Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010
Nguồn Gốc Chữ Nôm
Ghi chú: Có qúa nhiều quan niệm xưa “Truyền thống” về chử Nôm.
-Xin tham khảo thêm các bài và tài liệu sau đây.
*Bách Việt Sử : Những lớp bụi mờ của lịch sử ̣( 2 ): Sở楚 LÀ VIỆT越 ...là Văn-Lang .
Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010
Viếng Mộ Đại Thi Hào Nguyễn Du


Khu lưu niệm cụ Nguyễn Du thuộc làng Tiên Điền, xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh khoảng 50km, cách Tp. Vinh (Nghệ An) khoảng 8km. Đến đây, du khách sẽ có dịp biết thêm về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du; đồng thời cũng là dịp hiểu thêm về dòng họ Nguyễn Tiên Điền.
Từ Tp. Vinh, theo quốc lộ 1A, qua cầu Bến Thủy - cây cầu bắc qua sông Lam, nối tỉnh Nghệ An với Hà Tĩnh, là du khách đặt chân lên địa phận thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân. Tiếp tục đi theo quốc lộ 8B khoảng 4km nữa là du khách sẽ đến Khu lưu niệm cụ Nguyễn Du.
Nguyễn Du (1765 - 1820) tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, nguyên quán tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh) nhưng sinh ra và lớn lên tại Thăng Long (Hà Nội ngày nay). Cha của cụ là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm và mẹ là Trần Thị Tần làng Hoa Thiền, huyện Đông Ngạn, xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh).
Từ nhỏ Nguyễn Du đã được tiếp thu sâu sắc tinh hoa văn hoá của cả ba vùng: Xứ Nghệ - Thăng Long và Kinh Bắc. Chính vì thế, Nguyễn Du lớn lên trở thành người học rộng, tài cao, tinh thông cả Phật học và sành các môn thi, họa. Tác phẩm Truyện Kiều là một minh chứng rất rõ về Nguyễn Du. Đây là sự đóng góp rất lớn vào kho tàng văn học Việt Nam.
Khu lưu niệm cụ Nguyễn Du được xây dựng để các nho sỹ, văn sỹ và du khách trong và ngoài nước yêu thích Truyện Kiều, ngưỡng mộ cụ Nguyễn Du - một Đại thi hào dân tộc, một Danh nhân văn hóa thế giới; đến thắp hương tưởng niệm. Đây là khu di tích văn hóa nằm trong quần thể di tích dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Quần thể di tích này là một tổ hợp bao gồm nhiều di tích: đền thờ Đại Vương tiến sĩ Nguyễn Huệ; đền thờ Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Trọng; đàn tế Nguyễn Quỳnh; 2 ngôi nhà Tư văn; khu mộ đại thi hào Nguyễn Du, bảo tàng Nguyễn Du và nhà thờ Nguyễn Du.
Ngôi nhà thờ Nguyễn Du được xây dựng vào năm 1825, ngay trên mảnh vườn nhà cụ thuộc xóm Tiền Giáp. Bên trong có bàn thờ xây bằng vôi cát, phía trên có treo bức hoành phi đề 4 chữ "Hồng sơn thế phả" do Hoàng Phù Phái, tước trung hiếu đại phu đời nhà Thanh tặng vào năm thứ 55 triều Càn Long (1790) cùng bài vị bằng đá có khắc dòng chữ "Thanh Hiên Nguyễn Tiên Sinh".
Tiếp theo nhà thờ Nguyễn Du là đến bảo tàng nguyễn Du - nơi trưng bày nhiều tài liệu, hiện vật gốc quý liên quan trực tiếp đến cuộc đời và sự nghiệp của đại thi hào Nguyễn Du.
Đến Khu lưu niệm cụ Nguyễn Du, du khách vừa có dịp được ngắm nhìn phong cảnh nơi đây vừa có dịp được tìm hiểu thêm về giá trị văn hóa lịch sử, tính nhân văn của quần thể di tích Nguyễn Tiên Điền. Đặc biệt, nếu đến đây vào những ngày đầu xuân, du khách sẽ được thưởng thức những đêm thơ Nguyễn Du tại nhà Tư văn trong Khu lưu niệm Nguyễn Du.
