Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Từ Việt, văn minh Việt


Tôi là kẻ không biết chút gì về ngôn ngữ học chỉ bằng cảm tính mà viết bài này , nếu có gì không đúng ...mong bạn đọc lượng thứ .
Trong bài ‘đôi điều về ngôn ngữ Việt – Hoa’ tôi đã nêu : không có từ Hán Việt mà trong khối từ vựng Việt chỉ có những từ riêng của người Việt nam và những từ dùng chung trong khối Bách Việt mà thôi .
Truy nguyên nguồn gốc bằng ngôn ngữ cho chúng ta nhiều điều bất ngờ lý thú ....

1-/  Đất- đá tiến lên đồng .

Văn minh Trung hoa có 3 bảo khí bằng đồng , gọi là bảo khí vì chúng là cột trụ của phần tâm linh trong văn hoá Trung hoa .
            Chung hay chuông đồng .
            Đỉnh hay vạc đồng và
            Cổ hay trống đồng .
Trong lịch sử văn minh nhân loại nguyên liệu dùng chế tạo vật dụng được coi là nấc thang đánh dấu bước thăng tiến của con người , lịch sử văn minh được phân kỳ thành thời đồ đá, thời đồ đồng , đồ sắt .v.v.
Ở nấc thang  sau những vật dụng tuy đã thay đổi vật liệu dùng chế tạo ra nó và hình dạng cũng có thể thay đổi đôi chút cho phù hợp với tính chất của vật liệu mới  nhưng thường được gọi bằng tên  cũ như:

aChung - chum
Chung tức chuông mang hình dạng nguyên thủy của cái chum sànhlà vật dụng dùng chứa trữ thường dùng đựng nước hay ngũ cốc nhưng với chum đồng thì công năng  đã thay đổi ...nó được treo ngược lênlàm  khí cụ phát ra âm thanh  , tuy vẫn giữ hình dạng cũ nhưng công dụng đã khác hẳn ; những người sáng tạo ra nó căn cứ vào hình dáng  vẫn gọi nó với cái tên cũ là  cái chum sau  âm ‘chum’ biến âm thành ‘chuông’, Hán Việt đọc là ‘chung’ .

b –Vạc vại
Vạc chỉ là đồ dùng nấu nướng thông thường trong dân gian nhưng khi dùng như khí cụ hành lễ theo nghi thức tế lễ của thiên tử   thì trở thành cái đỉnh , đỉnh là vật dụng nấu đồ cúng tế trời đất của vua vì vậy đỉnh trở thành bảo khí tượng trưng cho quyền lực tối cao của hoàng đế , ai nắm giữ được 9 cái đỉnh đồng người ấy là vua thiên hạ .
Từ ‘vạc’ thực ra chỉ là biến âm của ‘vại’ cũng là thứ vật dụng của người Việt bằng đất nung hay sành sứ dùng để chứa trữ .
Chum sành vại sành’ tiến lên biến thành ‘chuông đồng vạc đồng’ là bước nhảy hoàn toàn hợp quy luật ... biến đổi ngôn ngữ trong quá trình phát triển ., chum – chuông được Hán văn ký âm thành ‘Chung’, từ vạc thì giữ nguyên âm Việt , .người Hoa thường gọi cái vạc bằng tên khác là đỉnh hay đảnh.

cCổ – cối
Sách cũ Trung hoa cho biết người Lạc Việt xưa ....khi có người chết thì dã cối để báo cho mọi người ...như vậy cái cối đã được dùng như 1 khí cụ âm thanh ., dân tộc học cũng cho biết ....người Việt không đánh trống đồng mà  dã trống như dã cối vậy ., ở Việt nam nhiều nơi các cụ già vẫn gọi trống đồng là cối đồng’. Từ ‘cối’  ký âm Hán tự biến thành ‘cổ’, từ cái cối Việt nam khi sang bên tàu đã biến thành cổ là cái trống ...
Chung , đỉnh hay vạc và đồng cổ ‘thoát thai’ từ chum đất vạị sành và cối đá đã chỉ ra : chuông đồng , đỉnh đồng và trống đồng đều là phát minh của người Việt... lý do rất đơn giản là tên gọi của nó nguyên thủy là từ Việt hay rõ hơn là từ Nôm .

2-/ Ấn chỉ.
Ấn là in , cái ấn là con dấu điều đó có lẽ ai cũng biết ....nhưng ít người để ý : từ ‘ấn’ là  động tự Việt ngữ có nghĩa là đè xuống .
 Khác với quy tắc  biến đổi ‘đất đá tiến lên ...đồng’ ở đây hình thành quy tắc khác ...: động từ biến đổi thành danh từ  .

Trong nền văn hóa Hạ long gần 2000 năm trước công nguyên đã tìm được nhiều con dấu dùng ̣để ‘ấn’ vào đất xét trước khi nung tạo các ‘dấu ấn’tức hoa văn trên đồ đất nung ., khảo cổ học Việt gọi là ‘dấu Hạ long’,về sau kỹ thuật tạo dấu ấn này được cải tiến và phổ biến trong nền văn minh Trung hoa đã nổi tiệ́ng như 1 công cụ hữu hiệu của nền hành chánh quốc gia , từ đời Chu được nâng cấp biến thành điều linh thiêng : con dấu của hoàng đế gọi là ‘Ấn truyền quốc’. Dù dùng tạo ‘dấu ấn’ trên đất sét , trên lụa hay trên giấy thì kỹ thuật vẫn là khắc hoa văn ngược trên con dấu để khi ‘ấn’ xuống sẽ để lại hoa văn thuận chiều như ý muốn .chính kỹ thuật này đã tạo ra công nghệ in sau này , chữ được khắc ngược trên miếng gỗ gọi là mộc bản sau đó phết mực và ‘ấn’ xuống lụa hay giấy tạo thành những bản in ,tên của quy trình được gọi ngắn gọn là ‘ấn’ phản ánh nguyên tắc hoạt động nguyên sơ của nó .

 ‘Ấn’ nguyên thủy là động từ tiếng Việt đã biến thành 1 danh từ của Hoa ngữ , người Việt biến âm đi gọi là ‘in’để phân biệt rõ ràng quy trình và sản phẩm .
 chính từ ‘ấn’ đã xác định nơi phát minh ra ngành ‘in-ấn’mà ứng dụng khiến  thay đổi bộ mặt thế giới , cái quy trình đơn sơ ‘ấn’̣để tạo thành ‘dấu ấn’ chỉ mất địa vị khi kỹ thuật in laser ra đời ở cuối thế kỷ 20.

 Kỹ thuật in vẫn được coi là 1 phát minh sáng chói của người Tàu  được toàn nhân loại xử dụng và được coi là cuộc cách mạng trong lãnh vực văn hoá thông tin , hiệu dụng của nó đã kiến tạo nên bộ mặt thế giới ngày nay.... nhưng với khám phá từ ‘ấn’ là từ Việt hoàn toàn thì vấn đề phải xem sét lại ....chính người họ HÙNG mới là nhà phát minh vĩ đại đem lại lợi ích cho toàn thể nhân loại không phải là người Tàu như đã lầm tưởng .

