Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

“Sao cô giáo viết sai chính tả nhiều thế?"


NGUYỄN THÀNH GIANG | 23/03/2013 21:53 (GMT + 7)

TTCT - Câu hỏi của một đứa cháu hàng xóm làm tôi giật cả mình, sững người lại dù là chuyện không mới. Cháu học lớp 6 ở một trường cấp II có tên tuổi trong thành phố này.

Để rèn luyện cho các em “văn hay chữ tốt”, chính các thầy cô phải tự rèn mình trước (ảnh chỉ có tính minh họa) - Ảnh: Hoàng Hương 

Thường ngày cháu vẫn hay chạy sang chơi. Hôm ấy, sau giờ học, cháu ôm cả cặp sách vào thẳng nhà gặp tôi với vẻ mặt nghiêm trọng. Và rồi, câu đầu tiên cháu hỏi tôi: “Sao cô giáo mà lại viết sai chính tả nhiều đến thế hả chú?”.

Hỏi đến ngọn ngành thì ra lớp cháu học đang có mấy em sinh viên sư phạm về thực tập dạy học và quản lý lớp. Ác một nỗi, ngay giờ giảng ngữ văn đầu tiên, giáo sinh thực tập đã viết sai khá nhiều lỗi chính tả ngay trên bảng đen. Điều ấy như một vết in ngay vào đầu những học sinh ngồi bên dưới. Từ dấu hỏi, dấu ngã cho đến có “g”, không có “g” ở cuối... và những lỗi sai cơ bản khác.

Cháu hàng xóm của tôi bảo cả lớp len lén nhìn nhau chứ không dám cười. Sai nhiều vậy mà suốt tiết các giáo sinh thực tập và cả giáo viên hướng dẫn tiết dạy vẫn không nói gì để điều chỉnh cả. Hình như không giáo viên hay giáo sinh thực tập nào phát hiện. Học sinh ngồi dưới thì càng ngày càng không thể tập trung vào bài học mà thi nhau đếm lỗi chính tả của cô giáo để rồi lại... nhìn nhau trong những nỗi sợ. Tiết học cứ nặng nề trôi qua như một cực hình.

Trước câu hỏi bất ngờ của cháu hàng xóm, tôi phải vò đầu suy nghĩ rất lâu. Tôi cũng từng được đào tạo sư phạm, cũng đã có những tháng ngày đứng trên bục giảng dạy môn ngữ văn với tư cách giáo sinh thực tập. May mắn, trong những lỗi tôi mắc phải trong giờ giảng không có lỗi viết sai chính tả. Tôi cho đó là một may mắn, bởi không ai dám chắc là cả đời mình không viết sai một lỗi chính tả vì bất cứ lý do gì chăng nữa.

Nhưng các bạn cùng khóa của tôi cũng có người mắc lỗi sai chính tả, dù không nhiều lắm. Ngay khi ngồi trên giảng đường, các thầy cô giáo giảng dạy chúng tôi cũng không quan tâm lắm đến việc điều chỉnh những lỗi sai chính tả của sinh viên mình. Thậm chí có thầy còn bảo sửa lỗi chính tả là nhiệm vụ của thầy cô giáo cấp I chứ không phải của giảng viên đại học.

Đành phải trả lời với cháu hàng xóm bằng một cách khác. Tôi bảo với cháu rằng ngày trước tôi cũng từng đi thực tập sư phạm, dạy ngữ văn cấp II. Lần đầu tiên lên bục giảng rất là run. Mà khi run, mỗi người sẽ có những biểu hiện bất thường khác nhau. Mà riêng giáo sinh thực tập ở lớp cháu biểu hiện là viết sai nhiều lỗi chính tả.

Cháu bé gật gù ra về, nhưng trông có vẻ vẫn chưa đồng ý lắm với cách giải thích của tôi. Nhưng tôi không thể nói toạc với cháu là trường đại học đào tạo “cô giáo” của cháu và cũng là đào tạo tôi không quan tâm đến việc định hướng, giúp sinh viên sư phạm sửa dần những lỗi sai chính tả ngay khi ngồi trên giảng đường. Bởi thế, cháu về rồi, lòng tôi càng ray rứt hơn...

Tôi đã không được chọn bảng đen phấn trắng là nghề sau khi tốt nghiệp sư phạm ngữ văn, điều ấy không biết đáng buồn hay đáng vui. Vì đôi khi nghĩ lại thấy mình vẫn chưa đủ kiến thức và tư cách để đứng trên bục giảng dạy một đứa trẻ (chứ chưa nói đến nhiều đứa trẻ) sau những năm được đào tạo ở trường đại học. Và mỗi lần nghe chuyện của hàng xóm, của bạn bè cùng lớp giờ đã đi dạy mà thấy lòng nặng trĩu. Như chuyện lỗi chính tả mà cháu hàng xóm tôi nói chẳng hạn.

Nếu ngay từ trên ghế nhà trường, sinh viên sư phạm ý thức được mình sau này sẽ là giáo viên, nhà trường ý thức được mình sẽ cho ra lò những thầy cô giáo thì có lẽ không có những chuyện dở khóc dở cười về giáo viên được kể vô cùng tận...

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

Những nghi vấn sai chữ Hán “kinh điển” chốn tôn nghiêm

Cập nhật lúc 13:30 21/03/2013 (GMT+7)

(Kienthuc.net.vn) – Những nghi vấn viết sai chữ  trên hoành phi, câu đối, đại tự tại chốn linh thiêng như: đền, đình, chùa, miếu…luôn là đề tài thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận. 

Viết sai chữ Hán ở Đền Hùng?

Mới đây, độc giả Trần Văn Sinh, 73 tuổi, thành viên lớp thư pháp Chùa Hoằng Ân (Quảng Bá, Hà Nội) đã phản ánh trên báo Vietnam+ về lỗi Hán tự không đáng có trên bức hoành phi “Triệu Tổ Nam Bang” ở Đền Trung, trong quần thể di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Theo chia sẻ của bác Sinh, bức hoành phi “Triệu Tổ Nam Bang” ở nhà Đại Bái đền Trung, nhìn từ ngoài vào thì nằm bên tay trái. Chữ “Tổ” thừa một nét. Chữ đúng thì chỉ có nét phẩy ở dưới, hoàn toàn không có nét phẩy ở trên (xem ảnh). Nếu chỉ cần thêm một nét thì chữ sai hoàn toàn.

 Bức hoành phi ở Đền Trung, được đọc từ phải qua là “Triệu Tổ Nam Bang”. Chữ “Tổ” được khoanh tròn, nét thừa có mũi tên. (Ảnh: Chụp ngày 13/3/2013, do ông Sinh cung cấp/Vietnam+). 

Bác Sinh cho biết, toàn bộ các bức hoành phi ở Đền Hùng từ xưa hoàn toàn là chữ Hán hết, và được viết theo lối “Chân thư,” tức là đòi hỏi sự chân thực, nghiêm cẩn cao độ. Viết sai như vậy là bất thành văn, vô cùng nguy hiểm. 

