Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2023

Dẫn vào Ca Khúc Tâm Linh của Thánh Gioan Thánh Giá

 


DẪN VÀO CA KHÚC TÂM LINH

-         Trích trong bài dẫn nhập của linh mục Lucien Marie de Saint Joseph viết cho bản dịch tiếng Pháp của linh mục Cyprien de la Nativité de la Vierge từ tác phẩm “CA KHÚC TÂM LINH” của Thánh Gioan Thánh Giá. 

(...)

Trước những tai họa khác thường, phải cần đến những phương dược anh hùng. Hơn cả sự mê thích vô độ những khoái lạc khả giác của con người thời nay, phải kể đến cái quan niệm đáng ghe sợ này về cuộc sống, đó là người ta tôn sùng vật chất, tôn sùng cuộc sống, tôn sùng khoái lạc thể lý bằng sự xác tín sâu xa của một niềm tin gắn bó. Người ta đã tạo ra những thần thoại còn đòi hỏi gay gắt hơn cả vị Thiên Chúa mà họ muốn dùng những thứ ấy để khử trừ. Chủ nghĩa hưởng thụ có thể đạt tới một cấp độ mãnh liệt đến nỗi trờ thành một thứ tôn giáo. Hầu như có thể nói rằng thứ chủ nghĩa hưởng thụ mà chúng ta nhìn thấy quanh chúng ta bao hàm nơi nó một thứ linh đạo. Tính kiêu ngạo, hưởng thụ hoặc sự tiến bộ bất định của chủ nghĩa máy móc hoặc của khoa học thuần tuý thực nghiêm đã có được những tín đồ, nghi thức, lễ bái. Chẳng những không hề xấu hổ, người ta còn vênh vang về những gì được họ tán dương như là một thứ tuyệt đối. Xin hãy nghĩ đến hai câu nói đáng sợ trong Tin Mừng: “Liệu chừng khi Con Người trở lại, Ngài sẽ vẫn còn tìm thấy niềm tin trên trái đất nữa không” (Lc 18,8) và câu “Vì sự ác ứa đầy, lòng mến của nhiều người sẽ bị nguội mất” (Mt 24,12).

Trước tình trạng ấy, chỉ có một thứ duy linh mãnh liệt, một đức tin được sống đến tận cùng, một tình yêu được thể hiện cho đến mức người ta phải biến đổi thì mới có thể đương đầu nổi. Ca Khúc Tâm Linh xem ra như một kháng thể của Thiên Chúa quan phòng giúp chúng ta điều trị những tai ương dữ dội đang làm chúng ta giãy chết. Nếu thế giới Kitô giáo không còn biết nuôi dưỡng mình bằng những thực tại siêu nhiên có những vẻ huy hoàng họ hằng ca ngợi thì thử hỏi còn gì có thể đương đầu nổi với sức mạnh lạ lùng của chủ nghĩa duy vật đang được nâng lên thành một thứ sùng bái liêng thiêng?

Chỉ động lực của tình yêu mới chế ngự được động lực của vật chất. Nếu động lực tình yêu không chế ngự được động lực của vật chất - vì các Kitô hữu hoài nghi lý tưởng của mình hoặc không có can đảm thực hiện lý tưởng ấy - thì chỉ có Thiên Chúa mới biết nhân loại đang lao xuống tới những vực thẳm nào!

Trên con đường này, cầu mong các môn đệ của vị thánh đã từng hát bài ca trong Ca Khúc Tâm Linh và từng viết ra lời bình giải cho Ca khúc ấy, đủ sức anh hùng để leo cao. Và tình yêu mạnh như sự chết, sẽ chiến thắng sự chết. 

Viết cạnh Tu viện Mont Saint Michel Tháng 8 năm 1945

LUCIEN MARIE DE SAINT JOSEPH

 

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2023

Chữ quốc-ngữ và chữ nôm Tự-vị Taberd và di-sản văn-hóa Việt-Nam



Đối với những ai có lòng tha-thiết với văn-hóa dân-tộc, thì cuốn tự-vị Việt-La-tinh do giám-mục Taberd biên soạn và cho in bên Ấn-độ năm 1838, thực là một tài-liệu không thể bỏ qua, vì nó đánh dấu một chặng đường quan-trọng trong lịch-sử hình-thành của nền quốc-học Việt-Nam. Quan-trọng là vì đây là lần đầu tiên chữ quốc-ngữ được đối chiếu với chữ nôm trong một cuốn tự-vị được in ra. Các tự-vị chữ nôm được biên soạn và ấn-hành sau này đều lấy lại cái sáng-kiến đó một như là một việc rất tự-nhiên.


Có lẽ đôi khi, vì nhiều lý-do, người ta ngần-ngại không muốn nhìn nhận tác-phẩm đó là một tài-liệu có tầm-cỡ quan-trọng. Một lý-do chính, có lẽ là vì lẽ nó do một người ngoại-quốc biên-soạn, cho in ở ngoại-quốc, và hơn nữa lại viết bằng tiếng La-tinh. Cũng dễ hiểu: vào thời buổi này, muốn học được khoa-học và kỹ-thuật, muốn hiểu được chính-trị và kinh-tế trong thế-giới, thì cần phải am tường sinh-ngữ. Cho nên ở Việt-Nam chúng ta không thiếu các thứ tự-vị Anh, Pháp, Tàu, Nhật, v.v.. Chứ ngoài một thiểu số người công-giáo, vì lý-do tôn-giáo, thì hỏi có ai nghĩ đến việc học một cổ-ngữ như tiếng la-tinh, không có liên quan gì đến văn-học Việt-Nam? Một lý-do khác nữa có lẽ là lòng tự-ái.

Nhưng trái lại, cũng chính vì lòng tự-ái dân-tộc, mà tôi trộm nghĩ tự-vị Taberd là một công-trình quan trọng, đáng được chú-ý. Thực vậy, người Việt ta ý-thức rằng mình có một nền văn-hóa riêng, nhiều khi còn bạo-dạn tuyên-bố mình có bốn nghìn năm văn-hiến, nghĩa là không thua gì người Tàu. Nhưng cái ý-thức đó dù sao cũng còn là chủ-quan: chắc gì là người Tàu đã chịu nhận như thế? Ta biết họ từ xưa vẫn đã có ý-định đồng-hóa, làm cho người Việt thành ra người Tàu. Lần cuối cùng khi họ đô-hộ nước ta, vào thời nhà Hồ, thì quan lại nhà Minh đã tìm cách thu lấy cho hết các sách vở của người Việt, kể cả sách viết bằng chữ Hán. Kho tàng văn-hóa của ta cũng vì thế mà mất-mát đi khá nhiều. Đàng này khác: các giáo-sĩ Tây-phương sang truyền-giáo đã công-nhận và tôn-trọng văn-hóa riêng của ta. Như thế thiết-tưởng không phải là vì ta cũng dùng chữ Hán, cũng có tam-giáo như người Tàu, nhưng chắc-chắn là vì ta có tiếng nói riêng và chữ viết riêng, tức là chữ nôm. Tôi dám chắc rằng nếu trên đất Việt-Nam xưa kia không có chữ nôm, mà chỉ có chữ Hán, thì dĩ-nhiên là người Tây-phương hẳn đã cho rằng người Việt cũng chẳng khác gì người Tàu. Chính vì chưa hiểu rõ như thế cho nên khi đức giáo-tông Alexandre VII gửi tông-huấn cho các giám-mục ở Đàng Ngoài và Đàng Trong thì đã đề cho nó cái tên nghe thật lạ tai: Tông-huấn chỉ đạo cho các vị đại-diện giáo-tông-tòa đang lên đường sang các quốc-gia của người Tàu ở Đàng Ngoài và Đàng Trong (1659)!

Trước hết, ngay từ thế-kỷ XVII, các giáo-sĩ Tây-phương sang Việt-Nam truyền giáo, đã ra công quan-sát phong-tục tập-quán, đồng thời học tiếng nói và chữ viết của ta, để dễ bề chia-sẻ niềm tin của họ với người mình. Họ rất có thiện-cảm với người Việt, và đã viết ra nhiều lời ca-tụng văn-hóa và ngôn-ngữ của chúng ta. Ngay trong đầu thế-kỷ XVII, giáo-sĩ Girolamo Maiorica là người Ý (Italia) đã soạn ra hàng chục cuốn sách đạo bằng chữ nôm. Sau đó giáo-sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc- Lộ) quê ở Avignon (nay thuộc về nước Pháp) đã cho in tại Roma năm 1651 sách giáo-lý bằng chữ quốc-ngữ Việt-Nam và tiếng La-tinh, sách về ngữ-học Việt-Nam bằng tiếng La-tinh và tự-vi Việt-Bồ-đào-nha-La-tinh. Những người đã xướng-xuất ra các công-trình ấy vốn là những người có học-thức, có đầu óc cởi mở, và đã ra công học hỏi được nhiều, nhưng ta không nên quên rằng các vị ấy đã học với người Việt mình. Những người Việt này thường là những thầy giảng đi theo cộng-tác trong việc truyền-giáo. Họ cũng là những người biết chữ thánh-hiền, biết sử-dụng chữ nôm, và hiểu biết phong-tục tập-quán nước ta. Cho nên tuy rằng trong các công-trình ấy không nhắc đến tên tuổi của họ, nhưng ta cũng chắc được rằng những người công-giáo Việt-Nam ấy đã đóng góp vào đó, nếu không phải là về phương pháp thì cũng là về phần tài liệu, một phần không phải là nhỏ. Cho nên khi làm những công-việc đó với người ngoại quốc, họ lại càng ý-thức được cái gì thuộc về văn-hóa nước nhà.

Còn về việc viết bằng tiếng La-tinh, thì ta cũng nên biết rằng vào mươi thế-kỷ trước đây, tiếng La-tinh là ngôn-ngữ dùng trong giáo-hội công-giáo, đồng thời cũng là ngôn ngữ của giới học-giả Âu-châu (cũng như chữ Hán trong miền đông châu Á), Xin đan-cử một ví-dụ: Các triết-gia như Hegel, Feuerbach đều viết luận-văn tiến-sĩ triết-học bằng tiếng La-tinh, còn Karl Marx thì tuy viết luận-văn bằng tiếng Đức nhưng đã tham khảo sách vở bằng tiếng La-tinh và tiếng Hi-lạp. Các giáo-sĩ, cũng như các học-giả thời đó, ngoài tiếng nói nước mình còn biết tiếng La-tinh nữa. Cho nên khi viết sách và tự-vị bằng tiếng La-tinh, không phải chỉ là để cho người công-giáo, mà còn là để cho giới học-giả Âu-châu học biết ngôn-ngữ và văn-hóa Việt-Nam nữa. Có một điều mà có lẽ chưa ai để ý, là những người như Alexandre de Rhodes, Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá-Đa-Lộc) hay Jean-Louis Taberd, là những người nói tiếng Pháp, đều đã soạn tự-vị Việt-La-tinh, chứ không soạn tự-vị Việt-Pháp. Lý-do thật là đơn-giản: họ là người đi giảng đạo Thiên-Chúa, đi chia-sẻ niềm tin công-giáo, chứ không phải là người đi truyền-bá văn-hóa, chính-trị và học-thuật nước Pháp. Về sau này, khi người Pháp can-thiệp vào Việt-Nam và đặt nền thống-trị của họ trên đất nước ta, thì lúc đó mới thấy xuất-hiện nhiều tự-vị Việt-Pháp và Pháp-Việt.

Nếu ta bỏ hẳn phần tiếng La-tinh ra, thì tự-vị Taberd cũng vẫn còn là quan trọng, vì lẽ trong tự-vị vừa dùng chữ quốc-ngữ, vừa dùng chữ nôm. Chữ quốc-ngữ thì ghi được một cách khá chính xác cách phát-âm, còn chữ nôm thì tuy không ghi được cách phát âm, nhưng cũng là kết tinh của mấy thế kỷ ông cha chúng ta cố gắng để tự-lập về văn-hóa đối với người Hán-tộc. Như vừa nói trên đây, các tự-vị chữ nôm ngày nay của ta cũng dùng hai thứ chữ viết như thế.

Chính vì ở phần dẫn-nhập và phần chỉ-dẫn trong Tự-vị, soạn-giả đã viết tới hơn bốn mươi trang lớn bằng tiếng La-tinh, là một cổ-ngữ mà ngày nay cả bên Âu-châu cũng ít người đọc được, cho nên thiết-tưởng cũng cần phải giải-thích tóm tắt nội-dung của các phần đó.