Trong cuộc cách mạng văn hoá thông tin còn 1 sự kiện quan trọng không kém ....đó là việc phát minh ra giấy , người Tàu gọi là ‘chỉ’, với những thông tin đang biết thì người phát minh ra cách chế tạo giấy là 1 người Việt tên Thái Luân , quy trình công nghệ là xay giẻ tức vải vụn với vỏ cây tươi làm chất phụ gia kết dính tạo thành giấy , công dụng  trong đời sống đặc biệt trong lãnh vực văn hoá truyền thông thì khỏi phải bàn nữa ,nó sâu rộng như thế nào chúng ta ai cũng biết bài viết này xin kiện chứng thông tin : giấy là phát minh của người Việt qua bằng chứng ngôn ngữ , người Việt đã dùng tên vật chất cũ là ‘giẻ’ nguyên vật liệu chính dùng chế biến để đặt tên cho vật chất mới tạo thành từ nó là ‘giấy’ , người Tàu gọi là ‘chỉ’ ; 2 từ này chỉ là sự biến  âm theo 2 hướng từ
1 âm gốc là ‘giẻ’.
     Giẻ → gỉ →chỉ ( âm Hán Việt )
     Giẻ→ gié→gió→ giấy  ( người Việt biến ‘gió’ thành tên riêng 1 loại giấy gọi là
‘giấy gió’ )

Khi 1 sản phẩm mới ra đời ‘tên gọi’  của nó chắc chắn thuộc về ngôn ngữ của
dân tộc đã sáng tạo ra sản phẩm mới đó .,  điều này tự nhiên đơn giản nhưng vững chắc không thể bác bỏ ;
Như vậy cùng với in-ấn ; giấy cũng là phát minh của người họ HÙNG .
Sự đóng góp  của tiền nhân người Việt vào tiến trình văn minh nhân loại là vô cùng to lớn , con cháu họ HÙNG ngày nay có quyền tự hào về những thành tựu trí tuệ tuyệt vời của cha ông mình ..

 3 /- Xe thuyền .

Xe thuyền là phương tiện vận chuyển người hoặc hàng hóa từ nơi này tới nơi khác 1 trên bộ và 1 dưới nước .
Xe tiếng Việt từ hán Việt đọc là xa còn bản thân người Hoa ( Quảng Đông )cũng phát âm là xe hay che ; như vậy Việt và Hoa hoàn toàn giống nhau trong cách gọị tên phương tiện vận chuyển trên bộ này , truy nguyên nguồn gốc từ ‘xe’ có thể khẳng định phát minh ra cái xe là của người Việt  .
Việt ngữ có động từ ‘Xê’ , nghĩa là dời đổi vị trí 1 vật , khi sáng chế ra phương tiện để dời đổi vị trí 1 vật từ nơi này đ̣ến nơi khác ở trên bộ người ta gọi nó là ‘cái xê’ có nghĩa là phương tiện thực hiện sự dời chuyển ,ở đâyđộng từ xê đã biến thành danh từ Xe .        xê→xe - xa ; bởi vì xê là từ thuần Việt nên xe cũng là từ Việt ; như đã nói ở phần trên bản thân tên nguyên thủy vật dụng thuộc về ngôn ngữ nào thì dân tộc đó chính là người đã sáng tạo ra nó., tới đây thì đã có thể xác định chắc chắn cái xe là phát minh của người họ HÙNG .
Tương tự với xe , từ thuyền cũng có gốc gác Việt , từ ‘Chuyên’  trong tiếng Việt có nghĩa là đem một vật gì đi nơi khác ,  người Việt thường dùng đi đôi với ‘chở’ thành từ thuần Việt ‘chuyên chở’. Có vì vua thời thái cổ Trung hoa tên có thể đọc là Chuyên Húc đồng thời cũng có thể là Xuyên Húc, từ Chuyên tiếng Việt trên cũng có biến đổi như thế :
    Chuyên→ thuyên→thuyền , tiếng Quảng đọc là Thoàn .
    Chuyên→xuyên→xuông→xuồng .
Tiếng Việt miền bắc dùng chữ ‘thuyền’ , miền nam dùng chữ ‘xuồng’ cùng chỉ phương tiện di chuyển trên mặt nước , với mẹ là động từ chuyên , bản thân tên gọi vật thể là thuyền hay xuồng đủ xác định nơi sinh chốn đẻ của nó là đất Việt .

Trong quá khứ đã có thời đất nước Việt to rộng vô cùng , trí tuệ người họ Hùng đã từng là đỉnh cao của nhân loại , tiền nhân người Việt  đã có sự đóng góp vô cùng lớn lao cho văn minh của loài người , ngày nay  với tư cách là truyền nhân chính thức của dòng giống Hùng người Việt có quyền tự hào một cách chính đáng ....nhưng trong niềm phấn khích vô bờ đó quan trọng hơn cả là phải làm sao khôi phục địa vị như của cha ông trước đây trong cộng đồng nhân loại..

Nguyễn Quang Nhật

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2012

Gìn giữ một di sản: Hát xẩm


*

Published on Jun 14, 2012 by 

Tiếng lòng trong câu hát xẩm 

Hát xẩm là nghề truyền thống đặc biệt vốn chủ yếu dành cho người khiếm thị ở miền Bắc nước ta. Hát xẩm ra đời từ rất sớm, thời nhà Trần cách đây hơn 700 năm. Tương truyền tổ nghề hát xẩm là thái tử Trần Quốc Đĩnh - một trong hai người con trai của vua Trần Thánh Tông. 

Nửa đầu thế kỷ 20 về trước, hát xẩm thường là các nhóm đi khắp chốn cùng quê. Hầu như nhóm nào cũng có ông trùm là người khiếm thị. Có nhiều nghệ nhân tài ba đã gìn giữ và lưu truyền hát xẩm như Nghệ nhân Nguyễn Văn Nguyên (cụ Trùm Nguyên), nghệ nhân Vũ Đức Sắn của Hà Nội, nghệ nhân Thân Đức Chinh của Bắc Giang, Nguyễn Phong Sắc trưởng nhất Hải Dương, cụ Trùm khoản ở Sơn Tây... và rất nhiều nghệ nhân khuyết danh trên mọi miền tổ quốc.

