Thứ Tư, 15 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Hình thành tổ chức (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

3. Hình thành tổ chức (tiếp theo)

c. Tu sĩ

Tu sĩ không phải là một bậc ở giữa giáo sĩ và giáo dân, nhưng là một ơn gọi để người Kitô hữu nên thánh cách đặc biệt. Cả giáo sĩ và giáo dân đều có thể đáp lại tiếng gọi ấy để đóng góp thêm hơn vào sứ mệnh cứu độ của Hội thánh.

Trong ơn thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, đời sống tu trì có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: sống ẩn dật một mình hay sống thành cộng đoàn và có thể theo những nếp sống và luật tu khác nhau tùy từng dòng. Thế nhưng tất cả vẫn có một căn bản chung: mọi tu sĩ đều nhắm trở nên trọn lành theo lý tưởng Tám mối phúc thật (x. Mt 5, 2-12) và làm chứng cho mọi người thấy một cách sống động rằng Nước Trời đã thực sự đến giữa loài người và cách riêng đã thực sự đến nơi chính bản thân người tu sĩ, những người đã tự hiến cho Thiên Chúa.

Để tận hiến cho Thiên Chúa và để theo chân Chúa Giêsu Kitô một cách trọn vẹn, cũng như để hoàn toàn dấn thân phục vụ cho Nước Trời, người tu sĩ tự nguyện tuyên khấn 3 điều:

- Từ bỏ quyền có của cải riêng để chia sẻ tất cả với anh chị em (sống nghèo).
- Sống khiết tịnh độc thân trong tình huynh đệ cộng đoàn (khiết tịnh).
- Từ bỏ ý muốn riêng để chuyên chăm tìm kiếm ý Chúa trong một dòng tu hay một tu hội được Hội thánh chính thức công nhận (vâng lời). '

Ba điều ấy còn được gọi là ba lời khuyên Tin mừng. Việc tự nguyện cam kết sống theo ba lời khấn ấy sẽ giúp người tu sĩ thanh luyện tâm hồn và phát huy tự do tâm linh để luôn luôn sống bác ái nhiệt thành, ngày càng nên giống đời sống khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời mà Chúa Kitô và Đức Mẹ đã sống. Như thế, đời sống tu trì là một phương thế đặc biệt, không những để phát triển và hoàn thiện nhân cách của người tu sĩ mà còn giúp họ phục vụ nhân loại một cách sâu xa và hữu hiệu.

Với các lời khấn khó nghèo, vâng lời và khiết tịnh, các tu sĩ triệt để nỗ lực bản thân và hưởng ứng tác động sáng tạo của Thiên Chúa. Nếp sống ấy cũng là một dấu hiệu lôi cuốn mọi chi thể của Hội thánh can đảm chu toàn ơn gọi Kitô hữu, để Hội thánh ngày càng xứng đáng là một dân tộc được nghe lời Thiên Chúa và đang làm cho lời ấy vang dội khắp thế giới.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Hình thành tổ chức (tiếp theo)

 



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

3. Hình thành tổ chức (tiếp theo)

b. Giáo dân

Chung quanh Đức Giáo hoàng và các vị chủ chăn trong Hội thánh là tầng lớp giáo dân đông đảo. Đó là những người dân của Đạo, những người mà Tin mừng nói tới đầu tiên, là những người rất âm thầm nhưng rất quan trọng. Đó là Giuse, Maria, các đạo sĩ, những người chăn chiên. Đó là Elisabet, cụ già Simêon, bà cụ Anna... Đó là những người đầu tiên vì đó là Dân Thiên Chúa. Chính từ giữa họ mà phát xuất Phêrô, nhóm 12 và các môn đệ. Từ giữa họ, phát xuất các chú chăn của Hội thánh. Giám mục, linh mục là những ơn gọi đặc biệt, còn giáo dân là ơn gọi thông thường của người Kitô hữu. Một ơn gọi thông thường, nhưng không hề thấp kém. Bởi lẽ chính ơn gọi ấy đã đưa các tín hữu đạt đến những chỗ cao nhất trong Hội thánh, như Maria, Giuse, Gioan Tẩy Giả, đạt đến một đức tin lớn hơn ai khác (Lc 7,9), đạt đến những nghĩa cử yêu thương mà mọi nơi mọi thời phải nhắc đến (Mc 14,9). Họ rất âm thầm, nhưng rất quan trọng. Không ai biết các bà mẹ của Phêrô, của Giaon, của Phaolô tên gì, nhưng chính họ đã đào tạo nên những người mà Chúa Giêsu sẽ chọn làm đầu Hội thánh. Em nhỏ đã giúp 5 chiếc bánh và 2 con cá cũng không để lại tên tuổi. Sự đóng góp của em thật khiêm tốn, nhưng phải có phần ít ỏi ấy của em cho Chúa làm ra nhiều, các môn đệ mới có thể phân phát cho đám đông (Ga 6,9).

