Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Bộ Kinh thánh được xem như một bộ sách mà nói rằng ghi chép Lời Chúa thì hơi quá, bởi vì Chúa không phải là một ông thầy đến đưa ra một giáo trình để những người được chọn ghi chép lại nguyên văn nhưng Ngài chỉ, không biết dùng chữ gì hơn ngoài chữ nói. Nói, thứ nhất là với một số người được Ngài lựa chọn, đồng thời qua trung gian những người được chọn đó, Ngài nói với toàn thể cộng đoàn dân Chúa. Thật ra không nói là văn của Chúa, mà nói là lời, lời là lời nói, một lời nói sống động; mà đã là một lời sống động thì bao giờ cũng là một tương quan liên ngã vị, trước là tương quan với Thiên Chúa, với những cá nhân được chọn, đến những người truyền đạt lời Chúa, sau nữa là đến cộng đoàn; tuy nhiên dù cộng đoàn đi nữa thì cũng là những ngã vị kết hợp lại thành một, tiếng Pháp gọi là "personne morale", một ngã vị tinh thần.

Thế thì, tương quan sống động bao giờ cũng có một cái ý nghĩa riêng tư nào đó giữa đôi bên mà đệ tam nhân, chẳng những không thể hiểu được, mà đôi khi còn rất dễ hiểu lầm. Tôi xin lấy một thí dụ có hơi ví von một tí: có lúc người ta yêu nhau đến mức, thay vì nói "yêu”, thì lại nói là "ghét”; chẳng hạn, một cặp vợ chồng yêu nhau đến mức người chồng nói với người vợ: "Anh ghét em quá đi thôi!”, chẳng may có một đứa cháu nghe được câu nói đó liền vội đi thuật lại cho bà ngoại. Nghe vậy, bà ngoại hết sức lo lắng vì nghĩ rằng con gái mình và chàng rể đang lủng củng với nhau, vì chính miệng chàng rể nói “Anh ghét em quá!" kia mà.

Thế nhưng thực ra đứa cháu chỉ nghe được một câu và không hiểu chữ "ghét" đó là chỉ mức độ cao nhất của tình yêu. Chính vì vậy, lời Chúa là một lời sống động do các tác giả ghi chép lại, nhưng chẳng qua các tác giả đó đã vận dụng những phạm trù, những ngôn từ, những bút pháp của riêng mình, của nền văn hóa, của thời đại mình đang sống, để diễn tả một kinh nghiệm tương giao liên ngã vị nào đó với Thiên Chúa mà có thể nói là "bất khả ngôn".

Do vậy, khi nói rằng Kinh thánh được linh hứng, thì không phải hiểu một cách đơn giản rằng Thánh Thần đọc từng chữ cho người viết biên chép lại, nhưng Thánh Thần ngỏ với tâm linh con người ấy, qua một kinh nghiệm nào đó được con người ấy mở lòng ra đón nhận bằng một niềm tín phó thác đáp ứng, chẳng những trong tư tưởng, trong tình cảm mà còn cả trong hành động nữa. Hành động đầu tiên của người ấy là nỗ lực tìm những phạm trù, tìm những ngôn từ, vận dụng những bút pháp để diễn tả ra, hòng thi hành cái mệnh lệnh của Thiên Chúa, là làm phát ngôn nhân của Ngài.

Do đó, nói rằng Kinh thánh không thể sai lầm là phải hiểu một cách sâu xa rằng, điều mà Thiên Chúa đã truyền đạt qua một kinh nghiệm linh hứng nào đó bất khả ngôn, thì mới là không sai lầm. Và muốn hiểu cho được điều đó thì phải chọc thủng cái vỏ phạm trù, cái vỏ ngôn từ, cái vỏ bút pháp bao giờ cũng phụ thuộc vào từng cá nhân, văn hóa, thời đại, từng thể văn chứ không nên hiểu một cách máy móc.

Ví dụ, trong việc mô tả sự sáng thế, có một tiến trình tạo dựng trời đất do Thiên Chúa thực hiện qua bảy ngày, đó chẳng qua là tác giả dùng những cái khuôn khổ thông thường thời bấy giờ, vay mượn một số vũ trụ quan, nhân sinh quan nào đó của nền văn hóa đương thời để diễn tả ra cái kinh nghiệm độc đáo từ tận trong tâm linh của mình về công trình sáng tạo từ hư vô bởi Thiên Chúa, chứ không phải Thiên Chúa đọc cho người viết rằng quả thật là đã tạo dựng trong vòng bảy ngày.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh (tiếp theo)

Vì vậy, Do Thái giáo, cũng như Kitô giáo, có một sự sùng kính đặc biệt đối với Kinh thánh, và nhất là trong các hệ Tin Lành lại càng dành cho Kinh thánh một vị trí đặc biệt, để các tín hữu ngày đêm đọc đi đọc lại, suy ngẫm đến mức có thể nhuần nhuyễn trong trí óc, trong cảm tính những điều được chứa đựng trong bộ Kinh thánh.

