không vết nhơ hay nét nhăn, hay chút gì như thế; trái lại, để Hội thánh thực là thánh thiện, vô tì tích. Cũng vậy, chồng phải yêu mến vợ như chính thân mình... cũng như Đức Kitô xử với Hội thánh” (Ep 5,25-30).

l. Người mẹ

Sau cùng, Hội thánh là hiền thê của Đức Kitô thì cũng là mẹ các tín hữu, vì chính Hội thánh cộng tác với Đức Kitô trong việc sinh ra các tín hữu.

m. Một thực tại vừa nhân loại vừa thần linh

Qua những diễn tả trên, ta thấy Hội thánh thật là một thực tại huyền diệu. Vừa là một tổ chức trần thế vừa là một sự sống thần linh. Hội thánh vừa là một xã hội có phẩm trật, vừa là thân thể Chúa Kitô; vừa là một hiệp hội hữu hình vừa là một cộng đoàn thiêng liêng; vừa là một Giáo hội trần gian vừa là Hội thánh của Thiên Chúa. Hội thánh gồm cả yếu tổ nhân loại và yếu tố thần linh, không thể tách rời ra được. Nhờ vậy mà Hội thánh là bí tích cứu rỗi, nghĩa là dấu hiệu hữu hình diễn tả và đem lại ơn cứu rỗi vô hình và là dụng cụ của quyền năng Thiên Chúa.

Xưa kia những người Do Thái sống bên cạnh Chúa Giêsu chỉ thấy Ngài là một người như bao người khác. Chỉ những ai tin vào Ngài, sống với Ngài, tham dự cuộc khổ nạn và phục sinh của Ngài mới hiểu được rằng Ngài không những là người, nhưng còn là Thiên Chúa. Nhân tính của Chúa Giêsu kết hợp chặt chẽ với thần tính của Ngài cách bất khả phân ly để nên phương tiện sống động Thiên Chúa dùng cứu rỗi nhân loại. Cũng tương tự như vây, ngày nay, dưới lớp áo hữ hình của một tổ chức xã hội, Hội thánh còn là một thực tại thần linh.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Công cuộc của Thiên Chúa và là mầu nhiệm (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

4. Công cuộc của Thiên Chúa và là mầu nhiệm (tiếp theo)

đ. Gia đình Thiên Chúa

Người Việt chúng ta còn gọi nhau là đồng bào, cùng một bào thai, cho rằng cả dân tộc cùng một mẹ sinh ra. Cũng thế, Hội thánh vừa là dân Thiên Chúa, vừa là gia đình của Thiên Chúa, tất cả đều là con cái của một Cha chung trên trời, nên là anh em với nhau.

e. Thân thể

Người Việt lại nói: "Anh em như thể tay chân”. Trong Hội thánh của Đức Kitô, sự thật còn hơn thế nữa, không phải chúng ta chỉ coi nhau như thể tay chân, mà chúng ta thực sự là tay chân của nhau (Rm 12,5], vì Đức Kitô là đầu, Hội thánh là thân thể và tất cả chúng ta là những chi thể làm nên thân thể Đức Kitô.

Trong thân thể ấy, đôi khi ta có thể gặp những chi thể bị lệch lạc, tê liệt, ung thư... Nhưng Hội thánh vẫn là thân thể của Đức Kitô, được chính Thánh Thần của Ngài tác động. Giáo hội được gọi là Hội thánh, có nghĩa là một Giáo hội có tính cách thánh thiện không phải vì các phần tử của Hội thánh đã nên hoàn thiện, nhưng vì họ đã thuộc riêng về Đức Kitô và được Chúa Thánh Thần tác động.

g. Cánh đồng

Hội thánh còn được gọi là Cánh đồng của Thiên Chúa (1Cr 3,9: Ga 4.35: Mt 9,37).

h. Vườn nho

Chúa cũng còn gọi Hội thánh là vườn nho riêng của Ngài. Người Việt chúng ta cũng có một hình ảnh tương tự để nói lên tình dân tộc giữa Kinh và Thượng (dân tộc ít người): "Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn".

