Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013

Dó - Kỳ công điêu khắc của cháu gái nhà văn Kim Lân


    Một triển lãm tổng hợp với my mô lớn trải gần hết diện tích bảo tàng Mỹ thuật Tp HCM trưng bày các tác phẩm điêu khắc của Lê Hiền Minh, cô con gái nổi tiếng của họa sĩ Nguyễn Thị Hiền và nhà nghiên cứu Lê Dưỡng Hạo.
    Lê Hiền Minh từng có 5 triển lãm tại Việt Nam và 6 triển lãm tại nước ngoài (Mỹ, Đức, Hàn Quốc). 10 năm gắn bó với chất liệu giấy dó Việt Nam, Hiền Minh yêu chất liệu này như yêu cuộc sống của con người. "Vì giấy dó mỏng manh, nó sẽ tan biến đi, sẽ phân rã trước thiên nhiên như cơ thể của một con người".
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc 
     Họa sĩ Lê Hiền Minh, cháu gái nhà văn Kim Lân
    Cháu gái của nhà văn Kim Lân sinh năm 1979 tại Hà Nội và lớn lên tại Sài Gòn. Cô học chuyên khoa Sơn mài tại ĐH Mỹ thuật TP. HCM, sau đó học chuyển tiếp và tốt nghiệp tại Học viện Mỹ thuật Cincinnati, bang Ohio, Mỹ, chuyên khoa Hội họa. Lê Hiền Minh đã gắn bó và có hơn mười năm sáng tác trên chất liệu truyền thống giấy dó.
    "Một thập kỷ với giấy dó. Mọi người hay hỏi tôi đã chán giấy dó chưa? Tôi chưa bao giờ thấy chán. . .
    Tôi yêu thích sử dụng đôi tay của mình trong việc tạo hình vật thể mà không phải thông qua những dụng cụ khác như búa, khoan, hay đục... Đôi tay của tôi và những vật thể điêu khắc phải được trực tiếp giao diện với nhau. Với những tác phẩm cần có khuôn như dụng cụ trung gian duy nhất, thì sau khi lấy vật thể ra khỏi khuôn, tôi nhất định phải nắn chỉnh từng vật thể một bằng tay cho đến khi ưng ý." - nữ nghệ sĩ có gương mặt đẹp đậm chất Á Đông bày tỏ.
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc 
     "Sách Từ Điển" - một tác phẩm vô cùng xúc động gửi cho bố Hạo. Vì "bố Hạo là người yêu sách, thích đọc sách và mê mua sách". Người xem như thể đứng trước khu lăng mộ nổi tiếng của Tần Thủy Hoàng, nhưng thay vì hàng nghìn quân lính canh giữ, thì lại là những cuốn sách. Chúng mang lại kí ức thanh bình, mạnh mẽ mà cô độc.
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc 
    Ngoại hình của Lê Hiền Minh thay đổi theo phong cách sử dụng giấy dó
    Những người bạn kể rằng, ngoại hình của Hiền Minh cũng thay đổi theo phong cách cô làm việc cùng giấy dó. Những năm trước cô cắt tóc tém tinh nghịch và thử nghiệm mọi khả năng phá cách với giấy dó: xé, đốt, ngâm tẩm, phơi, đốt, đo độ dãn nở, nhuộm màu, nghiên cứu tạo hình không gian và điêu khắc... Giờ gặp Hiền Minh người ta thấy một người phụ nữ phương Đông với mái tóc dài, đôi mắt cười bước trên đôi giày cao thanh lịch trong váy ôm gợi cảm. Các tác phẩm gần đây tĩnh tại hơn, đi sâu hơn vào nội tâm và ký ức, với sự tinh giản về màu, tối giản về tạo hình trên giấy dó.
    "Theo thời gian, tôi trở nên muốn tinh giản hơn, những trải nghiệm được chắt lọc lại. Tôi tối giản về hình thể, hạn chế sử dụng màu sắc. Chủ yếu giữ nguyên màu cơ bản của chất liệu." Các tác phẩm “Chim”, “Cơ thể”, “Sách Từ Điển” được làm với tư duy này, ý thức này.
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc 
     Tác phẩm "Những con chim" - khán giả nước ngoài từng nhầm tưởng Hiền sử dụng chất liệu đá và xương
    Nhìn một lượt toàn bộ các tác phẩm của Lê Hiền Minh, người xem bỗng nhận ra giấy dó Việt Nam có một khả năng chuyển hóa lạ kì và vô cùng đa dạng. Có lúc mong manh, có lúc lại cứng rắn không ngờ. Tác phẩm "Trứng" khiến người ta liên tưởng tới lá cây, vỏ trứng còn "Những con chim" lại khiến khán giả Hàn Quốc ngỡ rằng chúng được làm từ xương hay đá. Các nhà nghiên cứu rất thích thú, vì họ nhận ra một cái nhìn mới về sự biến hóa của chất liệu. Đó quả là cái tài của người nghệ sĩ.
    "Tôi thay đổi cách thức sáng tạo nhưng chưa bao giờ thay đổi chất liệu. Từng làm việc với giấy Thái Lan, giấy Nhật Bản, nhưng tôi thích nhất giấy dó Việt Nam. Nó mỏng, dai, thô ráp và gần gũi. Nó không quá dầy như giấy Thái Lan cũng không cầu kì như giấy Nhật Bản. Nó thích hợp với suy nghĩ của tôi, tính cách con người tôi. Đối với tôi, giấy dó là cuộc phiêu lưu chung thủy". - họa sĩ Lê Hiền Minh trả lời.
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc
     
