Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2009

Chào Xuân

Qua đông rồi sẽ đến xuân
Hoa Tin Cậy Mến trên cành vẫn tươi.
Chào xuân, chào cả đất trời.
***

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2009

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2009

Tạ Ơn

Cơm cha, áo mẹ, công thầy.
Được dăm ba chữ, chưa đầy nửa trang!
Con xin lạy tạ muôn vàn.
***

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2009

Mình Chúa Mình Con

Ảnh chụp tại nhà chầu Thánh Thể - Bãi Dâu 07.2008

Nơi đây mình Chúa mình con,
Vui buồn sướng khổ nào còn nghĩa chi.
Yêu thôi, suy nghĩ làm gì!
*

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2008

Kỷ Niệm Những Mùa Giáng Sinh

Giáng Sinh 90' tại Đài Mẹ Ban Ơn, An Hạ

Giáng Sinh 1995 tại Saigon

Giáng Sinh 1996 tại An Hạ

Giáng Sinh 1998 tại Xưởng Phim Hoạt Hình Pixibox

Giáng Sinh 2005 tại Vườn An Hạ

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2008

Vọng


Nguyện xin trời đổ sương mai
Xin mây mưa Đấng Thiên Sai giáng trần
Cứu người khỏi chốn trầm luân.

*

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2008

Chuyện Người Chèo Thuyền (6)

6.

Mặt trời đã lên rất cao. Dòng sông như cũng đang hâm hấp nóng. Nhân cột thuyền vào gốc cây. Đã đến giờ lo chuyện cơm nước rồi.

Nhân nhen cái bếp lò ở sau khoang thuyền nan, trong lúc đợi củi cháy đượm, Nhân đong mấy chén gạo thơm của thím Ba mới cho hôm trước vào nồi, vò gạo và đặt lên bếp. Nồi cơm dùng để ăn cả ngày, như thế đỡ công nấu nướng. Nhân làm sạch mấy con cá mới câu được, ướp gia vị, rồi quay sang nhặt mớ rau mua sẵn để trong mui. Vậy là đủ cho ngày hôm nay. Nhân nghĩ bụng mà tức cười. Con người ta cứ phải ăn mới sống được. Mà ăn xong thì tiêu hoá, tiêu hoá hết thì lại đói. Đói lại phải ăn. Đôi lúc Nhân nghĩ cái ăn nó như một chiếc thòng lọng mắc sẵn nơi cổ con người. Lắm người vì cái ăn mà sinh ra đủ điều tệ hại. Giá như con người không ăn mà sống thì có tốt hơn không? Nhưng nghĩ lại Nhân thấy mình suy nghĩ như thế không ổn, vì cái gì có sự sống thì cũng phải ăn cả, ngay cái cây kia muốn sống cũng phải hút chất dinh dưỡng cơ mà. Như vậy ăn đâu phải là điều tệ hại, chỉ có ăn ra sao để đừng trở nên tệ hại thôi.

Nồi cơm đã cạn. Mùi gạo thơm bốc lên thật quyến rũ. Cái chuyện ăn cơm cũng lạ nữa. Hễ cứ ăn thịt ăn cá liên tục mấy bữa đã thấy ngán, vậy mà ăn cơm hết tháng này qua năm nọ vẫn cứ thấy ngon. Nhất là cái nồi cơm gạo thơm kia, chỉ ngửi mùi thôi mà đã thấy ngon miệng rồi. Nếu ăn cơm mà cũng ngán như ăn cá ăn thịt thì Nhân nghĩ không biết phải xoay xở ra sao nữa. Khi ấy có lẽ việc ăn uống sẽ trở thành một tai hoạ thật sự. Cho nên cuộc đời có lý lẽ của nó, nếu mình nghĩ đời vô lý là bởi mình chưa tìm ra cái lý của nó đó thôi.

Đang mãi mê suy nghĩ vòng vo thì có tiếng ca cải lương lẫn tiếng máy ghe từ xa vọng lại. Dân Nam bộ rất khoái cải lương, nhất là những người ngày đêm lênh đênh trên sông nước. Lát sau, một chiếc ghe lớn chở đầy cây tràm nước từ miệt dưới chạy lên. Đây là ghe buôn cừ tràm từ miền Tây chở về thị trấn bỏ mối. Thân cây tràm chặt khoảng ba, bốn thước làm cừ, nghe đâu đóng sâu xuống mặt đất, nếu có nước ngập hoài thì bao nhiêu năm cũng không mục. Nhân nghe nói cừ bằng gốc tre già còn tốt hơn cừ tràm nữa. Có những gốc tre tươi đóng xuống đất hằng mấy chục năm mà vẫn y nguyên không hề hấn gì. Nghĩ tới tre, Nhân đâm ra nhớ thôn làng xưa với lũy tre xanh rợp bóng bao quanh. Bước chân tới cổng làng, thấy lũy tre xanh là thấy lòng mình dịu lại. Nhân thấy lũy tre xanh bao quanh làng sao mà giống mái tóc thề của các cô thôn nữ quá. Mái tóc thề của cô thôn nữ làm chàng nhớ lại mái tóc của bà mẹ quê. Bà mẹ quê nào cũng có một thời từng là thôn nữ, cũng đã tung tăng xoã mái tóc thề vờn bay trong gió nội hương đồng. Bây giờ thôn làng vắng dần bóng dáng lũy tre xanh, các cô thôn nữ cũng dần cắt ngắn mái tóc thề. Thôn làng chuyển mình trở thành thị tứ. Các cô thôn nữ tập tành lối sống của thị dân. Thành thị cũng tốt thôi. Nhưng Nhân vẫn cảm thấy buồn buồn, nhất là khi nghe Quang Linh hát bài Chân Quê phổ thơ Nguyễn Bính: "... Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.". Nhân buột miệng lẩm bẩm: "Bay đi quá nhiều chứ ít ỏi gì nữa!".