Sau đây xin có mấy lời về: 1- Thân thế và sự-nghiệp của soạn-giả ; 2- Nội-dung cuốn tự-vị ; 3- Tự-vị và nền quốc-học ; 4- Vấn-đề quốc-ngữ.

1- Thân-thế và sự-nghiệp của soạn-giả

Jean-Baptiste Louis TABERD (tên Việt là Từ) sinh tại Saint-Étienne, quận Loire (Pháp) ngày 18-6-1794, gia-nhập Hội Truyền-Giáo Nước Ngoài, trụ-sở tại Paris (Société des Missions Étrangères de Paris), thụ phong linh-mục ngày 27-7-1817. Ngày 7-11-1820, rời Pháp, trên tàu Maison Saget, sang Việt-Nam truyền giáo. Vào những năm 1825, 1827, theo lệnh vua Minh-Mạng, các giáo-sĩ người Pháp bị đưa về Dinh Cung-Quán ở Huế quản-thúc, trong số này có linh-mục Taberd ; nhưng nhờ tổng-trấn Lê Văn Duyệt can-thiệp, nên linh-mục được tự-do lui về Saigon. Ngày 30-5-1830, tại Bangkok linh-mục Taberd được tấn-phong làm giám-mục, với hiệu tòa Isauropolis, và được lãnh trách-nhiệm coi sóc địa-phận Đàng Trong, nhưng vì hoàn-cảnh khó-khăn nên chỉ ở miền nam chứ không ra ngoài Huế được.

Giám-mục Taberd đang ở Thị-Nghè, thì lại bị vua Minh-Mạng ra dụ ngày 6-1-1833, triệu về Huế trình diện, nên cùng với ba giáo-sĩ Pháp và mười lăm chủng-sinh ở Lái-Thiêu trốn ra khỏi Thị-Nghè, qua ngả Châu-Đốc, Hà-Tiên, Campuchia, tới Chanthaburi ngày 21-3, rồi tới Bangkok sau hơn một tháng trời. Hành trình hết sức mệt nhọc.

Tại Bangkok nhà vua nước Xiêm (Thái-lan) muốn lợi-dụng và lôi-cuốn giám-mục về phía nước Xiêm để chống lại Việt-Nam, nhưng bị từ chối. Để khỏi vướng mắc về chính-trị, mùa hè năm 1834, giám-mục trốn xuống Penang, Singapore, rồi sang xứ Bengale bên Ấn-độ. Nhận thấy không thể trở lại Việt-Nam được, nên giám-mục Taberd đã xin Tòa Thánh bổ-nhiệm phó giám-mục ở Đàng Trong, để làm việc thay cho mình. Vì thế năm 1835, linh-mục Étienne Théodore Cuénot (tên Việt là Thể) được cử vào chức-vụ này. Năm 1838 giám-mục Taberd xin từ chức giám-mục Đàng Trong, và được cử làm giám-mục ở xứ Bengale. Cũng năm ấy ngài cho xuất-bản tại nhà in J. C. Marshman ở Serampore cuốn Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị - Dictionarium Anamitico-Latinum. Ngài mất tại Calcutta ngày 31-7-1840.

Cuốn tự-vị này được hoàn-thành, ít nhất đã có sự cộng tác của chủng-sinh Philiphê Phan Văn Minh, vì khi ông này còn đang học tại đại chủng-viện Penang, đã được giám-mục Taberd mời sang Calcutta để cộng-tác vào việc biên-soạn. Sau này Phan Văn Minh đã được thụ-phong linh-mục. Thực ra các soạn-giả đã dùng làm căn-bản bổ-sung khá rộng cuốn tự-vị chép tay Dictionarium anamitico-Latinum của giám-mục Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc) đã soạn vào những năm 1772-1773, nhưng chưa soạn xong hẳn.

Ngoài cuốn tự-vị nổi tiếng đó, giám-mục Taberd còn cho xuất-bản:
  • Tabula geographica imperii annamitici, Bengale, 1838.
  • Documenta rectae rationis, Pondichéry, 1838 (Sách này dùng vào việc huấn-luyện các chủng-sinh Việt-Nam và Trung-hoa. Sách được tái-bản lần thứ ba tại Hương-cảng năm 1914).
  • Giáo-lý Đàng Trong, 1838. (Theo soạn-giả Trương Bá Cần dẫn chiếu cuốn Bibliotheca Missionum. Xin coi: Công giáo Đàng Trong thời giám-mục Pigneau, Tủ sách Đại Kết, 1992, trang 40).
2- Nội-dung cuốn tự-vị

2-1- Phần dẫn-nhập và chỉ-dẫn


Đáng chú ý là phần dẫn-nhập và chỉ-dẫn, vì nó cho ta biết thêm về nguồn gốc cuốn tự-vị, lại cho ta thấy soạn-giả đã có hiểu biết nhiều về văn-học Việt-Nam, đồng thời cũng muốn thông những cái biết ấy cho người khác. Trong phần này số trang được ghi theo kiểu viết số Rô-ma. Trong số 46 trang thì trừ 8 trang viết bằng chữ quốc-ngữ ra, các trang khác đều viết bằng tiếng La-tinh cả.

Ngay trong phần dẫn-nhập (tr. I-II), soạn-giả cho biết cuốn tự-vị đã được khởi-công do giám-mục Bá-Đa-Lộc, tức Pierre Pigneaux de Béhaine, là người thạo tiếng Đàng Trong. Ta biết vị này còn thạo cả chữ Hán nữa, và còn soạn một cuốn tự-vị Hán-Việt-La-tinh, hơn 900 trang, được tàng-trữ trong văn-khố Hội Truyền-giáo Nước Ngoài tại Paris, và cũng mới do hội này rọi ảnh cho in ra vào cuối năm 2001[1], và cuốn Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ (bản chữ nôm có bài tựa bằng chữ Hán, đã được in tại Quảng-đông [2] năm 1774, bản chữ quốc ngữ mẫu-tự La-tinh thì còn trong văn-khố nói trên). Qua bao nhiêu cuộc binh-đao, sau vụ nhà trường đào-tạo chủng sinh Việt-Nam ở Cà-mau bị đốt cháy năm 1778, bản chép tay đã được cứu thoát và đem sang Bengale rồi được tu-bổ và ấn-hành,

Mục-đích của người làm tự-vị này là để giúp cho những người muốn học tiếng Việt, như các nhà truyền-giáo ở Việt-Nam, các thương-gia, các khách du-lịch, các học-sinh Việt-Nam và các học-giả muốn tìm hiểu về văn-chương Việt-Nam.

Nhận xét thứ nhất của soạn-giả là ngôn ngữ nước ta do ngôn-ngữ Trung-hoa mà ra. Lý do là vì cách viết rất giống chữ Hán: một phần thì lấy lại đúng chữ Hán, một phần thì lấy từ chữ Hán mà chế-biến ra. Vì có những cái thay đổi như thế, cho nên người Tàu đọc chữ Việt (chữ nôm) không ra, mà người Việt nói thì họ không hiểu được. Tuy nhiên, soạn giả viết tiếp, chữ Hán được dùng bên Việt-Nam trong các bộ luật và trong các đơn-từ, ai muốn được bổ làm quan thì phải học chữ Hán. Vì thế họ có thể bút-đàm được với người Tàu. Nói tóm lại là người Việt dùng hai thứ ngôn-tự: tiếng nói hằng ngày của người dân và chữ Hán dùng trong giới nhà nho. Soạn-giả đưa ra nhiều ví-dụ để giải thích người Việt dùng chữ Hán, có lúc đổi hẳn nghĩa, có lúc thì đọc trại đi thành ra dăm ba từ ngữ khác. Như thế quả là soạn-giả đã khá hiểu tình trạng tiếng Việt.

Sau những nhận-xét chung, thì trình-bầy tiếng Việt. Bắt đầu là giảng về âm-học, thanh-học và văn-phạm Việt-Nam. Soạn-giả viết thật tỉ-mỉ về các chính-âm, các phụ-âm đầu và phụ-âm cuối, và về cả sáu thanh như tiếng Đàng Ngoài (tr.III-IX). Có điều đáng chú ý là soạn-giả có kể ra hai phụ-âm đầu là bl và ml, trước đây vẫn dùng cho đến đầu thế-kỷ XIX, nhưng trong chính tự-vị thì không dùng đến nữa, mà thay bằng hai phụ-âm tr và l. Còn về văn-phạm thì viết vắn tắt (trang IX-XII) và viết các phần đoạn theo như văn-phạm Âu-châu. Nhưng bù vào đó thì lại có hơn hai chục trang (XIII-XXXIX) về các phụ-từ đặc biệt Việt-Nam, dùng để viết cho câu văn thêm đẹp, hay nói cho đúng ra là để viết cho ra tiếng Việt.

Sau cùng thì có 8 trang (XXXIX-XLVI) dậy rất tỉ-mỉ về cách làm thơ: thơ lục bát, thơ Đường thất ngôn bát cú, thơ ngũ ngôn, và về cách làm phú và làm văn tế, với các câu đối, biền ngẫu đúng phép. Những trang này thì viết bằng tiếng Việt, vì thực ra nếu không thông thạo tiếng Việt thì khó mà lãnh hội được. Tất cả đều có những bài mẫu được dịch ra tiếng La-tinh. Độc-giả có thể căn-cứ vào đó mà hiểu được những cái đặc-sắc tế-nhị của tiếng Việt.

2-2- Phần chính

Phần chính của cuốn tự-vị gồm 620 trang, mỗi trang chia ra làm 2 cột. Các chữ trong tự-vị được xếp theo thứ-tự A, B, C của mẫu-tự La-tinh, nhưng mỗi từ-ngữ đều được viết bằng chữ nôm trước, viết theo mẫu-tự La-tinh sau, rồi dịch nghĩa ra tiếng La-tinh. Tiếp sau đó thì chua thêm những kiểu nói bắt đầu bằng chữ đó. Cũng nên chú ý rằng các sách nôm của người công-giáo Việt-Nam trong gần bốn thế-kỷ, đều gọi chữ nôm là quốc-ngữ, để phân biệt nó với chữ Hán là chữ viết của người Tàu. Gần đây chúng ta mới gọi chữ viết theo mẫu-tự La-tinh là chữ quốc-ngữ.

Cứ theo lý mà xét, thì tự-vị này phải nặng về tiếng Đàng Trong, vì cả hai giám-mục Pigneau (Bá-Đa-Lộc) và Taberd đều đã hoạt-động ở Đàng Trong, và hơn nữa, cuốn Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ (1774) viết theo mẫu-tự La-tinh của giám-mục Bá-Đa-Lộc cũng viết theo tiếng Đàng Trong, ví-dụ: nhơn, chứ không viết nhân. Tuy vậy tiếng Đàng Ngoài cũng xuất-hiện khá nhiều trong tự-vị đó, ví-dụ: được thay vì đặng, vào thay vì vô. Cho nên có thể đoán rằng có người Đàng Ngoài cộng tác vào đó.

Ai muốn tra tự-vị theo kiểu Tàu, nghĩa là theo thứ-tự các bộ chữ và theo số nét viết, thì có thể tìm trong những trang 661-712. Đặc biệt nhất là trong những trang 713-719 có một bảng để chỉ cho biết những chữ Hán gồm nhiều bộ phức tạp thì phải tìm theo bộ nào.

Ngoài những từ-ngữ thông thường trong những trang trên đây, lại có 40 trang (621-660) dành cho những từ-ngữ chuyên-môn về thực-vật-học, về cây-cối, hoa quả, rau cỏ ở Đàng Trong (Hortus floridus Cocincinae). Như ta biết, phép phân-loại, dùng trong thực-vật-học, và sau này dùng trong động-vật-học, đã được định-hình do Carl von Linné (1707-1778), đặt tiêu- chuẩn khoa-học để thống-nhất cách chia loại trên loại dưới, chia hạng trên hạng dưới, đồng thời dùng tiếng La-tinh, chứ không dùng từ-ngữ thường-nhật của học-giả các nước khác nhau, để thống-nhất cách gọi tên các loại thảo-mộc. Cho nên chỉ có người am-tường khoa thực-vật-học mới biết nhiều tên bằng tiếng La-tinh như thế. Đây là một truyện tình-cờ: năm 1972 tôi có đưa một cây rau răm cho một giáo-sư đồng-nghiệp, người Bỉ, dạy thực-vật-học ở đại-học Kinshasa (Congo), nhờ xếp loại và gọi tên khoa-học ; sau khi khám nghiệm, ông ta xếp nó vào loại polygonaceae, và gọi tên nó là polygonum (verisimile) odoratum Loureiro ; bây giờ tra tự-vị Taberd, xuất-bản năm 1838, tôi thấy đã gọi tên nó là Polygonum odoratum. Thế mới biết soạn-giả không phải là những người vô-học. Thiết tưởng các nhà thực-vật-học nước ta cũng nên so sánh cách gọi tên thảo-mộc bên ta và tên các vị thuốc bắc trong tự-vị đó với các tên dùng trong khoa-học ngày nay xem sao.