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc
     
     Sự biến hóa kì lạ của giấy dó mỏng manh
    Lê Hiền Minh, giấy dó, 10 năm, sự nghiệp, bố Hạo, Nguyễn Thị Hiền, Kim Lân, điêu khắc 
    Ở góc nhìn rộng, cấu trúc sắp đặt của tác phẩm "Nhà" khiến người xem liên tưởng đến các biểu tượng cổ xưa
    Triển lãm 10 năm Dó của Lê Hiền Minh sẽ kéo dài hết ngày 25/07 tại bảo tàng Mỹ thuật Tp HCM.
    Hồ Hương Giang
    Ảnh: Angellittlefire

    Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

    Tài tình nghệ thuật đóng cọc gỗ trên sông Bạch Đằng

    Giờ cập nhật: 11:09 05/04/2013 (GMT+7)
    Các kết quả nghiên cứu trong vòng 25 năm, đặc biệt là từ năm 2009 đến nay đã đưa đến nhiều thông tin quý báu về di tích bãi cọc Bạch Đằng. 
    Cùng với bãi cọc Yên Giang (TX Quảng Yên, Quảng Ninh), sự phát hiện thêm các bãi cọc mới ở cánh đồng Vạn Muối và cánh đồng Má Ngựa (xã Nam Hòa, Yên Hưng) cùng các dòng chảy cổ, cũng như địa hình, địa mạo chiến trường xưa đã cung cấp những bằng chứng có sức thuyết phục cao cho chiến lược và chiến thuật của danh tướng Trần Hưng Đạo. 

     Bãi cọc Bạch Đằng.

    Tuy nhiên, các ý kiến về ý đồ chiến lược và diện mạo chiến trường vẫn mới chỉ là giả thiết. Nhân dịp kỷ niệm 725 năm chiến thắng Bạch Đằng (ngày 8 tháng 3 ÂL năm 1288), hãy thử nhìn nhận lại chiến trường xưa, dựa trên việc phân tích các tư liệu khảo cổ học.