Giáo dân là ai? Đó là những người phụ nữ đã nhanh chân chạy vào làng gọi mọi người ra gặp Chúa (Ga 4, 29). Đó là người được Chúa chữa lành và sai về với làng xóm: "Hãy về với bà con, và hãy loan báo cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho ngươi” (Mc 5,19). Đó là những người đã giúp đỡ Chúa Giêsu và nhóm 12 như Maria người Mácđala, Gioanna, Suzanna| (Lc 8,1-3), là những người đã giúp đỡ Phaolô như Clêmentê, Prisca, Aquila (P1 4,3; Rm 16,3-5), để rồi bị liên lụy và bị bắt bớ như Sosthênê (Cv 18,17). Đó là những người như Nicôđêmô, đã xuất hiện để lo lắng cho Chúa Giêsu khi nhóm lãnh đạo đã bỏ trốn (Ga 19,39). Đó cũng là những người đã được Chúa Giêsu đặc biệt yêu thương như Martha, Maria, Lazarô (Ga 11,5). Trùng trùng điệp điệp những con người như thế trong Kinh thánh, trong lịch sử Hội thánh và hôm nay, giữa chúng ta.

Họ là giáo dân, không phải chỉ có nghĩa là không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu trì, nhưng trước hết có nghĩa là họ đã nhờ phép rửa tội mà trở nên Dân Thiên Chúa, tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Kitô để thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô hữu trong Hội thánh và trên trần gian theo phận vụ riêng của mình.

Yếu tố then chốt của giáo dân là tính cách trần thế trong đời Kitô hữu của họ. Nghĩa là họ dấn thân vào những thực tại trần thế như văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội... và lãnh trách nhiệm quy hướng những thực tại ấy về Thiên Chúa.

- Họ sống giữa mọi người và trong xã hội nhờ dây liên lạc gia đình và nghề nghiệp.
- Họ thánh hóa trần gian như men trong bột, bằng cách sống đức tin và đức ái trong môi trường gia đình và nghề nghiệp của mình.
- Họ lãnh trách nhiệm làm cho các thực tại tràn thế được phát triển như ý Chúa muốn để trở nên lời ca ngợi vinh quang Thiên Chúa.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Hình thành tổ chức (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

3. Hình thành tổ chức (tiếp theo)

Đức Giáo hoàng tiếp tục vai trò Chúa đã trao cho Phêrô: “Simon con ông Giôna, ngươi là Đá, và trên Đá ấy, Ta sẽ xây Hội thánh của Ta, và cửa địa ngục sẽ không thắng nổi”.

Trong nguyên ngữ Aram, một vầng đá rộng lớn được gọi là "kêpha”, dịch sang tiếng Hy Lạp là "pêtra”, nhưng tiếng "pêtra” thuộc giống cái nên khi dịch tên Kêpha của ông Simon, người ta dùng một tiếng giống đực là "Petros”, tiếng này có nghĩa là một khối đá nhỏ. Tuy nhiên, cho dù chỉ là một viên đá cuội hay chỉ là một hạt cát đi nữa thì Chúa cũng có thể biến thành nền móng thật bền vững cho Hội thánh Ngài.

Theo thống kê năm 2009, số giám mục toàn cầu (kế thừa 12 tông đồ) có chừng trên 5.000 vị, giữ trọng trách lãnh đạo tinh thần cho 1 tỷ 166 triệu người Công giáo. Tòa thánh, tức cơ sở của Đức Giáo hoàng được đặt tại Rôma, nơi xưa kia thánh Phêrô đã đến cư ngụ rồi chịu chẽt trên thập giá. Đức Giáo hoàng có một hội đồng giám mục phụ tá ngài giải quyết công việc của Hội thánh, các vị này mang tước hiệu Hồng y. Bên cạnh đó, cứ 4 năm một lần còn có một khóa họp những đại diện của các giám mục toàn cầu, gọi là Thượng Hội đồng Giám mục.

Có thể nói rằng Thiên Chúa quả là "liều lĩnh" khi thiết lập một Hội thánh có sứ mạng làm chứng cho Ngài mà lại gồm những thừa tác viên nhân loại. Ngài đã chấp nhận phiêu lưu với tự do của con người, chấp nhận có thể bị những con người trong Hội thánh ấy phản bội. Họ có thể trở thành chướng ngại vật ngăn cản người ta nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa. Và điều ấy đã xảy ra: Trong lịch sử, lắm lúc đời sống các Kitô hữu kể cả những thành phần lãnh đạo Hội thánh, đã bóp méo và bôi bẩn dung nhan Thiên Chúa.

Ngay cả nhóm Mười hai xưa kia, dù sống ngay bên Đức Giêsu bằng xương bằng thịt, vẫn không bỏ được hết tật xấu, vẫn còn giữ lại phần nào bản chất yếu đuối của mình. Thái độ, cách cư xử của các vị không phải lúc nào cũng xứng đáng với tư cách là môn đệ Chúa. Trong nhóm đầu tiên mà về sau là rường cột của Hội thánh nguyên thủy, đã xảy ra những vụ hèn nhát, phản Thầy. Tại sao lại có thể như vậy được? Chẳng có gì là khó hiểu. Chỉ vì Thiên Chúa không tước đoạt quyền tự do của bất cứ ai. Những kẻ đã chấp nhận để Kitô thu phục, vẫn có thể hủy bỏ cam kết để sa chước cám dỗ của điều xấu và quỷ dữ.

