Thứ Tư, 6 tháng 11, 2024

Đường Lên Núi Cát Minh


THÁNH GIOAN THÁNH GIÁ

TOÀN TẬP


 Tập 2

ĐƯỜNG LÊN NÚI CÁT MINH

Nguyên tác:

Subida al Monte Carmelo

Bản dịch của

NGUYỄN UY NAM và Lm. TRĂNG THẬP TỰ



Tác phẩm của Gioan Thánh giá, tu sĩ Cát Minh, bàn về cung cách một linh hồn có thể dọn mình để mau đạt đến sự nên một với Thiên Chúa; cống hiến những ý kiến và học thuyết rất ích lợi cho những người mới bắt đầu cũng như những người đã tiến khá xa trên đường lành, để họ biết thoát khỏi mọi sự thế tục, khỏi bị mắc kẹt vào những điều thuộc tâm linh, được trần trụi triệt để và được sự tự do tâm linh là điều cần có để được nên một với Thiên Chúa.


Toàn bộ học thuyết tôi muốn trình bày trong cuốn Đường Lên Núi Cát Minh này, được gói ghém trong những ca khúc sau đây. Những ca khúc này cũng hàm chứa cung cách tiến lên tận đỉnh ngọn núi ấy, là bậc cao của sự hoàn thiện mà ở đây chúng ta gọi là sự nên một với Thiên Chúa. Tôi sẽ triển khai bằng cách căn cứ vào cái nền ấy mà xây đắp những điều sẽ nói. Do đó, tôi xin gom lại đây toàn thể các ca khúc ấy, để giúp bạn đọc hiểu và thấy ngay được khái quát tất cả những điều tôi sẽ viết. Khi trình bày tôi sẽ nêu lại từng ca khúc, hoặc có khi từng câu, tùy theo đòi hỏi của từng vấn đề được trình bày. Toàn văn các ca khúc như sau:

NHỮNG CA KHÚC LINH HỒN HÁT MỪNG VẬN MAY DIỄM PHÚC, NHỜ SỰ TRẦN TRỤI VÀ THANH TẨY MÀ ĐƯỢC VƯỢT TỪ ĐÊM TỐI ĐỨC TIN ĐẾN SỰ KẾT HIỆP NÊN MỘT VỚI ĐỨC LANG QUÂN.


Giữa một đêm dày,
Nồng nàn yêu thương và âu lo,
Ôi vận may diễm phúc!
Tôi đã ra đi không bị để ý,
Mái nhà tôi giờ thật yên hàn.
Trong tăm tối và an toàn
Cải trang, men theo cầu thang bí mật,
Ôi vận may diễm phúc!
Trong tăm tối và được che khuất,
Mái nhà tôi giờ thật yên hàn.
Nhờ đêm diễm phúc,
Trong bí mật, vì không ai thấy tôi,
Cả tôi cũng không nhìn gì cả,
Không một ánh sáng và kẻ dẫn đường nào khác
Ngoài chút sáng cháy trong tim.
Chút sáng ấy đang hướng dẫn tôi
Chắc chắn hơn ánh sáng giữa trưa,
Dẫn đến nơi có người đợi tôi
Người mà tôi biết rõ,
Đợi ở phía không ai lai vãng.
Ôi đêm! Ngươi đã hướng dẫn ta!
Ôi đêm! Đáng yêu hơn rạng đông!
Ôi đêm! Ngươi đã phối hợp
Đức Tình Quân với tình nương
Một tình nương đã được biến đổi nên Tình Quân!
Trên lòng tôi đầy hoa,
Được giữ vẹn cho một mình Chàng,
Chàng lưu lại đó, say ngủ,
Và tôi vuốt ve Chàng,
Và quạt mát cho Chàng bằng quạt bá hương.
Khi tôi đang vân vê tóc Chàng
Khí, từ lỗ châu mai
Bằng bàn tay trong suốt của nó
Đã làm tôi bị thương ở cổ
Và khiến mọi giác quan tôi bị treo lơ lửng.
Tôi ở yên và tự quên đi
Mặt nghiêng trên Tình Quân
Tất cả ngưng lại, và tôi buông mình,
Buông bỏ cả sự chú ý của tôi
Giữa những cánh huệ, và quên.

(Còn tiếp)

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2024

Đạo làm người (tiếp theo & hết)

 


Từ đức hạnh bên trong đến thuần phong bên ngoài

 

Đức hạnh là của tâm hồn, nên có vẻ như gói gọn bên trong mỗi cá nhân. Bởi lẽ các gốc của một việc làm tốt không phải là những cử chỉ nhìn thấy bên ngoài, cho bằng tâm tình cùng với động cơ và ý hướng vốn ẩn khuất sâu trong nội tâm chúng ta. Quả thật đức tính không do sự lặp lại của những vận động cơ bắp, mà của những tâm tình và ý muốn, mà những vận động kia chỉ là biểu hiện bên ngoài thôi. Vâng, nếu chỉ có bên ngoài, thì về lâu về dài, cử chỉ (đóng kịch) kia chỉ ngày càng làm thui chột tình cảm đi. Trái lại, tình cảm thương người nếu lặp đi lặp lại sẽ ngày càng vững, càng sâu thêm mãi mãi, khiến cho từ đây, chỉ cần thấy một trẻ em khóc, một con chó rên la, là anh sẽ nhói đau ngay trong lòng, để rồi chính cảm xúc này sẽ đẩy đưa tay chân và miệng lưỡi của anh.

 

Tuy đức hạnh là của tâm hồn đấy, nhưng hễ lòng đầy sẽ ngứa ngáy tay chân, khiến cho một đạo đức chân chính luôn được biểu hiện trong lời nói, việc làm và đời sống. Do đó mà nó thành lây lan, và khi có nhiều người tốt, nhiều hành động tốt diễn ra như vậy, thì tất cả sẽ tạo nên một bầu khí, một môi trường, cùng với cách làm, cách nghĩ tưởng và đánh giá chung của một xã hội. Và đây là thuần phong, mỹ tục. Để rồi sinh ra giữa một môi trường như thế và được giáo hóa theo cung cách sống ấy, đứa trẻ sẽ tốt lên. Vâng, một phong hóa tốt và một giáo dục tốt luôn là cần thiết để tạo nên những xã hội tốt và những nhân cách hoàn mỹ.