    Nhận diện địa hình trận Bạch Đằng
    Từ năm 1988, các cuộc khảo sát và nghiên cứu đã mang đến những hiểu biết cơ bản về địa hình, địa mạo và thủy văn vùng chiến trường Bạch Đằng. Đặc biệt, các kết quả khảo sát năm 2009 và khoan mẫu nghiên cứu địa chất năm 2011 của đoàn nghiên cứu quốc tế cũng nhận thấy khá rõ các đặc điểm địa mạo và sông ngòi ở khu vực Quảng Yên và đảo Hà Nam (huyện Yên Hưng). Kết hợp các tài liệu lịch sử, địa chất và khảo cổ học, cảnh quan vùng chiến trường xưa có thể thấy nó bao gồm một vùng rộng lớn từ núi U Bò đến ghềnh Cốc, dài chừng 5km, rộng chừng 2 - 4 km, tính từ bờ tây sông Bạch Đằng sang khu vực có các bãi cọc đồng Vạn Muối và đồng Má Ngựa ở đảo Hà Nam. Những dấu vết còn lại của sông Kênh trên các cánh đồng lúa hiện nay và dòng chảy cổ trong các hố đào và các mũi khoan chính là một phần của các dòng chảy đó. Như vậy, sông Bạch Đằng xưa là hết sức rộng lớn và hiểm trở. Khi nước triều lên, cảnh quan khu vực sóng nước mênh mông hùng vĩ xem kẽ các chỏm đá vôi cao vút đúng như Trương Hán Siêu - môn khách của Trần Hưng Đạo, mô tả trong "Bạch Đằng giang phú”: "Bát ngát sóng kình muôn dặm/ Thướt tha đuôi trĩ một màu/ Nước trời một sắc/ Phong cảnh ba thu”...

    Những bãi cọc phát hiện được gần đây cho thấy Trần Hưng Đạo đã tận dụng tối đa địa hình tự nhiên này và tính toán để chặn được tất cả những lối thoát có thể theo các dòng chảy này, mà chốt chặn xa nhất hiện biết về phía nam là bãi cọc đồng Má Ngựa. 

    Nghệ thuật đóng cọc gỗ trên sông Bạch Đằng 

    Việc khai quật và nghiên cứu các bãi cọc Bạch Đằng cho thấy: Ở di tích Yên Giang, hàng ngàn cọc đã được nhân dân phát hiện. Trong các hố khai quật, ít nhất 43 cọc đã được lấy lên. Nhiều cọc được bảo tồn trong hố trưng bày tại chỗ, một số cọc hiện nay còn nhìn thấy trong các hồ nuôi cá. Các nhà nghiên cứu nhận định bãi cọc đã xuất lộ có diện tích 115/120 x 20/25m (khoảng 3000 m2), chạy theo chiều đông bắc - tây nam. Phần lớn các cọc được cắm thẳng đứng vào lớp phù sa màu hồng, cách nhau chừng 1m. Khi nghiên cứu độ mớn nước của thuyền chiến Nguyên và quy luật thủy triều trên sông Bạch Đằng, các cọc ở khu vực khai quật được cho là để làm hẹp dòng sông và chặn thuyền quân Nguyên vào lúc nước triều cao nhất. Khi nước triều xuống thấp nhất, các cọc sâu hơn ở lòng sông có thể đã tham chiến, nhưng hiện nay đã mất hoặc chưa xác định được.

    Việc khảo sát và khai quật khu di tích bãi cọc đồng Vạn Muối đã xác định phạm vi phân bố của các cọc hiện còn trong khu vực có chiều bắc - nam là hơn 150m và chiều đông - tây là hơn 40m (khoảng hơn 6000m2), phát triển về phía nam doi đất cao Đồng Cốc. Tuy nhiên, có thể nói rằng diện tích và số lượng cọc còn lại có khả năng lớn hơn nhiều, mà do mức nước sâu nên chúng ta khó có thể phát hiện hết bằng phương pháp khảo sát trên bề mặt. Sự phân bố của khu vực này có xu thế ăn lan ra phía nhánh sông Rút. Như vật, có khả năng nó được xây dựng nhằm thu hẹp dòng chảy này và tạo chướng ngại vật cho vùng bãi lầy trên đảo Hà Nam.

    Kết quả khảo sát và khai quật di tích đồng Má Ngựa cộng với các dữ kiện hiện biết cho thấy bãi cọc còn lại có quy mô khoảng 70m theo chiều đông tây, 30m theo chiều bắc-nam (khoảng 2.100 m2). Kết quả khảo sát và khoan thăm dò cho thấy địa hình khu vực này gồm nhiều gò đá, là sự tiếp tục của ghềnh Cốc trên sông Bạch Đằng, xen lẫn với các dòng chảy lớn nhỏ.

