Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2012

Trung Quốc: Gọi Chúa là 天主 hay 上帝? (Thiên Chúa hay Thượng Đế)

Nguyễn Trọng Đa2/21/2012

Trung Quốc: Gọi Chúa là 天主 hay 上帝? (Thiên Chúa hay Thượng Đế) 
Linh mục Frans De Ridder, Dòng Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria (CICM)


Làm sao để gọi Chúa trong tiếng Hoa? Đối với người Hoa Công giáo, đó là là 天主 (Thiên Chúa, Thiên Chủ, Tianzhu); đối với người Hoa Tin lành là 上帝 (Thượng Đế, Shangdi). Một bên là “Chúa trời”, một bên là "hoàng đế tối cao". Trong tiếng Hoa, để chỉ người Tin lành, người ta nói 基督教 (Cơ Đốc Giáo, Ji du jiao, ‘tôn giáo của Đức Kitô'); để chỉ người Công giáo, người ta nói 天主教 (Thiên Chúa Giao, Tian zhu jiao, ‘tôn giáo của Chúa trời'). Làm sao có các sự khác biệt này? Chúng có ý nghĩa gì? Trong bài dưới đây, linh mục Frans De Ridder, CICM, cung cấp cho chúng ta các chìa khóa để hiểu (1). 



Bản tiếng Pháp của hãng tin Eglises d’Asie (Các Giáo hội châu Á).



Tên gọi nói lên điều gì? Nhiều điều chứ! Hơn nhiều so với những gì hầu hết mọi người tưởng tượng. Tên có thể định hướng cách bền vững căn tính của một người và sứ mạng người ấy trong cuộc đời. Nhiều người Hoa bỏ ra rất nhiều giờ tham khảo các sách chuyên môn để tìm ra một tên “đúng” cho con mình. Nomen est omen (tên là điềm, là vận mạng). Tên là một dấu hiệu, nó sẽ trao một sứ điệp và một nhiệm vụ.



Thiên Chúa có tên không? Đó là một câu hỏi hay. Câu trả lời là không đơn giản đâu. Trong Cựu Ước, ông Môsê và những người đương thời của ông đã tranh luận vấn đề này. Thiên Chúa đã không nói tên của Ngài. Chúa chỉ nói: "Ta là Đấng Ta Là." Nó thậm chí có thể ngắn hơn, đó là: "Ta là".



Ta là! Tuy nhiên, tên này có thể truyền tải một thông điệp đáng kinh ngạc đối với nhiều người của thời đại hậu hiện đại của chúng ta: “Ta là có thực, ta hiện hữu!”. Bất chấp sự dửng dưng, sự nghi ngờ, các tiên tri sự dữ, sách vở và bài viết của chúng ta cho rằng "Thiên Chúa đã chết". .. Thiên Chúa vẫn thực sự tồn tại! Và thực tại này phải vang dội sâu sắc trong trái tim chúng ta. Một tên cũng có thể cho một dấu chỉ sai hoặc trở thành một sự bối rối. Một phụ nữ đạo đức ở Đài Loan đã đặt tên là con trai của bà: 圣光 (Thánh Quang, sheng guang, hoặc ‘ánh sáng thánh thiện'). Người con tốt lành này đã phải thốt lên: “Con không xứng với tên này đâu.”



Thiên Chúa có tên không? Chúa có đồng ý với tên người ta đặt cho Ngài trong dòng lịch sử nhân loại không? Chúng ta có nên đặt tên khác cho Ngài không? Hoặc chúng ta chỉ giữ sự thinh lặng đáng kính, chìm sâu vào sự kính trọng và kinh ngạc, trước sự hiện diện của Đấng Duy Nhất mà chúng ta không thể đặt tên. Gọi tên..., đặt tên cho một người nào có nghĩa là tôi có quyền trên người ấy, tôi trao cho người ấy một vận mạng... Tôi có người ấy dưới quyền tôi. Đó là lý do tại sao chúng ta không thể đặt tên cho Thiên Chúa.



Ngoài ra, các mẫu tự C H Ú A có nghĩa gì?Khi Kitô giáo đến Trung Quốc, thách thức là rất lớn. Làm thế nào gọi tên Đấng Tối Cao, Thực Tại Tối Hậu này, nguồn gốc của những gì hiện hữu trong tiếng Hoa? Người ta có thể múc các chữ trong ngôn ngữ của họ. .. để diễn tả Đấng Vĩ Đại, Toàn Năng, Tối Cao. .. Một số các khái niệm này có nguồn gốc từ kinh nghiệm văn hóa Trung Hoa: một vị vua 王 (Vương, wang), vị hoàng đế 皇帝 (hoàng đế, huangdi). Tuy nhiên, người Hoa đã nhận ra rằng Thiên Chúa mà các nhà truyền giáo gọi là tốt lành và yêu thương phải là Đấng có quyền thế hơn các người đang cai trị họ. Đó là lý do tại sao họ đưa chữ "trời" 天 (Thiên, tian) đứng trước chữ "vua"王, để làm cho Chúa thành một một “vị vua trên trời” 天王 (Thiên Vương, Tianwang). 



Những người khác, trong truyền thống Tin Lành, đưa chữ "trên" 上 (Thượng, shang) đứng trước chữ "đế" 帝 (đế, di), làm cho "Chúa" thành 上帝 (Thượng Đế, Shangdi), một Hoàng Đế Tối Cao. Có lẽ tôi đang đi quá nhanh và tôi bỏ qua một khía cạnh. Trong truyền thống Công Giáo, chúng ta không gọi “Chúa” là vua trời. Chúa được gọi là Chúa trời 天主 (Thiên Chúa, Tianzhu). Một độc giả cẩn thận có thể cảm nhận được sự giống nhau và khác nhau giữa "vua" 王 (Vương, wang) và "chúa" 主 (Chúa, chủ, zhu).