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2012

Tham dự nghi lễ cung đình Huế xưa qua bộ ảnh hiếm


Thứ sáu 08/06/2012 12:00:00 (GMT +7)
Tác giả: GP
Nguồn: Mask

undefined
Các nghi lễ và lễ hội cung đình Huế là thành tố quan trọng nhất tạo nên bản sắc văn hóa Huế.
Các nghi lễ, lễ hội là sinh hoạt văn hóa tinh thần của một cộng đồng người. Nó đã được hình thành và phát triển từ lâu trong lịch sử nhân loại. Nghi lễ, lễ hội phản ánh một cách rõ nét những đặc trưng về lịch sử và văn hóa của mỗi địa phương và của từng quốc gia.
Dưới đây là một số hình ảnh cũ của Hội đô thành hiếu cổ (hoạt động từ 1914 - 1945 tại Huế) mô tả những nghi lễ, lễ hội ở phố phường, hoàng cung tại cố đô Huế như để gợi nhớ một thời kỳ đã qua, những sinh hoạt gắn liền với kinh đô nhà Nguyễn trước đây. Một điều đáng quý là tác giả các bức ảnh này đa số là người Việt Nam như ông Tang Vinh, Đang Châu vốn làm việc cho khách sạn Morin Frères cũ tại Huế hay tại các cơ quan phụ trách nhiếp ảnh. Chùm ảnh dưới được chọn lọc từ kho lưu trữ nhiếp ảnh của Hội đô thành hiếu cổ - với khoảng 9.000 ảnh chụp tại Đông Dương giai đoạn 1885 - 1954.
Quan và lính hầu vua Bảo Đại trong ngày vua đăng quang.
Lễ hội trên đoạn sông Phủ Cam.
Trang phục thái tử Khải Định trong ngày lễ.
Lễ mừng thọ Tứ thập niên của vua Khải Định: Kỳ đài treo cờ hoàng gia ở cột cờ chính và rất nhiều cờ, phướn xung quanh.
Các quan quỳ trước sân chầu trong lễ mừng thọ vua Khải Định.
Đội voi ngự của Tử Cấm Thành triều Nguyễn.
Nghi lễ nghinh đón vua Thành Thái.
Sắp xếp đội ngự binh ở cửa Ngọ Môn chuẩn bị khởi hành đi lễ tế Nam Giao. Lễ tế Nam Giao là nghi lễ quan trọng bậc nhất dưới chế độ quân chủ vì chỉ nhà vua mới có quyền làm lễ tế Giao, tức là tế Trời Đất, nhằm khẳng định tính chính thống của triều đại, uy quyền của Hoàng đế tuân theo mệnh trời mà cai trị dân chúng.
Trang phục quan văn trong lễ tế Nam Giao. Lễ tế Nam Giao có hai phần, gồm lễ rước 34 bài vị thờ trời đất, núi sông, các vị thần linh, đế vương… từ Trai cung sang đàn tế, và lễ tế tại đàn Nam Giao với ba nghi thức Nghinh thần tại Phương đàn, Tế tại Viên đàn, Tống thần tại Phương đàn.
Vật tế trời trong tế đàn Nam Giao. Lễ thường được cử hành sau 12h đêm tại đàn Nam Giao để đảm bảo tính tâm linh.
Bộ phận bếp của cung đình đang làm thịt và nấu các món từ dê, lợn, bò sau lễ.
Vũ công hoàng gia mang khiên đang hát dưới sự điều khiển của một quan "nhạc công".
Lính của vua mang cờ.
Võ quan mang kiếm, giáo đứng cạnh trống lễ hội.

Kiệu của vua Nguyễn đang đi giữa đường phố Huế dưới sự bảo vệ cẩn mật của hàng quan, lính trong một ngày lễ cung đình.
* Bài viết có sử dụng tư liệu tham khảo từ các nguồn: Belleindochine, Communes administratif et militaire France Métropolitaine et France d'Outre-mer...

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

Cách khâm liệm độc đáo của hài cốt Phia Vài



16/05/2012 08:24:27
 - Bộ hài cốt người nguyên thủy có niên đại 12.000 năm được khâm liệm một cách độc đáo: Đặt ốc biển vào hốc mắt được các nhà khảo cổ thuộc Viện Khảo cổ học Việt Nam phát hiện tại hang Phia Vài thuộc địa phận thôn Cốc Ngận, xã Xuân Tân, Na Hang, Tuyên Quang là một "duyên nghiệp". Và chuyện khai quật được hài cốt này còn là một kỳ tích.
Khu vực hang Phia Vài.
Khu vực hang Phia Vài.


Phát hiện di chỉ nhờ… đi họp


"Hình thức mai táng này được lặp lại ở thời đại kim khí khi tôi nghiên cứu một chiếc sọ cổ của người đàn ông khoảng 50 tuổi được tìm thấy ở Nga Sơn, Thanh Hóa năm 2000. Chỉ khác là sọ và một đoạn xương cánh tay, một cán giáo đồng được cải táng trong chiếc trống đồng cổ. Họ cũng đặt vào hai hốc mắt nhưng không phải ốc mà là hai đồng tiền Ngũ Thù".
GS Nguyễn Lân Cường
PGS.TS Trình Năng Chung, Viện Khảo cổ học Việt Nam cho biết, hang Phia Vài được phát hiện một cách tình cờ. Hôm đó, ông đến họp tại UBND xã Xuân Tiến, huyện Na Hang để thực hiện di dời một số di chỉ khảo cổ học phục vụ công tác làm hồ thủy điện.


Câu chuyện ngoài lề buổi họp với một nông dân tên là Hội đã khiến ông Chung không khỏi tò mò khi người này cho biết, cạnh nhà có cái hang bí hiểm. Tuy nhiên, khi ông Chung muốn lên hang thì lại vấp phải sự phản đối bởi truyền thuyết "ma núi" Phia Vài.


Ông Chung và các đồng nghiệp đã phải mua xôi, gà, đồ lễ vật và mời thầy Mo về cúng bái để an lòng dân. Đồng thời, cùng họ vào hang xem xét hiện vật. Đoàn cũng phải rất vất vả để thuê được các công nhân địa phương, phục vụ công tác đào bới di chỉ khảo cổ.


Khi đào được hơn 50cm, ông Chung thấy ló ra vài ba đốt đen đen, gần giống xương gà, lợn. Biết là sắp phát lộ bộ hài cốt như lời đồn đại, ông bèn cho nhân công phủ bạt lên để người dân đỡ sợ và nói đùa rằng đó chỉ là xương động vật.
PGS.TS Trình Năng Chung (giữa) đang khai quật di cốt.
PGS.TS Trình Năng Chung (giữa) đang khai quật di cốt.


Cưa đá tìm xương


Theo PGS.TS Trình Năng Chung và GS Nguyễn Lân Cường, Phia Vài có cửa hang rộng 35m, sâu 11m và trần hang cao 4m. Tiếc rằng, các tảng đá vôi lớn đã bị sập xuống từ trần hang, làm mất đi một diện tích lớn không thể khai quật.


Các nhà khảo cổ đã đào hai hố lớn với diện tích 40m2 và phát hiện được hàng trăm hiện vật, chủ yếu là công cụ ghè, đẽo thô sơ. Khi xương hài cốt người phát lộ, các nhà khảo cổ rất mừng rỡ nhưng cản trở lớn nhất là cột nhũ đá đâm sâu xuống đất chạm vào bộ hài cốt.


Sau hàng tuần lễ nghiên cứu, các chuyên gia quyết định cho cưa bỏ phần quách thạch ở phía trên để lấy bộ hài cốt ra. Chỉ cần dựa vào cột nhũ đá ăn sâu xuống đất, các nhà khảo cổ cũng đã đoán được niên đại hài cốt trên 10.000 năm tuổi.