Khi nhắc lại những chuyện ấy, điều cần phải suy nghĩ liêu nhất chính là thái độ của chúng ta, chúng ta đang đáp tình yêu của Chúa Giêsu như thế nào? Chúa Giêsu ước mong mỗi người chúng ta, giáo sĩ cũng như giáo dân, đáp lại lời mời gọi của Ngài ra sao?

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Hình thành tổ chức

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

3. Hình thành tổ chức

Lời than phiền của các quả phụ nói tiếng Hy Lạp đã đưa tới việc chọn 7 phó tế và thiết lập chức vụ phó tế (Cv 6,1-6). Thế là cơ cấu tổ chức của Hội thánh rõ dần: Phêrô với mười một tông đồ và bảy phó tế. Vài chục năm sau, qua các thư gởi cho Timôthêô và Titô, ta thấy rõ hơn: giám quản - niên trưởng (linh mục) - phó tế.

Như thế, Dân Chúa không phải là một đám đông ô hợp, mà là một dân có tổ chức, một cộng đoàn, một đoàn chiên với thành phần chủ chăn lãnh đạo (còn gọi là mục tử) và đoàn chiên được hướng dẫn.

a. Những người kế vị các tông đồ

Chúa Kitô muốn tiếp tục hiện diện mãi nơi nhiệm vụ và quyền bính mà Ngài đã trao cho những người lãnh đạo Hội thánh. Vì thế, Thánh Phêrô và các tông đồ khác đã truyền tất cả nhiệm vụ lãnh đạo của họ cho các vị thừa kế là giám mục.

Suốt 2.000 năm, các giám mục truyền chức cho những giám mục khác để họ thừa kế các vị. Quyền giám mục không do nhà lãnh đạo các nước, cũng không do Dân Chúa, gồm những Kitô hữu, nhưng do Đức Kitô trao ban, qua trung gian các tông đồ.

Mỗi giám mục đứng đầu Hội thánh một vùng gọi là giáo phận. Giám mục không chỉ lãnh đạo tinh thần một giáo phận, mà còn tiếp nối Đức Kitô trong việc rao giảng và chuyển thông đời sống thần linh cho tín hữu qua các bí tích để thánh hóa họ. Để hoàn thành nhiệm vụ ấy, một mình giám mục không đủ, nên một phần quyền năng được trao cho các linh mục và phó tế. Linh mục phụ trách các giáo xứ và hành đạo với tư cách được vị giám mục của giáo phận ủy nhiệm. Phó tế phụ giúp linh mục khi vị này dâng lễ. Phó tế cũng chủ sự việc giảng dạy, rửa tội, chứng nhận hôn phối. Quyền Chúa Kitô ban cho các thừa tác viên trên đây không phải là thứ quyền thống trị, nhưng là quyền phục vụ Dân Chúa, nhằm phát triển dân này trên toàn thế giới. Đức giám mục là nền tảng hữu hình cho sự hiệp nhất của Hội thánh địa phương, đến nỗi có thể nói: "Ở đâu có giám mục, ở đó có Hội thánh”.

Ngoài việc chăm sóc giáo phận mình, mỗi giám mục còn chia sẻ với giám mục đoàn toàn cầu nhiệm vụ rao giảng Tin mừng cho toàn thế giới (x. Mc 16,15). Vì thế, trong quá trình lịch sử, khi Hội thánh gặp những vấn đề trọng đại, các giám mục toàn cầu họp đại hội nghị gọi là công đồng để giải quyết.

Người có ưu thế nhất trong tập đoàn các giám mục toàn cầu là Đức Giáo hoàng, Ngài là một giám mục như các giám mục khác, và được tuyển chọn trong hàng ngũ giám mục để kế vị thánh Phêrô, thủ lãnh các tông đồ. Giống như thánh Phê rô, vai trò đầu tiên của Đức Giáo hoàng là để phục vụ sự hiệp nhất không thể thiếu của các tín hữu toàn cầu. Đức Giáo hoàng là thủ lãnh các giám mục và là đại diện Chúa Kitô giữa trần gian. Có thể nói ngài là vị phụ tá cho Chúa Kitô trong thời đại chúng ta để chăn dắt đoàn chiên Chúa.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Từ nhóm mười hai đến nếp sống mới (tiêp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

2. Từ nhóm mười hai đến nếp sống mới (tiếp theo)

Kitô giáo đã khởi đi từ cảm nghiệm sống thật về một góc thiên đàng trên trần gian. Thế nhưng chỉ sau vài trang, sách Công vụ tông đồ cho thấy nhóm lãnh đạo Hội thánh đã sớm nhận ra rằng những kẻ tin Chúa chưa phải ai cũng đã thành thiên thần. Do số lượng tín hữu tăng quá nhanh và không thể đào tạo kịp, đã xảy ra những điều tiêu cực. Sau chuyện Hanania va Saphira gian lận (Cv 5,1-11) thì đến chuyện một số người bị bỏ quên.