    Mặc dù các bãi cọc đều không còn nguyên vẹn, nhưng với các kết quả nghiên cứu mới nhất từ đồng Vạn Muối và đồng Má Ngựa, có thể thấy các bãi cọc được tổ chức rất khoa học và áp dụng nhiều kinh nghiệm trong nhân dân. Các cọc lớn (đường kính 20 - 30cm) thường được sử dụng ở khu vực có dòng chảy (lòng các sông nhánh nhỏ), cắm đứng vào lớp cát bùn đáy sông. Các cọc nhỏ hơn (phổ biến có đường kính 8 - 15cm) thường được đóng ven bờ, trong bãi triều, theo nhiều hướng khác nhau, nhưng thường là hướng ngược với dòng chảy. Các cọc ven bờ thường bố trí thành cụm, có hướng ngược nhau hoặc ken thêm cọc nhỏ dưới chân. Các cụm cọc được bố trí dích dắc (đồng Vạn Muối) hoặc tạo thành một dãy tường thành dày đặc (đồng Má Ngựa). 

    Dấu tích một số mẩu gỗ nhỏ cho thấy có khả năng dây néo, chốt gỗ được sử dụng trong quá trình dộng lắc nơi nước sâu. Gỗ sử dụng gồm nhiều loại. Các cọc lớn đóng trong lòng sông có thể đã sử dụng gỗ tứ thiết (đinh, lim, sến, táu) như các nghiên cứu trước đây đã nhận định. Và cả 3 bãi cọc đã phát hiện đều cho thấy quy mô rất rộng lớn, có tính chất phòng thủ chiến lược cao, được bố trí ở những vị trí rất hiểm yếu, vừa có khả năng thu hẹp các dòng chảy, vừa phối hợp với các ghềnh đá tạo vật cản cho thuyền và gây khó khăn cho tác chiến trên bờ, trong trường hợp đổ bộ. Ngược lại, rõ ràng lối bố trí dích dắc và tạo thành rào cản ở một số vị trí có tác dụng hỗ trợ các thuyền nhỏ và quân bộ của Đại Việt.  

    Với một trận địa được bố trí tài tình như vậy, nhà Trần đã tính toán rất chính xác để đón lõng được thuyền quân Nguyên. Chúng hoặc sẽ phải chen chúc vào khu vực giữa dòng sông đã bị thu hẹp và vướng các ghềnh đá hoặc bị đẩy vào những cái bẫy đã đặt ra.

    Cho đến nay, ngoài các truyền thuyết và di tích hiện còn, nhiều dấu vết của trận chiến đã hé lộ từ những kết quả khảo sát và khai quật khảo cổ học ở khu vực Yên Giang, trên đảo Hà Nam và trong phạm vi rộng hơn của chiến trường. Những dấu tích này chứng thực và làm rõ hơn những gì đã được ghi chép và còn lưu lại trong trí nhớ của nhân dân. 

    PGS.TS Tống Trung Tín - TS Lê Thị Liên

    Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

    Bí ẩn bãi đá cổ




    Đã xuất bản vào 22-05-2013


    Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013

    Ngắm tuyệt phẩm tái hiện chân dung các vị vua triều Nguyễn

    Wed, 10 Apr 2013 19:00:00 GMT
    Chân dung các vị vua triều Nguyễn được khắc họa qua những họa phẩm tuyệt đẹp, được đăng tải trên website ABS Travel.