Kỳ thực, đây là bộ hài cốt người nguyên thủy được đặt ở tư thế nằm nghiêng, đầu gối lên đá, chân duỗi thẳng. Căn cứ vào lớp trầm tích đá vôi cứng và công cụ ghè đẽo thô sơ tìm thấy được chôn theo người chết, ông Chung nhận định, di tích Phia Vài mang đặc trưng của văn hóa Hòa Bình giai đoạn sớm (thuộc thời kỳ Cánh Tân muộn, Holuxen sớm) niên đại 12.000 năm. Đặc biệt, xung quanh di cốt còn phát hiện dấu tích bếp lửa hình tròn và những tảng đá rất to - có lẽ đã được người nguyên thủy dùng làm ghế ngồi trong các sinh hoạt cộng đồng.


Để giúp bộ hài cốt được nguyên vẹn, các nhà khảo cổ đã quyết định để họa sĩ Nguyễn Đình Hiển dùng thủ thuật bó thạch cao ngôi mộ để đưa ra nghiên cứu. Dựa vào độ mòn của răng, độ gắn liền của đường khớp sọ, góc của xương cánh chậu, xương hàm dưới... các nhà khảo cổ kết luận đây là di cốt của một người đàn bà có địa vị trong cộng đồng người nguyên thủy, khoảng từ 45 - 50 tuổi.


Vì xương cánh tay trái còn tương đối nguyên vẹn nên tính được chiều cao của cá thể này là 1,56m. Đặc biệt, hộp sọ gối lên một thềm đá và có độ hóa thạch khá cao. Ở hàm trên răng cối nhỏ, cối lớn và răng nanh còn nguyên vẹn, chỉ thiếu bộ răng cửa.
Di cốt người với cách khâm liệm đặt ốc vào hốc mắt.
Di cốt người với cách khâm liệm đặt ốc vào hốc mắt.


Cách khâm liệm độc đáo


Theo PGS.TS Trình Năng Chung, hài cốt Phia Vài có hộp sọ còn khá nguyên vẹn nhưng do bị cột đá nén ép nên bị bẹp ở phần xương đỉnh và chấm bên phải làm cho hai mỏm chũm và má bên phải bị lệch. Khi các nhà khảo cổ dùng thủ thuật nghề nghiệp để khám phá đã làm lộ dần hai con ốc nằm gọn trong hốc mắt của người đàn bà này.


Theo GS Nguyễn Lân Cường, đây là loại ốc biển có tên khoa học Cyprea arabica. Con ốc nằm ngửa trong hốc mắt bên trái dài 27,23mm, rộng 16mm. Con ốc trong hốc mắt bên phải dài 21,61mm, rộng 13,13mm.


Cũng theo ông Cường, thời người phụ nữ này còn sống, người ta dùng loại ốc biển này để trao đổi hàng hóa giống như một loại tiền tệ. Trong lúc mai táng, người ta đã đặt lên mỗi mắt một con ốc để khi phần da thịt tiêu đi, con ốc sẽ tụt xuống hốc mắt như thay cho con ngươi.


Dựa vào vị trí của xương tay, xương sườn và chậu hông, GS Cường cho rằng, đây là di cốt chôn nguyên dạng, chưa qua cải táng. Di cốt thuộc nền văn hóa Hòa Bình, chưa từng được phát hiện. Những hộp sọ có niên đại tương tự phát hiện ở Đông Nam Á cũng không thấy cách khâm liệm đặt ốc vào hốc mắt như ở Phia Vài.
Bảo tàng Tuyên Quang
Bảo tàng Tuyên Quang "méo mặt" vì hài cốt Phia Vài.
Méo mặt vì hài cốt
"Di chỉ hài cốt người nguyên thủy ở hang Phia Vài có giá trị rất lớn đối với ngành khảo cổ. Đó là một phát hiện lớn, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng. Tuy nhiên, bảo tồn di cốt xương người không đơn giản, bảo tàng tỉnh Tuyên Quang phải bỏ tiền mời chuyên gia về bảo quản bằng thuốc. Lại còn chuyện nhiều đoàn khảo cổ, sở ban ngành các nơi đổ về tham quan, bảo tàng tỉnh chẳng lẽ không đón tiếp. Đón tiếp lại tốn kém, nhiều khi phải bù lỗ cho nên các bảo tàng hầu hết rất ngại "rước" hài cốt về triển lãm".
PGS.TS Trình Năng Chung
Trần Hòa 

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012

Tìm hiểu ý nghĩa chữ "Tâm"