Các Kitô hữu thuộc những hệ phái Tin Lành quan niệm rằng, qua những lời được ghi chép trong bộ Kinh thánh, mỗi một tín hữu cảm thấy dường như chính cá nhân họ giao tiếp trực tiếp với chính Thiên Chúa và nghe trong lòng mình chính lời dạy bảo của Thiên Chúa, đem lại ánh sáng soi rọi cho cuộc đời của họ. Giáo hội Công giáo thì có quan niệm khác hơn, vì cho rằng Kinh thánh tự bản chất không có giá trị độc lập, nhưng phải được đặt vào giữa lòng cộng đoàn, cộng đoàn có tổ chức, có tôn ti thứ bậc, có những người được Chúa chọn, được giao trách nhiệm và được ơn riêng để hiểu và giải thích Kinh thánh đúng theo tinh thần chính thống, chứ không thể để cho bất cứ ai muốn giải thích sao cũng được, nếu không thì có thể sẽ có những cách hiểu lệch lạc rồi đi đến chỗ càng ngày càng xa với truyền thống chính truyền của những người đã ghi chép lại tất cả những gì được gọi là lời Chúa.

Trong khuôn khổ cuộc trao đổi giữa chúng ta đây, tôi không có đủ điều kiện để trình bày cặn kẽ chi tiết những cách cấu tạo của một bộ sách là nguồn mạch cả một nền văn hóa lớn đưa đến Do Thái giáo, các hệ Kitô giáo và của cả Hồi giáo, chi phối đến cả tỉ người, qua hơn hai mươi thế kỷ này. Xa hơn nữa, nếu kể cả đời Đạo Cũ, tức là đời Cựu ước thì đã ngót nghét bốn nghìn năm nay. Tôi chỉ nói sơ qua đó là một bộ sách có thể nói là vô cùng phong phú, được khởi viết vào khoảng năm hoặc sáu thế kỷ trước Công nguyên, trong đó những cuốn đầu được gán cho một tác giả có tính cách tượng trưng là Môsê, vị lập quốc Do Thái, và kết thúc là một cuốn sách được cho là của thánh Gioan, vào khoảng hơn một thế kỷ sau Công nguyên. Như vậy, Kinh thánh là một bộ sách được viết qua cả ngàn năm, gồm đủ loại, đủ hạng các tác giả, và được chia ra làm hai phần chính: Từ phần khởi đầu cho đến khi Đức Giêsu ra đời được gọi là Cựu Ước, và chỉ có phần này là phần được Do Thái giáo công nhận. Phần còn lại được gọi là Tân ước, được tính từ bốn tập tiểu sử của Đức Giêsu Kitô, với một tập kể lại cuộc sống của cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi, gọi là Công vụ tông đồ, tiếp theo là một số Thư của các thánh Tông đồ Phaolô, Phêrô, Gioan, Giacôbê, Giuđa gửi cho các cộng đoàn tín hữu, vừa dạy bảo vừa khuyên răn, và sau hết là sách Khải Huyền mang một tính cách mầu nhiệm, hầu như là một dự phóng về tương lai và ngày Cánh chung.

Từ bốn cuốn tiểu sử của Đức Giêsu Kitô cho đến sách Khải Huyền được gọi là Tân ước. Bộ Tân ước chỉ có các hệ Kitô giáo nhìn nhận là Sách Thánh mà thôi. Giữa Công giáo với các hệ Tin Lành còn có một vài chi tiết khác biệt không mấy quan trọng, và bây giờ thì hầu như hai bên đều tìm cách xích lại gần nhau để đi đến một chỗ nhất trí nào đó. Chúng ta sẽ không nói đến những chi tiết khác biệt không đáng kể ấy mà chỉ tìm hiểu cái tinh thần căn bản của bộ Kinh thánh.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Kinh thánh

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

6. Bộ Kinh thánh

Bây giờ tôi xin trở lại một vấn đề đã chạm đến ngay từ đầu mà chắc các anh chị cũng cho là quan trọng, đó là vấn đề về bộ Kinh thánh. Trong phần nói về thần hiệp Kitô giáo, tôi có nhắc đến hai môn đệ trong một buổi chiều đi về làng Emmaus. Tôi xin quảng diễn sự kiện ấy như sau: Sau ngày Chúa Giêsu chịu tử nạn, các môn đệ tan tác mỗi người một ngã, thì chiều hôm ấy, hẳn là một buổi chiều Chúa nhật, có hai môn đệ thất vọng, bỏ thành Giêrusalem mà trở về Emmaus, có thể là một làng quê, dường như trở về để sống lại cuộc đời như trước khi đi theo chân Thầy.

Đang lúc hai ông đi đường thì xuất hiện một khách bộ hành cùng đi. Nhìn thấy hai ông có vẻ phiền não u uất, người khách liền hỏi chuyện. Hai môn đệ đã kể chuyện Giêsu Nazareth là một vị Ngôn sứ lớn đem lại cho các môn đệ của Ngài và quần chúng niềm hy vọng có một ngày được giải phóng khỏi ách đô hộ của đế quốc Rôma; thế nhưng cuối cùng vị Ngôn sứ lớn ấy đã thất bại thảm hại, chết nhục nhã trên cây thập giá, vì thế mà bây giờ các môn đệ đường ai nấy đi, trở về quê cũ làm ăn.