i. Nhân loại mới

Hội thánh không phải chỉ quy tụ người Kinh và người Thượng, nhưng là mọi dân tộc trên thế giới.
Ngay từ lễ Ngũ Tuần, ngày ra mắt của Hội thánh Chúa, những người xin chịu phép Rửa tội đã gồm cả các dân tộc Á, Âu, Phi là ba đại lục của thời ấy. Với đặc tính phổ biến đó, Hội thánh được gọi là công giáo, nghĩa là Hội thánh "hằng có ở khắp thế này" mở rộng cho mọi người, mọi dân tộc và mọi thời đại, không trừ ai. (Trong lịch sử, tiếng Công giáo còn được hiểu theo một nghĩa cụ thể là Hội thánh hữu hình nhìn nhận quyền đại diện tối thượng của người kế vị thánh Phêrô, tức là Đức Giáo hoàng như dấu hiệu hiệp nhất của Hội thánh).

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Công cuộc của Thiên Chúa và là mầu nhiệm

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

4. Công cuộc của Thiên Chúa và là mầu nhiệm

Ngôn ngữ Âu Tây và cả kiểu nói của anh em Tin Lành Việt Nam đều gọi nhà thờ là Hội thánh. Lý do là chính ngôi thánh đường cho ta ngay cái hình ảnh Hội thánh là Nhà Thiên Chúa, là một công cuộc do Thiên Chúa xây dựng cho gia đình của Ngài: "Cả anh em nữa, ví thể những viên đá sống, hãy để Ngài xây cất anh em làm tòa nhà thiêng liêng” (1Pr 2,5).

Như thế, khi nghe đến Giáo hội hoặc Hội thánh, có thể người ta dễ nghĩ ngay đến nhà thờ, thánh lễ, giáo dân, linh mục, Giáo hoàng... Nghĩa là một tổ chức xã hội hữu hình, có phẩm trật. Thế nhưng, đó chỉ là khuôn mặt bên ngoài, còn bản chất thâm sâu của Hội thánh là gì?

a. Nhúm men

Là Kitô hữu, chúng ta sống rải rác trên mọi miền trái đất, dù không biết tên nhau, nhưng cùng hiệp thông với nhau sâu đậm. Chúng ta không có đồng phục, không mang phù hiệu, nhưng cùng chung một đức tin và một tình yêu thương. những dấu hiệu vô hình nhưng rất rõ rệt. Chính vì thế mà trong các lớp đào tạo hay các tập thể xã hội, các bạn trẻ Kitô hữu từ những miền xa lạ khi gặp nhau rất dễ nhận ra nhau. Họ gặp nhau và làm cho Hội thánh hiện diện trong môi trường, không phải như một nhóm đóng kín, nhưng như một hạt nhân hướng đến mọi người, như một nhúm men yêu thương muốn làm cho cả đống bột rời rạc cũng được dậy men:

"Về Nước Trời thì cũng in như men bà nọ lấy vùi vào rá bột cho đến khi tất cả dậy men” (Mt 13,33).

b. Hạt cải

Linh mục Charles de Foucauld một mình sống lăn lộn giữa các bộ lạc da đen trong sa mạc Phi châu, để đem lại cho họ sự tươi mát của tình thương, hòa bình và tiến bộ. Chỉ một mình anh là Kitô hữu giữa thế giới da đen Hồi giáo, nhưng Hội thánh đã hiện diện ở đó như một hạt cải xứ Palestine, như một hạt phấn thông Đà Lạt, rất nhỏ nhoi, nhưng chuẩn bị đang vươn thành một cây cao lớn đầy bóng mát:

"Về Nước Trời thì cũng in như hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Nó nhỏ tí thua mọi thứ hạt giống, nhưng khi nó đã lớn lên thì to lớn hơn rau cỏ mà thành một cây, đến nỗi chim trời đến nương náu nơi cành nó" (Mt 13,31-32).