Giảng viên Bộ môn Hán Nôm, thạc sĩ Đinh Thanh Hiếu (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) phân tích trên Vietnam+: “Bốn chữ đó đúng là "Triệu Tổ Nam Bang". Hai chữ "Triệu", "Tổ" bị viết sai so với chữ chuẩn. Chữ "Triệu" bộ Duật bị viết sai, thiếu nét xổ xuống; còn chữ "Tổ" thì bị thừa nét, đáng là bộ Kỳ thì lại bị viết thành bộ Y. Ở đây, chữ "Tổ" thì rõ là sai rồi, vì thêm một nét thì nó đã chuyển thành bộ khác. Chữ "Tổ" bộ Kỳ là đúng, nhưng bị viết nhầm thành bộ Y, thì cũng là sai. Thực tế người ta vẫn có thể luận ra được là chữ gì và nội dung nói về vấn đề gì. Nhưng đúng là cách viết chữ "Tổ" sai”. 

Về vấn đề này, đại diện Ban quản lý di tích Đền Hùng cho biết, những bức hoành phi cổ đã có từ ngày xưa, không sửa chữa gì mà chỉ sơn thếp lại khi tu sửa. Trong quá trình tu sửa, Ban quản lý cũng đã nhờ Hội đồng khoa học Viện Hán Nôm xem xét thẩm định và đã báo cáo Hội đồng khoa học của Bộ Văn hóa. 

Thừa nhận là những người thuộc thế hệ hậu sinh, không am hiểu sâu sắc về chữ Hán, các vị trong ban quản lý đền ghi nhận sự góp ý của người dân và sẽ nhờ các nhà khoa học, nhà chuyên môn trong lĩnh vực Hán Nôm giúp đỡ, thẩm định.

Đền Mẫu Âu Cơ cũng vướng nghi vấn sai chữ

Việc sai sót về Hán tự trên các bức hoành phi, câu đối không phải hiện tượng hiếm gặp. Cũng theo phát hiện của bác Trần Văn Sinh, ở bức đại tự ở Đền MẫuÂu Cơ xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ cũng xảy ra hiện tượng này. Không chỉ có vậy, một bộ hoành phi câu đối tại Đền Mẫu bị đặt sai vị trí của hai vế đối.

Theo đó, bức đại tự thứ hai tại Đền Mẫu Âu Cơ (tính từ ngoài vào) bao gồm bốn chữ “Quyết Sơ Dân Sinh”, chữ “Sơ” (chữ thứ hai từ phải sang trên bức đại tự) bị viết thiếu một nét phẩy. Với Hán tự, viết sai như vậy là bất thành văn.

 Chữ "Sơ" (chữ thứ hai từ trái qua phải) bị viết sai (Ảnh chụp ngày 16/3/2013: PV/Vietnam+).

Cùng với đó, bác Sinh cũng cho biết, bộ hoành phi câu đối đặt ở bên trái bức đại tự nói trên (nhìn từ ngoài vào) bị đặt sai vị trí của hai vế đối. Cụ thể, thạc sĩ Nguyễn Thanh Diên phân tích: “Theo luật đối liễn, khi nhìn trực diện, vế đối “Hách Hách Quyết Chiêu Độ Thanh Trạch” kết thúc bằng thanh trắc thì phải đặt ở bên phải; vế “Dương Dương Tại Ngưỡng Linh Thượng Quang” kết thúc là thanh bằng phải đặt bên trái. Thế nhưng, tại đền Mẫu, hai vế đó bị đặt nhầm vị trí của nhau”.  

 Hai vế đối treo sai vị trí so với luật bằng-trắc của câu đối chữ Hán. (Ảnh Vietnam+)

“Các văn bản chữ Hán phải được đọc theo quy tắc từ trên xuống dưới và từ trái qua phải. Theo đó, bộ câu đối đó khi đọc đúng thứ tự sẽ là: “Dương Dương Tại Ngưỡng Linh Thượng Quang/Hách Hách Quyết Chiêu Độ Thanh Trạch”. Tuy nhiên, với cách treo vế đối ngược vị trí như bây giờ, nếu theo đúng trình tự trên thì câu đối sẽ được đọc là: “Hách Hách Quyết Chiêu Độ Thanh Trạch/ Dương Dương Tại Ngưỡng Linh Thượng Quang’ và như vậy là sai”,  thạc sĩ Nguyễn Thanh Diên Nguyễn Thanh Diên, cho hay.

Lật lại chuyện cũ...

Quanh việc viết sai chữ Hán ở chốn linh thiêng như đền, chùa, đình, miếu… có nhiều câu chuyện rất bi hài. Trong bài viết “Nơi tôn nghiêm, chữ nghĩa sao có thể” đăng trên báo An ninh thế giới ngày 1/12/2010, tác giả Lê Trung Đản kể lại lần đến tham quan ngôi đền ở Sóc Sơn. Ở đó có đôi câu đối viết bằng chữ Nôm (trích một vế): "Kim thiên Hồ Bác bình Tây Mỹ", ý nói: Ngày nay Bác Hồ đánh đuổi quân Tây, quân Mỹ. Chữ Nôm là do ông cha ta sáng tạo ra, và người viết phải tuân thủ theo ngữ pháp của tiếng Việt. Không thể viết Hồ Bác, mà phải viết là Bác Hồ. Hơn nữa, chữ Hồ, lại viết nhầm thành chữ Triều, trong từ triều đình; một âm là Triêu, nghĩa là buổi sớm. 

Thêm một câu chuyện khác, là sau lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ, Trung đoàn Thủ đô vừa được thành lập đã chiến đấu kiên cường giam chân quân Pháp trong 60 ngày đêm giữa lòng Hà Nội để Trung ương Đảng và Chính phủ rút lên chiến khu Việt Bắc an toàn. Ngay trong dịp Tết Đinh Hợi 1947, Bác Hồ đã viết thư khen ngợi Trung đoàn với câu nói nổi tiếng: "…Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh". 

Để ghi dấu sự kiện quan trọng này, năm 1984, tượng đài "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh" đã được dựng bên cạnh đền Bà Kiệu, hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Về tượng đài này cũng có nhiều ý kiến tranh luận. Các cụ từng là chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô quả quyết rằng, họ chưa bao giờ thề là cảm tử mà chỉ thề quyết tử mà thôi. Còn một chuyên gia của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì cho rằng, sắc thái biểu cảm của chữ Quyết mạnh mẽ hơn chữ Cảm. Nghĩa ban đầu của chữ Quyết là vỡ đê. Mà thế nước vỡ đê thường tạo ra cơn hồng thủy, vốn được xếp hàng đầu trong bốn đại họa: thủy, hỏa, đạo, tặc. 

Thêm nữa, tại một ngôi chùa ở Hà Nội, dưới bức ảnh Đức Phật Thích Ca, người ta treo bài thơ "Tương tiến tửu" (Mời uống rượu) của Lý Bạch. Bài thơ Đường nổi tiếng "Tương tiến tửu", có câu: Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch. Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh (Xưa nay các bậc thánh hiền đều mờ mịt. Chỉ có kẻ uống rượu là danh vẫn để đời). Trong đạo Phật, ai cũng biết Ngũ giới (năm điều cấm) là: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói càn, không uống rượu. Hẳn là nhà chùa không biết nên mới để câu thơ khuyến khích uống rượu dưới Đức Phật Thích Ca. 

Để xảy ra tình trạng sai sót hoành phi, câu đối, đại tự có rất nhiều nguyên nhân, xuất phát từ nhiều phía. Tuy vậy, coi nhẹ khâu thẩm định, giám sát trong suốt quá trình tạc chữ để xảy ra nhầm lẫn, mắc lỗi sai, nhất là ở các chốn tôn nghiêm là điều không đáng có. 