Sau cùng còn một phần phụ-lục dành cho những từ-ngữ Hán-Việt (chữ Hán đọc theo dọng Việt), vừa xếp theo thứ-tự của mẫu-tự La-tinh (trang 1-107), vừa xếp theo bộ chữ Hán (trang 108-126). Các trang, như ta thấy, được ghi lại từ 1 đến 126, như là một cuốn sách mới.

Như thế cũng đủ thấy là tự-vị Taberd thật là tiện lợi: tra cứu theo chữ Hán, chữ Nôm hay chữ quốc-ngữ đều được dễ-dàng cả. Dĩ nhiên việc biên soạn này là một công trình rất có phương-pháp, và tốn nhiều công phu. Nếu không tha thiết với tiếng Việt, với chữ nôm, thì chắc không ai làm. Và hơn nữa, nếu không có nhiều người cùng làm chung thì không ai một mình mà làm nổi.

3- Tự-vị và nền quốc-học

3-1- Vấn-đề quốc-học.


Xét cho cùng thì có lẽ nền quốc-học của người Việt đã không phát-triển theo cùng một nhịp với truyền-thống quốc-gia và ý-thức dân-tộc.

Thực vậy, từ mấy nghìn năm nay, tổ-tiên người Việt đã có công-lao lập nên truyền-thống quốc-gia và gây-dựng ý-thức dân-tộc. Truyền-thống và ý-thức ấy thường đi đôi với nhau trong mối tình liên-đới và ý muốn đùm-bọc lấy nhau của người mình: “bầu ơi thương lấy bí cùng ...’’. Thứ nhất là cùng nhau tranh-đấu với người ngoại-bang để dành lấy cho mình một lãnh-thổ làm đất sống. Thứ hai là thâu góp kỷ-niệm về những người đã có công bảo-vệ và bành-trướng non sông, rồi viết thành quốc-sử, có tính-cách thống-nhất và liên-tục trong thời-gian. Ba là nhìn nhận là của mình tất cả những gì có liên-quan đến môi-trường sinh-hoạt, như đất-đai, sông núi, thổ-sản, thành-quách, đền chùa, thần-linh và các nhân-vật có tiếng: cái ý-định ấy đưa tới việc biên-soạn những sách như Đại Nam Nhất Thống Chí, v.v. Bốn là nhận-định về lối tổ-chức đời sống chung, như hành-chính, tư-pháp, điển-lễ, phong-tục. Về điểm này ta không thiếu gì sách vở. Thiết tưởng ở đây cũng nên kể thêm cách-thức phân-phối ruộng đất và tài sản trong nước. Về thời trước thì có tất cả chừng 16.000 quyển địa-bạ mà học-giả Nguyễn Đình Đầu đang phiên-dịch, chú giải và đã bắt đầu cho xuất-bản. Xem vào đó ta thấy xưa kia ruộng đất đã được phân-loại và phân-phối như thế nào. Ngày nay cách-thức phân-phối tài-sản giữa các công-dân cũng lại là một tiêu-chuẩn để đánh giá mức-độ liên-đới giữa người trong một nước với nhau.

Nhìn vào quá-khứ, ai cũng phải nhận rằng người Việt quả thật là đã sớm có truyền-thống quốc-gia và ý-thức dân-tộc. Nhưng có một điều làm cho nhiều người thắc-mắc và bàn cãi, đó là cái nội-dung của văn-hóa dân-tộc, đó là câu hỏi: quốc-học là cái gì? bốn nghìn năm văn-hiến là thế nào?

Thực thế, sau khi tách rời ra khỏi đế-quốc Trung-hoa và định vị-trí mình ở phương nam, người Việt vẫn tiếp-tục dùng chữ Hán trong sách vở về đủ mọi ngành: hành-chính, tư-pháp, quốc-sử, địa-dư, điển-lễ, tế-tự. Ví-dụ, khi Phật-giáo truyền vào nước Tàu, thì kinh-điển, lễ-nghi đều chuyển sang chữ Hán cả ; trái lại, khi truyền vào Việt-Nam, thì không những Khổng-giáo, Đạo-giáo, mà cả Phật-giáo, trong suốt mươi mười lăm thế-kỷ, vẫn giữ kinh-điển và lễ-nghi bằng chữ Hán, mà không ai lấy làm lạ, tuy ai cũng biết rằng đọc lên thì người dân không hiểu. Mãi gần đây người ta mới bắt đầu phiên dịch và chú-giải bằng tiếng Việt. Thậm chí khi viết về những sự-kiện riêng của dân Việt, người ta cũng viết bằng chữ Hán và coi đó là lẽ đương-nhiên, ví-dụ như:Việt Điện U Linh Tập, Lĩnh Nam Chích Quái, v.v. Rồi chính cái ý-thức dân-tộc được Lý Thường Kiệt đưa ra chọi với quân nhà Tống, hình như cũng được tuyên-bố bằng chữ Hán: Nam quốc sơn hà nam đế cư ... Chẳng lẽ văn-hóa người Việt tất cả chỉ là học lại của người Tàu? tất cả đều phải nói lên bằng tiếng Tàu mới được?

3-2-Vấn-đề chữ nôm

Chắc hẳn là vì đã ý-thức được cái thiếu sót ấy cho nên trong nước độc lập thời nhà Trần, hay có lẽ còn sớm hơn nữa, đã có những nhà Nho nghĩ đến việc chế-biến chữ Hán để viết ra tiếng nói của người dân Việt: chữ nôm bắt đầu thành hình, và ngay thời đó đã có những văn-kiện như bài văn-tế cá sấu: “Ngạc-ngư kia hỡi mày có hay...’’. Theo như sử-gia Ngô Sĩ Liên thì người ta bắt đầu làm thơ phú bằng tiếng Việt vào khoảng đầu thế-kỷ XIV. Văn chương chữ nôm không phải là không phong-phú, nhưng các nhà Nho vẫn tiếp-tục làm thơ văn bằng chữ Hán, nhà cầm quyền vẫn ra sắc-lệnh cai-trị dân bằng chữ Hán, viết quốc-sử bằng chữ Hán.

Thực ra ta khó tưởng-tượng ra cái khó khăn của ông cha ta khi đi tìm chữ viết cho dân-tộc. Cũng như người Nhật và người Cao-ly, người Việt dùng rất nhiều từ-ngữ Trung-hoa trong ngôn-ngữ của mình, có lẽ cũng tới ít là 50%, cho nên khó mà bỏ chữ Hán với lối viết tượng-hình đã quen. Tôi không rõ vì sao trong khi tìm chữ viết cho dân-tộc, người Nhật-bản và người Cao-ly đã căn-cứ vào các nét chữ Hán mà sáng chế ra lối viết theo như cách đọc, hoặc là viết thành vần, hoặc là viết thành âm, vừa đơn-giản, vừa đọc lên ngay được. Chính vì không có sáng-kiến như thế cho nên chữ nôm của ta vừa quá lệ-thuộc vào chữ Hán, lại vừa phiền phức hơn chữ Hán. Đã thế, khi dùng chữ Hán, có lúc lấy đúng nghĩa chữ, có lúc chỉ lấy cách đọc nhưng lại hiểu theo nghĩa khác, có lúc lại đọc trại ra làm dăm ba kiểu và hiểu ra dăm ba nghĩa. Giám-mục Taberd trong phần chỉ-dẫn cũng xác-nhận sự-kiện ấy, và có đưa ra ví-dụ chữ lận nghĩa là sẻn-so, mà ta có thể tùy câu văn mà đọc thêm ra nữa là lần, lấn, lẩn, lẫn! Cho nên người ta có đọc “lẫn’’ chữ nôm, thì cũng không có gì là khó hiểu.

Đứng trong hoàn-cảnh như thế, có những nhà Nho cho rằng “nôm na là cha mách-qué’’. Xét một cách khách-quan, thì cách thức dùng và biến-đổi chữ Hán của người Việt, cũng không hơn không kém gì cách-thức của người Nhật, vì nhiều khi một chữ Hán mà họ đọc ra dăm ba kiểu tùy câu văn, lại đọc ra làm nhiều vần nữa. Chính vì những lý-do đó mà chữ viết của người Nhật và chữ nôm của ta rất khó học, khó hơn cả chữ Hán, Cho nên không dễ gì mà ấn-định cách viết chữ nôm cho có thống nhất, lại vì một lẽ nữa, là người viết chữ nôm thường căn cứ theo tiếng nói địa-phương của mình mà sáng chế (Xin xem Bảng tra chữ nôm thế kỷ 17, Chữ nôm sau thế-kỷ 17 và Bảng tra chữ nôm miền Nam của học giả Vũ Văn Kính). Nay ta dễ hiểu vì sao trong lúc người Tàu có tự-vị Khang-Hi, thì người Việt chưa làm ra được tự-vị chữ nôm, và có lẽ cũng ít người nghĩ đến việc vun-trồng cho tiếng Việt. Cụ Nguyễn Du viết truyện Kiều cũng nói khiêm tốn là để mua vui một vài trống canh mà thôi. Hơn nữa, sau này khi chữ quốc-ngữ được dùng thay chữ nôm thì xem chừng cũng ít ai thương tiếc nó.

3-3-Tự-vị tiếng Việt

Khi các giáo-sĩ Âu-châu vào Việt-Nam truyền giáo, thì họ có đem theo một số sách giáo-lý đã soạn bằng Hán-văn ở Trung-Quốc để cho các nho sĩ đọc. Nhưng họ đã học tiếng Việt để giảng đạo thẳng bằng tiếng Việt cho dân chúng. Có lẽ vì thế mà giới nho-sĩ cho rằng đó là tả-đạo, giảng cho “ngu phu ngu phụ’’. Chữ nôm khó học, thì họ chịu khó học, chứ không dám coi thường, càng không dám cho là mách-qué, như các nho-sĩ chỉ biết chịu phục có người Tàu. Họ thực biết tôn-trọng vốn liếng chữ nôm của ta cũng như họ đề cao kho tàng Hòa-văn (chữ viết của người Nhật). Khi viết sách vở cho người Việt về những điều rất tôn-nghiêm như tôn-giáo, họ đã dùng ngay chữ nôm (như trong các tác-phẩm của Girolamo Maiorica), và người công-giáo tiếp-tục viết, in và dùng sách chữ nôm cho đến giữa thế kỷ XX. Tuy vậy họ cũng tìm cách viết tiếng Việt theo mẫu-tự La-tinh để cho người Âu-châu học tiếng Việt cho dễ. Thứ chữ viết ấy được khánh-thành trong sách Phép giảng tám ngày của A. de Rhodes cho in tại Roma năm 1651. Chính vì ý-thức được rằng ngôn-ngữ là kho-tàng quí-báu của văn-hóa dân Việt, và cũng chính vì muốn dùng tiếng Việt cho đúng nghĩa, cho đúng văn-pháp, cho nên ngay từ thế-kỷ XVII, từ A. de Rhodes trở đi, nhiều giáo-sĩ Âu-châu đã ra công làm tự-vị và viết về ngữ-học Việt-Nam.

Làm tự-vị tức là làm sổ tất cả các từ-ngữ được dùng trong một dân-tộc. Người ta thường căn-cứ vào sách vở của các nhà văn, căn-cứ vào cách ăn nói của người dân, để xác-định các ý-nghĩa khác nhau của từng từ-ngữ. Muốn cho tự-vị thành ra hữu-dụng, thì sau công việc thu-thập tài-liệu như thế, phải tìm ra cách-thức xếp đặt các từ-ngữ cho có thứ-tự, để ai nấy biết cách tra cứu. Các tự-vị do các giáo-sĩ Âu-châu biên soạn đều được xếp đặt theo thứ-tự của các mẫu-tự La-tinh, nhưng cũng có bảng xếp-đặt theo thứ-tự các bộ chữ Hán và theo số các nét chữ. Tự-vị Taberd cũng theo qui-tắc như thế, cho nên muốn tra-cứu chữ quốc-ngữ theo thứ-tự mẫu-tự La-tinh, hay là tra-cứu chữ nôm theo kiểu Tàu (theo bộ chữ và số nét chữ) cũng được cả.