c. Đoàn chiên

Như Charles de Foucauld, các phần tử của Hội thánh tản mác giữa loài người, mất hút trong đám đông. Thế nhưng đó chính là "đoàn người được Chúa triệu tập", là "nhóm người họp lại", theo ý nghĩa của tiếng Hội thánh, Ekklesia, trong nguyên ngữ Hy Lạp. Một sáng Chúa nhật nào đó, khi chuông nhà thờ đổ, đứng trên gác chuông nhìn xuống, bạn có thể thấy hình ảnh thật đẹp của sự thật ấy: từ những ngõ hẻm âm thầm nhất, những con chiên của Chúa theo tiếng chuông gọi đàn, đổ ra những con đường lớn, tiến về ràn chiên. Chính Chúa Gièsu dã dùng hình ảnh nầy để diễn tả Hội thánh:

"Ta còn những chiên khác nữa không thuộc ràn này, các con chiên ấy, Ta cũng phải chăn dắt, và chúng sẽ nghe tiếng Ta, và sẽ thành một ràn chiên, một chủ chiên” (Ga 10,16).

d. Dân Thiên Chúa

Thánh Phêrô gọi Hội thánh là dân riêng của Thiên Chúa, từ ngữ đã được dùng để chỉ dân tộc Cựu ước trước kia: "Anh em là dòng giống được lựa chọn, hàng tư tế hoàng vương, nước thánh thiện, dân tộc được Thiên Chúa chọn làm sở hữu” (1Pr 2,9).

Người ta có thể ngạc nhiên khi thấy Kinh thánh diễn tả Hội thánh bằng những hình ảnh rất khác biệt nhau, nhưng có lẽ người Việt chúng ta không lấy làm lạ. Chúng ta vẫn gọi dân tộc Việt Nam là nhà Việt Nam, và nhắc đến tình tự dân tộc dưới hình ảnh một đàn gia súc: "Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ", "Gà cùng môt mẹ chớ hoài đá nhau".

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Hình thành tổ chức (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

3. Hình thành tổ chức (tiếp theo)

c. Tu sĩ

Tu sĩ không phải là một bậc ở giữa giáo sĩ và giáo dân, nhưng là một ơn gọi để người Kitô hữu nên thánh cách đặc biệt. Cả giáo sĩ và giáo dân đều có thể đáp lại tiếng gọi ấy để đóng góp thêm hơn vào sứ mệnh cứu độ của Hội thánh.

Trong ơn thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, đời sống tu trì có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: sống ẩn dật một mình hay sống thành cộng đoàn và có thể theo những nếp sống và luật tu khác nhau tùy từng dòng. Thế nhưng tất cả vẫn có một căn bản chung: mọi tu sĩ đều nhắm trở nên trọn lành theo lý tưởng Tám mối phúc thật (x. Mt 5, 2-12) và làm chứng cho mọi người thấy một cách sống động rằng Nước Trời đã thực sự đến giữa loài người và cách riêng đã thực sự đến nơi chính bản thân người tu sĩ, những người đã tự hiến cho Thiên Chúa.

Để tận hiến cho Thiên Chúa và để theo chân Chúa Giêsu Kitô một cách trọn vẹn, cũng như để hoàn toàn dấn thân phục vụ cho Nước Trời, người tu sĩ tự nguyện tuyên khấn 3 điều:

- Từ bỏ quyền có của cải riêng để chia sẻ tất cả với anh chị em (sống nghèo).
- Sống khiết tịnh độc thân trong tình huynh đệ cộng đoàn (khiết tịnh).
- Từ bỏ ý muốn riêng để chuyên chăm tìm kiếm ý Chúa trong một dòng tu hay một tu hội được Hội thánh chính thức công nhận (vâng lời). '

Ba điều ấy còn được gọi là ba lời khuyên Tin mừng. Việc tự nguyện cam kết sống theo ba lời khấn ấy sẽ giúp người tu sĩ thanh luyện tâm hồn và phát huy tự do tâm linh để luôn luôn sống bác ái nhiệt thành, ngày càng nên giống đời sống khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời mà Chúa Kitô và Đức Mẹ đã sống. Như thế, đời sống tu trì là một phương thế đặc biệt, không những để phát triển và hoàn thiện nhân cách của người tu sĩ mà còn giúp họ phục vụ nhân loại một cách sâu xa và hữu hiệu.