***

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2008

Phế Tích

Ảnh chụp tại Huế, 06.2008

Ngày xưa rồng phượng kiêu sa,
Bây giờ rồng phượng đã ra điêu tàn.
Công danh chợt đến, chợt tan!
.

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2008

Chuyện Người Chèo Thuyền (5)

5.

Uống cạn bình trà thứ nhì, Nhân chào Quan rồi quay trở lại con thuyền tiếp tục chuyến đi. Chàng đẩy nhẹ chiếc thuyền nan ra khỏi cây cầu khỉ, quay mũi thuyền và chèo thuyền về phía trước. Mặt trời đã lên khá cao, nắng sáng loá cả dòng sông trước mặt. Con sông phản chiếu nắng mai ngời lên giữa hai hàng cây xanh ven bờ. Ánh vàng chấp chới trên mặt nước cứ như ai rắc kim tuyến trên dòng sông trông thật đẹp mắt.

Nhân chui vào mui thuyền, móc mồi vào chùm câu giăng rồi thả dài ra sau thuyền. Luôn tiện chàng mở radio. Đài đang phát bản concerto Bốn Mùa của Vivaldi. Tiếng nhạc vang lên vui vẻ. Âm thanh nhún nhảy trên con thuyền của chàng như trên một sàn khiêu vũ. Tiếng nhạc mang lại không khí mùa xuân dù bây giờ đang mùa lập đông. Quả thật âm nhạc có sức mạnh lạ lùng của nó, nó có thể khiến ta vui tưng bừng và cũng có thể làm ta buồn não nuột. Có lẽ âm nhạc đến từ trời cao nên nó kỳ diệu như thế. Nhân tự hỏi thế giới này sẽ ra sao nếu không còn âm nhạc. Rồi chàng tự thấy mình ngớ ngẩn, vì làm gì có chuyện âm nhạc biến mất trên cõi đời này. Bao lâu con người còn sống thì bấy lâu còn âm nhạc. Chỉ có điều, con người làm cho âm nhạc trở nên thanh cao hay biến nó thành cục mịch thôi. Nghe một số chương trình ca nhạc phát trên đài, Nhân có cảm tưởng nhiều người đang làm cho âm nhạc trở thành con vịt què xấu xí chứ không còn là con thiên nga quyến rũ đáng yêu nữa.

Thuyền nan vẫn từ từ tiến lên. Nắng rải vàng khắp dòng sông và khung cảnh hai bên bờ. Rồi một đám mây bay ngang che ánh mặt trời, làm dòng sông dịu mát lại. Bản concerto chuyển sang những cung nhạc buồn. Bốn mùa xuân hạ thu đông nối tiếp nhau được nhà soạn nhạc chuyển tải một cách tài tình. Vui rồi buồn, hết buồn lại vui. Đời người cũng có bốn mùa tiếp nối tương tự như bốn mùa của trời đất. Từ mùa xuân của ngày được sinh ra làm người đến mùa đông của tuổi chuẩn bị qua đời là một bản concerto hùng tráng, vui buồn đan xen nối tiếp nhau. Mỗi người là một nghệ sĩ tài ba dệt nên hoà tấu khúc của đời mình. Làm thế nào để khi tiếng nhạc dứt rồi, âm hưởng của nó vẫn còn đọng lại trong lòng người.

Ánh mặt trời lại chiếu gay gắt. Nhân tấp thuyền vào bóng cây ven bờ, lần tay kéo chùm câu giăng. Mấy con cá dính câu quẫy đuôi dẫy dụa. Nhân gỡ cá cho vào cái lờ nhỏ treo lưng chừng mặt nước bên hông ghe. Có con cá khá lớn vùng vẫy dữ dội. Nhân cẩn thận gỡ nó ra. Thì ra nó tham ăn đến độ tợp luôn một con cá nhỏ khác đã mắc câu, kết cuộc cả hai đều mang hoạ. Không biết con cá nhỏ có báo động gì cho con cá lớn kia không. Hay có báo động mà con kia chẳng thèm để tâm. Nhân không phải là cá nên chàng đành chịu thua không tự trả lời được.

