Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Không Chỉ Là 5.000 Năm!


(Trao đổi với học giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh về sử Việt)
Hà Văn Thùy

Sau khi được công bố trên anviettoancau.net, bài Có cần viết lại tên Bách Việt?” được nhiều trang mạng đăng lại. Học giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đưa lên diễn đàn Lý học phương Đông của ông với lời phê bình công phu. Cảm mối thịnh tình của ông, tôi xin thưa lại đôi điều.

1. Về con số 5000 lịch sử

Là người sớm đứng ra đòi lại bản quyền kinh Dịch cho tộc Việt, ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh cũng là học giả kiên trì quan điểm “5000 năm sử Việt.” Trong bối cảnh giới sử học chính thống dùng những phát hiện mới về thời Đông Sơn-Hùng Vương để khẳng định “2800 năm sử Việt” thì việc bảo thủ quan điểm “thiếu cơ sở khoa học” như vậy dễ bị cho là lạc hậu!
Có thể vì vậy, ông níu bám cái “cọc khoa học” duy nhất có thể ủng hộ ông là Tiêu chí lịch sử xác định rằng: Lịch sử của một dân tộc chỉ được coi là bắt đầu từ khi dân tộc đó lập quốc.”

Quả là đã có một tiêu chí như vậy, do học giả phương Tây đưa ra từ thế kỷ trước. Thời đó, khoa học chưa biết tổ tiên Homo sapiens là ai, lại càng mù mờ hơn khi nói đến cội nguồn của mỗi tộc người. Vì vậy, thời điểm lập quốc được dùng làm mốc son ghi sự trưởng thành của một dân tộc. Do tính hợp lý và hữu dụng nên nó nhận được sự đồng thuận của giới khoa học. Và lịch sử loài người đã định hình chính trên tiêu chí đó.

Nhưng sang thế kỷ này, tình hình đã khác. Không những biết tổ tiên duy nhất châu Phi 160.000 năm trước của nhân loại mà nhờ di truyền học, nhiều dân tộc còn biết đích xác nguồn cội của mình.
Riêng với người Việt, may mắn hơn, nhờ khám phá của nhân loại, chúng ta biết rằng, 70.000 năm trước, người tiền sử từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ đặt chân lên vùng đất nay là thềm Biển Đông, sinh ra tổ tiên chúng ta. Từ cái nôi này, người Việt đã lan tỏa ra khắp thế giới. Từ 40.000 năm trước, đã chiếm lĩnh đất Trung Hoa và sau đó sang khai phá châu Mỹ.
Nhờ khảo cổ học, chúng ta cũng biết rằng, khoảng 20.000 năm trước, tại Hòa Bình, tổ tiên ta đã chế tác rìu đá mài, công cụ lao động tiên tiến của nhân loại. Khoảng 15.000 năm trước, tại nơi nào đó ở thềm Biển Đông, tổ tiên ta thuần hóa được cây lúa nước, thực hiện phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử loài người.

Những trí tuệ hàng đầu thế giới đã ghi nhận: “khoảng 4000 năm TCN, người Việt xây dựng nền văn minh nông nghiệp sớm và rực rỡ nhất hành tinh.”

Thật lạ là, không hiểu sao, tuy biết những điều trên nhưng ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh lại bỏ qua để chỉ chăm bẵm vào “6000 năm trở lại”?
Nếu dừng lại ở thời gian 5000 năm thì chúng ta vô hình trung chỉ nhận phần ngọn mà bỏ đi cái gốc. Một việc làm phi khoa học vì cắt đứt sự liên tục của dòng chảy lịch sử. Không những thế, lại còn chối bỏ những thành tựu vĩ đại nhất của tổ tiên. Điều đó cũng không ổn về tâm linh vì chúng ta mắc tội vong ơn, quên những vị tổ khai dòng cho nòi giống! Cũng phải nói rằng, chính vì chuyện này mà ông tự mâu thuẫn với mình. Theo truyền thuyếtPhục Hy làm Dịch, sách Dịch ra đời trước 4000 năm TCN. Vậy, chấp nhận lịch sử 5000 năm thì mặc nhiên,ông đã bỏ cái cội nguồn kinh Dịch ra ngoài sử Việt!

Hiểu biết mới, cần định nghĩa mới. Khi đã biết đầy đủ hơn lịch sử loài người cũng như lịch sử nòi giống, cố nhiên cần có định nghĩa mới về lịch sử. Lịch sử tộc Việt không chỉ được ghi trong sách sử, trong huyền thoại, trong những vật chứng khảo cổ mà còn được ghi ngay trong máu huyết chúng ta: DNA. Vì vậy, theo thiển ý, lịch sử của tộc Việt phải được tính từ ngày Người Khôn ngoan (Homo sapiens) đặt chân tới thềm Biển Đông, 70.000 năm trước!

2. Học giả nguyễn Vũ Tuấn Anh viết:

 Cổ thư ghi lại dưới dạng truyền thuyết và huyền thoại về trận Hoàng Đế chiến Xuy Vưu và chiến thắng ở Trác Lộc. Ông ta dừng vó ngựa ở Bắc Dương Tử và phát biểu: "Phương Nam khó đánh"... Câu nói này của ông Hoàng Đế đã xác nhận ở Nam Dương tử có một xã hội hùng mạnh ở đây từ khoảng 6000 năm trước ngày nay.”

Huyền thoại trên đời nhiều vô kể. Không tin huyền thoại là người nông cạn nhưng quá tin dễ sa vào vô minh, giống như “tận tín thư” vậy!