Truyện Kiều là tên gọi phổ biến của tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh (chữ Hán: 斷腸新聲) của đại thi hào Nguyễn Du. Tác phẩm này đã đưa Nguyễn Du lên hàng danh nhân văn hoá thế giới.[cần dẫn nguồn] Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện được viết ra sau khi ông đi sứ nhà Thanh về và theo lời truyền thì Phạm Quý Thích đã cho khắc in vào khoảng từ năm 1820 đến năm 1825, thường được gọi là "bản Kinh". Bản khắc in đó nay không còn nữa nhưng còn lưu lại những phiên bản di dịch ít nhiều. Ngoài "bản Kinh" do Phạm Quý Thích cho khắc in, một số dị bản nữa được in sau đó ở Hà Nội do các nhà in phát hành, thường gọi là "bản Phường".
Nguyên bản tác phẩm Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Hiện nay, ở Việt Nam lưu truyền một số dị bản của tác phẩm này. Bản nôm cổ nhất còn lưu giữ là bản "Liễu Văn Đường" khắc in năm Tự Đức thứ 19 (1866), mới phát hiện ở tỉnh Nghệ An [1].
Truyện Kiều là tiểu thuyết viết bằng thơ lục bát. Truyện phản ánh xã hội đương thời thông qua cuộc đời của nhân vật chính Vương Thuý Kiều. Xuyên suốt tác phẩm là chữ "tâm" theo như Nguyễn Du đã tâm niệm "Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu" (nghĩa là "Linh Sơn chỉ ở lòng người thôi"). Ngày nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những tác phẩmvăn học Việt Nam được giới thiệu rộng rãi nhất đến với các du khách cũng như các nhà nghiên cứu nước ngoài.
Truyện Kiều đã từng được in ngược bởi Nhà xuất bản Thanh Niên để có thể đọc mạch truyện ngược chiều thời gian từ "tái hồi Kim Trọng" trở về đoạn mở đầu truyện lúc hai người còn chưa biết nhau.
Truyện Kiều cũng là tác phẩm được viết và đóng thành quyển sách nặng nhất ở Việt Nam do nhà thư pháp Nguyệt Đình thực hiện. Truyện nặng 50 kg, làm trên trên khổ giấy 1 m × 1,6 m và hiện được trưng bày tại Khu di tích Nguyễn Du huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Nguồn: http://vi.wikipedia.org/
Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010
Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010
Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010
Tạm Biệt Cha Tường

Đôi lời tiễn biệt trước ngày thân xác Lm. Dũng Lạc Cao Tường
trở về với lòng Đất Mẹ, 26.11.2010
Cha về nơi Sáng-Vô-Cùng,
Con còn dưới đất, cũng chung con đường.
Hẹn ngày hội ngộ tương phùng.
*
Trường Ca Ave Maria
Ca khúcTình Quê
Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010
Cánh Chim Dũng Lạc

"Hope For the Flowers" tạm dịch là Chờ Đón Mùa Hoa. Đó là tên một cuốn sách tâm linh khá nổi tiếng, bán chạy nhất trong nhiều năm liền của tác giả Trina Paulus. Cái đặc biệt của cuốn sách này là rất ít chữ mà chỉ có hình vẽ thôi. Mà lại toàn là hình sâu róm, sợ quá!
Con sâu róm sinh ra trên một cành cây trong một ”gia đình êm ấm”. Một hôm nó nhận ra mình đã trưởng thành, cần ”đi xuống cuộc đời”. Và nó đã bò xuống. Nó lấy làm lạ là tại sao nó toàn gặp những con sâu đang đi hối hả về phía trước. Nó hỏi đi đâu, thì những chú sâu không có giờ trả lời, chỉ ngoắc đầu thật nghiêm trọng. Nó cũng sinh tò mò đi theo. Một lúc lâu thì nó thấy một cái cột thật cao, ngọn chạm tới trời. Nhìn kỹ hơn, nó nhận ra đó là một cái cột toàn sâu lúc nhúc đang chen nhau bò lên. Nó hỏi trên đó có gì thì không đứa nào trả lời. Thấy đông đứa hăm hở như thế chắc là phải có gì hồ hởi lắm. Vậy là nó cũng hòa mình vào đám đông ”ai sao tôi dzậy” mà cố sức leo lên, đạp văng nhiều thằng khác mà đạt mục tiêu. Lên đến lưng chừng thì nó ”thấm mệt cuộc đời”, ”ngựa nản chân bon”, bèn nghĩ chuyện bỏ cuộc. Chắc là chả có gì đâu. Và nó bò được xuống đất. Hú hồn.