    Gia Long (1762 – 1820) là vị Hoàng đế đã thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Ánh (thường được gọi tắt là Nguyễn Ánh), trị vì từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820.
    Vua Minh Mạng, cũng gọi là Minh Mệnh (1791 – 1841), tức Nguyễn Thánh Tổ, là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn, Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán, Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao, trong đó có việc ngăn chặn quyết liệt ảnh hưởng phương Tây đến Việt Nam.
    Vua Thiệu Trị (1807 – 1847) là vị Hoàng đế thứ ba của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1841 đến 1847. Ông có tên húy là Nguyễn Phúc Miên Tông, ngoài ra còn có tên là Nguyễn Phúc TuyềnDung. Ông là con trưởng của vua Minh Mạng và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa.
    Vua Tự Đức (1829 – 1883), là vị Hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm hay còn có tên Nguyễn Phúc Thì, là con trai thứ hai của vị hoàng đế thứ 3 triều Nguyễn, Thiệu Trị. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883. Trong thời gian trị vì của ông, nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp.
    Hiệp Hòa (1847 – 1883) là vị vua thứ sáu của vương triều nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Tên thật của ông là Nguyễn Phúc Hồng Dật, còn có tên là Nguyễn Phúc Thăng, là con thứ 29 và là con út của vua Thiệu Trị và bà Đoan Tần Trương Thị Thuận. Ông lên ngôi tháng 7/1883, nhưng bị phế truất và qua đời vào tháng 10 cùng năm.
    Kiến Phúc (1869 – 1884), tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, thường được gọi là Dưỡng Thiện, là vị vua thứ bảy của vương triều nhà Nguyễn. Ông là con thứ ba của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh, được vua Tự Đức chọn làm con nuôi. Kiến Phúc lên ngôi năm 1883, tại vị được 8 tháng thì qua đời khi mới 15 tuổi.
    Hàm Nghi (1871 – 1943) là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Nguyễn, là em trai của vua Kiến Phúc. Năm 1884, Hàm Nghi được đưa lên ngôi ở tuổi 13. Sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại năm 1885, Tôn Thất Thuyết đưa ông ra ngoài và phát hịch Cần Vương chống thực dân Pháp. Phong trào Cần Vương kéo dài đến năm 1888 thì Hàm Nghi bị bắt. Sau đó, ông bị đem an trí ở Alger (thủ đô xứ Algérie).

    Vua Đồng Khánh (1864 – 1889), miếu hiệu Nguyễn Cảnh Tông, là vị Hoàng đế thứ chín của nhà Nguyễn, tại vị từ năm 1885 đến 1889. Tên húy của nhà vua các tài liệu ghi khác nhau, nơi thì ghi là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, Nguyễn Phúc Ưng Thị, Nguyễn Phúc Ưng Biện, Nguyễn Phúc Chánh Mông, ngoài ra còn có tên Nguyễn Phúc Đường. Ông là con trưởng của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh, được vua Tự Đức nhận làm con nuôi năm 1865.
    Vua Thành Thái (1879 – 1954) là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Nguyễn, tại vị từ 1889 đến 1907. Tên húy của ông là Nguyễn Phúc Bửu Lân, còn có tên là Nguyễn Phúc Chiêu. Ông là con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Từ Minh Hoàng hậu (Phan Thị Điểu). Do chống Pháp nên ông bị đi đày tại ngoại quốc.
    Vua Duy Tân (1900 – 1945) là vị vua thứ 11 của nhà Nguyễn (ở ngôi từ 1907 tới 1916), sau vua Thành Thái. Khi vua cha bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông bất hợp tác với Pháp và bí mật liên lạc với các lãnh tụ khởi nghĩa Việt Nam. Vì lý do này, ông bị người Pháp đem an trí trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương.
    Vua Khải Định (1885 – 1925), hay Nguyễn Hoằng Tông là vị Hoàng đế thứ 12 nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ 1916 đến 1925. Ông có tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, còn có tên là Nguyễn Phúc Tuấn, con trưởng của vua Đồng Khánh và bà Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu Dương Thị Thục.

    Bảo Đại (1913 – 1997) là vị Hoàng đế thứ 13 và cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Tên húy của ông là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, còn có tên là Nguyễn Phúc Thiển , tục danh "mệ Vững" là con của vua Khải Định Từ Cung Hoàng thái hậu. Đúng ra "Bảo Đại" chỉ là niên hiệu nhà vua nhưng tục lệ vua nhà Nguyễn chỉ giữ một niên hiệu nên nay thường dùng như là tên nhà vua. 

    Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

    Người Tây thấy lạ về văn hóa cà phê Việt

    Update time 13:09 30/06/2013 (GMT+7)

    Ở Việt Nam, xã hội cà phê có vẻ như thuộc về nam giới...
     Thời gian nghỉ giải lao uống cà phê giữa giờ làm việc ở Việt Nam không bị quy định chặt chẽ. Những người đi làm có thể đi uống cà phê bất cứ lúc nào trong ngày, còn người thất nghiệp thì ngồi uống cà phê cả ngày.

    Việt Nam có một nền văn hóa cà phê rất khác với các nền văn hóa cà phê ở phương Tây.