 

Các xã hội xưa, như xã hội Kitô giáo phương Tây trước thế kỷ XIX và xã hội Nho giáo phương Đông trước thế kỷ XX, đều có một phong hóa khá cao nó rèn đúc nên những mẫu người tuyệt vời trong suốt nhiều thế kỷ. Có điều, một phong hóa không thể không có những khuôn, những luật lệ cùng với dư luận chúng gò ép con người, mà khi gò ép quá nhiều và quá mạnh, thì tự do mất đi sẽ khiến khó sống đạo đức sâu bởi khó sống tự mình. Bầu khí sẽ trở nên khó thở khi con người hiểu biết nhiều hơn, khiến cách mạng bùng nổ thành dây chuyền, mà người ta muốn phá đổ hết những gì là truyền thống cùng với những ràng buộc. Trong cuộc lật đổ lan rộng ấy, chẳng những cái xấu mất đi, mà những cái tốt cũng tan theo luôn, trong đó có truyền thống đạo đức.

 

Ngày nay, vì xã hội sa đọa quá rồi, nhiều người bên phương Đông muốn trở về với Nho giáo. Có điều nên nhớ, không thể trở về với truyền thống mà không biến đổi nó để nó phù hợp hơn với cuộc sống của chúng ta hôm nay. Vâng, phải chắt lấy và giữ lại cái gì là tinh tuý hay tinh thần, như Nhân Trí Dũng, như Thành và Trung Dung, cùng với Hiếu, Nghĩa, Tiết. Còn Tam cương, Ngũ thường, thì phải sàng lọc kỹ thôi, không thể giữ đủ hết.

 

Cuộc chiến vì phong hóa không phải là một với cuộc chiến vì sự thiện, bởi lẽ sự thiện thuộc tinh thần, còn phong hóa chỉ là biểu hiện bên ngoài, dù môi trường phong hóa rất cần cho giáo dục và sự phát triển của đạo đức. Có điều con người không thể sống và phát triển mà tách khỏi xã hội và văn hóa được, dù xã hội với cái vỏ bề ngoài và những khuôn cứng nhắc đôi khi cũng cản lối tinh thần nữa. Cho nên vấn đề là phải chọn giữa những hình thức và khuôn, vừa phải tạo bầu khí thanh thoáng của tự do, vừa phải giới hạn một phần tự do ấy để bảo vệ thuần phong mỹ tục. Trong thời đại của thông tin nghe-nhìn (audio-vision) hôm nay, một đằng phải hạn chế những phim ảnh và âm nhạc khiêu dâm hay kích động bạo lực, đằng kia phải đầu tư người và của cho những tiểu thuyết và phim ảnh đề cao tình đồng loại và quan hệ sư đệ, gia đình. Có điều xưa kia gần như chỉ người dưới mới có bổn phận đối với người trên, chứ ngày nay thì để người dưới dễ tuân phục người trên, chính người trên cũng phải làm gương cho người dưới và tìm hiểu tâm tư và nguyện vọng của giới trẻ chúng là con em, đệ tử của họ.

 

Đạo đức và nhân phẩm

 

Con người sinh ra đã đáng tôn quý rồi. Sự đáng tôn quý hay nhân phẩm ấy được Khổng giáo gọi là Lương quí và Thiên tước, tức cái Quí và Tước tự nhiên Trời ban (Mạnh tử 6A, 16-17). Tại sao sinh ra đã đáng tôn đáng quý như thế, thì theo Mạnh tử giải thích, con người luôn chứa sẵn trong mình những đức như nhân và nghĩa.

 

Thật ra, không phải đứa bé hay người nguyên thuỷ đã sẵn có những đức ấy, mà bằng chứng là đứa bé sinh ra rất ích kỷ (6), còn người nguyên thuỷ thì suốt một thời gian dài sống không khác cầm thú bao nhiêu. Vâng, cũng như qua kinh nghiệm và giáo dục, người ta tạo dần khoa học và văn hóa, thì đứa bé cũng cần được dạy dỗ và người nguyên thuỷ phải mò mẫm nhiều thế hệ mới biết đạo làm người.

 

Có điều, sở dĩ chỉ con người mới có tri thức lý tính, là vì khi sinh ra nó đã sẵn lý trí rồi. thì cũng thế, sở dĩ chỉ con người mới khám phá ra đạo làm người, vì sinh ra nó đã mang sẵn một hướng thiện nó đi kèm nhạy cảm thiện ác, để rồi nhờ lý trí và bằng kinh nghiệm, nó khám phá dần cái gì là thiện, là ác. Việc khám phá ấy vừa là của những thánh hiền sống nhiều với nội tâm và tiến xa trên đạo làm người, vừa là của chung một xã hội tốt đã thành môi trường sống và sự nâng đỡ cho bao thế hệ thánh hiền như thế.

 

Một khi đã cố gắng rất nhiều để thành nhân, thành thánh, thì không những người ta chỉ đáng tôn quí bằng cái nền tảng lương quí và thiên tước tự nhiên kia, mà còn bằng phẩm hạnh đạt được của một con người đã bao năm trung thành với tiếng gọi làm người của mình. Bằng như ngược lại, thì “cái tốt mà hư đi thì càng tệ thêm” (corruptio optimi, pessima), khiến cho sinh ra, thì lương quí như nhau đấy, nhưng càng sống, người ta càng xa biệt nhau về nhân phẩm:

– “Cố phân đồng loại giả, cử lương tri dã” (Mạnh tử 6A,7)

– “Tính tương cận…, tập tương viễn” (Luận ngữ, 17.2)

 

Thật ra, thì sự lương quí hay đáng tôn quí tự nhiên không phải do nhân nghĩa tiềm tàng cho bằng do một cái gì cơ bản hơn, và đây là bản vị, mà ngày nay triết học quen gọi là cái vị-thân (le pour-soi). Vâng, cỏ có mặt là vì con bò, con trâu; trong khi bò và trâu hiện hữu là vì chủng loại chúng và vì con người, chứ con người thì sống vì chính mình, nên không thể bị hy sinh cho cái gì khác, thậm chí không thể bị hy sinh dù cho cả một xã hội. Và đây là lý do tại sao nó phải được tôn kính vì chính nó, cũng như tại sao nó phải sống xứng với nhân phẩm của mình, và đấy là Tính, là Đạo, là Nhân nghĩa.

 

Chú thích

 

(1) Đạo Đức kinh, ch.XXIII.

(2) “Thượng đức bất đức” (ch.XXXVIII)

(3) Ch.XXXVIII.

(4) Nho giáo, quyển thượng, Trung tâm Học liệu xuất bản, tr.44

(5) Kinh Dịch: văn ngôn truyện

(6) Về sự ích kỷ của con nít, xin xem St.Augustin, Les confessions, ch.VII-VIII. 


Nguồn: https://dongten.net/dao-lam-nguoi/


Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2024

Đạo làm người



Tác giả: Hoàng Sỹ Quý, SJ.