Thế là người khách bộ hành ấy bèn trích dẫn những đoạn Kinh thánh Cựu ước và giải thích cho hai môn đệ ấy về mầu nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh; nhưng hai môn đệ vẫn chưa biết người khách bộ hành ấy là ai, và khi đi ngang qua làng Emmaus thì trời sắp sập tối, hai ông liền mời vị khách cùng vào quán trọ. Lát sau, khi ngồi vào bàn ăn, vị khách bộ hành cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng rồi bẻ ra, bấy giờ hai môn đệ mới nhận ra đó chính là Đức Giêsu Kitô đã sống lại và tỏ mình ra, nhưng ngay lúc đó Ngài liền biến mất. Thê là hai môn đệ tốc tả quay trở lại thành Giêrusalem. Trên đường trở lại ấy, hai ông thầm nhủ, ừ nhỉ, đó chính là Ngài mà chúng ta không biết, khi nghe Ngài giải thích Kinh thánh trong lúc đi đường, chẳng phải chúng ta cảm thấy lòng bừng cháy lên một ngọn lửa phấn khởi, tin tưởng đó sao?

Câu chuyện này đã được họa sĩ Rembrandt vẽ lại thành một kiệt tác hôi họa lừng danh, trong đó thể hiện, tại ngôi quán trọ tại làng Emmau, Chúa Giêsu ngồi ở giữa, trong một vùng sáng, cầm lấy bánh, hai môn đệ ngồi hai bên trong chỗ tranh tối tranh sáng, gợi lên cho thấy sự hiện diện của Đức Gỉêsu như là ánh sáng, đem lại Bánh Sự Sống cho những con người còn ở trong bóng tối để họ lần bước về ánh sáng.
Câu chuyện này có nội dung giúp chúng ta lưu ý đến Bí tích Thánh Thế, như tôi đã trình bày ở trước, song hành với việc đọc, nghe, hiểu và sống Kinh thánh, mà người Do Thái giáo, cũng như người Kitô giáo đều tin rằng đó là bộ sách có thể nói là ghi chép lại lời Chúa, tức là người Do Thái giáo và người Kitô giáo xác tín rằng Chúa có nói, nói với loài người và lời Chúa nói được những người nghe ghi chép lại, để lưu truyền cho hậu thế. Họ coi bộ Kinh thánh như là khuôn vàng thước ngọc mang lại những quy tắc dẫn dắt đời sống cá nhân cũng như đời sống cộng đoàn cho hợp với thánh ý Chúa, và cũng là nơi chứa đựng những chân lý có giá trị tuyệt đối vĩnh cửu, giải đáp hầu như toàn bộ mọi vấn đề về vũ trụ và nhân sinh.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Hầu bàn

 


"Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? 
Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ." Lc 22, 27.

HẦU BÀN

Con ăn, Chúa đứng hầu bàn.
Tình đời ai lại trái ngang lạ thường!
Chỉ vì một lẽ yêu thương.


Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh (tiếp theo)

Mọi vinh quang không chỉ dừng lại nơi những con người được tôn phong lên hàng hiển thánh, nhưng tất cả đều quy về Thiên Chúa, mọi sự chỉ nhằm vinh danh Thiên Chúa. Hướng về đỉnh cao thánh thiện, theo quan niệm của Kitô giáo, không phải là gồng mình như một vận động viên cử tạ nhưng, trái lại, mở rộng lòng mình trong sự khiêm tốn thẳm sâu để đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, có một dạng như là ban cho một cách nhưng không. Chính Thiên Chúa đã dùng các Ngôn sứ và Đức Giêsu Kitô dùng các thánh Tông đô để nói rằng: "Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì” (Is 55,1-3). Chữ "nhưng không", tiếng Pháp là "gratuité", nghĩa là "cho không". Thái độ cơ bản là ý thức được sự hư không của mình, sự hèn kém của mình, nhưng vẫn một lòng tin tưởng, cậy trông và yêu mến, đón nhận ơn Cứu độ, ơn Thánh hóa để muôn đời dâng lên một lời cảm tạ không ngừng mà thôi. Rồi đến cái ngày mà thời gian được cuốn lại, vũ trụ này đi vào Cánh chung, thì sự thánh thiện đó không của riêng ai, mà là chung cho hết thảy mọi người, đều thông dự vào một sự thánh thiện duy nhất, trong một tình yêu duy nhất, trong một hạnh phúc duy nhất trong lòng Thiên Chúa Ba Ngôi, mà ánh sáng thánh thiện, cuối cùng cũng chỉ phát tích từ Đức Giêsu Kitô, giống như hình ảnh trong sách Khải Huyền đã mô tả. Thành Thánh Giêrusalem, tức là Nước Thiên Đàng mai sau, không có ánh đèn, nhưng chính Con Chiên Thiên Chúa tỏa sáng khắp cả Thành Thánh Giêrusalem được mô tả như là một Đền Thánh được xây dựng bằng những viên ngọc toàn bích...