Sự khác biệt là dấu nhỏ đặt trên chữ 王 (Vương, wang). Không nghi ngờ sự tài tính của tiếng Hoa là nhận thức rằng "Chúa" không phải là như bất cứ vua nào. .. Ngài là là một vị vua rất cao cả và duy nhất. Điều này giải thích sự hiện diện của dấu nhỏ trên chữ 王 (Vương, wang);chữ này trở thành chữ 主 (Chúa, chủ, zhu). Thật thú vị để nhận thấy rằng trong Cựu Ước, Thiên Chúa được gọi là Chúa (Seigneur). Và trong đạo Công giáo, chỉ có Chúa Giêsu được chúng ta gọi là Chúa chúng tôi.



Cũng nên dành thì giờ xem xét chữ "vương" 王.Chúng ta nhìn thấy ba dòng ngang: 三 (tam, san). Chúng có nghĩa là số 3! Ba là một hiện tượng văn tự nổi tiếng có hàng trăm sự kết hợp và vô số ý nghĩa. 



Ví dụ: 诸候 之 宝 三 (chư hầu chi bảo tam, zhu hou zhi bao san): Mạnh Tử đã nói: báu vật của một ông hoàng gồm ba thứ: thổ địa, nhân dân, chính sự. 三宝 (tam bảo, san bao): trong Phật giáo, có ba báu vật: Phật,Tăng và Pháp. Những gì là hoàn hảo phải được diễn tả nhờ sử dụng khái niệm ‘tam” 三.(Người ta có thể tự hỏi phải chăng người Hoa đã dạy cho các tu sĩ Dòng Tên luôn soạn bài giảng thành ba điểm!)三 不知 (tam bất tri, san bu zhi): ba lần không biết, không biết từ đầu tới cuối về một vấn đề bằng cách đi qua trung gian. Ở đây, ba đường ngang đại diện cho quá khứ, hiện tại và tương lai. 三思 而后 行(tam tư nhi hậu hành, san si er hou xing): Hãy suy nghĩ ba lần trước khi hành động. Nhìn kỹ trước khi nhảy! 三人 成 虎 (tam nhân thành hổ, san ren cheng hu, ‘ba người thành con cọp’): Hãy lặp lại ba lần một lời nói dối và tất cả mọi người sẽ tin bạn. Một lời nói dối sẽ được xem là sự thật nếu nó được lặp đi lặp lại. 三人 行 必有 我 师 (tam nhân hành tất hữu ngã sư, san ren xing, bi you wo shi): Nếu có ba người qui tụ lại, ít nhất trong đó một người có thể là thầy của tôi. 三年有成 (tam niên hữu thành, san nian you cheng): Ba năm làm việc chăm chỉ ắt sẽ thành công.



Quay trở lại câu 三 不知 (tam bất tri, san bu zhi), có nghĩa là không biết từ đầu tới cuối về một vấn đề, tôi có trực giác rằng ba dòng ngang đại diện cho quá khứ, hiện tại và tương lai. Nó cũng có thể có nghĩa là địa ngục, cuộc sống hiện tại và cuộc sống tương lai. Theo cách giải thích này, ai cai trị thì có quyền trên địa ngục, trái đất và trời cao. Đừng quên rằng trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng rằng Chúa (sau khi phục sinh) "xuống ngục tổ tông" để công bố vương quyền của Ngài trên sự dữ và tội lỗi, kể cả sự chết.



Trực giác của tôi là rằng ba đường ngang ấy phải được kết nối, và trở thành một, để thực sự đứng đầu và nhận mọi quyền bính. Đó là lý do tại sao nó vẽ một đường thẳng đứng nối ba đường ngang: chúng ta có "vua" của chúng ta 王 (vương).Trực giác Kitô giáo của tôi là rằng chúng ta có thể xây dựng trên tượng hình này mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Bản dịch tiếng Hoa của Thiên Chúa Ba Ngôi là: 三位一体(tam vị nhất thể, san wei yi ti), ba ngôi 三位 (tam vị, san wei) trong chỉ một thân thể 一体 (nhấtthể, yi ti, một đơn vị hoặc sự hiệp nhất nên một).



Chắc chắn rằng các từ ngữ “vị” và "thể" đôi khi gây hiểu lầm trong các ngôn ngữ phương Tây. Ở đây, tôi tiếp cận vùng đất vốn không phải là của tôi, mà là của các nhà thần học chuyên nghiệp. Khi viết đề tài cách diễn dịch Công Giáo cho tên của Chúa, tôi càng xác tín hơn và thậm chí bị quyến rũ bởi ý nghĩa sâu sắc, mà các thế hệ người Hoa đã gán cho thánh danh của Chúa. 



Ý nghĩa phong phú này có lẽ là lý do tại sao các nhà truyền giáo Công giáo đã chọn 天主 (Thiên Chúa, Tianzhu), Chúa trời. Nó có nghĩa rằng Thiên Chúa, dù người ta chọn từ ngữ nào để gọi Ngài, là hiện hữu và Ngài nắm tình hình trong tay.Trong một bài sắp tới, tôi sẽ cung cấp cho các bạn kết quả của một số nghiên cứu về truyền thống Tin Lành của chữ 上帝 (Thượng Đế, Shangdi) hoặc hoàng đế tối cao.



Người ta có thể nói đúng rằng đối với người Hoa…, hoàng đế là "chúa" và rằng điều này là đúng trong thực tế ở Nhật cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhưng điều này đề tài của bài thứ ba!



(1) Người gốc Bỉ, linh mục Frans De Ridder là một nhà truyền giáo, thành viên của Dòng Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria (CICM). Là Giám tỉnh Dòng CICM ở Mông Cổ,Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan và Singapore, cha đang cư trú tại Đài Loan. Cha thường xuyên thăm Trung Quốc đại lục để mở các khoá huấn luyện và tĩnh tâm.