 

Ý thức luân lý

 

Con vật chỉ phản ứng theo bản năng, nghĩa là cái bản năng “trời ơi” ấy làm thay cho nó hết. Duy chỉ con người mới hành động thật, nghĩa là làm tự mình, do lý trí soi lối và ý chí quyết định. Nên khởi động là ở việc cân nhắc và quyết định này, chứ không phải ở hoạt động cơ bắp và thần kinh. Chính vì thế, đắn đo và quyết muốn đã được gọi là hành vi (act) rồi, để khi tòa án luận tội thì phải dựa vào đó mà xét. Vâng, dù anh quyết giết người mà chưa giết được, thì anh đã phạm tội trước lương tâm anh, còn tòa án thì kết tội anh cố ý mưu sát.

 

Sở dĩ con người có trách nhiệm, không về động tác bên ngoài cho bằng về hành vi nội tâm (cũng là nội tại, immanent), vì chỉ nội tâm mới là giang san riêng của tôi, chỉ ở nội tâm tôi mới thực là chủ, là tổng tư lệnh. Ở nội tâm đó, tôi vừa là nhà lập pháp, vừa là quan tòa và kẻ thi hành án luôn. Và đây là lương tri, hay tiếng nói lương tâm.

 

Do đâu mà có cái lương tâm lạ lùng ấy? Freud giải thích nó bằng then máy của Siêu ngã. Đây là uy quyền người cha cùng với những cấm đoán bị “đồng hóa” (identification) hay hội nhập vào đứa bé, thành một thứ Tôi trên tôi nó kiềm chế và kiểm soát tôi. Có điều Freud không cho biết vì sao có cái hương vị luân lý đi kèm, khiến “quyết lệnh luân lý” (impératif moraux) phân biệt với những loại cấm cản, ức chế (inhibition) khác. Lại nữa, cưỡng bách luân lý luôn giả thiết tự do, đến nỗi khi không còn tự do, dù do hoàn cảnh bên ngoài, dù do bệnh tâm thần bên trong, thì cưỡng bách luân lý cũng tiêu tan.

 

Chúng tôi không nghĩ như Nho giáo và các triết gia Cổ Trung Hoa, rằng con người khi sinh ra, nhất là người nguyên thuỷ, đã có ngay những đức như nhân nghĩa trong mình. Mà thực ra, họ chỉ có một thứ nhạy cảm luân lý hay cảm thức thiện ác, để rồi từ thứ nhạy cảm này, với sự trợ giúp của lý trí và kinh nghiệm, sẽ khám phá ra dần dần cái gì là hợp với tính người, tức thiện, và cái gì nghịch lại, tức ác. Chứ hồi đầu, loài người chỉ có một cảm nhận chung chung, nó là một thứ nguyên tắc tối ư tổng quát:

– Điều thiện thì nên làm, điều ác thì phải lánh!

 

Chứ còn cái gì là lành hay ác thì lại khác, khiến cho về lâu về dài và từ vùng trời này đến vùng trời kia, có thể có những quy tắc luân lý cụ thể trái ngược nhau, ít là ở bề nổi và về mặt thực hành.

 

Đạo làm người

 

Nếu Tây Trúc chỉ trọng có tôn giáo, và coi luân lý chỉ có ích trong giai đoạn vô minh, luân hồi thôi; và nếu Tây phương tuy đề cao luân lý đấy, nhưng coi nó là vấn đề riêng của loài người; thì Á Đông chẳng những để luân lý bao trùm luôn tôn giáo – hay nói cho đúng hơn, đặt bổn phận đối với Trời và thần thánh, tức tôn giáo, lồng cả trong Đạo làm người, tức luân lý – mà còn đặt luân lý vào trong cái Đạo tối thượng nó bao trùm cả Thiên Địa Nhân. Vâng, luân lý chỉ là một trong những hiển thể của Đạo, và gốc của nó nằm ở Mệnh Trời.

 

Theo Lão tử, Đạo ở gốc của nó thì không gọi được tên, không định được dạng, không hiển ra bằng đức và quy luật rõ ràng. Và đây mới là Thường đạo. Ngay Trời được coi là gốc của tất cả, thì nơi Trời, Đạo cũng có hai mặt Vô danh và Hữu danh như thế:

Vô danh vạn vật chi thuỷ,

Hữu danh vạn vật chi mẫu.

 

Còn con người, nếu sống đạo sâu xa, đến như thành một với đạo: “đồng ư đạo (1), thì người ta cũng không cần nghĩ đến Đức, huống nữa đức này hay đức kia (2):

“Mất đạo rồi mới có đức,

Mất đức rồi mới có nhân…”(3)

 

Có thuyết cho rằng Nhân đạo là do Trời định, có thuyết lại cho rằng do tự nhiên thôi, không cần Trời phải muốn thế mới thành như thế.

 

Theo tôi nghĩ, nên dung hòa giữa hai ý kiến, bằng cách vượt trên cả luật tự nhiên lẫn thiên ý. Như thế cũng phù hợp với cách hiểu của khoa học hôm nay về đạo của đất, tức quy luật của tự nhiên.

 

Vâng, theo ý tôi, Trời chỉ cần đặt giữa hư không một Thiên mệnh hay ý hướng, để giữa hư không ấy nổ lớn một Bigbang, rồi từ cái bắt đầu nó như có như không, giữa năng lượng và hạt này, mà vật chất sinh ra, vật chất ấy tự tìm lối cho mình hướng về cái mới chỉ là ý Trời hằn in trên nó. Tìm đường, nó phải dò dẫm, mày mò, để rồi mỗi khi tiến được một bước, nó liền để vết cho tất cả sau đó lặp lại (répétition): vết ấy chính là quy luật, chứ quy luật không có sẵn trước đâu. Nên quy luật đúng là tự nhiên, mà cũng đúng là ý Trời. Nếu hướng nhắm của Trời là sự sống, và giữa sự sống là con người, thì nơi con người ấy cũng có một Thiên mệnh chiếu in thành Tính, để với cái Tính lý tưởng và cái Đạo “thường đạo” chung chung này, con người cũng sẽ dò dẫm tìm đường, tự khai phá lấy cho mình một hệ thống các đức và quy luật luân lý chúng hướng dẫn hắn trên đường thành thánh, thành nhân.

 

Hướng nhắm là Đạo, nhưng vững Đạo là ở Đức

 

Tính là cái đích phải vươn tới, Đạo là đường đi nói chung, nhưng thể hiện Đạo ra trong cuộc sống lại là Đức, và cụ thể hơn, là các đức như nhân, nghĩa, v.v… Cho nên để đạt đạo trong điều kiện hiện sinh của loài người, không thể không trui rèn các đức tính, chúng hiển lộ Đạo và làm cho Đạo vững lên:

– Chí vu Đạo, cứ vu Đức

 

Nếu Lão tử chỉ nói về Đạo, thì thực tế hơn Khổng tử chỉ bàn về các đức. Về đức Khổng Khâu kể ra, nào là Cung khoan tín mẫn huệ, nào là Nhân nghĩa lễ trí tín, nào là Kiệm khiêm tiết trực và Trung thứ hiếu đễ. Nhưng đức mà Khổng tử năng nhắc đến và nhấn vào nhiều là Nhân Trí Dũng, là Thành và Trung Dung. Có thể nói đây là những đức trụ (cột) của tòa nhà đạo đức Khổng giáo.