Với các lời khấn khó nghèo, vâng lời và khiết tịnh, các tu sĩ triệt để nỗ lực bản thân và hưởng ứng tác động sáng tạo của Thiên Chúa. Nếp sống ấy cũng là một dấu hiệu lôi cuốn mọi chi thể của Hội thánh can đảm chu toàn ơn gọi Kitô hữu, để Hội thánh ngày càng xứng đáng là một dân tộc được nghe lời Thiên Chúa và đang làm cho lời ấy vang dội khắp thế giới.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Hình thành tổ chức (tiếp theo)

 



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

3. Hình thành tổ chức (tiếp theo)

b. Giáo dân

Chung quanh Đức Giáo hoàng và các vị chủ chăn trong Hội thánh là tầng lớp giáo dân đông đảo. Đó là những người dân của Đạo, những người mà Tin mừng nói tới đầu tiên, là những người rất âm thầm nhưng rất quan trọng. Đó là Giuse, Maria, các đạo sĩ, những người chăn chiên. Đó là Elisabet, cụ già Simêon, bà cụ Anna... Đó là những người đầu tiên vì đó là Dân Thiên Chúa. Chính từ giữa họ mà phát xuất Phêrô, nhóm 12 và các môn đệ. Từ giữa họ, phát xuất các chú chăn của Hội thánh. Giám mục, linh mục là những ơn gọi đặc biệt, còn giáo dân là ơn gọi thông thường của người Kitô hữu. Một ơn gọi thông thường, nhưng không hề thấp kém. Bởi lẽ chính ơn gọi ấy đã đưa các tín hữu đạt đến những chỗ cao nhất trong Hội thánh, như Maria, Giuse, Gioan Tẩy Giả, đạt đến một đức tin lớn hơn ai khác (Lc 7,9), đạt đến những nghĩa cử yêu thương mà mọi nơi mọi thời phải nhắc đến (Mc 14,9). Họ rất âm thầm, nhưng rất quan trọng. Không ai biết các bà mẹ của Phêrô, của Giaon, của Phaolô tên gì, nhưng chính họ đã đào tạo nên những người mà Chúa Giêsu sẽ chọn làm đầu Hội thánh. Em nhỏ đã giúp 5 chiếc bánh và 2 con cá cũng không để lại tên tuổi. Sự đóng góp của em thật khiêm tốn, nhưng phải có phần ít ỏi ấy của em cho Chúa làm ra nhiều, các môn đệ mới có thể phân phát cho đám đông (Ga 6,9).

Giáo dân là ai? Đó là những người phụ nữ đã nhanh chân chạy vào làng gọi mọi người ra gặp Chúa (Ga 4, 29). Đó là người được Chúa chữa lành và sai về với làng xóm: "Hãy về với bà con, và hãy loan báo cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho ngươi” (Mc 5,19). Đó là những người đã giúp đỡ Chúa Giêsu và nhóm 12 như Maria người Mácđala, Gioanna, Suzanna| (Lc 8,1-3), là những người đã giúp đỡ Phaolô như Clêmentê, Prisca, Aquila (P1 4,3; Rm 16,3-5), để rồi bị liên lụy và bị bắt bớ như Sosthênê (Cv 18,17). Đó là những người như Nicôđêmô, đã xuất hiện để lo lắng cho Chúa Giêsu khi nhóm lãnh đạo đã bỏ trốn (Ga 19,39). Đó cũng là những người đã được Chúa Giêsu đặc biệt yêu thương như Martha, Maria, Lazarô (Ga 11,5). Trùng trùng điệp điệp những con người như thế trong Kinh thánh, trong lịch sử Hội thánh và hôm nay, giữa chúng ta.

Họ là giáo dân, không phải chỉ có nghĩa là không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu trì, nhưng trước hết có nghĩa là họ đã nhờ phép rửa tội mà trở nên Dân Thiên Chúa, tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Kitô để thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô hữu trong Hội thánh và trên trần gian theo phận vụ riêng của mình.

Yếu tố then chốt của giáo dân là tính cách trần thế trong đời Kitô hữu của họ. Nghĩa là họ dấn thân vào những thực tại trần thế như văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội... và lãnh trách nhiệm quy hướng những thực tại ấy về Thiên Chúa.