(Églises d’Asie, ngày 14-2-2012)



Nguyễn Trọng Đa

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2012

Cuốn sách vàng trị giá hơn 2 tỷ đồng

Cuốn sách có 5 tờ, 10 trang với kích thước 14 x 23 cm được đúc từ vàng và bạc. Với trọng lượng hơn 2 kg, cuốn sách có giá trị khá lớn về vật chất. Tuy nhiên, theo chủ nhân cuốn sách- nhà sưu tầm cổ vật Cao Xuân Trường, giá trị tinh thần mới đáng trân trọng.
Cuốn sách có 5 tờ, 10 trang với kích thước 14 x 23 cm được đúc từ vàng và bạc. Với trọng lượng hơn 2 kg, cuốn sách có giá trị khá lớn về vật chất. Tuy nhiên, theo chủ nhân cuốn sách- nhà sưu tầm cổ vật Cao Xuân Trường, giá trị tinh thần mới đáng trân trọng.
Anh Trường cho biết, để đấu giá thành công cuốn sách mang về Việt Nam, anh đã lặn lội từ Canada sang Pháp không dưới 10 lần. Mãi đến năm 2010, trong một cuộc đấu giá, với số tiền trả cho cuốn sách là 72.750 euro (hơn 2 tỷ đồng), anh mới chiến thắng và được sở hữu kim thư.
Anh Trường cho biết, để đấu giá thành công cuốn sách mang về Việt Nam, anh đã lặn lội từ Canada sang Pháp không dưới 10 lần. Mãi đến năm 2010, trong một cuộc đấu giá, với số tiền trả cho cuốn sách là 72.750 euro (hơn 2 tỷ đồng), anh mới chiến thắng và được sở hữu kim thư.
Chủ nhân của cuốn kim thư cho hay, mức giá khởi điểm trong cuộc đấu giá diễn ra tại Pháp năm 2010 là 30.000 euro, tương đương hơn 830 triệu đồng. Sau đó, có 3 vị khách lần lượt trả với mức cao nhất là 70.000 euro (hơn 1,9 tỷ đồng). Với giá chốt là 72.750 euro (hơn 2 tỷ), anh Trường mua được sách. Song ít ai biết, để là chủ nhân cuốn kim thư này, anh Trường bán cả một căn nhà tại Canada.
Bìa sách được chạm trổ hình rồng tinh xảo. Đây là một trong số những
Bìa sách được chạm trổ hình rồng tinh xảo. Đến nay, đây là quyển sách bằng vàng duy nhất tại Việt Nam với niên đại 166 năm.
Bên trong là chữ Hán, nói về vợ của vua Thiệu Trị là bà Vũ Thị Viên. Các trang sách cũng được làm từ vàng và bạc.
Bên trong là chữ Hán, nói về vợ của vua Thiệu Trị là bà Vũ Thị Viên. Các trang sách cũng được làm từ vàng và bạc.
Hình ảnh cuốn sách vàng (trái) và đức vua Thiệu Trị (phải) trên poster đấu giá.

Hình ảnh cuốn sách vàng (trái) và hoàng thái tử Bảo Long- con trai vua Bảo Đại(phải) trên poster đấu giá.

Hà Đan
Nguồn: 
http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/02/sach-co-bang-vang-gia-hon-2-ty-dong/page_1.asp 

Sách cổ bằng vàng giá hơn 2 tỷ đồng



Sau nhiều lượt đấu giá, cuốn sách bằng vàng được nhà sưu tầm cổ vật Cao Xuân Trường mang về Việt Nam với giá 72.750 euro, tương đương hơn 2 tỷ đồng.
Đây là cuốn sách do vua Thiệu Trị (vị vua thứ ba thời nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1841 đến 1847) tặng cho bà phi Vũ Thị Viên khi bà được phong từ thứ hạng Lương Tần lên Lương Phi (1846). Cuốn sách bằng bạc được dát vàng kích thước 14 x 23 cm, có 5 tờ, 10 trang, nặng gần 2 kg, với 186 chữ Hán nói về thân thế cũng như sự nghiệp của bà phi này. Bìa sách được chạm trổ hình rồng, bên trong là chữ Hán nói về tiết hạnh cũng như các đức tính của bà phi Vũ Thị Viên.