Soạn-giả có thể giới-hạn tự-vị vào những từ-ngữ thông dụng mà thôi. Nhưng tự-vị cũng còn có thể bị giới-hạn, vì soạn-giả chưa sao-lục ra được hết mọi từ-ngữ, hết mọi cách viết chữ nôm đã dùng trong các sách nôm ở Việt-Nam, hay là chưa tìm ra được tất cả các ý-nghĩa của từ-ngữ. Cho nên những người đi sau thường lấy lại của người đi trước, và đôi khi cũng căn-cứ được vào các tác-phẩm đã có, để khám phá thêm được một ít từ-ngữ hay ý-nghĩa mới. Từ-ngữ được viết vào tự-vị tức là được công-nhận. Cũng như các tự-vị khác, tự-vị Taberd đã ghi lấy những từ-ngữ và những chữ viết (chữ nôm) đã dùng trong một thời-kỳ, trong một địa-phương nhất-định. Cái sở-trường và cái sở-đoản của nó là ở chỗ đó,

Xin đan-cử ra đây một vài ví-dụ, gọi là để đề-nghị một vài phương-hướng nghiên-cứu về chữ nôm công-giáo: a) có một số từ ngữ chuyên-môn của công-giáo, như:“dòng’’ (hội những người đi tu), “rỗi’’ ( được cứu-độ, được sống muôn đời), “kinh’’ (lời cầu-khấn, “oratio’’,chứ không phải là “sách’’, như thỉnh-thoảng có người hiểu lầm), b) có một số từ-ngữ chuyển-âm từ tiếng La-tinh hay Bồ-đào-nha, như: “vít-vồ’’ (giám-mục, chuyển-âm từ tiếng Bồ-đào-nha “bispo’’, chữ nôm thì dùng hai chữ Hán “viết vô’’, nhưng phải đọc là “vít-vồ’’), “pha-pha’’ (vị giáo-tông ở Roma, cũng gọi là giáo-hoàng, La-tinh và Bồ-đào-nha là “papa’’). c) có những chữ vẫn thông dụng, nhưng lại không có trong tự-vị như “Giê-su’’ là tên vị giáo-tổ (Chữ Hán-Việt là “Gia-tô’’, người Tàu đọc là “Giê-xu’’ ; viết chữ nôm thì dùng hai chữ “Chi-thu’’, nhưng phải đọc trại đi là “Giê-su’’ thì mới là đúng, chứ không đọc là “Chi-thu’’, như đôi khi có người đọc sai. d) có những chữ nôm mà soạn-giả chưa tìm ra tất cả các cách viết, như: chữ “rỗi’’ (được cứu-độ, “salus’’), thì soạn giả chỉ ghi cách viết chữ “khẩu’’ bên trái chữ “lỗi’’[3], chứ không ghi cách viết chữ “sinh’’ bên trái chữ “lỗi’’[4], v.v.

4- Vấn đề quốc ngữ

4-1- Trở lại vấn-đề chữ quốc-ngữ


Ai cũng biết rằng tiếng ta khác tiếng Tàu, và khi người xưa dùng hai chữ (nho!) “quốc-âm’’, hay là "quốc-ngữ" [5] là có ý nói đó là tiếng ta chứ không phải là tiếng Tàu, nhưng lại là tiếng ta viết theo các bộ chữ Hán. Còn cách viết tiếng ta theo mẫu-tự La-tinh thì xưa không có tên gì đặc-biệt. Các giáo-sĩ tạo ra nó là tạo ra cho họ dùng, để họ ghi được lấy dọng nói của ta để học cho dễ, cũng như họ đã làm như thế với tiếng Tàu và tiếng Nhật. Nhưng đồng thời họ vẫn học cho kỳ được chữ Hán, chữ Nhật, chữ Nôm, khó mấy họ cũng chịu khó học. Chứ họ chẳng có quyền lực gì để thay đổi chữ viết của dân tộc nào cả ; họ cũng không hề có tham vọng thay đổi gì cả.

Ở nước ta, chữ Nôm và chữ viết theo mẫu-tự La-tinh đều là hai lối viết lên dọng nói của tiếng ta, vì thế cùng là viết quốc-ngữ cả. Nhưng chỉ vì một biến cố lịch-sử không có ở Tàu ở Nhật, mà tình-trạng thay đổi như ta thấy ngày nay. Số là sau khi chính phủ bảo-hộ và thuộc-địa bãi bỏ chữ Hán và lấy tiếng Pháp thay vào đó làm ngôn-ngữ hành-chính và văn-hóa, lấy ngôn-ngữ của người bảo-hộ mới để thay cho chữ viết của người đô-hộ cũ, thì chữ Hán không còn phải là con đường tiến-thân ở Việt-Nam nữa[6]. Chữ Nôm vì quá tùy-thuộc vào chữ Hán, lại trước đó cũng chẳng được trọng-dụng như chữ Hán, cho nên cũng theo đó mà lu mờ đi[7], cho nên chỉ còn có lối viết theo mẫu-tự La-tinh là được gọi là quốc-ngữ mà thôi. Đã thế vào đầu thế-kỷ XX lại có một số sĩ-phu có tên tuổi đứng ra cổ-võ cho chữ quốc-ngữ ấy, vì thấy nó tiện lợi và dễ học hơn chữ Nôm[8]. Và họ đã thành công. Ngày nay là gần một thế kỷ sau đó, chúng ta đã quá quen dùng chữ quốc-ngữ rồi, văn-chương của tiền-nhân hầu hết cũng đã chuyển sang chữ quốc-ngữ, rồi các sáng tác văn-học, khoa-học, thư-tín và giấy tờ hành-chính đều viết bằng chữ quốc-ngữ cả. Cho nên có lẽ không còn ai chủ-trương phải trở về chữ Nôm nữa: nó thật là thần-tình, nhưng vẫn còn nhiều khuyết-điểm và chưa được ấn-định cho chính-xác.

Thế nhưng vẫn có người muốn gây ra vấn-đề. Thực vậy, có một vài học-giả Việt-Nam đã tung ra quan-niệm là các giáo-sĩ Tây-phương đã dùng cách viết tiếng Việt theo mẫu-tự La-tinh, với dự-định đen tối là làm cho người Việt mất gốc (gốc Hán hay gốc Nôm?) đi, để rồi truyền-giáo cho dễ[9]. Quan-niệm đó tuy không có bằng chứng gì cả, nhưng đã được một số người coi như là có uy-tín, cho nên chép lại mà không phê-bình thực hư. Thiết tưởng nếu ai biết đến tự-vị Taberd, tự-vị Huỳnh Tịnh Của, và các sách chữ nôm, chữ Hán của người công-giáo dùng từ đầu thế kỷ XVII cho đến giữa thế-kỷ XX (có hàng trăm cuốn như thế trong văn-khố Hội Truyền Giáo Nước Ngoài tại Paris, và trong các xứ đạo ở Việt-Nam), thì chắc sẽ ăn nói đắn-đo dè-dặt hơn. Ngoài ra thì ai cũng biết là việc truyền giáo được dễ-dàng hay là bị khó khăn thì là vì nhiều lý-do khác, chứ không phải là vì sách viết bằng chữ nôm hay là chữ quốc ngữ theo mẫu-tự La-tinh[10].

4-2- Giả-sử không có chữ quốc-ngữ

Vì không tránh được cái thắc mắc trên đây, cho nên ta cứ tạm giả-sử như là không có chữ quốc-ngữ, hay ít ra là giả-sử chữ quốc-ngữ không được chính-quyền nào chọn làm chữ viết chính-thức. Như thế chắc hẳn là tình-trạng văn-hóa nước ta phải khác bây giờ nhiều. Phải chăng như thế là có cơ-hội tiến-bộ hơn? Hay là vẫn đứng ỳ lại như cũ? Nhưng nếu cứ đứng ỳ lại như thế thì rất có thể là dần dần sẽ đi đến chỗ khủng hoảng, và cuối cùng thì phải quyết-định cho rõ một trong hai ngả: một là Hán-hoá người Việt, làm cho họ dần dần thành ra người Tàu, hai là cải-cách và ấn-định chữ Nôm làm chữ nước ta. Ngả trước thì chắc không ai muốn, mà ngả sau thì chưa ai làm.

Tiến-bộ hơn? Chưa chắc! Vì lấy động-lực nào mà tiến? Và tiến theo hướng nào? Tuy rằng ta nằm trong văn-hóa Tàu, và thường chỉ chịu phục có người Tàu đã đô-hộ mình trước, nhưng chỉ có một số tối thiểu là nhà Nho biết chữ Hán, lại cũng không có phương-tiện để trao đổi tư-tưởng rộng rãi với người Tàu người Nhật[11]. Với cái tầm mắt hạn hẹp như thế, vua tôi nhà Nguyễn lại còn tâng bốc nhau, cho rằng thơ chữ Hán của mình xướng họa với nhau trong lúc trà dư tửu hậu lại còn hay hơn cả thơ người Tàu[12]. Muốn Tàu hơn cả Tàu, trong khi người Tàu và người Nhật đang muốn canh-tân, phái người sang Tây để học lấy cái sở-trường của bên đó, trong khi những bản điều-trần của Nguyễn Trường Tộ muốn canh tân nước nhà thì lại bị coi khinh.

Ở đây tôi chỉ muốn nói đến đề-nghị của Nguyễn Trường Tộ về chữ viết của nước ta. Lập-trường của ông được trình bày rõ ràng trong điều thứ 4, khoản thứ 5 của Tế cấp bát điều (Tám việc cần làm gấp), về việc dùng quốc-âm[13]. Có một điều đáng chú ý, mà sử gia Trương Bá Cần đã nêu lên, là: “Nguyễn Trường Tộ là người công giáo. Ông thừa biết rằng chữ quốc ngữ, theo mẫu tự La tinh, được sử dụng phổ biến trong giới công giáo từ thế kỷ 17-18, là một mẫu tự đơn giản và dễ học hơn “chữ Hán quốc âm’’ nhiều. Nhưng ông đã không đề nghị lấy chữ Quốc ngữ làm chữ viết cho cả nước. Có lẽ ông đã giải thích điều đó khi ông nói: “Chả lẽ nước ta không có ai giỏi có thể lập ra một thứ chữ để viết tiếng ta hay sao? Vì ta dùng chữ Nho đã lâu nên không cần thay đổi tất cả, sợ làm cho người ta lạ tai lạ mắt ’’. Nguyễn Trường Tộ cũng đã không nói gì đến chữ Nôm là một thứ Quốc âm được thành hình từ thời Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) thế kỷ thứ 8, và phát triển với Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu ... Chữ Nôm cũng được sử dụng rộng rãi trong giới công giáo từ thế kỷ 17-18 ...Chữ Nôm nói đúng ra cũng còn phức tạp’’[14].

Sau khi nêu ra cái tai hại của lối học khoa cử và lối văn chương chơi chữ[15], Nguyễn Trường Tộ đề nghị dùng “chữ Hán quốc âm “, đại khái như sau: “ Tôi tính quốc âm ta ước chừng hơn một vạn tiếng, trong đó chỉ có lối ba ngàn tiếng không thể viết như chữ Hán. Trường hợp đó ta dùng những chữ Hán tương tự rồi thêm hiệp vần vào một bên mà thôi. Đó gọi là “chữ Hán quốc âm’’ (...) Như vậy người học sau này chỉ học mặt chữ thôi, không phải tốn nhiều công phu học cái tiếng chẳng phải Hán chẳng phải ta’’[16]. Về cái tiện lợi của chữ Hán quốc âm, ông giải thích: “Nay ta không có chữ viết riêng mà chỉ dùng chữ nho để viết thay. Về phát âm đã không theo đúng giọng Trung Quốc cũng không phải tiếng phổ thông của nước ta. Người mới học phải thuộc mặt chữ bằng mắt lại phải vận dụng trí nhớ để nhớ những phát âm lạ tai. Âm vận của thứ chữ này chỉ có ai học mới biết, không học thì nghe cũng như vịt nghe sấm mà thôi. Thế có phải phí hơn một nửa công phu trí óc không? Nay nếu học sách quốc âm, học sinh ở nhà đọc đàn bà con nít nghe cũng hiểu, như vậy tuy không đi học mà cũng học được. Hơn nữa nếu dùng quốc âm thì lúc nhỏ đã có cha mẹ dạy, lớn lên đi học chỉ học nét viết mà thôi. Thế có phải giảm bớt được một nửa công phu không?’’[17].