Góc thiên đàng trên trần gian đã sớm biến mất, để lại trong lòng người tín hữu mọi thời một nỗi nhớ nhung khôn tả. Rồi để không rơi vào sự thương nhớ viển vông, nhiều Kitô hữu đã dấn thân thực hiện lại nếp sống ấy ở một quy mô nhỏ. Từ thế kỷ III, nhiều Kitô hữu vào sa mạc sống cô tịch một mình với Thiên Chúa. Về sau các đan sĩ này liên kết thành những cộng đoàn đan tu và người ta lại được nhìn thấy cảnh sống chan hòa hiệp thông: "Không ai coi cái gì mình có là của riêng nhưng mọi sự đều là của chung". Dân Chúa được an ủi vì mẫu mực của Hội thánh vẫn còn đó, nơi những cộng đoàn chuyên tâm miệt mài với lao động và cầu nguyện.

Các tu sĩ nghiệm ra rằng có thể khắc phục sự yếu đuối của phận người nhờ thiện chí và ơn Chúa. Ở đây ơn Chúa đóng vai trò quyết định. Mỗi người cần biết mở lòng (chủ động) để đón nhận (thụ động) mà đồng thời lại phải cầu xin để được ơn mở lòng. Khi đã biết hòa cái chủ động vào hướng thụ động đón nhận, chỉ một sự đóng góp nhỏ của con người thôi cũng đủ. Một đàng sự đóng góp này dù rất nhỏ vẫn không thể thiếu, đàng khác phải khiêm nhường cầu xin để biết đóng góp như thế. Trong thực tế, sự gặp gỡ kỳ diệu này được thực hiện nơi những giờ phút cầu nguyện, nhất là cầu nguyện thinh lặng lâu giờ lúc vừa thức dậy ban mai.

Qua thời gian, các cộng đoàn đan tu ngày càng đông, có khi đến trên dưới hai trăm người. Số đông đã khiến chất lượng bị giảm sút, nếp sống hiệp thông một lần nữa bị suy thoái. Thế kỷ XI, Thánh Bênađô đã thực hiện cuộc về nguồn và canh tân tinh thần đan tu Biển Đức và khai sinh phong trào đan tu Xitô. Thế kỷ XVI, Thánh nữ Têrêsa ở Tây Ban Nha đã thực hiện cuộc về nguồn cho đời đan tu Cát Minh theo định hướng xây dựng những cộng đoàn ít người để có thể đạt được những góc thiên đàng trên trần gian. Bí quyết của vị nữ tiến sĩ Hội thánh này là ba nhân đức: khiêm nhường, từ bỏ và yêu thương.

Kinh nghiệm sống hiệp thông của các cộng đoàn đan tu đã tuôn chảy sang các hội dòng hoạt động tông đồ.

Nhiều chủng viện dùng chung một chìa khóa cho mọi phòng cá nhân. Các trụ sở truyền giáo (La Mission) khi đến Việt Nam đã được dịch thành "Nhà Chung”, từ ngữ về sau được dùng để chỉ các Tòa Giám Mục. Có lần tôi đã nghe một vị linh mục nói với một nữ tu phục vụ ở Tòa giám mục: "Ở đây là Nhà Chung, không có cái gì mình có là của riêng cả!”

Hiện nay tại Tây phương đang nảy nở một số cộng đoàn hỗn hợp cả giáo dân và giáo sĩ sống triệt để theo tinh thần Cộng đoàn Giêrusalem trong sách Công vụ tông đồ. Tại Việt Nam, nhiều cộng đoàn nhà xứ do anh em tu sĩ đảm trách, một số nhà xứ của các linh mục triều có chương trình vun trồng ơn gọi và cả một số nhà xứ khác, cũng nổi rõ dáng dấp tình hiệp thông của Hội thánh thuở ban đầu. Những thực hiện ấy cho thấy mô hình Hội thánh hiệp thông không phải là điều ảo tưởng. Mỗi người cố gắng một chút, giấc mơ Nước Trời rồi sẽ thành đạt.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Từ nhóm mười hai đến nếp sống mới

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

2. Từ nhóm mười hai đến nếp sống mới

Khi còn rao giảng ở Palestine, Chúa Giêsu đã kêu gọi mọi người hoán cải đón nhận nước Thiên Chúa và thâu nạp nhiều môn đệ. Ngài giáo dục họ về nước Thiên Chúa và thiết lập họ thành Hội thánh để tiếp nối công cuộc thực hiện nước Thiên Chúa trong lòng mọi người. Ngài đặt nhóm Mười Hai tông đồ làm nòng cốt và đặt Phêrô làm đầu. Con số 12 ngụ ý nhắc đến 12 chi tộc Israel. Con số 12 là cầu nối chuyển từ dân tộc Cựu ước sang dân tộc Tân ước là Hội thánh. Chính vì thế, khi bị mất một người là Giuđa, nhóm phải chọn một người khác thay thế, đó là Matthias (x. Cv 1,15-26).