 

Luân lý Hy-La cũng có những đức trụ (vertus cardinales) mà Cicero ghi rõ trong tác phẩm De officiis (Về các bổn phận) của ông, và đây là: Tiết độ, khôn ngoan, công bình và can đảm. Trong bốn đức ấy, có đến ba thuộc cương, còn khôn ngoan thuộc phán đoán hơn nên không kể. Trái lại, trong năm đức trụ Nho giáo, rõ ràng thuộc cương chỉ có Dũng và Thành, và chúng được lòng Nhân nhuần thấm khiến cho ôn dịu lại. Hơn thế, trong tâm ý của đức Khổng, ngũ đức nói trên mang một ý nghĩa rất sâu xa.

 

Cao sâu nhất có lẽ là Thành và Trung Dung, mà Đức Khổng dành cho cả một cuốn sách: sách Trung Dung.

 

Dẫn nhập cho Trung Dung, Trình tử định nghĩa Trung như sau: “Bất thiên chi vị Trung”, không thiên lệch, đó là Trung. Câu nói ấy khiến có thể hiểu là Đừng đi quá, hay Tránh thái quá và bất cập. Quả đúng là có “tránh thái quá và bất cập” đấy, nhưng đây chỉ là kết quả hay cái ngọn thôi. Để hiểu đúng Trung là gì ở gốc của nó, thì cứ việc đọc tiếp liền sau đó, nơi lời diễn giải đầu tiên của Đức Khổng.

Hỉ nộ ai lạc chi vị phát, vị chi Trung;

Phát nhi giai trùng tiết, vị chi Hòa!

(Mừng giận buồn vui khi chưa phát sinh, thì đó là Trung;

Phát sinh mà đúng hợp [với cảnh, việc], thì đó là Hòa)

 

Nói cách khác, Trung có gì giống như trạng thái nội tâm lúc chưa xảy ra biến cố: không ghét, ham, mừng, giận, nghĩa là không nghiêng lệch bên này hay bên kia; để khi biến cố xảy ra rồi, thì phản ứng nếu phù hợp và đúng mức cần, thì đó là hòa hợp với đạo. Vừa đúng mức, chứ không để cho thành kiến, đố kỵ hay quan hệ thân, thù chi phối mảy may, thì đúng là Khách quan rồi. Cũng đúng là Bất thiên (indifferentia) của tu đức học Kitô giáo, tình trạng không thiên lệch giống như khi chưa xảy ra sự việc, để khi xảy ra thì phản ứng đúng mức theo bổn phận và đạo làm người đòi hỏi, chứ không do thiên lệch mà làm quá, cũng không do sợ nể mà bất cập.

 

Thật ra, nếu chỉ Trung thôi thì chưa có gì nói lên tình cảm gắn bó với lẽ phải và sự thật, nên sánh đôi với Trung, cần phải thêm đức Thành nữa. Thành không phải chỉ là nghĩ sao nói thế. Thành trước hết phải là có sao nghĩ vậy, đánh giá đúng như vậy, nghĩa là Thành với tâm và lương tri, và như thế cũng là khách quan, là Trung luôn.

 

Nếu luôn thành và trung với lương tri như thế, thì lương tri không còn chi che khuất, sẽ khiến Đạo ngày càng hiện rõ, thành như trong suốt, và đây là Trí, là Minh: Trí hướng về hiểu biết thuyết lý, còn Minh hướng về cụ thể và thực hành. Vậy Minh là phân định (discernement) nó giúp người ta đánh giá một ý nghĩ là đúng hay sai, cũng như giúp ứng phó thế nào cho hợp đạo trong một trường hợp cụ thể. Một đánh giá có tính thực hành thôi, chứ hiểu tại sao lại thế, thì cần phải Trí nữa.

 

Có điều, để từ phân định mà chuyển thành hành động, thì phải có thêm Dũng, không phải cái “dũng của người phương Bắc” để xông pha giữa rừng gươm lửa đạn, mà cái “dũng của người phương Nam” để chiến đấu với chính mình.

 

Lại nữa, để hành động thẳng ngay mà vẫn còn tính, tình người, thì lại phải có thêm lòng Nhân. Với lòng nhân, người ta dễ cảm thông nỗi khổ của người khác và tôn kính sự sống nói chung, như Trần Trọng Kim nhận xét:

– “Nhân là đầu các điều thiện, chủ bồi dưỡng sự sinh của trời đất” (4).

 

Vì là đầu các điều thiện, Nhân thành đỉnh cao của cả tòa nhà đạo đức, mà ở đấy mọi đức tỏa sáng Nhân và dung hợp với nhan đề làm nên một nhân cách hoàn mỹ, một con người hoàn bị:

– “Quân tử thể Nhân, tức dĩ trưởng nhân” (5).

 

Trong lúc chưa đạt tới đỉnh cao ấy, thì các đức cương nhu đối nghịch phải sánh đôi để mài giũa và bổ túc cho nhau, nhờ đó tránh thái quá hay bất cập. Vâng, trực quá sẽ tàn nhẫn, khoan dung và từ bi quá sẽ nhu nhược và khuyến khích sự ác.


(Còn tiếp)
 

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2024

Kinh Chiều

 


KINH CHIỀU

Lạy Chúa,
chung quanh con bao người tất tả,
sáng cũng như chiều vất vả ngược xuôi.
Bơi vượt dòng đời,
trèo băng đỉnh dốc.
Lạy Chúa,
cuộc sống dương gian đã đầy lao nhọc.
Khấn xin Ngài tuôn phúc lộc đỡ nâng.
Để còn thấy hừng đông,
để còn nhìn hoa nở.
Để cho dù sau bao cách trở
họ lại về nguồn cội an vui.
Xin đừng cho khổ ải dập vùi,
cũng đừng cho lụy phiền phủ lấp.
Và để con khi nhìn bao khuôn mặt
vẫn nhận ra rằng: có Chúa kề bên.

An Hạ, 07.05.1985


Thứ Tư, 30 tháng 10, 2024

Thần học thiêng liêng (tiếp theo & hết)



Ðức Ái, nguồn gốc thánh thiện và điểm hẹn chiêm hành

Hồn của tông vụ không phải là nguyện cầu, như Dom Chautard nghĩ, nhưng là đức Ái. Ðức Ái Chúa Kytô là hồn sống duy nhất cho cả Hành lẫn Chiêm.