Sự thánh thiện như thế có thể ví như một nguồn sống duy nhất lưu thông trong toàn bộ thân thể Đức Giêsu Kitô mà bất cứ tế bào nào cũng được thấm nhuần, trong cái mà thuật ngữ chuyên môn thần học gọi là "Các thánh thông công", hay "sự hiệp thông giữa các thánh hữu"; cũng như trong một gia đình, không phải ai cũng lao động đổ mồ hôi sôi nước mắt làm ra tiền bạc của cải, nhưng cuối cùng gia sản là gia sản chung, bàn tiệc là bàn tiệc chung, thức ăn, thức uống, cao lương mỹ vị đều là của chung, không ai hơn ai, không ai kém ai.

Trong cuốn sách "Gương Phước, Imitation de Jésus Christ", có một chương hơi phê bình mỉa mai cách suy nghĩ tầm thường của con người trong chuyện bàn luận thánh nào lớn, thánh nào nhỏ, và nói rằng: "Đối với Thiên Chúa, không có thánh lớn thánh nhỏ, bởi vì cuối cùng chỉ có một sự thánh thiện duy nhất là sự thánh thiện của Thiên Chúa trao ban cho bất cứ con người nào, qua trung gian Đức Giêsu Kitô và của Đức Bà Maria”. Có thể nói việc phong thánh, một phần nào chẳng qua một cách nhắc nhớ lại ơn Thiên triệu của bất cứ ai, cũng đều được mời gọi đi vào tiệc cưới Con Chiên, hưởng phần gia nghiệp chung cho hết thảy mọi người, không ai hơn không ai kém, tất cả đều được no thỏa tràn trề.

Việc phong thánh, chẳng qua chì là nói lên cái phẩm giá linh thánh của bất cứ con người nào, mà những vị hiển thánh là những người đã đi trước, để cho mọi người chẳng những noi theo, mà còn một lòng tin tưởng rằng những người ấy đã nên thánh được, thì tôi cũng có thể nên thánh. Bởi vì việc nên thánh không phải chỉ dành riêng cho những người, mà dưới cái nhìn của nhân loại là thánh nhân, là trượng phu, quân tử, nhưng là dành cho hết thảy mọi người, bất luận đó là kẻ đã từng giết người cướp của, đã từng giang hồ đĩ điếm.

Muốn hiểu rõ việc phong hiển thánh, việc tôn kính các Thánh, cần phải nhớ lại lời Đức Giêsu đã ném vào mặt bọn giả hình: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông" (Mt 21,31).

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh (tiếp theo)

Vì thế, việc tôn sùng các Thánh, vừa là nêu lên những gương mẫu, nhưng cũng chính là vừa ngợi khen kỳ công của Thiên Chúa đã nâng những con người hèn yếu tội lỗi lên đến đỉnh cao, để như một lời kêu gọi hứa hẹn cho mọi người thấy rằng những con người ấy cũng chỉ là những thụ tạo mỏng giòn, cũng có thể ngu tối như bất cứ ai, nhưng được nâng cao như vậy thì ai cũng hy vọng mình có thể được như thế.
Do đó, các Thánh của Kitô giáo, như tôi đã nói ở trên, như là những tia sáng phát xuất từ cùng một Mặt Trời là chính Đức Giêsu Kitô. Việc tôn kính các Thánh và tôn kính Đức Maria, thực ra cũng chỉ là tôn kính Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, bởi vì các Thánh, một mặt thì có dạng cá nhân, ngã vị duy nhất, độc đáo, nhưng mặt khác, có dạng chẳng qua chỉ là một chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô...

Quả thật, thuở ban đầu, chính Phaolô cũng gọi các tín hữu là các thánh. Các thánh ở đây không phải là đã đạt được lý tưởng theo quan niệm thánh hiền, chẳng hạn như trong Khổng giáo, trong các triết thuyết của Hy Lạp mà một số người đã thực hiện được, ví dụ như Epictète [Epictète là một triết gia theo chủ nghĩa Khắc kỷ Hy Lạp. ông sinh ra như là một nô lệ tại Hierapolis, Phrygia và sống ở Rome cho đến khi bị trục xuất, và đến sống tại Nicopolis ở phía tây bắc Hy Lạp cho đến hết đời. Những lời dạy của ông đã được học trò Arrian chép ra và xuất bản trong các tác phẩm Discourses và Enchiridion của ông. (Wikipedia)], Marc Aurèle, như Thất Thập Nhị Hiền của Khổng giáo, nhưng chỉ là con người, dù đã lỡ lầm sa đọa đến đâu, trong một giây phút nào đó được ánh sáng hoàn hảo, từ Mặt Trời công chính là Đức Giêsu Kitô, rọi vào.