Nhưng rồi nó đâm hồ nghi chính nó. Hay là mình chẳng giống ai. Nó quan sát thấy ”người ta” miệt mài tranh nhau bò lên thế kia, ắt là phải có cái gì chứ. Thế là nó lại ra sức trèo lên một lần nữa. Lần này nó hung hãn hơn trước. Đấm đá kỹ hơn. La hét kỹ hơn. Tỏ ra ta đây lắm. Và cuối cùng nó đã leo lên được đỉnh cao chót vót. Nhưng cũng chính là lúc nó thất vọng nhất. Chẳng có gì cả. Thì ra cái cột giầu sang cuộc đời này chỉ là một ảo tưởng được tạo bằng chính những con sâu bon chen đặt ra tiêu chuẩn giá trị. Nhìn sang rừng cây bên cạnh, nó thấy một đàn bướm đủ màu tung tăng vỗ cánh thảnh thơi. Nó có dịp lắng đọng nhìn kỹ để phát giác một điều lạ là ở cành cây đang đeo lủng lẳng những cái tổ kén. Đó là những cái mồ chôn để sâu có thể chui vào mà lột xác thành bướm. Con đường thật là kham khổ đầu tắt mặt tối "chân lấm tay bùn", ai mà chẳng sợ! Nhưng có con đường nào khác nữa đâu?!
TIN VUI TÌM ĐỘNG HOA VÀNG
Mặc dù đang thấy hiện trạng là con sâu, nhưng con sâu biết bản chất của nó là có thể mọc cánh thành bướm bay lên được. Này nhé: Sâu có thể trở thành bướm, những mô đất đá cằn cỗi hai bên đường bỗng bật lên những mầm nụ mới vào buổi sang xuân, chẳng phải là sửng sốt lắm sao?!
Động Hoa Vàng Avondale, Louisiana
Cao điểm của năm phụng vụ trong Đạo Chúa là Lễ Phục Sinh. Kể cũng lạ đấy, Tuần Thánh bao giờ cũng trùng vào đầu mùa xuân hoa nở. Hằng ngày đi đến nhà thờ, tôi thật may mắn được lái xe qua con đường quê thật đẹp vùng Avondale ngoại ô thành phố New Orleans, bang Louisiana. Nhưng đẹp nhất phải kể là những ngày đầu xuân. Bãi cỏ xơ xác hai bên đường mùa đông nay bỗng trải dài một thảm hoa vàng mênh mông. "Động hoa vàng" là đây rồi chứ sao phải mất công mơ tưởng mãi đâu đâu để phải hát nghêu ngao theo kiểu Phạm Thiên Thư với nhạc Phạm Duy:
Rằng xưa có gã từ quan,
lên non tìm động hoa vàng ngủ say.
Mình như đang đi giữa vùng đất thần tiên thơ mộng quá chừng, mà cũng thật gần tầm tay với. Con đường này chắc cũng nhiều người qua lại mỗi ngày. Không biết được mấy người lái xe chậm lại một chút để chiêm ngưỡng vẻ hút hồn của đất trời hòa nhập, nhất là vào những lúc mặt trời đang lăm le đòi đi ngủ, nhoẻn miệng cười toát ra một sắc đẹp quyến rũ vô cùng. Mình bỗng bật lên lời thơ của Tô Thùy Yên:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.
Cảm ơn hoa đã vì ta nở,
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.
Tim mình bỗng đánh nhịp bản hoan ca mùa xuân sau những ngày lạnh thu mình lại ẩn dưới những cành trơ trụi tiêu sơ. Mình đọc tiếp lời thơ trên:
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đâu mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay.
Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.
NHỊP ĐIỆU LUÂN VŨ
Chắc là Tô Thùy Yên đã bị đầy đọa vùi dập mười năm chứ gì. Đời như đã bỏ. Lỡ vận. Lỡ thời. Nỗi buồn dài dệt bằng những tiếng thở dài, mênh mang, mênh mang. U uất thâm gan tím mật. Mười năm coi như mình đã chết dấp.
Vậy mà mình bỗng bắt lại được nhịp đời bật nụ non khi nhìn hoa nở. Nó nở thì nở chứ có mắc mớ gì mà dám bảo là đã vì ta nở? Nhưng mình thấy rõ là nó vì mình mà nở. Ai muốn nói sao, kệ. Nó nở để cho hoa mình nở. Mọi phiền muộn bỗng dưng thành hòa khúc dịu êm. Mặt trời đang rạng lên trong tâm ta. Một bình minh mới như bình minh đầu tiên thuở hoang sơ nổ ra từ tiếng “big bang”.