Anh Tuấn (tổng hợp)
Nguồn: http://kienthuc.net.vn/di-san/201303/Nhung-nghi-van-sai-chu-Han-kinh-dien-chon-ton-nghiem-900011/

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

GS Ngô Bảo Châu đã nói đúng


Thứ 6, 22/3/2013, 6:2 GMT+7
Tại buổi nói chuyện của GS Ngô bảo Châu ở Trường ĐH Bách khoa, chắc không ít người giật mình khi nghe GS nhắc đến vụ Đồi Ngô và xem như một lời cảnh báo về dấu hiệu tha hóa của hệ thống giáo dục.
Ảnh minh họa: Lê Anh Dũng

Giáo dục với sứ mệnh thiêng liêng trước hết giúp cho con người ta trở thành người tử tế và con người trung thực. Thế nhưng, cứ mỗi kỳ thi cho dù là thi tốt nghiệp THPT hay bất cứ kỳ thi nào, những hành vi gian lận vẫn làm nhức nhối những người có lương tri khi suy nghĩ về một nền giáo dục thiếu trung thực.

Một nền giáo dục thiếu trung thực thì rất khó giáo dục ra những con người tử tế. Một nền giáo dục thiếu trung thực thì lại càng khó để làm cho xã hội tin vào những tấm bằng của người học. Vậy là người tốt cũng như người xấu, bằng cấp không gắn với giá trị đích thực của nó vì được được phủ lên một lớp vỏ giả dối tích lũy từ lớp này qua lớp khác.

GS Ngô Bảo Châu đã rất đúng khi nói rằng vụ Đồi Ngô chưa từng có trong lịch sử giáo dục của loài người. Nhưng có lẽ, trong lịch sử cũng chưa có quốc gia nào mà cơ quan quản lý hành chính giáo dục lại cho phép học sinh được mang các thiết bị nghe nhìn vào trong phòng thi để có thể theo dõi, ghi lại hình ảnh của thầy cô giáo đáng kính của mình, bạn học thân thiết của mình và tố cáo với cơ quan có thẩm quyền.
Chỉ riêng việc đó đã thấy ngay trong ứng xử với thầy cô ngành giáo dục thiếu đi một cái tầm văn hóa và một cái tâm giáo dục.

Làm vậy có khác gì Bộ GD-ĐT bật đèn xanh cho trẻ em thực hiện hành vi "phản giáo dục". Cả một hệ thống chính trị, đoàn thể xã hội mạnh mẽ, đông đảo các nhà giáo tâm huyết như vậy, ngành đã không tin vào những lực lượng đó để đặt lòng tin sang một bộ phận thiểu số khác.

Có thể Bộ vẫn chưa biết một điều hết sức cơ bản là dạy tốt thì học tốt và thi tốt. Nếu việc dạy và việc học chưa tốt thì mấy cái "công cụ nghe nhìn" dù hoàn hảo đến đâu, được quy định chặt chẽ đến đâu đi nữa cũng không thể đảm bảo cho những kỳ thi trung thực được và lại càng khó hình thành ra những con người tử tế.
Trung thực trong dạy, học và thi phải được giáo dục từ ngay những ngày đầu cắp sách đến trường, cha mẹ và thầy giáo trước hết phải là tấm gương trung thực để làm người tử tế thì nền giáo dục mới có cơ may không bị "tha hóa".

Gần đây báo chí lại đưa tin về một trường đại học lớn ở miền Trung lắp camera (thuộc ĐH Huế) để theo dõi thầy cô và sinh viên lại là việc làm chỉ ở Việt Nam mới có. Một chốn linh thiêng nơi giảng đường ĐH - ở đó truyền bá tri thức nhân loại, những giá trị văn hóa của loài người và để hình thành những con người tử tế nhưng lại bị săm soi bởi những cái camera vô lương tri kia thì thật đáng tủi hổ cho giáo dục nước nhà.

Một hệ thống giáo dục mà sự trung thực của các cấp các ngành, của mỗi con người trong hệ thống đó chưa coi là giá trị phổ biến, sự tha hóa rất có thể không còn là nguy cơ nữa.
  • Hoàng Minh Tuấn (Tp HCM)
  • Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/113680/gs-ngo-bao-chau-da-noi-dung.html

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

Chữ Việt cổ đã được giải mã?


Cập nhật lúc 11:20 29/01/2013 (GMT+7)

Ông Xuyền tuyên bố rằng đã giải mã được chữ Việt cổ - thứ chữ của một nền văn minh rực rỡ từ thời các Vua Hùng dựng nước Văn Lang.
Chiều 29-1-2013, tại 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã có buổi mắt cuốn sách “Cuộc hành trình đi tìm chữ Việt cổ” và giao lưu với các nhà nghiên cứu, những người say mê chữ Việt cổ.

Năm 2011, Báo điện tử VTC News đã có loạt phóng sự về hành trình gian nan nửa thế kỷ nghiên cứ chữ Việt cổ của ông Đỗ Văn Xuyền.

Ông Xuyền tuyên bố rằng đã giải mã được chữ Việt cổ - thứ chữ của một nền văn minh rực rỡ từ thời các Vua Hùng dựng nước Văn Lang.

Cuốn sách đánh dấu hành trình 50 năm kiên trì, bền bỉ, với cái tâm trong sáng và lòng yêu đất nước sâu sắc, niềm tự hào về văn hóa Việt của ông Xuyền.

 Ông giáo già Đỗ Văn Xuyền giảng giải về chữ Việt cổ (Ảnh: nhân vật cung cấp). 
Ông đã đi tới đích của cuộc hành trình đi tìm chữ Việt cổ với hướng đi riêng không giống với hướng đi của các bậc tiền bối, đó là trở về với nhân dân. Bởi ông nhận biết được vai trò quan trọng của nhân dân trong việc lưu giữ và bảo tồn những di tích lịch sử của tổ tiên giúp ông hoàn thành được công trình chữ Việt cổ.

Trong hành trình 50 năm đầy gian nan, ông không quản ngại đi đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, miền núi, đình, chùa, miếu mạo…

Bất cứ khi nào, nơi nào, cứ nghe thông tin có “chữ lạ” là ông lại lên đường. Không thiếu lần trong nhiều ngày liền, ông chỉ ăn lương khô, thậm chí cạn kiệt tiền để đi xe khách về nhà…

Ông muốn tuyên bố với thế giới rằng, người Việt đã có chữ Khoa Đẩu, thứ chữ được sáng tạo từ thời tiền sử, mà suốt 2.000 năm qua đã bị thất lạc.

 Giờ đây, ông giáo Xuyền ít sử dụng chữ Quốc ngữ,
 mà toàn sử dụng chữ Việt cổ vào công việc ghi chép, sáng tác.
Tác giả đã chứng minh được, từ thời Hùng Vương, người Việt ta đã có chữ viết, được thể hiện trên Bản đồ giáo dục thời Hùng Vương, danh sách các thầy cô giáo thời Hùng Vương, các cuốn sách chữ Việt cổ hiện còn lưu giữ tại Bảo tàng Sơn La và trên những hiện vật còn được lưu giữ ở khắp thế giới như Trống đồng của Việt Nam đang được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng Paris (Pháp)...