Đề nghị cụ thể của Nguyễn Trường Tộ là như sau: “Vậy xin dùng chữ Hán làm mẫu, lựa âm của chữ nào hợp với âm tiếng ta, nhất định không thay đổi thì đọc như tiếng ta không cần giải nghĩa. Chữ nào có âm gần giống tiếng ta thì thêm nét phụ vào rồi đọc ra tiếng ta. Ngoài ra gộp hết tiếng ta lại chia thành môn loại, làm tự điển, trước tiên ban hành trong các cơ quan chính quyền và trường học cho người học dễ dàng sử dụng (...) Còn các nhà văn ai muốn dùng chữ Hán theo âm nho tùy ý nhưng trong công việc làm thì phải dùng thứ chữ Triều đình đã ban hành. (...) Bây giờ ta cứ lấy chữ Hán chuyển đọc ra quốc âm, không cần học nghĩa, thế cũng vẫn dùng chữ Hán có gì mà không được? Thí dụ như chữ “Thực phạn’’ thì đọc là “ăn cơm’’, hoặc viết chữ “ăn cơm’’ thay chữ “Thực phạn’’.’’[18].

Thiết tưởng không cần dài dòng về vấn đề đó, vì tuy đề nghị có lý sự rõ ràng , nhưng những người được đọc thì lại không muốn theo, và dù có người muốn theo, nhưng cũng chưa ai làm cả. Rất có thể là đề nghị đó cũng chỉ là “mách qué’’ đối với những người trọng Nho như vua tôi nhà Nguyễn. Tuy thế thiết tưởng cũng nên nhắc lại rằng cách-thức đó đã sinh ra “chữ Hán quốc âm’’ của người Nhật-bản: thí dụ họ viết chữ “nhân’’ (người) rồi đọc ra tiếng Nhật là “hito’’ hay đọc theo âm Hán là “jin’’, viết chữ “mộc’’ (cây) rồi đọc ra tiếng Nhật là “ki’’ hay đọc theo âm Hán là “moku’’.

Nay ta biết như thế là rất tốn công, nhưng ta cũng tạm giả-sử là đề nghị của Nguyễn Trường Tộ được thực hiện. Nhưng như thế cũng vẫn còn nhiều cái khó-khăn. Thực vậy, cả chữ Hán quốc âm lẫn chữ Nôm đều là thứ chữ viết không có cách ghi âm vận theo cách đọc, như chữ viết của người Cao-ly hay của người Nhật-bản (hiragana, katakana), cho nên khi làm tự-vị ta chỉ có thể xếp thứ-tự theo các bộ chữ Hán. Nhưng nếu ta muốn biết tiếng đọc thế này phải viết làm sao, thì vấn đề thật là nan giải. Cái khó khăn này thì ngày nay ta giải quyết được một cách dễ dàng nhờ cách viết chữ quốc ngữ theo mẫu-tự La-tinh.

4-3- Chữ quốc-ngữ và chữ Nôm

Chữ Nôm và chữ quốc-ngữ là hai lối viết tiếng Việt, một lối theo mẫu người Tàu, một lối theo mẫu người Tây. Thực ra cũng không phải người Tây sáng chế ra lối viết theo mẫu-tự như thế, nhưng họ cũng là học lại của người miền Trung-Đông thời Thượng-cổ. Và hiện nay cũng có nhiều dân-tộc trên thế-giới dùng lối viết theo mẫu-tự.

Chữ Nôm đã “vang bóng một thời’’, nó kết tinh nỗ-lực của ông cha ta trong mươi thế-kỷ để thiết-lập một nền văn-hóa Việt-Nam có bản-sắc riêng, tuy có chịu ảnh-hưởng của văn-hóa người Hán tộc, lại muốn có vốn để “đi ăn riêng’’, nhưng còn gặp nhiều khó khăn. Chữ quốc-ngữ là do ảnh-hưởng của người Âu-châu, nhưng đã giúp cho người mình thực-hiện được cái ý muốn độc lập đó.

Ngày nay ta không dùng chữ Nôm trong đời sống thường nhật, và cũng không thấy có dấu nào nói lên rằng dân ta muốn trở lại dùng chữ Nôm, vì thực ra cũng có nhiều cái bất tiện, lại tốn công, tốn của, tốn thì giờ. Tuy vậy đó vẫn là kho tàng văn-hóa không thể bỏ qua, mà trái lại cần được bảo-tồn. Đó là chương-trình của Viện Nghiên Cứu Hán-Nôm và của cơ-quan “Vietnamese Nôm Preservation Foundation’’. Trong việc sưu tầm sách vở chữ Nôm thời xưa, xem chừng còn ít người biết và để ý đến số sách Nôm do người công-giáo đã biên soạn trong hơn ba thế-kỷ. Điểm quan-trọng của số sách này là ở chỗ nó cho ta biết khi bắt đầu tiếp-xúc với tư-tưởng người Âu, thì các ý-niệm và quan-niệm của Tây phương được chuyển sang tiếng Việt như thế nào.

Như đã nói trên đây, tự-vị Taberd, cũng như tự-vị của Pigneaux de Béhaine, có cái sáng-kiến hay của nó, là vừa có đối chiếu chữ quốc ngữ với chữ Nôm, vừa có cách thức thuận tiện để chuyển từ loại chữ này sang loại chữ kia. Vì xếp theo thứ-tự các mẫu-tự Latinh, nên ta biết đọc thế này thì phải viết làm sao. Ngược lại, muốn biết chữ viết thế này phải đọc làm sao, thì đã có bảng xếp các chữ theo các bộ chữ Hán. Cho nên từ sau đó các tự-vị chữ Nôm đều tiếp nhận cái sáng-kiến ấy.

Tự-vị Taberd đã góp phần vào việc định hình cho chữ quốc-ngữ ta dùng bây giờ, và còn giúp ta trong việc nghiên-cứu chữ Nôm. Cho nên nó đáng được một chỗ đứng trong lịch-sử phát-triển văn-hóa Việt-Nam.

Giáo sư Trần Văn Toàn
Lambersart, ngày 03/06/2004
___________________________________

[*] Bài đã đăng và post lại với sự đồng ý của www.dunglac.net.

[1] Vocaburarium Annamitico-Latinum par Mgr Pierre Pigneaux de Béhaine, membre des Missions Étrangères de Paris, évêque d’Adran, vicaire apostolique de Cochinchine, Cambodge et Ciampa. Sách được giới-thiệu như sau: “Cuốn tự-vị viết tay này dầy 729 trang, khổ A3, là sách đầu tiên trong lịch-sử Việt-Nam trình-bầy cả hai lối chữ, chữ Nôm và chữ quốc ngữ viết theo mẫu-tự La-tinh, và dịch sang tiếng La-tinh. Sách được biên soạn trong những năm 1772 và 1773, do Pierre Pigneaux de Béhaine, trong khi phải lưu đày tại Pondichéry, với sự giúp đỡ của tám người Đàng Trong’’.

[2] Tỉnh-lỵ của tỉnh Quảng-đông là thành-phố Quảng-châu. Nhưng người Âu-châu trước đây có thói quen, khi nói đến tỉnh Quảng-đông hay là nói đến thành phố Quảng-châu, thì đều dùng một chữ “Canton’’.

[3] Theo như cách viết của Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc) trong Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ (1774).

[4] Theo cách viết trong sách Phép dòng chị em mến câu rút (= thập-tự-giá) Đức Chúa Giê-su (1869).

[5] Như trong sách giáo-lý của Bá Đa Lộc dẫn trên đây.

[6] Như ông Tú Xương tự trào: “Nào có làm chi cái chữ Nho, Ông nghè ông cống cũng nằm co, Ước gì đi học làm thày phán, Tối rượu sâm-banh sáng sữa bò“.

[7] Thực ra chữ Nôm vẫn còn được dùng, song song với chữ quốc-ngữ, trong sách vở người công-giáo, và cả trong một số giấy tờ hành chính trong thời bảo-hộ, như giấy giá-thú, giấy khai-sinh, cho đến giữa thế-kỷ XX.

[8] Như đã nói trước đây, chữ Nôm không viết lên cách đọc chính xác, cho nên một chữ, như chữ “lận’’ có thể đọc thành năm dọng, rồi một tiếng nói lên có thể viết thành dăm ba chữ, hơn nữa lại cũng chưa có uy-quyền nào ấn-định cách viết cho có thống nhất trong nước.

[9] Về điểm này, xin đọc lời phân trần đầy đủ và đáo lý của Hồng Nhuệ trong sách Công trình nghiên cứu tiếng Việt của một người Thụy sĩ ở Kẻ Chợ Đàng Ngoài, Onufre Borgès 1614-1664 (Góp í với Roland Jacques về công trình nghiên cứu tiếng Việt của mấy người Bồ tiên phong cho tới 1650), Paris, 1996, Chương 1, về “Sự việc chữ quốc ngữ theo ông Lê Thành Khội’’, trang 9-21.

[10] Lại có học-giả cho rằng chữ nôm do người Công giáo viết không phải là chữ nôm đích-thực. Xin thưa hai điều: một là: phải có cơ-quan nào, như hàn-lâm-viện hay là nhà cầm quyền chính-thức ấn-định trước đã thì mới nói được cái gì là đích-thực ; hai là: trừ ra một số chữ mới thì người Công giáo dùng chữ nôm như người đương thời, cho nên nếu phải loại trừ tất cả những chữ do họ dùng, thì cũng phải loại tất cả những chữ ghi trong tự-vị Taberd, nghĩa là hầu hết thi văn chữ nôm trong văn chương Việt-Nam.

[11] Theo như sử-gia Nhật-bản Yoshiharu Tsuboi (Bình Tỉnh Thiện Minh), trong sách Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (1847-1885), (bản dịch từ Pháp văn do Nguyễn Đình Đầu , TP Hồ Chí Minh, 1990) có ý kiến rằng người Việt-Nam, trái hẳn lại với người Nhật (không bị người Hán đô-hộ), đã bám quá chặt vào văn-hóa Trung-hoa, cho nên thiếu tự-do cởi mở đối với thế giới bên ngoài.

[12] “Văn như Siêu Quát vô tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường’’ (tôi tiếc là không còn nhớ ai đã thốt ra hai câu như thế).

[13] Xem: Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ - Con người và di-thảo, Nhà XB TP Hồ Chí Minh, 1988, tr 254-257. Cũng xem lời bàn của tác-giả TBC, tr 77-78.

[14] Sách đã dẫn, tr 77. Về cái phức tạp của chữ Nôm, xin xem chú giải số 7 trước đây.

[15] “Ngày nay nước ta những kẻ thông minh lanh lợi đều đua nhau học chữ, không lập công dựng nghiệp nhân lúc thanh niên cường tráng, mà chỉ vùi đầu đèn sách hết năm này sang năm khác. Phải chăng họ muốn trở thành người Trung quốc? Thế mà đem nói với người Tàu, người Tàu chẳng nghe, nói với dân ngu, dân ngu chẳng hiểu. Một tờ trát đưa xuống, kẻ hiểu thế này, người hiểu thế khác. Một chữ trong luật, kẻ nói tội nhẹ, người nói tội nặng. Đơn từ án lịnh thì bọn thầy kiện và quan tòa quỷ quyệt lật ngược lật xuôi. Sự tình khai báo trong dân gian thì tráo trở thiên biến vạn hóa. Công việc chất chồng phần nhiều bị bóp tròn bóp méo không tả rõ được sự thực. Thông cáo yết thị của nhà nước truyền xuống phải qua người biết chữ đọc và dịch lại cho dân, nhưng phần nhiều viện dẫn thất thiệt, giảng nghĩa không rõ khiến dân thường không hiểu hết, ý chí của triều đình bị xuyên tạc. Thậm chí có người viết cái gì cho ai bằng quốc âm thì bị khinh thường. Làm thầy thuốc mà xem quốc ngữ thì bị cho là tầm thưòng. Nói tiếng mẹ đẻ mà không xen chữ nho vào thì bị cho là quê mùa. Ngoài ra lại còn có một thứ văn từ chuyên dùng những chữ hiểm hóc cầu kỳ cốt để cho người đọc không hiểu, nghe không ra. Thế mới cho là kỳ diệu tuyệt vời. Phải làm sao cho nhiều tay cao kiến hay chữ, giảng giải bắt bẻ đến nỗi một chữ ra hàng trăm nghĩa, ý tưởng lập lờ nước đôi không tài nào quyết dịnh được, thế mới là tay cự phách trong làng văn!’’ (Sách đã dẫn, tr 255).

[16] Sđd, tr 256.

[17] Sđd, tr 255.

[18] Sđd, tr 256.