Thiên nhiên quả là người mẹ hiền có phép mầu hóa giải những oan khiên, những phiền muộn. Mẹ có điệu ru của mẹ, qua bốn mùa đong đưa nhịp đời trong nôi đại dương dòng sinh lực vẫn tuôn chảy. Nhìn nụ hoa vừa nở, mọi tàn lụi đời mình bỗng mở lối thênh thang. Một nhịp mới bắt đầu. Tự nhiên lắm. Tự nhiên như dòng nước chảy, như tia nắng vừa lên, như dòng hơi thở bơm sinh khí mỗi khoảnh khắc. Thì ra vạn vật đều đi theo một vũ khúc bao la đất trời, gồm ba giai đoạn, tức là nhịp ba, nhịp luân vũ. Đây cũng là tiến trình chết đi và phục sinh, niềm tin gốc của đạo Chúa, nơi Đức Giêsu, và nơi mỗi người.
Nhận ra hiện trạng mình là một hạt cây hay con sâu với hướng vọng thành lá hoa với đàn bướm tung tăng.
Dám chấp nhận bị vùi giập thối rữa hay chui vào tổ kén, chấp nhận được những trở ngại, những khổ đau. Mình đâu có dễ tự mình lột xác được. Thì đây mình được gửi đến những thập giá giúp mình lột xác biến thể. Hạt lúa nếu không rơi xuống đất và chịu thối mục, sẽ vẫn trơ trọi một mình (Gioan 12:24). Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, ai vui chết đi sẽ được sống tròn đầy (Gioan 12:25).
Mọc cánh thành bướm vươn lên một cuộc sống mới thênh thang thảnh thơi, không còn gì có thể chế ngự kềm tỏa ràng buộc được nữa.
PHÚT TỊNH TÂM
Nhưng con người nhiều khi lại không khôn ngoan được như thế, mà cứ cố bám lấy lớp vỏ dầy cứng khiến đời sống mỗi ngày mỗi tàn tạ?! Nhà thơ Luân Hoán thấy cảnh đáng thương như vậy liền cất lời tự tình:
Cảm ơn đất đá trổ thơ
Lòng ta hạt bụi vu vơ bám hoài.
Ta không tự mình buông xả dễ dàng đâu. Thì đây thập tự như “ỷ thiên kiếm” được gửi đến để chém chặt khai quang cho lòng ta phải trống trơn. Cảm ơn những khổ đau đã làm ta nên người. Cảm ơn hạt cây chịu thối mục để hoa bỗng nở tràn. Ngày lễ Phục sinh thể hiện đúng tiết nhịp hoa nở. Hoa trong vườn. Hoa trong tâm ta.
Mồ Trống và Phục Sinh: sức đột biến từ cơn giẫy giụa.
Một hôm tôi chợt thấy một con ve sầu đang đong đưa trên một cành cây ở vườn sau nhà, nhưng đến gần thì nhận ra đó chỉ là một cái xác, có một kẽ nứt phía sau lưng. Đúng là mồ trống rồi. “Nó” đi đâu mất? Bên cạnh là một nụ hoa chớm nở đầy sức sống. Không thấy “nó”, nhưng trông thấy biểu hiện của “nó” nơi một nụ hoa mới thì chẳng phải mất công tìm ở đâu nữa. Nó đã lột xác và đã phục sinh mang một dạng hình khác đầy hoạt lực tươi trẻ. Với cảm hứng này, tôi đã lấy máy chụp ra mà chộp được cái nét hồn của chính mình đang chuyển biến qua biểu tượng đời sống, và đặt tên là "Xác Ve Sầu và Nụ Hoa Mới: Mồ trống và Phục Sinh."
Hạt cây không phục sinh trở lại hạt cây, nhưng đã là hoa lá mới. Con sâu không rụng lông sống lại với kiếp sâu róm, nhưng đã lột xác thành con bướm bay. Đó mới là cảm nghiệm phục sinh cho tôi lúc này như thánh Phaolô tuyên sấm một cuộc tạo dựng mới:
“Ai ở trong Đức Ki-tô đều là tạo vật mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi.” (2Cor 5:17)
Liệu tôi đã bắt đầu dám lột xác vươn mình lên hay vẫn tiếp tục bám vào lớp bụi bặm phù du, tự đầy đọa mình và làm khổ nhiều người? Những gì tôi đang cần xả bỏ để bắt đầu sống thảnh thơi hơn? Và lời thơ vang vọng trở thành lời phản tỉnh:
Cảm ơn đất đá trổ hoa
U mê hạt bụi lòng ta bám hoài
***
Nguồn: dunglac.org


