Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Phát hiện đồ cổ quý hiếm thời Lý, Trần

Các cán bộ chuyên môn Bảo tàng Hà Tĩnh vừa phát hiện một số cổ vật quý hiếm thời Lý, Trần trên địa bàn huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh).

Tại huyện Nghi Xuân, ở các xã Cổ Đạm, Xuân Viên, Xuân Hoa, phía Bắc dưới chân dãy núi Hồng Lĩnh các cán bộ chuyên môn Bảo tàng Hà Tĩnh đã phát hiện nhiều đồ cổ vật quý hiếm thời Lý, Trần.
Bát ngọc, đĩa men nâu và khay ngũ sắc men rạn màu trắng được phát hiện ở huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh)
Nhiều cổ vật quý như bát men ngọc, đĩa men nâu thời Lý, Trần; chén Hải Đường thời Lý; bình gốm: Ngư ông đắc lợi, hoa văn tam thái, bát đế chân cao và bát hoa lam cuối thời Trần đầu thời Lê; khay ngũ sắc men rạn màu trắng đục thời Lê - Mạc... 

Đặc biệt, có 2 cổ vật cực kỳ quý hiếm lần đầu tiên phát hiện được ở Hà Tĩnh là 2 chiếc bát men ngọc mang phong cách kiểu dáng đặc trưng thời Lý, chân đế bát chụm thon nhỏ, miệng bát loe, được tráng men màu ngọc bóng mịn đạt tới trình độ tinh xảo về mỹ thuật và kỹ thuật chế tác thủ công tráng men điêu luyện của các thợ thủ công truyền thống thời Lý, Trần... 

Hiện, số cổ vật được phát hiện và sưu tầm nói trên được đưa về Bảo tàng Hà Tĩnh để bảo quản và tiếp tục nghiên cứu.
Mẫn Chi

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

Vấn Đề Triết Học Và Văn Hoá Việt Nam

Trở lại vấn đề của người Việt và văn hóa Việt Nam. Trước làn sóng Tây phương hóa thế giới, trong tiền bán thế kỷ 20 nầy, thời đầu của nỗ lực Việt hóa văn hóa, nhằm thiết định lý lịch riêng của mình đồng thời tìm một chỗ đứng trong lịch sử của văn hóa nhân loại, các học giả của chúng ta đã cố lục tìm lại các tài liệu văn học, để xác định xem văn học Việt Nam có triết học hay không?

Theo lối hiểu một cách tổng quát và sơ lược nhất về triết học như là một nỗ lực xây dựng một hệ thống tư tưởng, và trong nỗ lực cố bắt kịp lối nghiên cứu có tính cách khách quan của văn hóa Tây phương đang phổ biến, một số các học giả có thế giá đã đi đến kết luận rằng văn hóa Việt Nam không có suy tư triết học riêng của mình.

"Nền văn học một nước không những chỉ có thi văn, kịch bản, tiểu thuyết, mà gồm có triết học và lịch sử nữa...Những tác phẩm về triết học đã hiếm lại phần nhiều là những sách chú giải, phụ diễn (như Tứ thư thuyết ước của Chu An, Dịch kinh phu thuyết và Thư kinh diển nghĩa của Lê Quý Đôn, Hy kinh trắc lãi của Phạm Đình Hổ), chứ không có sách nào là cái kết quả của sự tư tưởng độc lập, của công sáng tạo đặc sắc cả".

Và tác giả những nhận xét khách quan nầy, học giả Dương Quảng Hàm, đã đi đến một kết luận rất đáng lưu ý:

"Bởi thế, nếu xét về mặt triết học, thì ta phải nhận rằng nước ta không có quốc học, nghĩa là cái học đặc biệt, bản ngã của dân tộc ta" [1].

Học giả Trần Trọng Kim không kết luận như học giả họ Dương nhưng cũng nêu lên những nhận xét tương tự về sự vắng mặt của một nền triết học Việt Nam (hạn chế trong khuôn khổ nghiên cứu về nho học)[2]. 

Về mặt lịch sử, chữ triết học và nội dung của nó thật sự xa lạ với nền văn học Việt Nam trước thời các học giả trên. Nhưng điều đáng lưu ý là khi học giả họ Dương đã chỉ lấy tiêu chuẩn của suy tư theo triết học truyền thống của Tây phương - Hy-lạp để đánh giá rằng "nước ta không có quốc học, nghĩa là cái học đặc biệt, bản ngã của dân tộc ta" là một xác quyết rất võ đoán. Tác giả không biết rằng đương thời với tác giả, nhiều nhà tư tưởng Tây phương đang thắc mắc về chính nền tảng tư tưởng truyền thống của họ. Tác giả không biết đến, hoặc không muốn biết đến những thắc mắc đó đã đành, nhưng trong nỗ lực truy cứu Văn hóa của mình, họ Dương cũng không dành một chút suy tư nào riêng để thẩm định thế nào là bản chất văn hóa hầu xét xem lịch sử văn học đó có thực hiện được nền quốc học hay không. Nên, nếu công trình của các học giả uyên bác họ Trần và họ Dương đã cống hiến nhiều dữ kiện cho biết nền Văn học Việt Nam không có triết học theo lối suy tư của truyền thống Tây phương, thì nỗ lực đó có thể có một giá trị khách quan nào đó. Nhưng kết luận từ công trình nghiên cứu nầy về một sự vắng bóng suy tư, một sự phủ định về sự hiện hữu của nền quốc học độc đáo, thì kết luận ấy lại không dựa trên một lý chứng nào vững chắc cả; vì một nổ lực suy tư khác với triết học Tây phương chưa hề được đặt ra.

Chúng tôi dùng chữ có thể, vì vào hậu bán thế kỷ 20, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều vị giáo sư triết đã dồn nỗ lực để kết tập lại những mảnh suy tư trong các tác phẩm văn học Việt Nam làm thành những hệ thống triết học của người Việt  [3].

Các công trình nghiên cứu mới về tư tưởng Việt Nam còn ngập ngừng khi dùng chữ triết (triết gia, triết học, triết thuyết...), dường như triết học được hiểu một cách chung là tư duy có hệ thống.

Thế nhưng, trong một tiền kiến nào đó, đã có những khơi mầm cho những cuộc tranh cãi giữa một bên là "tại sao lại không Việt triết", và bên kia là "làm gì có Việt triết và tại sao lại cần có Việt triết? ".

Cương thường, Đạo giáo, Học thuật, hay Triết...nơi mỗi từ ngữ có chất chứa một khát vọng chung của bản tính con người, và hàm ngụ  một giải đáp riêng gắn liền với lịch sử với những cuộc phiêu lưu cá biệt của nó. Từ cái chung chỉ thoáng nhìn ra mà sẽ không bao giờ, và không một mảnh lịch sử nào sở đắc, một triết gia bên lề, Karl Jaspers, cũng không ngại gọi Socrate - Đức Phật - Đức Khổng - Đức Giê-su là những đại triết gia  [4].

"Họ (các vị nầy) ở trong thời gian vượt lên thời gian. Mỗi vị, ngay cả vị cao cả nhất, hẳn nhiên cũng ở vào một nơi nhất định và mặc lấy những chiếc áo của lịch sử. Nhưng dấu chỉ đặc trưng của tính cao cả là nó không lệ thuộc lịch sử nhưng trở thành siêu lịch sử. Những gì thể hiện có tính cách chung với những nét nổi bật nhất của những người đương thời lại được các vị ấy chuyển hóa và mang lấy một ý nghĩa vượt thời gian. Cao cả không phải chỉ là người vận dụng sự hiểu biết để cập nhật thời đại của mình, nhưng xuyên qua hoàn cảnh tư tưởng đụng đến vô tận. Vì thế mà cái cao cả  siêu việt xuyên qua cuộc đời và sự nghiệp của họ đã làm cho họ thành một khuôn mặt vốn để nói với mọi thời đại, với mọi người" [5].

Hẳn nhiên tính cao cả của con người theo cách dùng chữ của K. Jaspers không có gì buộc trói vào trong khuôn khổ giới hạn của một lối nhìn nơi một nền văn hóa cá biệt của truyền thống triết học Tây phương - Hy-lạp, dù nó đang tràn lan trong thời đại chúng ta và được hiểu lầm như một cái gì tất định phải là phổ quát. Vì thế, có Việt triết hay không có Việt triết, dù không dựa vào khuôn khổ có tính cách chuyên môn của một truyền thống văn hóa Tây phương đi nữa, thì vấn đề đặt ra là có nên phiêu lưu làm thêm một vòng tròn mới của Đông phương, của Việt Nam ngược lại hay chồng lên vòng tròn của Parménide để tranh đua với đời không! hay đã đến lúc cần khiêm  tốn lắng nghe một âm vọng chung dội lên từ "Tâm duy vi" cư ngụ nơi sâu kín của mỗi con người qua từng bao thời đại, và đã để lại vết tích không phải chỉ nơi sách vở và cuộc sống của Tổ tiên chúng ta mà vẫn còn âm vang trong cuộc lữ hành của mỗi con người Việt Nam hôm nay.