    Cà phê ở đây dành cho việc thưởng thức một cách chậm rãi, tương tự như cách uống của người Pháp. Tuy nhiên, người Pháp uống cà phê trước khi ngày làm việc bắt đầu. Còn ở Việt Nam, người ta thường bỏ ra ít nhất nửa tiếng mỗi lần uống cà phê và họ có thể uống vào bất cứ lúc nào trong ngày.

    Ở trong các quán cà phê, tôi để ý thấy khách hàng hầu hết là đàn ông. Thời gian gọi cà phê, chờ cà phê ra rồi chờ cà phê nhỏ giọt phải mất ít nhất mười lăm phút.

    Trong khi đó, khách ngồi hút thuốc, đọc báo, suy tư, hoặc trò chuyện với nhau và tận hưởng thời gian rảnh rỗi. Khi ly cà phê đã sẵn sàng, họ nhâm nhi như người Scotland nhâm nhi rượu whiskey, rồi lại nói chuyện và hút thuốc.

    Khi tôi hỏi một người bạn những khách hàng trong quán cà phê là ai, cô ấy bảo đó là người đang làm việc. Có thể họ tự kinh doanh hoặc đi làm thuê, nhưng cái hay là họ có thể sắp xếp thời gian ngồi suy tư bên ly cà phê.

    Thời gian nghỉ giải lao uống cà phê giữa giờ làm việc ở Việt Nam không bị quy định chặt chẽ. Những người đi làm có thể đi uống cà phê bất cứ lúc nào trong ngày, còn người thất nghiệp thì ngồi uống cà phê cả ngày.

    Hiếm khi tôi thấy người dân ở đây gọi cà phê mang đi. Có lẽ chỉ có phụ nữ bận đến công sở ngay thì mới chọn cách uống này. Phụ nữ có vẻ cũng ít ngồi nhâm nhi cà phê trong quán. Hình như họ quá bận với công việc, hoặc với chuyện mua sắm gia đình.

    Thỉnh thoảng trong những quán cà phê sang trọng, tôi gặp những người phụ nữ ngồi thư thả uống nước. Nhưng có vẻ như họ không phải người đi làm, mà là những người dư dả tiền của lẫn thời gian.

    Ở Việt Nam, xã hội cà phê có vẻ như thuộc về nam giới. Ở các nước phương Tây, lúc uống cà phê không phải là thời gian dành cho việc quảng giao. Ly cà phê là một phương cách đem đến sự hăng say làm việc.

    Ở Ý, những người bạn tôi thường đứng uống nhanh một cốc espresso trước khi lao vào công việc. Họ không có nhiều thời gian để ngồi trò chuyện và nhâm nhi.

    Sau ly cà phê khởi động đầu ngày, người phương Tây sẽ tập trung làm việc đến khoảng 11 giờ. Sau đó, họ sẽ nghỉ giải lao để uống thêm chút trà hay cà phê cho tỉnh táo.

    Ở Mỹ, nhiều loại xe ôtô bố trí chỗ đặt ly cà phê vì người Mỹ thường có thói quen ghé xe lại một cửa hàng bên đường mua ly cà phê đặt trong xe rồi đi ngay. Không có thời gian ngồi thưởng thức cà phê trong quán, họ thường để ly cà phê của mình trong ôtô cho tiện. Thậm chí nhiều khi họ còn chẳng có thời gian để ăn sáng.

    Một phát minh người Mỹ quen sử dụng là máy pha cà phê. Máy này được cài chương trình và hoạt động ban đêm để cà phê luôn sẵn sàng vào buổi sáng. Cách này giúp người Mỹ tiết kiệm thời gian pha cà phê. Người uống có thể vừa cầm cốc cà phê vừa uống, vừa chạy ra cửa hoặc lái xe đến công sở.

    Tóm lại, ở các nước phương Tây, cà phê là chất xúc tác cho tinh thần làm việc. Còn ở Việt Nam, cà phê đi cùng với thú vui thư giãn với bạn bè. Có lẽ người phương Tây đặt cao năng suất lao động, còn ở một số quốc gia khác, mọi người lại đề cao sự thư giãn trong cuộc sống.

    Mặc dù cà phê ở Việt Nam thường đậm đặc hơn cà phê ở các nước phương Tây, nhưng người thưởng thức cà phê ở đây không hề có biểu hiện gì là sẽ hăng say lao ngay vào công việc ngay sau khi giọt cà phê đầu tiên ngấm vào cơ thể. Họ vẫn thích sự từ từ và thư giãn hơn.