Nói một cách cụ thể, chẳng hạn chiếu chỉ vua thì được gọi là "thánh chỉ", không phải do bản chất tấm lụa hoặc tấm giấy viết chiếu chỉ là quý nhưng, cho dẫu chiếu chỉ được viết trên một tấm giấy bổi tầm thường, mà một khi đã được triện son của đấng quân vương đóng vào thì cũng trở thành "thánh chỉ". Người Kitô hữu quỳ gối trước bất kỳ ảnh tượng của một vị thánh nào, thì cũng như ngày xưa thần dân quỳ gối trước thánh chỉ, tôn kính không phải tấm lụa hoặc tấm giấy đôi khi rất là tầm thường, nhưng là tôn kính chính dấu ngọc tỉ đã được in lên trên đó. Xét về một phương diện nào, bất cứ ai biết mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Cứu độ, thì khác nào một tờ giấy, dù tầm thường đến đâu, biết trải rộng ra để Đấng Toàn năng in dấu ấn của Ngài vào, và thế là trở thành "Thánh chỉ".

Vì vậy, gần đây có một người phụ nữ rất tầm thường, rất hèn yếu, như là mẫu mực của đức khiêm tốn, vẫn cả dám nói là mình nhất định trở thành một vị thánh lớn; thoạt mới nghe qua, có vẻ như người đó quá tự kiêu, nhưng "thánh lớn", theo quan niệm Kitô giáo, không phải là hoàn toàn do công trạng của mình mà trở nên thánh nhân, trượng phu, quân tử, anh hùng, nhưng chỉ là khiêm tốn biết rằng mình hoàn toàn được Thiên Chúa yêu thương cứu độ và mình mở rộng lòng đón nhận ơn cao trọng đó: vì vậy. sự thánh thiện mà người nữ yến hèn ấy, tức là Têrêsa Hài đồng Giêsu, muốn vươn lên và tin tưởng mình sẽ thực hiện được, chẳng qua chỉ là sự thánh thiện của chính Thiên Chúa và con người được mời gọi thông dự vào mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Sự tôn kính các thánh



ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

5. Sự tôn kính các Thánh

Và bây giờ, tôi xin trình bày một điểm khác: đó là việc tôn kính các Thánh trong đời sống tôn giáo của Kitô giáo, nhất là của Công giáo. Bất cứ con người nào cũng được mời gọi thông dự hai chiều và gần như đồng hóa với chính Đức Giêsu Kitô, như thánh Phaolô đã nói: "Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, nhưng Đức Kitô sống trong tôi", và cũng chính vị Tông đồ dân ngoại cũng đã nói: "Anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Thánh Thấn Thiên Chúa ngự trong anh em" (lCr 3,9b-11.16-17), hoặc là như Đức Chúa Giêsu đã hứa hẹn, “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy" (Ga 14,23-29).

Một Kitô hữu đón nhận Tin vui. chịu các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể để kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, thi có một phần nào trở thành như Thiên Chúa, thể hiện một cách hoàn hảo hình ảnh Thiên Chúa trong chính bản thân mình, mà đã là hình ảnh của Thiên Chúa, thì đương nhiên việc tôn kính các hình ảnh của Thiên Chúa là hợp tình hợp lý.

Những mẫu người mà cộng đoàn Kitô giáo, cách riêng là Công giáo nhìn nhận như là đã được thông dự, đồng hóa cách nào đó với chính Đức Giêsu Kitô, trở nên đối tượng của việc tôn kính, tất nhiên là không phải là tôn thờ, "adoration" - sự tôn thờ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa. Những mẫu người đó, trước hết là những gương mẫu mà Giáo hội nêu lên để các tín hữu bắt chước noi theo, đồng thời còn là một khích lệ, bởi vì dù có thánh đến đâu thì cũng chỉ là thân phận con người, lúc nào cũng phải phấn đấu với bản thân, phải dứt bỏ khỏi những quyến rũ và có nhiều khi phải ngoi lên khỏi những sa ngã trầm trọng... để qua đó cho bất cứ ai cũng đừng tuyệt vọng, miễn là chưa trút hơi thở cuối cùng, chỉ cần quay đầu lại trong chốc lát thì có khả năng đạt được chính cái cứu cánh của mình.

Vả chăng, như thánh Phaolô, một vị thánh có thể nói là lớn nhất trong Kitô giáo, đã than thở rằng: "Thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi... Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này" (x. 2Cr. 12,7...). Thánh nhân quả quyết: "Thiên Chúa không để anh em bị thử thách quá sức" (x. lCr 10.13); và đồng thời cũng than thở: “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm. Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?" Và ngài tự trả lời: "Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!” (Rm 7, 15-16… 24). Những vị mà cộng đoàn Ki tô giáo, nhất là Công giáo, tôn lên bậc hiển thánh, chẳng qua chỉ là những con người được cứu rỗi mà thôi, chứ chính bản thân các ngài luôn luôn ý thức mình là kẻ tội lỗi, luôn luôn cảnh giác phấn đấu, ý thức rằng, dù lên cao đến đâu cũng vẫn có thê sa ngã, và có những người đã sa ngã.