Vào thời kỳ ban đầu của trào lưu Việt hóa Văn hóa Việt Nam trong tiền bán thế kỷ 20 nầy, thời mà các người làm văn hóa vận động hết sức lực để hoặc giữ cái học cũ hoặc vứt bỏ hết tàn dư hũ Nho để vươn mình lên cho kịp cái học mới, Sào Nam Phan Bội Châu lên tiếng như sau trong cuốn Phàm lệ của cuốn Khổng Học Đăng:

1- Mục đích người làm bản sách nầy là cốt phù trì nhân đạo; nếu ai không để lòng vào nhân đạo thời xin chớ đọc...

5- Hễ ai đọc bản sách nầy, trước phải lập định một cái chí khí tự nhiên rằng: "Ta là Khổng Tử, là Mạnh Tử, tà là Bá lạp đồ (Platon) ta là Khang Đức (Emmanuel Kant), chẳng qua đời tuy có xưa nay, đất tuy có đông tây, mà tâm lý in như nhau, thánh hiền tức là ta, ta tức là thánh hiền; ta chỉ là người hậu tiến của cổ nhân mà thôi". Có chí khí ấy thời đọc cuốn sách nầy mới thích.
Nếu ai chưa đọc sách nầy mà trước đã có một ý kiến sẵn: định làm nô lệ cho người đời xưa, hay định làm nô lệ cho người đời nay xin chớ đọc " [6].

Cuốn sách của Sào Nam Phan Bội Châu nói về cái học của Khổng, nhưng tác giả nhắc trước khi đọc "Ta là Khổng Tử", vì hàm ngụ một cái gì chung bên ngoài cuốn sách đang nói với ta hôm nay cũng như đã nói với Khổng Tử đời xưa. Cuốn sách đó không diễn tả hay minh chứng một kiến thức nào về sự vật, để  dùng làm phương tiện thăng quan tiến chức, "tranh ngôi thứ xôi thịt trong đình làng..., loè loạt khoe khoang, lấy om cơm túi bạc làm mồi hạnh phúc..., xu quyền phụ thế, lấy đồng bào chủng tộc làm mồi vinh thân " [7] hay để làm một cái gì khác bất kỳ, nhưng chỉ như một dấu tích của một nhân chứng thao thức làm người thuộc lãnh vực của "cõi người ta".

Như thế, Triết học có đáng đặt vấn đề trong thời đại tân kỳ chúng ta đang sống hay không? Có Việt triết hay không? Và để làm gì? Trước khi trả lời, chúng ta nên thắc mắc: Ai chất vấn ta để ta có câu hỏi nầy và buộc ta phải trả lời? Ta có thể đào bới tận cùng cái "có" hay cái "không" trong tầm tay của ta, của cả lịch sử triết học Đông - Tây và ta cũng không hề biết được từ đâu câu chất vấn đó đến với ta cả.

"Con người đã muốn giết Thượng-đế" "tạo sa mạc khi dập tắt suy tư phát xuất khởi từ câu chất vấn kỳ bí nầy, nhưng như lối nói đầy cảm hứng thi ca của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, "Nước đi đi mãi", Non vẫn gọi về.

Câu chất vấn xuất hiện như bên lề của các câu hỏi thông thường của ta về triết học, phải chăng đó chính là cái bản lề của mọi suy tư! Vì mọi nền văn hóa qua đi với lịch sử, nhưng cái bản lề nầy đã là nguyên nhân của sự ngạc nhiên nguyên ủy, tồn tại mãi mãi với con người, dù các giải đáp của các nền văn hóa con người có thể bị đào thải qua dòng thời gian.

Và cuối cùng, từ câu chất vấn nguyên sơ nầy ta tự hỏi:

-         Nàng Âu Cơ dằn vặt suốt đời về một Lạc Long Quân khi ẩn khi hiện có phải là suy tư không?

-         Nguyễn Du từ "cõi người ta" thắc mắc về Tài trong tầm tay tranh chấp với Mệnh làm người không hiểu được, có phải là suy tư không?



[1]  Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học Sử yếu, Bộ Giáo dục, Trung tâm Học liệu xuát bản, in làn thứ mười, 1968 các trang 157-158.
[2]  Xem Lệ Thần Trần Trọng Kim, Nho giáo, quyển hạ, Bộ Giáo dục, Trung tâm Học liệu xuất bản 1971, trg. 380.

[3] Chẳng hạn xem Hán chương Vũ Đình Trác, VN trong quĩ đạo thế giới, của Liên đoàn VNCG tại Hoa Kỳ, Ban Văn hoá xuất bản 1985.

[4] Xem Karl Jaspers, Les Grands Philosophes, cuốn 1, Socrate-Bouddha, Confucius, Jésus, éd Plon, trad. C. Floquet et autres, ed. 1989.
[5]   Sđd., tr. 36.

[6] Sào Nam PHAN Bội Châu, Khổng Học Đăng, 9-I, nhà sách Khai  Trí xuất bản, 1973, phần Phàm lệ, 1929.

[7] Sđd

Nguyễn Đăng Trúc
Nguồn: http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=214&ict=125