WGPSG -- Có một tử tù kia suốt đời làm việc tội lỗi, giết người, trộm cướp, lòng dạ rất xấu xa. Trước khi bị xử tử, anh ta hối hận; và để chuộc lại tội lỗi của mình, anh xin hiến trái tim của mình cho người cần thay tim. Nhưng sau đó không bệnh nhân nào dám nhận trái tim của anh, vì sợ sau này cũng độc ác như anh!
Văn hoá Đông Tây tuy có nhiều khác biệt, nhưng đều lấy “tâm” diễn tả tình cảm của con người. Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của chữ “tâm”.
1. Nghĩa chữ tâm:
Tâm có hai chữ Hán là 心 và 芯 [1] ở đây là chữ 心, chữ tâm 心 là chữ tượng hình, viết kiểu tiểu triện có hình trái tim, còn viết kiểu khải thư 心 thì ở trên có ba dấu tượng trưng ba cái cuống, ở dưới là túi chứa máu. Chữ này diễn biến qua các cách viết như sau:
Chữ tâm (心) có rất nhiều nghĩa:
1.1. Nghĩa thông thường: (dt.) (1) Tim (heart): tâm tạng (quả tim), tâm thất (ngăn bên dưới trong trái tim). (2) Lòng, dạ, ruột, phần bên trong (inner): tâm phúc (bụng dạ); không tâm thái (rau rỗng ruột, tức rau muống). (3) Lòng, tình cảm con người (inner emotion): tâm cảm (inner feelings), tâm phục (thật lòng kính trọng vâng theo); tâm ý (lòng dạ và đầu óc); đồng tâm nhất trí (cùng một lòng, một ý). (4) Giữa (center), điểm ở giữa, quy tụ các điểm khác, thường nói về phần giữa đều gọi là tâm: viên tâm (điểm giữa vòng tròn), trọng tâm, trung tâm. (5) Tên một ngôi sao trong Nhị thập bát tú, sao Tâm, tức sao Hoả. (6) Tên một bộ chữ Hán, bộ Tâm, cũng viết là忄, khi đứng bên trái.
1.2. Nghĩa tâm lý và đạo đức: Ngày xưa, người ta ngộ nhận tâm là nguồn gốc của mọi sinh hoạt tâm lý, nên các tình trạng tư tưởng và tình cảm đều gọi là tâm: tâm tưởng (thinking); tâm tính (mood), tâm ý (idea). Ngày nay, theo các thí nghiệm tâm sinh lý, điều đó không đúng nữa. Dầu vậy, tâm vẫn còn được coi là: (1) Tượng trưng của tình cảm, tình yêu (love): ♥. (2) Khả năng nhận thức sự vật, suy nghĩ và cảm giác: tâm trí (mind). (3) Khả năng phán đoán về thiện ác theo quy luật đạo đức: lương tâm (conscience). (4) Toàn bộ các hiện tượng tâm lý, từ cảm giác đến tình cảm, hành vi, ý chí...: tâm lý (psychic), tâm trạng (mental = tâm thần). (5) Phần linh thiêng nơi con người, đối lập với thân xác: tâm hồn (spirit, soul = linh hồn); tâm linh (spiritual).
2. Tâm trong Phật giáo
Khái niệm “tâm” của Phật Giáo không đơn giản như các học giả phương Tây lầm tưởng. Tâm được xem là một trong những phạm trù quan trọng, cơ bản của Phật Giáo. Kinh Pháp Cú, vốn được xem như Kinh Thánh của Phật Giáo mở đầu như sau:“Tâm dẫn đầu các pháp. Tâm là chủ. Tâm tạo tất cả”. Một cách khái quát, qua các kinh điển Phật Giáo [2] người ta có thể phân biệt sáu loại tâm:
2.1. Nhục đoàn tâm (肉團心): trái tim thịt (Phật Giáo không để ý nhiều tới nghĩa này). Ví dụ: “Hễ Bồ Tát nghe tiếng bọn người ác ngoại đạo đem lời dèm pha phá huỷ Phật giái, dường như ba trăm mũi giáo đâm vào tâm mình” (Bồ Tát Giái Kinh).
2.2. Tinh yếu tâm (精要心): chỗ kín mật, chỉ cái tinh hoa cốt tuỷ. Ví dụ: “Phật pháp lấy tâm làm gốc, lấy thân và khẩu làm ngọn” (Long Thọ Bồ Tát).
2.3. Kiên thực tâm (堅實心): là cái tâm không hư vọng, cũng gọi là chân tâm. Chỉ cái tuyệt đối, cái mầm mống giác ngộ vốn sẵn có trong mỗi chúng ta, đó là Phật tính:"Căn bản của sanh tử luân hồi là vọng tâm. Căn bản của bồ đề niết bàn là chân tâm"(Kinh Thủ Lăng Nghiêm).
2.4. Liễu biệt tâm (了別心) [3]: gồm sáu loại nhận thức đầu trong tám thức [4], tức là tri thức giác quan và ý thức. Căn cứ phát sinh của nó là giác quan, thần kinh hệ và não bộ. Có tác dụng dựa vào với ngoại cảnh bên ngoài và phân biệt nhận thức chúng: “Tâm buồn cảnh được vui sao, tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an”.
2.5. Tư lượng tâm (思量心) còn gọi là Mạt-na thức (末那識) [5]: thức thứ bảy trong tám thức. Một trong các chức năng chính của nó là nhận lập trường chủ quan của thức thứ tám (A-lại-da thức), lầm cho lập trường này là bản ngã của chính mình, vì vậy mà tạo ra chấp ngã, là bản ngã, cái tôi của con người (ego-consciousness). Bản chất của nó là suy tính, nhưng có sự khác với thức thứ sáu. Nó được xem là tâm trạng của một lĩnh vực mà người ta không thể điều khiển một cách có chủ ý, thường phát sinh những mâu thuẫn của những quyết định tâm thức và không ngừng chấp dính vào bản ngã: “Mạt-na nhậm trì ý thức linh phân biệt chuyển, thị cố thuyết vi ý thức sở y: Mạt-na nhận lấy ý thức, khiến sinh khởi phân biệt; nên gọi nó là chỗ y cứ của ý thức” (Du-già sư địa luận)
2.6. Tập khởi tâm (集起心) còn gọi là A-lại-da thức (阿賴耶識) dịch nghĩa là tạng thức (藏識) [6]: chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần. Là căn nguyên của mọi hoạt động nhận thức, hoạt động tâm lý; là nơi lưu trữ những hạt giống sinh ra muôn sự muôn vật, hữu hình hay vô hình. Tâm lý học phương Tây thường gọi thức này là vô thức hay tiềm thức: “Nhất thiết thế gian trung. Mặc bất tùng tâm tạo: Tất cả những gì trong thế gian. Đều là do tâm tạo” (Kinh Hoa Nghiêm).
Phật Giáo không quan niệm tâm là một cái gì thuần nhất, giản đơn theo kiểu như khái niệm linh hồn. Theo Ngũ uẩn, tâm không phải chỉ là một cục hay một khối cứng nhắc, mà là một luồng tư tưởng, một chuỗi dài tư tưởng, có sinh có diệt (khác quan niệm “hồn thiêng bất tử”), có năng lực (nghiệp lực) được chuyển từ luồng này sang luồng khác. Cái luồng tâm này với những nghiệp lực là căn bản cho sự tái sinh. Theo Vi Diệu pháp, tâm không phải là một cá thể, mà là một dòng tâm thức gồm nhiều loại tâm khởi lên rồi diệt. Khi con người còn sống thì dòng tâm thức lặng lẽ trôi chảy trong ngũ uẩn, nếu không có một tâm nào khác khởi lên. Khi chết, dòng tâm thức cuối cùng của kiếp này trở thành dòng tâm thức đầu tiên của kiếp sau. Duy Thức học khai triển thêm tâm thức là cái biết, căn bản là tạng thức, chứa đựng các loại chủng tử ... Tóm lại, dù nhìn dưới khía cạnh nào, có thể nói theo Thiền Tông: Có hai thứ tâm. Một thứ là tâm theo dòng tâm thức, khởi lên rồi diệt, vì ngũ uẩn bị mê mờ bởi tham ái, dục lạc, vọng tưởng; tâm này được gọi là Vọng tâm là tâm của chúng sinh. Hai là Chân tâm có tự tính là thanh tịnh, không sinh diệt, không dao động, thường vắng lặng, là tính giác của những vị đã giác ngộ, cũng còn được gọi là Tâm Phật.
3. Tâm trong Công giáo
3.1 Trong giáo lý
Tuỳ theo văn mạch và mối tương quan, “tâm” trong Công Giáo được diễn tả bằng nhiều danh từ khác nhau: Tim (heart), cõi lòng con người (the depths of one's being), tâm hồn (mind), linh hồn (soul), lương tâm (consciene).
3.1.1. Dùng từ “tim” [7] (con tim, trái tim, quả tim) khi muốn nói “tâm” là:
- Trung tâm hiện hữu của con người.
- Nơi thầm kín của cá nhân, lý trí hay người ngoài không dò thấu được, chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể thăm dò và thấu suốt được.
- Nơi con người chân thật với mình nhất, để chọn lựa sự sống hay sự chết.