Tôi xin kể lại một câu chuyện, đó là thánh Đômincô, một trong những vị thánh lớn của Công giáo. Một lần, đang lúc đêm tối, thánh nhân với một môn đệ của mình trú lại trong một căn lều chật hẹp. Người môn đệ vô ý khạc nhổ văng trúng mặt ngài và liền hoảng hốt xin ngài tha lỗi. Thánh nhân đã trả lời: “Không sao đâu con, con làm đúng rồi đó! Trong vũ trụ này, chỉ có mặt cha là đáng để bị khạc nhổ vào”; nghĩa là những vị thánh của Kitô giáo là những con người càng lên cao bao nhiêu càng ý thức được thân phận hèn kém tội lỗi của mình bấy nhiêu, vì thế cho nên, nhân đức yêu mến đã đành, nhưng luôn có kèm theo nhân đức khiêm nhượng trong lòng, tự xem mình như là kẻ rốt cùng của nhân loại, chẳng qua được Thiên Chúa ban ơn Cứu độ và biết mở rộng lòng đón nhận ơn Cứu độ ấy mà thôi.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria (tiếp theo)

Thân thế và sự nghiệp Đức Maria được thâu gồm lại trong tổng hợp mà người Công giáo gọi là Mười Lăm Mầu Nhiệm được thể hiện qua việc lần hạt Mân Côi, là chuỗi hạt mà các anh chị thường thấy người Công giáo cầm trên tay hoặc đeo vào cổ, gồm có năm chục hạt, để vừa lần hạt, đọc lời kinh muôn thuở là kinh Kính Mừng, vừa nhắc lại, suy niệm thân thế sự nghiệp của Mẹ, khởi đầu là Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Vui, tức là cái vui mừng của Mẹ được làm Mẹ Thiên Chúa, sinh ra Hài nhi ở trong máng cỏ, sống ba mươi năm trong khung cảnh gia đình ấm cúng của chàng phó mộc Giêsu; [Thời điểm năm 1988, chưa có thêm Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Sáng, do đó, diễn giả không nhắc đến] tiếp đến là Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Thương, tức là khốn khó, diễn lại cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô mà hình ảnh cuối cùng là Đức Mẹ Sầu Bi đứng kề bên Thánh giá, nhìn người con yêu dấu của Mẹ trút hơi thở cuối cùng; kế đến nữa là Năm Mầu Nhiệm gọi là Năm Sự Mừng, tức là suy ngẫm biến cố Đức Giêsu sống lại, lên trời, cuộc giáng lâm của Thánh Linh khai sinh Giáo hội, rồi chính Đức Maria được "hồn xác lên trời” và được tôn vinh như là Nữ vương của trời đất. Như vậy, thân thế và sự nghiệp của Đức Maria được diễn tả qua việc lần hạt Mân Côi bằng tràng hạt trong tay các tín hữu Công giáo, từ những người bình dân như người già và em bé, kể cả ở những nơi xa xôi hẻo lánh, cho đến trong tay thi hào, văn hào Charles Péguy cũng như trong tay nhà bác học Teilhard de Chardin, hay là trong tay các nữ tu trọn đời phục vụ những người mắc chứng nan y, trong tay một vị Giáo hoàng là Đức Gioan XXIII vừa được thế giới trao tặng giải Nobel Hòa bình... Thân thế và sự nghiệp của Đức Maria trong chuỗi hạt Mân Côi được trình diễn như một sự đồng hành, như một sự kết hợp nhuần nhuyễn với thân thế và sự nghiệp của Đức Giêsu Kitô, và trong Đức Giêsu Kitô, thân thế và sự nghiệp của bất cứ con người nào, cũng được sinh ra trong một gia đình, cũng nếm những chua cay của cuộc đời, nhưng nếu biết sống xứng đáng với ơn Thiên triệu của mình, thì cũng được mời gọi đi đến cùng đích là muôn đời vinh hiển, chẳng những bất tử mà thể xác còn được sống lại vinh quang trong mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Đến đây tôi cũng muốn gửi gắm đôi lời với anh em bên các hệ Tin Lành, đành rằng trong sự tôn kính Đức Maria, Giáo hội Công giáo có đôi khi cũng tỏ ra hơi quá khích, bởi vì các tước hiệu như "Đức Mẹ Chúa trời, Nữ Vương trời đất" biến Mẹ thành như một vị nữ thần, ngang hàng và đôi khi có vẻ như tiếm vị của Thiên Chúa; nhưng sự thực thì, bên cạnh những tước hiệu huy hoàng ấy, còn có những tước hiệu nói rõ lên thân phận làm người của Mẹ, cụ thể như Ngài là "nữ tì của Thiên Chúa", là "Đức Me Sầu Bi". Cũng chính Mẹ, trong bài Magnificat, một mặt thì Mẹ nói rằng: "Muôn đời sẽ khen tôi có phúc/cho tôi là hiếm họa lạ lùng"; nhưng sở dĩ được như vậy bởi vì Mẹ nói rằng, “Vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi, đã đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn". Và những phẩm tước cao sang không phải chỉ để dành riêng cho Mẹ, nhưng còn mở rộng, đón mời bất cứ ai thuận tình với ơn Cứu độ của Thiên Chúa từ ái, nghĩa là có một sự thông dự và đồng hóa nào đó với Mẹ, và qua Mẹ, noi theo gương Mẹ thông dự và đồng hóa với chính Đức Giêsu Kitô, là một con người đã được nâng cao lên một Ngôi VỊ Thiên Chúa.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria (tiếp theo)