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

Lạc Việt Tráng (Choang), Zhuang, Nam Trung Quốc


Tàc giả đứng trước bảng hiệu Làng Tráng Zhuang trong Trung Tâm Văn Hóa Sắc Tộc Quảng Tây tại Nam Ninh.
(ảnh Michelle Mai Nguyễn).
Như chúng ta, Tráng Việt Zhuang là một thứ Lạc Việt trong Bách Việt, Người Mặt Trời, như đã thấy họ thờ Mặt Trời còn vẽ lại trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây cách đây trên dưới 2.700 năm (Đạo Mặt Trời Của Bách Việt, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).
Cảnh Tế Lễ mặt trời, thờ mặt thời của Lạc Việt Tráng Zhuang vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây (ảnh của tác giả).
Vì thế hiển nhiên họ có văn hóa Lạc Việt ngành Thần Nông Lạc Long Quân như nhánh Lạc Việt ViệtNam. Họ cũng như nhánh Lạc Việt Việt Nam nhận mình là con cháu của Rồng. Bước vào một làng Tráng Zhuang thường thấy các trụ cổng làng thờ Rồng:
Trụ cổng làng thờ thần Rồng, thần tổ của người Tráng Zhuang tại Làng Tráng Zhuang (ảnh của tác giả).
Lưu ý trụ tròn mang âm tính (khác với trụ vuông có góc cạnh mang dương tính) biểu tượng của ngành nòng nước giống như ta đã thấy ở Đền Động Đình thờ Long Vương, ông ngoại của Lạc Long Quân ở hồ Động Đình (xem Hồ Động Đình).
Giống như Việt Nam, văn hóa của họ cũng có cốt lõi dựa trên lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng. Hai vị thần tổ của họ là một vị thần Chim và một vị Thần Rồng:
Thần tổ đầu chim ở Làng Tráng Zhuang (ảnh của tác giả).
Lưu ý Thần tổ chim đầu có sừng. Ta đã biết chim sừng (hornbill) mỏ cắt, chim khướng, chim Việt là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế họ Khương (Sừng), thần tổ của ngành Nọc mặt trời Viêm Việt.
Quanh cổ thần có vành sóng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa dương, lửa, mặt trời. Tấm che ‘hạ bộ’ hình cờ nọc mũi tên có các tua viền hình sóng lưỡi lửa. Tay cầm kiếm nhọn, thẳng biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời nọc thái dương. Bao quanh người có những ngọn lửa…
Vị thần chim sừng này là hình bóng của thần mặt trời Viêm Đế.
Mẹ Tổ Âu Cơ của chúng ta mang hình ảnh chim Tiên thuộc ngành chim Sừng Mỏ Cắt, Chim Việt thần mặt trời Viêm Đế.
Ngành rắn, nước, mặt trời âm (theo duy dương) hay không gian (theo duy âm) ứng với Thần Nông thấy rõ qua vị thần tổ đầu rồng:
Thần tổ đầu rồng (ảnh của tác giả).
Lưu ý thần tổ rồng có sừng là thần tổ của ngành Nòng Thần Nông. Rồng là dạng thần thoại hóa của rắn sừng (Rắn Việt ), theo duy âm là biểu tượng cho Thần Nông không gian.
Viền trên áo có hình sóng nước. Tấm che ‘hạ bộ’ cũng có viền tua sóng nước. hai tay cầm kiếm đầu cong vòng cung mang âm tính biểu tượng cho không gian. Vì là thần âm, nước nên thần hai tay cầm hai cây kiếm. Số 2 là số chẵn, số âm trong khi đó vị thần Chim ngành lửa, dương chỉ cầm có một cây kiếm thẳng. Số 1 là số lẻ, số dương.
Dưới chân có hình sóng cuộn bạc đầu…
Đây là hình bóng của Thần Nông không gian của ngành Rắn, Rồng. Lạc Long Quân thế gian thuộc ngành nòng Thần Nông không gian này.
Rõ như ban ngày Tráng Zhuang có hai vị thần tổ chim-rắn, Tiên-Rồng giống hệt Việt Nam chúng ta. ViệtNam có một gốc Lạc Việt. Lạc Việt Tráng Zhuang ruột thịt với gốc Lạc Việt Việt Nam. Hiển nhiên văn hóa Tráng Zhuang có cốt lõi là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng như văn hóa Việt Nam.
Họ cũng có ngôi nhà thờ phượng ngày nay gọi là nhà cộng đồng giống như nhà Lang Mường, nhà đình Việt Nam:
Nhà cộng đồng kiểu nhà sàn Tam Thế (ảnh của tác giả).
Những ngôi nhà cộng đồng, nhà hội kiểu nhà sàn này giống hệt nhà làng, nhà đình của Việt Nam, ngày nay dùng làm nơi hội họp, gặp gỡ của giới trẻ. Lưu ý mái cũng có đầu đao nhưng ở giữa nóc nhà có một kiến trúc hình thuyền cho thấy rõ họ thuộc đại tộc nước Rồng Lạc Long Quân. Họ còn giữ được truyền thống cổ không như các đình làng dòng Lạc Long Quân của chúng ta hiện nay trên nóc bây giờ toàn thấy hình rồng kiểu rồng long Trung Hoa.
Người Lạc Việt Tráng Zhuang ruột thịt với nhánh Lạc Việt Việt Nam nên họ cũng có trống đồng thuộc đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn. Hình trống đồng còn thấy vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây có tuổi cùng thời với trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.
Hình trống đồng vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây (Đạo Thờ Mặt Trời Của Bách Việt, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).
Trống đồng là tộc biểu, tộc bảo của người Tráng Zhuang (hình chụp tại Làng Tráng Zhuang).
Trống đồng Tráng Zhuang thuộc loại trống đồng tượng Nước Nguyễn Xuân Quang IV tức trống chệt Heger IV hình cái âu hay nồi úp thuộc đại tộc mặt trời Nước Lạc Long Quân. Trống đồng tượng Nước Tráng Zhuang chỉ là một tộc trong đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn có trống biểu là trống Đông Sơn hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI hay Heger I (xem Cơ Thể Trống Đồng).
Trung Quốc hiện nay dốc hết toàn lực ra quảng bá trống đồng Tráng Zhuang nói riêng, trống Nam Trung Hoa nói chung để lôi cuốn du khách và cố tình nói cho thế giới là văn hóa trống đồng phát gốc từ Vân Nam (họ cho là trống Vạn Gia Bá ở Chử Hùng là trống cổ nhất) rồi truyền qua Việt Nam (sic). Họ cố tình chiếm đoạt văn hóa đại tộc Đông Sơn của Việt Nam để dễ bề đồng hóa Việt Nam về mặt văn hóa. Khắp Nam Trung Hoa nhất là ở Nam Ninh, thủ đô của người Tráng Zhuang, chỗ nào cũng thấy những điêu khắc, kiến trúc về trống đồng đồ sộ. Đặc biệt nhất là Bảo Tàng Viện Sắc Tộc Quảng Tây, Nam Ninh xây theo hình trống đồng.
Bảo Tàng Viện Sắc Tộc Quảng Tây, Nam Ninh
(ảnh Michelle Mai Nguyễn).
Lưu ý tên Bảo Tàng Viện được viết bằng chữ ‘quốc ngữ’ ABC Tráng Zhuang ở dưới chữ Hán giống như Việt Nam ngày nay người Tráng Zhuang dùng chữ Quốc ngữ ABC. Tráng Zhuang là Lạc Việt có gốc hay ruột thịt với Tai (thái) vì thế ngôn ngữ Tráng Zhuang ruột thịt với Tầy Thái. Họ có một thứ chữ tượng hình cổ một ngàn năm dựa trên Hán ngữ (một thứ chữ ‘nôm’ Tráng Zhuang) và hiện nay chữ viết chính thức được viết bằng mẫu tự ABC (giống như Việt Nam ngày nay dùng chữ Quốc ngữ).
Ta đã biết trống đồng nguyên khởi là trống biểu của Vũ Trụ giáo là họ biễu, quốc biểu, tộc biểu (như thấy qua các trống Quảng Xương, Hòa Bình, Phú Xuyên, Trống Miếu Môn I…) về sau ở các trống muộn thường có tượng cóc/ếch gọi là trống ếch trống mưa, mang khuôn mặt thờ sấm mưa nổi trội lên làm lu mờ đi ý nghĩa biểu tượng nguyên thủy của trống. Các trống Nam Trung Hoa và các quốc gia khác như Lào, Campuchia, Thái Lan… gọi trống đồng là trống ếch trống mưa. Ở tộc Tráng Zhuang cũng vậy, họ coi trống đồng là trống biểu tượng cho sấm, mưa. Trống tiêu biểu mà họ hãnh diện nhất là Trống Đại Lôi (Great Thunder Drum). Thờ trống sấm mưa nên họ thờ thần sấm mưa:
Miếu thờ Thần Sấm qua biểu tượng ‘đĩa sấm’ Lửa-Nước Càn-Khôn vũ trụ giao hòa (ảnh của tác giả).
Trang phục cũng thấy có những nét giống trang phục cổ truyền ViệtNam.
Trang phục nam nữ của một tộc Tráng Zhuang (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Sắc Tộc Quảng TâyNam Ninh).
Đa số các chi tộc Tráng Zhuang mặc trang phục mầu đen (rõ nhất là chi tộcNapo). Mầu đen là mầu của nước thái âm của tộc Nước, mặt trời Nước ứng với Rắn (Rồng) Lạc Long Quân. Tộc nước Lạc Việt nhuộm răng đen là vậy.
Lưu ý khăn đội đầu của người nam mang hình ảnh khăn đóng của Việt Namvà khăn trùm đầu của người nữ mang hình ảnh chiếc khăn vuông đen cổ truyền của phụ nữ Việt Nam.
Họ cũng có tục ném còn (ném một trái cầu tròn qua lỗ của một đĩa tròn) giống như một vài sắc tộc ở miền Bắc ViệtNam.
Ném còn (ảnh của tác giả).
Ném còn, tung còn là trò chơi nòng nọc, âm dương. Quả cầu tròn và đĩa tròn mang hình ảnh chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ chấm nọc nguyên tạo (.) và chữ nòng vòng tròn (O). Chữ chấm nọc dương biểu tượng cho nọc, dương sinh tạo, bộ phận sinh dục nam nguyên tạo. Vòng tròn có lỗ là chữ nòng O có một nghĩa là bột phận sinh dục nữ nguyên tạo. Ném trái còn lọt vào vòng tròn để cho nòng nọc, âm dương giao hòa. Trong lễ cưới một vài sắc tộc ở miền Bắc Việt Nam (trong đó có người Mường?), chú rể cầm quả cầu, cô dâu cầm một cái vòng tròn có dán giấy kín biểu tượng cho màng trinh, họ đứng cách nhau một khoảng xa về phía hai họ. Chú rể phải ném cho tới khi quả cầu lọt vào được vòng tròn chọc thủng tờ giấy màng trinh mới chính thức trở thành người chồng. Trò chơi nòng nọc, âm dương giao hòa này là một nét của cốt lỗi văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng v.v...
(xem các bài viết về Lạc Việt Tráng Zhuang trong các số tới)
Nguyễn Xuân Quang
Nguồn: http://www.anviettoancau.net/anviettc/index.php?option=com_content&task=view&id=2976

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

Quên - chữ Nôm


QUÊN

Làm sao mà nhớ rằng quên?
Đã quên, lại nhớ rằng: quên mất rồi!
Cái quên mới thật lạ đời.
*

Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2011

"Duyên nợ" và "sự cố" quanh tiểu thuyết "Vạn xuân"

Bài viết được đăng lúc 2:46:16 PM, 03.03.2010
Bìa cuốn "Vạn xuân" bằng tiếng Pháp - Ảnh: laprocure.com

Tiểu thuyết "Vạn Xuân" (Dix mille Printemps) của nữ văn sĩ Pháp Yveline Féray viết về cuộc đời Nguyễn Trãi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dày trên 1200 trang, do Nguyễn Khắc Dương và một số cộng tác viên dịch, do Nhà xuất bản Văn học in năm 1997 đã được độc giả Việt Nam đón nhận nồng nhiệt.


Nhà thơ Huy Cận, trong lời giới thiệu, đã viết: "...Chị Yveline Féray! Chị hút nhụy từ đâu để có được giọng văn hào khí ấy, để có được sự trực giác lung linh và sâu thẳm ấy, khi viết về cuộc chiến đấu hào hùng của quan khởi nghĩa và của nhân dân, và khi đoán hiểu được tâm hồn Nguyễn Phi Khanh và Trần Thị Thái, tâm hồn Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ qua hai cuộc tình duyên đẹp đẽ mà như có dấu ấn của số mệnh in vào?...Cái bi kịch của Nguyễn Trãi có phải là một tâm hồn lớn phải sống trong một xã hội chật hẹp, ngặt nghèo không? Và vấn đề của thời đại Nguyễn Trãi có phải là vấn đề xây dựng và sử dụng quyền lực sao cho hợp với lòng dân và vận nước? Một tác phẩm nói về những sự kiện và những con người cách đây 5 thế kỷ lại mang tính thời sự không ngờ..."
Dịch giả Nguyễn Khắc Dương
Được biết dịch giả Nguyễn Khắc Dương vừa có dịp gặp tác giả tại Pháp, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông nhằm giúp bạn đọc hiểu thêm tác giả, tác phẩm và đôi chuyện "bếp núc" trong quá trình xuất bản"Vạn Xuân". Xin nói thêm: sau khi rời chiếc ghế Quyền Trưởng Khoa Văn Đại học Đà Lạt, hơn hai chục năm qua, ông Nguyễn Khắc Dương sống như một người ở ẩn, rất ngại tiếp xúc với báo giới. Nhưng chúng tôi đã thuyết phục ông, vì "duyên nợ" và trách nhiệm đối với một tác phẩm lớn, xin ông cứ "biết gì nói nấy".