Nhóm Mười Hai này được chọn từ giữa những người đã theo Chúa Giêsu từ những ngày đầu tiên (x. Cv 1,21-22). Suốt ba năm, họ được may mắn chia sẻ với Ngài một kinh nghiệm sống hoàn toàn mới. Được rong ruổi theo Ngài trên các nẻo đường Palestine, trong cảnh "không chỗ gối đầu" (Mt 8,20) nên họ thấm thía bài giảng về sự tin cậy Chúa Quan Phòng (x. Mt 6,25-34). Họ chứng kiến những người có vẻ đầy thiện chí nhưng lại bỏ cuộc trên đường theo Chúa ) vì vướng bận việc đời (x. Lc 9,5 7-62), nhất là vì không dứt được mối lo về của cải (x. Mc 10,17-22). Vì thế, họ xác tín những lời tuyên phúc của Chúa (x. Mt 5,3-12) và xác tín rằng không ai có thể làm tôi hai chủ, rằng ai còn say mê tiền bạc thì chưa thể phục vụ Thiên Chúa (x. Mt 6,24). Họ biết cái giá để theo Chúa Giêsu là phải từ bỏ tất cả (x. Mt 19,27-29; Lc 9,23-26). Họ đã có cơ hội đồng cảm với Chúa Giêsu trước sự chống đối và vu khống của người Do Thái, nhất là những tháng cuối đời Ngài. Họ còn được đích thân dự bữa ăn cuối cùng của Chúa, tận tai nghe lời Ngài nói về luật mới của Ngài: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Hơn thế nữa, chính họ còn được gặp lại Ngài, cùng ăn uống và chuyện vãn với Ngài nhiều lần sau khi Ngài từ cõi chết sống lại. Hơn hết giờ đây họ lại được Chúa Cha và Chúa Giêsu ban đầy tràn Chúa Thánh Thần và Chúa Thánh Thần đang tác động trên họ nơi từng nhịp tim và hơi thở.

Chính vì thế, họ đã khai sinh cho Hội thánh non trẻ của Chúa một nếp sống tuyệt vời:

42Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đò giảng dạy,luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. 43Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ.

44Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm t của chung. 45 Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu.

46 Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. 47Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người ‘được cứu độ. (Cv 2,42-45).

Nếp sống ấy được xây dựng trên tinh thần từ bỏ thanh thoát và hiệp thông vô vụ lợi:

32Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung. (Cv 4,32).

Đó là mẫu mực và là thách đố cho Hội thánh mọi nơi và mọi thời đại.

Từ xa xưa, người Việt đã biết rằng "ở đời muôn sự của chung", có nghĩa là tài nguyên trên trái đất được Thiên Chúa Tạo Hóa ban chung cho nhân loại để cùng san sẻ với nhau mà dùng. Đã có những nhà cải cách xã hội ước mơ xây dựng một cộng đồng nhân loại chan hòa yêu thương hạnh phúc, nơi đó mỗi người đều cống hiến hết khả năng và hưởng dùng tất cả những gì cần thiết, ai cũng hạnh phúc vì cảm nghiệm được cái ấm áp "mọi người vì mình và mình vì mọi người".

Quả là một thiên đàng trên trần gian khi loài người không còn tham sân si chút nào nữa. Cái gay go là làm sao để chẳng còn ai vướng phải tham sân si...

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.


Thứ Năm, 9 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo - Lễ Ngũ tuần

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ 16 THẾ KỶ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

Hai cuộn băng thứ tư và thứ năm bị thất lạc. Nội dung chính của 180 phút này nói về 16 thế kỷ đầu của Kitô giáo. Độc giả có thể tạm tham khảo những trang dưới đây được trích từ các bài 39-41 trong loạt bài chưa xuất bản của chúng tôi, tựa đề là Tin mừng cho người muốn nghe. Chúng tôi vẫn đang tiếp tục hỏi tìm hai cuộn băng này, bởi lẽ bài chia sẻ của Thầy Thế Tâm luôn đầy những suy tư sâu sắc, độc đáo của một triết gia Kitô giáo, một bậc tôn sư đã hòa hồn Việt vào thần học mới, và để lại cho cộng đồng Dân Chúa Việt Nam những suy tư, cảm nhận và diễn tả nhuần nhuyễn mà không những các trí thức trong và ngoài Công giáo, ngay cả nhiều tu sĩ và linh mục cũng nên biết và cần biết. (Trăng Thập Tự).

1. Lễ Ngũ tuần

Mười ngày sau khi Chúa Giêsu từ giã các môn đệ về trời, tức là 50 ngày sau ngày Chúa phục sinh, cũng nhằm một ngày lễ đặc biệt của Do Thái giáo, gọi là lễ Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần là Đấng Chúa Giêsu đã hứa, đã đến. Sự kiện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên cộng đoàn các môn đệ Chúa Kitô đã đánh dấu một khởi đầu mới. “Bấy giờ, ông Phêrô đứng chung với Nhóm Mười Một lớn tiếng nói với họ” (Cv 2,14). Kết thúc diễn từ, ông Phê rô nói:

“36 Vậy toàn thể nhà Israel phải biết chắc điều này: “ Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô."

37Nghe thế, họ đau đớn trong lòng, và hỏi ông Phêrô cùng các Tông Đồ khác: "Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” 38Ông Phêrô đáp: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần. 39Thật vậy, đó là điều Thiên Chúa đã hứa cho anh em, cũng như cho con cháu anh em và tất cả những người ở xa, tất cả những người mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi." 40Ông Phêrô còn dùng nhiều lời khác để long trọng làm chứng và khuyên nhủ họ. Ông nói: “Anh em hãy tránh xa thế hệ gian tà này để được cứu độ.” 41 Vậy những ai đã đón nhận lời ông, đều chịu phép rửa. Và hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo."