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

Sách "Lăng Gia Long" của Cố Cả Léopold Cadière




“Lăng Gia Long” - ấn phẩm thứ hai thuộc bộ sách “Huế kỳ bí”
LĂNG GIA LONG
Tác giả: Léopold Cadière
Ấn phẩm thứ hai thuộc bộ sách “Huế kỳ bí” có tên “Lăng Gia Long” - tác giả là Linh mục Léopold Cadière, với phần thơ của Charles Patris. Ngay sau khi Hội những người bạn Cố đô Huế được thành lập, L. Cadière đã tham gia Dự án nghiên cứu lập bản đồ lăng mộ tang lễ vùng phụ cận Huế và hội này đã sớm có được những con số tổng hợp đầu tiên rất ấn tượng. Năm 1928, trên tập san Đô thành hiếu cổ (tên gọi quen thuộc hơn của tập san Những người bạn Cố đô Huế), chính L.Cadière đã công bố bài viết đầu tiên về chủ đề “Lăng mộ của người An Nam trong vùng phụ cận Huế”.
Ngược về thượng nguồn qua ngả đồi Nam Giao, ngang qua quần thể lăng Thiệu Trị để vào hữu ngạn Hương Giang, băng qua khe Chu Ê để đến ngã ba Chợ Tuần, vượt qua bến đò Lăng Gia Long, rồi đi dọc bờ sông Tả Trạch một quãng đến làng Định Môn. “Ngự đạo”, con đường từ tả ngạn sông dẫn vào lăng vị vua nổi tiếng triều Nguyễn, Hoàng đế Gia Long dần hiện ra dẫn ta vào một trong những nơi huyền bí của vùng đất Huế. Quần thể lăng Gia Long giấu mình trong những vạt đồi, thung lũng, rừng cây, con suối, ẩn hiện một cách nhẹ nhàng. Từ đây, chúng ta được tác giả giới thiệu tỉ mỉ từng công trình một của quần thể với những phân tích khảo cứu kỹ lưỡng, mô phỏng một bức tranh toàn diện về dấu ấn triều đại xưa.
Qua từng chương của cuốn sách, bạn đọc sẽ hiểu hơn về vị Hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn, cùng những quan niệm nhân sinh quan mà chính Gia Long đã gửi vào quần thể lăng tẩm mình. Bên cạnh đó “Lăng Gia Long” không những là một khảo cứu tỉ mỉ, mà nó còn mang giá trị ứng dụng rất cao, khi tác giả tập sách với ngòi bút khoáng đạt và lịch lãm của mình đã hướng tới một cuốn sách mà ngày nay ta quen gọi là sách “Hướng dẫn du lịch” - rất chuyên nghiệp - và phục vụ mục tiêu “du lịch tâm linh”.
Qua thiên khảo cứu này của L. Cadière, bạn đọc có thể biết thêm những “sử liệu” sống động liên quan đến một trong những lăng tẩm lớn nhất, tiêu biểu nhất của xứ Huế: Lăng Gia Long, cũng như chúng ta có dịp được nghiệm sinh sâu sắc hơn trong “đời sống tâm linh”, thế giới bên kia của các đấng đế vương triều Nguyễn và những giá trị văn hóa nghệ thuật vật thể hay phi vật thể ở không gian đặc biệt này quanh Cố đô Huế.
Về tác giả:
Trong gần một thế kỷ thực dân Pháp đô hộ nước ta, cũng có rất nhiều người Pháp là nhà khai sáng mà tên tuổi của họ còn mãi với thời gian. Đó là Alexandre de Rhodes - một nhà truyền giáo dòng Tên đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ Quốc ngữ Việt Nam hiện đại. Đó là bác sĩ, nhà thám hiểm Yersin, người tìm ra cao nguyên Lâm Viên (Đà Lat).v.v...Linh mục thừa sai Leopold' Cadierè cũng là con người kiệt xuất như vậy. Ông đã trở thành “người Việt Nam” từ trẻ và dành cả đời mình nghiên cứu văn hoá Việt, và để lại tên tuổi lẫy lừng.
Leopold' Michel Cadierè sinh năm 1863, đến Việt Nam năm 1892, làm việc tại giáo phận Huế. Năm 1895, Cadierè trông coi xứ đạo Tam toà và hạt Quảng Bình 14 năm. Từ năm 1918 đến 1945, sống tại Di Loan, Cửa Tùng với tư cách quản xứ giáo hạt Đất Đỏ.
Tháng 1-1947 đến tháng 6-1953: 6 năm rưỡi, làm việc tại Vinh, hội viên danh dự của trường Viễn Đông Bác Cổ. Ngài không chịu “hồi huơng” về Pháp. Ngài nói: “Cả đời tôi, tôi đã dâng cho xứ sở này. Cho tôi được ở lại và chết ở đây!”. Ngài mất ngày 6-7-1955 và được an táng tại nghĩa trang Đại chủng viện Huế ở Kim Long như ước nguyện, thọ 86 tuổi.
63 năm ở Việt Nam, Cadierè đã trở thành nhà bác học kiệt xuất về văn hoá Việt, văn hoá Huế. Đến nỗi hiện nay, tất cả các luận văn Ths, TS nghiên cứu về văn hoá triều Nguyễn, văn hoá dân gian Huế đều tham khảo chủ yếu từ các công trình của ông.
30 năm (1913-1944 ), Cadierè là chủ bút tập san Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH) là một tạp chí khoa học có giá trị nhất Đông Dương thời đó, chuyên viết về các vấn đề văn hoá, lịch sử, địa lý, nghệ thuật, tôn giáo, phong tục, mỹ thuật, ngôn ngữ, dân tộc học..
Đó là công trình đặc sắc nhất của ông. Sở dĩ tạp chí BAVH suốt 100 năm qua vẫn hấp dẫn người đọc vì nội dung của nó vô cùng khách quan và phong phú, rất chi tiết, cụ thể từng việc một. Nội dung BAVH nghiên cứu, khảo sát gồm 5 mảng chính: Kinh thành Huế và phụ cận; lịch sử Huế và An Nam; nghệ thuật xứ Huế; ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hoá dân gian xứ Huế và các đề tài khác.
Tạp chí BAVH bằng tiếng Pháp đã được NXB Thuận Hoá, Huế dịch sang Việt ngữ, với tựa đề Những người bạn của Cố Đô Huế. Đã ấn hành được 30 tập (mỗi năm một tập), mỗi tập dày bình quân 500 trang khổ 14,5 x 20,5 cm. Việc dịch ra tiếng Việt đã tiếp sức cho tạp chí Những người bạn cố đô Huế tiếp tục sống và lan toả rộng hơn trong tầng lớp trí thức trẻ thời hiện đại.
Cadierè có 250 công trình nghiên cứu Việt Nam học uyên bác về nhiều lĩnh vực văn hoá, tín ngưỡng và dân tộc học, ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo Việt Nam, đa phần in trong BAVH. Các bài ông viết thời đó gộp lại có tới 1.500 trang. Ông là một trong những người đặt nền móng cho việc nghiên cứu Việt Nam học đầu thế kỷ 20.
Ông đã xuất bản bộ 3 tập Tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt. Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, Cadierè vẫn là một tấm gương sáng cho mọi người có tinh thần dân tộc, để tìm ra con đường xây dựng và canh tân đất nước bằng văn hoá.
Tại sao các công trình nghiên cứu Việt Nam học, Huế học của Cadierè lại có giá trị trường tồn như vậy? Bởi vì các tác phẩm của ông đều viết ra từ máu thịt, không tầm chương trích cú, mà đi thực địa, nghiên cứu, ghi chép tỉ mỉ. Để làm được việc đó, ông tự học và nói sõi tiếng Việt, có thể suy nghĩ bằng tiếng Việt ngay những năm đầu tới Huế.
Trong lời tựa cuốn Syntaxe, Cadierè giải thích: “Trong chừng mực có thể được, tôi cố sao... chỉ lấy những câu, những kiểu nói của chính người Việt nói ra để vạch rõ cái giá trị của câu nói đó được dùng làm phương tiện để diễn đạt ý nghĩ gì..”.
Cadierè nghiên cứu trực tiếp từ những thông tục và từ những con người tắm gội trong thông tục, văn hoá, chứ không dựa trên các cơ sở dữ liệu hoặc những nghiên cứu có sẵn.
Xin nêu một ví dụ cụ thể khi miêu tả về lễ tế Nam Giao, Cadierè ghi: “Các thị lập của tùng đàn bưng lụa, kính cẩn để trong các lư liệu bằng đồng sau các án thờ”.
Để tìm hiểu tín ngưỡng người Việt, tác giả đã ghi nhận những truyện kể, ở những làng Cù Lạc, làng Tróc, làng Thanh Hà... với các nhân chứng tại chỗ: ông Xòi, ông Dương, chú Nhượng hoặc ông Bé làng Bùng, chú Hạp người Nội Hà v.v...; quan sát từng gốc đa, gốc sanh, từng hòn mốc, hòn trấn có nêu rõ địa danh: từ nhiều thôn làng tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, đến An Cựu, Phù Lương, La Vân tỉnh Thừa Thiên, với 58 hình ảnh minh hoạ. Chứng tỏ tác giả đã (đi bộ) đến tận nơi quan sát và vẽ lại đúng hiện trường.
Để hiểu rõ các phép ma thuật trừ tà, trừ ma, Cadierè đã sống tại thực địa với những mùa dịch tả ở Quảng Trị; hoặc chăm chú theo dõi những thực hành dân gian với chú lính gác vái lạy trước tấm bia đá ở Đông thành Thuỷ Quan, Huế, đồng thời kết hợp với tế lễ của hàng vương đế tại Nam Giao với từng nghi thức lớn nhỏ.
Ví dụ trong bài Mồ mả của người Việt vùng quanh Huế. (BAVH, XV, 1928, tr1-99.): Mồ mả vua chúa được nghiên cứu đã đành, bên cạnh đó, phần mộ dân gian cũng được quan tâm từ phần đất cho đến mộ bi, cách bài trí để từ đó rút ra những gì là quy ước, thông tục có tính cách nhất quán.
Theo L. Cadierè: “Học tiếng Việt không phải chỉ để nói giỏi như họ, mà còn phải tâm tư, suy nghĩ như họ”.
Ông cho rằng, ngôn ngữ bình dân thường gói trọn sắc thái văn hoá một cách đầy đủ, nhất là trong ngạn ngữ dân gian. Với 27 năm sống ở Di Loan, Quảng Bình, Cadierè đã thu thập được một lượng ngôn ngữ bình dân đáng kể, gói ghém toàn bộ những nghĩ suy, đượm văn hoá và tín ngưỡng.
Cadierè kể lại đã có lần sau khi giảng cho giáo dân, mới phát hiện rằng ngôn ngữ mà mình đang sử dụng, học qua sách vở, là một thứ ngôn ngữ ít nhiều “giả tạo”, rất ít hiệu năng. Từ đó, ông thâm nhập sâu xa vào quần chúng, học ngôn ngữ của họ và tập “ăn nói” như họ.
Thật ngạc nhiên, ngay cả rất nhiều người Việt chúng ta vẫn chưa biết được con số “vô hạn định” của người Việt là con số ba và con số bảy, Cadierè đã đưa ra được nhận xét ấy và dẫn chứng với những ngạn ngữ dân gian, chứng tỏ ông đã nghiên cứu tiếng Việt kỹ đến mức độ nào: Làm xấp ba xấp bảy; ăn xấp ba xấp bảy; ba chìm bảy nổi; ba chìm bảy nổi, chín nhấp nhu; ba lừa bảy lọc; ba lo bảy liệu; ba vuông bảy tròn..
Cadierè là người Pháp, nhưng rất am tường tục miếu thờ thần thánh ở xứ Việt. Ông không cho đó là mê tín dị đoan mà là đời sống tâm linh.
Ông viết: “Phải có lần được nghe tiếng kêu la hãi hùng của dân làng vội vã tán loạn, tìm con, tìm người già lão; phải có lần thấy ánh lửa đỏ ngầu vút lên trong đám khói đen cuồng nộ cùng tiếng mắt tre kèo, cột, mái nhà nổ vang như tiếng đại bác để rồi hôm sau thấy tận mắt cảnh tang thương của những vết tích còn lại, nhất là phải tự thân gánh chịu cái tai ương khủng khiếp ấy thì mới hiểu được người Việt sợ hoả hoạn như thế nào, thì mới biết tại sao họ đã nghĩ những tai ương kia là do thần thánh, thì mới hiểu được cách họ xử thế đối với mọi tai ương xảy đến, kể cả những trường hợp nhỏ nhặt nhất”.
Hoặc: “Ai đã không từng chứng kiến ít nhất là một lần trong đời những trận ngập lụt đột ngột, nhiều khi hàng giờ, nước phủ trùm hết cả vùng, kéo theo đàn gia súc, mang trôi đi nhà cửa, phủ lấp ruộng đồng, làm thối vữa ngay trước mắt mình khoai lúa, mùa màng cóp nhặt được, để rồi sau đó hàng tháng dài đói khát, khốn cùng, dịch bệnh giết chết hàng loạt dân làng”.
Thế mới biết tại sao người Việt phải tin hà bá, phải cúng thần mốc, phải thờ những viên đá trấn. Ngay cả ý niệm về “trời tròn đất vuông”, Cadierè đã phát hiện được trong dân gian, trong cách ăn nói của lớp quần chúng, dù rằng không minh thị, là đất không “vuông” nên mới gọi là “trái đất, quả đất”; Như vậy, ngoài ý niệm “tròn”, trái đất còn treo lơ lửng. Đó là một hình ảnh rất ngoạn mục. Không chỉ uyên sâu tiếng Việt, Cadierè còn giỏi cả chữ Hán, nhờ đó thông hiểu được một cách sâu xa những tàng ẩn ý vị của ngôn ngữ.
Lúc nào cũng có các chú thích Hán tự để làm rõ thêm vấn đề và mang tính thuyết phục cao. “Tôi hiểu người Việt bởi vì tôi nghiên cứu kỹ về họ... Nghiên cứu và hiểu họ nên tôi yêu mến họ... Tôi yêu mến họ vì tính tình của họ... ”. “Ý niệm về Trời của người Việt giống nhau lạ lùng với ý niệm về hữu thể siêu việt ở các bộ tộc sơ khai. Trời không phải là một vị thần, ít nhất là trong thông tục dân gian, đó là “Ông Trời” và hình như thuộc về thế giới siêu việt.
Hoàng đế tế Trời một cách trọng thể, Cadierè đã có một tâm thức rất đặc biệt về dân tộc mà ông dày công nghiên cứu: “Phải thừa nhận rằng người Việt nói cho đúng sống trong thế giới siêu nhiên. Người Âu châu dẫu sùng đạo, thường vẫn không sống hết toàn bộ thời gian với Thượng đế của mình. Người Việt, ngược lại, cho dù giai cấp nào, đều cảm thấy mình trực tiếp thường xuyên với các thần thánh trong thiên nhiên”.
Công lao to lớn về nghiên cứu văn hoá Việt, văn hoá Huế của Cadierè làm cho nhiều thế hệ người Việt Nam tôn vinh, ngưỡng mộ. Bản dịch ra tiếng Việt của NXB Thuận Hoá Những người bạn của cố đô Huế không bỏ sót một bài nào, kể cả những bài các tác giả Pháp và Việt viết theo quan điểm riêng của họ. Đây là một bộ sách giá trị trong di sản cố đô Huế.
Chính nhờ các công trình nghiên cứu uyên thâm của Cadierè, khởi đầu bằng tiếng Pháp, thế giới mới biết đến một phần văn hoá, lịch sử Việt Nam, nhất là văn hoá, nghệ thuật, kiến trúc, lịch sử của Huế và miền Trung Việt Nam.
Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân, một nhà nghiên cứu Huế xưa, trong bài viết Tưởng nhớ nhà Huế học Leopold' Cadierè (Lao động, 23-6-1994) đã hết lời ca ngợi: “Huế đã được công nhận di sản thế giới. Để có được sự công nhận ấy, một thế kỷ qua, nhiều nhà Huế học, nhà văn, nhà nghiên cứu đã đóng góp biết bao công trình để giới thiệu Huế với thế giới. Người được tôn là bậc thầy trong công việc này là Leopold' Cadière..”.
Những sưu tầm thực địa sâu sát say mê như không biết mệt mỏi của Cadierè đã cung cấp những kiến thức vô giá về dân tộc Việt Nam. Tư tưởng và phương pháp làm việc của Cadierè đã tiên phong soi sáng cho nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đầu TK XX và sau này.
Trên tạp chí Sông Hương số kỷ niệm 100 năm ra đời tạp chí BAVH, Lê Vũ Trường Giang viết: “Ngay từ 100 năm trước, bàn về phong hoá của xã hội Việt Nam trước làn sóng Tây hoá, linh mục Leopold' Cadierè đã đưa ra cảnh báo: “Dù thế nào đi nữa, sự thật vẫn là các thế hệ mới trong các đô thị không bằng các thế hệ cũ về phương diện đạo đức”.
Thiết nghĩ cho đến nay, những lời kêu gọi kia vẫn còn có ý nghĩa, bởi vấn đề nói trên chính là nền tảng đầu tiên để kiến tạo những giá trị Việt mà Những người bạn cố đô Huế đã nhìn nhận được...
Linh mục Leopold' Cadierè còn nhắc nhở: “Đừng quên rằng, chúng ta có một mục tiêu thật tiễn. Chúng ta phải tự tìm kiếm và giữ lại để nêu lên các kỷ niệm về kinh thành Huế”.
Đó thật sự là tấm gương đáng học hỏi về trách nhiệm của công việc “tìm kiếm” những trầm tích văn hoá Huế, những người đã góp phần gìn giữ hồn xưa xứ Huế. Cadierè đã cống hiến tất cả cuộc đời cho ngôn ngữ học nói riêng và cho văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung”.
Tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Ba trong Văn tế cố cả Leopold' M. Cadierè, nhà Việt học tiên phong đã vẽ chân dung Cadierè rất đẹp:
“Áo dài đen phất phơ lắm miền xuôi ngược, tìm hiểu thêm phong hoá dân gian; Đôi guốc mộc lóc cóc bao chốn xuống lên, thăm dò đến sơn cùng thuỷ triệt.Hội Đô Thành Hiếu Cổ, vài ngàn trang thâm cứu, điều nghiên cùng chuyên khảo kinh đô;Động Phong Nha - Kẻ Bàng, hơn chục chuyến gian lao, thám hiểm rồi tôn vinh địa huyệt.
...Việt, Mường, Nôm, Hán,... bao ngôn ngữ tinh thông; Địa, Sử, Triết, Văn... mấy phân khoa quán triệt.Gom mảnh đá từ thời tiền sử, thấu hiểu ra nguồn cội man sơ;
Đọc tấm bia có thuở tiên triều, kể rõ lại chiến trường khốc liệt.Áo bà ba giản dị, “ông nhà quê” lũ trẻ gọi lơ ngơ;Nón lá cũ đơn sơ, nhà bác học bao người khen khôn xiết...
Người chấp bút xin dâng bài viết lên hương hồn nhà bác học Leopold' M. Cadierè, một nhà Việt Nam học vĩ đại.
Tác giả Ngô Minh