***

P.V. Xin ông cho biết duyên do cuộc gặp gỡ giữa ông và tác giả "Vạn Xuân" vừa qua ở Pháp?


Nguyễn Khắc Dương (NKD): Tháng 3-4 vừa qua, nhân dịp đi Roma (Ý) dự một cuộc hội thảo tại Trường Đại học San Tommaso D' Aquino, tôi sang Pháp thăm các bạn hữu, rồi đi Nice (miền Đông nước Pháp) gặp nữ văn sĩ Yveline Féray, tác giả cuốn "Vạn Xuân", tại tư gia của hai vợ chồng bà từ 4 đến 6 giờ chiều. Tác giả đã có nhã ý mặc y phục Việt Nam để đón tiếp tôi: một chiếc áo dài màu xanh thêu hoa, rất hợp với dáng người thanh mảnh (rất khác với các phụ nữ Pháp lớn tuổi) của tác giả nay đã trên dưới sáu mươi. Tối đó, hai ông bà mời tôi đi ăn tối tại một nhà hàng Việt Nam. Chúng tôi chuyện trò với nhau mấy tiếng đồng hồ, rất thú vị và hầu như chỉ xoay quanh nhân vật Nguyễn Trãi và quá trình sáng tác cuốn "Vạn Xuân".

P.V. Qua "Lời phi lộ", được biết tác giả đã bỏ ra gần 10 năm trời để sưu tập cả "núi" tài liệu và viết nên "Vạn Xuân", thể hiện mối cảm tình đặc biệt với dân tộc Việt Nam, bạn đọc rất muốn biết đôi nét cuộc đời của bà; tiếc là suốt 1216 trang cuốn "Vạn Xuân" in ở Việt Nam không có dòng nào giới thiệu tác giả. Nay có lẽ ông sẽ bổ khuyết được điều đó; cũng để hiểu điều mà tác giả đã thốt lên trong "Lời phi lộ": "...định mệnh nào đã liên kết tôi vào số phận đặc biệt của con người ấy..."

NKD: Bà Yveline Féray vốn là giáo sư dạy môn Sử học Đông Á tại Trường Đại học Nice, nay là quản thủ thư viện. (Tôi không hỏi rõ là Thư viện của Trường Đại học hay của thành phố). Ngoài tác phẩm "Vạn Xuân", tác giả còn viết một số truyện cổ tích và dân gian Việt Nam. Chồng bà, người Ấn Độ (mẹ của ông lại là người Việt Nam!) là giáo sư dạy môn Tư tưởng Đông Phương tại Đại học Nice. Gia đình bên chồng thời Pháp thuộc buôn bán tại Sài Gòn, sau chuyển sang Cămpuchia. Trước thời Pôn Pốt, ông bà có dạy học tại Pnom Pênh một thời gian. Nếu tôi không lầm thì chồng tác giả là một trong những giáo sư Đại học Pháp thực hiện việc trao đổi giữa nền Đại học Pháp và Đại học Việt Nam, sớm sủa nhất, sau ngày đất nước thống nhất. Ông bà có 2 con: một trai, một gái, đều thành đạt và đã có gia đình, nay đều ở riêng. Hai ông bà hiện ở với nhau tại một villa nhỏ, xinh xắn, cách trang trí có pha lẫn những đường nét Á Đông.

Lúc tôi nói rằng độc giả Việt Nam đều khâm phục tác giả, vì đã thông cảm sâu sắc chẳng những với nhân vật chính là Nguyễn Trãi, mà còn với cả một giai đoạn lịch sử, cả một nền văn hóa của dân tộc Việt Nam; tác giả chỉ đưa mắt nhìn ông chồng và ông ta đã trả lời thay: "Tôi cho rằng giữa Nguyễn Trãi và nhà tôi có lẽ có một liên quan huyền nhiệm nào đó (xin lưu ý ông ta gốc Ấn Độ). Quả vậy, có nhiều lúc trong đêm khuya, khi viết gặp chỗ khó khăn đến phát khóc, thì nhà tôi đã thắp hương van vái với Nguyễn Trãi. Và tôi nghĩ là có một sự Tương ứng tương cầu nào đó..." Tác giả không nói gì thêm, chỉ mỉm cười với vẻ mặt trầm ngâm...

P.V. Độc giả nước ngoài đã đánh giá "Vạn Xuân" như thế nào? Đã có ai dự định đưa tác phẩm lên màn ảnh chưa?

NKD: Tác giả có cho tôi xem tập sưu tầm các bài giới thiệu và phê bình cuốn "Vạn Xuân" trong các báo chí Pháp. Hầu hết đều đánh giá khá cao tác phẩm ấy. Do đó, tác phẩm đã được in trong loại "Livre de poche" (Ngoài bản in chính), là loại sách in những tác phẩm đã có ít nhiều nổi tiếng và được độc giả hâm mộ. Tác giả cho biết một hãng phim Mỹ (hình như có liên doanh với một hãng phim Pháp?) có ý muốn đưa tác phẩm lên màn ảnh, nhưng chưa tìm được nguồn tài chính (và có lẽ rồi cũng khó, vì phim có tính cách hoành tráng, chi phí sẽ rất cao, nếu thực hiện). Nhân tiện cũng xin cho phóng viên hay rằng: Ngay từ lúc biết tôi đã dịch xong tác phẩm, nữ đạo diễn Bạch Diệp cho tôi hay rằng, bà cũng muốn đưa tác phẩm lên phim. Nhưng từ đó đến nay không thấy bà Bạch Diệp nhắc nhở gì đến nữa, chắc cũng vì khó khăn về tài chính.

P.V. Được biết "Vạn Xuân" (bản in tại Việt Nam, NXB Văn học & Sudestasie - 1997) thiếu mất ba chương. Với một tác phẩm quan trọng như "Vạn Xuân", thiết nghĩ thiếu sót này không nên giữ "bí mật". Vậy "sự cố" này thực hư ra sao, thưa ông?

NKD: Một việc thật là đáng tiếc; tuy vậy dù sao cũng là chuyện đã qua và cũng có cách để sửa chữa; hơn nữa, quá trình xuất bản "Vạn xuân" khá "vòng vèo", nên lâu nay tôi rất ngại công khai chuyện này. Nhưng đã 2 năm rồi, không thấy ai lo "sửa chữa" gì, giấy trắng mực đen" thì còn đó, và trong dịp diện kiến tác giả vừa qua, tôi không thể che giấu thiếu sót đó, nay đành phải nói rõ sự thật.

Tôi nhận dịch tác phẩm là do tòa báo "Công giáo dân tộc" (TBCGDT) đặt hàng. Làm xong, tôi giao "hàng" cho TBCGDT, lãnh tiền công, xem như xong phận sự! Xuất bản hay không? Bao giờ? do đâu? Đó là việc của chủ đặt hàng. Kẻ làm công không can dự gì! Hơn 3 năm sau, "Vạn xuân" mới được xuất bản; tôi biết một cách tình cờ: em gái tôi thấy tác phẩm bày bán ở nhà sách, mua một cuốn tặng tôi!...

P.V. Xin phép được ngắt lời ông; nói "lý" theo kiểu thị trường "tiền trao cháo múc" thì người làm công khi đã lãnh tiền là "kết thúc" mọi quan hệ, nhưng "hàng "ở đây là một công trình văn hóa quan trọng, không lẽ trong quá trình chuẩn bị xuất bản, không một ai gặp gỡ, trao đổi với dịch giả sao? Đó là chưa nói chuyện người biên tập nhiều khi còn phải bàn bạc với dịch giả từng câu, từng chữ, nếu thấy chưa ổn. Hay là ông "phóng đại" và hài hước?

NKD: Đó là sự thật 100%, sau khi giao "hàng", giữa Nhà xuất bản và tôi không có bất cứ một liên hệ nào cả! Dù sao, thấy cuốn sách đã được in ra, tôi rất mừng; nhưng khi đọc lại, thấy thiếu 3 chương, tôi thật sự sửng sốt, vội đến TBCGDT hỏi xem sự việc ra sao. Lại một sự ngạc nhiên nữa: Chính TBCGDT cũng không biết tác phẩm đã được xuất bản! (Điều này làm tôi bớt buồn, chủ đặt hàng còn không biết, huống là kẻ làm công!) Kiểm soát lại bản còn lưu ở TBCGDT thì có 3 chương ấy. Vậy thiếu sót do đâu? Bây giờ có lẽ không nên đặt vấn đề quy trách nhiệm nữa. Mà việc đó cũng không dễ, vì bản thảo đưa in chắc là đã qua nhiều tay và mỗi lần trao, chắc là không ai ký nhận. Khó quy trách nhiệm, nhưng thiết nghĩ rất đáng rút kinh nghiệm qua "sự cố"này. Đúng ra là trong việc giao nhận bản thảo cần phải đếm, kiểm soát từng tờ (để phòng của giả mà!) và ký nhận như khi nhận tiền ở ngân hàng! Kẻo rồi như cha ông ta đã dạy "một mất mười ngờ"; mà đã ngờ thì ngờ ai cũng được! Vậy là hòa cả làng, hay đúng hơn, thua cả làng! Phiếm luận với phóng viên cho vui, chứ may sao bản lưu tại TBCGDT còn có 3 chương ấy. Và sợ bị thất lạc lần nữa, tôi đã phô tô 3 chương ấy và mong sớm được sử dụng.