- Nơi gặp gỡ để sống các mối tương giao, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa: Nơi sống giao ước.
3.1.2. Dùng từ “lòng con người” khi muốn nói “tâm” là:
- Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các giới luật tự nhiên của Ngài [8].
- Nơi quyết định chọn Thiên Chúa hay không [9].
- Nơi có sự giận dữ và ganh tị là hậu quả của nguyên tội [10].
- Nơi phát xuất những ý định xấu, là nguồn gốc của mọi tội lỗi [11].
- Nơi Chúa Thánh Thần sẽ đổi mới, ghi khắc lề luật mới [12].
3.1.3. Dùng từ “tâm hồn” khi muốn nói “tâm” là:
- Trung tâm của nhân cách luân lý [13].
- Nguồn phát xuất các đam mê, đam mê căn bản nhất là tình yêu do điều thiện hảo lôi cuốn [14].
- Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các giới luật tự nhiên của Ngài [15].
- Nơi cần thanh luyện để chiến đấu chống lại nhục dục [16].
3.1.4. Dùng từ “linh hồn” khi muốn nói “tâm” là:
- Nguyên lý thuần linh nơi con người, nhờ đó con người là hình ảnh Thiên Chúa [17].
- Cái thâm sâu nhất và giá trị nhất nơi con người [18].
- Sự sống của con người và cũng là toàn diện con người [19].
- Mầm sống vĩnh cửu do Thiên Chúa trực tiếp sáng tạo mà con người mang nơi mình [20].
3.1.5. Dùng từ “lương tâm” khi muốn nói “tâm” là:
- Nơi con người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vang dội trong thâm tâm họ [21].
- Tiếng gọi con người phải yêu mến và ra lệnh phải làm lành lánh dữ [22].
- Nơi phán đoán các lựa chọn cụ thể bằng cách tán thành lựa chọn tốt, tố giác lựa chọn xấu [23].
Như vậy, một cách tương đối, có thể hiểu “tâm” là: (1) “tâm hồn” trong tương quan với “thân xác” trên bình diện con người nói chung. (2) “linh hồn” trong tương quan với “thể xác” trên bình diện con người tôn giáo. (3) “lương tâm” trong tương quan với “thiện ác” trên bình diện lý trí. (4) “cõi lòng” trong tương quan với “thân xác” trên bình diện ý chí. (5) “trái tim” trong tương quan với “yêu ghét” trên bình diện tình cảm.
3.2 Trong thực hành
Đạo Chúa bắt nguồn từ “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4, 8), vì Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi phó nộp Con Một của Người cho thế gian (x. Ga 3,16): "Ðức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta" (Rm 5, 8).
Bởi đó, có lệnh truyền “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Ai ghét bỏ tha nhân, kẻ ấy không còn là môn đệ của Chúa Giêsu nữa: “Người ta căn cứ vào dấu này để nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 35).
Kitô hữu có bổn phận “huấn luyện lương tâm” [24] và “thanh luyện tâm hồn” [25] để thể hiện chữ tâm: “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực” (Mc 12,30), để đi cho đến tận cùng sự sống là “chết cho người mình yêu” (x Ga 15,13-14) khi ấy, Kitô hữu hoàn tất cuộc đời mình trong chữ tâm. Đó là lý do mà xưa kia người Việt gọi Đạo Chúa là “Đạo Yêu Thương” vậy.
4. Kết luận
Trên bình diện hữu thể luận: “Tâm” trong Phật Giáo và Công Giáo có ý nghĩa rất khác biệt nhau. Tuy nhiên, cả hai đều có thể nhất trí rằng: Con người có thể và cần phải điều chỉnh đào luyện cái tâm của mình, nỗ lực thanh lọc tâm được thanh tịnh, giải thoát tâm khỏi tham ái, dục vọng, ích kỷ, hận thù.
Trên bình diện tâm linh: Đối với Phật Giáo, niềm tin về sự tương thuộc các pháp và về luật nhân quả cũng như quyết tâm đi đến giác ngộ là những nguồn cảm hứng mạnh mẽ để phát huy tình yêu đồng loại và lòng từ bi. Còn đối với Công Giáo, niềm tin vào Thiên Chúa đem lại sự gần gũi với Đấng Thiêng Liêng và khuyến khích họ vun trồng lòng bác ái và tính vị tha. Và điều hiển nhiên là: Con người ai cũng có thiện tâm thì thế giới sẽ yên trụ mãi mãi; con người có ác tâm thì thế giới sẽ huỷ diệt.
Muốn đạt tới được mong ước của Đức Hồng Y Gioan Baotixita: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” hay “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, để canh tân giáo phận, đều cần đến thiện tâm.
_______________________________________________________
Ghi chú
[1] Tâm芯: bấc, tim đèn, tên một thứ cỏ xưa dùng làm tim đèn: đăng tâm (tim đèn).
[2] Bốn quyển Lăng Già Kinh Chú nêu ra 2 tâm: Hãm-lật-đà (Tự tính thanh tịnh) và Chất đa tâm (Lự tri tâm). Chỉ Quán nêu ra 3 tâm: Chất đa tâm, Hăn-lật-đà tâm (Thảo mộc tâm), Hi-lật-đà tâm (Tính tập tinh yếu tâm). Ðại Nhật Kinh Sớ nêu ra 2 tâm: Chất đa tâm và Cán-lật-đà tâm. Cán-lật-đà tâm gồm có 2 nghĩa: Nhục đoàn tâm và Chân thực tâm. Trong Duy Thức Luận Thuật Ký và Duy Thức Khu Yếu, tông Pháp Tướng nêu ra 3 tâm: Chất đa (tâm), Mạt-na (Ý), Tì-nhã-để (thức). Tông Kính Lục nêu ra 4 tâm: Hột-lị-đà tâm (Nhục đoàn tâm), Duyên lự tâm, Chất-đà tâm, Kiền-lật-đà tâm (Kiên thực tâm). Tam Tạng Pháp Số quyển 19 nêu ra 4 tâm: Nhục đoàn tâm, Duyên lự tâm, Tích tụ tính yếu tâm, Kiên thực tâm. Tóm kết lại có 6 loại tâm.
[3] Liễu biệt: (1) Biết, nhận biết, nhận thức; hiểu biết sự vật một cách phân biệt; (2) Cho thấy, làm cho biết, diễn tả, hiện hành; (3) Thấy, nhận biết.
[4] Phật Giáo quan niệm có tám loại hình tướng của tâm gọi là bát thức (thức là sự phân biệt, phân tích, phân loại và nhận biết đối tượng). Tám thức này bao gồm năm thức giác quan: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức; ý thức; mạt-na thức (tương ứng với ý niệm về bản ngã) và a-lại-da thức (là kho chứa mọi dấu ấn từ kinh nghiệm của mình). Sự phân chia tám thức chỉ là một phương tiện để dễ tìm hiểu những mặt khác nhau của thức; nó không phải là cố định như thế. Thực ra, tám thức ấy chỉ là tám tác dụng hay tám cách biểu hiện của nhận thức, chứ không phải là “tám cái tâm” riêng rẽ, biệt lập. Tuy là có tám thức, nhưng các thức đều liên hệ mật thiết với nhau; tuy một mà là tám, tuy tám mà là một, cho nên chúng có thể thu về một mối, đó là thức - tức là căn bản thức hay a-lai-da thức.
[5] Mạt-na (S: manas) thường dịch sang chữ Hán là Ý. Theo Duy thức học, mạt-na được xem là cứ điểm sinh khởi những quan niệm sai lầm về ngã (ngã si, ngã kiến, ngã mạn) và những phiền não do kết quả từ những quan niệm sai lầm trên.
[6] A-lại-da thức (S. ālayavijñāna) còn gọi là A-đà-na, Như Lai tạng, chân thức hay thức căn bản; A-lại-da (S. ālaya) nghĩa là tàng trữ, chất chứa duy trì mọi tập quán, xu hướng, ảnh tượng lưu lại trong mỗi người.
[7] Xem Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (GLHTCG), số 2563.
[8] GLHTCG, số 1958.
[9] x. Dt 6, 5; 29, 3; Is 29, 13; Ed 36, 26; Mt 6, 21; Lc 8, 15; Rm 5, 5.
[10] GLHTCG, số 2259.
[11] Mc 7, 18-21, GLHTCG, số 1873.
[12] GLHTCG, số 715.
[13] GLHTCG, số 2517.
[14] x. Mc 7,21, GLHTCG, số 1764-1765.
[15] GLHTCG, số 1954.
[16] GLHTCG, số 2517.
[17] GLHTCG, số 363.
[18] x. Mt 26-38 và Mt 10, 28; 2Mac 6, 30.
[19] x. Mt 16, 25-26; Ga 15, 13 và Cv 2, 41.
[20] GS 18, 1 ; x 14, 2. GLHTCG số 33.
[21] GS 16, GLHTCG số 1776.
[22] x. Rm 2, 14-16.
[23] x. Rm 1, 32, GLHTCG số 1777.
[24] Xem GLHTCG số 1783-1784.
[25] Xem GLHTCG số 2532.
Huỳnh Trụ