Sau khi diệt triều Thương của tộc Việt, người Hoa Hạ xây dựng vương triều Chu của mình. Để phủ định những triều Việt trước đó, nhà Chu chỉ chép sử từ ông tổ của họ là Hậu Tắc rồi bái vọng ông thủy tổ Hoàng Đế. Công quy vu trưởng, người ta gán cho Hoàng Đế quá nhiều công tích. Có thể lừa được nhiều người, nhiều thời nhưng làm sao lừa được mãi mãi? Liệu còn mấy người dám tin rằng dân lùa cừu chăn bò trên đồng cỏ lại làm ra thuyền, ra buồm? Dân uống sữa ngựa, mặc áo cừu lại phát minh nghề dệt vải? Thật khôi hài, cả đến nghề thuốc của dân nông nghiệp cũng được trao cho Hoàng Đế thành Hoàng Đế nội kinh!

Có một định kiến dai dẳng trong tâm thức loài người, nhất là người Việt, đó là ý tưởng cho rằng, người Việt chỉ làm chủ nam Dương Tử. Lầm to! Từ 40.000 năm trước, người Việt đã làm chủ toàn bộ đất Trung Hoa. Vào Trung Nguyên, Hiên Viên chỉ chiếm được phần đất hoàng thổ phía nam Hoàng Hà rồi tự xưng Hoàng Đế với nghĩa vua của vùng đất vàng. Cái đế quốc hạt cải này bị kẹp giữa các quốc gia Việt hùng mạnh: Ba Thục phía Tây, nước của Đế Lai ở phía đông và Văn Lang phía nam. Có lần tôi nói với bác sỹ Trần Đại Sỹ: “Khi cho rằng biên giới của người Việt chỉ tới nam Dương Tử, có nghĩa là ông đã “cho không” người Hoa vương quốc mênh mông của Đế Lai?” Bác sỹ rất vui nhận ra sai lầm của mình!

Cần làm rõ điều này: “Đây là thời điểm trước khi quốc gia Văn Lang thành lập ở Nam Dương tử mà chính những học giả Trung Hoa hiện đại gọi là: Một nền văn minh biến mất một cách bí ẩn vào thế kỷ thứ ba BC; hoặc những học giả Trung Hoa và quốc tế nói về nền văn minh thứ V tồn tại ở Nam Dương tử”

Lại một sự bé cái lầm! Hoàn toàn không có nền văn minh nào biến mất vào thế kỷ III TCN và cũng chẳng hề có cái gọi là “nền văn minh thứ V” nào cả(!) Đó là văn minh Việt rực rỡ của Ba Thục, Ngô, Việt, Sở và Văn Lang, bị nhà Tần thôn tính rồi sáp nhập đế chế Trung Hoa!

3. Học giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh viết:

“Tôi cho rằng sau chiến thắng của Hoàng Đế với Xuy Vưu về căn bản người Hoa Hạ ở Bắc Dương tử chưa bị đồng hóa về văn hóa của Việt tộc. Hoặc sự đồng hóa không đáng kể. Bằng chứng: Vào thế kỷ thứ V BC Khổng từ viết trong sách Luận Ngữ: "Nếu không có Quản trọng thì người Hán mặc áo cài vạt bên trái như người Man rồi!". Như vậy - gần 2500 năm sau tính từ thời Hoàng Đế - sự giao lưu văn hóa của người Hoa Hạ với Việt tộc ở Nam Dương tử gần như rất không đáng kể.”

Xin thưa, cố nhiên, sự đồng hóa không xảy ra một sớm một chiều nhưng có lẽ còn nhanh hơn so với vài trăm năm của người Mông Cổ sau đời Nguyên, người Mãn sau đời Thanh! Tuy giỏi xâm chiếm, cướp bóc nhưng với số người không đông và chưa có văn hóa, lọt vào giữa cái bể người bản địa vừa đông vừa văn minh gấp bội, sự đồng hóa xảy ra mau lẹ là cái chắc! Chả thế mà chỉ vài đời sau Hoàng Đế, vương vị đã vào tay người Việt!

Câu nói của Khổng Tử, theo thiển ý, phải chăng nên hiểu thế này: Trong các nước chư hầu nhà Chu, người Hoa và người Việt ăn chung ở lộn. Lúc này cả Việt cả Hoa cùng mang bộ gen Mongoloid phương Nam, nghĩa là cùng một “giống” và thêm nữa, cùng nói tiếng Việt theo cách nói Mông Cổ (Mongoloid parlance) phụ trước chính sau, do sự áp đặt của nhà cầm quyền. Cái khác nhau chỉ là cài khuy áo bên trái hay phải.
Vương triều Chu lại bị vây quanh bởi những quốc gia “man, di” nhưng hùng mạnh và đông đúc, cài khuy bên trái. Để tôn “quốc thống”,  Quản Trọng nước Tề lệnh cho toàn dân cài khuy bên phải, một bước đồng hóa về văn hóa. Vậy là Việt biến thành Hoa, nhẹ nhàng như khi người Mãn cắt bỏ đuôi sam là trở thành người Hán!

Sự hiểu lầm vẫn dai dẳng đeo bám học giả đáng kính nên ông không thấy rằng, “cải cách” của Quản Trọng là nhằm đồng hóa khối dân Việt đang sống ngay trong lòng vương triều Chu chứ không phải do tiếp xúc với phương nam!

4. Với câu hỏi hỏi:
“Vậy người Việt Bắc Dương tử từ 4600 năm trước mà người Hán vượt sông Hoàng Hà tấn công chiếm Trung Nguyên từ đâu lại,” tôi xin thưa như sau:

Người Việt từ 40.000 đến 30.000 năm trước đã làm chủ Trung Hoa, từ lưu vực Hoàng Hà tới lưu vực Dương Tử. Đấy là điều được khẳng định về mặt khảo cổ học: cái sọ cổ nhất 18.000 năm trước, phát hiện ở hang Chu Khẩu Điếm là của người Việt. Văn hóa Ngưỡng Thiều có tuổi 8000 năm, trước đây được cho là cội nguồn văn hóa Hán thì thực sự cũng từ văn hóa Hòa Bình đưa lên!