Nhà sưu tầm cổ vật Cao Xuân Trường cho biết, lần đầu tiên được cầm trên tay cuốn sách vàng, anh hồi hộp, tay run bần bật vì xúc động. Ảnh: Hà Đan.
Trong căn nhà số 31 Bà Triệu (Hà Nội) chứa đầy cổ vật với những bộ bình cổ thời Khang Hy, tủ gỗ từ thế kỷ 19, đôi bình phong cẩn vàng bạc của vua Bảo Đại..., nhà sưu tầm cổ vật Cao Xuân Trường cho biết, cuốn sách vàng là món đồ anh quý nhất. Anh nhớ lại, năm 2002, lần đầu tiên anh được nghe nói về cuốn sách quý qua lời một người bạn Việt kiều Pháp. "Nghe tin có cuốn sách như vậy, tôi rất xúc động, chỉ mong được tận mắt nhìn thấy, sờ vào từng trang sách", anh Trường bày tỏ.
Nhưng phải đến những năm 2004 - 2006, niềm ao ước này của người đàn ông mê cổ vật mới thực hiện được. Anh chia sẻ, đôi tay cầm sách run bần bật vì quá xúc động khi được cầm món cổ vật có một không hai. Từ lúc đó cho đến tận khi đấu giá được món đồ quý này vào năm 2011, anh mới chỉ được một lần chạm tay vào cuốn sách.
Nhà sưu tầm cổ vật Cao Xuân Trường kể, để mang được cuốn sách về Việt Nam, anh phải đi đi về về từ Canada sang Pháp không dưới 10 lần. Ban đầu, dò la và biết, cuốn sách vàng đang được một tướng viễn chinh Pháp trong cuộc chiến tranh Việt Nam lưu giữ, anh đã lặn lội đến tận nhà riêng và thuyết phục người này bán. Dù vậy, mỗi lần đề cập chuyện mua bán, anh đều bị người Pháp kia từ chối.
>>
Cơ duyên đến với Cao Xuân Trường vào khoảng tháng 10/2010, trong một lần đến Pháp, anh biết được thông tin khối vàng nói trên được đưa ra bán đấu giá. "Vượt mặt" cả người Tây, Trung Quốc và một vị khách bí mật trả giá qua điện thoại và ít ai biết, phải bán cả một căn nhà tại Canada, Cao Xuân Trường mới đem được quyển sách vàng về Việt Nam. Ngày cuốn sách về Việt nam là cuối tháng 3 năm 2011.
Bìa sách được chạm trổ hình rồng tinh xảo. Các trang kết nối với nhau bằng 4 chiếc khuyên
cũng được đúc từ vàng pha bạc. Ảnh: Hà Đan.
Anh kể lại, mức khởi điểm trong buổi đấu giá là 30.000 euro, tương đương hơn 830 triệu đồng (tỷ giá hiện tại). Ngay sau đó, một vị khách Tây trả 45.000 euro (khoảng 1,2 tỷ đồng). Người Trung Quốc chốt giá 55.000 euro (hơn 1,5 tỷ đồng). Một khách bí mật định giá 70.000 euro (trên 1,9 tỷ đồng) qua điện thoại. Cuối cùng, Cao Xuân Trường là người thắng cuộc, với mức giá cho cuốn sách là 72.750 euro (hơn 2 tỷ đồng).
Theo Cao Xuân Trường, có giá trị vật chất lớn, nhưng không thể sánh với giá trị tinh thần. Anh bày tỏ, bán một căn nhà, có thể mua lại căn khác, nhưng nếu không mua được cuốn sách trong buổi đấu giá tại Pháp, thì cơ hội để đem được về Việt Nam gần như rất khó. Nhà sưu tầm cổ vật này cũng cho hay, anh không có ý định bán cuốn sách vàng cho người khác. Cũng có khả năng, anh sẽ hiến tặng cuốn sách trên cho một bảo tàng tại Việt Nam để báu vật mãi mãi trong nước.
Trên An ninh thế giới tháng 6/2011, Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn- nguyên Giám đốc Bảo tàng mỹ thuật Cung đình Huế cho biết, cuốn sách nói trên là sách phong duy nhất bằng bạc mạ vàng vẫn tồn tại. Ở Việt Nam và hải ngoại, chỉ còn trông thấy một số sách bằng đồng (đồng sách), và thể sách (sách bằng lụa).
Hà Đan

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Chữ Nôm hay chữ quốc ngữ mới là thuần Việt?

Cập nhật 18/02/2012 09:14:24 AM (GMT+7)

- “Không thể nói chữ Nôm thuần Việt được, vì chữ Nôm do người Việt vay mượn từ tiếng Hán nên chịu nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa Trung Hoa. Chữ quốc ngữ mới là ngôn ngữ của người Việt”.



Trong khi nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân phủ nhận nguồn gốc của chữ Nôm thì một số ý kiến tại hội thảo về chữ quốc ngữ lại cho rằng đó mới chính là Tiếng Việt thực sự.


“Sẽ rất đáng tiếc khi các ngành, các nghề đều có ngày kỉ niệm còn chữ quốc ngữ thì không!” – Ông Nguyễn Lân Bình chia sẻ.

Tại hội thảo, bên cạnh những vấn đề liên quan đến chữ quốc ngữ, ảnh hưởng của nó đối với đời sống và văn hóa của người Việt, vai trò của nhà tân học, nhà báo, nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh trong việc “bắc cây cầu nối hai nền văn minh Đông – Tây” bằng sợi dây ngôn ngữ, các diễn giả Nguyễn Lân Bình, Lại Nguyên Ân, Mai Thành Chung, và nhà sử học Dương Trung Quốc đã đề xuất việc xác lập ngày kỉ niệm Chữ quốc ngữ nhằm tôn vinh ngôn ngữ của dân tộc.



Cần Luật hóa ngôn ngữ

Qua những phân tích cụ thể cùng dẫn chứng có tính khoa học, các nhà nghiên cứu đã khẳng định vai trò to lớn và sức sống mãnh liệt của chữ quốc ngữ trong dòng chảy thăng trầm của lịch sử.

“Chữ quốc ngữ là điểm đến của những nỗ lực, những quá trình tìm tòi nhằm xác lập chữ viết riêng cho cộng đồng người Việt với tư cách một dân tộc - quốc gia. Tôi đồng tình với đề xuất cần có ngày kỉ niệm chữ viết của dân tộc”. – Nhà phê bình văn học, nghiên cứu ngôn ngữ Lại Nguyên Ân khẳng định.

Diễn giả Nguyễn Lân Bình (cháu nội ông Nguyễn Văn Vĩnh) nhấn mạnh:“Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, việc có một ngày để tôn vinh chữ quốc ngữ là điều nên làm. Sẽ rất đáng tiếc khi các ngành, các nghề khác đều có ngày kỉ niệm còn chữ quốc ngữ thì không. Bởi lẽ, nguồn gốc của lòng yêu nước là văn hóa, đối với mỗi người dân Việt Nam không chỉ một mảnh ruộng, một con trâu là đã thể hiện tình yêu quê hương mà tình yêu ấy còn thể hiện qua chữ quốc ngữ, hay nói cách khác là qua nền văn học, thơ ca của dân tộc”.

Người có công rất lớn trong việc truyền bá và phát triển chữ quốc ngữ phải kể đến Nguyễn Văn Vĩnh. Ông không sáng tác nhiều nhưng các tác phẩm dịch và những hoạt động ý nghĩa của ông đã góp phần vào quá trình tạo nên ngôn ngữ thuần Việt, chính là chữ quốc ngữ chúng ta sử dụng bây giờ. Tuy nhiên, ông là người không thích được ca ngợi nên những việc ông đã làm ít ai được biết đến, công nhận. Như trong hồi ký của mình, nhà văn Vũ Bằng đã viết:“Nguyễn Văn Vĩnh từng nói rằng, nếu cuộc đời này có một cái nhà kính để sống, để quan sát thì tôi sẽ đứng trong nhà kính đó” – Ông Nguyễn Lân Bình chia sẻ thêm.


Nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân cho biết, nếu có ngày kỉ niệm Chữ quốc ngữ, có thể lấy ngày ra đời tờ báo tiếng Việt đầu tiên (Gia Định báo, ngày 15/4/1965).

Nói về vấn đề này, ông Dương Trung Quốc (Tổng Thư ký hội Lịch sử Việt Nam) cho rằng bên cạnh việc xác định ngày kỉ niệm chữ viết dân tộc, cần có thêm Luật về ngôn ngữ vì có rất nhiều vấn đề đặt ra:


“Tôi cho rằng ý tưởng về ngày chữ viết của dân tộc rất hay và cần thiết. Nhưng vấn đề bức xúc hiện nay là nước ta có hơn 54 dân tộc, có rất nhiều loại ngôn ngữ, chữ viết khác nhau. Tại sao không đưa chữ Hán Nôm vào đời sống, tất nhiên không phải là sự trở lại mà là để gìn giữ văn hóa nước nhà? Có nhiều loại chữ nhưng chữ nào chuẩn hóa? Vì vậy, cần phải có Luật ngôn ngữ”.


Quốc ngữ: đâu mới là tiếng mẹ đẻ?

Hội thảo tranh luận sôi nổi với nhiều quan điểm đa chiều về chữ quốc ngữ. Theo ông Lại Nguyên Ân, chữ Nôm không thuần Việt, vì đó là sản phẩm vay mượn của người Hán nên chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Trung Hoa. Ông khẳng định: “Chữ quốc ngữ mới là của người Việt”. 


  Nhà sử học Dương Trung Quốc: “Ý tưởng ngày kỉ niệm chữ quốc ngữ rất hay. Nhưng cần có Luật để giải quyết những vấn đề bức thiết”.

Diễn giả, thạc sỹ Mai Thành Chung cũng hình tượng hóa chữ quốc ngữ một cách khéo léo: “Chữ quốc ngữ là chữ ghi thanh (nói như thế nào, viết như thế đấy), được Việt hóa hoàn toàn, nó xuất xứ từ tiếng La tinh nhưng do người Việt hoàn thiện. Việc tạo ra ngôn ngữ cũng giống như quá trình làm bánh, chúng ta chỉ dựa trên những nguyên liệu có sẵn để chế tạo ra sản phẩm cuối cùng, đó là chữ quốc ngữ”.

Nói về nguồn gốc và ảnh hưởng của chữ Nôm, anh Mai Thành Chung cũng giải thích, đó không phải do người Việt sáng tạo như nhiều người vẫn nghĩ. Thêm vào đó, chữ Nôm khó sử dụng để giao tiếp, tư duy nên đã bị loại bỏ, và lùi xa so với chữ quốc ngữ trong tiến trình phát triển của xã hội.


Bên cạnh đó, một số ý kiến lại cho rằng, chữ Nôm mới chính là sản phẩm thuần Việt, mang tính dân tộc và chứa đựng bản sắc dân tộc. Quốc ngữ có từ khi người Việt còn dùng chữ Nôm để sáng tác thơ văn, ghi lại sử ký. Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện (Phó Giám Đốc Viện nghiên cứu Hán Nôm dẫn chứng:“Từ thời Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có Bạch Vân am Quốc ngữ thi tập, hay như Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi với hàng trăm bài thơ Nôm”.

Trao đổi trong cuộc thảo luận, có sự tham gia của rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học. Nhiều vấn đề nảy sinh xoay quanh chữ quốc ngữ được đưa ra tranh luận, phân tích, và mổ xẻ. Trong khi Giám đốc Viện nghiên cứu Minh Triết Việt Nam, Nguyễn Khắc Mai đặt ra câu hỏi: “Tại sao lại gọi là chữ quốc ngữ?”, thì nhà nghiên cứu văn học Huệ Chi lại trăn trở: “Điều gì để chữ quốc ngữ trở thành độc tôn của dân tộc?”. Các nhà nghiên cứu cho biết, liên quan tới việc xác định ngày kỉ niệm chữ quốc ngữ còn rất nhiều vấn đề cần bàn bạc để đi đến thống nhất.

• Thu Thảo

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012

Ngày Xuân Tìm Ý Nghĩa Của Mai, Lan, Cúc, Trúc


Hàng nghìn năm nay phương Đông quen với bốn vị quân tử của loài hoa là Mai, Lan, Cúc, Trúc. Đọc những âm âm Hán Việt này cho người ta cảm giác có vẻ đặc mùi Tàu khiến cho nhiều người nghĩ rằng, những cái tên ấy cùng tục thưởng hoa cũng từ Trung Hoa truyền tới. Xin thưa, đó là điều ngộ nhận từ xa xưa, khiến người ta quen dần mà tưởng là thực.


Nếu căn cứ vào âm Hán Việt, ta chỉ thấy đó là tên của bốn loài hoa mà không còn ý nghĩa nào khác. Nhưng khi đọc chúng theo dạng chữ Nôm (chữ Việt cổ) thì lại khác.


Hoa Mai (). Chữ ()được ghép bởi -Mộc + -Mỗi. Quảng Đông đọc ”-Mủi/mụi”. Triều Châu đọc là “-Muýi”. Đó chẳng phải là vết tích chữ nầy chính là -Mới thời xưa sao ? Tiếng Việt cổ là Mơ rối chuyển thành Mới rối thành Mai và cũng là cách đọc Hán Việt từ thời Đường. Người Bắc Kinh đọc là Mỉ, Quảng Đông đọc là Mùi.


Trong tiếng Việt có những từ Mơi, Mơ, Mai để chỉ cái mới: sớm mơi, sớm mai, sáng mai, sáng tinh mơ…Loài hoa nở cuối Đông, đầu Xuân đi đầu trong bách hoa để tạo nên mùa hoa mới, đón xuân mới, năm mới nên được đặt tên là Hoa Mới. Rồi Mới biến âm thành Mai. Hoa Mai đứng đầu loài hoa trong vị thế hoa quân tử.