***

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2008

Chuyện Người Chèo Thuyền (4)

4.

Quan bưng cái khay trà ra. Bộ đồ trà của Quan tráng men màu xanh biếc, trông bắt mắt và sang hơn bộ đồ trà của Nhân, nhưng Nhân vẫn có cảm giác uống trà bằng chén đất nung thú vị hơn. Con người ta thật là rắc rối, mỗi người mỗi sở thích. Nếu ai cũng nhất quyết bảo vệ cho bằng được sở thích của mình thì thật là khó sống.

Quan rót một ít nước sôi tráng bình và hai chén trà cho nóng, rồi cho trà vào pha một bình thật đậm. Hương trà bốc lên rất dễ chịu. Cái hơi nóng bốc lên từ bình trà tạo cảm giác thanh thoát. Cứ lúc nào ngồi trước một bình trà đang bốc hơi là Nhân đều cảm thấy thoải mái như thế. Hèn gì các cụ nhà ta ngày trước ưa đàm đạo bên bàn trà. Các cụ cũng có lúc vui vầy bên chung rượu, nhưng chắc các cụ uống rượu khác với cung cách dô trăm phần trăm mà Nhân vẫn thấy nơi các quán nhậu ngày nay.

Nhân bưng chén trà lên, để hương trà toả vào mũi, rồi nhấp một ngụm nhỏ, cho vị trà đậm đà ngấm dần vào cuống họng. Chàng hỏi bạn:
- Dạo này má cậu có khoẻ không?
- Bà cụ vẫn khoẻ. Thỉnh thoảng nhớ nghề, bà vẫn ngồi đan bàng.

Má Quan đang ở với vợ con Quan trong xóm. Đất vườn nhà Quan khá rộng, do ba má Quan tạo lập đã lâu. Lúc ba Quan còn sống, ông chăm chút cái vườn rất kỹ, mấy gốc cây ăn trái năm nào cũng trĩu cành, rau ráng thì xanh mướt. Sau khi ông qua đời, nhiều cây tàn héo dần. Người ta nói đôi khi cây cối quen hơi người, khi người chăm sóc ra đi, cây cối buồn rũ và chết. Nhân nghĩ có lẽ khi chăm sóc, người đã chuyền cái điện âm dương của mình vào cây như kiểu người ta sạc bình accu. Khi không còn được sạc, cây mất điện âm dương mà chết. Chẳng biết có hợp lý không. Nhưng trong thực tế Nhân đã chứng kiến mấy trường hợp như thế. Con người ta với vạn vật có liên hệ mật thiết với nhau thì đồng cam cộng khổ cũng chẳng có gì lạ.

Hồi trước xóm này chuyên nghề đan bàng. Họ vừa trồng bàng vừa đi mua thêm bàng ở các làng lân cận về để đan giỏ và chiếu. Người ta gọi cái giỏ bàng là cái tụng. Cọng bàng dài và tròn, phải giã cho dập dẹp ra, sau đó phơi khô rồi đan. Đan chiếu bàng thì gọi là đương đệm. Cái âm thanh giã bàng trong đêm nghe trầm bỗng như tiếng đàn t'rưng. Nhất là những đêm sáng trăng, tiếng trầm bỗng vang lên khắp xóm cứ như âm thanh ngày hội. Trước kia, nghe người ta hát: "Tiếng ai giã bàng nhịp nhàng như tiếng lòng tôi", Nhân cứ thắc mắc không biết người ta giã trái bàng ra để làm gì mà giã nhiều thế. Sau này Nhân mới biết là mình lầm to. Thế mới rõ là trong cuộc đời cái mình chưa biết nó mênh mông dường nào.

Tụng và đệm bàng tuy quê mùa dân dã nhưng cũng có lắm điều hay. Đệm bàng nằm rất dễ chịu, trời nóng thì đệm mát mà hút mồ hôi, còn trời lạnh thì nó cũng giữ hơi ấm, không như chiếu nylon, nóng thì càng nóng thêm và lạnh thì càng nghe lạnh tanh. Có vẻ vô tình lắm. Tụng đệm xài hư cứ đem quẳng sau hố rác, ít lâu sau nó mục thành phân, đem bón cây cũng tốt. Tiếc một điều là lúc này người ta ít xài tụng đệm bàng vì trông nó nhà quê quá. Họ khoái xài đồ nylon hơn. Nhưng đồ nylon xài hư rồi thì vất đâu nằm đấy, một hồi đầy cả vườn, không biết lúc nào mới rã ra. Rồi cái nylon cũng làm cho xóm đương đệm phải điêu đứng. Ngày nay chẳng còn mấy ai biết giã bàng đương đệm nữa. Kể cũng tiếc thật.
***