Còn người Mông Cổ từ đâu ra, tôi đã trình bày vấn đề này trong bài Sự hình thành dân cư Đông Á công bố trên mạng, sau đó in trong cuốn Hành trình tìm lại cội nguồn (NXB Văn học, 2008). Bằng nhiều chứng cứ khảo cổ học, cổ nhân học kết nối với những tài liệu di truyền học mới nhất (những tài liệu mà ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh bỏ qua), tôi đã chứng minh:

Người Mông Cổ phương Bắc cũng từ Việt Nam theo con đường Ba Thục đi lên tây bắc Trung Quốc và đất Mông Cổ khoảng 40.000 năm trước. Khảo cổ học phát hiện di cốt 40.000 năm của họ trên đất Mông Cổ minh chứng cho điều này. Lúc đầu họ sống bằng săn hái, tới 10.000 năm trước, khi băng hà tan, do địa hình đồng cỏ, họ chuyển sang sống du mục. Mùa đông khô lạnh, nhiều bộ lạc tập trung về nguồn nước bên Hoàng Hà. Cố nhiên, họ luôn nhòm ngó dân trồng kê có cuộc sống sung túc ở bờ nam và hàng ngàn năm, chuyện vượt sông cướp bóc luôn diễn ra mà trận Trác Lộc là cuộc xâm lăng quy mô nhất.

Những điều trên không ai có thể bịa ra được mà phải dựa vào nhiều nguồn tài liệu, trong đó mũi tên chỉ đường là di truyền học. Không đi xa nên khó hiểu được gần. Rõ ràng, nếu chỉ chăm bẵm vào thời điểm 6.000 năm thì không thể nào hiểu được những điều vô cùng quan trọng trên. Do vậy, sự hiểu về “lịch sử 5000 năm” cũng khó đầy đủ.

Đã từng “đơn thương độc mã” vì kiên định lập trường “5000 năm sử Việt”, rất có thể, học giả của chúng ta một lần nữa lại “độc mã đơn thương” vì không theo kịp những tri thức mới!
                                                         
    Đường Lê Lư, tháng Ba, 2012
Hà Văn Thùy

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Thạp Đồng Đào Thịnh (Yên Bái)



THẠP ĐỒNG ĐÀO THỊNH (YÊN BÁI) VÀ THÔNG ĐIỆP CỦA NỀN VĂN HÓA ĐÔNG SƠN


Thạp đồng Đào Thịnh


Thạp là loại hình di vật được phát hiện khá nhiều và khá tiêu biểu trong văn hoá Đông Sơn. Thạp là một trong những đồ đựng của cư dân Đông Sơn, ngoài ra nó còn dược dùng trong nghi thức chôn cất người chết. Thạp đồng Đào Thịnh được phát hiện vào năm 1961 tại xã Đào Thịnh huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái, thạp có đầy đủ cả thân và nắp. Đây là chiếc thạp có kích thước lớn nhất phát hiện từ trước cho đến nay. 


Thạp được trang trí từ nắp cho tới chân với hai mô típ chủ đạo: hình người, động vật và hình học. Nắp thạp trang trí bốn khối tượng người gồm bốn cặp trai gái đang giao phối. Trai thì tóc xoã, ngang hông đeo dao găm, đóng khố, gái thì bận váy ngắn. Bộ phận sinh dục nam giới được nhấn mạnh rõ nét. Có thể người xưa có ý đồ khi đặt các khối tượng ở vị trí trang trọng, trung tâm để nói lên khát vọng sinh sôi, sự phồn thịnh của con người và vạn vật. Ngoài ra, trên nắp thạp còn trang trí 8 hình chim mỏ dài chia thành bốn đôi bay ngược chiều kim đồng hồ và một số hoa văn dạng hình học. Thân thạp có hình khắc sâu chiếc thuyền mũi cong có nhiều người mặc y phục cài lông chim đứng trên sàn thuyền. Giữa lòng thuyền dựng một pháo đài, trên có một người đang cầm cung trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Những người còn lại đều đứng trên sàn thuyền với các loại vũ khí: cung, giáo, lao, rìu chiến, dao găm theo thứ tự ai sử dụng vũ khí đánh xa thì đứng đằng trước, vũ khí đánh gần đứng giữa và vũ khí phòng vệ đứng sau cùng, ngoài hoa văn trang trí người và thuyền, thân thạp còn trang trí một số hoa văn động vật như: chim đang bay, cá sấu cặp đôi và nhiều băng hoa văn hình học... hình dáng, cấu trúc con thuyền cũng như sức chở và sự bố trí binh lực trên thuyền đã phản ánh cho chúng ta thấy kỹ thuật đóng thuyền ở thời kỳ này rất phát triển và có lẽ ở thời kỳ này, chiến tranh cũng đã trở thành một hiện tượng phổ biến.


Thạp đồng Đào Thịnh đã cho thấy cư dân Đông Sơn đã tỏ rõ bản lĩnh quân sự vững vàng, tài năng chiến đấu không chỉ trên bộ mà còn thạo cả thuỷ chiến.

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Nghề chơi quan họ có tinh mới tường...

Cập nhật 09/04/2012 09:25:04 AM (GMT+7)

Hát quan họ thì dễ, nhưng để chơi quan họ thì không phải ai cũng làm được". Đó là chia sẻ của anh Nguyễn Phú Hiệp, liền anh có chất giọng được khen là"quan họ" nhất vùng bắc sông Cầu.