Sang Pháp, biết "sự cố" này, tác giả hết sức bất ngờ và hỏi: "Liệu có phải bị kiểm duyệt không?" Điều này tôi làm sao biết được, nhưng căn cứ nội dung 3 chương đó, tôi đã nói với tác giả lý do chỉ là "là ăn bất cẩn" thôi! Tác giả bảo tôi rằng, nếu Nhà xuất bản Julliard (bản Pháp văn) mà biết bản dịch thiếu 3 chương, thì họ lấy làm phiền lắm; vì chính tác giả đã phải dày công vận động để xin được phép dịch tác phẩm mà không phải đóng khoản lệ phí nào (thường là không nhỏ) như thông lệ. Cho nên tác giả có yêu cầu tôi làm sao cho Nhà xuất bản bản dịch biết rằng, nếu tái bản thì phải bổ khuyết 3 chương thiếu sót, kẻo bất tiện lắm đó!

P.V. Như vậy, thưa ông, cho đến nay, Nhà xuất bản đã có "động tác" nào để khắc phục "sự cố" này chưa?

NKD: Như trên đã nói, tôi chỉ là người làm công, chủ đặt hàng mới có quan hệ với Nhà xuất bản. Khi biết thiếu 3 chương, tôi đã nhắc TBCGDT nên hỏi Nhà xuất bản lý do sự thiếu sót ấy. Cũng xin nói thêm, tôi có kể "sự cố" ấy riêng với em tôi là Nguyễn Khắc Phê, như bất cứ "chuyện vui" nào của đời thường! Còn việc Nguyễn Khắc Phê liên lạc với Nhà xuất bản là do tự ý của Nguyễn Khắc Phê có thiện chí đối với một cơ quan đồng nghiệp, chứ tôi không nhờ ông ta làm việc ấy. Được biết, Nguyễn Khắc Phê đã gọi điện trực tiếp cho Giám đốc Nhà xuất bản Văn học lúc đó là ông Lữ Huy Nguyên; ông Nguyên cũng bất ngờ trước "sự cố" này và nói thật là sách do Nhà xuất bản duyệt in, nhưng "người trực tiếp làm sách" lại là ông Thắng (chuyện đã lâu, tên này có thể chưa chính xác). Ông Nguyên lúc đó chắc đã bị đau, nên đã "ủy thác" cho Nguyễn Khắc Phê gọi điện cho ông Thắng; ông Thắng đã hứa sẽ gặp dịch giả để bàn cách khắc phục "sự cố", nhưng cho đến nay thì vẫn bặt tăm! Về cách khắc phục "sự cố", tốt nhất là tái bản đầy đủ; nếu bạn đọc chưa có nhu cầu hoặc chưa có nguồn tài chính để tái bản thì theo tôi, Nhà xuất bản (thực ra là "người trực tiếp làm sách") có thể in riêng 3 chương ấy, rồi gửi đến từng độc giả đã mua sách lần in đầu (tất nhiên là sau khi đã thông báo việc làm này và nhận được thư yêu cầu của từng độc giả). Hơi phiền phức một chút, tốn kém một chút, nhưng nếu trân trọng một công trình văn hóa lớn thì đây là một cử chỉ đẹp, nên làm.

P.V. Chờ "cử chỉ đẹp" ấy được thực hiện hoặc sách tái bản đầy đủ chắc còn lâu, ông có thể tóm tắt cho bạn đọc biết nội dung 3 chương đã in thiếu?

NKD: 3 chương thiếu sót là chương 3,4 và 5 trong tập 7. Tập 7 (bắt đầu từ trang 739) với tiêu đề "Con rồng đất Lam Sơn", tường thuật những sự việc trong thời gian quân khởi nghĩa còn ở chiến khu tại núi rừng Chí Linh. (Bạn đọc tinh ý cũng nhận ra việc để sót, vì tập 7 đã in chỉ gồm 2 chương với 65 trang; các tập khác số trang đều gấp 3 như tập 6 có 171 trang, tập 8 có 198 trang).

+ Chương 3: Lê Lợi và các chiến hữu làm lễ tuyên thệ và chính thức phát động cuộc khởi nghĩa;

+ Chương 4: Quân Minh tàn phá Lam Sơn, giết hại nhân dân và đào bới mồ mả tổ tiên của Lê Lợi;

+ Chương 5: Lê Lai cứu Chúa. Nhân dân đông đảo hưởng ứng lời hiệu triệu của Lê Lợi, gia nhập nghĩa quân, trong đó có em ruột Nguyễn Trãi, sau khi Nguyễn Phi Khanh chết, từ Trung Quốc về Việt Nam, tìm gặp Nguyễn Trãi tại chiến khu Chí Linh.

Xin lưu ý lại điều này: vì phóng viên hỏi, tôi phải kể sự thật và lạm bàn đôi chút, cũng là cách thúc đẩy để mong ước của tác giả về cách khắc phục "sự cố" sớm được thực hiện. Còn mọi việc tếp theo ra sao, xin Nhà xuất bản làm việc với TBCGDT là chủ đặt hàng, tại đó còn một bản có 3 chương in thiếu ấy. Mong là TBCGDT còn giữ bản lưu nguyên vẹn, để tôi được yên.

P.V. Ông nói vậy là hợp cách với "kiểu" làm ăn vừa qua, chứ với một văn bản dịch, lại là một tác phẩm lớn, bạn đọc vẫn muốn "níu kéo" dịch giả. "Vạn xuân" không chỉ lớn về số trang, mà là một tác phẩm khó dịch vì từ ngôn ngữ cho đến vô vàn chi tiết là của 5 thế kỷ trước, nên không dễ có được bản dịch hoàn hảo. Ông vui lòng cho độc giả biết những khó khăn khi dịch và nếu như "Vạn xuân" tái bản, ông có muốn tu sửa, trau chuốt lại bản dịch thêm không?

NKD: Thú thật, lúc trao bản thảo cho TBCGDT, tôi vẫn chưa được hoàn toàn ưng ý về công việc của chúng tôi (tức là của tôi và của các bạn cộng tác). Tuy nhiên, thấy công việc "ngâm" đã khắc lâu, tác giả thì rất mong bản dịch hoàn tất càng sớm càng tốt, tôi đành tạm chấp nhận tính cách tương đối của "sản phẩm". Nếu tái bản, thì đương nhiên việc nhuận sắc lại một lần nữa là điều nên làm. Song, tôi cũng đã lớn tuổi (được biết ông Nguyễn Khắc Dương sinh năm 1925), sức khỏe giảm đi nhiều và cũng bận một vài việc khác. Nếu có ai đó mà Nhà xuất bản thấy có khả năng làm được việc trau chuốt thêm cho bản dịch thì tôi rất hoan hỷ. Tôi chỉ xin nhấn mạnh là trau chuốt về lời văn mà thôi. Chứ còn chỗ nào thấy chúng tôi dịch sai (vì còn kém về Pháp văn) thì xin phép được cho tôi hay để trao đổi kỹ và nếu cần thì phải nhờ đến một vị nào nữa cao minh hơn để phân giải, miễn sao dịch càng đúng, càng hay để phục vụ độc giả là chính.

Quả là trong lúc dịch tác phẩm, chúng tôi gặp không ít khó khăn:

+ Nhiều từ ngữ Hán Việt, tác giả phiên âm lối đọc của Trung Quốc theo quy tắc nào chúng tôi không rõ và không có tài liệu tra cứu, nên việc chuyển thành từ Hán Việt cho thật chính xác là rất vất vả.

+ Nhiều bài văn thơ Việt Nam , tác giả trích dịch ra tiếng Pháp, chúng tôi phải mất rất nhiều công tìm ra các bản gốc để chép lại cho đúng.

+ Việc hoàn chỉnh bản dịch của các cộng tác viên nhiều lúc khó hơn và mất nhiều thì giờ hơn là chính mình dịch lấy. Những chỗ sai phải dịch lại đã đành, mà muốn toàn tác phẩm có được một văn phong đồng nhất, đôi khi phải viết lại cả từng đoạn dài. Tuy nhiên vẫn còn sót lại một số "bất nhất" khi dịch cùng một từ ở những đoạn khác nhau...

P.V. Cuốn sách có "sự cố" nên cuộc trò chuyện thành ra hơi "căng thẳng". Xin được kết thúc bằng một câu hỏi có phần tò mò và "vui vẻ": Được biết ông sống độc thân, sao nhiều đoạn miêu tả chuyện "chăn gối" trong tác phẩm được ông chuyển dịch một cách "thông thạo" vậy? Lời khen "Vạn xuân" đã nhiều, nên nhân đây cũng xin chuyển ý kiến của một độc giả phê bình tác giả đã để nhiều trang miêu tả "chuyện ấy" ác liệt quá mức cần thiết. Ông nghĩ gì về ý kiến này?