    Theo RENATE HAEUSLER/Doanh nhân Sài Gòn
    Nguồn: http://kienthuc.net.vn/ta-tay/201306/Nguoi-Tay-thay-la-ve-van-hoa-ca-phe-Viet-913033/

    Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

    Bức phù điêu và tượng cổ trên vách núi

    Chủ nhật, 7/7/2013 08:45 GMT+7

    Vách núi cheo leo quanh đền Thượng (TP Thanh Hóa) được chạm khắc phù điêu và nhiều tượng đá kỳ lạ. Sau hàng trăm năm, bức phù điêu cổ ở khu di tích lịch sử cấp quốc gia này vẫn còn khá nguyên vẹn.

    1-JPG-1373094434_500x0.jpg
    Đền Thượng (hay còn gọi là chùa Hinh Sơn, chùa Tiên Sơn, chùa Quán Thánh...), nằm ở sườn phía đông núi An Hoạch (phường An Hoạch, TP Thanh Hóa).
    2-JPG-1373094434_500x0.jpg
    Ngôi đền nằm cheo leo giữa lưng chừng núi, lọt thỏm trong một vách đá rộng chừng 4m2. Tương truyền đền được Đô đốc Lê Trung Nghĩa (? - 1786) - viên quan sống dưới thời Lê Trung Hưng chỉ huy xây dựng khi ông làm quan Tổng trấn Thanh Hoa.
    3-JPG-1373094434_500x0.jpg
    Trên vách đá phía cửa tiền và cửa hậu của đền được chạm khắc rất nhiều tượng voi đá...
    4-JPG-1373094434_500x0.jpg
     ... ngựa đá và một số quan quản tượng hay giám mã.
    5-JPG-1373094434_500x0.jpg
    Đặc biệt, trong động có bức phù điêu rộng khoảng 2,5 mét, cao 1,5 mét khắc chân dung Quan Công, và nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng khác.
    6-JPG-1373094434_500x0.jpg
    Trải qua hàng trăm năm tồn tại với bao biến cố nhưng những nét chạm trổ trên bức phù điêu vẫn còn nguyên vẹn. Tượng thể hiện nghệ thuật chạm khắc điêu luyện, công phu của những thợ đá thời bấy giờ.
    7-JPG-1373094435_500x0.jpg
    Phía ngoài đỉnh động có bốn chữ Hán cổ “Thiên cổ Vĩ nhân”.
    8-JPG-1373094435_500x0.jpg
    Quanh đền còn có rất nhiều bài thơ, văn bia chữ Hán cổ chưa được giải mã.
    9-JPG-1373094435_500x0.jpg
    Trên một vách núi dựng đứng phía ngoài đền còn có một chữ “Thần” được khắc ở độ cao trên 30 mét.
    10-JPG-1373094435_500x0.jpg
    Ngay phía trên chữ Thần là một quả chuông đồng cổ. Các cụ cao niên quanh vùng cũng không biết nó được treo từ bao giờ và làm cách nào để có thể leo lên sườn núi dựng đứng treo quả chuông ấy.
    11-JPG-1373094435_500x0.jpg
    Chân dung Quận công Lê Trung Nghĩa với khuôn mặt quắc thước trong trang phục nhà binh cũng được tạc cạnh con đường lên đền.
    12-JPG-1373094435_500x0.jpg
    Ngoài ra, ở đây còn có nhiều tượng voi đá, ngựa đá, tượng phỗng... khá cổ.
    Ông Hà Huy Tâm, Trưởng phòng Văn hóa TP Thanh Hóa cho biết,
    đền Thượng nằm trong cụm di tích lịch sử núi An Hoạch, được công nhận
    di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992. “Những bức phù điêu và tượng đá
    ở đây vô cùng giá trị về mặt lịch sử và điêu khắc. Tuy nhiên, nhiều năm nay
    vấn đề bảo tồn đã bị bỏ ngỏ. Thành phố đang đẩy mạnh công tác quản lý,
    khẩn trương lập quy hoạch để xây dựng nơi đây thành khu du lịch trọng điểm
    trong thời gian tới”, ông Tâm nói.
    Lê Hoàng