Từ điển khoa học thế giới đã xác định “Chữ viết là những ký hiệu viết ra để ghi ngôn ngữ không thể tồn tại độc lập ngoài ngôn ngữ”. Một hệ thống chữ viết hợp lý nếu nó thích ứng với đặc điểm của ngôn ngữ.

Trên cơ sở các tiêu chí khoa học đã được xác định đó, ông Đỗ Văn Xuyền đã chứng minh đặc điểm của bộ ký tự chữ Việt cổ là không có dấu.

 Ông Xuyền viết tặng phóng viên bằng chữ Việt cổ.
Theo công trình của nhà nghiên cứu người Pháp Haudricourt và qua khảo sát một số bộ tộc Việt cho thấy: Trước Công nguyên, người Việt nói không dấu, do không có dấu nên bộ chữ Khoa Đẩu phải dùng tới hai loại phụ âm: phụ âm cao và thấp để thể hiện các từ khác nhau.

Bộ chữ có đầy đủ số lượng nguyên âm, phụ âm cơ bản như chữ quốc ngữ. Những nét độc đáo trong bộ chữ chỉ có thể giải thích bằng ngôn ngữ Việt. Cách phát âm của bộ ký tự này hết sức đơn giản như cách nói của những người dân quê cổ. Các phụ âm khóa đuôi dùng chung…

Theo tác giả Đỗ Văn Xuyền, từ hàng nghìn năm qua, các nhà khoa học trong và ngoài nước đều khẳng định: Việt Nam có chữ viết từ rất sớm. Các nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc đã xác nhận: “Ngay từ trước Công nguyên, người Việt đã có chữ tượng thanh – loại chữ ghép chữ cái thành từ”.

 Ông Xuyền viết hịch khởi nghĩa Hai Bà Trưng bằng chữ Việt cổ. 
Điều này được thể hiện trên các di chỉ khảo cổ đồ gốm, đồ đồng của thời kỳ Đông Sơn như lưỡi cày, đặc biệt là trống đồng, cùng các hình vẽ, chữ viết trên đá cổ Sapa, Xín Mần, Pá Màng… Theo một hệ thống nhất quán, tất cả đều thể hiện đó là những chữ viết cổ từ thời kỳ tiền văn tự, phát triển và hoàn thiện dần thành bộ chữ Khoa Đẩu.

Chữ Việt cổ hay còn gọi là chữ Khoa Đẩu, chữ Vua Hùng có hình dáng như những con nòng nọc đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài khẳng định như giáo sư Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, giáo sư Bửu Cầm, giáo sư Đỗ Quang Vinh…

Tuy nhiên, chưa có ai giải mã được chữ Việt cổ, thứ chữ đã bị mất từ sau khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại.

Tại buổi giao lưu, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền giải đáp mọi thắc mắc của các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa, nhà ngôn ngữ, những người yêu cổ sử, yêu văn hóa Việt.

Nguồn: http://kienthuc.net.vn/di-san/201301/Chu-Viet-co-da-duoc-giai-ma-893903/

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Âu Lạc - Nam Việt - Giao Chỉ


Theo sự nghiên cứu tỉ mỉ của giáo sư Trần Kinh Hòa (đăng trong tạp chí Đại học Huế trong 2 số 15, 16 năm 1960) thì Tây Âu là quốc danh, còn Tây Âu Lạc chỉ dân Lạc ở nước Tây Âu.

Vậy vị trí nước Âu Lạc ở đâu? Hai ông Maspéro và Aurousseau thì cho là Tonkin Annam. Trái lại ông Camille Sainson dịch giả An Nam Chí lược của Lê Tắc thì cho là thuộc địa phận tỉnh Giang Tây. Lại có người cho là Chiết Giang. Giáo sư người Nhật Nobuhiro bác đi và cho là phải ở trên Bắc nữa, nhưng không nói ở đâu. Giáo sư Trần Kinh Hòa dẫn lời Quách Phác trong Sơn Hải Kinh cho rằng “Mân Việt tức Tây Âu nay thuộc huyện Kiến An” (Hòa184). Ngần ấy ý kiến nên theo ý nào? Các học giả đều bác bỏ nhau để nhận một. Theo tôi thì tất cả các học giả đã bỏ xót một yếu tố quan trọng là sự kiện người Việt Nam liên miên phải di cư từ Bắc xuống Nam trứơc sức xâm lăng của Bắc phương. Đây là một sự kiện lớn lao nhất kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam. Vậy mà lại không được các học giả chú ý cân xứng. Sở dĩ như vậy vì nó đã xảy ra lâu đời trước vào thời khuyết sử, nên không ghi lại nhiều sử kiện. Tuy nhiên nó vẫn còn tái diễn phần nào trong thời có sử, vì thế chúng ta có thể coi là các ý kiến trên kia đều chấp nhận được cả miễn là biết đặt vào giai đoạn khác nhau. Ý kiến đặt Âu Lạc ở Trung Bắc Việt đúng vào lúc cuối cùng tức chung quanh đời Tần Hán dăm ba thế kỷ. Ý kiến cho là ở Chiết Giang hay Giang Tây cũng đúng nhưng phải đặt lùi về trước ít ngàn năm. Và sau cùng đến ý kiến của sách Sơn Hải Kinh cho là ở miền Kiến An cũng lại đúng miễn phải ngược lên nữa để tìm ra gốc tích cái tên Lạc có lẽ không phải Kiến An ở tỉnh Phúc Kiến bên dưới Chiết Giang, mà có lẻ là tên xưa đã thất lạc để chỉ một miền có liên hệ đến sông Lạc mà tiên tổ xưa đã ở. Vì sông Lạc cũng dài lắm theo Địa Hán chí là 1970 dặm (Legge III.140) nên rất có thể một số cha ông ta đã có mặt ở một miền nào đó trên bờ sông Lạc và vì thế ta phải lên đến bờ sông này mới tìm ra nơi cư trú đầu tiên và lúc ấy ta có đủ lý do để suy đoán ra rằng mỗi khi tiên tổ Việt tộc phải di cư thì quảy luôn cả tên cũ đi để đặt cho những miền đất mới định cư, y như các trại Bùi Chu Phát Diệm di cư cả tên vào Nam vậy. Khắp nước ta thiếu gì những tên trùng hợp với tên cũ bên Tàu như Hà Nội, Hà Nam, Sơn Tây, Kiến An, Gia Định là do tâm lý đó cho nên danh hiệu có một mà địa vực lại nhiều nơi. Bởi đó với triết lý việc định vị trí khu vực Lạc Việt, Âu Lạc không quan trọng cho bằng quy định nội dung của chính cái tên. Thế mà xét về nội dung thì hai chữ Âu Lạc đều đầy ý nghĩa. Sách “Toàn Thư ngoại kỷ” quyển I chép rằng: vua Lạc Long Quân cưới con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ sinh ra trăm con, ấy là thuỷ tổ giống Bách Việt. Giáo sư Hòa (tr.142) cho hai âm Âu trong Âu Cơ và Âu trong Âu Lạc, cũng như Lạc trong Lạc Long Quân và Lạc trong Âu Lạc, hoàn toàn giống nhau và đối ứng nhau. Hơn thế nữa theo sách “Sử ký tập giải Hán thư văn nghĩa” rằng “Lạc tức là Việt, chữ hán” (Hòa 183). Sách “Thuỷ kinh chú” (quyển 37) dẫn Giao châu ngoại vực ký rằng “ngày xưa lúc Giao Chỉ chưa có huyện thì trên đất có Lạc điền, theo nước triều lên xuống dân khẩn cày ruộng ấy làm ăn, nhân đó gọi là Lạc dân. Lạc hầu làm chủ toàn bộ các quận huyện. Mỗi quận huyện thì phần nhiều đặt Lạc tướng (Hòa 190). Đọc đến đây ta nhận thêm ra một mối liên hệ của tiên tổ ta với nước, nên sau này hay nói đến nước như “sơn tinh thuỷ tinh” và “thần kim quy” được gọi là “Thanh Giang sứ giả” và dùng con vật sống dưới nước Giao long làm vật biểu cũng như khi phải bay lên trời còn cố dùng loại chim nước, như chim Hồng hộc trong Hồng Bàng cũng như chữ Hồng phạm viết với bộ thuỷ (xem đồ bản vẽ hìn 3 loại qua một thứ giao của giáo sư Hòa tr.153 chỉ rõ điểm này). Sở dĩ có mối liên hệ chặt chẽ vì nước đem lại ánh sáng văn minh là Lạc Thư, làm sao không dan díu với nước. Vì thế mà trong thế giới duy có Việt Nam dùng một chữ nước để chỉ cả nước sông và nước quốc, cho nên chữ Lạc ban đầu viết với bộ thuỷ như sông Y sông Lạc trong kinh Thư (thiên Vũ Cống câu 14). Về sau nhà Hán thuộc hỏa kị thuỷ mới đổ ra bộ nhai rồi sau đổi ra bộ chuy mà viết là Lạc và có lẽ vì đ1o mà sau này chữ Lạ viết khác nhau: Sử ký viết bộ mã, Lĩnh nam trích quái bộ trãi, An Nam chí lược bộ chuy. Vì thế ý kiến giáo sư Hòa cho tiếng Lạc là có ý dịch chữ Alauk cũa tiếng Chàm cũng có nghĩa là ruộng thì tôi cho là rất yếu vì nó không hợp cho đồng văn tức là thói tục thông thường của Việt Nam đã từ đầu toàn dùng chữ Nho để đặt tên sông, núi, miền và nhất là người. Cho nên nếu người xưa khi dùng chữ Lạc có nghĩ tới chữ Alauk thì cũng là một sự ngẫu nhiên không mấy quan trọng, điều được các ngài chú trọng hơn cả khi đặt tên nước là Âu Lạc là cốt để kỷ niệm chốn chôn nhau cắt rốn của Lạc Long Quân một ông vua nếu không cai trị Lạc Aáp, Lạc Dương, Lạc Nam… thì cũng có liên hệ nào đó đối với con sông Lạc là sông gắn liền với Lạc Thư tức một nền minh triết có nền tảng mẹ như đã nói trên về Âu Cơ.