Nhà của anh Hiệp nằm sâu tít trong một cái ngõ nhỏ ở giữa Thổ Hà, ngôi làng cổ nằm trong không gian bảo tồn di sản quan họ. Từ ngõ nhà anh đâm thẳng một quãng tầm vài chục mét là ra ngay bờ sông Cầu.
Chẳng biết có phải  vì thế hay không, mà những câu hát quê hương đã làm anh say mê ngay lúc còn bé, từ khi nghe các cụ hát quan họ trong những hội hè đình đám thôn quê, "dẫu lúc đó còn chưa hiểu quan họ là gì."
Anh kể, khi lớn lên, anh đi khắp các hội làng vùng Kinh Bắc để nghe hát và học hát các câu quan họ, rồi tìm đến các cụ nghệ nhân xin "học nghề," cho đến khi nhập ngũ lên biên giới phía Bắc vào năm 1978 mới thôi.
"Lúc đầu nhiều cụ không nhận, bởi nhìn mình còn trẻ quá, người ta không tin là mình muốn học thật. Nhưng cứ thành tâm thể hiện tấm lòng của mình, thì dần các cụ cũng hiểu và truyền đạt hết cho," Anh Hiệp nói.
Chính niềm đam mê  và lòng khao khát đó đã giúp anh có được một bộ sưu tập những câu hát quan họ cổ thuộc loại độc nhất vô nhị vùng Kinh Bắc, với hơn 200 câu. Từng đó cũng đủ vốn liếng cho anh đi "chơi quan họ" khắp nơi trong khu vực sông Cầu mà không thua kém ai.
"Trong quan họ người ta gọi mỗi bài hát là một câu, người chơi quan họ giỏi thì càng phải biết được nhiều câu. Bởi đến khi hát đấu với "bọn quan họ" khác, nếu anh không tìm tòi, hát đối lại được với bên bạn, thì thua," Anh Hiệp phân tích.

Anh Nguyễn Phú Hiệp, liền anh có chất giọng được khen là"quan họ" nhất vùng bắc sông Cầu
Quan họ không dễ dãi
Anh Nguyễn Phú Hiệp hiện đang là chủ tịch câu lạc bộ quan họ của làng Thổ Hà, gồm khoảng 30 thành viên. Anh bảo, gọi là câu lạc bộ cho đúng tính Đoàn thể, chứ theo cách gọi của cha ông thì gọi là "bọn quan họ" thôi, "dù cái từ "bọn" bây giờ nghe nó không được lịch sự cho lắm.
Dẫu không được  "PR" hình ảnh mạnh như quan họ ở Bắc Ninh, nhưng quan họ Thổ Hà vẫn tự hào là giữ được những nét đặc trưng nhất của giọng hát cha ông từ ngày xưa.
"Chúng tôi trân trọng, không dễ dãi với câu hát. Khi nào hát cũng phải đảm bảo giữ được 80-90% những gì mà các cụ nghệ nhân truyền dạy. Tức là phải phát triển được đúng chất "e giọng" cho từng người, phải đầy đủ vang-rền-nền-nẩy. Thế mới bảo là nghề chơi thì lắm công phu," Anh Hiệp cười.
Không dễ dãi, cũng có nghĩa là không chiều lòng được tất cả mọi người để biến tấu quan họ sao cho "lọt tai" hơn.
"Chúng tôi yêu quan họ  để quan họ yêu chúng tôi. Những khi nào đi hát phục vụ cho bà con hay các sự kiện văn hóa, có ý nghĩa thì kể cả không có thù lao thì chúng tôi cũng đi. Nhưng những nơi nào mà đặt nặng vấn đề tiền nong để bắt chúng tôi hát khác chất quan họ đi, thì mấy cũng từ chối. Thế nên mới nói người ta vừa yêu vừa ghét bọn quan họ Thổ Hà là thế," Anh Hiệp nói.
Người Thổ Hà  vẫn chỉ chơi quan họ, chứ không phải là  hát. Chơi là hát bằng cả trái tim, hát để thỏa niềm đam mê, để trút hết nỗi lòng của người quan họ, chứ không phải là để kiếm tiền.
Thế nên ngoài  "xuân thu nhị kì," hai đợt lễ hội chính, thì các liền anh, liền chị vẫn ngồi hát cho nhau nghe vào những đêm trăng thanh gió mát hay lúc nông nhàn. "Quan họ ở đây bình thường như hơi thở, chúng tôi hát chẳng theo định kì logic nào cả," Anh Hiệp cho biết.
Anh bảo, quan họ  để chơi mới hay, nhưng nhiều người cứ không nhận ra điều đó, họ lại thấy quan họ như  là một nghề hái ra danh, bóc ra tiền. Thế nên nhiều khi họ làm cho quan họ chẳng còn là quan họ nữa.
Bài hát cổ thì  họ tân trang thành nhạc Pop, đủ trống chiêng xập xènh, gọt dũa cho vừa tai khán giả. Hát quan họ là để giao lưu, giao duyên, thì lại bắt trẻ con đi hát xin tiền. Rồi lại cho quan họ đi hát đồng ca, lập kỉ lục này kỉ lục kia. Những người tự nhận là hiểu quan họ rốt cuộc lại đi ngược lại tất cả những truyền thống của quan họ. (Anh Hiệp đang nhắc đến hội Lim ở Bắc Ninh, tổ chức vào tháng 2/2012 vừa qua-phóng viên).
"Tôi rất mừng khi UNESCO công nhận quan họ là di sản văn hóa thế giới, bởi sau đó thì độ lan tỏa của quan họ là rất lớn. Đến nay đã có tới 52 làng được vào danh sách không gian bảo tồn di sản. Nhưng mừng mà lo. Bởi nếu người ta cứ tiếp tục phổ biến, quần chúng hóa quan họ kiểu này, thì trước sau nó cũng trở thành người khổng lồ không xương. To đấy, nhưng cũng dễ sụp, bởi không gìn giữ được cái gốc cốt lõi," Anh Hiệp chia sẻ.