NKD: Về chuyện có tính cách riêng tư thì "Sinh nhi tri chi" mà! Trời sinh ai lại không ggiỏi về "chuyện ấy"! Hơn nữa, lúc học tâm lý học, cũng có đọc được không ít sách vở về "chuyện ấy"; các tư liệu về phương pháp dưỡng sinh của Ấn Độ, của Đạo giáo còn bàn đến cách làm "chuyện ấy" sao cho vừa "giải tỏa" thoải mái mà vừa không hao tổn sinh lực! Về ý kiến của vị đọc giả nọ, tôi không dám bình phẩm; mỗi người có cách nhìn sự việc theo những chuẩn mực riêng. Nhưng xin cung cấp một chi tiết: Trong lúc chuyện trò vui vẻ về "Vạn Xuân" với tác giả, khi nhắc đến vấn đề tương tự mà vị độc giả nọ đã nêu, Yveline Féray đã dẫn ra nhân vật Hương Thầm, nhờ cao tay trong "chuyện ấy" nên đã "phá" được kỹ thuật không đến nỗi kém của Hoàng Phúc, khiến cuối cùng lão tướng Tàu bị tổn lực đến suy kiệt! Tác giả cho tôi hay rằng, việc ấy thêm một dẫn chứng (cũng có thể hiểu là tượng trưng) cho việc một dân tộc nhỏ yếu như Việt Nam lại "phá" được cường lực, làm cho kiệt quệ anh giặc Ngô khổng lồ cường tráng! "Dĩ nhu thắng cương" mà! Cô Hương Thầm Việt nhỏ mềm làm cho chú Hoàng Phúc Tàu lớn cứng phải kiệt lực! Quả là TIỂU, NHU thắng ĐẠI, CƯƠNG! Mà thôi, bàn luận "Vạn xuân" thì còn nhiều điều có ý nghĩa hơn nhiều...

P.V. Đúng vậy; và hẳn đó là đề tài trong một cuộc trao đổi khác. Xin cảm ơn ông.

(NGUYỄN HOÀNG thực hiện)
(131/01-2000)
Nguồn: http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=4&catid=18&ID=5021&shname=Duyen-no-va-su-co-quanh-tieu-thuyet-Van-xuan


***
*



Yveline Féray, nhà văn Pháp độc đáo viết về Việt Nam

Bài viết được đăng lúc 10:32:11 AM, 10.07.2009
Nhà văn Yveline Féray (Ảnh: tuoitre.com.vn)

LÊ TRỌNG SÂM giới thiệu

Bà sinh ra và lớn lên ở Painpol và Saint-Malo, một đô thị cổ vùng Bretagne, miền đông bắc nước Pháp. Học trung cấp và tốt nghiệp cử nhân văn chương ở thành phố Nice, vùng xanh da trời miền nam nước Pháp. Là hội viên Hội nhà văn Pháp từ năm 1982, nay bà đã trở thành một trong số ít nhà văn Châu Âu đã tiếp thu và thâm nhập sâu sắc vào rất nhiều khía cạnh của văn hoá Việt Nam.


Làm báo và dạy học nhiều năm ở Campuchia, từ đó bà đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên của đời mình: Lễ hội Nước (La Fête des Eaux) do Nhà xuất bản Pháp Albin Michel cho ra đời năm 1966. Nhờ công trình này, bà đã được tặng thưởng huân chương tình hữu nghị cao cả (Ordre du Sahamenei) của nhà vua Norodom Sihanoukt.

Nhưng phải đợi đến những năm cuối 80 của thế kỷ trước, đông đảo độc giả mới thấy cả chiều sâu và chiều rộng tài năng xuất sắc của bà. Trong hai năm 1982-1983, bà đã làm một cuộc hành trình du khảo ở Việt Nam do Nhà xuất bản Pháp Gulliard giúp đỡ. Những năm tháng đi sâu nghiên cứu ở Việt Nam đã giúp cho bà nghiên cứu kỹ lưỡng một giai đoạn quan trọng lớn lao của nước Đại Việt (tên nước Việt Nam lúc đó) trong thế kỷ 15. Yveline Féray đã tìm hiểu tận cùng lịch sử Việt Nam trong thời kỳ đó, đặc biệt là cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Trãi, nhà chiến lược, nhà chính trị, nhà thơ lỗi lạc đã cùng với Lê Lợi và quân dân Đại Việt đánh tan quân phong kiến nhà Minh, giải phóng tổ quốc khỏi ách đô hộ Trung Hoa.

Từ đó, bà đã cho ra đời bộ tiểu thuyết Vạn Xuân (Dix mille printemps) dài trên nghìn trang nói về Nguyễn Trãi, Lê Lợi trong giai đoạn hào hùng ấy. Vạn Xuân được xuất bản ở Pháp năm 1989, đến năm 1996 được tái bản bằng hai tập do Nhà xuất bản Picquier. Và đến tháng tư năm 2000 đã được dịch ra tiếng Việt, sau đó cũng được tái bản do Nhà xuất bản Văn học (Hà Nội). Từ khi ra đời, bộ tiểu thuyết trên được đánh giá và công nhận như một tác phẩm cổ điển về một giai đoạn lịch sử Việt Nam trực tiếp viết bằng tiếng Pháp, một công trình to lớn, đề tài cho nhiều cuộc hội thảo văn chương ở Pháp. Dư luận Pháp đánh giá những sáng tạo văn học của bà một hiện tượng độc đáo viết về Việt Nam và Châu Á với một thể loại văn học hội nhập hoàn toàn với một nền văn hoá nước ngoài mà đây là nước Việt Nam.

Để tưởng thưởng công lao đặc biệt đó, tháng 11 năm 2002 bà đã được Chủ tịch Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hữu nghị cao quí dành cho những người nước ngoài đã có nhiều công lao to lớn cho nước Việt Nam. Chúng ta biết rằng trong 50 năm qua, Chính phủ Việt Nam chỉ mới tặng thưởng huân chương này cho hai mươi nhân vật xuất sắc nước ngoài. Tại Paris, từ bàn tay của Đại sứ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trao tặng, bà đã xúc động nói không nên lời.

Tháng 4 năm 2000, lại một tiểu thuyết hay dày trên 300 trang về Việt Nam được ra đời do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris: Lãn Ông (Monsieur Le Paresseux) với đề tài về Lãn Ông Lê Hữu Trác, đại danh y sư Việt Nam thế kỷ thứ 18. Năm 2005, tác phẩm này được dịch ra tiếng Việt Nam do Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh ấn hành và đã được tái bản. Đông đảo độc giả Việt Nam và Pháp lại có dịp nhiệt liệt tán thưởng những nỗ lực không mệt mỏi của bà, nhất là với những đề tài về Việt Nam.

Bà cũng là một cây bút cự phách chuyên viết về Việt Nam và Châu Á, nhất là qua một loạt truyện lần lượt ra đời ở Pháp: truyện hoang đường và truyền thuyết của các bà cụ Việt Nam, của bà cụ Campuchia, của bà cụ Trung Hoa và của bà cụ Tây Tạng.

Qua những tác phẩm nổi tiếng trên, bà đã nhận được nhiều giải thưởng từ nước Pháp: năm 1976, giải thưởng lớn các nhà văn phương Đông cho tiểu thuyết Những người dạo đêm (Les promeneurs-de-nuit), năm 1989, giải thưởng châu Á và giải thưởng lớn về tiểu thuyết của thành phố Cannes cho bộ tiểu thuyết Vạn Xuân và nhiều giải khác.

Từ 1966 đến 2006, bà đã có 26 lần nói chuyện khắp nơi ở Pháp trong đó có 10 lần nói chuyện về Châu Á và Việt Nam với các đề tài khá mắc mỏ: Cuộc sống ở Hà Nội thời Nguyễn Trãi (1996), viết về nước Việt Nam xưa bằng tiếng Pháp (6/2002), truyện hoang đường và truyền thuyết Việt Nam, những cách nhìn gặp nhau (2001).

Niềm vui của Yveline Féray và của đông đảo độc giả trong ngoài nước Pháp càng dâng cao khi ngày 12 tháng 10 năm 2008 mới cách đây 5 tháng bà lại được chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Hiệp sĩ Nghệ thuật và Văn chương (Chevalier de l’Ordre des Arts et des Lettres). Đây là một loại huân chương rất cao quí do Chính phủ Pháp lập ra từ năm 1957 để tưởng thưởng cho những cá nhân đặc biệt nổi tiếng do những sáng tạo của họ trong lĩnh vực nghệ thuật loại văn chương rực sáng ở nước Pháp và trên thế giới. Ta nhớ lại năm 1994, danh họa Việt Nam và thế giới Lê Bá Đảng và năm 2001, tiểu thuyết gia nổi tiếng Trung Quốc Mạc Ngôn cũng được nhận huân chương này.

Năm năm trước, bà đã quay về thành phố quê hương Dinan và ngày hôm đó, bà rất tự hào và xúc động phát biểu hàm ơn sâu sắc nhân dân Việt Nam, luôn luôn xem Việt Nam là tổ quốc thứ hai của mình.

Thật vậy, bà có lòng yêu mến Việt Nam một cách kỳ lạ: bao nhiêu công lao đọc sách, tìm tòi tư liệu về Việt Nam, gặp gỡ các nhà lãnh đạo Việt Nam (Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp), các nhà tri thức nổi tiếng (Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi), nhờ người dịch Hoàng Lê nhất thống chí, Thượng Kinh ký sự ra tiếng Pháp để viết về Lãn Ông. Tủ sách của nhà bà có 7000 cuốn mà các tác phẩm về Việt Nam và châu Á chiếm một số lượng đáng kể. Chồng bà gốc Ấn Độ là giáo sư sử học Đông phương mà bà đã nói đây là người động viên, người đọc đầu tiên và người luôn luôn đòi hỏi bà phải viết hay hơn. Phong cảnh và hình ảnh Việt Nam tràn đầy trong nhà bà. Bà mặc áo dài màu xanh và chuẩn bị lễ Tết như người Việt. Quá yêu mến nên lấy tên Vạn Xuân để đặt cho ngôi nhà biệt thự của bà ở thành phố Dinan.