Theo thánh Tôma, "toàn thiện cốt yếu ở huấn lệnh Chúa, trong có lời khuyên (Phúc Âm)... Nhưng cả lời khuyên lẫn huấn lệnh đều quy về đức Ái cả". Do đó theo Gustave Thils, để đi vào tinh thần và ý nghĩ của lời khuyên Phúc Âm, cần ghi tạc sống động vào lòng sự liên đới ấy của lời khuyên với đức Ái.

K. Rahner cũng coi "toàn thiện Kytô giáo là ở sự hoàn thiện đức Ái thôi". Ðức Ái ấy mở đồng thời về phía Thiên Chúa và loài người, nên rất nhân bản, mà cũng hoàn toàn siêu nhiên, lại có tính cách chung và siêu thế. Do tính cách chung và siêu thế, siêu nhiên, cũng như vì sự hoàn thiện đức Ái ở mặt này, mà việc thanh luyện từ Trời phải thật gắt gao.

Tân Ước thích nhìn đức Ái dưới dạng Agapê, nhưng Cựu Ước lại quen ngắm nó như một Erôs.

Thật ra, Yêu trong Hy ngữ có tới ba động từ để chỉ: Fileô, Erômai và Agapaô. Người ta dùng Fileô cho những đối tượng thanh cao, có khi trừu tượng, như Theo-filos, kẻ yêu Thiên Chúa; như filo-sofia, sự yêu đại trí, tức triết học. Người ta dành Erômai khi nói đến những mối tình say đắm, tình lứa đôi. Còn Agapaô là yêu vị tha và cao thượng, hợp với cách thẩm định của lý trí, như giữa cha con với nhau, một thứ yêu chuộng (estime). Có lẽ Fileô thì không đủ, còn Erôs trong thực tế lại quá nghiêng về nhục dục và chiếm hữu, nên để khỏi hiểu lầm, các tông đồ và giáo phụ đầu tiên cố tránh từ ngữ đó. Thế nhưng các huyền nghiệm nhân sau này, nhất là ở phái nữ, hình như không thể diễn tả hết sự thân mật trong kinh nghiệm mà lại không nhờ đến ý tưởng Erôs.

Ðức Ái của giai đoạn đầu, giai đoạn Minh minh đức (illuminativa), dù ảnh hưởng mạnh đến đâu, cũng chỉ làm nên những Vượng cảm (consolation) với độ cồn quá yếu. Ðể nồng thành men say, ngọt thành mật vị (gout, theo tiếng gọi của Tiên Sa), mật trấp (nước mật), thì đức Ái thiên phú phải trực tiếp vào cuộc. Có điều vì nó là một thứ mật và lửa mới mẻ, mà cảm năng lại chưa quen, nên không cảm nhận chi hết. Nếu trong Chiêm, thì đây là Ðêm tối; nếu trong Hành, hẳn đây là Ðơn lạnh. Ðêm tối và Ðơn lạnh sẽ giúp khiếu năng tri và cảm cai sữa và lọc trong, nhờ đó đức Ái thiên phú có thể nổi hẳn lên và làm chủ cuộc sống.

Khi Thần Khí đã làm chủ cảm tính (và ý chí) hoàn toàn bằng Tín-Vọng-Ái thiên phú, thì cảm tính hết còn gây nguy hiểm, khiến hành giả có thể yêu thương tự nhiên, khi mà nước tự nhiên ấy đã hòa tan trong sông biển của siêu nhiên rồi:

"Con đã hưởng nhận phần thưởng dành cho ai can đảm chiến đấu. Con không cần từ chối mọi an ủi của con tim nữa, bởi tâm hồn con đã được củng cố do đấng duy nhất mà con yêu. Con sung sướng nhận ra rằng, khi yêu Chúa thì trái tim lớn trương lên, và trái tim ấy có khả năng yêu người thân mạnh gấp ngàn lần, hơn là nếu nó hướng về một thứ tình vị kỷ và vô bổ".
(Tiên Sa Lisieux)

Như thế, đức Ái thiên phú không hề đối lập với tình yêu tự nhiên. Khi nó đã chiếm hữu hoàn toàn cảm tính rồi, thì hòa tan trong siêu nhiên, tình yêu (tự nhiên) sẽ bội tăng sức mạnh.

Bước tiến của đức Ái đi từ thủ đắc sang thiên phú. Tới thiên phú, thì đó là huyền nghiệm. Ðến lượt huyền nghiệm đức Ái cũng tiến nữa, và tiến từ nông sang sâu. Kịp đến khi đạt hết chiều sâu, thì như trong chiêm, nó lại tràn ra hết bề mặt, để không còn phân biệt giữa trong với ngoài, giữa tự nhiên với thiên phú, cũng như giữa yêu Chúa với yêu anh (chị) em. Ðây là Hôn nhân thiêng liêng, và đường tiến tới cao điểm ấy có thể là chiêm hay hành cũng được.

Ở trên, chúng ta đã đặt ra hai mốc chính của tiến trình đức Ái: mốc thủ đắc và mốc thiên phú, mốc chủ động và mốc thụ động.

Nếu xét về hiệu quả ở đức hạnh, cũng được phác họa nhiều thứ tiến trình khác, của đức Ái minh nhiên hay mặc nhiên. Thánh I nhã chẳng hạn nói đến Ba hạng người và Ba cấp khiêm nhường. Ở Ba hạng người, thì cao nhất là kẻ siêu thoát, chỉ muốn điều Chúa muốn thôi. Ở Ba cấp khiêm nhường, thì siêu thoát lại ở hạng hai, còn chỗ cao nhất dành cho kẻ vượt trên bất thiên, đã chọn nghèo túng và sỉ nhục để nên giống hoàn toàn với Chúa của lòng mình.

Yoan Thánh Giá trình bày một thang cấp khác, thang muời bậc, nó chi tiết hơn:

-- cấp dưới cùng: không thiết chi ngoài Chúa.

-- cấp hai: khắc khoải kiếm tìm một mình Chúa.

-- cấp ba: thấy Chúa thánh thiện đến nỗi, bất cứ gì tôi làm, tôi cũng thấy bất xứng cả.

-- cấp bốn: yêu mạnh đến nỗi muốn làm bất cứ gì có thể vui lòng Chúa, chứ không nghĩ đến mình.

-- cấp năm: khát Chúa đến nỗi như không đợi chờ nổi.

-- cấp sáu: tình yêu rất thanh khiết và phát triển đến nỗi ta tiến rất lẹ, bay rất nhanh.

-- cấp bảy: đức Ái mạnh đến nỗi vượt trên mọi toan tính, khiến hành giả lớn mật, bạo gan, chẳng gì mà không dám làm vì Chúa.

-- cấp tám: thuộc về kẻ đã tìm thấy cái mình thiết tha ao ước, nên an thỏa hoàn toàn (trong Ðấng lòng mình yêu). Tình trạng ấy, trong giai đoạn tám này, chỉ đạt được từng lúc và trong thoáng chốc thôi.