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Cửu Đỉnh ở cố đô Huế

CỬU ĐỈNH Ở CỐ ĐÔ HUẾ - BỨC TRANH TOÀN CẢNH VỀ ĐẤT NƯỚC


*
Published on Jun 7, 2012 by 

Cửu Đỉnh của nhà Nguyễn (tiếng Anh: The Nine Tripod Cauldrons of Nguyen Dynasty; tiếng Hán: 阮朝九鼎) là chín cái đỉnh bằng đồng, đặt ở trước sân Thế miếu trong Hoàng thành Huế. Cửu Đỉnh được vua Nguyễn Thánh Tổ ra lệnh đúc vào mùa đông năm 1835 và khánh thành vào ngày 1 tháng 3 năm 1837.

Lấy ý tưởng từ Cửu đỉnh của nhà Hạ ở Trung Quốc, vua Minh Mạng ban chỉ dụ cho Nội các vào tháng 10 âm lịch năm Ất Mùi (1835), ra lệnh cho Nội các cùng bộ Công đôn đốc công việc đúc Cửu Đỉnh. Tháng 5 âm lịch năm Bính Thân (1836), phần thô của chín đỉnh đúc xong. Nhưng phải mất gần 8 tháng sau, Cửu Đỉnh mới được chính thức hoàn thành. Buổi đại lễ diễn ra vào ngày 1 tháng 3 năm 1837 để đặt đỉnh ở sân Thế Miếu dưới sự chủ trì của vua Minh Mạng. Trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương rồi chiến tranh Việt Nam, theo đó là suy thoái của thời kỳ bao cấp (1945 - 1981), Cửu Đỉnh vẫn không dời chuyển và còn nguyên vẹn tới ngày nay.

Cửu Đỉnh gồm chín cái đỉnh đồng, mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một thuỵ hiệu của mỗi vị hoàng đế triều Nguyễn. Trên mỗi đỉnh, người ta đều chạm khắc 17 bức họa tiết và 1 bức họa thư, gồm các chủ đề về vũ trụ, núi sông, chim thú, sản vật, vũ khí,...tập hợp thành bức tranh toàn cảnh của đất nước Việt Nam thống nhất thời nhà Nguyễn.Sử sách không ghi rõ về quá trình thiết kế, vẽ kiểu Cửu Đỉnh nên rất khó để xác định xem hình dáng của Cửu Đỉnh bây giờ có phải được giữ nguyên như thiết kế ban đầu hay đã bị sửa đổi trong quá trình chế tạo. Nhìn chung, cả chín chiếc đỉnh đều có dáng chung giống nhau : bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới bầu có ba chân. Ở phần cổ đỉnh, bên phải ghi năm đúc đều là "Minh Mạng thập lục niên Ất Mùi" tức là năm 1835. Nhưng mỗi đỉnh cũng có nét riêng. Cũng là quai đỉnh hình chữ U úp, nhưng góc đáy của nó ở các Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Dụ đỉnh và Huyền đỉnh thì vuông góc, còn ở các đỉnh khác lại uốn cong. Mặt quai thì tùy đỉnh mà bện thừng, cong vỏ măng, cong lòng máng, phẳng bẹt hay có gờ, triện hoặc để trơn. Phần lớn cổ các đỉnh có hình lòng máng, nhưng ở Cao đỉnh, Dụ đỉnh lại để thẳng. Vành miệng của Thuần đỉnh, Dụ đỉnh và Huyền đỉnh đều cong nửa vỏ măng, còn ở các đỉnh khác thì thẳng đứng với gờ vuông. Vai nhiều đỉnh có gờ đơn hoặc gờ kép, nhưng một số đỉnh để trơn. Đáy bầu đỉnh phần lớn cong một phần của khối cầu, nhưng ở một số đỉnh khác lại bằng và hơi lõm lên. Chỉ có chân Dụ đỉnh là được tạo đáy thẳng hơi chếch, còn ở các đỉnh khác đều công dạng chân quỳ. Các mảng hình được chạm trên bàu của đỉnh, mỗi đỉnh có 18 mảng hình.

Nguyên liệu đúc Cửu Đỉnh do triều đình cung cấp, gồm hai nguyên liệu chính là đồng và kẽm, có thể thêm chì, thiếc... lấy từ trong kho hoặc các phế khí hay những vật phẩm bằng đồng không cần dùng nữa. Tổng khối lượng đồng để đúc chín đỉnh là 22473 kg nhưng cũng có tài liệu ghi số liệu là 22088 kg.

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Hé lộ bí ẩn hình khắc cổ ở Hà Giang



03/06/2012 11:05:38
 - Cùng tồn tại với bãi đá cổ ở Sa Pa (Lào Cai), những hình khắc bí ẩn từ nghìn đời nay ở bãi đá cổ Xín Mần (Hà Giang) đã đi vào tín ngưỡng với tục thờ đá của người dân địa phương. Những hình khắc một thời gây tranh cãi ấy đã dần được giải mã và hé lộ những bí ẩn cổ xưa.
PGS.TS Trình Năng Chung đang giải mã các hình khắc.
PGS.TS Trình Năng Chung đang giải mã các hình khắc.


Vào vùng "đất thánh"


Từ trung tâm huyện Xín Mần theo đường liên huyện khoảng 14km hướng đi Quang Bình là đến trụ sở xã Nấm Dẩn. Từ trụ sở xã theo đường dân sinh vượt núi khoảng 3 cây số là đến suối Nậm Khoòng, từ đây đi theo hướng Tây Bắc khoảng một cây số là đến khu vực những tảng đá có hình chạm khắc cổ.