Số ba ngàn người ấy đến từ nhiều miền khác nhau quanh Địa Trung Hải, "có người là dân Pácthia, Mêđi, Elam, Mêxôpôtamia, Giuđê, Capađôkia, Pontô, và Axia, có người là dân Phygia, Pamphylia, Ai Cập, và những vùng Libya giáp giới Kyrênê; nào là những người từ Rôma đến đây; nào là người Do Thái cũng như người đạo theo; nào là người đảo Cơrêta hay người Ả Rập" (Cv 2,9-11). Họ đại diện cho cả ba châu lục thời ấy: Phi Châu, Âu Châu và Á Châu. Có thế nói, ngay ở bước đầu, Hội thánh Chúa đã nổi rõ tính cách hoàn vũ.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Tư, 8 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Thiên Chúa của Abraham - Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM

4. Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

Nói tóm lại, trong bản nhạc du dương dìu dặt đã bị xáo trộn, cuộc Khổ Nạn của Giêsu Kitô đã nhờ sự thuận tình tuân phục và hiếu thảo, mà thiết lập lại cái hòa điệu, sự dìu dặt của bản tình ca vốn có từ muôn thuở trong chính bản thể của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là mẫu mực cho những người nhìn nhận Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu thế. Bất cứ ai muốn đáp lại lời mời gọi thông dự vào thân thế và sự nghiệp của Ngài, chẳng những noi gương Ngài, sống như Ngài, mà còn kết hợp, đồng hóa với chính Ngài, để sự sống của chính Ngài tác động vào sự sống của ta, biến cuộc sống ta thành như một chất liệu trong bàn tay Ngài, thì Ngài đều dùng chính sự sống của Ngài tiếp diễn sứ mạng chữa trị, chữa khỏi căn bệnh tội ác mà hậu quả là đau khổ và sự chết đã len vào trong cái chương trình ban đầu của Thiên Chúa, nguyên chỉ là tình yêu và hạnh phúc. Vì thế, sau cuộc Khổ Nạn, tức là sau khi chứng bệnh nan y đã được chữa trị một cách triệt để, tận căn, thì cái hậu quả tốt lành xảy đến, đó là Ngài được phục sinh; và như thế là phục hồi cái chương trình ban đầu của Thiên Chúa, vốn tạo con ra, chẳng những với linh hồn bất tử mà cả với thân xác cũng bất tử, để được sống hạnh phúc đời đời vớ Ba Ngôi Thiên Chúa. Như vậy, khổ nạn với phục sinh không phải một bên là nguyên nhân và một bên là hậu quả như là một phần thưởng, mà có thể nói, đó là hai mặt của một tờ giấy duy nhất. Hễ có khổ nạn, thì trong khổ nạn đã là phục sinh, và muốn phục sinh thì đương nhiên phải bước qua ngưỡng cửa khổ nạn. Ngưỡng cửa ở đây là một sự thanh lọc như tôi vừa mới trình bày ở trên kia, là chất kim khí đã bị hủy hoại, đã bị mất phẩm tính, có thể ví như vàng đã bị xuống cấp thành chì hoặc là bị hoen ố thì phải chịu nung chảy và tinh luyện để được trở lại đúng với bản chất vàng ròng. Trở lại với bản chất vàng ròng để làm gì? Là để có thể kết hợp được với chính vàng là Thiên Chúa. Đó là một quy luật mà không ai có thể vượt ra ngoài được. Như vậy, cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh mang lại một soi sáng nào đó cho cuộc nhân sinh mà không ai có thể phủ nhận là đầy mồ hôi, nước mắt và máu xương suốt quá trình lịch sử; và, tôi nghĩ rằng, có thể vẫn còn tiếp tục cho đến ngày tận thế. Bởi vì từ nghìn xưa, đọc qua tiểu sử của mỗi người, lịch sử của từng cộng đồng, thì thấy tràn đầy máu, nước mắt và mồ hôi. Không đến nỗi hoàn toàn bi quan để nói trần gian này là bể khổ, thì cũng phải công nhận cái vốn liếng đau khổ của trần gian này là nhiều vô kể, và có lẽ trong giây phút chúng ta đang còn ngồi nói chuyện, trao đổi với nhau ở đây, thì trên trái đất này có bao nhiêu người vẫn đang đổ mồ hôi sôi nước mắt, vẫn đang đổ máu, hoặc đang đắm chìm trong tội lụy ở khắp nơi. Ai là người dám khẳng định bao giờ thì bi kịch ấy được chấm dứt, được xóa tan khỏi mặt địa cầu này? Chính vì thế mà Tông đồ Phaolô đã tuyên bố, tôi không rao giảng điều gì khác ngoài Giêsu Khổ Nạn và Phục Sinh, và đó là Tin vui được đem đến cho nhân loại, xét về một mặt nào đó, đang còn trầm luân trong bóng tối của đau thương và tội lỗi.