Hoa Lan :  gồm bộ thảo và Môn với Đông. Đông là đang, đang đọc thành Lan. Thật ra chữ nầy là “Đang”, cây hoa Lan đang dính vào bản gổ, cây rừng, v v… Đang dần biến thành “Lan”. Ngày nay tiếng Triều Châu/ Mân Việt vẫn đọc Đông là Tang/Đang; trong tiếng Việt Nam thì là lan tràn. Loài Hoa lan tràn khắp nơi. Trên cành cây, thân cây, bản gỗ mục, trong chậu đất, dưới đất đều mọc lan tràn. Rồi gút biến thành Cúc áo Hiện nay người ta thống kê được hơn 80.000 ngàn loại “Lan” trên Trái đất! Chính vì cái sự lan tràn như vậy cho nên gọi là “Lan”. Và cho dù lan tràn khắp nơi nhưng vẫn đẹp, thơm, sạch, “gần bụi trần mà chẳn nhiễm bụi trần” nên được tôn trọng là có tính cách “quân tử “.


 Cúc: Tiếng Việt xưa có những từ “Cúp”, Gút- thắt gút/ nút áo-khuy áo. Ngày xưa dùng vải thắt gút lại làm nút áo dùng, cho nên gọi là “gút”. Gút là kết (tụ lại), kết/tụ, kết/dính, hợp lại gọi là “Gút” rối thành Cúc. Hoa có cả trăm cánh nhỏ “gút” lại cho nên gọi là Hoa Gút – Hoa Cúc.  là chữ tượng hình vẽ bông “gút” gồm bộ “thảo”/ cỏ ở phía trên, bên dưới là mượn chữ “-mễ” để vẽ ra hình ảnh các cánh hoa nhỏ dính kết “gút” lại. “Gút” dần biến thành “Cúc”. Tiếng Quảng Đông đọc là “Cúc”, Triều Châu đọc là “Kếk”, Bắc Kinh đọc là “júya/chíê” ( phát âm Juýa hay chiế của Bắc kinh lại trùng với âm của chữ “tụ” cũng đọc là “juýa/Chiế”- điều nầy chứng tỏ tiếng Bắc kinh vẫn ngầm nói lên ý nghĩa bông Gút/cúc nhiều cánh hoa nhỏ thành ra 1 đóa “Gút”. Trong không khí mùa Thu mát lạnh, dù đôi khi vàng rực, có hơi rực rỡ thì cũng không bao giờ có nét kiêu sa như Mẫu đơn hay hoa Hồng.vì vậy được tôn vinh là có tính cách “quân tử”


-TRÚC: Cây Mọc thẳng, khi nở hoa thì cây trúc sẻ bị chết…tre tàn thì măng mọc. Chỉ có loài trúc/tre là loài cây thân có từng “đốt”, mỗi đốt là một khúc.  = chữ tượng hình vẽ chữ “đốt”/đốt tre gồm 2 lá tre và 2 đốt của cây tre. “Đốt” dần biến thành “trúc”


Dĩ nhiên, dân nào nói được “đốt” thì cũng đọc và nói được phát âm “Trúc”, chúc, khúc như đã thấy trong tiếng Việt Nam. Những nơi phương ngôn không đọc được “Đ” thì gọi “Đốt” thành ra : Trúc, chúc, chủa …

“Trúc”/ Đường âm-Hán Việt; “chúc”/tiếng Quảng Đông; “chủa”/ tiếng Bắc kinh. Cây trúc luôn đứng thẳng và sống được ở khắp nơi dù là đất cằn cổi vì vậy được tôn trọng là có tính cách “quân tử”.

Như vậy, bốn vị quân tử trong loài hoa:



-Hoa “Mới” chịu lạnh để nở ra chào đón năm mới

-Hoa “Lan” lan tràn khắp nơi trên cả thân cây, dưới đất v. v… để đem cái đẹp và              hương thơm cho đời mà khiêm nhường không kiêu sa như hoa Hồng…

-Hoa “Gút” đã gút/cúc/kết các cánh hoa nhỏ lại mà đẹp dịu dàng trong cái lạnh mùa thu, thời tiết càng lạnh thì hoa “Gút” càng đẹp…

- Trúc là cây “Đốt” có “đoạn”/ và luôn mọc thẳng.


Do biến âm theo từng vùng địa lý, và qua cách dùng chính thống của các triều đình cả ngàn năm thời phong kiến đã biến Tứ Quân Tử Hoa với phát âm “Nôm” gốc là Mới-Lan-Gút-Đốt trở thành Mai-Lan-Cúc-Trúc! Ngày nay, dù tra tự điển Hán hay Việt thì không bao giờ tìm thấy nghĩa của Tứ quân tử Hoa với các chữ “Mai” “Lan” “Cúc” “Trúc” có nghĩa là gì!!! Chỉ khi nào người ta nhận ra cái gốc của phát âm “nôm” thì mới hiểu rõ vì sao tên của Tứ quân Tử hoa đã được gọi tên cùng với ý nghĩa thật rõ ràng.

Từ tìm hiểu nghĩa Mới của Mai, ta có cách hiểu khác về bài thơ của thiền sư Mãn Giác.

    : Cáo tật thị chúng

春去百花落

Xuân khứ bách hoa lạc

春到百花開

Xuân đáo bách hoa khai

事逐眼前過
Sự trục nhản tiền quá
老從頭上來
Lão tùng đầu thượng lai
莫謂春殘花落盡
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
庭前昨夜一枝梅
Đình tiền tạc dạ nhất chi Mai.


Thích Thanh Từ dịch thơ:

Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua – sân trước – một cành mai.



Có điều không nhất quán của bản dịch là: hai câu đầu đều nói tới trăm hoa với nghĩa loài hoa nói chung, không đề cập riêng loài hoa nào. Trong khi đó câu kết lại nói về một loài hoa Mai cụ thể.

Mặc khác, khi đã Xuân tàn hoa lạc tận… thì không thể nào lại có hoa Mai nở.