NAM VIỆT

Bây giờ chúng ta bàn đến danh hiệu Nam Việt có từ đời Triệu Đà. Hai chữ này có thể chỉ những người có lý tưởng siêu việt nhất ở phương Nam, muốn đại diện cho đoàn người Bách Việt đông đảo ở khắp nơi trên nước Tàu. Chữ Nam cũng còn cần đựơc hiểu theo cung ngũ hành, chỉ phương Nam đối với phương Bắc, nên là miền sáng láng, chỉ văn minh. Như vậy tuy danh hiệu khác, nhưng vẫn nói lên một điểm y như chữ Xích Quỷ là chủ phương nam thuộc hỏa màu đỏ, thì Nam Việt cũng là cái gì siêu Việt nhất ở vùng Nam, con cháu của những người có liên hệ tới lửa: Viêm Đế, Đế Minh, Trùng Lê… Thực ra nếu xét kỹ thì Việt Nam chỉ là miền đất ở phía Nam Việt Giang, nhưng phải xét lên cao hơn nữa lúc tổ tiên đặt tên sông là Việt, thì tiền nhân không thể không gói thêm vào đó ý nghĩa siêu lên kiểu chữ Nam đi với chữ Hạ (chư hạ) cũng như những tên Kinh Dương Vương, Hoa Hạ, vì Dương với mùa Hạ và miền Nam là một, tất cả đều chỉ lửa đỏ, sáng. Bởi thế nói được rằng chữ Việt Nam cũng chỉ là một cách canh tân lại ý chí làm tròn sứ mệnh là bảo toàn và phát huy nền văn hóa nông nghiệp gắn liền với lửa (Viêm Đế, Thái Hạo, Đế Minh…)

(1) Chữ Việt xưa viết với bộ Mễ, nay quen viết với bộ Tẩu. Có ý kiến cho là do ngườiTàu viết đổi đi để ngụ ý chửi Việt Nam như con chó chạy. Đó là một ý kiến không có bằng chứng nào khác ngoài việc tán tự, tức là loại lý chứng rất bấp bênh. Tôi không tin là các cụ xưa lại khờ đến nối chấp nhận sự thóa mạ đó.