Hơn 3000 người đến hát quan họ để xác lập kỷ lục. Ảnh: Huyvme
"Yêu nhau trở lại xuân tình..."
Văn hóa cũng như  tình yêu, có lúc thăng lúc trầm, nhưng tựu trung lại nếu tiếp cận bằng trái tim trong sáng, vô tư, thì nó sẽ được trường tồn. Người ta không thể khiến ai đó thích quan họ bằng cách biến nó thành một loại hình nghệ thuật khác, bởi lúc đó quan họ đâu phải là quan họ nữa. Nó chẳng khác nhau đặt bẫy nhau để mà yêu.
"Riêng tôi, tôi vẫn tin có nhiều người yêu quan họ bởi những nét độc đáo riêng của nó, chứ không phải thành thứ này thứ kia," Anh Hiệp nói.
Anh kể khi còn  ở quân ngũ, với dăm chục câu quan họ dắt lưng làm vốn, tha hồ cho anh đi làm công tác dân vận trong đồng bào dân tộc, bởi họ mê quan họ lắm, đặc biệt là người Tày. Vào bản hát quan họ cho đồng bào nghe, lại nghe đồng bào hát những giai điệu của dân tộc mình, tưởng chẳng có sự giao lưu, đoàn kết nào hữu hiệu như bằng tiếng hát.
Quan họ còn theo anh sang tận trời Tây, trong chuyến lưu diễn của đoàn quan họ Bắc Giang ở Pháp phục vụ kiều bào.
"Tôi không dám nhận là hay, nhưng tôi tin đã đển lại ấn tượng tốt cho kiều bào. Khi hát giã bạn rồi, thì cả hội trường vẫn yêu cầu đi ra để họ chào và vỗ tay một lần nữa. Khi đó chúng tôi rất xúc động, nhiều người khóc, và bản thân chúng tôi là những nghệ sĩ cũng không cầm được nước mắt. Chúng tôi lúc đó đã hát bằng tất cả tấm lòng," Anh Hiệp hồi tưởng về buổi biểu diễn cuối cùng ở Lyon, Pháp.
"Nhiều người bảo với tôi rằng, thanh niên ngày nay chẳng ai còn mê quan họ. Nói thế là không phải. Ở đâu thì tôi không biết, chứ ở Thổ Hà này trai gái tuổi cập kê vẫn còn thích nghe quan họ lắm. Lúc bận đến kì tổ chức hội hát mà chưa thông báo, là tụi nó xúm đến hỏi ngay," Anh Hiệp cười.
"Chúng nó bảo, nghe các chú hát quan họ, chúng cháu lại thấy...yêu nhau. Tôi nghe mà cũng vui, bởi bọn quan họ chúng tôi vẫn thường nói đùa là hát quan họ là để cho hàng xóm yêu nhau mà."
Cắt tóc để nuôi quan họ
Dẫu là một liền anh có tiếng tăm nhất vùng Kinh Bắc, anh Hiệp không giàu lên nhờ quan họ. Gia đình ba người của anh sống trong một ngôi nhà gạch đã cũ, đơn sơ với không gian tương đối chật chội. Trong nhà đẹp nhất là bộ áo tứ thân và mấy tấm bằng khen, còn lại chỉ có một cái ti vi 14 inch và một bộ đầu đĩa nho nhỏ. Khách đến chơi ngồi trải chiếu với chủ nhà để uống trà nói chuyện.
So với tiêu chuẩn những ngôi nhà trong làng Thổ Hà tôi đã vào thăm, phải nói là nhà anh nghèo.
Như các gia đình khác trong làng, nhà  anh cũng làm bánh đa nem. Anh Hiệp ngoài nghề làm bánh đa ra, còn chịu khó ra ngoài cổng làng cắt tóc kiếm thêm đồng ra đồng vào cho gia đình.
"Tôi chả dấu nghề, nghề cắt tóc của tôi làm đẹp cho đời, tôi lấy nghề cắt tóc để chơi quan họ," Anh Hiệp giãi bày.
Anh bảo, dạo gần đây cũng có  nhiều người mới đi hát, như đi hát đám cưới ấy, nhưng anh không chịu. "Người ta chịu trả một triệu một lần diễn đấy, nhưng tôi thà ở nhà cắt tóc cả ngày lấy 100 nghìn còn hơn. Tôi nói có trả 10 triệu tôi cũng không đi. Tôi không muốn làm mất đi cái tính tự tôn của người chơi quan họ."
"Xưa cha ông ta đã dạy thế này:
Nghèo tiền nghèo bạc không lo
Nghèo nhân nghèo nghĩa mới cho là nghèo
Người quan họ vun đắp cho mình nhân nghĩa rất là dày, và cả cách sống với nhau sao cho trọn vẹn nữa. Tôi hát quan họ không sợ ai hay cái gì cả, thích thì hát thôi. Không thể vì vài đồng bạc mà làm hỏng cả mình lẫn di sản của cha ông được."

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

Tại sao người Công Giáo hiểu Sinh Thì là chết mà không phải là sống?


Nguyễn Long Thao3/29/2012

Tuần Thánh: Tại sao người Công Giáo hiểu Sinh Thì là chết mà không phải là sống? 

Kinh sách Công GiáoViệt Nam có một từ ngữ gây nhiều thắc mắc. Đó là từ Sinh Thì. Trong khi người Việt nói chung hiểu Sinh Thì là lúc sống thì người Công Giáo Việt Nam lại hiểu Sinh Thì là lúc chết. Bài viết này nhằm góp phần giải thích tại sao người Công Giáo hiểu Sinh Thì là chết.