Kitô hữu chính là những người đón nhận Tin vui đó, đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa Cha, qua trung gian Đức Kitô, thừa hưởng cái thành quả của chiến công Ngài đã thực hiện trong cuộc Khổ Nạn, nhưng đồng thời, các Kitô hữu cũng kết hợp với Ngài, đồng hóa với Ngài, phổ quát điều mà Ngài đã hoàn thành một cách viên mãn khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá để đi vào sự phục sinh, bằng cách tiếp diễn nơi bản thân mình, nơi cộng đoàn mình chính cái thân thế và sự nghiệp của Ngài, mà chủ yếu vẫn là một cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh được tiếp diễn từng giây từng phút ở dưới mọi gầm trời cho đến ngày Cánh chung, khi mọi sự đã hoàn tất.

Như vậy, chúng ta bước sang một giai đoạn khác, đó là giai đoạn dân mới của Thiên Chúa, dòng dõi tinh thần của nhóm đệ tử trung thành đầu tiên của Ngài, mà như tôi nói, căn bản là mười hai Tông đồ, nòng cốt và là hạt nhân của dân Thiên Chúa trong giai đoạn mới, được gọi là thời Tân ước.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Thiên Chúa của Abraham - Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM

4. Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

Trong một vũ trụ, một xã hội đã xuất hiện bóng dáng sự dữ, hay nói đúng hơn là đã sống dưới nanh vuốt của sự dữ, thì sự hiện diện như một con người của Giêsu Nazareth không thể nào thoát khỏi cái kết cục đầy bi thương, nạn nhân của những cái xấu xa do tội lỗi gây nên trong lịch sử nhân loại. Cái chết của Giêsu Nazareth là hậu quả của một sự thuận tình sống trọn vẹn thân phận kiếp người, dựa vào niềm tin rằng, cuối cùng đó là trật tự, đó là quy luật mà Thiên Chúa tình yêu đã thiết lập ra; thuận tình tức là đền bồi lại sự phản loạn của ông bà Nguyên tổ; sự phản loạn đã mở cửa cho sự dữ hai mặt, là đau khổ và tội lỗi xen vào, ngự trị và tung hoành tác oai tác quái, xáo trộn cái chương trình, cái kế đồ tình yêu của Thiên Chúa.

Khi đã hiểu được như vậy, sẽ thấy rằng Giêsu Nazareth hình như khao khát đi cho hết con đường thân phận làm người, có sự nôn nóng sớm đạt tới giây phút cuối cùng, mà bất chấp trăm sự rên siết quằn quại đau thương của mộ con người là nạn nhân của những ô trọc, của những tội lỗi, nói tóm lại là của sự ác ở trần gian này, Ngài vẫn thực hiện thánh ý của Chúa Cha trong sự tự do, trong sự tự nguyện và có thể nói, trong niềm hân hoan phấn khởi; và trước khi trút hơi thở cuối cùng, Ngài đã nói rằng: Mọi sự đã hoàn tất.

Nếu các anh chị có dịp đọc kỹ các trang Kinh thánh tường thuật lại bản án Giêsu kết thúc bằng cuộc Khổ Nạn đầy ô nhục, đầy đau đớn của Ngài, thì có thể ví như dựa theo phương pháp cứu [châm cứu] của Đông Y: mọi cái dạng của sự ác được gom lại hết rồi đổ lên đầu Giêsu Kitô để từ đó vỡ ra và được trừ khử khỏi vũ trụ, khỏi nhân loại này. Cuộc Khổ Nạn của Giêsu Kitô như là một biện pháp hút hết tất cả cái sự ác, cái sự dữ đã len lỏi vào trần gian này, hút vào trong con người của Ngài để Ngài hủy diệt nó đi. Ngài chẳng những như một vị lương y, mà còn như là một phương thần dược tiệt trừ nọc độc của căn bệnh nan y là sự ác đã có mặt ở trần gian này.

Vì thế, cuộc Khổ Nạn đó bề ngoài có vẻ là một thất bại, nhưng bên trong bản chất lại là một chiến thắng lẫy lừng. Bao nhiêu cái ác của vũ trụ đã được thu gồm lại, đã được kết tụ lại đặt lên vai Ngài để Ngài xóa đi, để Ngài mang nó ra khỏi thế gian này. Đúng là hình ảnh Con Chiên, vừa gánh tội thiên hạ vừa là xóa tội thiên hạ. Vì vậy, trăm nghìn bài kinh phụng vụ nhắc đến cuộc Khổ Nạn của Ngài, có khi đã dùng các cụm từ như cuộc Khổ Nạn vinh quang, cuộc Khổ Nạn đầy diễm phúc, bởi vì cuộc Khổ Nạn, như tôi nói, chính là liều thần dược cứu chữa nhân loại và vũ trụ khỏi chứng bệnh thâm căn cố đế, tiếng chuyên môn gọi là tội Tổ Tông, mà chủ yếu là sự phản bội, sự phụ tình đối với Thiên Chúa. Thần dược ấy là gì? Là sự tuân phục, sự trung thành, lòng hiếu thảo của một người Con đối với Thiên Chúa Cha từ ái, Đấng tạo thành mọi sự trong tình yêu, mời gọi loài thụ tạo đi vào tình yêu xuyên qua con đường tình yêu.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2025