Một nhà thần học chuyên về Đức Maria có nói bằng tiếng Latinh: “De Maria nunquam satis est! - Nói về Mẹ Maria không bao giờ đủ!" Một vài nét thô sơ của tôi trên đây, chẳng qua chỉ là gợi lên đế các anh chị tiếp cận với Đấng mà người Kitô hữu Việt Nam gọi là Đức Mẹ Maria, và như người Pháp gọi là, "La Très Sainte Vierge Marie, Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria", các anh chị có thể tìm hiểu sâu hơn qua những tác phẩm văn chương, điêu khắc, hội họa mà ở Việt Nam chúng ta, tiêu biểu là bức tranh "Mẹ bồng con" của họa sĩ Lê Văn Đệ, đã được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Vatican và qua bài thơ lừng danh của thi sĩ Hàn Mạc Tử, "Thánh nữ Đồng trinh Maria" hay "Ave Maria".

Có người nói rằng Đức Maria là biểu tượng của lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa, một phần nào tương tự như Đức Phật Bà Quan Âm; nhưng Đức Phật Bà Quan Âm chẳng qua chỉ là một trong muôn vàn hóa thân của một vị bồ tát, tùy theo căn cơ của chúng sinh. Trái lại, Đức Maria là một con người thật, một phụ nữ như hàng triệu phụ nữ khác, sống cuộc đời tầm thường của một con người với những hệ lụy của nữ giới, sinh hạ Đấng Cứu thế cũng là một con người thật một trăm phần trăm, chứ không phải là hóa thân của một vị nữ thần hay bồ tát nào.

Vì vậy, đứng về một phương diện nào đó, bất cứ người phụ nữ nào, sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù là ngôi mẫu nghi thiên hạ hay là một gái giang hồ, một người mẹ, một người vợ, một nữ tu, một nữ anh hùng liệt sĩ, hoặc nữa là một người hết sức bình thường, thảy đều tìm thấy nơi Đức Maria cái dáng dấp của chính mình, và có thể có một sự đồng hóa, thông dự hai chiều nào đó giữa chính đời sống của Đức Maria, với đời sống của bản thân hay của bất cứ ai, bất cứ con người nào cũng có sự thông dự với chính Đức Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người; được sinh hạ bởi một người nữ đã hứa hôn với một người nam là Giuse. Người nữ ấy chính là Đức Maria, một thôn nữ ở làng quê Nazareth hẻo lánh, trên đất Do Thái, cách đây hai nghìn năm; và ngày nay Mẹ đã "hồn xác lên trời”, thông dự vào sự vinh hiển của chính Thiên Chúa, là cứu cánh của bất cứ thụ tạo nào.

Ngày xưa, trong Vườn Địa đàng có một người nam và một người nữ, là Adam và Eva, thì hiện nay trên Thiên đàng cũng đang có một người nam và một người nữ đã đạt được cứu cánh của mình, đó là Giêsu Nazareth và Maria Nazareth. Đây cũng có thể được xem như là mẫu mực để ta noi theo, và hơn nữa để ta đồng hóa với một lòng tin tưởng vững bền ta cũng sẽ đạt được như hai Đấng ấy, trong một sự thông dự hai chiều. Trong một số gia đình Công giáo các anh chị có thể thấy hai bức ảnh có trái tim: một vẽ trái tim Chúa Giêsu Kitô đã bị lưỡi giáo đâm thấu, chảy máu ra để chứng tỏ tình yêu đối với Đức Chúa Cha, đối với mỗi một linh hồn, đối với cả và nhân loại, đối với toàn thể vũ trụ; và một vẽ Đức Maria đang chỉ tay vào trái tim mình, dù không bị một lưỡi giáo nào đâm thấu nhưng, khi đứng bên chân Thánh giá, ngước mắt lên nhìn chính trái tim của Con mình bị đâm thủng, trái tim Mẹ cũng tan nát khác nào bị một lưỡi gươm xé nát, đúng như lời vị bô lão Siméon đã tiên báo trong lúc ẵm trên tay mình Hài nhi Giêsu được tiến dâng vào Đền Thánh, theo nghi thức phụng vụ của Do Thái giáo.

Cuối cùng, hai trái tim đó thâu gồm nội dung đức tin cùa Kitô giáo. Thể hiện đỉnh cao của thần hiệp Kitô giáo, tức là kính mến Thiên Chúa và thương yêu nhân loại tới mức đổ hết máu mình ra cho đến giọt cuối cùng vì đối tượng của tình yêu.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2026

Để Hiểu Đạo Chúa Hơn - Hiệp nhất với Thiên Chúa - Đức Maria (tiếp theo)

 


ĐỂ HIỂU ĐẠO CHÚA HƠN

+ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA

4. Đức Maria (tiếp theo)

Có thể nói rằng, nơi Đức Giêsu Kitô, trời cao hạ xuống đất thấp, mà nơi Đức Maria là nhân loại từ dưới đáy vực sâu vươn lên đến đỉnh cao nhất, và trong cung lòng của Mẹ là nơi trời đất gặp gỡ nhau, kết tụ lại thành một con người là Giêsu Nazareth. Mẹ là lý tưởng về một sự cộng tác mật thiết, một sự thuận tình hoàn toàn tự do của nhân loại trước lời mời gọi của Thiên Chúa, để chương trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa được bắt đầu thực hiện, hay nói cách khác, được khai mạc. Hình ảnh Mẹ đứng bên chân Thánh giá cũng là tiêu biểu cho nhân loại biết dâng sự đau khổ của mình, kết hợp làm một với sự đau khổ của Đức Giêsu Kitô để biến đau khổ thành nguồn mạch cứu độ và đem lại phúc lạc muôn đời.