Từ Sinh Thì xuất hiện rất sớm trong các văn bản Công Giáo. Các Thánh Truyện là tác phẩm được soạn vào năm 1646 có ít nhất là 30 lần tác giả đã dùng từ Sinh Thì và theo Philipphê Bỉnh trong Truyện Annam Đàng Ngoài Chí Đàng Trong, tác giả sách này là một vị Hòa Thượng theo đạo Công Giáo. Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu được sáng tác từ thời cha Đắc Lộ, cũng có từ Sinh Thì. Ngắm thứ 13 viết: “Đoạn thì gục đầu xuống bên Đức Mẹ đứng, như giã Đức Mẹ vậy mà linh hồn cực trọng ấy ra khỏi xác liền Sinh Thì.” Vậy từ Sinh Thì theo nghĩa thông thường của dân gian khác với ý nghĩa của người Công Giáo thế nào? 

Hầu hết các từ điển tiếng Việt như Việt Nam Tự Điển của hội Khai Trí Tiến Đức, Từ Điển Hán Việt của Đào Duy Anh, Đại Từ Điển Tiếng Việt do Văn Hóa Thông Tin xuất bản năm 1999, không có từ Sinh Thì, chỉ có từ Sinh Thời , Sinh Tiền hay Sênh Tiền. Cả ba từ đó đều có nghĩa là lúc còn sống của một người nay đã qua đời. 

Ngược lại, các từ điển do người Công Giáo viết như Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của, Tự Điển của Pigneau de Béhaine cuối thế kỷ XVIII, Từ điển của Génibrel cuối thế kỷ XIX, Dictionarium Anamitico –Latinum của Đức Giám Mục AJ. L. Taberd xuất bản năm 1838 và trong nhiều văn bản Công giáo khác như Thánh Giáo Yếu Lý, Kinh Cầu Bảo Đàng Cho Kẻ Rình Sinh Thì, Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu, đều có từ Sinh Thì và được hiểu là chết. 

Tại sao lại có sự mâu thuẫn này trong khi Sinh Thời chỉ là tiếng đọc trại của Sinh Thì. Thì đọc trại ra Thời để tránh tên húy vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Thì (阮福蒔). Vậy lý giải làm sao để người Công Giáo hiểu Sinh Thì là lúc chết? 

Trước hết hãy giải thích ý nghĩa Sinh Thì theo nghĩa thông thường. Sinh 生 là tiếng Hán Việt như sinh kế, dưỡng sinh, sinh sống. Về mặt chữ Nôm, từ Sinh trong Hán Việt cũng như Sinh trong tiếng Nôm đều viết giống nhau và có nghĩa gần như nhau. Trong tiếng Nôm từ Sinh có các nghĩa (1) Đẻ: mẹ sinh con. (2) Ra đời. (3) Kiếp sống (4) Tạo ra. Như vậy Sinh Thì hay Sinh Thời theo nghĩa Hán Việt có nghĩa là lúc đang sống.

Tuy nhiên, các từ điển do người Công Giáo viết, từ Sinh Thì được định nghĩa như sau? 

1. Tự Điển Việt Bồ La của A. de Rhodes giải thích từ Sinh Thì: 

-sinh: lên (ascendo: is) 

-sinh thì: giờ lên (ascensus hora)

-đã sinh thì: đã chết (iam mortuus est).

2. Từ điển Dictionarium Anamitico Latinum của Đức Giám Mục Taberd xuất bản năm 1838, trang 444, giải thích Sinh Thì là Fato Concedere nghĩa là chết.

3. Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của ấn bản 1895-1896 trang 912 định nghĩa Sinh Thì: chết.

4. Trong các kinh sách của người Công Giáo, từ Sinh Thì nếu được đặt trong ngữ cảnh bản văn, phải hiểu đó là một động từ và có nghĩa là chết. Ví dụ: trong Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu, ngắm thứ 15 có đoạn: “Khi xác Chúa Giêsu còn trên Thánh Giá thì có một người các quan lấy đòng mà đâm cạnh nương long Đức Chúa Giêsu phải trái tim, bấy giờ máu cùng nước chảy ra, song le, khi ấy xác Đức Chúa Giêsu chẳng có đau vì đã sinh thì”.

Tại sao các vị thừa sai đã dùng từ Sinh Thì để chỉ ý nghĩa chết?

Giải thích vấn nạn này, trước hết ta phải trở về với phong tục của người Trung Hoa cũng như Việt Nam. Khi một người chết, người ta tránh nói từ Chết mà dùng từ Qua Đời, Tạ Thế, hay Quá Vãng. Trong Anh ngữ cũng vậy, thay vì từ To Die: chết, người ta dùng từ To Pass Away: chết. 

Đối với các bậc vua chúa, người Trung Hoa cũng như Việt Nam không nói từ Chết, hay Qua Đời mà dùng từ Thăng Hà hay Băng Hà. Sách Lễ Ký có câu: Thiên tử tử viết băng, chư hầu viết hoăng 天子死曰崩, 諸侯曰薨 (Khúc lễ hạ). Dịch nghĩa: Vua chết gọi là "băng", vua chư hầu chết gọi là "hoăng". Trong văn chương Phật Giáo, người ta cũng dùng chữ Thăng để chỉ ý nghĩa chết. Người Phật Giáo thường dùng cụm từ: Cầu cho hương hồn được Siêu Thăng Tịnh Độ hay Siêu Sinh Tịnh Độ có nghĩa là cầu cho linh hồn người chết được thoát khỏi cuộc sống trần thế, tới cõi cực lạc. Như vậy người Việt Nam đã dùng từ Thăng: đi lên, bay lên để chỉ sự chết.