-- cấp chín: đã được thanh lọc thuần khiết và cảm nhận Chúa có mặt thường hằng, nên lửa dù bốc rất cao, mà lửa ấy vẫn êm dịu, ngọt ngào. Hẳn đây là Hôn nhân thiêng liêng, chỗ mà chiêm và hành không còn khoảng cách, chỗ mà từ đó sang vĩnh phúc chỉ còn một bước thôi, lúc cuộc sống chấm dứt rồi.

-- cấp mười: chỉ đạt ở thiên quốc, chỗ mà hồn thấy Chúa trực diện bằng cái nhìn trong suốt, cái nhìn nó biến hồn nên giống Chúa như in.

Ðức Ái thập cấp của Yoan Thánh Giá đúng là đức Ái của chiêm nhân. Quả là ở vài giai đoạn giữa và cuối, nó có thúc bách hành động đấy, nhưng hành động mới được coi như hậu quả của chiêm lại chưa đủ nhấn mạnh, cũng như yêu người chưa được nối liền ngay với yêu Chúa. Cho nên, để tạo thế quân bình giữa hành và chiêm, phải đưa yêu người và tiếng gọi lên đường vào buổi gặp Chúa đầu tiên. Vâng, tiếng gọi của Chúa luôn là tiếng gọi lên đường lưỡng diện: tìm Chúa ở nội tâm và tìm hạnh phúc của loài người. Ngay lúc gặp Phêrô trong mẻ cá thứ nhất, Chúa đã hứa: Ta sẽ biến anh thành ngư phủ kéo cá người! Và khi gặp lại các tông đồ sau Phục Sinh, Chúa sai họ đi giảng và làm phép Rửa. Vâng, sự gặp gỡ Chúa luôn đi đôi với tiếng gọi lên đường.

Thế nhưng, vì người ta có những khả năng và khuynh hướng rất khác nhau, nên Chúa có thể mời một số người vào con đường tu ẩn. Có điều dù tu ẩn, họ vẫn phải tham gia vào sứ mệnh mở Nước Cha, tham gia bằng hy sinh cũng như cầu nguyện. Như thế, người ta có thể mở Nước Cha và nên thánh hoặc bằng con đường Hành, hoặc bằng con đường Chiêm. Kẻ đi con đường Chiêm và Xuất thế trình bầy bộ mặt cánh chung và siêu thế của Ðạo. Còn kẻ đi con đường Hành và Nhập thế thì làm chứng cho việc Nhập Thể của Ngôi Lời. Hai con đường và hai loại người có thể bổ túc cho nhau vì ý nghĩa kép ấy của Nước Chúa nhờ vào nhất tính của Hội Thánh huyền thân Chúa Kytô.

Dù Chiêm hay Hành, nếu nên thánh thì bước tiến vẫn là từ đức hạnh thủ đắc sang đức hạnh thiên phú, do đó huyền nghiệm là cần. Huyền nghiệm chẳng qua là biểu hiện của đức thiên phú khi nó vào cuộc thẳng với cuộc sống chúng ta. Vâng, chỉ có Tín-Vọng-Ái thiên phú mới đủ sức làm những thanh lọc cuối cùng và đưa đức hạnh đến đỉnh cao của nó. Vả cũng chính sự vào cuộc trực tiếp của thiên phú mới chuyển hẳn cuộc sống và công việc sang cho đầu tầu Thần Khí, nhờ đó hoàn tất sự Thuận Thiên của chúng ta. Có điều ý thức về huyền nghiệm (huyền nghiệm ánh sáng trong chiêm) không phải là cần. Một huyền nghiệm phảng phất vì tiềm ẩn trong cuộc sống và hành động mới là điều không thể thiếu cho sự hoàn thành thánh thiện nơi chúng ta.


TÓM LẠI

Huyền nghiệm là sự vào cuộc trực tiếp của các đức thiên phú chúng đến thanh lọc tận căn và đốt nóng đến độ chót. Bởi thế, huyền nghiệm rất cần để ta nên thánh, nhất là thánh cao. Thế thì làm sao để nên thánh, nhất là thánh cao, những con người suốt đời bôn ba vì Nước Chúa, không có nhiều giờ chuyên chiêm được? Vậy hẳn phải có một thứ huyền nghiệm khác cho hành nhân, huyền nghiệm ấy hẳn không sáng lên được như trong chiêm, do đó mà gần như không có nghiệm tri, không được ý thức.

Nếu huyền nghiệm trong chiêm thiên về sáng và tác động đến các khiếu năng tri thức, thì huyền nghiệm trong hành hẳn nghiêng về nóng và xâm chiếm đến cảm tính và ý chí thôi, nên đương sự gần như không thấy chi, mà hành động cũng không hề bị cản trở.

Nếu trong chiêm, ánh sáng mới làm khiếu năng không quen mà thấy tối, thì trong hành, lửa mới do không quen mà cảm tính cũng thấy đơn côi, vắng lạnh. Ðây là lúc Tín-Vọng-Ái thiên phú bắt đầu vào cuộc, sẽ thay chỗ dần cho các đức đắc thủ vốn yếu ớt, khiến từ đây cuộc sống và hành động sẽ do Thần Khí làm chủ hoàn toàn.

Tùy theo độ sâu của tác động đức Ái-Vọng thiên phú mà có những biểu hiện trong đức hạnh khác nhau, chúng nói lên những cấp bậc khác nhau của thánh thiện. Cấp cao nhất sẽ là một với Hôn nhân thiêng liêng, điểm hẹn cho cả Chiêm lẫn Hành.

HOÀN TẤT đầu Tuần Thánh 1995
sau bảy năm làm việc
Hoành Sơn

Nguồn: https://vntaiwan.catholic.org.tw/syquy/thlieng.htm


Thứ Ba, 29 tháng 10, 2024

Thần học thiêng liêng (tiếp theo)

 


Huyền Nghiệm Hành Ðộng
và Tiến Trình Ðức Ái


Linh Mục Hoành Sơn, SJ, Việt Nam
Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

Có một huyền nghiệm hành động

Như chúng ta thấy (ở chương 29), huyền nghiệm mang tới một thanh lọc tận căn, đi đôi với sự nấu sôi đức Ái đến độ chót. Sở dĩ được thế, là vì năng đức thiên phú tiến thẳng vào cuộc sống, thay vì thấm vào từng giọt qua cố gắng tu thân của ta. Nhất là với tự ái và sức nặng thể xác, chỉ có đêm tối mới nạo vét được tới đáy cái Tôi, chỉ có đức Ái Chúa mới nâng cao tới sự nhẹ nhàng của tinh thần. Như thế, xem ra không thể nên thánh nếu không qua mái trường huyền nghiệm.