Chỉ gặp tôi có 10 phút tại cuộc “Gặp gỡ Auguste Pavie” ở Dinan, sau khi nghe nói tôi đã đọc tiểu thuyết Vạn Xuân (Dix mille printemps) của bà, bà đã tặng tôi cuốn Lãn Ông (Monsieur Le Paresseux). Ngọn nắng ngoài trời Dinan lúc đó, ngọn nắng yêu thương của bà với Việt Nam hoà vào ngọn nắng nhiệt tình trong tôi đã giúp tôi nhanh chóng hoàn thành bản dịch tiểu thuyết Lãn Ông. Trong lời giới thiệu khi Lãn Ông lần đầu tiên được dịch và xuất bản ở Việt Nam, bà có viết: “Việt Nam luôn ở trong các bước ngoặt của lịch sử mà ta cần khám phá nhiều hơn”. Trong lời giới thiệu đó cũng như trong bài diễn văn nhận Huân chương Hiệp sĩ ở Pháp (10/2008) bà luôn kết thúc chân tình với câu nói cửa miệng của Việt Nam là: “ngôn bất tận tình”. Chúng ta cảm động sâu sắc và hy vọng tràn trề về những tác phẩm tới của bà về đất nước chúng ta.

Các tiểu thuyết lớn của Féray: Vạn Xuân và Lãn Ông đã được xuất bản và phổ biến rộng rãi ở nước ta. Sau đây ta cùng xem một đoạn trích trong “Tập truyện hoang đường và truyền thuyết của bà cụ Việt Nam”, đoạn nói về Đinh Bộ Lĩnh thế kỷ 10. Sự hiểu biết tường tận về lịch sử Việt Nam, cốt truyện rành mạch và văn phong tao nhã là đặc điểm tài năng của bà.

L.T.S

Đinh Bộ Lĩnh - Vạn thắng Vương
Tất cả chúng ta đều biết những con rồng đem lại cho con người sức mạnh và hạnh phúc.
Sử kể lại rằng hồi xưa, vào thời đại nhà Ngô (939-965) và Thập nhị sứ quân có một con rái cá khổng lồ sống trên con sông gần vùng Hoa Lư tỉnh Ninh Bình.

Không ai biết nó đến từ đâu và xuất hiện từ lúc nào. Chỉ biết rằng trong lúc sống nó có vô số việc làm bất hảo như thực hiện các vụ cướp giật chuồng gà vịt và bắt cóc phụ nữ. Những người dân quanh vùng bao phen muốn tống khứ nhưng nó không khi nào rời khỏi con sông và trở nên khó hạ được. Không ai biết bơi lội giỏi và lâu hơn nó giữa hai dòng nước để đuổi bắt tôm cá, ếch nhái, chuột... làm thoả mãn thói tham ăn vô hạn độ của mình. Không ai chịu đựng nổi cái lạnh giá rét và đầy ẩm ướt như nó. Không ai ngấu nghiến mạnh đến nỗi tan xương nát thịt như nó.

Thế là toàn thể dân cư quanh vùng đều dè chừng nó và đặc biệt các cô gái càng tránh xa những bờ sông.

Khốn thay người vợ cao quí của ông Đinh Công Trứ nào đó là tri phủ trong vùng Hoan châu lại không hay biết chút gì về sự xuất hiện của con rái cá khổng lồ này. Chẳng thế thì sao bà ta lại cho dừng lại nơi đây chiếc cáng của mình?

Thế là ngày đó, một ngày quá nóng nực, người phụ nữ trẻ vô lo này dừng lại và xuống tắm trên dòng sông, phản chiếu những đỉnh cao tươi xanh cây cối của nhiều ngọn núi bao quanh. Chỉ thấy một nguồn nước trong suốt mát rượi ve vuốt suốt chiều dài bắp chân, bắp đùi, hai bên háng, bà không thấy được dưới bề sâu trong cát một bóng đen to lớn đang bò tới, duy chỉ có tiếng nước vỗ bập bềnh làm bà chú ý. Đã quá muộn khi bà thấy những cặp chân rái cá quấn quanh thân mình. Bà la hét to lên khi dòng nước cuốn đi.

May sao, những người đi theo thấy bà giãy dụa với tiếng la hét dồn dập. Khi thấy những dòng nước xoáy dữ dội, họ chắc rằng bà chủ đã là miếng mồi ngon của con giao long. Họ đưa bà lên bờ mà con thuỷ quái vừa đẩy ra và tìm mọi cách làm bà tỉnh lại, xoa bóp cho bà, gọi to vào tai bà, thử mở rộng hàm xai bà với một chiếc thoa, cho bà hít một loại hạt thuốc cháy thành than và ấn mạnh vào dạ dày để bà hắt hơi.

Bà nôn ra nhiều nước và một vài lá cỏ. Sau cùng, bà đã có thể mở được đôi mắt hoảng sợ trước những khuôn mặt lo lắng. Mà với ai đây, bà có thể thổ lộ là con rái cá đã hiếp bà và bà đã tiếp thụ tinh dịch của nó?

Thật vậy, một thời gian sau bà đã mang thai.

Còn những người dân Hoa Lư thì tin chắc rằng cuộc tấn công vào bà vợ của quan phủ là một hành động xấu xa mới của con rái cá theo kiểu hành vi nhục dục của con rùa. Họ tổ chức nhiều cuộc săn bắt và cuối cùng lấy được bộ da của con rái cá khổng lồ này.

Vậy thì bà vợ trẻ này, nạn nhân của nó, bố trí sắp đặt thế nào đã thu lượm được bộ xương và thu giấu nó trong nhà bếp của bà? Điều này không thấy lịch sử nói đến.

Mấy tháng sau, khi có một luồng sáng nhẹ chói vào ngôi nhà quan phủ, bà sinh hạ một con trai và đặt tên là Đinh Bộ Lĩnh.

Sau khi ra đời, cậu bé có một khuôn mặt đặc biệt khêu gợi sự ngắm nghía của mọi người, trên lưng cậu có ba túm lông rái cá đen và láng bong. Đến khi biết đi, cậu chạy băng đến chiếc ao sen trước mặt nhà, nhảy tòm xuống và bơi lội một cách diệu kỳ.

Nhưng đó không phải là tài năng duy nhất của cậu. Khi cha mất, cậu bé được một trong những ông chú đem về nhà nuôi và giao cho việc chăn trâu. Bởi tài năng chỉ huy bẩm sinh của mình, cậu đã buộc các cậu bé chăn trâu khác phải thừa nhận mình.

Từ đó, biên niên sử đã ghi:

Thế rồi, bọn trẻ chăn trâu cùng người chỉ huy lao đến tấn công vào lũ trẻ các làng bên cạnh, lấy cây lau làm cờ và lấy tre làm giáo mác.

Và rồi với những cánh tay xếp lại, chúng nâng lên cao vị chỉ huy chiến thắng của mình.
Từ một trong những cuộc dàn trận ấy, Đinh Bộ Lĩnh quá phấn hứng đến mức trở nên “mang tim khỉ và bộ óc ngựa” có nghĩa là quá đắm đuối vào những say mê không kìm chế được, cậu liền cho mổ thịt một con trâu lớn của ông chú để chiêu đãi một buổi tiệc lớn cho đạo quân của mình.

Từ cửa miệng của một dân làng, ông chú biết việc đó và giận sôi gan tím ruột. Chụp một cây gậy tre làm vũ khí, ông đuổi theo thằng cháu để trị nó tan xương nát thịt mới thôi. Mồ cha mả mẹ thằng mất dạy!

Khi sắp bị đuổi kịp, từ bờ sông, cậu nhảy ào xuống nước. Từ mé sông này, ông chú điên tiết huơ gậy lên cao tưởng rằng có thể chộp ngay được cậu bé thì một con rồng xuất hiện đỡ lấy đưa chú qua những đợt sóng dữ. Đối với mọt đứa trẻ tinh nghịch cóc cần mọi thứ này, đây có phải là tín hiệu của một sự bảo trợ suốt đời của những thuỷ thần không?

Trước sự diệu kỳ như vậy, ông chú quỳ mọp xuống ném chiếc gậy ra xa.

Cho đến lúc Đinh Bộ Lĩnh lớn đến tuổi thành niên, vóc dáng cậu bừng nở, cái nhìn như nảy lửa, cách đi đứng giống như loài cọp và cậu cũng vô cùng thoải mái như cha cậu.

Những ai đến gần cậu đều được ảnh hưởng tốt.

Lúc đó có một thầy chuyên về phong thuỷ từ biên giới Trung Hoa đến Hoa Lư để theo dõi mạch rồng.

Với chiếc la bàn trong tay, cuối cùng ông thầy phong thuỷ này tìm được điều mà ông ta đã đi tìm từ một nơi quá xa. Đó là trong một vực sâu quanh vùng Hoa Lư có cái đầu của con Rồng xanh tốt lành, một tín hiệu phúc đức khó mà có được trong cõi ba sinh này, một điềm phong thuỷ cao sang có khả năng đem lại tước vị vua chúa cho con cháu của người được chôn cất ở đây. Sướng rân lên, ông sắp bị ngột thở và trong giấc mơ thấy mình đang ngao du trên chín tầng mây.