Bãi đá cổ bí ẩn này nằm giáp ranh với các bản Nùng Mở, Nấm Chiến, Tả Cố Tỷ là nơi cư trú của đồng bào dân tộc Nùng. Nấm Dẩn theo tiếng Nùng có nghĩa là khu vực nguồn nước và tại đây bãi đá cổ liên quan mật thiết với tục thờ đá. Ông Lù Văn Phiên ở Nấm Dẩn cho hay: "Ở đây có tục thờ đá từ lâu đời nên những khối đá cổ bí ẩn kia không ai dám xâm phạm tới".


Theo quan sát của chúng tôi, bãi đá cổ nằm trong một thung lũng rộng, xung quanh có dãy núi cao bao bọc. Suối Nậm Khoòng nằm giữa thung lũng bên những tảng đá ngổn ngang mà người dân bản địa gọi là Nà Lai Shứ nghĩa là ruộng nhiều chữ.


Theo truyền thuyết người dân kể lại, khu có bãi đá cổ là nơi thần thánh cất giữ những bí mật về sổ sách. Qua những tảng đá có những hình khắc lạ lùng, người dân coi đó như một biểu tượng thiêng liêng và khu vực thung lũng của bãi đá cổ được xem là "đất thánh".
Tảng đá lớn có chứa 84 hình vẽ lạ.
Tảng đá lớn có chứa 84 hình vẽ lạ.


Di tích hiếm có ở Việt Nam


Tảng đá lớn với những hình khắc lạ nằm trên một thửa đất canh tác cách nhà ông Lù Văn Ngán, nguyên Chủ tịch UBND xã Nấm Dẩn 25m về hướng Tây. Theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ thuộc Viện Khảo cổ học Việt Nam, đây là tảng đá thuộc loại magma biến chất, có hình chữ nhật với chiều dài bề mặt khoảng 12,7m, rộng 9,2m, độ dày không đều từ 1 - 1,4m.


Bề mặt tảng đá không bằng phẳng, hơi cong khum hình lưng con rùa. Trên tảng đá ấy có 84 hình chạm khắc với nhiều họa tiết và kích cỡ khác nhau. Ngoài 84 hình khắc, còn có 80 lỗ vũm được khoét với đường kính từ 5 - 6cm, sâu 1 - 2cm.


Theo các nhà khảo cổ, để tạo ra được các hình khắc này, người xưa đã sử dụng các kỹ thuật đục khắc rất thô sơ. Dùng đục có sự trợ giúp của búa, đục trực tiếp trên bề mặt tảng đá. Những rãnh đục này thường có mặt cắt hình lòng máng.


Theo PGS.TS Trình Năng Chung, Viện Khảo cổ học Việt Nam: "Dụng cụ đục khoét ở bãi đá cổ Xín Mần phải có chất liệu kim loại là sắt. Các hình khắc phải được phác họa trước, đặc biệt là hình tròn".


Ở đây có 3 khối đá lớn khắc nhiều ký tự lạ trên mặt đá. Dấu vết phong hóa trên bề mặt các khối đá được các nhà khoa học chứng minh là những hình vẽ trên đá đã sáng tác cách đây trên 1.000 năm và chưa thể giải mã để tìm ra chủ nhân. Bãi cự thạch Nấm Dẩn là loại hình di tích khảo cổ có niên đại khoảng 2.000 năm và rất hiếm có ở Việt Nam. Đây có thể là di tích mộ thủ lĩnh cộng đồng hoặc khu đất thiêng thờ cúng các vị thần linh bản địa.
Biểu tượng sinh khí nữ giới khắc trên tảng đá cổ.
Biểu tượng sinh khí nữ giới khắc trên tảng đá cổ.


Hé lộ bí ẩn


Cũng theo tổng kết của PGS.TS Trình Năng Chung, các hình vẽ trên đá gồm các hình dạng: hình học (như hình tròn, hình chữ nhật, hình vuông), hình hoa văn vuông và tròn, những vạch đục khắc song song, những biểu tượng sinh thực khí (số nhiều là biểu tượng sinh khí nữ tính hình tam giác có rãnh dọc ở giữa), hình bàn chân người với kích thước như thật có ngón chân khắc lõm sâu trong đá.
Hình người trong tư thế giơ hai tay dạng hai chân như trong các bích họa thời tiền sử. Phong cách tạo hình và mô típ đề tài của các hình khắc vẽ ở Nấm Dẩn được các nhà khoa học nhận định tương tự như hình khắc ở bãi đá cổ Sa Pa.


Cũng theo ông Chung, trước đây tại hang Đồng Nội (Hòa Bình), các nhà khảo cổ người Pháp đã tìm thấy trên vách hang những hình khắc mang tính ước lệ về động vật và khuôn mặt người. Những hình khắc cổ còn tìm thấy trên vách hang Thượng Phú (Tuyên Hóa, Quảng Bình). Có thể nói nghệ thuật đục khắc đá ở Xín Mần nằm trong mắt xích truyền thống cổ xưa.


Khi so sánh mô típ hình người ở Xín Mần với các khu vực lân cận, các nhà khảo cổ nhận thấy có nét tương đồng với các bích họa ở Hoa Sơn dọc sông Tả Giang phía Nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.


Tuy nhiên, các nhà khảo cổ cho biết chưa thể xác định chính xác niên đại của các hình khắc ở Xín Mần, vì lý do hình khắc được sáng tác không cùng thời, bằng chứng là các hình vẽ ấy chồng chéo lên nhau.


Trong một cuộc khảo sát mới nhất tại Xín Mần, các nhà khảo cổ còn phát hiện di chỉ khảo cổ cách Nấm Dẩn 700m một tảng đá magma biến chất được kê chân khá cẩn thận, tuy nhiên bề mặt lại rất bằng phẳng và còn giữ nguyên trạng thái phong hóa tự nhiên.


Hiện tại, các nhà khảo cổ tạm xếp di tích cự thạch Nấm Dẩn vào thời sơ kỳ thời đại sắt (khoảng đầu CN). Điều này phù hợp với dữ kiện khảo cổ học về loại hình di tích đá lớn ở khu vực Đông Nam Á.
Vòng tròn được khắc trên đá.
Vòng tròn được khắc trên đá.


"Ở khu vực Đông Nam Á, nghệ thuật bích họa thời tiền sử có niên 
đại tương đương văn hóa Hòa Bình mới chỉ tìm thấy ở một vài nơi 
Thái Lan, Malaisia, Myanma và đề tài thể hiện chủ yếu là động vật 
và cảnh săn bắt thời nguyên thủy. Khi so sánh hình khắc ở bãi đá 
cổ Sa Pa và ở Xín Mần thì rõ ràng hình khắc Xín Mần có trước, 
dẫn chứng là những hình bàn chân người ở Xín Mần là nghệ thuật 
tạo hình nguyên thủy cả ở khu vực Đông Nam Á cũng như thế giới".
PGS.TS Trình Năng Chung (Viện Khảo cổ học Việt Nam)
Trần Hòa