Phải chăng là sẽ hợp nghĩa hơn khi hiểu chữ Mai không phải hoa Mai mà theo nghĩa Mới: Đêm qua sân trước nảy cành tươi

Đỗ Thành

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2012

Lang Liêu Và Giấc Mộng Bánh Chưng

Chủ nhật 12/02/2012 12:00:00 (GMT +7)

Nguồn: Trích và triển khai từ tiểu luận Đức ngữ: Thái Kim Lan, “Das Tao des Essens in der östlichen Philosophie” - Đạo ẩm thực trong triết lý Đông phương
Quan niệm cho rằng cuộc sống là dấu hiệu của trời và đất, rằng ăn và uống làm cho mầm sống lớn mạnh, rằng trong chuyện ăn bao hàm sự toàn thiện và sắc đẹp (mỹ), rằng bổn phận của người cầm cân nảy mực, mệnh danh con trời (thiên tử), nằm trong việc chu toàn lương thực cho dân - thật ra không chỉ là tư tưởng của Kinh Dịch và truyền thống Khổng Mạnh, những quan niệm này đã có sẵn trong cái “bánh chưng”, món ăn truyền thống của người Việt.
Truyện kể rằng:

Vào thời dựng nước cách đây mấy nghìn năm, Hùng Vương thứ 6 trị vì nước Việt. Một ngày nọ vua cha thấy mình đã già, cần người khôn ngoan nối dõi cai trị đất nước tốt đẹp. Sau khi đã sát hạch các hoàng tử về văn tài cũng như võ công, nhà vua rất đẹp lòng về tài nghệ song toàn của các hoàng tử nhưng còn phân vân chưa biết chọn ai. Một ngày nọ vua cha cho vời các con đến và bảo rằng: “Ai trong các con có thể nấu món ăn nào ngon nhất, kẻ ấy sẽ được ta truyền ngôi cho”.

Các hoàng tử vâng lệnh, hối hả lên đường tìm những thức nấu quí báu nhất, hiếm lạ nhất, ngon nhất, để sửa soạn món ăn. Họ gửi quân hầu đi khắp nơi trên đất nước, lặn lội rừng sâu hay biển cả để tìm cho được những loại thịt, cá quí hiếm, những rau cải và rau thơm chọn lọc nhất. Chỉ duy hoàng tử thứ 18, một vị hoàng tử rất có hiếu và thông minh nhưng mẹ chàng lại rất nghèo nên không có tiền để lên đường tìm kiếm của ngon vật lạ. Chàng đành ở nhà với nỗi lo âu. Chàng chỉ biết cầu nguyện tổ tiên và trời đất giúp chàng tìm ra một món ăn thích hợp. Thời gian qua mau, sắp đến ngày khảo thí. May sao một đêm, trong giấc ngủ chàng nằm mơ thấy một vị thần đến bảo rằng: “Ta biết con là một kẻ hiếu thảo, ta muốn cùng con sửa soạn một món ăn thích hợp với tính tình hiếu đạo và tâm hồn của người dân, mà không phí phạm xa hoa. Con phải biết rằng, dưới Trời và trên Đất không có gì quí hơn hạt gạo mọc khắp đồng ruộng đất nước. Không cần phải sục sạo rừng rú hay biển sâu để tìm. Vậy con hãy chọn loại gạo tốt nhất, đó là thứ gạo nếp trên cánh đồng nhà, lấy thêm đậu xanh trong vườn nhà hay mua của vườn nhà hàng xóm, rất dễ gặt hái, sau đó mua thịt lợn nơi trại nuôi lợn trong làng và năm thứ gia vị ở sau vườn. Hãy vút gạo cho kỹ, đãi đỗ xanh sạch vỏ, gia vị tiêu hành muối nước mắm cho thịt heo, hái lá chuối hay lá dong sau vườn, rửa sạch và chẻ tre làm dây buộc. Cho gạo cùng thịt trên lá, lớp gạo bên dưới, đậu xanh và thịt heo ở giữa hai lớp gạo, gói lại thành hình vuông, biểu tượng của Đất, rồi gói đòn dài hình tròn, biểu tượng của Trời, lấy lạt buộc kỹ, sau đó bỏ vào nồi nước sôi, luộc chúng một đêm rồi lấy ra để ráo nước. Con sẽ thấy phép mầu hiện ra”.

Lang Liêu tỉnh dậy, làm theo lời dặn của vị thần trong mộng. Đến ngày khảo thí, vua cha ngạc nhiên thích thú khi nếm vị tinh khiết và thơm ngon của chiếc bánh do hoàng tử Lang Liêu dâng lên. Sau khi đã thử qua những thứ sơn hào hải vị như nem công chả phượng, chân gấu hầm trong rượu rắn, lưỡi chim sẻ chiên tẩm mật hay vi cá nấu trong nước xốt tôm hùm…nhà vua nhận thấy tất cả sơn hào hải vị này đều không sánh nổi bánh chưng của Lang Liêu. Bánh của Lang Liêu đoạt giải nhất và vua Hùng đẹp lòng truyền ngôi cho chàng vì chàng đã sáng chế ra một món ăn, trong đó tinh hoa của vạn vật giữa Trời và Đất đã được qui tụ hài hòa thành chất ngon lành cho con người.

Có thể nói sự tích bánh chưng bánh dày, dù mang đôi chút huyền thoại thời Hùng Vương, là công thức đầu tiên của bếp Việt được truyền tụng trong nhân gian và được viết thành văn, phổ biến cho mọi tầng lớp, khác hẳn với tính cách bí mật gia truyền của các món ăn, thường chỉ mật khẩu cho con cháu kế thừa. Trên lãnh vực bếp núc, làm bếp, nấu bếp thường nằm “trong nhà”, có tính tư riêng “một nhà” với nhau, bà truyền cho mẹ, mẹ truyền cho con, con truyền cho cháu. Nhưng sự tích bánh chưng là nghề nấu truyền cho dân gian, không chỉ nói về cách nấu bánh chưng mà còn chứa đựng một thứ triết lý ẩm thực thuần túy Việt Nam, hay “đạo ẩm thực Việt Nam”. 