Vậy Thăng Hà và Băng Hà là gì? Thăng 升: từ Hán Việt có nghĩa là lên, đi lên, bay lên. Hà 遐: xa, phương xa. Vậy nguyên nghĩa Thăng Hà là bay lên phương xa. Theo từ điển Hán Việt của cụ Thiều Chửu, Thăng Hà có ba nghĩa: (1) bay lên trời. (2) vua chết. (3) xa lánh trần tục. Còn Băng Hà thì Băng 崩 có 4 nghĩa: (1) Lở, sạt, sụp. (2) Hủy hoại. (3) Mất, diệt vong. (4) Chết. Theo từ điển của cụ Thiều Chửu, hay các từ điển Hán Việt khác, Thăng Hà hay Băng Hà: đều có nghĩa là vua chết. 

Tại sao người Đông Phương lại quan niệm chết là Thăng tức bay lên cao. Người Đông Phương quan niệm Sinh Ký Tử Quy: Sống là tạm bợ, chết là đi về: về Thiên Giới, về Cõi Trên. Do vậy người Việt cũng như người Tàu quan niệm khi chết hồn lìa khỏi xác gọi là hồn Thăng. Trong tín ngưỡng đồng bóng của dân gian, người ta cũng dùng từ Hồn Thăng. Hồn Thăng tức hồn đi ra khỏi xác người lên đồng. Quan niệm này chính cha Alexandre de Rhodes cũng xác nhận khi Ngài chú thích từ Sinh Thì: "Chúng tôi mượn cách nói đó của người bên lương để chỉ ý nghĩa sự chết của người Ki tô hữu như đi lên với Thiên Chúa."

Nhưng tại sao các Linh Mục thừa sai lại không dùng từ Thăng mà lại dùng từ Sinh để chỉ sự chết, khiến gây ra rắc rối về ý nghĩa? Nếu xét về cách đọc của người Việt, tức giọng Hán Việt, thì từ Sinh 生 và Thăng 升 hoàn toàn đọc khác nhau. Nhưng nếu theo cách đọc của người Tàu, tức giọng Bắc Kinh, hai từ này đọc giống nhau. Từ Sinh 生và Thăng 升 đều được đọc là Sheng tức Sinh trong tiếng Việt. Hai từ này, nói theo kiểu xưa, là đồng âm dị nghĩa. Như vậy, ta có thể kết luận rằng Thăng Thì = Sinh Thì = Giờ Chết = Hồn ra khỏi xác.

Vấn nạn đặt ra là tại sao trong kinh sách viết cho người Công Giáo Việt, các nhà truyền giáo không dùng từ Thăng mà lại lắt léo mượn cách đọc của người Tàu đọc chữ Thăng là Sheng tức Sinh để chỉ sự chết? 

Chưa có tài liệu nào trả lời cho vấn đề này mà chỉ có những suy luận: Có thể trong thời gian đầu, các giáo sĩ trước khi đến Việt Nam truyền giáo thường phải kinh qua Trung Quốc nên họ đã có thói quen đọc Thăng thành "sheng" tức Sinh. Do vậy, khi đến Việt Nam và khi phải sáng tác kinh sách cho người Việt, các ngài đã dùng từ Sinh Thì để chỉ giờ chết của chúa Kitô. Về phía giáo dân, hay các linh mục bản xứ, chắc hẳn thời đó cũng có nhiều vị uyên thông chữ nghĩa, thấy từ Sinh Thì không được ổn cho lắm, nhưng vì vốn có có tâm lý tôn trọng bề trên nên họ đã không phản đối. Do vậy, ngày nay người Công Giáo Việt Nam có riêng từ Sinh Thì để chỉ lúc linh hồn lìa khỏi xác, tức là chết.

Một câu hỏi khác cũng được đặt ra là tại sao khi diễn tả sự chết của Chúa Kitô trên Thánh Giá các nhà thừa sai không dùng các từ ngữ đơn giản và dễ hiểu như Viên Tịch, Tử, Qua Đời, Chết mà lại dùng từ Thăng. Câu trả lời là các Ngài đã triệt để áp dụng tinh thần hội nhập văn hóa trong vấn đề diễn tả sự chết. Như đã nói trên, người Tàu cũng như người Việt dùng từ Thăng Hà hay Băng Hà để chỉ vua Chúa chết. Đối với Chúa Kitô, người Công Giáo coi Ngài là Chúa Cả, là Vua Trên Hết Các Vua, nên các nhà truyền giáo đã gọi việc Chúa chết là Thăng. Và có lẽ các Ngài đã phải quanh co đọc Thăng là Sheng tức Sinh để tránh việc bắt chước tín ngưỡng đồng bóng đã dùng chữ Hồn Thăng. Thời xưa, những gì có dính líu đến các tín ngưỡng không phải của Công Giáo đều không được chấp nhận. Cụ thể như việc thờ cúng tổ tiên.

Cũng có lối giải thích khác cho rằng chết đúng là thời gian sống, là Sinh Thì vì hiểu theo nghĩa thần học Công Giáo: chết là khởi đầu cho cuộc sống mới mà ngôn ngữ thần học gọi cách lạc quan ngày chết là ngày giờ sinh ra: Dies Natalis để được sống trên cõi trường sinh. Tư tưởng đó được diễn tả trong bài hát Kinh Hòa Bình của Linh Mục nhạc sĩ Kim Long "Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời", hoặc câu Kinh Thánh: "Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác".(Gioan 12,24)

Nguyễn Long Thao

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Vừa được UNESCO công nhận, Hát Xoan đã bị “cải biên”


Cập nhật 04/04/2012 09:29:00 AM (GMT+7)

“Cấy nhạc vào điệu xoan cổ để có giai điệu dễ nghe, múa hát xoan lại có tay múa như hát chèo là điều không thể chấp nhận được”, nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Khắc Xương, người nghiên cứu hát xoan, con trai của nhà văn Tản Đà sống trên chính mảnh đất của Hát Xoan bức xúc. 



Việc biểu diễn và truyền bá hát xoan đang có hiện tượng bị sai lệch.