 GIAO CHỈ

Bây giờ bàn đến tiếng Giao Chỉ, có phải giao là miền của Giao long (cá sấu) còn chỉ là miền đất những người có hai ngón chân cái xoè ngang, hay chỉ là miền ở chân núi. Con Giao có nghĩa như Nam giao trong đầu kinh Thư? Chúng ta có thể thưa rằng giải nghĩa chữ “Giao chỉ” theo nghĩa ngón chân giao nhau là lối giải quá duy vật nên không đúng. Trước hết khoa giải phẫu chứng minh là không có giống người hai ngón chân đâm ngang (tên khoa học là Hallux varux). Tuy nhiên ở những vùng chưa văn minh quen đi chân không cũng có một số ngón chân cái hơi giẽ ra nhưng đó là tật chung ở khắp nơi trên thế giới kể cả Âu Châu. Vậy không thể căn cứ theo đó, nhất là nó không hợp đồng văn của nền văn hóa tâm linh Việt Nho rất coi trọng việc đặt tên, không thể lấy cái tật ở một số người mà đặt tên cho cả một nước. Vì thế thuyết này không còn thể đứng vững như giáo sư Hòa đã bác đi sau những nghiên cứu tỉ mỉ về hết mọi phương diện, nên tôi xin miễn nói tới và chỉ xin trưng lại lẽ chính của giáo sư là các sách cổ nhất khi nói đến tên Giao Chỉ như sách Phong Tục Thông, sách Thượng Thư, sách Sơn Hải Kinh, Bác Vật Chí, Hậu Hán Thư… đều không có nói đến ngón chân xoè ra, chỉ mãi 6, 7 trăm năm sau mới có những học giả nhân vì chữ Giao chỉ mới cho tên là do đó… Sở dĩ tôi trưng lại lẽ này của Giáo sư Hòa vì cho đây là lẽ mạnh nhất, mạnh đến nỗi có dư sức chống luôn cả ý kiến của chính giáo sư muốn cắt nghĩa Giao Chỉ là miền có những “cá sấu” gọi là Giao long, và vì thế giáo sư phải thêm vào chữ Giao bộ trùng và chữ chỉ bộ túc để việt là (chữ hán) thay vì (chữ hán). Tôi cho sự thêm thắt này là do quan niệm duy vật hay là vẽ rắn thêm chân nảy sinh về sau không ăn nhằm chi tới quan niệm tâm linh sử quan bên ta, nơi mà ý niệm đó được biểu dương cách cực kỳ long trọng bằng lễ Nam Giao, một lễ đầu não nhất, nên cũng biểu lộ óc tâm linh hơn bất cứ lễnào, và vì thế mọi người suy tư phải lấy nó làm sợi dây ghi đường trong việc quy định nội dung hai chữ Nam Giao và Giao Chỉ, nếu không thì có đưa ra bao suy luận dựa trên thổ tục học, lịch sử học, ngôn ngữ học… cũng không giúp cho khỏi lạc lối vào vòng nguỵ biện để chạy theo những cái chân của rắn thêm vào sau. Vì thế chúng ta cần phải trở lại nguồn đi về thực xa, và ở đấy chúng ta nhận ra rằng những bản khắc xưa nhất lại chỉ viết có (chữ hán) không có chân hay sâu chi cả. Nguyễn Nguyên nói trong sách xưa đều chép Giao Chỉ (chữ hán) cũng có chỗ chép (chữ hán)… Riêng tôi cho rằng bộ phu này báo hiệu một sự sa đọa to lớn được ghi dấu bằng cả một chữ như thổ, châu, bộ, di… vì từ đời Hán về sau người ta bỏ chữ chỉ và thay vào bằng những chữ khác như Giao Châu, Giao Thổ, Giao Bộ, Giao Binh, Giao Di… (Hòa 216). Còn gì tỏ lộ sự đi sâu vào sa đọa rõ bằng đầu hết là chữ… có nghĩa triết lý là ở như chữ cư trong kinh Thi trưng lại ở Đại học “chỉ ư chí thiện” hoặc cái cùng cực cái chí thiện như câu “khâm quyết chỉ” kinh Thự. Thái giáp thượng, câu 7 = hãy kính cẩn định lấy cái cứu cánh cùng tột. Sau đó thì trụt xuống nghĩa địa dư như giao châu, giao thổ; sau cùng trụt xuống một bậc nữa đến nghĩa chính trị và hành chánh để trở nên giao bộ, giao binh, giao di. Đợt sa đọa thứ ba này thì rõ rệt thuộc chính trị, có óc xâm lăng, nhiều khi điểm chút kỳ thị như biểu lộ trong chữ di (Giao Di) và tự đấy học giả chỉ căn cứ vào những chữ viết sau này mà suy luận thêm ra: tự… đến… rồi sau vẽ rắn thêm chân, viết với bộ túc là… và lúc ấy phải thêm bộ trùng vào chữ giao cho ra… để chỉ miền của Giao Long (dấu… là chữ hán). Ta có thể nói hầu hết trên thế giới đâu cũng có cá sấu nhưng chỉ có ở Việt Nam mới có thuyết lấy tên cá sâu làm địa danh chỉ vì nó có tên là giao. Sự việc xảy ra y hệt với chữ chỉ để trỏ ngón chân tréo ngang vậy. Tại sao giáo sư Hòa đã bác được thuyết ngón chân giao nhau mà lại rơi vào thuyết giao long? Vì sự thực cả hai thuyết đều thuộc “duy vật sử quan”. Là vì đã không chú ý đến toàn thể là bầu khí tâm linh sử quan.

Vậy để theo được tâm linh chúng ta phải ngược dòng về tận ngọn nguồn, và lúc ấy sẽ gặp những ý nghĩa cao hơn như sau.

Theo sách “Thuyết văn” thì chữ chỉ là nên dưới vì tượng cây cỏ mọc có nền, cho nên lấy làm chân. Chính ý nghĩa này đem đến cho chữ chỉ bộ túc và ý nghĩa lớn nhất của túc làmiền chân núi, và đó là ý nghĩa được nhiều học giả quy cho Giao Chỉ như Tư Mã Thiê (S.M.T I.38). Ta có thể chấp nhận ý này nhưng cần được bổ sung như sau. Khi người Tàu xem xuống mạn Nam thì bên tay mặt phía Tây Bắc là rặng núi Côn Lôn, rồi đổ xuống Nam là dãy Tần Lĩnh, có thể được coi như Côn Lôn hay Hy Mã Lạp Sơn nối dài, mà vì thế có thuyết gọi là Nam Lĩnh. Nhưng chính ra Nam Lĩnh nằm về phía Đông khởi đầu ở những tỉnh An Huy, Chiết Giang và Giang Tây và mang tên là Tiên Hà Sơn Mạch… Khi đến quãng hai tỉnh Giang Tây và Phúc Kiến thì gọi là Vũ Di Sơn, và ở vào khoảng Hồ Nam Quảng Đông và Quảng Tây thì gọi là Ngũ Lĩnh Sơn Mạch, vào đến tỉnh Quý Châu thì gọi là Miêu Lĩnh… Nhưng tên gọi chung tất cả dãy núi là Nam Lĩnh để có thể coi như đối với Tây Lĩnh khởi đầu từ núi Côn Lôn với Tần Lĩnh rồi bắt đầu xoải đầu xuống theo triền sông Cửu Long phía Nam và Dương Tử Giang phía Đông, để dừng lại gặp dãy Lĩnh Nam ở vùng Quảng Tây và Bắc Việt… Rặng núi phía Tây này có Ngũ Khê, mà ta chỉ nên hiểu cách co giãn vì có khi cũng kêu là Tam Hạp (Văn Hiến .18) để đối với Ngũ Lĩnh phía Đông. Sự đối đáp nay được thấy trong Sơn Hải Kinh với 12 ngọn núi chia ra Bắc 3, Nam 3, Đông 4, Tây 4, và nó cũng chỉ là sự quảng diễn theo khung ngũ hành “ngũ nhạc” đã nói ở trên. Những lối đặt tên tiên thiên kiểu này nhiều khi phải gọt thực tế cho ăn vớinhau, chứ không hẳn cần có 5 khê, 5 lĩnh, nhưng có thể hơn hay kém, cũng y như Cửu Long thì Cửu không cần là 9 vậy. Đó là đại để ý thứ hai của chỉ là chân, nhưng ý này chỉ hiểu đúng được khi biết quy chiếu vào ý thứ nhất là nền tảng. Và đấy mới là then chốt. Vậy ý then chốt này sẽ được ghi lại trong cuốn sách có lâu đời nhất đến nỗi gọi là Thượng Thư hiểu là Thượng Cổ, đó là kinh Thư ngay phần mở đầu gọi là Nam giao đối với Bắc phương gọi là Sóc phương, đó là một sự đối đáp tiên thiên và cao trọng nhất trong nền văn hóa Việt Nho không nên tách ra khỏi cơ cấu đó để đi tìm ý nghĩa bên ngoài. Giáo sư Hòa đã đặt được phương trình Giao Chỉ là Nam Giao mà không chú ý đủ lại đi tìm nghĩa giao ở cá sấu. Ta cần thìm nghĩa giao ngay nơi nó. Nếu đem ánh sáng Kinh Dịch dọi vào mà nhìn thì ta sẽ thấy ý đó nổi bật lên. Ai cũng biết ngày sóc là mồng một, nên sóc cũng có nghĩa là khởi đầu, là phương Bắc, còn giao là giao hợp, giao hòa… là trọn vẹn thì ở phương nam. Sự xếp đặt này được nói rõ lên trong câu “số vãng giả thuận, tri lai giả nghịch” (thuyết quái “số đã đi qua thì theo chiều thuận, còn để biết việc tương lai thì theo chiều nghịch”. Chiều nghịch cũng như chữ Văn đi theo tay trái, nơi có trái tim, để chỉ tâm linh và cũng chỉ đàn bà vì giàu tình cảm và có tài trực thị là thấy thẳng, một đức tính cần cho được biết tương lai mà kinh Dịch cũng gọi là tượng “tại thiên thành tượng” và chỉ thị tượng bằng các số sinh 1, 2, 3, 4. Ngược lại là chiều thuận cũng như chữ Vạn đi theo kim đồng hồ tức theo tay mặt và chỉ đất “tại địa thành hình” và quy cho đàn ông chạy vòng ngoài, được kinh Dịch chỉ thị bằng các số thành (tức đã thành hình) là 5, 6, 7, 8. Bây giờ ta sắp đặt hai rẫy số trên theo câu kinh Dịch là “số vãng giả thuận, tri lai giả nghịch” thì ta sẽ thấy 2 số là 1-5 khởi đầu ở phương Bắc, còn 2 số 4, 8 giao nhau ở phương Nam.