- Đăng lại từ: https://www.facebook.com/groups/462469104898861/posts/888210222324745/?comment_id=888779385601162&notif_id=1674954055432739&notif_t=group_comment_follow

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2023

Giới thiệu 100 tác phẩm văn học Công giáo nổi tiếng - BBT VTCG

 


Bạn đọc thân mến,

Thế giới có “hàng tỉ” cuốn sách, làm sao bạn biết được những cuốn sách nào đáng đọc nhất?

Đối với người Công giáo, ngoài những cuốn sách "gối đầu giường" như Kinh Thánh, sách Giáo lý, còn hàng ngàn tác phẩm của các vị thánh tiến sĩ Hội thánh, các văn hào, thi hào, một số tác giả Nobel văn học khác cũng xứng đáng được đặt trên tủ sách gia đình bạn. Bộ Từ điển Văn Học Công Giáo do Mary Reichardt chủ biên 2004, trong Lời Tựa có đoạn, xin tạm dịch: "Truyền thống văn học Công giáo là truyền thống văn chương lâu đời nhất, đa dạng nhất trong lịch sử, bao gồm các tác phẩm độc đáo và ảnh hưởng lớn như Tự Thuật của thánh Augustinô, Thần Khúc của Dante Alighieri, Lời Ca Tụng của Ả Điên của Desiderius Erasmus, Chân Dung Họa sĩ như Một Người Trẻ của James Joyces, Thơ của Christina Rossetti và Những truyện ngắn của Flannery O'Connor, truyền thống này đã tạo hình dáng cho sự phát triển văn hóa và văn học Phương Tây, và cho cả Phương Đông ở mức độ thấp hơn".

Trong lịch sử các giải Nobel, theo wiki thống kê, người Kitô hữu chiếm 65% tổng số các giải. Riêng Nobel văn học, các Kitô hữu chiếm khoảng 50 % trong đó có khoảng 25% Công giáo. Tuy nhiên, không phải tác giả Nobel- Công giáo nào cũng thể hiện đức tin Công giáo (danh sách dưới đây, vì thế chỉ có 10 tác giả từng đạt giải Nobel văn học).

Sau đây, Ban Biên tập VTCG xin mạo muội giới thiệu danh sách 100 tác giả-tác phẩm Văn học Công giáo nổi tiếng trên thế giới (phần lớn chưa được dịch sang tiếng Việt). Quý bạn đọc muốn thử sức cùng nhóm Dịch thuật Văn học Công giáo, xin vui lòng chọn một tác phẩm dưới đây (hoặc tác phẩm bất kỳ) và gửi cho BBT một vài trang bản dịch (Không cần bằng cấp, chỉ cần thực chất). Các bản dịch đạt chất lượng sẽ được hỗ trợ xuất bản. Quý vị nào đã dịch các tác phẩm dưới đây, cũng vui lòng cho BBT biết để giới thiệu cho độc giả bốn phương.

Mọi liên hệ, xin gửi về Ban Biên tập VTCG: vanthoconggiao@gmail.com

Trân trọng cảm ơn.

Thay mặt BBT

Lm. Đình Chẩn

1. Alessandro Manzoni (1785-1873) tiểu thuyết gia người Ý, kiệt tác Promessi Sposi (đang dịch).

2. Alexander Pope (1688-1744), nhà thơ người Anh, Essay on man.

3. Angela di Foligno (1248-1309) Chân phước người Ý, Il Libro della beata Angela da Foligno.

4. Annie Dillard (1945-), nhà văn người Mỹ, giải Pulittzer 1975, Holy the firm.

5. Blaise Pascal (1623-1662), nhà toán học, vật lý, nhà phát minh, triết gia người Pháp, Suy Tưởng (pensées), bản dịch ngoại đạo.

6. Boll Heinrich (1917-1985), người Đức, Nobel 1967, The Stories of Heinrich Boll.

7. Brian Moore (1921-1999), tiểu thuyết gia Ai Len, Catholics.

8. Charles Péguy (1873-1914) nhà thơ người Pháp, The Portal of the Mystery of Hope.

9. Christina Rossetti (1830-1894) / nhà thơ người Anh, Poems.

10. Christopher J. Koch (1932-2013) nhà văn người Úc, The year of living dangerously.

11. Clive Staples Lewis (1898-1963) - tác giả người Ai Len, Screwtape Letters; The Allegory of Love.

12. Czeslaw Milosz (1911-2004), nhà thơ gốc Ba Lan, Nobel 1980, Selected Poems.

13. Dante Alighieri (1265-1321) đại thi hào người Ý, Thần Khúc (Divina Commedia).

14. Diego Fabbri (1911-1980), nhà biên kịch người Ý, kịch Xử án Giêsu (Processo a Gesù).

15. Eliot Thomas Stearns –T.S (1888-1965) tác giả người Anh, Nobel 1948– Christianity and Culture.

16. Elizabeth Cullinan (1933-2020) / nhà văn người Mỹ, House of gold.

17. Endo Shusaku (1923-1996), nhà văn Nhật bản, Silence (đang dịch).

18. Evelyn Waugh (1903-1966) tác giả người Anh, Brideshead revisited.

19. Flannery O'Connor (1925-1964) nhà văn người Mỹ / Wise blood

20. Francois Mauriac (1885-1970) nhà văn người Pháp, Nobel 1952— La pharisienne; Le Nœud de vipères.

21. Frédéric Mistral (1830-1914), nhà thơ Pháp, Nobel 1904, trường ca Miréio.

22. Fulton Sheen (1895-1979), Giám mục người Mỹ/Life is Worth Living.

23. Geoffrey Chaucer (1343-1400) nhà văn nước Anh/ The Canterbury tales.

24. Georges Bernanos (1888-1948) nhà văn người Pháp, Journal d'un curé de campagne (Nhật ký một cha xứ miền quê, bản dịch ngoại đạo).