Hát Xoan đang bị “chèo hóa”


Trong một chương trình truyền hình quảng bá về hát xoan ngày 28/2 âm lịch, một đoàn hát chèo đã biểu diễn hát xoan với trang phục, điệu múa và thậm chí là “cấy” cả nhạc khi biểu diễn khiến những ai nghiên cứu và yêu hát xoan rất bức xúc.

“Vừa rồi, vào dịp chuẩn bị cho hội đền Hùng ngày 28/2 âm lịch, tôi có thấy đoàn chèo biểu diễn hát xoan và đã múa hát hát xoan theo phong cách của chèo. Đặc biệt với y phục chèo, và cầm quạt để biểu diễn, tay múa của chèo lại ngửa lên khác hoàn toàn với xoan”, ông Nguyễn Khắc Xương chia sẻ.

Bà Nguyễn Thị Lịch – nghệ nhân hát xoan phường An Thái – Phú Thọ cũng khẳng định điều trên là có thật. Thậm chí bà còn cho biết trong một lớp dạy xoan, có cô giáo từng học hát xoan của bà trong khóa học ngắn 10 ngày đã “cấy” cả nhạc vào điệu hát xoan để cho dễ nghe!

Bà Lịch nói: “Hát và biểu diễn hát xoan bị “chế” nhạc, “chèo” hóa có thể sẽ dễ nghe và có những điệu múa có phần dí dỏm nhưng tôi cho rẳng cần phải tôn trọng và bảo tồn nguyên cách hát và biểu diễn khi hát xoan. Ông cha ta đã để lại từ xa xưa không có lí do gì để chúng ta không tôn trọng một di sản đã được công nhận là di sản của thế giới”.
  “Hát xoan cổ cần phải được tôn trọng!” – Nghệ nhân hát xoan Nguyễn Thị Lịch

Cùng chung ý kiến ông Nguyễn Khắc Xương cho rẳng: “Hát xoan động tác tay khác với các dân ca khác, nếu làm như vậy thì hát xoan sẽ không hề có nét độc đáo riêng !”.

Ông cũng cho biết thêm: “Trong khi bảo tồn hát xoan nếu “chèo” hóa hay có bất kì sự biến đổi gì khác so với hát xoan cổ sẽ không còn là hát xoan nữa. Hát xoan là loại hình nghệ thuật bình minh của dân tộc. Vì vậy nếu muốn quảng bá hát xoan không cần thiết phải chế lời, thêm nhạc mà cần phải giữ nguyên được hát xoan cổ như đúng giá trị mà nó đã được công nhận”.
 “Bất kì có sự biến đổi gì khác với hát xoan cổ sẽ không còn là hát xoan nữa” - Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Khắc Xương
Bất cập trong việc bảo tồn

Theo như tìm hiểu của PV Vietnamnet, việc bảo tồn hát xoan hiện nay còn gặp rất nhiều vấn đề. Đó là hiện nay chưa có một đội hát xoan mang tính chuyên nghiệp và hình mẫu để có thể biểu diễn trong các sự kiện quan trọng.

Việc đãi ngộ với các nghệ nhân hát xoan trong việc truyền dạy và bảo tồn hát xoan cũng là điều đáng để bàn. Bà Nguyễn Thị Lịch cho biết từ khi được công nhận là nghệ nhân hát xoan đến nay, bà không hề nhận một đồng lương từ nhà nước mà đi dạy hát xoan chỉ vì yêu hát xoan.

Còn ông Nguyễn Khắc Xương lo lắng trước thực trạng việc nghiên cứu hát xoan sau khi được UNESCO công nhận đã tạm dừng lại: “Việc nghiên cứu để tìm ra lề lối và làn điệu hát xoan cổ chính gốc vẫn còn thiếu và rất cần được nghiên cứu tiếp”, ông nói.
Tay múa của hát xoan không giống như chèo mà cần phải tuân thủ các quy tắc riêng để đảm bảo tính tín ngưỡng bởi loại hình hát thường được phục vụ tại của đình mỗi dịp quan trọng.

Việc công nhận hát xoan hiện nay một tín hiệu tích cực từ sự hứng khởi của nhân dân khi hồ hởi tham gia các lớp học về hát xoan. Hát xoan đã đi vào trường học như một môn học tại tỉnh Phú Thọ nhưng lại bất cập trong việc đưa ra mô hình phù hợp với lứa tuổi học sinh khi tiếp cận với xoan”.

Công ước của UNESCO khi vinh danh một di sản đã khẳng định rõ di sản đó phải được bảo tồn nguyên hiện trạng khi được công nhận. Như vậy nếu như hiện tượng Hát Xoan bị “chèo” hóa hay “chế” thêm nhạc điệu còn tiếp tục xảy ra sẽ có ảnh hưởng không tốt đến danh hiệu mà UNESCO đã trao tặng cho hát xoan. Một bài học rất lớn là UNESCO đã từng tước đi sự công nhận đối với một số những di sản văn hóa phi vật thể ở một số nước dù trước đó họ đã từng công nhận.
Ông Nguyễn Đắc Thủy – Phó ban Tuyên giáo tỉnh Phú Thọ: “Năm nay có hiện tượng thêm nhạc hay biểu diễn sai tại một số chương trình chúng tôi xin rút kinh nghiệm và sẽ tiếp thu mọi ý kiến. Tuy nhiên cũng cần phải biết rẳng tại một số nơi biểu diễn là các CLB yêu xoan nhưng chưa hiểu rõ các quy tắc khi hát xoan, chúng tôi đã cử những nghệ nhân đến rút kinh nghiệm.
Việc đãi ngộ với các nghệ nhân hát xoan sắp tới tỉnh cũng sẽ có những đề án để hỗ trợ phù hợp hơn với các nghệ nhân trong việc bảo tồn hát xoan”.


Vĩ Lam