Sau hết, với tín điều "hồn xác lên trời”, vì Đức Maria là một con người, một thụ tạo trăm phần trăm, chứ không như Đức Giêsu Kitô là Ngôi Thiên Chúa, thì Đức Maria là hoa quả đầu mùa của ơn cứu độ, là một thụ tạo hoàn toàn đã được đi vào vinh hiển cả phần linh hồn, cả phần thể xác, như là một bảo chứng để cho mỗi một người trong toàn thể nhân loại, và kéo theo cả vũ trụ, vững tin vào cứu cánh của mình là đi vào vinh hiển của Thiên Chúa Cha, miễn là biết mở rộng tâm hồn ra để đi vào mà thôi.

Đức Maria còn là hình ảnh lý tưởng của thụ tạo khi đã đạt được chính cái cứu cánh của mình, theo đúng như ý định sáng tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa tình yêu. Do đó, lòng sùng kính của các Kitô hữu, và nhất là của tín hữu Công giáo, đối với Mẹ Maria, đã đem lại những ảnh hưởng, những hệ quả về tất cả mọi bình diện tư tưởng, nghệ thuật, tình cảm và có thể nói cả trong cơ chế xã hội, quả là không thể nào kể xiết.

Tôi chỉ nêu lên hai vấn đề: Thứ nhất là vấn đề người nữ, nếu chúng ta mở những trang đầu của Kinh thánh, thì thấy người nữ có một dạng là "lưỡng giá", tiếng Pháp là "ambivalente". Khi Thiên Chúa tạo dựng nên người nữ, người nam Adam đã đón nhận với một niềm hân hoan vui mừng khôn tả mà reo lên: “Đây chính ìà xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi’', và người nữ là cộng tác viên của người nam để thực hiện chính cuộc đời của mình; nhưng một mặt khác thì, qua câu chuyện Adam, vì lời rủ rê của người nữ mà ăn phải "trái cấm”, do đó, có một quan niệm cho rằng người nữ như là cơn cám dỗ muôn đời có thể làm cho người nam suy sụp; nhưng mà đúng là vậy thật, tiểu sử của biết bao cá nhân trong lịch sử của nhân loại cũng cho chúng ta thấy ảnh hưởng, đôi khi khủng khiếp, của những người phụ nữ như Bao Tự, Đát Kỷ, Dương Quý Phi, v.v... Nhưng đồng thời người nữ cũng là người sinh ra những bậc anh hùng hào kiệt: Mạnh mẫu, Ỷ Lan Thái phi, thân mẫu của vua Louis IX, và chính trong chúng ta ai cũng có kinh nghiệm nhờ một người mẹ, nhờ một người chị, nhờ một người vợ, nhờ một người em gái mà đôi khi, chẳng những mình được an ủi khỏi những đau khổ, mà còn được cứu vớt khỏi những bước sa lầy; và cái quan niệm cho rằng người nữ như là một lớp người hạ cấp hơn người nam vẫn còn thông dụng trong nhiều xã hội, và có thể nói là vẫn còn tác động trong tiềm thức của ngay cả những người phẩn đấu cho nam nữ bình quyền, đó là một hiện thực.

Như vậy, cái vấn đề "lưỡng giá" nhắc đến ở trên dường như đã được giải quyết trong chính Đức Maria bởi vì, một mặt, đối với Đức Giêsu, Mẹ chỉ đóng vai trò thứ yếu, nhưng dù sao đi nữa, Đức Giêsu có một khía cạnh là Thiên Chúa, còn nói rằng các thụ tạo vốn chỉ là người, thì Đức Maria chính là thụ tạo tuyệt vời nhất. Do đó, mặc dầu trong những lời giáo huấn của Đức Kitô hay là của các vị Tông đồ, không hề đề cập đến vấn đề nam nữ bình quyền, mà trái lại, hình như vẫn theo cái phong tục các dân tộc thuộc những nền văn hóa cách đây hai nghìn năm là đặt người phụ nữ vào vị trí thứ yếu; nhưng dần dà ảnh hưởng của chính Đức Maria đã âm thầm lặng lẽ tác động khiến cho người phụ nữ được nâng lên ngang hàng với người nam. Nhiều khi tôi tự hỏi, nếu không có Đức Maria, thì liệu rằng hiện nay chúng ta có thể có được một quan niệm nam nữ bình quyền hay không? Đấy chỉ là câu tôi tự hỏi bản thân mình mà thôi, chứ tôi không dám khẳng định.

(Còn tiếp)

- "Để Hiểu Đạo Chúa Hơn" - Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.