Thấu suốt “con đường” ẩm thực hầu như là một trong những điều kiện an bang tế thế, xây dựng đất nước lành mạnh, tạo nên thể tính Việt Nam. “Ăn” bao hàm quá trình thể hiện đạo đức sống, khởi đầu từ “người nấu”. Chính người nấu ấn định thể chất món ăn qua sự tuyển lựa thức nấu, vật liệu, gia vị, nhiên liệu… Truyện kể Lang Liêu, là vị thái tử thông minh, tài giỏi, đức độ, một người con có hiếu, một người em thảo, những chi tiết ấy rất quan trọng. Có lẽ nếu không có những chi tiết này, “bánh chưng” sẽ không…được nấu! 

Tư duy hay “cơn mộng nấu” của ông, thoát thai từ đạo đức ấy, bộc lộ sự đắn đo, cẩn mật trong chọn lựa vật liệu, lương thực, mùi vị, cùng nghệ thuật tạo hình, biến chế và thẩm mỹ của sản phẩm. Sự chọn lựa biểu hiện tâm tình của người nấu không những cho người ăn, mà ngay cả đối với các vật liệu lấy từ thiên nhiên như gạo, nếp, ngũ cốc, thịt gia súc, gia vị, cây cỏ…. cần để tâm cẩn trọng vun trồng. Vun trồng trong tinh tấn, trong ý hướng lành mạnh, bổ dưỡng cho con người, đó là văn hóa trong nghĩa xác thực của chính khái niệm này. 

Bàn tay nấu vừa thỏa mãn nhu cầu, vừa điều khiển, nêu mẫu mực cho việc “ăn”- ăn ngon, ăn lành biến thành văn hóa từ đó. Nhu cầu “ăn” do đấy tùy thuộc nghệ thuật nấu, nghệ thuật nấu lành mạnh thì nhu cầu ăn nghiêng về lành mạnh, nghệ thuật không lành mạnh thì sản sinh nhu cầu bội thực, ăn nhậu bí tỉ. Nhu cầu bội thực (nhậu nhẹt suốt ngày) làm cho thể xác và tinh thần con người bệnh hoạn. Vì vậy người ăn cần được giáo dục để chọn lựa đúng thức ăn cho chính mình và cho người cùng ăn, đạt trình độ “biết ăn”. người Việt ta thường dùng chữ “có ăn học” để chỉ người được giáo dục cao, có trình độ văn hóa. “Biết ăn” là điều kiện của “biết sống” bao hàm quá trình hấp thụ văn hóa và giáo dục của tập thể ăn. Có thể nói Lang Liêu (người nấu) và vua Hùng Vương (người ăn) là hợp thể đồng điệu trong “đạo ẩm thực Việt Nam”. “Người nấu” Lang Liêu đã thấu rõ và đồng cảm với sự đòi hỏi của “người ăn” Hùng Vương và ngược lại, “người ăn” Hùng Vương, ông vua biết thưởng thức và đòi thưởng thức món ăn chính đáng cho cả cộng đồng đã được người nấu đáp ứng đúng mức nhu cầu mong đợi.

Tương quan “đồng điệu” giữa vua cha Hùng Vương và hoàng tử Lang Liêu đã tạo nên một nhất thể văn hóa của đạo ẩm thực, trong ý nghĩa nuôi dưỡng để phát triển bền bỉ và hoàn thiện.

Giấc mộng của Lang Liêu không phải là giấc mộng tình cờ, mà chính là kết quả của trằn trọc suy tư, thao thức tìm đường đi, phương cách thực hiện món ăn nuôi dưỡng cho cả một thời đại và thế hệ tương lai. Nhưng trí tuệ chưa đủ mà cần có trực giác và linh cảm khả dĩ nối kết với siêu nhiên, để có thể sáng tạo hoàn hảo. “Mộng” thấy “Thần linh” hay thần linh báo mộng là một trực cảm siêu việt. Với trực cảm ấy và tinh thần chí hiếu, Lang Liêu hội đủ điều kiện để “làm vua” trong sứ mạng “nuôi dân” no đủ, tôn kính môi trường sống của người dân, không xa xỉ phí phạm tài nguyên, phát triển tài năng – và nhất là thực hành đúng con đường trung đạo “nấu” được- hay sáng tạo- đáp ứng đúng nhu cầu và kiểm soát nhu cầu (để không bị nhu cầu quá trớn điều khiển). 

Giấc mộng “bánh chưng” của Lang Liêu gặp vị Thần có lẽ nằm trong ý nghĩa mà triết gia Feuerbach đã triển khai: ẩm thực là một thứ tôn giáo- “Đời sống là thượng đế, lạc thú đời sống là lạc thú thượng đế, niềm vui đời sống thực thụ là tôn giáo thực thụ. Nhưng trong lạc thú đời sống này có sự hưởng thụ thức ăn và thức uống. Bởi thế, nếu cuộc đời nên là thánh thiện thì thức ăn và thức uống cũng phải được xem là thánh thiện”.

Lang Liêu thanh cao chứ không thô thiển, lớn lối như Feuerbach, và sáng tạo hơn, ông tặng một cái bánh chưng được nấu bằng tinh hoa của Trời và Đất của tổng thể linh ứng vũ trụ cho dân tộc Việt với lời chúc “ăn ngon” để chóng lớn trong mùa xuân hôm nay, mai sau và cả nghìn sau.
Thái Kim Lan

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Cánh Bướm Đầu Xuân



Đầu năm cánh bướm khoe mình,
Cành hoa cũng nở nụ xinh rạng ngời.
Chồi non xanh nhoẻn miệng cười.

13 tháng giêng Nhâm Thìn
*

Năm Rồng Kể Chuyện Con Rồng

http://www1.vtc.com.vn/view/8/83002/phim_tai_lieu__nam_rong_ke_chuyen_con_rong.aspx