Sự giao nhau này được tượng ý bằng chữ nghệ hình 2 và từ chữ nghệ vươn lên chữ Vănhình số 3. Từ chữ Văn lên chữ Giao hình số 4. Tất cả được minh họa bằng hình Phục Hy Nữ Oa hình 5. Ta lại biết rằng tiên thiên bát quái Phục Hy xếp theo thứ tự Kiền 1, Đoài 2, Li 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8, và theo thứ tự ta xếp lại như hình trên thì cũng sẽ có hai quẻ khởi đầu kiền tốn ở phương Bắc hai quẻ chấn khôn giao hội ở phương Nam… Còn nếu xếp theo hậu thiên bát quái thì hai quẻ giao nhau lại là Cấn Khảm = sơn thuỷ là hai biểu tượng quen đi đôi. Và rất có thể vì đó mà có tên giao chỉ, vì quẻ cấn có nghĩa là chỉ “Cấn chỉ dã, chữ hán” (Thuyết quái VII).

Bây giờ đến đàn ông và đàn bà xếp vào vòng đó. Xếp cho ông bên nào? Nếu bảo “nam tả nữ hữu” là theo Hán Nho chứ Việt Nho thì sẽ nói “nữ chiêu nam mục” vì chiêu cao hơn mục hay đúng hơn tế vi hơn nam vì “tại thiên mới thành có tượng” còn nam vì “tại địa thành hình” và như vậy thì phải xếp Nữ Oa bên chiêu với cái quy tròn. Phục Hy bên mục với cái củ vuông và ta sẽ có hình haiông bà đầu quay hướng Bắc còn “đuôi” hai vị giao hội ở phương Nam. Sau ba chứng liệu trên bây giờ chúng ta sẽ nhận ra thế nào là Giao Chỉ. Giao Chỉ là sự giao hội của hai cực cũng gọi là “thiên địa chi đức, âm dương chi tú khí, quỷ thần chi hội” quỷ thần ẩn ẩn hiện hiện: không thể gọi tên. Có thể vì đó mà kinh Thư chỉ nói đơn sơ là Nam Giao mà không nói “viết Giao Chỉ”, vì đây cũng là chỗ cùng cực của yêu thương, của “tình thâm nhi văn minh” theo nghĩa cao cả của văn là trời đất giao hội sinh ra nền văn minh tâm linh cũng gọi là Đạo, vì “Đạo là chỗ chí cực của vật” (đạo = vật chí cực) nên cũng bất khả ngôn, vì “hễ đã ngôn thì không còn là Đạo Thường”, nên không thể gọi tên và vì thế chỉ cón có tế lễ Nam Giao mới biểu lộ được phần nào ý nghĩa cao siêu ấy. Vậy khi tiền nhân ta đặt tên cho nước là Giao Chỉ thì không có lý do gì lại không nghĩ tới lễ Nam Giao được thực thi trọng thể mỗi năm mỗi lần: cũng như được ghi lại ngay đầu kinh Thư. Cho nên đặt danh hiệu Giao Chỉ cho nước là nói đến sứ mạng cao cả của những người sống trong nước ấy vậy.

Chúng ta biết rằng giữa danh hiệu với vật tổ có mối liên hệ tâm linh nghĩa là đã thiết lập theo một cơ cấu lý tưởng, nương theo ý tưởng đó mà xét các tên nước ta trong dĩ vãng chúng ta nhận thấy hai điểm đáng ghi chú: trước hết là các tên nước Việt Nam gắn liền với điểu và thú. Vì ý tưởng là muốn có hai đức tính. Điểu sau là hai đức tính đó được đặt ngang nhau trong thế hòa hợp: điểu thú đi đôi, cũng như núi sông gặp gỡ (ngũ lĩnh giao thoa với ngũ khê, để cho “văn chất bân bân”: chất gia đi với văn gia làm nên Văn Lang (Socio 27). Rõ rệt là hai nét đặc trưng của Kinh Dịch là Âm Dương lưỡng nghi và hòa hợp Giao Chỉ làm nên Đạo: “nhất điểu nhất thú… nhất âm nhất dương chi vị đạo”, cả hai được đúc kết lại khăng khít ít ra trong dự tính khi tiền nhân đặt danh hiệu cho nước. Hai đức tính là Nam Bắc, là Bố Cái, là Hiếu Trung, là làng nước… Hễ chú trọng đến một vế đơn thuần là chưa hiểu được nền văn hóa dân tộc luôn luôn lưỡng diện, lưỡng tính. Đấy là đạo lý đã được ghi vào những danh hiệu đầu tiên là Xích Quỷ, một danh hiệu đánh dấu sự chuyển hướng từ Hà Vu tới Hà Lạc. Rồi nội dung đó được trao sang danh hiệu Văn Lang, một danh hiệu nói lên đúng nhất sứ mạng của Việt Nam là một nền “văn hiến chi bang” , cho nên không lạ chi đó là một danh hiệu quan trọng nhất được giữ lâu nhất tức hơn 26 thế kỷ.

Các danh hiệu về sau cũng chỉ là lắp lại kiểu khác cái ý hướng của hai danh hiệu trên kia, không quan trọng lắm nên cũng chỉ giữ được một quãng ngắn: Âu Lạc độ 10 năm. Nam Việt được non trăm năm. Tất cả đều thua Văn Lang, vì chữ Văn nói lên rõ nhất sự đúc kết này. Bởi vậy danh hiệu Văn Lang đáng chú trọng hơn cả để chỉ một nước đã vượt qua được 2 đợt vu hiến và ý kiến mà đạt đợt văn hiến để lập nên một nền “văn hiến chi bang” với sứ mạng duy trì mãi mãi cái hồn của Viêm tộc, của Tam Miêu, của Bách Việt, của Lạc Việt, của Đông Việt. Đứng về phương diện Viêm tộc thì không cứ gì người Việt nhưng là cả Thái Lan, Ai Lao, Đại Hàn… cũng là một gốc Viêm tộc, cùng một nền văn minh nông nghiệp; tuy nhiên xét về danh hiệu thì danh hiệu nước Việt Nam là có tính cách thừa kế một di sản thiêng liêng của cả một dân tộc lớn đã sinh sống ở Viễn Đông trước đây trên 5, 6 ngàn năm, rồi sau rút về vùng Nam Dương tử giang trở xuống, và cuối cùng thu mình lại trong mảnh đất Việt Nam hiện nay. Cho nên nếu lấy về danh hiệu thì dân Việt Nam có liên hệ với Viêm tộc như họ máu hàng dọc có nhiệm vụ phải duy trì cái sứ mạng thiêng liêng đó: một nền văn hóa nông nghiệp duy nhất còn sót lại trước sự tràn lấn của các ý hệ phát xuất từ nền móng công thương. Liệu Việt Nam có còn đủ sức thi hành nổi sứ điệp gói ghém trong các danh hiệu của nước nhà chăng?