- Họ sống giữa mọi người và trong xã hội nhờ dây liên lạc gia đình và nghề nghiệp.
- Họ thánh hóa trần gian như men trong bột, bằng cách sống đức tin và đức ái trong môi trường gia đình và nghề nghiệp của mình.
- Họ lãnh trách nhiệm làm cho các thực tại tràn thế được phát triển như ý Chúa muốn để trở nên lời ca ngợi vinh quang Thiên Chúa.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Hình thành tổ chức (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

3. Hình thành tổ chức (tiếp theo)

Đức Giáo hoàng tiếp tục vai trò Chúa đã trao cho Phêrô: “Simon con ông Giôna, ngươi là Đá, và trên Đá ấy, Ta sẽ xây Hội thánh của Ta, và cửa địa ngục sẽ không thắng nổi”.

Trong nguyên ngữ Aram, một vầng đá rộng lớn được gọi là "kêpha”, dịch sang tiếng Hy Lạp là "pêtra”, nhưng tiếng "pêtra” thuộc giống cái nên khi dịch tên Kêpha của ông Simon, người ta dùng một tiếng giống đực là "Petros”, tiếng này có nghĩa là một khối đá nhỏ. Tuy nhiên, cho dù chỉ là một viên đá cuội hay chỉ là một hạt cát đi nữa thì Chúa cũng có thể biến thành nền móng thật bền vững cho Hội thánh Ngài.

Theo thống kê năm 2009, số giám mục toàn cầu (kế thừa 12 tông đồ) có chừng trên 5.000 vị, giữ trọng trách lãnh đạo tinh thần cho 1 tỷ 166 triệu người Công giáo. Tòa thánh, tức cơ sở của Đức Giáo hoàng được đặt tại Rôma, nơi xưa kia thánh Phêrô đã đến cư ngụ rồi chịu chẽt trên thập giá. Đức Giáo hoàng có một hội đồng giám mục phụ tá ngài giải quyết công việc của Hội thánh, các vị này mang tước hiệu Hồng y. Bên cạnh đó, cứ 4 năm một lần còn có một khóa họp những đại diện của các giám mục toàn cầu, gọi là Thượng Hội đồng Giám mục.

Có thể nói rằng Thiên Chúa quả là "liều lĩnh" khi thiết lập một Hội thánh có sứ mạng làm chứng cho Ngài mà lại gồm những thừa tác viên nhân loại. Ngài đã chấp nhận phiêu lưu với tự do của con người, chấp nhận có thể bị những con người trong Hội thánh ấy phản bội. Họ có thể trở thành chướng ngại vật ngăn cản người ta nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa. Và điều ấy đã xảy ra: Trong lịch sử, lắm lúc đời sống các Kitô hữu kể cả những thành phần lãnh đạo Hội thánh, đã bóp méo và bôi bẩn dung nhan Thiên Chúa.

Ngay cả nhóm Mười hai xưa kia, dù sống ngay bên Đức Giêsu bằng xương bằng thịt, vẫn không bỏ được hết tật xấu, vẫn còn giữ lại phần nào bản chất yếu đuối của mình. Thái độ, cách cư xử của các vị không phải lúc nào cũng xứng đáng với tư cách là môn đệ Chúa. Trong nhóm đầu tiên mà về sau là rường cột của Hội thánh nguyên thủy, đã xảy ra những vụ hèn nhát, phản Thầy. Tại sao lại có thể như vậy được? Chẳng có gì là khó hiểu. Chỉ vì Thiên Chúa không tước đoạt quyền tự do của bất cứ ai. Những kẻ đã chấp nhận để Kitô thu phục, vẫn có thể hủy bỏ cam kết để sa chước cám dỗ của điều xấu và quỷ dữ.

Khi nhắc lại những chuyện ấy, điều cần phải suy nghĩ liêu nhất chính là thái độ của chúng ta, chúng ta đang đáp tình yêu của Chúa Giêsu như thế nào? Chúa Giêsu ước mong mỗi người chúng ta, giáo sĩ cũng như giáo dân, đáp lại lời mời gọi của Ngài ra sao?