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Thiên Chúa của Abraham - Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM

4. Tội lỗi và ơn cứu chuộc (tiếp theo)

Có thể nói rằng, bản chất của thờ phượng Thiên Chúa là tin vào sứ điệp tình yêu đó, đón nhận sứ điệp tình yêu đó, và như thế thì có thể nói những hữu thể vốn là loài thụ tạo hư hèn, được dựng nên từ hư không, như hạng dân lê thứ được mời vào cung điện nhà vua để lên ngôi hoàng tử, đồng trị vì với vị Đông cung Thái tử là Ngôi Hai Thiên Chúa

Như vậy, quá trình lịch sử của dân tộc Do Thái là một sự duy trì lời giao ước, duy trì lời hứa hẹn của Thiên Chúa và chuẩn bị cho điều Chúa đã hứa, là thực hiện một kỳ công tuyệt diệu, đó là cho xuất hiện một người, Giêsu Nazareth, con bà Maria, vừa là con người trọn vẹn, vừa đích thực là Con Thiên Chúa, và qua trung gian của con người tột đỉnh ấy mà mời gọi bất cứ con người nào thuận tình đón nhận và thông dự vào chính cái vị thế tôn quý ấy. Đó là ý nghĩa cuối cùng, mục đích cuối cùng của dân tộc Do Thái được gọi là Cựu Ước, tức là giao ước cũ, và giao ước cũ ấy đã được thực hiện nơi Giêsu Nazareth. Nói cách khác, khi Đức Giêsu Nazareth xuất hiện trong vũ trụ này thì kế đồ, hay chương trình tình yêu của Thiên Chúa đã được thực hiện, đã hoàn thành.

Thế nhưng, như ta đã thấy ở trên kia, cái kế đồ, cái chương trình tình yêu đó đã bị xáo trộn vì sự cám dỗ, mê hoặc của Ác thần, cho nên, thay vì được tiến triển trong một quy trình hài hòa tốt đẹp, thì đã gặp phải những bất ổn, trải qua những giai đoạn bi thương thống thiết; do đó, thân thế và sự nghiệp của Đức Giêsu người Nazareth, là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, phải trải qua một giai đoạn cam go, là cuộc Khổ Nạn. Cuộc Khổ Nạn này có một giá trị cứu chuộc. Thật ra, chữ cứu chuộc có hơi nặng nề và hơi có tính cách tiêu cực, thiên về một cách nhìn duy luật thế nào đó khiến chúng ta có cảm tưởng Chúa Cha như một chủ nợ mà loài người mắc nợ, và Giêsu Nazareth phải trả cho đến đồng xu cuối cùng, tức là nhỏ đến giọt máu cuối cùng, khi đó mới được tha nợ.

Nhưng đó chẳng qua chỉ là một cách nhìn, một cách hiểu nào đó, không phải là sai, nhưng không được hoàn chỉnh. Riêng tôi nghĩ, chúng ta có thể hiểu như thế này, tội mà chúng ta gọi là Tội Nguyên tổ, nguyên nhân của mọi đau khổ và mọi tội lỗi lan tràn khắp cả nhân loại, cả vũ trụ này chính là hậu quả của một sự bất tuân, một sự phản loạn, một sự bội ước của loài thụ tạo đối với Đấng Tạo thành, mà đáng lẽ thụ tạo phải biết ơn, cảm tạ, yêu mến và thuận tình. Bởi lẽ, bản chất toàn hảo của Thiên Chúa không thể nào kết hợp được với những cái gì là ô trọc, là tiêu cực; tựa như không thể nào làm cho vàng kết hợp nhuần nhuyễn với chì được, phải biến chì thành vàng, lúc ấy mới kết hợp nhuần nhuyễn được. Vậy, nếu Thiên Chúa là Đấng chí thánh chí thiện toàn hảo, và nhân loại cứ đắm chìm trong tội lỗi, thì chuyện kết hợp là không thể được; nếu muốn kết hợp được, đương nhiên phải có một sự thanh luyện nào đó.

Sự thanh luyện cần có là gì, nếu không phải là sống thánh ý của Thiên Chúa vốn đầy từ ái? Cho nên cuộc Khổ Nạn của Giêsu Nazareth không phải là một cuộc trả nợ cho đến đồng xu cuối cùng, mà là một thái độ tâm tình của người con hiếu thảo thuận tình với Thiên Chúa Cha, vì tin rằng ý muốn của Chúa Cha là ý muốn của một Đấng toàn hảo chỉ đem lại sự thánh thiện tốt lành mà thôi. Vì vậy, khi xuống thế làm người, Giêsu Nazareth thuận tình đi vào cái trật tự, cái quy luật đương nhiên của một vũ trụ, của một xã hội đã xuất hiện bóng dáng của sự dữ. Ngài không đòi hỏi Thiên Chúa phải miễn trừ cho Ngài, dành cho Ngài một quy chế đặc biệt nào đó tách biệt khỏi anh em, nhưng Ngài vui lòng sống thân phận con người, bị mọi quy luật của vũ trụ, của xã hội chi phối, và thuận tình chấp nhận đến tận hậu quả cuối cùng.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.