Lm. Kim Định
Nguồn: http://www.anviettoancau.net/anviettc/index.php?option=com_content&task=view&id=3695

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

Phát hiện thành cổ từ thế kỷ IV tại Quảng Nam

Thứ 5, 7/3/2013, 16:35 GMT+7
Khu thành cổ nằm sâu dưới lòng đất huyện Duy Xuyên, Quảng Nam vừa được đoàn khảo cổ phát hiện. Đây là khu thành cổ xây dựng bằng gạch được xác định ban đầu là thành cổ bảo vệ kinh đô Sinhapura của Vương quốc Chăm Pa xưa…
Thành cổ được xây bằng gạch vừa được phát lộ dưới lòng đất tại Duy Trung, huyện Duy Xuyên.
Đoàn các nhà khảo cổ học thuộc Viện khoa học vùng Nam bộ thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam do thạc sĩ Đặng Ngọc Kính chủ trì phối hợp với các nhà khảo cổ học của Đại học Showa Women’s Unirersity Nhật Bản, tổ chức khai quật trên diện tích khoảng 300 m2 tại khu vườn nhà ông Nguyễn Quang Thiên tại làng Viên Thành, thôn Trung Đông, xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam.

Sau hơn 16 ngày, qua các hố khai quật, các nhà khoa học đã phát hiện một đoạn thành cổ xây bằng gạch nằm sâu dưới lòng đất từ hàng chục nghìn năm nay cùng nhiều hiện vật khảo cổ có giá trị, hé lộ những bí ẩn được chôn chặt dưới lòng đất hàng chục thế kỷ qua.


Gạch xây thành cổ.
Theo các bậc cao niên đang sống tại làng Trung Đông, xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên cho biết, đây là khu thành cổ của người Chăm Pa xây dựng rất lâu bao bọc quanh kinh đô cổ Sinhapura của Vương quốc Chăm Pa xưa.
Nhiều ẩn mật chứa đựng nơi thành cổ dưới lòng đất này đang được các nhà khoa học giải mã. Trưởng đoàn khai quật, Thạc sĩ khảo cổ học Đặng Ngọc Kính cũng như Tiến sĩ khảo cổ học Yamagata Mariko và Thạc sĩ khảo cổ học Nguyễn Khánh Trung Kiên cho biết, rất nhiều điều bí mật nơi khu thành cổ này đang được dần giải mã.
Một đoạn thành cổ vừa được phát hiện với bờ thành được xây bằng gạch chạy song song với nhau ở giữa là đất sét và hai bên bờ thành cũng được gia cố bằng đất sét.
Tại hố khai quật có chiều dài khoảng 20m, chiều ngang khoảng 2m, và sâu khoảng 50 - 60cm, sau khi bóc tách phần đất mặt các nhà khảo cổ học đã phát lộ một đoạn thành cổ được xây dựng hai bên là gạch ở giữa bờ thành được nện đất sét.

Qua đo đạc, bề mặt thành xây gạch rộng 1,5 - 1,6m. Hai thành xây bằng gạch này chạy song song với nhau, ở giữa bờ thành là đất sét nện chặt có chiều rộng khoảng 2,2m. 

Điều làm các nhà khoa học ngạc nhiên là phía ngoài 2 mặt thành được đắp bằng đất sét bao phủ. Mỗi bên có chiều rộng khoảng 2m.



Đo đạc ban đầu, các nhà khoa học xác định mặt thành bao gồm phần đất sét đắp hai bên, cùng hai bờ thành bằng gạch, ở giữa nện đất sét có tổng chiều rộng hơn 9m

Kiểm tra về mặt cấu trúc của bề mặt thành xây bằng gạch sau phát lộ rất kiên cố. Theo các nhà khoa học, thành cổ này xây dựng kiên cố và với kỹ thuật rất cao.



Trưởng đoàn khai quật, Thạc sĩ khảo cổ học Đặng Ngọc Kính cho biết mục đích của đợt khai quật này là để các nhà khoa học tìm hiểu về tổ chức của thành cổ này như thế nào. Đặc biệt là tìm các cứ liệu lịch sử để xác định niên đại của khu thành cổ này.

Quá trình khai quật, các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều mảnh ngói và gạch vỡ vụn. Riêng tường thành vẫn còn nguyên vẹn. Đặc biệt trong quá trình tìm kiếm tại các hố khai quật, các nhà khoa học đã phát hiện một kendi (bình đựng nước có vòi dùng để hành lễ) đã bị vỡ.


Một bình kendi (bình đựng nước) bị vỡ được phát hiện trong hố khai quật.
Ngoài một kendi còn có nhiều mãnh ngói bị vỡ và gạch được các nhà khoa học lưu giữ để nghiên cứu.
Những mãnh ngói được phát hiện dưới hố khai quật.
So với các thành cổ được khai quật trước đó, các nhà khoa học đưa ra nhận định: Đây là khu thành cổ có cấu trúc xây bằng gạch rõ ràng với 2 lớp gạch 2 bên, ở giữa nện bằng đất sét rất kiên cố.

Sau khi khai quật và phát hiện nhiều hiện vật, các nhà khoa học đã tham chiếu các tư liệu lịch sử đưa ra nhận định ban đầu là khu thành bao bọc quanh kinh đô Sinhapura của Vương quốc Chăm Pa. Nay là Trà Kiệu. Thành cổ này được xây dựng khoảng thế kỷ thứ 4-5.

Dự kiến đợt khai quật khu thành cổ này sẽ kết thúc vào ngày 10/3 đến. Sau đó sẽ có báo cáo khoa học sau khai quật tại Bảo tàng tỉnh Quảng Nam.

Đây có thể khẳng định là khu thành cổ nhất được phát hiện tại Duy Xuyên, Quảng Nam. Điều lý thú là thành cổ này được xây dựng bằng gạch và đất sét chìm sâu dưới lòng đất và vẫn còn tồn tại đến ngày nay mặc dù đã trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử cùng như thiên tai và chiến tranh tàn khốc.

Sự phát hiện khu thành cổ người Chăm Pa tại Duy Xuyên sẽ là tín hiệu vui khi trên bảng đồ Di sản có thêm một di tích của người xưa để lại với nhiểu ẩn mật đang dần được các nhà khoa học giải mã.

Vũ Trung

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/111871/phat-hien-thanh-co-tu-the-ky-iv-tai-quang-nam.html