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Hình thành tổ chức

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

3. Hình thành tổ chức

Lời than phiền của các quả phụ nói tiếng Hy Lạp đã đưa tới việc chọn 7 phó tế và thiết lập chức vụ phó tế (Cv 6,1-6). Thế là cơ cấu tổ chức của Hội thánh rõ dần: Phêrô với mười một tông đồ và bảy phó tế. Vài chục năm sau, qua các thư gởi cho Timôthêô và Titô, ta thấy rõ hơn: giám quản - niên trưởng (linh mục) - phó tế.

Như thế, Dân Chúa không phải là một đám đông ô hợp, mà là một dân có tổ chức, một cộng đoàn, một đoàn chiên với thành phần chủ chăn lãnh đạo (còn gọi là mục tử) và đoàn chiên được hướng dẫn.

a. Những người kế vị các tông đồ

Chúa Kitô muốn tiếp tục hiện diện mãi nơi nhiệm vụ và quyền bính mà Ngài đã trao cho những người lãnh đạo Hội thánh. Vì thế, Thánh Phêrô và các tông đồ khác đã truyền tất cả nhiệm vụ lãnh đạo của họ cho các vị thừa kế là giám mục.

Suốt 2.000 năm, các giám mục truyền chức cho những giám mục khác để họ thừa kế các vị. Quyền giám mục không do nhà lãnh đạo các nước, cũng không do Dân Chúa, gồm những Kitô hữu, nhưng do Đức Kitô trao ban, qua trung gian các tông đồ.

Mỗi giám mục đứng đầu Hội thánh một vùng gọi là giáo phận. Giám mục không chỉ lãnh đạo tinh thần một giáo phận, mà còn tiếp nối Đức Kitô trong việc rao giảng và chuyển thông đời sống thần linh cho tín hữu qua các bí tích để thánh hóa họ. Để hoàn thành nhiệm vụ ấy, một mình giám mục không đủ, nên một phần quyền năng được trao cho các linh mục và phó tế. Linh mục phụ trách các giáo xứ và hành đạo với tư cách được vị giám mục của giáo phận ủy nhiệm. Phó tế phụ giúp linh mục khi vị này dâng lễ. Phó tế cũng chủ sự việc giảng dạy, rửa tội, chứng nhận hôn phối. Quyền Chúa Kitô ban cho các thừa tác viên trên đây không phải là thứ quyền thống trị, nhưng là quyền phục vụ Dân Chúa, nhằm phát triển dân này trên toàn thế giới. Đức giám mục là nền tảng hữu hình cho sự hiệp nhất của Hội thánh địa phương, đến nỗi có thể nói: "Ở đâu có giám mục, ở đó có Hội thánh”.

Ngoài việc chăm sóc giáo phận mình, mỗi giám mục còn chia sẻ với giám mục đoàn toàn cầu nhiệm vụ rao giảng Tin mừng cho toàn thế giới (x. Mc 16,15). Vì thế, trong quá trình lịch sử, khi Hội thánh gặp những vấn đề trọng đại, các giám mục toàn cầu họp đại hội nghị gọi là công đồng để giải quyết.

Người có ưu thế nhất trong tập đoàn các giám mục toàn cầu là Đức Giáo hoàng, Ngài là một giám mục như các giám mục khác, và được tuyển chọn trong hàng ngũ giám mục để kế vị thánh Phêrô, thủ lãnh các tông đồ. Giống như thánh Phê rô, vai trò đầu tiên của Đức Giáo hoàng là để phục vụ sự hiệp nhất không thể thiếu của các tín hữu toàn cầu. Đức Giáo hoàng là thủ lãnh các giám mục và là đại diện Chúa Kitô giữa trần gian. Có thể nói ngài là vị phụ tá cho Chúa Kitô trong thời đại chúng ta để chăn dắt đoàn chiên Chúa.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Từ nhóm mười hai đến nếp sống mới (tiêp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

2. Từ nhóm mười hai đến nếp sống mới (tiếp theo)

Kitô giáo đã khởi đi từ cảm nghiệm sống thật về một góc thiên đàng trên trần gian. Thế nhưng chỉ sau vài trang, sách Công vụ tông đồ cho thấy nhóm lãnh đạo Hội thánh đã sớm nhận ra rằng những kẻ tin Chúa chưa phải ai cũng đã thành thiên thần. Do số lượng tín hữu tăng quá nhanh và không thể đào tạo kịp, đã xảy ra những điều tiêu cực. Sau chuyện Hanania va Saphira gian lận (Cv 5,1-11) thì đến chuyện một số người bị bỏ quên.