Có ai mà không biết rằng bất kể người nào muốn được lên ngai vàng trị vì muôn dân thì cần phải lấy một gói xương tiên tổ mình và đem đặt vào miệng Rồng sao?

Việc khó nhất là làm sao đem chôn được những bộ xương cốt ấy trong cái vực sâu cuốn bọt này?

Khi tìm được địa điểm đó rồi, thầy phong thuỷ còn cần phải có một người to gan lớn mật được kích thích một phần thưởng to lớn nhảy vào đám nước xoáy vực sâu và trở lại báo ông ta biết có những gì trong đó.

Trước khi sinh ra đã biết bơi lội, Đinh Bộ Lĩnh liền đến trình diện.

Từ bên ngoài vực thẳm, tiếng nước ầm ào dữ dội đã có chút gì đó làm con người dũng cảm nhất giữa đám người dũng cảm ngại ngần. Người ta nói rằng đây là một cái nồi tròn vô cùng to lớn và choáng ngợp với độ sâu bất tận trong đó có hàng triệu triệu thuỷ quái đang bừng sôi hoạt động.

Như một viên đạn đá sẵn sàng bật ra khỏi bức thành, trong một lúc, Đinh Bộ Lĩnh đứng lên lấy thăng bằng trên bờ vực, dưới đáy sâu những dòng nước xoáy rợn óc chực sẵn để giết chết và nghiền nát xương cốt cậu.

Đinh Bộ Lĩnh thở rất lâu và nhảy phốc xuống.

Thân thể nhẹ nhàng của con rái cá trong cậu bị cuốn đi bởi một dòng xoáy chóng mặt càng dấn sâu vào chính giữa vực nước. Cậu đột ngột mở mắt: giữa một hang động màu xanh lục có một con ngựa đá với kích thước cân đối tuyệt vời. Cậu ta liền bơi một vòng xung quanh.

Lúc sau, cậu trồi lên mặt nước, dựa vào các mỏm đá gồ ghề để ra khỏi vực sâu đến báo cáo việc làm cho thầy phong thuỷ Trung Hoa. Ông này nhanh chóng vặt lấy một nắm cỏ đưa ra trước mặt cậu.

- Chú em dễ thương ơi! Chú thật là một nhà bơi lội tài ba! Ta sẽ nhân đôi tiền thưởng cho chú nếu chú nhảy xuống được lần nữa và đưa cho con ngựa đó túm cỏ này rồi báo lại cho ta điều gì đã xảy ra.

- Được! Đinh Bộ Lĩnh nói rồi nhảy ào một lần nữa xuống vực.

Sau một đoạn thời gian ngắn mà nhà phong thuỷ cảm thấy dài đến ba thu, cậu bé lại ngoi lên.

- Sao? Ông thầy Trung Hoa lúng búng nói, đầy vẻ sốt ruột.

- Chẳng sao cả, thưa thầy, hãy tin tôi, con ngựa đã mở miệng và nhai túm cỏ của ông.

- Thật là tuyệt! Thầy phong thuỷ sung sướng nói mà không để lộ ra chút kinh ngạc nào. Đây, phần thưởng nhân đôi cho chú mày như đã hứa nhưng dứt khoát, chú phải ngậm chặt miệng về những việc vừa rồi đó nghe.

Sau đó, thầy phong thuỷ hối hả trở về Trung Hoa thu lượm xương cốt của cha mình.

Chỉ biết rằng ông ta đã trả công phục vụ cho một con người dũng cảm mà không phải là một đứa ngu đần.

Mặc cho những cố gắng của người Trung Hoa này tự tạo lấy bộ mặt thích hợp, chẳng lâu lắc gì để đoán được chín phần mười sự thật điều bí hiểm này. Hiểu rõ được nhà phong thuỷ này đã tìm ra được vị trí của một ngôi mộ tuyệt vời khả dĩ đem lại cho gia đình mọi thứ cao sang, cậu ta liền nhanh chóng trở về nhà mình và yêu cầu mẹ đưa cho xương cốt của cha mình.

- Con làm gì được với các thứ đó?

Khi bà vợ goá của ông Đinh Công Trứ hay biết sự việc xảy ra giữa con bà với thầy phong thuỷ Trung Hoa, không chút khó khăn nào, bà đưa xương cốt của con rái cá thu giấu trong nhà bếp trước khi chú bé sinh ra.

Và Đinh Bộ Lĩnh bọc các xương cốt vào trong một túm cỏ và lao xuống vực thẳm để cho con ngựa đó nhai lấy.

Người ta có lý để nói rằng:

Những con Rồng mang lại cho con người sức mạnh và hạnh phúc.
Từ đó sức trai tráng và lòng quả cảm của cậu ta không còn biết đâu là biên giới. Giống như chiếc chiếu đang trải ra, sự nổi tiếng của Đinh Bộ Lĩnh lan rộng cả bốn phương trời.

Trong thời kỳ đó triều đình nhà Ngô đang ngập sâu trong tình trạng vô chính phủ, đánh rơi mất tất cả quyền lực của mình trước sức mạnh của mười hai sứ quân rộng lớn đang cai trị vùng đồng bằng và trung du. Một trong mười hai sứ quân giỏi trận mạc tên là Trần Lâm, kinh ngạc trước trí thông minh và dáng vóc đặc biệt của Đinh Bộ Lĩnh, liền giao cho chỉ huy các đội quân của mình.

Sau đó một thời gian, chính tại Hoa Lư, người con trai con rái cá đã bất chấp quân đội của nhà Ngô và đánh bại chúng.

Và thế là vào năm Đinh Mão, Đinh Bộ Lĩnh tấn công vào các sứ quân khác và bắt họ hàng phục, xứng đáng với biệt danh Vạn Thắng Vương.
Sử biên niên có ghi:

Khắp nơi nào ông đến, ông đều thu được thắng lợi, từ những làng xã, những thung lũng núi non đến tận các bờ sông, đâu đâu ông ta cũng đã đánh tan các toán nổi dậy. Toàn bộ đất đai được thu hồi, từ các quan châu và phủ đến các viên chức nhỏ và toàn dân, không ai là không biết uy thế của Đinh Bộ Lĩnh.
Từ chuyện đó, còn gì hay hơn để nói nữa?

Những năm tháng qua đi, đó là thời gian để xây dựng ở Hoa Lư những lâu đài, thành quách và hào luỹ, kiến lập ở đó một triều đình và một hệ thống quan chức dân sự và quân sự mạnh mẽ.

Đó cũng là thời gian cho nhà phong thuỷ Trung Hoa trở lại đất Việt mang theo cả một túi xương cốt.

Vừa tới nơi, ông hỏi:

- Ta nghe nói Vương quốc này được đặt tên là Đại Cồ Việt ngày nay đã thịnh vượng và lấy Hoa Lư làm kinh đô, vậy ai là người đang cai trị?

Được trả lời đó là “vị chúa tôn nghiêm đầu tiên của nhà Đinh” thuận theo ý trời. Ông ta biết rằng cậu thanh niên Đinh Bộ Lĩnh đã cuối cùng lấy mạch Rồng phục vụ mục đích cá nhân của mình.

Ông rất lấy làm nhục và quyết định trả thù.

Vậy ai là người có thể khẳng định rằng “chỉ có con người đầy đạo đức mới có thể sử dụng thuyết phong thuỷ một cách có ích?”
Ông này liền âm mưu một sự trả thù dưới ánh trăng, nghĩ ra một kế hoạch chắc chắn thành công và đến xin yết kiến vị Hoàng đế.

Sai khi bái lạy nhà vua, ông nói:

- Nhờ vận may của Bệ hạ rộng lớn như trời cao và đức độ của các tiên tổ tôn nghiêm của mình, từ nay nhân dân ngài sống trong hoà bình và hoan lạc. Tuy vậy, xin cho phép người đầy tớ nhỏ này dám nêu ra một lời đề nghị khiêm tốn. Cần có một thanh gươm nữa cho con ngựa của ngài để niềm vinh quang của Bệ hạ được viên mãn!

Đức vua trả lời chẳng chút nghi ngờ:

- Với chúng ta, đó là một lời khuyên chí lý.

Và Đức vua cho móc chiếc kiếm lên cổ con ngựa đá.

Trong khi chiếc gươm vẫn được khéo léo nằm trên cổ con ngựa chiến trong đáy vực sâu, Đinh Bộ Lĩnh vẫn tiếp tục trị vì đất nước vinh quang của mình nhưng dưới tác động của những dòng nước xoáy, chiếc gươm cũ dần dà đưa qua đưa lại và cuối cùng cắt đứt đầu con ngựa như thầy phong thuỷ Trung Hoa đã dự kiến.

Các sử biên niên lại chép: một tên Đỗ Thích nào đó, quan võ trong cung Vua, một đêm nằm mộng thấy một ngôi sao từ trên trời rơi xuống miệng mình, tin rằng đó là tín hiệu của một sự thăng hoa đột ngột và liền đâm giết vua Đinh Bộ Lĩnh và con trai là Hoàng tử kế vị Đinh Liễn, kết thúc triều đại nhà Đinh đã thống nhất và bình định đất nước.

LÊ TRỌNG SÂM dịch

(244/06-09)
Nguồn: http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=4&catid=18&ID=2896&shname=Yveline-Feray-nha-van-Phap-doc-dao-viet-ve-Viet-Nam