25. Gerard Manley Hopkins (1844-1889) nhà thơ nước Anh, / Poems.

26. Gertrud von le Fort (1876-1971), nữ văn sĩ người Đức / Die Letzte am Schafott (The song at the scaffold).

27. Gilbert Keith Chesterton (1874-1936) tác giả người Anh– Father Brown, Orthodoxy, The Everlasting Man.

28. Giovanni Guareschi (1908-1968), tiểu thuyết gia người Ý, Don Camillo.

29. Graham Greene (1904-1991) nhà văn Anh, cải đạo 1926)/ The Power and the Glory. (Việt Nam quen với tác phẩm Người Mỹ Trầm lặng).

30. Heinrich Böll (1917-1985), nhà văn người Đức, Nobel 1972, Gruppenbild mit Dame (Group portrait with lady).

31. Henri de Lubac (1896-1991), Hồng Y dòng Tên, thần học gia người Pháp, Images de l'abbé Monchanin.

32. Henry Suso O.P, (1295-1366), chân phước Linh mục dòng Đa Minh, Đức / Exemplar.

33. Henryk Sienkiewicz (1846-1916) nhà văn Ba Lan, Nobel 1905, Quo vadis? (bản dịch cùng tên).

34. Hiliare Belloc (1870-1953), nhà văn Anh gốc Pháp, Selected Essays.

35. Honoré de Balzac (1799-1850), nhà văn Pháp, L'envers de la société contemporaine.

36. Ignazio Silone (1900-1978), nhà văn Ý, / Pane e vino.

37. Jacobus de Voragine (1230-1298) Giám mục, người Ý, Leggenda Aurea.

38. Jacques Benigne Bossuet (1627-1704), Giám mục Pháp, Oraison funèbre.

39. Jacques Maritain (1882-1973) nhà văn, triết gia Pháp, oeuvres completes.

40. Jame Farl Powers (1917-1999), nhà văn Mỹ, The Presence of Grace, morte d'Urban.

41. James Joyce (1882-1941) tác giả Ai Len, A portrait of the artist as a young man.

42. Jean Sulivan (1913-1990), Lm. Nhà văn Pháp, / Car je t'aime, ô Éternité!

43. Jean-Baptiste Chautard (1858-1935), Linh mục nhà văn Pháp — L'âme de tout apostolat (Hồn tông đồ).

44. Jessica Powers (1905-1988) nữ tu Cát Minh, người Mỹ / Poems.

45. John Dryden (1631-1700), nhà văn nước Anh, The hind and the panther.

46. John L'Heureux (1934-2019) cựu Lm. Dòng Tên, người Mỹ, The Shrine at Altamira.

47. John Ronald Tolkien (1892-1973) tác giả người Anh, cải đạo Công giáo, The lord of the rings-Chúa tể những chiếc nhẫn (bản dịch ngoại đạo).

48. Julian of Norwich (1343-1416) nhà thơ người Anh, Revelations of divine love.

49. Kathleen Anne Porter (1890-1980), nữ nhà văn Mỹ, Ship of fools (best seller 1962).

50. Kathleen Norris (1880-1966), nữ nhà văn Mỹ, tác giả của 93 tiểu thuyết, nhiều tác phẩm thuộc best seller/ The cloister walk.

51. Leon Bloy (1846-1917), nhà văn người Pháp, Le Désespéré, La Femme pauvre.

52. Louis de Wohl (1903-1961), nhà chiêm tinh, nhà văn Đức, / The Spear.

53. M. Eugene Boylan (1904-1964), Linh mục nhà văn dòng Trappist, người Ai Len/ This Tremendous Lover.

54. Mark Helprin (1947-) nhà văn Mỹ,A Soldier of the Great War.

55. Mark Jarman (1952-), nhà thơ người Mỹ nổi tiếng đương đại, Unholy Sonnets.

56. Mark Twain (1835-1910), nhà văn trào phúng người Mỹ, Personal Recollections of Joan of Arc.

57. Michel de Montaigne (1533-1592), nhà văn Pháp thời Phục Hưng/ Meditations.

58. Miguel de Cervantes (1547-1616), tác giả vĩ đại Tây Ban Nha, Đôn Ki-hô-tê (bản dịch ngoại đạo- Don Quixote).

59. Orestos Brownson (1803-1876), nhà văn Mỹ, cải đạo/ The spirit-rapper: an autobiography.

60. Oscar Hijuelos (1951-2013), nhà văn Mỹ gốc Cuba, giải Pulitzer, Mr. Ives' Christmas.

61. Paul Claudel (1868-1955), văn hào Pháp, L'Annonce faite à Marie (1912), Le Soulier de satin (1929).

62. Paul Horgan (1903-1995), nhà văn Mỹ, hai giải Pulitzer, Great River.

63. Paul Mariani (1940-), nhà thơ người Mỹ, Salvage Operations.

64. Percy Walker (1916-1990), nhà văn người Mỹ, Love in the Ruins.

65. Philip Levine (1918-2015), nhà thơ người Mỹ, The Mercy.

66. Piers Paul Read (1941-), tiểu thuyết gia người Anh, A season in the West.

67. Richard Rodriguez (1944-), nhà văn người Mỹ, Hunger of Memory.

68. Richard Wilbur (1921-2017) nhà thơ người Mỹ, New and Collected Poems.

69. Robert Hugh Benson (1871-1914) Lm. nhà văn, cải đạo từ Anh giáo, Lord of the World.

70. Robert Lax (1915-2000), nhà thơ người Mỹ, The circus of the sun.

71. Romano Guardini (1885-1968), linh mục-tác giả người Đức, gốc Ý — The Lord.

72. Ron Hansen (1947-) tiểu thuyết gia Mỹ, Mariette in Ecstasy.

73. Ronald Knox (1888-1957), linh mục nhà văn Anh giáo, cải đạo Công giáo — Enthusiasm.

74. Rumer Godden (1907-1998), nữ nhà văn Anh, tác giả hơn 60 tiểu thuyết, In the house of Brede.

75. Sandra Cisneros (1954-) nữ tiểu thuyết gia Mỹ, The house on Mango Street.

76. Seamus Heaney (1919-2013) người Ai Len, Nobel 1995, / Opened Ground: Selected Poems: 1966-1996

77. Sigrid Undset Kristin (1882-1949), nữ nhà văn Na Uy, giải Nobel năm 1928, Lavransdatter (Kristin con gái của Lavrans).

78. Simone Weil (1919-1943), nữ nhà văn Pháp, nhà thần bí / Attente de Dieu; Lettre a un Religieux.

79. Thánh Anphonsô (1696-1787) Đấng sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, Đại phương thế cầu nguyện.

80. Thánh Bênađô (1090-1153), viện phụ, tiến sĩ Hội thánh, De laudibus Virginis Matris.

81. Thánh Gioan Thánh Giá (1542-1591), nhà thần bí Tây Ban Nha, Đêm dày.

82. Thánh John Henry Newman (1801-1890), thánh-Hồng Y nước Anh, cải đạo Công giáo, Apologia pro vita sua.

83. Thánh Augustine of Hippo (354-430) tiến sĩ Hội thánh, người bắc Phi, Tự thuật.

84. Thánh Biển Đức (480-547), tu sĩ-văn sĩ người Ý, Tu Luật thánh Biển Đức (đang dịch).

85. Thánh Ephrem Syria (306-373), phó tế, tiến sĩ Hội thánh, người Thổ Nhĩ Kỳ, Hymns on Paradise.

86. Thánh Gregory Narek (950-1011), tiến sĩ Hội thánh, người Armenia, nhà thơ, nhà thần bí, Speaking with God from the Depths of the Heart.

87. Thánh Ignatio Loyola (1491-1556), tổ phụ dòng Tên, người Tây Ban Nha– Linh Thao.

88. Thánh nữ Catarina Siena (1347-1380), tiến sĩ Hội Thánh-văn sĩ người Ý- Đối Thoại.

89. Thánh nữ Edith Stein (1891-1942), triết gia, nữ tu Công giáo Đức / Essays on woman.

90. Thánh nữ Elizabeth Ann Seton (1774-1821), người Mỹ, / Letters of Mother Seton to Mrs. Julianna Scott.

91. Thánh nữ Hildegard of Bingen (1098-1179), tiến sĩ Hội thánh, người Đức, nhà thần bí Scivias.

92. Thánh nữ Têrêsa Avila (1515-1582), tiến sĩ Hội thánh, người Tây Ban nha, Lâu Đài Nội Tâm.

93. Thánh nữ Têrêsa thành Lisieux (1873-1897), tiến sĩ Hội thánh, người Pháp, Chuyện Một Tâm Hồn.

94. Thánh Phanxicô de Sales (1567-1622), Giám mục, tiến sĩ Hội thánh, người Pháp, bổn mạng các ký giả — "Dẫn vào đời sống đạo đức" và "Luận về Tình Yêu Thiên Chúa".

95. Thánh Tôma Aquinô, tiến sĩ Hội Thánh, người Ý, Tổng luận Thần học.

96. Thomas a Kempis, (1380-1471), văn sĩ người Đức-Hà Lan, Gương Chúa Giêsu.

97. Thomas Merton (1915-1968), văn sĩ, linh mục dòng Trappist người Mỹ, The seven storey mountain.

98. Tobias Wolff (1945-), nhà văn Mỹ, In the Garden of the North American Martyrs

99. Toni Morrison (1931-2019), nữ văn sĩ người Mỹ, tác giả Nobel 1993, Paradise.

100. Willa Cather (1873-1947), nữ văn sĩ người Mỹ, InDeath comes for the Archbishop.



Xem thêm:

70 tác giả đạt giải Văn học Công giáo Pháp: https://www.vanthoconggiao.net/2022/03/tu-giai-van-hoc-cong-giao-phap-nghi-ve.html

Một số tác giả Kitô hữu nổi tiếng khác như: William Shakespeare (1564-1616), kịch gia người Anh, (một người Công giáo thầm lặng); John Milton (1608-1674) thi hào Anh, Paradise lost; Friedrich Gottlieb Klopstock (1724-1803), thi hào Đức, Der Messias (trường ca Đấng Cứu thế); John Bunyan (1628-1688) nhà văn Anh, (The Pilgrim's Progress Thiên lộ Lịch Trình-bản dịch Tin lành); hay Dostoyevsky (1821-1881) văn hào Nga, Anh em nhà Karamazov (bản dịch ngoại đạo); Friedrich Hôlderlin (1770-1843), thi hào người Đức; Lew Wallace (1827-1905), nhà văn người Mỹ, Ben-Hur: A Tale of the Christ (bản dịch ngoại đạo). Trong số này, hai tác giả Hôlderlin và Dostoyesvsky được Đức Giáo hoàng Phanxicô đặc biệt yêu thích.

Một số tác giả mang danh Công giáo khác từng đạt giải Nobel văn học: 1)José Echegaray (Nobel 1904), Tây Ban Nha; 2) Wtadystaw Reymont (Nobel 1924), Ba Lan; 3) Grazia Deledda (1871-1936), nữ văn sĩ người Ý, Nobel năm 1926, la Madre (đang dịch); 4) Gabriela Mistral (Nobel 1945), người Chile; 5) Ernest Hemingway (Nobel 1954), người Mỹ, cải đạo Công giáo; 6) Halldor Laxness (Nobel 1955), người Iceland; 7) Juan Ramon Jimenez (Nobel 1956), người Tây Ban Nha; 8) Ivo Andric (Nobel 1961), Áo-Hung; 9) Miguel Angel Asturias (Nobel 1967), người Guatemala; 10) Czeslaw Milosz (Nobel 1980), người Mỹ gốc Ba Lan; 11) Gabriel Garcia Marquez (Nobel 1982) người Colombia; 12) Camilo Jose Cela (Nobel 1989) người Tây Ban Nha; 13) Octavio Paz (Nobel 1990) người Mexico; 14) Günter Grass (Nobel 1999) người Đức; 15) Herta Müller (Nobel 2009) người Đức, gốc Romania.

Tham khảo:

Mary R. Reichardt, Encyclopedia of Catholic Literature, Greenwood Press (2 vol) 2004.

https://www.esquire.com/it/cultura/libri/g36194345/romanzi-classici-da-leggere

https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Christian_Nobel_laureates

https://kristinhoulihan.com/2018/04/23/top-100-catholic-books-of-all-time

https://www.luc.edu/ccih/CatholicClassicsReadingList.shtml

https://nicksenger.com/onecatholiclife/books/nicks-catholic-classics-reading-list

https://www.carolynastfalk.com/2019/10/17/classic-catholic-novels

https://brandonvogt.com/best-catholic-books-of-all-time

https://www.ranker.com/list/best-catholic-authors/ranker-books

https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Catholic_authors

https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Christian_Nobel_laureates

---
Nguồn: https://www.vanthoconggiao.net/2022/11/gioi-thieu-100-tac-pham-van-hoc-cong-giao-noi-tieng-.html