Góc thiên đàng trên trần gian đã sớm biến mất, để lại trong lòng người tín hữu mọi thời một nỗi nhớ nhung khôn tả. Rồi để không rơi vào sự thương nhớ viển vông, nhiều Kitô hữu đã dấn thân thực hiện lại nếp sống ấy ở một quy mô nhỏ. Từ thế kỷ III, nhiều Kitô hữu vào sa mạc sống cô tịch một mình với Thiên Chúa. Về sau các đan sĩ này liên kết thành những cộng đoàn đan tu và người ta lại được nhìn thấy cảnh sống chan hòa hiệp thông: "Không ai coi cái gì mình có là của riêng nhưng mọi sự đều là của chung". Dân Chúa được an ủi vì mẫu mực của Hội thánh vẫn còn đó, nơi những cộng đoàn chuyên tâm miệt mài với lao động và cầu nguyện.

Các tu sĩ nghiệm ra rằng có thể khắc phục sự yếu đuối của phận người nhờ thiện chí và ơn Chúa. Ở đây ơn Chúa đóng vai trò quyết định. Mỗi người cần biết mở lòng (chủ động) để đón nhận (thụ động) mà đồng thời lại phải cầu xin để được ơn mở lòng. Khi đã biết hòa cái chủ động vào hướng thụ động đón nhận, chỉ một sự đóng góp nhỏ của con người thôi cũng đủ. Một đàng sự đóng góp này dù rất nhỏ vẫn không thể thiếu, đàng khác phải khiêm nhường cầu xin để biết đóng góp như thế. Trong thực tế, sự gặp gỡ kỳ diệu này được thực hiện nơi những giờ phút cầu nguyện, nhất là cầu nguyện thinh lặng lâu giờ lúc vừa thức dậy ban mai.

Qua thời gian, các cộng đoàn đan tu ngày càng đông, có khi đến trên dưới hai trăm người. Số đông đã khiến chất lượng bị giảm sút, nếp sống hiệp thông một lần nữa bị suy thoái. Thế kỷ XI, Thánh Bênađô đã thực hiện cuộc về nguồn và canh tân tinh thần đan tu Biển Đức và khai sinh phong trào đan tu Xitô. Thế kỷ XVI, Thánh nữ Têrêsa ở Tây Ban Nha đã thực hiện cuộc về nguồn cho đời đan tu Cát Minh theo định hướng xây dựng những cộng đoàn ít người để có thể đạt được những góc thiên đàng trên trần gian. Bí quyết của vị nữ tiến sĩ Hội thánh này là ba nhân đức: khiêm nhường, từ bỏ và yêu thương.

Kinh nghiệm sống hiệp thông của các cộng đoàn đan tu đã tuôn chảy sang các hội dòng hoạt động tông đồ.

Nhiều chủng viện dùng chung một chìa khóa cho mọi phòng cá nhân. Các trụ sở truyền giáo (La Mission) khi đến Việt Nam đã được dịch thành "Nhà Chung”, từ ngữ về sau được dùng để chỉ các Tòa Giám Mục. Có lần tôi đã nghe một vị linh mục nói với một nữ tu phục vụ ở Tòa giám mục: "Ở đây là Nhà Chung, không có cái gì mình có là của riêng cả!”

Hiện nay tại Tây phương đang nảy nở một số cộng đoàn hỗn hợp cả giáo dân và giáo sĩ sống triệt để theo tinh thần Cộng đoàn Giêrusalem trong sách Công vụ tông đồ. Tại Việt Nam, nhiều cộng đoàn nhà xứ do anh em tu sĩ đảm trách, một số nhà xứ của các linh mục triều có chương trình vun trồng ơn gọi và cả một số nhà xứ khác, cũng nổi rõ dáng dấp tình hiệp thông của Hội thánh thuở ban đầu. Những thực hiện ấy cho thấy mô hình Hội thánh hiệp thông không phải là điều ảo tưởng. Mỗi người cố gắng một chút, giấc mơ Nước Trời rồi sẽ thành đạt.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.