Thế nhưng một tông đồ, ngày đêm bù đầu với công việc làm sao có nhiều thì giờ và sự rảnh rang để chuyên chiêm, hầu đạt tới ánh sáng chan hòa của huyền thức? Như chúng ta đã thấy (ở chương 29), để tới đỉnh cao là Hôn nhân thiêng liêng, phải trải qua những giai đoạn "tập sự" và thanh luyện kéo dài ở An tĩnh, Hoàn hiệp, Xuất thần, chúng gần như không cho phép làm gì, nói chi đến làm nhiều.

Thế thì phải chăng để nên thánh, cần bớt việc tối đa, hầu có thể cầu nguyện rất dài, rất lâu? Quả thật, rất nhiều thánh mục tử, như cha sở Ars, phải dành cả đêm để cầu nguyện, ngủ thì hầu như không còn, mà ăn chỉ tí ti.

Có điều đâu phải mọi thánh đều huyền tri, hay ít là huyền tri ở mức cao? Lắm vị, dù cầu nhiều đấy, mà chẳng huyền nghiệm chi đáng kể, như trường hợp Vinh Sơn Phaolô, Phan Sinh Xavier, Tiên Sa Lisieux, vv... Nghĩa là người ta vẫn thánh mà không xuất thần chi hết. Vì thánh là ở đức hạnh, nhất là đức Ái, thế mà đức Ái cũng như mọi đức đều phát triển bằng cả hành lẫn chiêm, với một bên nổi bật. Nghĩa là dù chiêm nhân cũng phải phục vụ phần nào, dù hành nhân cũng có lúc phải tâm sự sâu xa với Chúa. Quả thật, con người chỉ đáng người khi có đời sống nội tâm phong phú và đời sống đạo đức sâu xa. Và có như thế, thì hành động của họ mới có một hướng đi thiêng liêng thật.

Thế nhưng, để đức Ái phát huy hết sức mạnh, nó phải vọt thẳng từ trong ra, từ Trời xuống, để thiên phú thay thế dần đắc thủ. Khi thiên phú nhập cuộc để trực tiếp lèo lái cuộc đời anh như thế, thì dù không sáng rõ một huyền thức, cũng phải chắc có một huyền nghiệm nào rồi, và đây là huyền nghiệm hành động, nó nghiêng về sống nghiệm hơn là về nghiệm tri (do đó khó hiển lộ ra).

Vì tính cách lờ mờ, sơ thoảng của thứ huyền nghiệm này, cũng như vì hành nhân thiếu sự rảnh rang để quan sát nội tâm, nên chẳng thấy ai ghi lại sự kiện, cũng như chẳng ai dựa vào để phân tích cả.

Bởi đây là điều cần biết, lại chưa có người khai phá, nên chúng ta đành mò mẫm vậy. Vì phải mò, nên dễ sai, lại không có gì nhiều để nói. Bởi thế, phải xin lỗi bạn đọc trước khi múa dìu...

Cách tiếp cận huyền nghiệm hành động

Ðể tìm hiểu huyền nghiệm hành động vốn chưa có người khai lối, có lẽ tốt nhất nên dựa vào những gì nghiệm chiêm có thể cung cấp, mà bắt đầu là Hôn nhân thiêng liêng nó chẳng những là tột điểm của huyền chiêm, mà tột điểm của huyền hành nữa. Vâng, ở Hôn nhân thiêng liêng, không hề còn khoảng cách, thậm chí phân biệt giữa chiêm với hành. Bởi lẽ ở đây người ta sống và nghiệm Chúa từ trong ra đến ngoài, từ trên xuống đến dưới, từ tri thức sang hành động. Vâng, Hôn nhân thiêng liêng đúng là đỉnh cao và điểm hẹn của cả hai con đường hành và chiêm.

Thấy huyền nghiệm hành động ở chỗ hoàn tất của nó rồi, chúng ta có thể từ đấy, ngược dòng bằng suy tưởng về điểm khởi phát để dựng nên những mốc đánh dấu bước tiến.

Hôn nhân thiêng liêng vừa là điểm cực sáng của tri thức, vừa là điểm cực nóng của tình yêu, mà bước tiếp theo hẳn là vĩnh phúc rồi. Kẻ theo đường chiêm, khi tới Hôn Nhân thiêng liêng, sẽ được thôi thúc hành động cho "Nước Cha mở đến", khi mà hành động ấy không còn ngăn trở anh chiêm hưởng Chúa. Kẻ theo con đường hành, lúc tới Hôn nhân thiêng liêng rồi, cũng chiêm hưởng Chúa bằng chính công việc của mình. Ðúng như các sứ đồ xưa, khi gặp Chúa (hiện ra) cũng là lúc được sai đi dạy dỗ và làm phép Rửa.

"Hỡi chị em, hồn mà Chúa chọn làm nơi ở đặc biệt, hồn ấy không còn biết đến nghỉ ngơi, cũng chẳng màng danh lợi, không thiết được chuộng quý. Hồn luôn cận kề bên Chúa, nên hồn chẳng nghĩ chi đến mình. Mối bận tâm duy nhất của hồn là làm sao để làm vui lòng Chúa, là làm cách nào để biểu lộ tình yêu với Chúa đây. Mục đích cầu nguyện là thế đấy, chị em ạ. Hôn nhân thiêng liêng luôn thúc ta làm hết việc này đến việc khác, và đấy là dấu hiệu ơn Chúa".

Có điều hẳn bạn thắc mắc: Nếu Hôn nhân thiêng liêng là kết quả của nhiều năm tháng nghỉ ngơi trong An tĩnh, Hoàn hiệp và Xuất thần như thế, thì sao có thể đạt tới đấy kẻ trên đường phục vụ luôn phải truân chuyên?

Xin thưa: Như Yoan Thánh Giá cho thấy, huyền nghiệm không những là ánh sáng, mà còn sức nóng nữa. Nếu Tín-Vọng-Ái ở chiêm nhân nghiêng về nghiệm trí, thì nơi hành nhân, chúng ắt nghiêng về nghiệm cảm muốn, do đó các khiếu năng và quan năng chẳng cần ngưng nghỉ, mà chỉ cảm tính vào cuộc thôi. Sự thanh luyện và tăng cường cho đức Ái chỉ nhờ vào độ nóng của đức Ái ấy. Còn ánh sáng của Tri thì thoảng qua đôi lúc cũng đủ.

Nếu trong chiêm, ánh sáng từ trong hừng lên những độ sâu khác nhau, thì cũng ở những độ sâu khác nhau ấy mà đức Ái bốc nóng cho hành nhân cảm nhận. Sự phân cấp huyền nghiệm, trong hành cũng như trong chiêm, tùy vào những độ sâu nói trên. Nếu những độ sâu trong nghiệm tri giúp xác định các giai đoạn An tĩnh, Hoàn hiệp, Xuất thần..., thì trong cảm nhận của hành nhân, ắt cũng có gì vừa tương đương (xét theo độ nóng êm của đức Ái, độ trơn tru của Thuận Thiên), vừa tương phản (như Ðộng đối nghịch Tĩnh) với những hiện tượng ấy.

Trong chiêm, mỗi khi xuất hiện một thứ ánh sáng mới, sẽ có một đêm tối chuẩn bị, thì trong hành, mỗi khi xuất hiện một thứ lửa mới, cũng có những pha chuẩn bị, bằng cảm nhận đơn côi, vắng lạnh, chắc thế, chúng phù hợp hơn với danh xưng "hoang mạc" (désert) mà huyền nghiệm học Ðức dùng thay chữ Ðêm tối trên kia. Vậy, để đối lập với đêm tối của chiêm, ta tạm dùng chữ Ðơn lạnh vậy.

Ðơn lạnh cấp một có thể là cảm giác chán chường và vô vọng trong hành tác, mà không thấy nguyên nhân (tương ứng với Ðêm tối giác cảm). Ðơn lạnh cấp hai sẽ là cảm giác tuyệt vọng, thấy như Chúa bỏ ta và công việc ta làm, trao mặc nó cho ma quỷ. Vâng, Ðơn lạnh trong Hành chắc tập trung vào đức Vọng, trong khi đêm tối tinh thần của chiêm nhân thường tập trung ở đức Tin.

Cũng như Ðêm tối, sự Ðơn lạnh ấy không thể không diễn ra khi đang từ sinh hoạt đức hạnh đắc thủ chuyển sang sinh hoạt đức hạnh thiên phú. Có đơn lạnh, vì khiếu năng hành động chưa quen được với những khách mới tới, do đó có vô cảm, trục trặc hay đất sụt lở dưới chân. Có đơn lạnh khi vét nạo tới đáy để thanh lọc ý chí, tâm hồn, để thuần hóa con ngựa bất kham là các khiếu năng tâm sinh lý cho một cuộc sống và hành động khác trước.

Cốt lõi của nên thánh và hiệu quả của tông vụ nằm ở Thuận Thiên: Thuận Thiên vì yêu. Sự Thuận Thiên phải đổi chiều từ cố gắng của tôi làm theo ý Chúa, sang sáng kiến của Chúa hoạt động thẳng trong ý muốn và hành động của tôi. Sức hút của ý Chúa ấy bắt đầu xâm nhập ý chí tôi, để rồi từ ý chí lan sang các khiếu năng, khuynh hướng và năng lượng tâm sinh mọi mặt, từ thẳm sâu ra tới cuộc sống, làm sao để cuối cùng, không còn một đề kháng dù đức lý hay tâm lý, không còn một ma sát dù ở bề mặt hay bề sâu. Ở điểm hoàn tất này, chúng ta có Hôn nhân thiêng liêng qua ngã đường hành động.

Trong Hành, giống như trong Chiêm, trước huyền nghiệm sẽ trải dài một thời gian chuẩn bị, cả bằng tập đức lẫn sửa thói xấu, nhất là vét rỗng tâm bằng những từ bỏ và thử thách nhiều mặt. Ðây là Ðêm (chủ động) của giai đoạn Khởi và Tiến. Có điều đây là Khởi và Tiến trong hướng tiến về Thành ở huyền nghiệm hành động, chứ không phải ở huyền nghiệm chiêm hưởng.

Cũng như trong Chiêm, kẻ thực sự ở trên tiến trình là kẻ ước muốn nên thánh, tận tâm tận lực vì Nước Trời. Kẻ thực sự có ước muốn mạnh như thế dĩ nhiên là kẻ đang sốt sắng, nên làm việc cũng hăng, mà nguyện cầu cũng hết sức.

Có điều cũng như trong Chiêm, kẻ đang minh minh đức (via illuminativa) thường tàng giấu nhiều tự cao, tự ái, ỷ mình và ưa tích lũy thiêng liêng, nghĩa là coi nên thánh như một cách làm giầu. Thế rồi, trong khi mải mê công việc, họ có thể quên dần mục đích và ý nghĩa siêu nhiên của nó, đến nỗi sinh "ghiền việc", lại muốn gắn nhãn hiệu của mình trên công việc.

Khi ấy, những thử thách Chúa gửi đến, những chống đối và trở lực gặp phải, sẽ giúp họ nhìn ra sự yếu đuối và bất lực của mình. Trong tông vụ, họ chỉ là công cụ và "đầy tớ vô ích" khi mà hiệu quả siêu nhiên chỉ có thể do một nguyên nhân siêu nhiên. Chỉ khi nào họ hết hám danh, vụ lợi và tự ái, chỉ khi nào họ hết nương cậy vào sức mình mà chỉ trông chờ ở Chúa thôi, Chúa mới vào cuộc hoàn toàn, để việc của họ nay trở thành việc của Chúa.

Sự vét rỗng và thuần hóa bằng Ðêm ấy ắt không thể đạt tới căn gốc con người. Ðể đạt tới căn gốc này, phải có sức nóng thiên phú, do đó đêm tối hành động, tức Ðơn lạnh. Thấy đơn côi đấy, mà thật ra có Chúa cận kề. Thấy lạnh lẽo đấy, mà thật ra nóng quá: tại chưa quen sức nóng mới, nên vô cảm.

Ðức Ái thiên phú, cùng với bầu đoàn thê tử các đức thiên phú khác đã nhập cuộc thẳng rồi. Chúng đến thế chân các đức thủ đắc vốn quá yếu để hoàn tất việc tinh chế những "con người của Chúa" (homme de Dieu), nhờ đó chuyển công việc của người thành công việc của Trời. Vâng, huyền nghiệm hành động chẳng qua là hoạt động của các đức thiên phú. Các đức ấy hiển lên nơi con người hành động bằng cái mà thần học kinh viện gọi bằng tên Ðặc Huệ Thánh Thần (dons du Saint-Esprit). Qua đặc huệ và đặc sủng, Thánh Thần nhảy vào dẫn dắt anh trực tiếp, để tự hành động trong công việc của anh nay cũng thành công việc chính hiệu của Ngài.

Các đức thiên phú nói trên, bắt đầu làm câm lặng cảm tính để thanh lọc, tinh chế và thuần hóa nó, cùng với các khuynh hướng kèm theo, cho một phong cách hành động hoàn toàn mới. Việc của hành nhân từ nay không còn là tự ý lèo lái công việc, mà buông mình theo tác động Thần Khí để làm theo và làm với Thần Khí.

(Còn tiếp)
- Trích từ tác phẩm "Thần Học Thiêng Liêng" của Lm. Hoành Sơn - Hoàng Sỹ Quý, SJ.